SAY
VÀO HOA TẠNG
x
Xưa
kia Lý Bạch sầu vô lượng
Hát
khúc trầm kha theo Khuất nguyên,
Trăng
hồng chênh chếch trời mã não
Ðáy
nước mò trăng có ảo huyền?
Xót
người mặt phấn duyên đòi đoạn
Hay
thấy kiếp người luống nhọc công
Thấy
lòng phiền muộn không bờ bến
Lại
gặp trăng gầy úa sắc- không?
Họ
Lý ngang tàng vang một thuở
Nhưng
chưa hề hiểu mộng "Cuồng Ngây",
Si
ngây ôm mộng nghiêng trời biển
Mà
vẫn thung dung nửa tỉnh say....
Ðáy
thẳm không hư còn lồng lộng
Nghiêp-dĩ
ngàn xưa mây trắng bay,
Xá
chi một mảnh trăng phiền muộn
Mà
phải ngậm ngùi mấy kiếp say !
Chẳng
thấy Trang châu người áo vải
Ðêm
thu lất phất hạt thu bay,
Co
tay đổ giấc mơ làm bướm
Cùng
với trăng xanh lờ lững say
Hãy
học gương "Cuồng" người Ðồng-Tử
Si
ngây ngồi lặng ngắm trùng dương
Trùng
dương bất tận tràn hư ảnh
Mà
chẳng giăng sầu lụy vấn vương!
Học
người Ðồng tử miền Hoa tạng
Túy
lúy càn-khôn một lỗ lông,
Thấy
Sái-cam-lồ bừng chiếu sáng
Hào
quang muôn trượng... dạ thong dong!
Ðáy
nước mò trăng, trăng nào thấy
Chỉ
thấy muôn vàn đốm lửa yêu,
Hãy
mò Tâm để quang lồng lộng
Một
điểm Không-hư vạn kiếp đầy...
Chú Thích
Hoa
Tạng : Tức Liên Hoa Tạng thế giới, tên cõi Tịnh độ
của Phật Tỳ Lô giá na, được nói tới nhiều trong kinh Hoa
Nghiêm. Theo đó ở biển Hương Thủy mọc ra một đoá Ðại
Liên Hoa, trong hoa sen bao gồm thế giới nhiều như bụi nhỏ.
Tóm lại, thế giới Liên Hoa Tạng hay Hoa Tạng là tên gọi
chung các cõi báo độ của chư Phật, và ở đây hiểu đơn
giản là cõi Phật theo tinh thần kinh Hoa Nghiêm.
Ðồng
Tử :Thiện Tài đồng tử, tên một đệ tử của Phật.
Theo kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp giới, thì đồng tử Thiện
Tài từng theo học với 53 vị thiện tri thức, và người độ
cho Thiện Tài là hai bồ tát Di Lặc và Văn Thù. Ở trong các
chùa bên trái tượng bồ tát Quan Âm có đặt tượng đồng
tử Thiện Tài, là lấy tích khi Thiện Tài đi tham học 53 vị
thiện trí thức, đến vị thứ 27 mới có duyên gặp được
Quan Âm đại sĩ, và trở thành vị hiệp sĩ của bồ tát.
Chuyện
Lý Bạch, thi hào đời Ðường, theo truyền thuyết khi uống
rượu say trên thuyền nhìn thấy ánh trăng ở đáy sông rất
đẹp, ông nhảy xuống định vớt trăng lên mà chết đuối,
chắc nhiều người đều biết. Nhắc lại để thấy đó là
một thứ “si mộng” thôi được coi là thi thoại đẹp.
Chuyện
Trang Châu (Chu) hay Trang Tử, cũng dược nhiều người nhớ.
Ông là triết gia lớn thời cổ đại Trung Hoa, sống thanh đạm,
cơm giỏ, nước bầu, co tay làm gối, khi ngủ nằm mơ thấy
mình hoá thành bướm bay rất thảnh thơi. Lúc tỉnh dậy
cứ băn khoăn không biết ông đã mơ hoá bướm hay bướm mơ
thành Trang Chu, và câu chuyện đó trở thành một “suy tư”
có tính cách triết lý về chân giả, thự hư trong cuộc sống.
Tôi nghĩ
bài thơ này ông Nghiêm Xuân Hồng làm vào lúc để hết tâm
chú giảng rất công phu phẩm Nhập Pháp Giới, trong kinh Hoa
Nghiêm, và sau được in thành ba hay bốn quyển.
Hòa Nguyễn
Chú Thích
x
Bặt
khúc hư tình ào phố tan.
x
CHIỀU TÂM LƯỢNG
x
Chiều
tàn nở nụ tâm hoa
Nắng
tàn chợp giấc phai nhòa tình thu
Nửa khuya
vượt cửa Thần phù
Khéo tu
chẳng nổi vụng tu chẳng chìm
Ðường
tâm mờ ảo cánh chim
In hư
không nọ sao tìm dấu đây?
Ngàn xưa
chót lỡ cuồng ngây
Ðã bao
nhiêu thuở lệ đầy biển vơi!
