Nói
ra là bị kẹt
Không
nói cũng không xong
Vì
anh đưa một nét
Đầu
núi ánh dương hồng.
(Thiền
Sư Chân Nguyên, Việt Nam, thế kỷ 17)
1.
Sơ lược tiểu sử
Nguyễn
Du, tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, quán tại làng Tiên
Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, con thứ bảy Cụ Hoàng
Giáp Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm. Thân phụ Ông thi đỗ
tiến sĩ và làm quan đến chức Tể Tướng thời Lê-Trịnh.
Nguyễn Du sinh năm Ất Dậu (1765) ở phường Bích Câu, thành
Thăng Long (sau này là Hà Nội), niên hiệu Cảnh Hưng thứ 26
đời nhà Lê, khi thân phụ đang làm Tể Tướng. Nguyễn Du
đỗ tam trường thi Hương khi 19 tuổi, là người học rộng,
tinh thông cả Phật học và sành các môn thi họa.
Thân
phụ Nguyễn Nghiễm qua đời lúc Nguyễn Du mới 10 tuổi (1775)
và thân mẫu của Nguyễn Du là Bà Trần Thị Tần (1740-1778,
sinh quán ở tỉnh Bắc Ninh) mất sớm lúc Nguyễn Du 13 tuổi
nên Nguyễn Du về sống với người anh khác mẹ là Nguyễn
Khản (hơn Nguyễn Du 31 tuổi, Hồng Lĩnh Hầu Nguyễn Khản,
trấn thủ Sơn Tây-Hưng Hóa, làm quan Tả Tư Giảng cho thế
tử Trịnh Tông) nuôi dưỡng và cho ăn học. (2) (‘Trích
giảng Truyện Kiều của Nguyễn Du,’ Giáo Sư Hồ Đình
Chữ, Việt Luận xuất bản, Sydney, 1996). Năm 1784, vì đỗ
thấp, Nguyễn Du chỉ được thế chân người cha nuôi họ
Hà vừa mới mất, làm một chức quan võ ở Thái Nguyên. (2)
(sách đã dẫn, trang 5)
Trong
suốt mười năm từ 1786-1795, Nguyễn Du lưu lạc ở quê vợ
ở Thái Bình. Trong những năm 1796-1802, Nguyễn Du lui về ẩn
cư ở quê nhà ở Tiên Điền, Hà Tĩnh, mặc dù sống rất
nghèo nhưng an nhiên, tự tại vì Nguyễn Du đọc kinh Phật,
tu học thiền để tìm đạo giải thoát. Năm Gia Long nguyên
niên (1802), Nguyễn Du được triệu ra làm quan, bắt đầu là
Tri Huyện Phụ Dực, Thái Bình; ít lâu sau làm Tri Phủ Thường
Tín (nay thuộc Hà Đông). Năm 1805, Nguyễn Du đã được phong
tước là Du Đức Hầu. Sau đó Nguyễn Du cáo bệnh xin lui về
quê.
Năm
Gia Long thứ 5 (1806), Nguyễn Du được triệu vào kinh đô Huế
giữ chức Đông Các Học Sĩ; năm 1809, làm Bố Chính tỉnh
Quảng Bình. Tháng 2 năm 1813, Nguyễn Du được thăng Cần Chánh
Điện Học Sĩ, rồi có chỉ sai làm Chính Sứ tuế cống đi
Trung Hoa và tháng 4 năm Giáp Tuất (1814) ông trở về Kinh được
thăng Lễ Bộ Hữu Tham Tri. Năm Minh Mạng nguyên niên (1820),
Nguyễn Du sắp sửa đi sứ Trung Hoa lần nữa, nhưng bị bệnh
mất ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn, thọ 56 tuổi. Thi văn chữ
Hán của Nguyễn Du để lại gồm Thanh Hiên Tiền Hậu Tập,
Bắc Hành Thi Tập, Nam Trung Tạp Ngâm, Lê Quí Kỷ Sự.
Về
thơ Nôm, Nguyễn Du lưu lại trong kho tàng văn học Việt Nam
thiên trường thi bất hủ Đoạn Trường Tân Thanh (ĐTTT), được
truyền tụng trong dân gian và được liệt vào tài liệu giáo
khoa dạy ở bậc trung học. ĐTTT là áng văn chương tuyệt
tác, viết theo thể thơ lục bát gồm 3254 câu, dài nhất trong
các tác phẩm xưa nay. Ngoài ra, bài thơ chữ Nôm ‘Văn Tế
Thập Loại Chúng Sinh’ là một ngâm khúc gồm có 184 câu theo
thể song thất lục bát, trong đó chứa đựng tấm lòng từ
bi của người Phật tử Nguyễn Du đối với cảnh khổ của
muôn vạn sinh linh, cũng là một tác phẩm giá trị được
nhiều học giả nghiên cứu, trích giảng.
2.
Hai thời kỳ lưu lạc (1786 - 1795) và ẩn cư (1795 - 1802) của
Nguyễn Du
Từ
trước tới nay, các nhà biên khảo văn học thường bàn luận
nhiều về Nguyễn Du và tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh,
mà ít khi nói tới hai giai đoạn quan trọng trong đời Nguyễn
Du là thời kỳ sống lưu lạc ở quê vợ và việc lui về
ẩn cư ở quê nhà và trong thời gian này Nguyễn Du nghiên cứu
kinh điển Phật giáo, tu học thiền tông để rồi hơn mười
năm sau Nguyễn Du đã chứng ngộ khi đi sứ sang Trung Hoa (1813
- 1814) (sẽ trình bày rõ thêm trong những phần sau của bài
viết).
2.1
Thời kỳ lưu lạc từ 1786 - 1795
Trong
suốt mười năm, Nguyễn Du lưu lạc ở quê vợ ở Thái Bình,
và Ông đã viết: ‘Thập tải phong trần khứ quốc xa’ (xin
tạm chuyển sang tiếng Việt: ‘Mười năm gió bụi cách xa
quê’) vì hai lý do sau: (i) năm 1784,kiêu binh nổi dậy kéo
đến nhà Nguyễn Khản,Ông trốn được lên Sơn Tây ‘rồi
về Hà Tĩnh,nhưng dinh cơ ở Thăng Long đều bị phá sạch,
(ii) người anh khác mẹ của Nguyễn Du là Nguyễn Quýnh, con
của bà trắc thất Nguyễn ‘Thị Xuyên, chống lại Tây Sơn
nên bị giết, và cũng vì vậy mà Tây Sơn phá hết dinh cơ
‘của họ Nguyễn ở Tiên Điền.
Trong
bài thơ Quỳnh Hải Nguyên Tiêu có câu: ‘Hồng Lĩnh vô gia
huynh đệ tán’ (Ở Hồng Lĩnh không có nhà, anh em tan tác)
cho ta thấy được lý do Nguyễn Du phải ‘về sống ở quê
vợ.’ Suốt mười năm, Nguyễn Du sống ăn nhờ ở đậu,
đau ốm liên miên, nghèo khổ không có ‘tiền mua thuốc, trôi
nổi nay đây mai đó, túng quẫn bi thương... Trong những bài
thơ
Xuân Nhật Ngẫu Hứng, Tự Thán, Bất Mị, Sơn Cư Mạn
Hứng, U Cư,... ta ‘bắt gặp được rất nhiều ý tình
về cảnh sống xa quê hương, sầu thời thế, nghèo khổ, lưu
lạc, ‘tan tác ...’ (2) (sách đã dẫn, trang 2-9).
2.2
Thời kỳ ẩn cư từ 1795 - 1802
Năm
1796, Nguyễn Du định rời Hà Tĩnh để vào Gia Định giúp
Nguyễn Ánh nên bị tướng Nguyễn Thận của nhà Tây Sơn bắt
giam. Nhưng Nguyễn Thận đã tha cho Nguyễn Du vì nể tình bạn
với Nguyễn Nễ, anh của Nguyễn Du. Sau đó Nguyễn Du lui về
ẩn cư ở quê nhà. Sách có ghi là Nguyễn Du theo gót La Sơn
Phu Tử (9) đi ngao du sơn thủy, đi khắp cả vùng 99 ngọn núi
Hồng Lĩnh, dãy núi vùng Nghệ An - Hà Tĩnh, cách quê của Nguyễn
Du khoảng 10 cây số. Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền chép ®g
trở về, lấy cảnh núi sông làm vui, tự gọi mình là Hồng
Sơn Liệp Hộ (người săn bắn núi Hồng) và Nam Hải Điếu
Đồ’ (người chài lưới biển Nam).
