Người
xưa có nói: Làm thơ đã khó, nhưng đọc thơ cũng không phải
là chuyện dễ gì. Tại sao lại có ý kiến như vậy? Vì thời
xưa, ngoài những người lấy con mắt thơ để nhìn thơ, còn
có một số người thì nhìn thơ theo hai cách. Một là khiên
cưỡng, hai là cố chấp. Trong thi thoại còn ghi lại nhiều
chuyện đáng cười và đáng chán. Chẳng hạn bài từ Bồ
tát man của Ôn Đình Quân đã viết:
Tiểu
sơn trùng điệt kim minh diệt,
Tân
dục độ hương tư tuyết.
Lãn
khởi họa nga my,
Lộng
trang sơ tẩy trì.
Chiếu
hoa tiền hậu kính,
Hoa
diện giao tương ánh.
Tân
niêm tú la nhu,
Song
song kim giá cô.
Trên
mi nét vẽ đậm mờ,
Tóc
mai buông thõng bơ phờ bên tai.
Ngại
ngùng dướn cặp mày ngài,
Sững
sờ áo xốc thoa cài điểm trang.
Soi
hoa: sau trước đôi gương,
Mặt
hoa cùng với mặt nàng long lanh.
Cài
thêm trên áo là xanh,
Đa
đa một cặp rất xinh bằng vàng.
Theo
Nhân gian từ thoại sách cảo của Vương Quốc Duy thì Bồ
tát man của Phi Khanh, Bướm say hoa của Vĩnh Thức, Bốc toán
tử của Tử Chiêm đều là sáng tác phẩm khi nguồn cảm hứng
đến với nhà thơ, chứ không phải họ có ngụ ý gì kia khác
nhưng đều bị Cao Văn thêu dệt nên lời". Cả đến Chu Trấn
Phủ khi biên soạn Thi từ lệ thoại cũng nói: "Nhìn toàn bộ
bài từ cũng chẳng thấy gì là kẻ sĩ không gặp thời". Nhưng
trong Từ tuyển của Trương Huệ Ngôn (tức Cao Văn) lại bình
luận rằng: "Đó là lời cảm khái của kẻ sĩ không gặp
thời, phép tắc của thiên này phảng phất như Trường môn
phú. Còn bốn câu "Soi hoa..." là "cái ý trở về lối ăn mặc
thời xưa của mình" trong Ly tao. Vì vậy mà Vương Quốc Duy
đã phải thốt nên lời: "Cố chấp thay! lối bình từ của
Cao Văn". Đó là một thí dụ về một sự khiên cưỡng trong
vô số sự khiên cưỡng của một số người bình luận thơ
thời xưa.
Còn
câu thơ Vịnh chiếc tù và của Mạnh Đông Dã:
Tự
khai cô nguyệt khẩu
Năng
duyệt lạc tinh tâm.
Mở
miệng vành trăng sớm
Đẹp
dạ ánh sao khuya.
thì
trong Tùy Viên thi thoại, Viên Mai đã bác bẻ là: "Chưa từng
nghe trăng có miệng, lại bỗng thấy sao có tim, đó là một
sự xuyên tạc vậy. Thế mà Đông Pha khen là "kỳ diệu", đó
chẳng qua là sự ưa ghét khác với thói thường mà thôi".