Giờ đây
quảng giấc mộng đời
Mơ chùm
sao rụng nghiêng trời biển Ðông,
Mơ miền
hương-thủy thong dong
Lời kinh
hư thực rải lòng huyền-không
Chừ đây
thiêm thiếp trăng hồng
Mở tâm
vô lượng soi vòng trần ai
Thấy
thân bước tới Kim đài
Hóa hình
cát bụi hiện ngoài thinh không
Gặp người
thiên-nữ thần thông
Tung hoa
diệu-ý toại lòng xót thương...
Tỉnh
ra thấy bóng cành dương
Lắc lay
song cửa vô thường mênh mang
Bãi sông
cồn ngọc cát vàng
Lung linh
tâm nở giữa tràng khổ hoa...
x
HÌNH HÀI VÔ LƯỢNG
x
Hắn qua
sông gần hết nhịp phù kiều
Mới nhận
thấy lòng-mình-không-xiết-kể,
Lòng vô
lượng nhưng hình hài duy chỉ một
Từ sơ
sinh trơ trụi có vậy thôi...
Lòng vô
hạn ẩn thân-hình hữu hạn
Này hóa-nhi,
như vậy chán hay không?!
Trời
đất bao la như không ngằn-mé
Xoạc
đôi chân sao lấp khoảng mênh mông? ...
Vòm trời
sao cơ man như riễu cợt
Cười
thầm người chẳng biểt cái chi chi,
Mà chẳng
thể giơ đôi tay vít xuống
Ðể che
mờ nhưng ánh mắt trêu ngươi.
Khắp nơi
nơi lao xao bao giọng nói
Của muông-trùng
hoa cỏ hẹn hò nhau,
Mà chẳng
thể mang đôi tai khờ khạo
Lén lặng
nghe lời thề thốt nỉ non.
Thân thiên
nữ tỏa diệu hưong bảng lảng
Mọi cỏ
hoa bát ngát tiết tịnh-hưong,
Mà chiếc
mũi ngẩn ngơ đầy cát bụi
Chỉ nhận
ra như nhuốm vị trần ai.
Sông núi
trăng sao trầm-tư-giấc-dài-mộng-tưỏng
Niềm
ước mơ dằng dặc ý trìên miên,
Mà chẳng
sao phóng ý-tình phổ nhập
Những
áng mây chới với buổi hoàng hôn...
Có những
lúc soi gương ngắm nhìn vọng-ảnh
Thấy
ý tình vô tận bóng phù du!
Hình thô
kệch làm sao theo nổi ý
Vào những
nơi sâu thẳm mịt mùng khơi? ...
Hắn ước
mơ được phân-thân thành vô lượng
Ðể ẩn
mình từng hạt bụi cánh hoa,
Ðể có
thể phất vung tà áo rộng
Qươ vào
trong muôn ức ánh trăng sao...
Huyền
hoặc mà thôi... nhưng thực chẳng có gì huyền hoặc,
Vì thế
gian này... tuồng huyền hoặc khôn nguôi...
Nên hắn
si ngây,
Tiếp
tục mơ giấc-mơ-hình-hài-vô-lượng (l)
Ðể gieo
mình nơi vô lượng cuộc bể dâu...
Chú Thích
(1) : Chỉ có giáo lý nhà Phật mới có thể nói tới vụ phân
thân vô lượng hay hóa thân vô lượng... Các nền giáo lý
khác đều chưa dám nói tới vụ này.
GIẤC NGỦ CHIỀU
Nắng vàng
từ thuở nguyên sơ
Mây bâng
khuâng nối tình thu ngập ngừng
Lá mây
mở lớp chập chùng
Lớp nào
là lớp huyền tâm hỡi người?
Lá xanh
ngậm đắng ánh trời
Mây lơ
lửng rải tình đời khó nguôi
Sâm Thương
bao thuở chia phôi
Mây xanh
mấy độ bùi ngùi tịch dương
Khép xong
ủ kín đoạn trường
Nghiêng
tâm đổ giấc hoang đường giữa thu
Lạ thay
nắng quái phù du
Qua mây
chiếu loé thiên thu ngậm ngùi
Tâm tư
chìm giấc ngủ vùi
Nắng
thu rơi rụng kéo lùi chiêm bao
Muộn
màng chẩy trái yêu đào
Bóc lần
từng lớp hư hao ngỡ ngàng
Lỡ tay
dứt sợi nắng vàng
Phai nhòa
nhân ảnh bàng hoàng thu xưa.
GỬI HỌ VŨ
Người
đã đi rồi, ta vẫn đây
Ngàn năm
mây trắng, gió thu gầy
Sững
sơ lê bước trường quan tái
Chẳng
hiểu bao giờ rũ cánh bay...
Ngắt nhành
dương liễu tiễn đưa người
Tụng
nửa câu kinh vọng tiếng cười
Văng vẳng
đâu đây còn nhịp phách
Của người
con gái áo hoa xưa
Có nhớ
rượu chăng rượu ngậm ngùi
Hồ-trường
bảng lảng rót buồn vui,
Rót nơi
muôn thuở không-hư ấy
Tưới
nở hoa đèn trí-tuệ say
Bốn chục
năm qua làn gió thoảng
Có còn
chăng vài nét tà huy
Còn chăng
vẻ mặt ngậm cười ấy
Và giọng
chửi thề tịch mịch say
Ta cũng-nhớ-ngươi-
chẳng-nhớ-ngươi
Nhớ ngươi
như nhớ bóng thu gầy
Ngàn xưa
nhiều kẻ ra đi quá
Ai ở
ai đi biết nói gì?