Về
nhân vật lịch sử La Sơn Phu Tử, theo Trần Trọng Kim, là:
®g Nguyễn Thiệp, tự là Khải Chuyên, hiệu là Nguyệt Úc,
biệt hiệu là Hạnh Am. Ông làm nhà ở Lục Niên Thành, thuộc
huyện La Sơn, tỉnh Hà Tĩnh bây giờ, cho nên người ta gọi
là Lục Niên tiên sinh hay là La Sơn Phu Tử. Vua Quang Trung từ
khi đem quân ra đánh Bắc Hà, biết tiếng Nguyễn Thiệp, đã
mấy lần cho người đem lễ vật mời ông ra giúp, ông không
nhận lễ và cũng từ chối không ra. Đến khi Ngài đã đăng
cực, lại mấy lần cho người đón mời ông, ông có đến
bái yết và khuyên vua nên lấy nhân nghĩa mà trị dân trị
nước, rồi lại xin về. Vua Quang Trung tuy không dùng được
ông, nhưng bao giờ cũng tôn kính ông như bậc thầy, và việc
chính trị trong nước thường theo ý nghĩa của ông đã trình
bày.’ (9) (Trần Trọng Kim,
Việt Nam Sử Lược, quyển
2, Bộ Giáo Dục xuất bản, Sài Gòn 1971, trang 140-141).
2.2.1
Nguyễn Du đã cho chúng ta thấy là tiên sinh đã chán ngán việc
học hành,kiến thức thế gian tầm thường ‘Suốt đời thơ
phú ròng vô bổ, Đầy giá sách đàn chất mãi ngu.’ trong
bài thơ sau:
Mạn
Hứng
Long
Vĩ châu biên đa bạch âu,
Lam
Giang đường thượng hữu hàn nho.
Nhất
sinh từ phú tri vô ích,
Mãn
giá cầm thư đồ tự ngu.
Bách
tuế vi nhân bì thuấn tức,
Mộ
niên hành lạc tích tu du.
Ninh
tri dị nhật tây lăng hạ,
Năng
ẩm trùng dương nhất trích vô. |
(Long
Vĩ bờ bên một đám cò,
Sông
Lam trên bến bác hàn nho.
Suốt
đời thơ phú ròng vô bổ,
Đầy
giá sách đàn chất mãi ngu.
Cuộc
sống trăm năm coi mấy chốc,
Chuyện
vui tuổi cả tiếc từng giờ.
Phiá
tây bãi cỏ khi nằm xuống,
Chén
rượu trùng dương ai tưới cho.) |
(Nguyễn
Vũ My và Trần Thanh Mại dịch) (2) (sách đã dẫn, trang 10-11)
2.2.2
Từ những chán ngán cái học tầm thường của thế gian, Nguyễn
Du đã tìm đọc kinh điển Phật (nhất là kinh Kim Cương
Bát-nhã Ba-la-mật) và học tu thiền nên dù sống nghèo
mà lòng vẫn an nhiên tự tại để ‘Lá rơi hoa nở việc
trước mắt, Tâm trạng quanh năm vẫn nhẹ nhàng,’ hay là
‘Đạt sĩ, cõi lòng trăng sáng tỏ, Cao nhân, trước cửa
núi bao la’ như trong hai bài thơ sau:
Tạp
Thi II
Hồng
Sơn nhất sắc lâm bình cừ
Thanh
tịch khả vi hàn sĩ cư.
Thiên
lý bạch vân sinh kỷ tịch,
Nhất
song minh nguyệt thướng cầm thư.
Tiếu
đề tuẩn tục can qua tế,
Giam
mặc tàng sinh lão bệnh dư.
Diệp
lạc hoa khai nhãn tiền sự,
Tứ
thời tâm kính tự như như. |
(Trên
giải non Hồng dưới làn nước
Nho
nghèo ở đó cũng thanh nhàn
Nghìn
tầm mây bạc quanh giường chiếu,
Một
mảnh trăng trong giọi sách đàn.
Cười
khóc theo đời qua buổi loạn,
Trầm
tiềm giữ miệng dưỡng thân tàn.
Lá
rơi hoa nở việc trước mắt,
Tâm
trạng quanh năm vẫn nhẹ nhàng.) |
Tạp
Ngâm II
Long
Vĩ giang đầu ốc nhất gian,
U
cư sầu cực hốt tri hoan.
Đạt
nhân tâm cảnh quang như nguyệt,
Xử
sĩ môn tiền thanh giả san.
Chẩm
bạn thúc thư phù bệnh cốt,
Đăng
tiền đẩu tửu khởi suy nhan.
Táo
đầu chung nhật vô yên hỏa
Song
ngoại hoàng hoa tú khả xan. |
(Đầu
sông Long Vĩ một gian nhà,
Ở
ẩn buồn teo bỗng thú a !
Đạt
sĩ, cõi lòng trăng sáng tỏ,
Cao
nhân, trước cửa núi bao la.
Sách
chồng cạnh gối đỡ thân mệt,
Rượu
nhắp bên đèn đổi sắc da.
Trong
bếp suốt ngày không khói lửa,
Ngoài
song no với khóm hoàng hoa.) |
(Nguyễn
Vũ My và Trần Thanh Mại dịch) (2) (sách đã dẫn, trang 10-11)
2.2.3
Nhờ thực hành sâu xa Trí Tuệ Bát-nhã của kinh Kim Cương,
Nguyễn Du quán xét tất cả các pháp hữu vi đều không có
tự tánh, vô thường sinh diệt. Vì buông xả các pháp và vọng
tưởng nên Nguyễn Du cho chúng ta thấy tiên sinh đã ‘hàng
phục vọng tâm và an trụ chân tâm’ của mình qua bài thơ
‘Đạo Ý’sau đây: (2) (bài thơ trong sách đã dẫn, trang
27-28)
Đạo
Ý
Minh
nguyệt chiếu cổ tỉnh,
Tỉnh
thủy vô ba đào.
Bất
bị nhân khiên xả
Thử
tâm chung bất dao
Túng
bị nhân khiên xả
Nhất
dao hoàn phục chỉ.
Trạm
trạm nhất phiến tâm,
Minh
nguyệt cổ tỉnh thủy. |
(Trăng
sáng giọi giếng xưa,
Nước
giếng không gợn sóng.
Không
ai người khuấy lên
Lòng
này không xao động.
Dù
ai người khuấy lên
Động
qua lặng rất chóng.
Trong
vắt một tấm lòng,
Giếng
xưa trăng giọi bóng.) |
2.2.4
Khi tâm an trụ không dính mắc 6 trần cảnh (sắc, thanh, hương,
vị, xúc, pháp) nên tâm như như chẳng động. Chúng ta hãy
đọc bài thơ ‘Đề Tam Thanh Động’ của Nguyễn Du
để hiểu rõ ‘tâm’ của thi hào Tố Như ‘thường định
không rời cảnh thiền’ vì Nguyễn Du đã đọc và hiểu kinh
Kim Cương nên không còn chấp vào ‘ngã tướng,’ ‘nhân
tướng,’ ‘chúng sinh tướng’ và ‘thọ giả tướng’
nên quán sát tất cả các cảnh giới đều không có tướng
(vô tướng) (‘Mãn cảnh giai không hà hữu tướng,’ Khắp
cảnh giới đều trống rỗng thì làm gì còn sắc tướng):
Đề
Tam Thanh Động
Vạn
ban thủy thạch thiện đại xảo,
Nhất
lạp kiền khôn khai tiểu thiên,
Mãn
cảnh giai không hà hữu tướng,
Thử
tâm thường định bất ly thiền.
Ngàn
muôn thứ nào đá,nào nước, xếp đặt tự nhiên,nghệ thuật
rất khéo,
Một
hạt nhỏ trời đất mở ra một thế giới nhỏ nữa,
Khắp
cảnh giới đều trống rỗng thì làm gì còn sắc tướng,
Lòng
này thường định không rời cảnh thiền.
(Bài
dịch của Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục, Thế Giới Thi Ca Nguyễn
Du, Xuân Thu, trang 173).
2.3
Sau này khi đi sứ sang Trung Hoa (1813 - 1814), Nguyễn Du đã viết
trong bài thơ ‘Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch
Đài’ và cho ta thấy Nguyễn Du đã đọc kinh Kim Cương
hàng ngàn lần trong những năm Nguyễn Du ở ẩn nơi quê nhà:
‘...