Để
làm sáng rõ ý này, ta hãy mượn ý kiến nhận định về lời
bình đó mà nhà văn Quách Mạt Nhược đã viết trong Lời
ghi lại khi đọc Tùy viên thi thoại (NDNB; 28-2-1962):
"Nay
xét, câu thơ của Mạnh Đông Dã đúng là "kỳ diệu", đem
mảnh trăng non ví với hình ảnh chiếc tù và, đem ánh sao
sa so với giọng bi hùng của nó, thực là hiếm gặp. Trong
đêm khuya, ta hãy thử nghe tiếng tù và thổi trong nơi hoang
vắng, tất nhiên ta sẽ có cái cảm giác mênh mông, vẳng lặng,
không thể nói nên lời. Nay đem ánh sao sa để cụ thể hóa
nó ra, và đem mảnh trăng cô đơn để làm cảnh đệm, như
vậy không phải là khiến cho cái không thể sờ mó được
có một hình thù xác thực đó sao? Trăng vốn không có miệng,
sao vốn không có tim, song nhà thơ có thể mở miệng cho trăng,
sinh tim cho sao. Đối với vạn vật nhà thơ đều có thể cho
nó một sinh mệnh, trong ngoài xưa nay đâu mà chẳng thế. Nhưng
riêng Mạnh Đông Dã, mở miệng cho trăng, sinh tim cho sao, là
một sáng tạo độc đáo. Bảo Mạnh Đông Dã là "xuyên tạc
quá quắt", bảo Tô Đông Pha là "ưa ghét khác với thói thường",
Viên Mai con người chủ trương "Phật trong thơ" của thuyết
tính linh, mà lại nêu lên sự biện luận như vậy, thực là
khó hiểu"(2). Đó lại là một thí dụ về sự cố chấp trong
vô số sự cố chấp của một số nhà bình luận thơ xưa.
Riêng
bài thơ Xuân nhật tức sự của Huyền Quang cũng đã
gây nên nhiều sự nhận định có tính chất trái ngược nhau,
tuy chưa phải là quá đáng như vậy, nhưng cũng có nhiều điều
làm ta suy nghĩ.Theo Tổ gia thực lục thì Huyền Quang là tổ
thứ ba trong phái Trúc lâm thời Trần, họ Lý tên là Đạo
Tái, người ở hương Vạn Tải, huyện Vũ Ninh, lộ Bắc Giang,
đỗ trạng nguyên năm 21 tuổi, vua Trần muốn đem Liễu nữ
công chúa (cháu của Sinh vương) gả cho ông, nhưng ông từ
chối, ông vào nhiệm chức ở nội hàn, giao thiệp với Bắc
sứ, ngôn ngữ văn chương, lừng lẫy khắp nơi. Khi ông theo
vua ngự giá đến chùa Vĩnh Nghiêm huyện Phượng Nhỡn, thấy
Pháp Loa, tổ thứ hai của phái Trúc lâm, thuyết pháp, ông
liền tỉnh ngộ duyên xưa, ông dâng sớ xin từ chức, xuất
gia tu đạo, trụ trì ở chùa Vân Yên (thời Hồng Đức đổi
làm Hoa Yên), núi Yên Tử. Năm Quý mão là năm ông 60 tuổi
thì xảy ra câu chuyện: Một hôm Trần Anh Tông bảo với thị
thần và các tăng đạo rằng: "Con người ta sinh ra trong khoảng
trời đất này, mang âm ôm dương, ăn ngon mặc đẹp, cho nên
có tình dục này, sở dĩ mà người ta nén nó lại một bên,
là vì người ta dốc lòng tu đạo. Tại sao sư già Huyền Quang,
sinh ra là sắc sắc không không, như nước không sóng, như
gương không bụi, đó là nén dục chăng? Hay là không nén dục
chăng?" Mạc Đĩnh Chi bước lên tâu: "Vẽ hổ vẽ da khôn vẽ
cốt, hay người hay mặt chẳng hay lòng, xin nhà vua hãy thử
xem". Thế là Trần Anh Tông sai Điểm Bích, một cung nhân được
tin yêu, đi thử Huyền Quang. Kết quả là nàng đã đem về
một bài thơ mà nàng bảo là Huyền Quang đọc trong lúc đêm
khuya để ghẹo nàng:
Vằng
vạc trăng mai ánh nước,
Hiu
hiu gió trúc ngâm sênh.
Người
hòa tươi tốt cảnh hòa lạ,
Mầu
Thích Ca nào thử hữu tình.
và
một nén vàng mà nàng bảo là sau khi giao hoan, Huyền Quang đã
cho nàng, để làm bằng chứng. Đại khái nội dung câu chuyện
là như thế vậy. Qua câu chuyện này kết hợp với hơn 20
bài thơ có tính chất trữ tình chép trong Việt âm thi tập,
cụ thể là bài thơ Xuân nhật tức sự:
Nhị
bát giai nhân thích tú trì,
Tử
kinh hoa hạ chuyển hoàng ly.