TRĂNG CÀI CỔ ÐỘ
Như kẻ
si ngây hắn lữ hành từ cổ độ,
Trải
hình hài vô lượng bến phù hoa
Mái tóc
biếc nhuốm ngàn lần ánh bạc
Vẫn chưa
sao bặt hết ý bình bồng
Nằm nơi
đây lắng sóng cồn xào xạc
Hắn mơ
màng một giọt lửa tinh-vân
Rớt xoáy
trái tim, cháy hừng hực đỏ
Ðốt
tan tành kiếp sống chỉ trăm năm.
Từ thuở
xa khơi đã từng nhiều kẻ
Quảng
hình hài mong nhập suối hư-vô
Hóa thành
cây thông lạnh lùng réo rắt
Hay hòn
đá lỳ đổ giấc vạn năm... .
Nhưng hởi
ơi! hư vô cũng vẫn là hoài vọng
Hòn đá
kia đâu có thật vô tri!
Và sống
chết chẳng cắt nổi giòng thức-giấc
Chẳng
thể ngừng mừng sợ lẫn say mê
Lạ thay!
Lạ thay! Chẳng sao ngừng tri giác
Chẳng
sao ngừng làm lóe ánh hư-minh
Tựa lớp
mù-sa bàn tay yêu huyễn
Dệt ảo-thành
nhốt kín kiếp phù-sinh!
Tử thuở
không tên đắm mình giòng hư-ảnh
Hết chuỗi
nầy lại chuỗi khác nổi lên
Các thứ
ước mơ theo nhau trổi dậy.
Vung bàn
tay nắm bắt: chỉ hư-không
Hư ảnh
mà thôi, chẳng gì ngừng chảy
Chẳng
có gì nán lại giữa vòng tay
Giấc
mộng xa xưa lâu đài yêu-mị
Nay tiêu
chìm nơi nắng quái hoàng hôn
Nhưng dị
kỳ thay! Hắn lặng lờ khép mí,
Lắng
quên mình, quên tiệt mộng phù hoa
Bỗng
thấy nổi lên từ đáy từng vực thẳm
Mảnh
trăng cài nơi cổ độ hoang vu...
Hoang vu
hoang vu! Chẳng còn một vật.
Chỉ diệu-huyền
vằng vặc ánh trăng xanh
Xanh thắm
trong veo xanh bát ngát:
Duy một
con-tằm-hóa-bướm lững lờ bay?
HOA TẠNG
TRẦM TƯ
Gửi
một người đã rũ bỏ bụi trần ai
Mặt trời
đã lặn từ lầu nhưng trăng chưa mọc
Bầu trời
thăm thẳm chỉ có những vì sao lấp lánh
Như muốn
thì thầm nhắn nhủ một điều bẩn dị kỳ...
Mặt trời
Ðại bi đã lặn rồi.
Mà vầng
trăng Lăng già chưa chịu ló dạng.
Thế gian
như trống vắng quạnh hiu
Các hàng
trời người đều như quờ quạng
Trong bóng
tối đêm sâu,
Chẳng
biết nghĩ sao về thân phận mình
Cũng như
về bổn lai cái vũ trụ lạnh lùng huyền hoặc này
Ngay đến
đàn chim cũng xào xạc thức giấc trong lùm cây
Trong bóng
tôi đêm sâu,
Chắc
rằng có những đàn tiểu quỷ lũ lượt
Ðương
nghiêng ngả cả cười...
Nhưng
may thay là vẫøn còn những vì sao
Tương
tự những ánh mắt xa khơi.
Ðương
muôn thì thầm nhắn nhủ một điều gì...
Khép cánh
cứa sài vì thoảng cơn gió lạnh,
Thắp
nén tâm hương khơi dậy ngọn đèn hiu hắt.
Lần giở
nhửng trang tôn linh, đắm mình theo giòng chữ...
Bỗng
thấy bàng hoàng như bơi lội giữa một biển đầy sao. ..
Và thoảng
như nghe hiểu lời thì thàm nhắn nhủ
Của các
tinh cau thiên chủ
Muốn
di ngôn cho các kiếp xưa sau...
Từ thuở
không tên. Ai, Ai đã vén lên tấm màn này?
Tấm màn
vừa dị kỳ huyền hoặc vừa hết mực hiển nhiên.
Khiến
cho, thoạt nghe,
Các loài
hữu tình đều dụi mắt thẫn thờ
Vì không
tin ở mắt mình, nghi ngờ tai mình
Ai đã
nói lên được cái Chân lý không the khác ấy
Về Ðạo
lý vậøn hành của vũ trụÏ kiếp sống này?!
Chắc
chắn không phải vì một vị vua trời Phạm Thiên sơ thiền
nào đó.