Minh kính diệc phi đài,
Bồ
đề bản vô thụ.
Ngã
độc
Kim Cương thiên biến linh,
Kỳ
trung áo chỉ đa bất minh;
Cập
đáo Phân Kinh Thạch Đài hạ,
Chung
tri: vô tự thị chân kinh.’
Bài dịch
của Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục:
‘...
Tấm gương trong không phải thật có đài gương,
Cây
Bồ Đề cũng không phải cây thật.
Ta
đọc kinh Kim Cương có hơn ngàn lần,
Ý
nghĩa uyên thâm trong ấy phần nhiều không hiểu;
Tới
nay đến dưới đài Phân Kinh này,
Mới
biết rằng kinh không chữ mới thật là chân kinh.’
(4) (Nguyễn
Đăng Thục, Thế Giới Thi Ca Nguyễn Du, Xuân Thu, trang
173)
Chúng
ta ai cũng biết là kinh Kim Cương là kinh thường tụng đọc
hằng ngày trong Thiền tông và những ai học và thực hành
thiền đều đọc kinh này vì Đức Phật đã dạy ông Tu Bồ
Đề trong kinh này:
Nếu
lại có người nào đối với kinh này, lãnh thọ và hành trì
được, cho chí đến bốn câu kệ, và lại đem nói cho người
nghe mà làm, thì lại phúc hơn người kia. Vì cớ gì vậy?
- Này ông Tu Bồ Đề, hết thảy chư Phật và pháp Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác (Anuttara Samyak Sambodhi, tiếng Hán chuyển
âm là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề) của chư Phật, cũng
đều bởi kinh này mà ra. Ông Tu Bồ Đề, cái pháp ta gọi
là Phật pháp đó, tức không phải là Phật pháp.’ (3) (Kinh
Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật, phận thứ 8, ‘Y pháp xuất
sinh’Nương
theo pháp mà sinh ra, Thiều Chửu dịch và giảng giải, Trung
Tâm Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam tại Cộng Hòa Liên Bang Đức,
xuất bản năm 1984, trang 47-49).
Chúng
ta có thể hiểu là Nguyễn Du học Phật và tu theo Thiền tông
trong thời gian ở ẩn nơi quê nhà và Nguyễn Du cũng đọc
cả ‘Pháp Bảo Đàn Kinh’ của Lục Tổ Huệ Năng khi
tiên sinh đã trích dẫn hai câu trong bài kệ của Lục Tổ
Huệ Năng:
-
Minh kính
diệc phi đài,
Bồ
đề bản vô thụ.
-
(Gương
sáng cũng không đài
Bồ
đề
chẳng có thân.)
3. Vào
những năm cuối của đời mình, Cụ Vũ Khắc Khoan (sinh ngày
27 tháng 2 năm 1917 tại Hà Nội và qua đời ngày 12 tháng 9
năm 1986 tại Minnesota, Hoa Kỳ) đã đọc và nghiên cứu kinh
Phật do đó trong tác phẩm ‘Đọc Kinh’ Cụ Vũ Khắc Khoan
đã có viết về Nguyễn Du, tác giả của tuyệt tác Đoạn
Trường Tân Thanh, như sau:
Khoảng
đầu thế kỷ thứ 19, nhân một chuyến đi sứ sang Trung Quốc,
Nguyễn Du có dịp đến tham Phân Kinh Thạch Đài. Bấy giờ
- trên 1,000 năm đã qua - đá đài Phân Kinh đã mòn. Rêu leo
xanh mái, mưa cũ đọng chân tường, cỏ dại lấp lối đi,
hoang vu hun hút hành lang vắng lặng. Trời ngả vào chiều.
Nắng quái lung linh vách đá. Đâu rồi những vết kinh xưa.
Lăng
Già, Viên Giác, Bát Nhã, Kim Cương. Kim Cương... Ngã độc
Kim Cương thiên biến linh.’
Tôi
nghe như vầy: Một hôm tại nước Xá Vệ, Phật và 1250 vị
Đại Tỳ Kheo đều ở tịnh xá Kỳ Hoàn, trong vườn của
thái tử Kỳ Đà và ông trưởng giả Cấp Cô Độc. Sắp đến
giờ ngọ trai, Phật và chúng tăng đều đắp y, mang bình bát
vào thành Xá Vệ, theo thứ lớp khất thực. Khất thực xong,
Phật và chúng tăng đồng về tịnh xá để thọ trai. Sau khi
thọ trai xong, Phật xếp y, cất bình bát và rửa chân, rồi
trải tọa cụ, ngồi yên tịnh. Khi đó, ở trong đại chúng,
ông trưởng lão Tu Bồ Đề đứng dậy, vén tay áo bên hữu,
gối bên hữu quỳ xuống, chắp tay cung kính bạch Phật rằng:
- Hy hữu thay, đức Thế Tôn! Ngài thường nhớ nghĩ và bảo
hộ các vị Bồ Tát, Ngài rất hay khéo dạy bảo các vị Bồ
Tát. Bạch Thế Tôn, nếu có người phát tâm Bồ Đề muốn
cầu quả Phật, thì:
Làm
sao hàng phục vọng tâm?
Làm
sao an trụ chân tâm? ...’
(Kinh
Kim Cương, phận Pháp Hội Nhân Do,và phận Ngài Tu Bồ Đề
(Subhuti) thỉnh cầu Phật thuyết pháp).
‘Hàng
phục vọng tâm, an trụ chân tâm, hai niềm thắc mắc không
riêng của ông Tu Bồ Đề, mà của toàn thể đại chúng thuở
đó, của chúng ta hôm nay, của Nguyễn Du, riêng Nguyễn Du một
mình.
Ngã
độc Kim Cương thiên biến linh 1,000 lần, hai niềm thắc mắc
đó đặt ra. Và biết bao nhiêu lần nữa, khi cuốn kinh gấp
lại? Đôi khi, từ những ngôn từ tường-đồng-vách-sắt
dựng lên trong kinh nghe cũng có vọng ra bên ngoài, lọt vào
tâm thức Nguyễn Du một chút gì - như vậy, như vậy - tạm
gọi là nghĩa của kinh. Nhưng nghĩa đó chắc đâu đã là ý
của người nói kinh? Ý của đức Thế Tôn năm xưa đâu phải
chỉ là như vậy, như vậy?
Ngã
độc Kim Cương thiên biến linh
Lần
thứ 1,000 lẻ một, không có kinh.
Chỉ
có nắng chiều và đá tảng.
Nắng
dợn trên đá phân kinh.
Và
đá và nắng bỗng nhiên hội duyên nói pháp.
....
Thuở đó, xa rồi.
Chấm
dứt.
Giờ
đây nắng tắt, đá mòn.
Giờ
đây chỉ còn một chút chập chờn.
Trong
đêm nghe như đã bắt đầu, lời kinh âm u như vọng như chân,
nghĩa kinh ẩn ẩn hiện hiện, ánh lửa chài le lói bên sông
lạ, ý kinh tuyệt mù trong mộng và huyễn, là bọt nước mặt
hồ trong cơn mưa ngâu, giọt sương chiều đọng lại, giọt
sương mai tan đi. Vừa kịp thấy đó, chớp mắt không còn,
mới nghe vang lên đã chìm vào sâu lặng, hay, rồi lại lãng
đãng, nhạt nhòe, biết mà nói lên thì bất ... khả thuyết.
Thấy-nghe-hay-biết chỉ là chập chờn cánh con bướm trắng
trên luống cải xanh. Hay chỉ là một niệm khởi lên chập
chờn sương khói, Nguyễn Du đã lọt vào một khoảng mù khơi
tịch mịch?
Kỳ
trung áo chỉ đa bất minh
Bài
Phân Kinh Thạch Đài giữa lòng đá vắng lặng không là một
thú nhận nỗi bất lực của riêng Nguyễn Du trước những
trang Kim Cương. Bài ký Phân Kinh là một thú nhận nỗi bất
lực của ngôn từ và văn tự con người khi muốn nắm bắt
cái chập chờn 鯠chỉ’ của cõi vô ngôn đó, bất khả tư
nghì. Tôi gắng nhớ lại bài thơ, lõm bõm. Dừng lại ở hai
câu:
Ngã
độc Kim Cương thiên biến linh
Kỳ
trung áo chỉ đa bất minh
Khá lâu.