Khả
lân vô hạn thương xuân ý,
Tận
tại đình châm bất ngữ thì.
Gái
xuân thêu gấm nhẹ nhàng,
Dưới
hoa kinh tía oanh vàng líu lo.
Thương
xuân ý thực vô bờ,
Là
khi không nói thẫn thờ dừng kim
đã
gây ra hai loại ý kiến có tính chất đối lập nhau.
Trước
kia, trong Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn, bảng nhãn triều
Lê, đã viết: "Hầu như không phải khẩu khí của một nhà
tu hành". Gần đây hơn, qua bài Tìm hiểu văn thơ của các
nhà sư Lý - Trần (đăng trên Tạp chí văn học tháng 6-1965),
Kiều Thu Hoạch viết: "Sư Huyền Quang, người cùng thời với
Trần Quốc Tảng, hình như không hẳn là một nhà chân tu.
Bằng vào những tình cảm "trần tục" trong thơ ông thì mối
tình giữa ông với nàng Điểm Bích mà người ta vẫn cho là
oan có lẽ cũng chẳng oan gì (...) sư ông cũng là một khách
si tình như ai"; "Đến bài thơ vịnh mai vịnh cúc của ông,
thì lại càng chứng tỏ ông là một người "tuy vui cảnh bụt
chưa nguôi lòng trần"; "ở bài Đề Đạm Thủy tự, nhà sư
lại càng mơ mộng và lãng mạn hơn, ông tiếc từng cánh hoa
rơi".
Năm
1973, qua bài Các nhà thơ phụ nữ thời Lý - Trần (đăng trong
Tạp chí văn học số 2 - 1973), Trần Thị Băng Thanh viết:
"... Có niềm xúc động và mối thông cảm đó phải chăng
cũng là do trong lòng nhà thơ đã có những lúc trằn trọc
trước những tiếng gọi của cuộc sống mà bài thơ của
nàng Điểm Bích đã nói khá rõ ràng? Vả lại ai biết đâu
giữa cô gái đẹp ngồi thêu dưới hoa tử kinh kia và nàng
Điểm Bích lại không có một sự liên quan nào đó! Vậy thì
đành rằng câu chuyện "thử thách" giữa Huyền Quang và Điểm
Bích là một giai thoại, nhưng cũng không thể là một chuyện
hoàn toàn bịa đặt do tính "hiếu sự" của người đời".
Đó là những ý kiến hoài nghi và ý kiến cho là "chả oan
gì" về mối quan hệ giữa Huyền Quang và Điểm Bích qua thơ
văn và tiểu truyện của ông.
Năm
Tân mùi (1751) niên hiệu Cảnh Hưng, Ngọ Phong Ngô Thời Sĩ,
tiến sĩ triều Lê, thì cho rằng trước đây Nguyễn Cổ Đô
có làm bài hành, nhưng chỉ mới tước bớt những điều những
uế, và chỉ nói tới cái điều chân thực của Huyền Quang
là khước từ vinh hoa, giác ngộ đạo Phật, còn cái điều
vu oan về việc phá giới và cái lẽ "có" hay "không" thì ông
chưa phân biệt được một cách chính xác. Do đó, Ngọ Phong
đã viện ra nhiều giả thuyết và chứng cớ để biện giải
nỗi oan cho Huyền Quang. Ông đã nêu lên nhiều câu hỏi: "Mày
ngài nét thúy, là con người được sùng bái nhất ở trong
cung, không lẽ vì một điều nghi ngờ mà người ta đem ra
làm trò thử thách?"; hay: "Một con người đã quen với cái
nghiệp muối dưa chay nhạt, mà một sớm kia đem cái tai "hữu
ngã" để làm nhơ nhớp cái thanh danh của mình, phải chăng
sư không thể làm được cái điều "không thể" của một
người con trai nước Lỗ được sao?"; hay: "Một con người
đã nguội lạnh công danh, mà một sớm kia đem con mắt "vô
nhân" để làm xiêu cái phẩm hạnh của mình, phải chăng sư
không thể làm được cái điều "có thể" của Liễu Hạ Huệ
được sao?", v.v... Đoạn ông viện dẫn tới gia thế cùng
đạo hạnh của Huyền Quang đồng thời ông cũng nêu những
câu thơ của Huyền Quang để làm chứng cớ:
Bán
gian thạch thất hòa vân trụ,
Nhất
lĩnh xuế y kinh tuế hàn.