Cũng không
phải một vị Thượng đế mờ mờ nhân ảnh.
Vì cái
tâm lượng hữu hạn làm sao nói được vô hạn,
Cái có
số lượng làm sao nói vô lượng,
Cái chưa
ra khỏi một thế giới làm sao mô tả thê giới võng
Và cái
còn rơi rớt vọng tưởng vọng tình, chấp trước có không,
Thì làm
sao luận bàn rốt ráo về hư không??
Ai đã
nói lên giáo lý như thực như hư
Về nhịp
điệu sở hành của cái Thâøm tâm Diệu quang minh hải ấy
???
Ai đã
nói lên những điều khó thể nói, khó thế biết
Từ mẫn
nhắc nhở chúng sanh si ngây
Trong các
cõi nhiều như hạt bụi...
Chỉ rõ
biển Không-hải-uyên-nguyên hào quang sáng ngời không có một
vật
Cùng bí
ẩn của sự động niệm mê sảng muốn tự chiếu soi
Khiến
cho cái vô tận hiến hình thành tận...
Diễn
nói về những đám bụi hào quang xoay vần miên viễn
Làm loé
lên cơ man còn lốc ảnh-hiện-thức-biến-chập chùng.
Lung-linh-mê-đô-ảo-phố....
Giảng
giải rằng tuy mỗi tia-chớp-nháng đều mềm niệm diệt,
Nhưng
vì suy động bởi sức nghiệp tương-tợ-tương-tục.
Nên vẫøn
hiện lên như có vật và có tác vi...
Nói về
nhịp điệu của thâm-tâm-hành
Vừa chu
kỳ (cyclique) vừa cực-độ-chuyển-hiện,
Vừa ly-tâm
vừa hướng-tâm
Và trong
đó, những trạng thái như trái ngược
Vẫn thường
thành tựu lẫn nhau...
Diễn
giải không ngừng...
Về thời
gian không gian ngang dọc huyễn -mộng vọng-tưởng
Chỉ là
do nhịp điệu bồng bềnh vô thủy của tâm thức hữu tình
Về huyễn-số,
huyễn-tế, huyễn-trí
VềÏ
cái tâm đại-ảo-sư nổi cơn cuồng-mị
Dệt nên
đại-ảo-thành nhốt kín kẻ u mê!..
Nhắc
đi nhắc lại pháp-giới này chẳng thực chẳng hư
Chẳng
vật chẳng phi vật
Không
đoạn không thường, không lai-khứ, không nhất dị
Chẳng
onde chẳng corpuscule
Vì chỉ
là ảnh-hiện
Vì chỉ
là một trường thức-biến mênh mang
Vì mọi
sự-vật đều không mảy may tự-tánh...
Và sự
phủ-định không cùng (negation) chính là chuyển
sang sự
khẳng định (affirmation) tối thượng
Và hết
thảy vô-tự-tánh chính là chỉ rõ nơi thể tánh bờ mé
kho thể
chỉ bày...
Ai, Ai là
bậc Nan-tư có thể khoan thai từ ái
Nói lên
những điều như vậy... ?
Nhưng trong
cái màn lưới thế-giới-võng chập chùng
Dệt nên
bởi đám bụi trần-ai nghiệp-dĩ,
Ai là
những bậc tỏa sức hào quang
Ðể làm
nơi nương về của thế giới cùng hư-không?
Ai là
bậc có đủ nhãn-lực
Ðể nhìn
thấy cả thế-giới-hải bao la,
Chỉ nhỏ
như một bông hoa khi nở ra lúc cụp lại
Lại nhìn
thấy mỗi hạt bụi cũng nở ra
Thành
một thế giới nơi đó có đủ trăm vạn ức
Nhật
nguyệt tinh tú Tu di cùng hải hội nhiệm mầu?
Ai là
bậc biết rõ va quở trách các thứ thiên đường thấp kém
Của ngoại-đạo
còn nặng nề kiến chấp có-không,
Nên chỉ
biết loanh quanh lẩn quẩøn nơi mấy tầng trời?
Lại dùng
tâm-nhãn tịnh diệu
Vượt
ra khỏi tiểu-thiên thế giới,
Ra khỏi
trung-thiên, khỏi đại-thiên,
Trải
qua kiêp-số, lặng ngắm nhìn các thứ cõi
Hoặc
thô hoặc diệu, hoặc uế-tịnh
Ðể chỉ
đường cho các chúng sanh hoang loạn
Biết
cách xin sang Tịnh-độ thắng duyên...
Ai là
bậc có thể hiện thân-vô-biên
Tỏa hào
quang bao trùm nhiều cõi
Ðể biết
rõ từng hạt mưa, từng tâm niệm chúng sanh?
Là bậc
hiện thân mình làm một cõi
Ðể dung
chứa chúng sanh lăng xăng ngủ vùi...
Có thể
bóp nát nhiều thế giới
Thành
vi-trần thành bụi quang minh,
Rồi lại
từ vi trần kết thành thế giới
Mà chẳng
làm kinh động chúng sanh. . . ?