Bâng khuâng nghĩ đến niềm khắc khoải của người xưa tầm
đạo. Làm sao hàng phục vọng tâm? Làm sao an trụ chân tâm?
Kim
Cư ơng đọc đến ngàn lần
Mà
trong mờ ảo như gần như xa
Như gần
như xa nhưng vẫn ở đó, câu trả lời vẫn ở đó, nơi vườn
Kỳ Thọ. Và bây giờ, vượt khỏi ngôn từ và văn tự, giữa
Kim Lăng, vọng ra từ kẽ đá phân kinh, mờ mờ ảo ảo, như
gần như xa, có mà không, không nhưng có, như mộng như ảo,
như bọt nổi trên mặt nước, như chớp biển ngoài khơi,
như bóng hình lãng đãng trong gương, như giọt sương đêm
đọng lại, như giọt sương mai tan đi trên đầu ngọn cỏ,
câu trả lời vẫn ở đó, câu trả lời đến thẳng với
Nguyễn Du, trong hoang vu Phân Kinh Thạch Đài.
Này
Tu Bồ Dề. Hãy nghe lời đá, lời đá nói rằng:
Nhất
thiết hữu vi pháp
Như
mộng huyễn, bào, ảnh,
Như
lộ, diệc như điển
Ưng
tác như thị quán
Tất
cả, cái gì gọi lên cũng chỉ là tạm gọi. Ngay cả hai chữ
Kim Cương. Như lai nói Kim Cương tức không phải Kim Cương,
thế mới gọi là Kim Cương.’ (1) (Đọc Kinh, Vũ Khắc Khoan,
viết năm 1984, Bà Vũ Khắc Khoan tại Hoa Kỳ và An Tiêm xuất
bản, 1988, trang 22 - 26). Khi Vũ Khắc Khoan viết quyển ‘Đọc
Kinh’ thì Ông chỉ trích dẫn có hai câu gần cuối bài thơ
‘Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài’ của
Nguyễn Du.
4.
Bốn câu kệ dẫn ở trên là bốn câu kệ lấy từ phận thứ
32 của
Kinh Kim Cương ‘ng Hóa Phi Chân’ (ng cơ hiện
thân hóa độ không phải là thật) mà Cụ Thiều Chửu đã
chuyển sang tiếng Việt như sau: (3) (sách đã dẫn, trang 103-104)
Nhất
thiết hữu vi pháp
Như
mộng huyễn, bào, ảnh,
Như
lộ, diệc như điển
Ưng
tác như thị quán |
(Hết
thảy pháp hữu vi
Như
mộng huyễn, bọt, bóng
Như
móc, cũng như chớp
Nên
coi như thế này) |
Cụ Uyên
Như Thiền trong bài ‘Vài lời giới thiệu Kinh Kim Cương’
đã giới thiệu bốn câu cuối của bài thơ Lương Chiêu Minh
Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài của Nguyễn Du và đã viết:
‘Ai cũng biết tác giả truyện Kim Vân Kiều là Cụ Nguyễn
Du, nhưng nào có ai ngờ chính Cụ là nhà Phật học thâm thuý
về Đại Thừa cho nên Cụ đã có làm bài thơ như sau:
Ngã
độc Kim Cương thiên biến linh
Kỳ
trung áo chỉ đa bất minh
Cập
đáo Phân Kinh Thạch Đài thị
Chung
tri: vô tự thị chân kinh.
Đại
ý nói rằng: Cụ đã tụng Kinh Kim Cương hơn cả nghìn
lần mà chưa giác ngộ, sau đến Phẩm Thạch Đài, Cụ mới
giác ngộ mà hiểu rằng Kinh thiệt là cuốn Kinh không có một
chữ nào. Thảo nào thế nên Cụ đã lồng tư tưởng Phật
Giáo vào truyện Kiều mà ít ai lưu ý.’ (3) (Vài lời giới
thiệu Kinh Kim Cương, sách đã dẫn, trang 13). Cụ Uyên Như
Thiền đã hiểu Nguyễn Du sâu sắc nhưng Cụ chỉ lầm một
điểm duy nhất khi viết về ‘Phẩm Thạch Đài’ như trên
vì trong
Kinh Kim Cương (tất cả có 32 phận) không có
phận nào tên là Phẩm Thạch Đài.
Theo
Cụ Thiều Chửu, dịch giả của quyển Kinh Kim Cương Bát Nhã
Ba La Mật (VAJRACCHEDIK PRAJNA PARAMITA) thì:’Kinh này nguyên không
có chia ra chương mục gì cả, sau ngài Chiêu Minh Thái Tử nhà
Lương chia làm 32 phận. Song, tuy chia làm 32 phận, mà nghĩa
văn thì vẫn một mạch liên quán nhau, không thể cắt đứt
từng đoạn được. Chia ra từng phận cho người mới học
dễ nhớ mà thôi, còn người học tinh thì phải nghiên cứu
cho tinh mà dung hóa cả làm một mới có thể hiểu được.’
(3) (sách đã dẫn, trang 27).
5.
Cụ Hương Giang Thái Văn Kiểm trong bài khảo luận công phu
‘Lời Bạt: Đầu năm Quý Dậu 1813 Nguyễn Du đi sứ Trung
Quốc’ đã viết (bài này in trong ‘Trích giảng Truyện
Kiều của Nguyễn Du,’ Giáo Sư Hồ Đình Chữ, Việt
Luận xuất bản, Sydney, 1996, trang 305-329) (2):
Từ
trước tới nay, các nhà biên khảo văn học thường bàn luận
nhiều về Nguyễn Du và Truyện Kiều, mà ít khi nói tới một
trạng thái khác trong đời Cụ là việc đi Sứ sang Trung Quốc.’
(2)
Về
việc Nguyễn Du đi sứ, Gia phả chép: ‘Tháng Hai năm Quý Dậu
(1813), ông được thăng hàm Cần Chính Điện Học Sĩ, rồi
có chỉ sai làm Chính Sứ tuế cống, cùng với các ông Phó
Sứ là Đàm Ân Hầu, Thiêm Sự bộ Lại, và Phong Đăng Hầu,
Thiêm Sự bộ Lễ, đi sứ Trung Quốc. Tháng tư năm Giáp Tuất
(1814) ông trở về Kinh.’ (2) (sách đã dẫn, trang 315).
Nguyễn
Du về Kinh để phúc trình sứ mạng lên nhà vua, đồng thời
mang về nhiều quý thư dị vật. Theo Đại Nam Chính Biên Liệt
Truyện, ngoài bản phúc trình thường lệ, Nguyễn Du còn sáng
tác Bắc Hành Thi Tập và Thuý Kiều Truyện. (Vưu
trường ư thi, thiên quốc âm, Thanh sứ hoàn dĩ Bắc Hành Thi
Tập cập Thuý Kiều Truyện hành thế). (2)
‘Nguyễn
Du đã tìm cách viếng thăm hầu hết những danh lam thắng cảnh,
di tích văn chương và lịch sử, đền đài, lăng tẩm, miếu
điện liên hệ những danh nhân, anh hùng, liệt nữ, nữ lưu
mà Cụ đặc biệt có nhiều cảm tình nhất, như hai Bà Nữ
Anh và Nga Hoàng mà vua Nghiêu đã gả cho vua Thuấn.’ (2)
‘Trên
đường châu du Trung Quốc, Nguyễn Du đã viếng thăm miếu
điện, đền đài, lăng mộ của hầu hết những danh nhân
kỳ nữ nước bạn, mỗi nơi đều có cảm tác một vài bài
thơ diễn tả tâm tình, cảm giác, và phê phán công minh, khen
chê đúng mức. Nguyễn Du đã nhắc tới Mã Viện, Hoàng Sào,
hai bà vợ vua Thuấn, Dương Quý Phi, Triệu Vũ Đế, Thái Văn
Cơ, Trương Thị, Vi Ưng Vật, Tam Tạng Trần Huyền Trang, Liễu
Tôn Nguyên, Khuất Nguyên, Giả Nghị, Đỗ Phủ mà Tiên Điền
đặc biệt hâm mộ và tôn trọng như bậc thầy.’ (2)
Cụ
Hương Giang Thái Văn Kiểm trong bài khảo luận cũng đã trích
dẫn nhiều bài thơ trong tác phẩm Bắc Hành Thi Tập mà Nguyễn
Du đã sáng tác suốt trong thời gian đi sứ sang Trung Quốc,
nhưng tiếc thay Cụ Thái Văn Kiểm đã không trích dẫn bài
thơ quan trọng của Nguyễn Du khi Người đến viếng cảnh
hoang tàn đổ nát của một di tích lịch sử Trung Quốc: Lương
Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài.