(Thạch
thất tác)
Nửa
gian nhà đá lẩn mây,
áo
lông một mảnh tháng ngày căm căm.
Dĩ
thị thành thiền tâm nhất phiến,
Cùng
thanh tức tức vị thùy đa.
(Sơn
vũ tác)
Lòng
ta đã sạch buồn lo,
Vì
ai dễ cứ nhỏ to kêu hoài.
và
cuối cùng ông đi đến kết luận: "Cái khí tượng núi rừng,
mây ráng đã thể hiện ra lời thơ, con người thanh đạm đơn
sơ cũng có thể hình dung mà thấy được, đâu có cái chuyện
thêu dệt không căn cứ, như sự ngoa truyền của người đời...".
Đó là những ý kiến khẳng định đạo hạnh của Huyền
Quang là chân tu qua thơ văn và tiểu truyện của ông.
Đứng
giữa hai loại ý kiến trái chiều nhau như vậy, ta nên xử
trí ra sao? Đứng riêng về thơ mà nói, thì những câu thơ
mà Ngọ Phong trích dẫn, sắc thái của nó đã hiển nhiên
biểu lộ một phong độ của người xuất gia tu đạo, nên
ta chả cần phải bàn cãi nhiều lời. Có chăng, chỉ những
bài thơ đượm mầu "lãng mạn", nó trái với phong cách một
thiền sư là cần đề cập tới mà thôi.
Thật
là nghịch lý! Một con người lúc trẻ đã khước từ một
giai nhân lá ngọc cành vàng, để xuất gia tu đạo, một con
người đã từng tuyên bố:
Có
thì có tự mẩy may,
Không
thì cả thế gian này cũng không.
Vầng
trăng vằng vặc in sông,
Chắc
chi có có không không mơ màng.
Nhưng
đến lúc tuổi già, cái tuổi sáu mươi là cái tuổi xấp
xỉ tới tuần thượng thọ, không biết thế nào mà cái "tình
đời" lại trỗi dậy, con người đó lại đi nhặt "cánh hoa
rơi", hay có những lúc "trằn trọc trước tiếng gọi của
cuộc sống". Biết đâu con người đó lại chả thuộc vào
loại người "lão đương ích tráng"? Cái việc đó thực khó
mà hiểu được. Nhưng có một điều thực sự hiển nhiên
là chẳng riêng gì Huyền Quang, một nhà tu hành lại đi miêu
tả "nỗi thương xuân" của một "giai nhân đôi tám", nếu
ta mở tập Thơ tăng của thời Đường, một thời đạo Phật
hưng thịnh nhất của Trung Quốc thời xưa, ta sẽ hết đỗi
ngạc nhiên trước những bài thơ đậm nét trữ tình và lãng
mạn, nào những cảnh biệt ly đầy nước mắt, nào những
nét thơ mộng của giai nhân, nào những cảnh thương xuân khóc
hạ, nào những cảnh lá rụng hoa rơi, v.v... một sức sống
trong thơ thực là tràn ứ, nó còn vượt xa những bài thơ
"trữ tình" của một số người gọi là "như giả".
Tôi
hãy tạm cử Hàn Sơn để làm thí dụ. Hàn Sơn, một cao tăng
thời Đường, tu hành ở một vách núi hoang sơ thuộc huyện
Đường Hưng núi Thiên Thai, ông lấy vỏ cây làm mũ, áo gai
giầy rách. Ông thường ngâm vịnh, hát ca hay gào thét ở những
chốn hiên trường hay nơi nhà vắng, mà ít người biết tới.