Ai có
thế tùy nghi biến hình các cõi
Làm nơi
thắng duyên hay chỗ trả nghiệp của chúng sanh
Ai có
thể trụ thân mình trong vô lượng kiếp
Ðể chờ
đợi một chúng sanh thành thục căn lành...
Hoặc
thay đổi nhịp điệu tâm-hành
Ðem một
liếp vào một sát na
Hay kéo
dài sát na thành nhiều liếp... ?
Ai, Ai đây!Ai
là bậc Nan-thắng này???
Ai có
thể nói rằng:
Diệt
tận định cây-khô-tro-nguội chưa phải là bờ mé,
Và tầng
trời Phi-tưởng kia vẫøn chưa phải Bến cũ tích liêu...
Ai là
bậc ra vào thung dung các cơn đại-định,
Lấy một
thân nhấp định, lúc xuất lại nhiều thân...
Ai dám
nói rằng cơn tam muội có cơ man không xiết kể,
Nhưng
mọi sở-hành đều thu gọn nơi Sát-na-tế-phổ-quang minh???
Ai la bậc
tùy tâm dọc ngang pháp giới,
Tuy vẫn
ngồi bất-động tịch nhiên
Mà vẫn
hiện hóa-thân nườm nượp tỏa khắp hư không...
Mỗi bước
chờn đi đều chấn động các cõi
Khiến
các nẻo mê-đồ thoắt trống vắng rỗng không. .. ?
Ai la bậc
giữa những cơn tam-tai kiếp hoại
Làm nổi
lên những luồng phong luân rào rạt
Ðẩy
các chúng sanh lên những tầng trời sơ-nhị-tam-thiền
Tương
tự như làn sóng cồn làm sống lại đám cá tích ngất ngư..
?
Ai biết
rõ chúng sanh dường như mộng-ảo
Song những
niềm đau khổ vẫn có thật triền miên...
Ai dám
tự nói mình cũng chỉ là huyễn mộng
Mà chẳng
ngừng hứng khởi Ðại bi tâm.. .
Ai biết
rõ các hạnh đều như mơ, như tia nắng quái
Mà vẫn
phân thân hóa độ chẳng ngừng tay...
Ai biết
rõ tất cả thế gian chỉ là huyễn hiện
Mà vẫn
liên miên biến hóa tràn đầy thế gian... ?
Ai đã
ân cần khuyên nhủ
Tất cả
chúng sanh
Phải
làm con cá tích lội-ngược-giòng năm lớp sương mù
Rồi chỉ
rõ các hạnh, các địa,
Các giải
thoát môn, các tràng hạnh nguyện,
Mọi thứ
tâm hành biến hóa,
Ðể trở
thành những bậc
Tuy vẫn
ở thế gian mà vẫn siêu xuất thế gian...
Ai là
Bậc đã nói lên những điều như vậy,
Khiến
cho ngàn trước, ngàn sau,
Trải
những kiếp số không thể tính đếm,
Chẳng
có một cái gì có thể thoát khỏi
Chân lý
vận hành của những lời này... ?
Ai, Ai
là bậc Nan ngộ ấy??. ...
Ai là ai
vậy, những lời ấy là lời gì?...
Sương
khuya đã thấm lạnh miền đất sa mạc
Ðột
khởi lên từ đáy biển sâu do một bàn tay nào đó...
Ngọn
đèn như heo hút, lụn bấc vơi dầu
Những
trang tôn lánh như im lìm mờ nhạt,
Chỉ nghe
gió khuya xào xạc...
Thấy
hình như, thực ra, chẳng có ai nói cả
Và lời
kia chỉ là tiếng vọng thì thầm
Của pháp
giới cùng tâm thức lặng thinh....
Trên vòm
trời, những cánh buồm sao đã ấn đi mất dạng
Vì trăng
tà đã hiện lên
Giữa
thinh không
Lững-lờ-không-bạn
Tỏa sáng
ngời trên Bến cũ chẳng có một ai...!
LẠC NẺO
CỐ NHÂN
Từ ai
tắm suối Hoa Nghiêm
Soi mình
giòng nước, khép duyên nụ cười.
Giơ tay
vớt ánh sao rời,
Tấm thân
cây cỏ ngậm ngùi trúc tơ,
Rừng
phong rụng lá ước mơ
Suối
trong rũ mộng bên bờ tịch liêu
Rằng
xưa... nơi bên Phong Kiều
Vẽ lầm...
trăng úa, tiêu điều nhụy hoa..
Trang kinh
hồn mộng chói lòa
Nửa cơn
địa chấn phai nhòa tang thương...
Lối đi
dặm liễu mờ sương
Tấm y
hoại sắc vô thường... hư nhiên,
Nhẹ bàn
tay ngát hương thiền
Thong dong
Bửu nữ tới miền Kim-Luân,
Gặp người
lạc nẻo cố nhân
Trao bông
linh-thoại ân cần nắng mưa,
Rằng
xưa nhiều kiếp hương thừa
Rằng
nay mới thực là vừa cơ duyên
cho hay
túc trái triền miên
Băng khe
tình lụy tới miền thênh thang...