Nhưng
Lương Chiêu Minh Thái Tử là ai? Lương Chiêu Minh Thái Tử chính
là Thái Tử của vua Lương Võ Đế (Liang Wu Ti) ở Trung Hoa.
Vua Lương Võ Đế đã có công xây dựng nhiều ngôi chùa Phật
giáo, in nhiều kinh Phật và độ các Tăng, và cũng là vị
vua Trung Hoa thỉnh mời Tổ Bồ Đề Đạt Ma (sau này là Sơ
Tổ Thiền Tông Trung Hoa) về Kim Lăng để thưa hỏi Tổ về
Phật pháp.
Ngoài
việc Lương Chiêu Minh Thái Tử chia Kinh Kim Cương ra làm 32
phận (hay là đoạn vì kinh này trước kia không có chia ra làm
chương mục), Lương Chiêu Minh Thái Tử còn cho xây dựng Phân
Kinh Thạch Đài (đầu thế kỷ thứ 6 tây lịch) để làm một
thư viện quốc gia về Phật học, nơi tàng trữ, thu tập tất
cả kinh,luật, luận Phật giáo đương thời và là trung tâm
nghiên cứu Phật học.
Cứ
theo sách ghi chép thì Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) rời nước
Quốc Hương, nam Thiên Trúc (Dekhan) để đi đến Việt Nam đầu
tiên và có lẽ ngài ở đây một thời gian khá lâu, vì Việt
Nam khi đó được coi là trung tâm giao tiếp Ấn Hoa, nơi người
ta có thể tìm được những người biết cả tiếng Trung Hoa
lẫn tiếng Thiên Trúc. Sự kiện chỉ ghi rằng: Bồ Đề Đạt
Ma trước đến Việt Nam sau vượt sông qua Ngụy (nguyên văn:
‘Sơ liên tống cảnh Nam Việt, mạt hựu tỷ độ chí Ngụy,’
sách Tục Cao Tăng Truyện, chương 19, Đại Tạng Kinh,
quyển 50). (6) (trích dẫn từ quyển ‘Bồ Đề Đạt Ma,
Tuyệt Quán Luận,’ Vũ Thế Ngọc dịch, EastWest Institute
xuất bản, Hoa Kỳ, 1983).
Theo
sách
Cảnh Đức Truyền Đăng Lục thì khi Bồ Đề Đạt
Ma đến Quảng Châu, Trung Hoa, vào khoảng thập niên 470, thì
thứ sử tỉnh này lấy lễ nghinh tiếp và dâng biểu về triều
báo tin lên vua Lương Võ Đế. Vua sai sứ thỉnh mời Tổ Bồ
Đề Đạt Ma về Kim Lăng để thưa hỏi Tổ về Phật pháp.
Truyền Đăng Lục ghi lại cuộc đối đáp này như sau:
-
‘-Trẫm
từ khi lên ngôi đến nay, xây chùa, in kinh, độ tăng rất
nhiều. Vậy có công đức gì ‘chăng?
-
‘Tổ
Đạt Ma đáp: - Đều không có công đức.
-
-- Tại
sao không có công đức?
-
-- Bởi
vì đó chỉ là những tiểu quả của cõi người cõi trời
mà thôi, là cái nhân hữu lậu như bóng theo hình, tuy có mà
chẳng thật.
-
-- Vậy
thế nào mới là thiệt công đức?
-
-- Trí
hoàn toàn trong sạch. Thể phải tự nhiên trống vắng, như
thế mới là Công Đức. Công Đức là nơi bổn tánh chứ chẳng
phải do nơi công nghiệp thế gian (xây chùa, chép kinh...) mà
cầu đổi cho được.
-
-- Vua
lại hỏi: - Chân lý tối cao của bậc thánh là gì?
-
-- Khi
tỉnh rõ thông suốt rồi thì không có gì gọi là thánh cả.
-
-- Đối
diện với trẫm là ai?
-
-- Không
biết.
-
Vua Lương
Võ Đế không lãnh hội được, lui về nghỉ. Tổ Đạt Ma
biết căn cơ không hợp, ngài lưu lại vài hôm rồi qua Giang
Bắc, ngài lên núi Tung Sơn, ở chùa Thiếu Lâm trọn ngày ngồi
thiền đối vách im lặng trong chín năm.’ (6) (sách đã dẫn,
trang 68-70).
Tổ Bồ
Đề Đạt Ma là Sơ Tổ Thiền Tông Trung Hoa, đã ấn chứng
và truyền y bát cho Huệ Khả là vị Tổ Thiền Tông thứ hai,
rồi truyền xuống ngài Tăng Xáng, vị Tổ thứ ba, ngài Đạo
Tín, Tổ thứ tư, ngài Hoằng Nhẫn, Tổ thứ năm và sau cùng
truyền đến Huệ Năng là Tổ thứ sáu.
6.
Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục, trong quyển ‘Thế Giới Thi
Ca Nguyễn Du’ (4) đã cho người đọc khám phá ra Nguyễn
Du là một nhà học Phật, tinh thông Phật pháp qua bài thơ
chữ Hán mà Nguyễn Du đã viết khi đến thăm ‘Lương Chiêu
Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài’ trong thời gian đi sứ
sang Trung Quốc:
LƯƠNG
CHIÊU MINH THÁI TỬ PHÂN KINH THẠCH ĐÀI
Ngô
văn Thế Tôn tại Linh Sơn,
Thuyết
pháp độ nhân hằng hà sa số.
Nhân
liễu thử tâm, nhân tự độ,
Linh
Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu.
Minh
kính diệc phi đài,
Bồ
đề bản vô thụ.
Ngã
độc Kim Cương thiên biến linh,
Kỳ
trung áo chỉ đa bất minh;
Cập
đáo Phân Kinh Thạch Đài hạ,
Chung
tri: vô tự thị chân kinh.
Bài dịch
của Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục:
Ta
nghe nói Thế Tôn ở Linh Sơn,
Thuyết
pháp độ người như cát sông Hằng.
Người
ta giải được tâm này ấy là mình tự độ,
Linh
Sơn chỉ ở tại lòng mình.
Tấm
gương trong không phải thật có đài gương,
Cây
Bồ Đề cũng không phải cây thật.
Ta
đọc kinh Kim Cương có hơn ngàn lần,
Ý
nghĩa uyên thâm trong ấy phần nhiều không hiểu;
Tới
nay đến dưới đài Phân Kinh này,
Mới
biết rằng kinh không chữ mới thật là chân kinh.
(4)
(Nguyễn Đăng Thục, Thế Giới Thi Ca Nguyễn Du, Xuân Thu, trang
174)
Nguyễn
Du là một thiên tài về thi ca với khả năng uyên bác về
văn học thế mà khi đọc Kinh Kim Cương cả ngàn lần Nguyễn
Du vẫn chưa hiểu trọn vẹn nghĩa của kinh như Nguyễn Du đã
viết. Xin được chuyển hai câu cuối của bài thơ sang tiếng
Việt như sau:
-
Cập
đáo Phân Kinh Thạch Đài hạ
Chung
tri: vô tự thị chân kinh.
-
(Thạch
Đài tìm đến hiểu ra
Chân
kinh thật nghĩa chẳng qua không lời.)
Vì Nguyễn
Du học Phật và nghiên cứu kinh điển Phật Giáo đã nhiều
năm một cách hết sức tinh tấn nhất là kinh điển Đại
Thừa trong đó có Kinh Kim Cương mà Nguyễn Du đã đọc
hàng ngàn lần, do đó vào năm 1813, khi Nguyễn Du đến thăm
Phân Kinh Thạch Đài (xây vào khoảng thế kỷ thứ 6) và sau
hơn 12 thế kỷ đã trôi qua, kinh điển nào thấy đâu? bao
người tụng trì, nghiên cứu đã đi về đâu? Bây giờ ở
nơi đó chỉ còn di tích hoang tàn đổ nát của Đài khiến
cho Tâm Chân Như của Nguyễn Du bừng sáng để Nguyễn Du chứng
ngộ Tánh Không (Sunnyatta) của Kinh Kim Cương và đã thốt
lên rằng Kinh Kim Cương chẳng qua không có chữ (vô tự):
‘Chung tri: vô tự thị chân kinh’ (Chân kinh thật nghĩa chẳng
qua không lời).
Nguyễn
Du đã đọc kinh điển Phật để rồi quán sát thông suốt
và nhận ra rằng lời kinh Phật nói ra đều là những pháp
môn phương tiện dắt dẫn chúng sinh vào Đạo; như nước
dùng để rửa bụi, như thuốc dùng để chữa bệnh. Nay chứng
được ‘thân không,’ ‘tâm không,’ ‘tánh không’ thì
tất cả các pháp đều không, kể cả Phật pháp trong đó
có Kinh Kim Cương. Bệnh khỏi thì thuốc cũng trừ, gọi là
chứng ngộ ‘Pháp không.’ Đức Phật đã dạy: ‘Như Lai
thường nói: Này Tỳ Kheo các ông nên biết ta nói pháp ví
dụ như chiếc bè; pháp còn nên bỏ, huống là phi pháp’ (‘Như
Lai thường thuyết: Nhữ đẳng Tỳ Kheo tri ngã thuyết pháp
như phiệt dụ giả, pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp.’)
(10) (‘Kinh Kim Cang Giảng Giải,’ Thích Thanh Từ, đoạn
thứ 6, trang 26-27, Phước Huệ Đạo Tràng, tái bản và ấn
tống, Úc Đại Lợi, Phật Lịch 2531, 1987).
Ngã
độc Kim Cương thiên biến linh
Kỳ
trung áo chỉ đa bất minh
Cập
đáo Phân Kinh Thạch Đài hạ
Chung
tri: vô tự thị chân kinh. |
(Kim
Cương đọc đến ngàn lần
Mà
trong mờ ảo như gần như xa
Thạch
Đài tìm đến hiểu ra
Chân
kinh thật nghĩa chẳng qua không lời) |
7. Hai
câu 5 và 6 trong bài thơ trên: " Bồ đề bản vô thụ (thọ),
minh kính diệc phi đài" là hai câu kệ mà Nguyễn Du trích từ
bài kệ của Lục Tổ Huệ Năng (Hui neng, 638 - 713, tây lịch)
khi Lục Tổ còn học ở nơi Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (xin tạm
chuyển sang tiếng Việt):
Bồ
đề bản vô thọ
Minh
kính diệc phi đài
Bản
lai vô nhất vật
Hà
xứ nhá trần ai? |
(Bồ
đề chẳng có thân
Gương
sáng cũng không đài
Xưa
nay không một vật
Nào
chỗ vướng trần ai?) |
Bài kệ
nói trên do Lục Tổ Huệ Năng viết sau khi đọc bài kệ của
Thượng Tọa Thần Tú là thầy Giáo Thọ và cũng là đệ tử
của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Thượng Tọa Thần Tú viết bài
kệ như sau (xin tạm chuyển sang tiếng Việt):
Thân
thị bồ đề thọ
Tâm
như minh cảnh đài
Thời
thời cần phất thức
Vật
sử nhá trần ai |
(Thân
như cây bồ đề
Tâm
như đài gương sáng
Giờ
giờ cần phủi sạch
Chớ
để vướng trần ai) |
(5) (Pháp
Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ Huệ Năng, Thích Minh Trực dịch
(Sài Gòn 1944), Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản, Phật
Lịch 2531, Hoa Kỳ, 1987, trang 25, 29)
Chúng
ta cũng không quên là Lục Tổ Huệ Năng đã chứng ngộ chân
tánh khi Lục Tổ được nghe kinh Kim Cương:
‘Huệ
Năng nầy liền hiểu ý Tổ Sư, đến canh ba vào thất. Ngũ
Tổ (Hoằng Nhẫn Đại Sư) lấy áo Ca Sa đắp cho ta; chẳng
cho ai thấy, rồi nói kinh Kim Cang cho ta nghe, đến câu Ưng vô
sở trụ nhi sanh kỳ tâm. Nên không trụ vào chỗ nào mà sanh
tâm mình.’ (Để cái tâm trống không, chẳng trụ vào đâu
cả) (nguyên văn chữ Hán ‘Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm,’
câu này ở phận thứ 10 ‘Trang Nghiêm Tịnh Độ,’ trang nghiêm
cõi thanh tịnh, trong Kinh Kim Cương).
‘Huệ
Năng nầy nghe nói rồi liền rất tỏ sáng, biết rằng cả
thảy muôn pháp chẳng lìa tánh mình, mới bạch với Tổ Sư
rằng:
Nào
dè tánh mình vốn tự nhiên trong sạch
Nào
dè tánh mình chứa đầy đủ (muôn pháp)
Nào
dè tánh mình vốn không lay động
Nào
dè tánh mình có thể sanh ra muôn pháp.
Nếu
chẳng biết Bổn Tâm, thì học pháp vô ích. Bằng biết Bổn
Tâm và thấy Bổn Tánh mình, tức gọi là Trượng phu, là Phật,
Thầy cõi trời và cõi người vậy.’ (5) (sách đã dẫn, trang
32-33)
8.
Thi hào Nguyễn Du ĐãՠĐưa Triết Lý٠Phật Giáo Vào ĐoẠn
Trường Tân Thanh
8.1
Trong Đoạn Trường Tân Thanh, Nguyễn Du đưa triết học và
tư tưởng Phật giáo vào trong thi ca như nghiệp, thiện căn,
tâm,... thí dụ như trong đoạn thơ sau:
Đã
mang lấy nghiệp vào thân
Cũng
đừng trách lẫn trời gần hay xa
Thiện
căn ở tại lòng ta
Chữ
tâm kia mới bằng ba chữ tài. (câu thứ 3252, ĐTTT )
Chữ
tâm ở câu thứ 3252 trong ĐTTT: ‘Chữ tâm kia mới bằng ba
chữ tài’ cũng là chữ ‘tâm’ mà Nguyễn Du viết ở trong
bài thơ Đề Tam Thanh Động đã dẫn ở trên: "Thử tâm thường
định bất ly thiền" (Lòng này thường định không rời cảnh
thiền),
Hay
chữ tâm trong bài Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch
Đài:
-
Nhân
liễu thử tâm, nhân tự độ,
Linh
Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu.
-
Người
ta giải được tâm này ấy là mình tự độ,
Linh
Sơn chỉ ở tại lòng mình.
Hay chữ
tâm như như trong bài thơ Tạp Thi II đã dẫn ở trên: "Tứ
thời tâm kính tự như như" (Tâm trạng quanh năm vẫn nhẹ
nhàng).
Tâm
mà Nguyễn Du nói đến là Tâm chân như vì ‘tâm chơn như
là thể, tâm sinh diệt là tướng dụng, tâm này không hư vọng
nên gọi là ‘chơn,’ không biến đổi nên gọi là ‘như.’
Thế nên trong Luận ( Đại Thừa Khởi Tín Luận * ) mỗi
mỗi nói: ‘Tâm chơn như, tâm sanh diệt.’ (7) (Nguồn Thiền,
nguyên tác ‘Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự ‘,
Thiền Sư Tông Mật, Hoà thượng Thích Thanh Từ dịch, Phật
Lịch 2512, 1969 tây lịch, Chùa Khánh Anh, Pháp Quốc). Đại
Thừa Khởi Tín Luận (Sraddhotpàda) của Bồ Tát Mã Minh
viết vào thế kỷ thứ 1, tây lịch.
8.2
Tác giả Mai Hiền Lương trong tác phẩm ‘Tiếng Lòng của
Nguyễn Du’ dầy gần 300 trang gồm 21 bài luận, đã dẫn nhiều
đoạn thơ trong Đoạn Trường Tân Thanh để giải thích và
chứng minh là về mặt tư tưởng Nguyễn Du đã đưa triết
lý của đạo Phật vào ĐTTT. (8) (Tiếng Lòng của Nguyễn
Du, Mai Hiền Lương, Nhân Duyên ấn hành 1997, Gia Nã Đại).
Một
thí dụ dẫn chứng của tác giả Mai Hiền Lương: mở đầu
Đoạn Trường Tân Thanh (ĐTTT), Nguyễn Du đã đề cập đến
cái KHỔ của kiếp người vì làm người là mặc nhiên chấp
nhận KHỔ, và đây cũng là chân lý đầu tiên của Tứ Diệu
Đế trong giáo lý nhà Phật: khổ, tập, diệt, đạo. Triết
học Phật giáo được trình bày rõ ràng trong hai chữ cõi
người vì Đức Phật dạy rằng chúng sinh nếu không tu hành
theo đạo giải thoát sẽ tái sinh trong chu kỳ luân hồi của
sáu cõi (lục đạo): trời, người, atula, súc sinh, ngạ quỷ
và địa ngục, và trong sáu cõi này chỉ có cõi người mới
có những thuận duyên để tu hành con đường giải thoát theo
Phật.
Trăm
năm trong cõi người ta (câu thứ 1, ĐTTT)
Chữ
tài chữ mệnh khéo là ghét nhau (2)
Trải
qua một cuộc bể dâu (3)
Những
điều trông thấy mà đau đớn lòng (4)
Hai chữ
tài và mệnh đã được Nguyễn Du gán cho sự tương khắc
‘ghét nhau’ đã khiến nhiều người kết luận đơn giản
và đã từng giảng dạy là Nguyễn Du chủ trương thuyết ‘tài
mệnh tương đố.’ (8) (sách đã dẫn, trang 37-38).
9.
Lược khảo về kinh Kim Cương BÁT NHÃ BA LA MẬT (Vajracchedikà-Prajnà-Pàramità
Sùtra)
9.1
Thiền Sư Thích Thanh Từ trong ‘Kinh Kim Cang Giảng Giải’
đã giảng như sau:
‘Kinh
này do Đức Phật nói, nguyên văn bằng chữ Phạn (Sanskrit),
sau truyền sang Trung Hoa được dịch ra chữ Hán. Những nhà
phiên dịch Phạn-Hán gồm có:
Ngài
Cưu Ma La Thập (Kumàrajiva): ở chùa tại Trường An (chùa Thảo
Đường). Vào niên hiệu Hoằng Thủy năm thứ tư, tức là
năm 401 tây lịch, thuộc đời Dao Tần. Ngài dịch tên kinh
là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. Đây là bản có giá trị nhất,
được gọi là định bản, vì sau khi dịch đến giờ đều
được mọi người dùng để trì tụng. Bản này nằm trong
bộ Tam Bảo tụng hằng ngày.
Ngài
Bồ Đề Lưu Chi (Bodhiruchi): đời Ngụy dịch tên kinh cũng
đồng với bản trên tức là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, vào
khoảng 508 dương lịch.
Ngài
Ba la Mật Đa (Paramârtha) (Trung Hoa dịch Chân Đế): dịch vào
đời Trần, khoảng giữa thế kỷ thứ sáu đề tên là Kim
Cang Bát Nhã Ba La Mật.
Ngài
Đạt Ma Cấp Đa (Dharmagupta): đời Tùy, khoảng đầu thế kỷ
thứ bảy, dịch tên cũng đồng là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật.
Ngài
Huyền Trang (Hiouen-Thsang): đời Đường, khoảng giữa thế
kỷ thứ bảy, dịch chung trong bộ Đại Bát Nhã, 600 quyển,
gồm 16 hội, ‘Kim Cang’ là hội thứ 9, quyển 577 trong bộ
Đại Bát Nhã.
Ngài
Nghĩa Tịnh: đời Đường, đầu thế kỷ thứ tám, dịch tên
là ‘Phật thuyết năng đoạn Bát Nhã Ba La Mật kinh.’ Ngài
có đi Ấn Độ mang chữ Phạn về.
Sáu
nhà dịch đồng một bàn kinh, nhưng về sau được chú ý nhất
là các bản của ngài Cưu Ma La Thập, ngài Huyền Trang và ngài
Nghĩa Tịnh.
Kinh
Kim Cang rất được các Thiền Sư và Giảng Sư Trung Hoa chú
ý sớ giải. Có cả thảy độ 10 nhà:
1.
Ngài Trí Khải đời Tùy đề tên là ‘Kim Cang Bát Nhã kinh
sớ’ gồm một quyển.
2.
Ngài Kiết Tạng đời Tùy đề tên là ‘Kim Cang Bát Nhã sớ’
gồm 4 quyển.
3.
Ngài Khuy Cơ đời Đường đề tên là ‘Kim Cang Bát Nhã Tân
Thuật’ gồm 2 quyển.
4.
Ngài Tông Mật tức ngài Khuê Phong cũng ở đời Đường, đề
tên là ‘Kim Cang Bát Nhã cương sớ luận toát yếu’ gồm
2 quyển.
5.
Ngài Trí Nghiêm cũng thuộc đời Đường, đề tên là ‘Kim
Cang Bát Nhã Ba La Mật kinh lược sớ ’ gồm 2 quyển.
6.
Ngài Tư Cừ đời Tống đề tên là ‘Kim Cang toát yếu đại
san định ký’ gồm 7 quyển.
7.
Ngài Tông Lặc và Như Khôi đời Minh, đề tên là ‘Kim Cang
Bát Nhã Ba La Mật chú giải’ gồm 1 quyển.
8.
‘Kim Cang Chư Gia’ trích lời giảng của các Thiền Sư.
9.
Gần đây có ngài Thái Hư, đề tên là ‘Kim Cang Giảng Lục.’
10.
Gần đây nhất là cư sĩ Giang Vị Nông.
Về
phần dịch Hán-Việt gồm có:
Hòa
Thượng Trí Tịnh dịch trong bộ Tam Bảo tụng hằng ngày.
Hòa
Thượng Thiện Hoa, dịch trong bộ Phật Học Phổ Thông (tức
12 nấc thang giáo lý).
Thượng
Tọa Huệ Hưng dịch quyển ‘Kim Cang Giảng Lục’ của ngài
Thái Hư.
Cư
sĩ Đồ Nam dịch bản của ông Giang Vị Nông.
Quyển
‘Kim Cang Chư Gia’ cũng được dịch.
9.2
Sự Liên Hệ Giữa Kinh Kim Cang và Thiền Tông
Dĩ
nhiên ai cũng biết đức Lục Tổ khi gánh củi vào khách điếm
bán, thấy có người đang tụng kinh Kim Cang, đức Lục Tổ
nghe, tâm liền khai ngộ mới hỏi thăm và được biết là
Ngũ Tổ Huỳnh Mai dạy đồ đệ trì tụng Kim Cang, do đó Ngài
tìm đến học đạo. Trong Thiền tông, lúc ngài Bồ Đề Đạt
Ma truyền tâm ấn cho ngài Huệ Khả, Ngài trao 4 quyển kinh
Lăng Già (Lankàvatàra) để lấy đó làm tâm ấn. Đến đời
Ngũ Tổ, thấy Kim Cang là quyển kinh tối yếu trong nhà Thiền,
Ngài dạy: chẳng những Tăng Ni mà cả cư sĩ đều nên trì
tụng kinh Kim Cang để an tâm. Thế nên khi Lục Tổ đến học,
vào trước giờ truyền y bát, Ngài đem kinh Kim Cang ra giảng.
Khi giảng đến câu ‘Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm,’ Lục
Tổ hoàn toàn liễu ngộ. Như vậy Lục Tổ ngộ đạo và được
truyền y bát làm Tổ cũng nhơn nơi Kim Cang. Do đó chúng ta
thấy rõ tầm quan trọng của kinh Kim Cang đối với Thiền
Tông.
Sau
này trong các chùa và các thiền viện, bộ kinh này được
xem như bộ kinh nhật tụng, và kinh Kim Cang được xem như tâm
ấn trong nhà Thiền. Ngái Khuê Phong cũng bảo Kim Cang là bộ
kinh quí đáng để an tâm. Học kinh Kim Cang là học thẳng vào
phương pháp tu Thiền.’ (10) (sách đã dẫn,trang 1-3). Trong
Kinh Kim Cang Giảng Giải, Thiền sư Thích Thanh Từ đã giảng
một cách hết sức đơn giản và đưa ra nhiều thí dụ để
người đọc hiểu và nắm vững được ý chỉ của kinh. Đến
cuối sách Ngài cũng tóm tắt như sau:
TOÁT
YẾU KINH KIM CANG
1.
Lấy Trí Tuệ Bát Nhã quán xét tất cả pháp hữu vi đều
không có tự tánh,vô thường sinh diệt.
2.
Nhờ quán xét vững chắc nên hàng phục tâm dễ dàng, đưa
các vọng tưởng vào Vô Dư Niết Bàn.
3.
Vì buông xả các pháp và vọng tưởng nên tâm được an trụ.
4,
Tâm an trụ không dính mắc sáu trần nên Như Như bất động.
5.
Muốn trụ tâm phải buông xả đừng dính sáu trần (bố thí
không chấp tướng).
6.
Muốn hàng phục tâm phải đưa vọng niệm vào chỗ Vô Sanh.
(2)
(sách đã dẫn, trang 162).
9.3
Giáo Sư F. Max Muller đã dịch kinh Kim Cương (với phần giới
thiệu viết tại đại học Oxford ngày 26 tháng Giêng 1894) trực
tiếp từ chữ Phạn (Sanskrit) sang Anh ngữ với tên ‘The
Vajracchedika or Diamond Cutter’ trong quyển ‘Buddhist Mahàyàna
Texts,’trang 109-144, (quyển thứ 49 trong bộ sách ‘Sacred
Books of the East Series’ gồm 50 quyển), do Oxford University
Press in năm 1894, và nhà xuất bản Motilal Banarsidass ở Ấn
Độ tái bản vào những năm 1965, 1968, 1972, 1978. Bản dịch
của Giáo Sư F. Max Muller không có phần giảng giải nên đọc
khó hiểu.
Ông
Lu K’uan Yu (Charles Luk) đã dịch sang Anh ngữ bản Kinh Kim Cương
và phần giảng giải viết bằng chữ Hán của Thiền Sư Te
Ch’ing (hiệu là Han Shan, Hám Sơn) viết vào năm 1616 tại Chùa
Lục Tổ Huệ Năng ở Tào Khê, đời nhà Minh, Trung Hoa.
Thiền
Sư Hám Sơn đã viết phần giảng giải kinh Kim Cương sau khi
Ngài đã chứng ngộ và theo Ngài kinh chỉ nên chia ra làm hai
phần: phần một để phá bỏ những kiến chấp còn thô sơ
của những ai học Phật, phần hai để xóa bỏ những kiến
chấp vi tế hơn mà những người học Phật vẫn còn giữ
lấy nhưng không nhận biết.
Bản
dịch Anh ngữ của Ông Lu K’uan Yu (1959) là ‘The Diamond
Cutter of Doubts,’ a Commentary on the Diamond Sùtra, Vajracchedikà-Prajnà-Pàramità
Sùtra, by Ch’an Master Han Shan (from the Chin Kang Chueh I) được
đăng trong bộ sách ‘Ch’an and Zen Teaching’ First Series
(và Second Series, Third Series) do nhà xuất bản Century Hutchinson
Australia Pty Ltd., 1987, trang 147-206.
Nhận
thấy những lời giảng giải của Thiền Sư Te Ch’ing (hiệu
là Han Shan, ‘Silly Mountain,’ Hám Sơn, 1546-1623) hết sức lợi
ích cho những ai muốn hiểu rõ thêm về kinh Kim Cương nên
trong tương lai chúng tôi nguyện sẽ cố gắng chuyển bản
Anh ngữ này sang Việt ngữ để trình bày cùng đồng hương
Việt Nam có thêm tài liệu để tham khảo.
Duyên
lành bài viết vừa xong,
Quà
Xuân Kỷ Mão, tỏ lòng tri âm.
Phan
Quang Việt
[Khởi
đầu viết đêm 30 tháng 12, 1998, viết xong bản thảo ngày
2 tháng 2, 1999,
những
ngày cuối năm trước Tết Nguyên Đán Kỷ Mão 1999,
Sydney,
Úc Đại Lợi, Nam Bán Cầu].
TÀI
LIỆU HỌC HỎI VÀ THAM KHẢO
Lục
Tổ Huệ Năng, Pháp Bảo Đàn Kinh, Thích Minh Trực dịch, Phật
Học Viện Quốc Tế xuất bản, Phật Lịch 2531, Hoa Kỳ, 1987.
1.
Vũ Khắc Khoan, Đọc Kinh, Bà Vũ Khắc Khoan tại Hoa Kỳ và
An Tiêm xuất bản, 1988.
2.
Giáo Sư Hồ Đình Chữ, Trích giảng Truyện Kiều của Nguyễn
Du, Việt Luận xuất bản, Sydney, 1996. Sách có in bài khảo
cứu, trang 305, ‘Lời Bạt: Đầu năm Quý Dậu 1813 Nguyễn
Du đi sứ Trung Quốc’ của Hương Giang Thái Văn Kiểm, Paris
Chiêu Anh Các, Xuân Ất Hợi 1995.
3.
Thiều Chửu dịch, Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật, Trung Tâm
Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam tại Cộng Hòa Liên Bang Đức,
xuất bản năm 1984.
4.
Nguyễn Đăng Thục, Thế Giới Thi Ca Nguyễn Du, Xuân Thu xuất
bản, Hoa Kỳ.
5.
Vũ Thế Ngọc dịch, Bồ Đề Đạt Ma Tuyệt Quán Luận, EastWest
Institute, Hoa Kỳ, 1983.
6.
Thiền Sư Thích Thanh Từ dịch, Nguồn Thiền, nguyên tác ‘Thiền
Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự ‘, Thiền Sư Tông Mật, Phật
Lịch 2512 (1969), Chùa Khánh Anh, Pháp Quốc.
7.
Mai Hiền Lương, Tiếng Lòng của Nguyễn Du, Nhân Duyên ấn
hành 1997, Gia Nã Đại.
8.
Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược (quyển 2), Bộ Giáo Dục
xuất bản, Sài Gòn 1971, trang 140-141.
9.
Thiền Sư Thích Thanh Từ, Kinh Kim Cang Giảng Giải, Phước Huệ
Đạo Tràng, tái bản và ấn tống, Úc Đại Lợi, Phật Lịch
2531, 1987.
Phụ
chú
Nhà
cách mạng Sào Nam Phan Bội Châu cũng đã từng đọc kinh Kim
Cương: Nhà cách mạng Sào Nam Phan Bội Châu cũng đã từng
đọc và nghiên cứu kinh Kim Cương vì Cụ Phan Bội Châu khi
viết bộ sách Chu Dịch, Cụ đã viết về quẻ Phong Địa
Quán như sau:
‘Quán,
quán nhi bất tiến, hữu phu, ngung nhược, hạ quan nhi hóa dã.
‘Theo
như Soán từ, thời chỉ dùng một cách chí thành, nghiêm kính,
khiến cho kẻ dưới dòm ‘mình mà cảm hóa vậy. ‘Phụ Chú
- Ý nghĩa Soán từ đây, tượng như câu: thần võ nhi bất
sát. Nghĩa là: dùng uy võ ‘bằng một cách thần diệu, mà
không cần phải giết người. ‘Tòng lai, việc võ tất có
giết người, võ mà không giết người mới là thần võ. Tế
tất có tiến, tế ‘không dùng đồ tiến, mới là ý nghĩa
thờ thần rất hay.
‘Kinh
Phật có câu: ‘Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu
ngã, thị nhân hành tà đạo, bất ‘đắc kiến Như Lai.’
Nghĩa là: Phật lý chỉ ở bản tâm, vô thanh vô sắc, nếu
ai lấy thanh âm ‘mà ‘cầu ta ở thanh âm, lấy hình sắc
mà cầu ta ở hình sắc, người ấy rặt là làm đạo tà,
không được ‘thấy Đức Phật Như Lai. ‘Câu kinh ấy ý
tứ cũng như lời Soán đây. Lấy mâm cỗ mà cầu thần, có
khác gì lấy thanh sắc ‘mà cầu Phật.’ (Sào Nam Phan Bội
Châu, Chu Dịch, quyển thượng kinh, quẻ Phong Địa Quán, trang
414, nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1969).
Bốn
câu kệ mà Cụ Phan Bội Châu trích dẫn ở trên lấy từ kinh
Kim Cương, đoạn 26,
‘Pháp
Thân phi tướng,’ Pháp thân chẳng phải là tướng. (10) (sách
đã dẫn, trang 134).
Nhược
dĩ sắc kiến ngã
Dĩ
âm thanh cầu ngã
Thị
nhân hành tà đạo
Bất
năng kiến Như Lai
(Nếu
do sắc thấy ta
Do
âm thanh cầu ta
Người
ấy hành đạo tà
-
Không
thể thấy Như Lai.)
-
-
Bài Xem Thêm:
-
Đọc
Thọ Chữ Hán Của Nguyễn Du