Ông thường đề thơ trên vách đá thân cây hay tường nhà
vách xóm. Một cuộc sống có thể nói là "điên rồ" như vậy,
nhưng thơ ông lại mang nặng "tình đời":
Hoa
thượng hoàng oanh tử,
Quan
quan thanh khả liên.
Mỹ
nhân nhan như ngọc,
Đối
thử lộng minh huyền.
Ngoạn
chi năng bất túc,
Quyến
luyến tại thiếu niên.
Hoa
phi điểu diệc tán,
Xái
lệ thu phong tiền.
Trên
hoa một chiếc oanh vàng,
Tiếng
ca đượm vẻ thê lương đau lòng.
Giai
nhân nét mặt tươi hồng,
Hoa
chim nhìn ngắm, tơ đồng dạo chơi.
Hoa
chim chưa thỏa lòng người,
Lại
còn quyến luyến tuổi đời trẻ trung.
Hoa
bay, chim biệt mù tung,
Lệ
hồng trước ngọn thu phong gạt thầm.
Bài
thơ sao mà có cái dáng dấp của bài Xuân nhật tức sự của
Huyền Quang như vậy, cũng hoa nở, cũng oanh vàng, cũng người
đẹp thương xuân, tiếc tuổi, v.v. Phải chăng Hàn Sơn cũng
là một khách "si tình", cũng người "lãng mạn"? Nhưng hiềm
một nỗi, ông không có sự tơ vương với "giai nhân đôi tám",
không có sự nghi kî của ngai vàng, nên khó có thể cho ông
cũng là người "lãng mạn" hay "si tình". Nếu đã không như
vậy, thì ông miêu tả những người con gái đẹp để làm
chi?
Điều
thắc mắc này, theo ông thuật lại, thì đã có một gã tú
tài họ Vương nào đó, người đồng thời với ông, chê thơ
ông là "như bọn mù vịnh ánh mặt trời" (như manh đồ vịnh
nhật), nên ông đã làm một bài thơ để nói lên cái dụng
ý của thơ mình:
Hạ
ngụ độc ngã thi,
Bất
giải khước xuy tiếu.
Trung
dong độc ngã thi,
Tư
lường vận thậm yếu.
Thượng
hiền độc ngã thi.
Bả
chước mãn diện tiên.
Dương
Tu kiến ấu phụ,
Nhất
lâm tiện tri diệu.
Kẻ
kém đọc thơ ta,
Không
hiểu sẽ cười diễu.
Người
thường đọc thơ ta,
Đắn
đo rằng trọng yếu.
Người
hiền đọc thơ ta,
Nở
nụ cười tươi rói.
Dương
Tu nhìn gái non,
Xem
thơ ta liền hiểu.
Chúng
ta biết rằng một số lớn thiền sư đồng thời cũng là
thi sĩ, vì vậy mà tâm hồn họ không thể không rung động
trước cảnh vui buồn trong cuộc sống của xã hội đương
thời, điều đó là một sự thực, nên đứng trên bình diện
thơ trữ tình nói chung mà xét, thì những ý kiến nhận định
về Huyền Quang của tác giả bài Tìm hiểu văn thơ của các
nhà sư Lý - Trần và tác giả bài Các nhà thơ phụ nữ thời
Lý - Trần không có gì là không đúng. Nhưng ngoài loại thơ
"tức cảnh sinh tình" ra, thì họ còn sáng tác một loại thơ
mang tính chất một bài kệ, nó tóm tắt hay thuyết minh một
giáo lý nào đó, có khi nó thuyết lý khô khan, có khi nó mang
một mầu sắc trữ tình. Ta hay nghe Thập Đắc, một cao tăng
thời Đường, người cùng thời với Hàn Sơn đã phát biểu
về ý đó.
Ngã
thi dã thị thi,
Hữu
nhân hoán tác kệ.