Ai-đi-công-quả-cho-đời,
Cho ta
đứng lặng ngậm ngùi chiếc thân...
QUA SÔNG
NI LIÊN
Niranjana...
Làm sao
nối lại giòng tâm tưởng
cho kiếp
phù trần chớ lãng quên
Làm sao
trả sạch ân tình cũ
Ðề thả
một giòng giấc thụy miên?!...
Qua sông
Ni Liên, giòng sông cạn
Nhìn cát
bạc màu, lòng xót xa
Nhớ một
buổi mưa sông đầy ắp
Cùng những
bầy chim bay la đà
Chúng tìm
gì đây trên giòng nước
Sỏi đá
biến thiên nước nhạt nhòa
Có ai
lê bước rừng khổ hạnh
Ðể tới
vũng sông rửa mắt lòa
Linh Thứu
núi xưa mặt trời hồng
Nửa khuya
biến hình thành trăng lu
Có ai
gõ trống trên ghềnh đá
Bàng bạc
thinh không hoa trời sa
Ngày về
bỗng nhận tập “Ðọc kinh “
Của người
gửi tới từ hiu quạnh
Ý tưởng
ngẩn ngơ lời ngập ngừng
Bàng hoàng
như cười như rơi lệ...
TRANG KINH
XANH NGẮT
Thần thánh
xa rồi...rớt lại đây
Trang kinh
xanh ngắt dưới trăng gầy
Chong đèn
mờ tỏ lần tờ cũ
Tinh đẩu
quay cuồng lộng gió bay...
Chạnh
nhớ tiền thân mộng liêu trai
Hồn ma
quỷ mị rỡn trăng say,
Cô gái
hồ ly đa phấn diện
Gỉa hồn
thục nữ ghẹo chiêm bao
Mới thấy
lưới tình man mác quá
Tình dài
đằng đặc hận miên man
Tình giăng
lồng lộng...ai ra khỏi
Làm khách
phiêu bồng đi thế gian?
Lại nhớ
tiền thân đọc Lão Trang
Nghe hồn
hóa bướm dưới hoa vàng,
Ch hay
mộng tuý trường sinh ấy
Kết tưởng
liên thành cảnh Nhược tiên...
Tình tưởng
là chi mà gớm thế
Là trùng
là điệp chẳng gì ngăn,
Tuyệt
không ngằn mé...Ai là kẻ
Giăng
mắc tưởng tình kín thế gian?...
Nay tụng
Trang kinh thấy rõ ràng
Tờ hoa
lặng lẽ HIỆN trăng vàng
Trăng
vàng bỗng vỡ thành muôn mảnh
Hóa hiện
hình hài ngập thế gian...
Là tỉnh
là say là vậy đó
Là tâm
mê sảng hiện trần ai
Trần
ai lớp lớp trùng trùng xoáy
Khởi
đại phong luân vẽ thế gian
Trăng chiếu
tiền thân vô lượng cõi
Lúc vinh
lúc nhục cảnh phù hoa
Hiện
thân sư tử nghênh đầu núi
Lại hóa
muôn trùng núp cánh hoa...
Vô lượng
tình duyên như bỗng dứt
Mộng
tuý trường sinh cũng dứt thôi,
Thân vẫn
bước giữa bờ sanh tử
Mà lòng
bát ngát huệ vô sanh...
VARANASI
Hắn đứng
trơ đây, lặng nhìn thiên đường vỡ lở,
Những
mảnh thiên đường tan tác giữa trần gian.. .
Ðất
của Maya, của những lingams (những
lingams) sừng sững,
Của Shiva
ôm nghẹt nữ thần Shakti. ..
Ðất của
những kẻ đạo sĩ trần truồng như nhộng
Ngạo
nghễ đứng trên kè đá dọc sông Hằng,
Soi mình
xuống giòng sông như ngắm nhìn cửa âm môn mở rộng
Của những
loài nữ quái trùng điệp sóng Ganga...
Của những
kẻ Ni-kiền, bốc bã rượu trong chiếc sọ người
Ðể nhắm
đưa cay miếng thịt rữa của thây ma,
Hoặc
ăn phân mình, uống nước tiểu chính mình
Bài bác
nhân quả, tự cho là La hán hiện thân.
Hoặc của
những bậc đạo sĩ khá cao siêu như Uất Ðầu Lam Phất,
Triền
miên trong cơn định Phi Tưởng, tự cho là Niết Bàn tịch
tĩnh,
Của những
bầy ăn mày đui mù què cụt đông như bầy ruồi,
Và của
những ngõ hẻm không cùng trùng điệp của vọng thức chúng
sanh...
Nơi đây,
nơi đây... từng nổi lên trong giấc mơ của hắn,
Từ những
trang kinh huyền hoặc khôn dò...
Nơi đây
hình như là điểm của đất trời giao hợp
Ðể các
tiểu thần linh lởn vởn ve vãn gái trần gian...
Nơi đây,
nơi đây vừa mịt mùng cát bụi,
Vừa êm
ả như của ngõ nước Nhược non Bồng
Nên hắn
lê gót tới đây, để đứng trơ bàng hoàng ngơ ngẩn
Chẳng
hiểu mình ở thiên đường hay cửa địa ngục trần gian.
. . ?
Nơi đây
từ lúc rạng đông đã văng vẳng tiếng sáo Krishna,
và giữa
đêm trường tịch mịch, vẫn có tiếng hát nghêu ngao tán
thán thần Shiva,
Nơi đây
có mặt trăng lưỡi liềm ẩn hiện,
Như tranh
tối sáng với mặt trời lúc sắp rạng đông...
Nơi đây
có những đàn quạ lúc bay cao rợp bóng tầng mây,
Lúc sa
xuống những ngõ hẻm không cùng tranh nhau mấy miếng ruột
hôi thúi...
Có những
thây ma cháy dở vang mùi khét lẹt,
Và những
đám người cùi hủi há hốc chiếc miệng không môi...
Có những
người đàn bà gầy guộc vú nheo chẳng khác con la con ngựa,
Nhưng
cũng có những người con gái mặc sarees nhiều màu như chiếc
cầu vồng,
Mắt biếc
như hồ phương Tây,
Và nụ
cười huyền hoặc như tượng nữ thần Durga. . .
Nơi đây
có những bầy khỉ trầm tư giấc mộng tiền thân,
Những
bầy trâu đen bóng loáng, những con thằn lằn óng ánh đổi
mầu,
Có những
đống phân trâu bò cao như gò nống,
Và những
giàn hoa vàng gầy phủ kín mái tranh...
Nơi có
những buổi chiều êm ả như lướt đi trong mộng,
Hang cùng
ngõ hẻm đều bảng lảng các thứ mùi hương,
Mùi hương
trầm, hương chiên đàn cùng hoa cỏ,
Xen lẫn
với mùi cống rãnh cùng các thứ mùi phân...
Nhưng bao
trùm trên hết vẫn là Ganga Goddess,
Khởi
đầu từ miền Tuyết sơn đất trời giao hợp,
Mỗi năm
lại dâng những ngọn sóng trùng điệp đục ngầu
Ðểp
hủ kín thành phố Kashi như ôm lấy người tình muôn thuở.
. .
Cũng vì
nơi đây nửa thiên cung nửa tiền địa ngục
Nên bậcTĩnh
mặc Vô thượng đã lựa chọn để xuất hiện với trần
gian...
Vì cạnh
nơi đây là khu rừng Sarnath
Bát ngát
những tàng cây xanh mướt như mặt biển Tâm. . .
Chính vì
nơi đây là thành trì của mọi tà kiến trùng điệp,
Của những
kẻ Hư vô ngông cuồng thách đố,
Của những
đạo sĩ đắm chìm trong niệm thiền lạc thiên cung,
Nên bậc
Tuệ Giác Vô Thượng đã đặt bước chân thiên bức luân
đầu tiên,
Tới nơi,
gõ cửa thành trì,
và dạy
rằng:
Tất cả
mọi lòng mong cầu hoài vọng xoay vần từ vô thủy,
Ðều
tạo dựng nên những hình thái hiện hữu,
Và mọi
hình thái hiện hữu
Ðều
chỉ có một mùi vị khổ đau...
Dù là
khổ khổ, hoại khổ, hành khổ
Vẫn chỉ
là mộ mùi vị khổ đau...
Tất cả
đều là do những tập khí vọng tưởng
Xoay vần
miên viên từ vô thủy
Và các
ông chưa thông suốt được những cửa ngõ Diệt tận
Ðể tận
diệt những vọng tưởng điêu linh,
Những
người Bà La Môn các ông chẳng phải thật Bà La Môn,
Và Sa
Môn các ông chẳng phải thật Sa Môn
Và Bà
La Môn các ông chỉ là kẻ thủ từ ngồi thu oản chuối,
Và Sa
Môn các ông chỉ biết mơ tưởng thiên cung,
Ðắm
chìm trong những cơn tam muội nông cạn đảo điên
Thì làm
sao siêu xuân được tam giới.?
Ngay đến
vị thần Shiva của các ông
Cũng chưa
phải là cao cả tốâi thượng,
Chỉ là
một vị vua trời vào mức Ly Cấu Nhị Ðịa,
Mà cũng
chẳng thể tạo dựng nên thế gian nầy
Vì thế
gian này chẳng phải tự sanh, chẳng tha sanh, chẳng cộng
sanh,
cũng chẳng
phải không nhân,
Vì thế
gian này chỉ là một tuồng huyễn mộng, một tuồng huyễn
hoặc khó nguôi...
Hắn chợt
nhớ được mấy lời kinh
Thấy
lòng vui mừng khắp khởi,
Vội vã
rời thành Kashi
Ði xe
lôi để vào Samath...
Tới nơi
chỉ thấy tàng cây xanh um bát ngát,
Và mấy
con dê thơ thẩn giữa đường...
Sực nhớ
đây là vườn Lộc Uyển,
Nên hắn
mua nải chuối
Cúng dường
mấy con dê lang bạt...