Thi
kể tống nhất ban,
Độc
thời tu tử tế.
.........................
Y
thử học tu hành,
Đại
hữu khả tiến sự.
Thơ
ta cũng là thơ,
Có
người gọi là kệ.
Thơ
kệ đều như nhau,
Khi
xem nên cặn kẽ.
.........................
Theo
đó mà tu hành,
Được
nhiều việc đáng kể.
Như
vậy là thơ của các thiền sư phần nhiều mang hình thức
thuyết lý. Thế nhưng, những bài thơ của Huyền Quang và Hàn
Sơn đã trích dẫn ở trên thì thuyết lý điều chi? Nhưng
muốn hiểu điều này ta hãy xem mục đích của đạo Phật
là quan tâm tới cái gì?
Chúng
ta biết rằng mục đích của đạo Phật, ngoài tu Tâm ra thì
chú ý tới cái "khổ" của con người qua một chuỗi vận động:
sinh, già, ốm, chết. Trong Khóa hư lục, Trần Thái Tông đã
cụ thể hóa nó bằng sự vận động của bốn mùa: mùa xuân
tượng trưng cho tuổi trẻ, mùa hạ tương trưng cho lúc già,
mùa thu tượng trưng cho đau ốm, mùa đông tượng trưng cho
sự chết, ông còn coi nó là "bốn trái núi" đè nặng lên
số phận của con người, mà sự vận động này theo thuật
ngữ nhà Phật là cái lẽ vô thường (anica). Vô thường là
sự thay đổi liên tục, được xét trong nhiều trạng thái
như: sống chết, khởi diệt, thành hoại, có không, v.v. Theo
quan niệm nhà Phật thì thân thể người ta biến đổi trong
từng nháy mắt. Sự thay đổi này được mệnh danh là "sự
chết trong từng nháy mắt" (khanika marana). Vì vậy vô thường
là "khổ". Phật đã nhắc lại ý này qua lời tuyên bố trong
kinh Upanisad.
Cái
trướng cửu thì hạnh phúc,
Cái
nhất thời thì đau khổ.
Từ
góc độ này mà nhìn, ta sẽ thấy dụng ý của Huyền Quang
và Hàn Sơn là họ muốn thuyết giáo: "cái chết trong từng
nháy mắt" là nỗi đau khổ của loài người nói chung, qua
hình ảnh những con người "thương xuân" hay "luyến tiếc tuổi
đương thì". Nhưng trong khi làm thơ họ đã vận dụng thủ
pháp đem cái cụ thể để hình ảnh hóa cái trừu tượng,
kết hợp với cái thủ pháp "ý ở ngoài lời" (ý tại ngôn
ngoại), cái thủ pháp mà Nghiêm Thương Lương đã diễn tả
nó bằng một hình ảnh "hoảng hoảng hốt hốt": "như âm thanh
trong hư không, như sắc đẹp trong vẻ mặt, như ánh trăng
đáy nước, như hình ảnh trong gương, lời tuy hết mà ý không
cùng" cho nên khi mới đọc ta thấy hơi khó hiểu. Để chứng
minh cho luận điểm đó rõ hơn, tôi xin trích dẫn thêm một
bài, vẫn của Hàn Sơn, mà tính chất thuyết lý về lẽ vô
thường của nó không bị che khuất bởi cái màng hàm súc:
Thành
trung ngạ mî nữ,
Chu
hội hà xan xan.
Anh
vũ hoa tiền lộng,
Tỳ
bà nguyệt hạ đàn.
Trường
ca tam nguyệt hưởng,
Đoản
vũ vạn nhân khan.
Vị
tất trường như thử,
Phù
dung bất nại hàn.
Trong
thành có gái mày ngài,
Lanh
canh ngọc quý hạt trai bên người.
Trước
hoa anh vũ nô cười,
Tỳ
bà lựa gẩy đôi bài dưới trăng.
Ba
xuân giọng hát vang lừng,
Muôn
người xem múa ra chừng còn say.
Phải
đâu được mãi thế này,
Phù
dung không thể quen ngày giá đông.
Hai
câu kết đã lộ rõ ý đồ thuyết giáo của nhà Phật: "vô
thường là khổ". Nói như vậy, người ta có thể hỏi lại
rằng: Nếu thơ ca của các thiền sư chỉ thuần thuyết lý
như vậy thì còn chi là tính xã hội mà ta nghiên cứu? Chúng
ta biết rằng, các thiền sư dù siêu phàm thoát tục đến
đâu chăng nữa, dù họ coi cả cái thế giới hiện tượng
này chỉ là huyễn hóa, là hư vô, nhưng sự thực vẫn là
sự thực, người ta muốn phủ định nó cũng không tài nào
phủ định nổi, người ta vẫn phải sống với nó, vẫn phải
đụng chạm với nó từng ngày từng giờ, cho nên dù muốn
dù không, khi xây dựng những giáo lý của mình, có thể nói
là hết sức siêu thoát, hết sức trừu tượng, thì họ vẫn
phải dựa vào những chất liệu thực tế ở chung quanh họ,
nghĩa là họ phải dựa vào những hiện tượng tự nhiên và
hiện tượng xã hội mà họ đang sống. Do đó, mà thơ ca của
họ, ngoài sự thuyết lý chung chung, ta vẫn thấy hiện lên
những mầu sắc của xã hội lúc đương thời. Nói như Gorki,
nhiều lúc họ là "sử gia khách quan" của thời đại họ.
Chẳng hạn như bài thơ Xuân nhật tức sự của Huyền Quang,
ngoài sự thuyết lý vô thường, ta vẫn thấy nó hiện lên
một tình thương về số phận người con gái trong xã hội
phong kiến nói chung. Nó là "những tia sáng nhân đạo chủ
nghĩa tuy chỉ mới le lói qua bức màn đen dày đặc của tư
tưởng Phật giáo nhưng cũng vì thế mà rất đáng trân trọng"
(Văn học cổ Việt Nam - Đinh Gia Khánh). Đó là tính chất
mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức của thơ ca Thiền sư.
Sự mâu thuẫn đó đã gây nên sự nhận định có tính chất
khác nhau, mà bài thơ Xuân nhật tức sự của Huyền Quang chỉ
là một thí dụ trong nhiều thí dụ tương tự mà thôi. Chỗ
"khác nhau" đây chỉ ở cái khía cạnh: bài thơ có trái với
giáo lý đạo Phật hay không.
*
Qua
câu chuyện Huyền Quang, tôi muốn nêu lên một khía cạnh nhỏ
trong phương pháp biểu hiện của thi ca Thiền sư, nếu ý kiến
này được thừa nhận là đúng, thì ngược lại, mối "oan
tình" mà chính Huyền Quang đã phải kêu lên: "Nỡ đâu lại
khiến cho Hàn Sơn và Thập Đắc (3) phải mang mối oan tình
(Khước giao Hàn Thập khởi oan tình) sẽ được cởi ra một
nút. Còn đánh giá thơ Thiền hay dở thế nào, tôi chưa nói
tới; và sự quan hệ giữa Huyền Quang và nàng Điểm Bích
hư thực ra sao, thì tôi không rõ. Điều đó chẳng riêng gì
tôi mà cả người xưa cũng đành như vậy:
Dù
mà tát cạn Bình than,
Cũng
không rửa được nỗi oan cho thầy.
Nhưng
đối với chúng ta, "nỗi oan" ấy chẳng có gì là quan trọng
cả trong việc đánh giá nhân cách, tư tưởng và bài thơ của
Huyền Quang.
Đỗ
văn Hỷ
Tạp
chí Văn học - số 1-1975
(1)
Trích một ý nhỏ trong chuyên đề "Nguồn gốc mâu thuẫn giữa
tình và lý trong thơ ca Thiền sư".
(2)
Trích qua "Thi từ lệ thoại" của Chu Trấn Phủ.
(3)
Hàn Sơn và Thập Đắc là hai thiền sư nổi tiếng đời Đường.