Lại cũng
sực nhớ đây là nơi
Mà bọn
5 người của ngài Kiều Trần Như
Từng
rớt tóc rụng râu và trút phiền não,
Nên hắn
nhờ một ông thợ cạo ngồi xổm lề đường
Xén cụt
mái tóc phong sương
và phải
trả mất 4 rupias....
Rồi khoa
chân lảng đảng
Bước
vào một ngôi chùa gần đó,
Thấy
một bầy chim màu hoa lý xào xạc rúc rích trong tàng cây,
Lại thấy
một ông sư già mặt nhăn nheo như quả táo tầu,
Ðương
ngồi xoạc cẳng gõ thanh la, lớn tiếng niệm kinh...
Hắn chẳng
hiểu gì về lời kinh chữ nghĩa lạ hoắc,
Nhưng
cũng đoán mò đó chỉ có thể là Ðại Bi và Bát Nhã,
Vì chẳng
thể nào khác được...
Nên hắn
đến gần vị sư,
Cúi xuống
lấy tay sờ vào bàn chân khô như que củi
Rồi đặt
tay lên đầu mình...
và bồi
hồi tự nhủ:
Thôi !
Thôi ! Hãy về bứt trái tim hồng,
Bóp tim
nhỏ máu trên giòng Hoa Nghiêm....
Chú Thích:
Vài
Nét Về Thành Phố Varanasi
VẼ MẠN
ÐÀ LA
Tôi vẫn
đi giữa đôi bờ mê tỉnh
Lòng ngạt
ngào niềm ước vọng triền miên
Nửa xót
xa như tuyệt vọng không bờ
Nửa khấp
khởi những chân trời hé rạng
Tôi chẳng
hiểu lòng mình tràn-đầy-vơi-cạn
Sóng gợn
mênh mông mặt nước biển Ðông
Hay héo
hắt tựa ao tù rêu phủ
Cạnh
bến bờ lau lách quạnh hiu
Tôi khép
mắt gợi lên những tinh hà vô hạn
Góc biển
chơn trời lúc nhúc cảnh đau thương
Những
hạt bụi vô vàn không xiết kể
Bỗng
biến hình thành biển cả tang thương
Cũng thấy
những hình hài la đà nữ quái
Lốm đốm
tinh vân đốt rực sức mê say
Vết ruồi
son trên làn da đọng tuyết
Bỗng
lắc mình thành vực thẳm trùng khơi
Thấy thân
mình hiện hình trên các cõi
Lúc rỡ
ràng như nét vẽ đọng hào quang
Lúc lờ
mờ như đám bèo rêu phủ
Và trong
thân lúc nhúc những thi trùng
Nhưng ở
trên, trên tất cả
Chỗ tận
cùng của các cõi, các vi trần
Bỗng
thấy nổi lên một vùng hào quang rạng ngời sáng chói
Của các
bậc Thần linh ngồi nơi hải hội nhiệm mầu
Hỡi các
bậc Thần linh tịch nhiên bất động
Xin đừng
động thân, vì chẳng cần gì phải động
Chỉ xin
giơ một ngón tay trăm báu
Tỏa luồng
hào quang quán đảnh tới đầu tôi
Như xưa
kia, Ngài Văn thù chẳng hề thèm động bước
Chỉ đứng
xa di động nửa bàn tay
Ðể quán
đảnh một Thiện tài đầy ngưỡng vọng
Khiến
tràn đầy niềm diệu lạc vô biên
Tôi cũng
là Thiện tài đây, nhưng Thiện tài chìm nổi
Là Thiện
tài cuồng vọng động Phù vân
Xin ban
cho lồng lộng phút giây này
Ðể rũ
sạch buồn phiền từ thạch kiếp
Tôi cũng
là đồng tử đây vì tầm hồn si dại
Vì tâm
hồn đầy ảo tưởng cuồng ngây
Những
cơn lốc từ nguyên sơ nổi dậy
Huyền
hoặc hiện hình Long nữ đa đoan
Tôi chẳng
sống bằng cơm khí trời lửa nhật
Mà chỉ
sống chờ cơn giao hợp phút giây này
Một phút
giây đất trời ngơ ngác
Chợt
tan tành giữa mây sáng diệu nghiêm
Xin biển
thức tâm tôi thành hoa đàm Không tuệ
Biến
ái tâm thành lượn sáng Hóa thân
Ðể vỗ
cánh vượt muôn trùng không xiết kể
Ẩn thân
mình làn mây sáng lung linh
Mộng xưa
giờ đã thôi rồi
Mộng
nay còn luống ngậm ngùi mấy thân...
BỊNH
Cành tùng
lả ngọn tuyết sương
Thân tàn
trăm bệnh biết đường nào ra
Mắt sưng
ướt lệ quan hà
Tâm phiền
vương giấc hoàng hoa rộn lòng
Ô hô
mớ lửa phiêu bồng
Thong dong
vỗ cánh thoát lồng nhàn du
Nhẹ tay
quờ hái nắng thu
Ðem về
rải chốn vi vu bụi hồng
Nghiêng
hồn né ngọn quải phong
Hạt mưa
Trích Lịch gạn lòng phù vân...
Xem thêm:
Tuyển
Tập Tưởng Niệm Cư Sĩ Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng