|
c
THƠ HÀN
SƠN VÀ THẬP ĐẮC
261
. Ta thấy người thế gian,
Sống
rồi cũng phải chết.
Sáng
qua còn mười sáu,
Tráng
khí bậc anh hùng.
Ngày
nay quá bảy mươi,
Sức
tàn hình tiều tụy.
Giống
như hoa ngày xuân,
Sáng
nở đêm rụng tàn.
262
. Ngút ngàn ngoài trời xanh,
Trong
mây đường dốc đứng.
Dòng
thác đổ ngàn trượng,
Như
mảnh lụa trắng dài.
Dưới
có hang dừng nghỉ,
Cầu
định mạng bắt ngang.
Hùng
dũng trấn thế giới,
Thiên
Thai nổi tiếng cao.
263
. Ngồi trên mặt tảng đá,
Khe
suối lạnh buốt da.
Lặng
nhìn thật tuyệt đẹp,
Vách
núi mây che mờ.
Vui
thích chỗ ngơi nghỉ,
Trời
tà bóng cây nghiêng.
Ta
tự xét cõi lòng,
Bùn
nhơ sen hồng nở.
264
. Ẩn sĩ lánh nhơn gian,
Phần
nhiều vào núi ngủ.
Dây
bò xơ xác thưa,
Tiếng
khe chảy vang rền.
Nước
vang lòng an lạc,
Xa
vắng tự thanh nhàn.
Khỏi
bị nhiễm mùi đời,
Lòng
sạch như sen trắng.
265
. Nhắc nhở kẻ ăn thịt,
Đang
ăn khó dừng lại.
Đời
nay quá khứ gieo,
Đời
sau do nay trồng.
Chỉ
tham hôm nay ngon,
Chẳng
sợ đời sau buồn.
Con
chuột vào hũ gạo,
Tuy
no khó chui ra.
266
. Sau khi xuất gia rồi,
Dần
được đường nuôi sống.
Duỗi
thẳng tay chân đủ,
Xét
kỹ sáu căn toàn.
Áo
thô theo xuân đông,
Gạo
xấu dưỡng sáng chiều.
Ngày
nay tu gấp rút,
Nguyện
cùng Phật gặp nhau.
267
. Năm lời năm trăm thiên,
Bảy
chữ bảy mươi chín,
Ba
chữ hai mươi mốt,
Hết
thảy sáu trăm bài.
Lệ
thường viết vách đá,
Tự
khoe rằng khéo tay,
Nếu
hay hiểu thơ ta,
Chính
là mẹ Như Lai.
268
. Việc đời sao lăng xăng,
Tham
sống mãi chẳng thôi,
Nghiền
hết đá quả đất,
Bao
giờ được nghỉ ngơi.
Bốn
mùa tuần hoàn đổi,
Tám
tiết nhanh nước trôi,
Vì
báo chủ nhà lửa,
Sờ
sờ cởi trâu trắng.
269
. Thường nghe Hán Vũ Đế,
Và
cùng Tần Thủy Hoàng.
Đều
thích thuật thần tiên,
Kéo
tuổi trọn chẳng dài.
Ngai
vàng gẫy làm hai,
Sa
Khâu liền diệt mất.
Mao
Lăng cùng Ly Nhạc,
Ngày
nay cỏ chen nhau.
270
. Nhớ hai mươi năm qua,
Thả
bộ về Quốc Thanh,
Người
trong chùa Quốc Thanh,
Thảy
nói Hàn Sơn si.
Người
si đâu cần nghi?
Nghi
chẳng biết suy xét.
Ta
còn tự chẳng biết,
Thế
anh đâu được biết?
Cúi
đầu chẳng cần hỏi,
Hỏi
được lại là sao?
Có
người đến mắng ta,
Rõ
ràng biết rành rẽ,
Tuy
nhiên chẳng nên đáp,
Lại
là được an nhiên.
271
. Bảo ông bọn xuất gia,
Tên
gì là xuất gia?
Phung
phí tìm nuôi sống,
Nối
tiếp dòng họ nhà.
Lưỡi
ngon miệng mồm ngọt,
Tâm
siểm khúc cong thêm,
Trọn
ngày lễ đạo tràng,
Trì
kinh làm công quả.
Đốt
hương cúng Thần Phật,
Thỉnh
chuông cao giọng hòa.
Sáu
thời dưỡng khách xuân,
Mỗi
đêm chẳng được nằm.
Chỉ
vì yêu tiền tài,
Trong
tâm chẳng giải thoát.
Thấy
người kia đạo cao,
Ganh
ghét cùng hủy nhục.
Cứt
lừa sánh xạ hương,
Nam
Mô Phật Đà Da!
272
. Lại thấy người xuất gia,
Có
sức và vô lực.
Bậc
tiết cao thượng thượng,
Quỷ
thần kính đạo đức,
Vua
chúa chia tòa ngồi,
Chư
hầu kính lễ rước,
Đáng
làm ruộng phước đời,
Mọi
người nên quý tiếc.
Bậc
ngu dốt hạ hạ,
Lộ
bày tìm cầu nhiều,
Hỗn
tạp có thể biết,
Ngu
si yêu tài sắc,
Mặc
được y phước điền,
Trồng
lúa tìm áo cơm.
Đền
trả nợ trâu cày,
Làm
việc chẳng trung trực,
Sáng
sớm hành tệ ác,
Về
chiều đau lưng mông.
Chẳng
biết khéo suy nghĩ,
Địa
ngục khổ vô cùng.
Một
mai bệnh đến thân,
Ba
năm nằm liệt giường.
Cũng
có chơn tánh Phật,
Lại
làm giặc vô minh.
Nam
Mô Phật Đà Da,
Xa
xôi cầu Di Lặc.
273
. Hàn Nham sâu lại đẹp,
Không
người đi đường này,
Mây
trắng cao hang núi,
Núi
xanh vượn lẻ kêu.
Ta
còn thân với ai?
Sướng
chí hợp tuổi già,
Hình
dung nóng lạnh đổi,
Tâm
châu phải giữ gìn.
274
. Bổn chí mến bạn đạo,
Bạn
đạo thường được gần,
Khi
gặp khách Xả Nguyên,
Thường
tiếp khách lời thiền.
Bàn
huyền đêm trăng sáng,
Tìm
lý đến rạng đông,
Vạn
cơ đều bặt dấu,
Mới
biết người xưa nay.
275
. Chẳng phải kẻ ẩn dật,
Tự
gọi người núi rừng.
Đâu
từng quấn khăn lụa,
Chỉ
thích khăn lót thô.
Nói
có đức Sào Hứa,
Hổ
thẹn (làm) thần Nghiêu Thuấn.
Khỉ
vượn đội chiếc nón,
Bắt
chước tránh gió bụi.
276
. Từ xưa người thông minh,
Chẳng
thấy còn sống mãi.
Sanh
ra rồi lại chết,
Tan
hết thành tro bụi.
Chứa
xương như Tỳ Phú.
Biệt
ly lệ như biển,
Chỉ
còn lại tên rỗng,
Đâu
thoát vòng tử sanh.
277
. Ngày nay ngồi trước hang,
Ngồi
lâu thấm khói ráng.
Một
đường khe trong lạnh,
Núi
xanh cao ngàn thước.
Mây
sớm bóng lặng lẽ,
Ánh
trăng soi về đêm.
Trên
thân không bụi trần,
Trong
tâm nào lo âu.
278
. Trong ngàn mây muôn nước,
Có
một kẻ sĩ nhàn.
Ban
ngày dạo núi xanh,
Đêm
về dưới hang ngủ.
Thấm
thoát qua xuân thu,
Lặng
lẽ không phiền lụy.
Vui
thay không gá nương?
Lặng
như nước sông thu.
279
. Khuyên anh thôi đến đi,
Chớ
phiền lão Diêm La,
Lỡ
chân vào tam đồ,
Bị
đâm nghiền xương tan.
Mãi
làm người địa ngục,
Hằng
cách đạo đời nay,
Khuyên
anh tin lời tôi,
Biết
lấy châu trong áo.
280
. Thế gian có hạng người,
Thật
đáng bị người cười.
Xuất
gia thân mình tệ,
Lừa
tục cho là đạo.
Tuy
mặc y lìa trần,
Trong
áo nuôi nhiều rận.
Chi
bằng về đi thôi,
Biết
nhận lấy Tâm Vương.
281
. Chót vót trên đỉnh núi,
Bốn
phía không mé bờ.
Ngồi
tịnh chả ai biết,
Suối
lạnh vầng trăng soi.
Trong
suối vốn không trăng,
Trăng
tự ở trời xanh.
Ngâm
một khúc ca này,
Trong
ca chẳng có thiền.
|
282
. Có kẻ Vương Tú Tài,
Cười
ta thơ nhiều lỗi,
Rằng
chẳng biết phong yêu, (7)
Lại
chẳng hiểu hạc tất,
Bình
trắc chẳng biết chán,
Lời
phàm mặc tình nói.
Ta
cười anh làm thơ,
Như
mù tả mặt trời.
283
. Ta ở tại xóm làng,
Không
cha cũng không mẹ.
Không
tên chẳng họ hàng,
Người
gọi là Trương Vương.
Cũng
không người dạy ta,
Nghèo
nàn cũng bình thường.
Tự
quý tâm chơn thật,
Vững
chắc như kim cương.
284
. Hàn Sơn nói lời này,
Lại
tợ kẻ điên cuồng.
Có
việc giáp mặt nói,
Cho
nê đủ người oán.
Chơn
tâm nói lời thẳng,
Tâm
thẳng không trước sau.
Chết
rồi vào địa ngục,
Ai
là kẻ rên la?
Mờ
mịt đường âm phủ,
Bị
nghiệp trói cột nhau.
285
. Ta thấy người đọc kinh,
Nương
theo ngôn ngữ hiểu.
Miệng
đọc tâm không đổi,
Tâm
miệng trái nghịch nhau.
Chơn
tâm không cong queo,
Chẳng
tạo điều mê lầm.
Chỉ
tự xét chính mình,
Chớ
tìm người khác thế.
Trong
ấy làm chủ được,
Mới
biết không trong ngoài.
286
. Hàn Sơn có mây trắng,
Lặng
lẽ bặt bụi hồng.
Tòa
cỏ cùng nhà núi,
Đèn
soi một vầng trăng.
Giường
đá bên ao xanh,
Hổ
nai thường làm bạn.
Tự
vui thích ở ẩn,
Là
người ngoài tục trần.
287
. Nai sanh trong rừng sâu,
Uống
nước và ăn cỏ,
Duổi
chân ngủ dưới cây,
Đáng
mến không phiền não.
Trói
cột tại nhà đẹp,
Ăn
ngon rất béo phì,
Trọn
ngày chẳng từng nếm,
Hình
dung càng khô khao.
288
. Hoàng oanh đậu trên hoa,
Hót
líu lo đáng mến.
Người
đẹp dáng tợ ngọc,
Đối
cảnh khảy cung đàn.
Ngắm
nhìn chẳng thỏa mãn,
Nhớ
luyến thời ấu thơ.
Chim
bay hoa cũng tan,
Lệ
rưng trước gió xuân.
289
. Dừng lâu dưới Hàn Sơn,
Lạ
lùng rất kỳ đặc.
Quảy
giỏ đào rễ cây,
Mang
sọt hái quả về.
Rửa
rau trải cỏ ngồi,
Ăn
nếm nấm linh chi.
Ao
trong rửa bát bầu,
Hòa
tạp nấu sơ sài.
Đương
Dương sách áo ngồi,
Nhàn
đọc thơ người xưa.
290
. Ngày xưa chỗ kinh hành,
Nay
đã bảy mươi năm.
Người
xưa không qua lại,
Chôn
ở khoảng mộ xưa.
Ta
nay đầu đã bạc,
Vẫn
giữ mảnh mây núi.
Vì
báo người đến muộn,
Sao
chẳng đọc lời xưa?
(7)
Phong yêu, hạc tất: Những lỗi lầm thường vấp phải khi
sáng tác thơ.
291
. Ta thấy người trí sáng,
Xem
qua liền hiểu ý,
Chẳng
nhờ tìm văn tự,
Thẳng
vào đất Như Lai.
Tâm
chẳng theo các duyên,
Ý
căn chẳng khởi vọng,
Tâm
ý khi không sanh,
Trong
ngoài không việc khác.
292
. Thân mặc y không hoa,
Chân
mang giày lông rùa,
Tay
nắm cung sừng thỏ,
Định
bắn quỷ vô minh.
293
. Anh xem hoa trong lá,
Tươi
tốt được bao lâu.
Hôm
nay sợ người hái,
Sáng
mai mong người quét.
Đáng
tiếc tình đẹp đẽ,
Nhiều
năm trở thành già,
Việc
đời so với hoa,
Hồng
nhan há bền lâu?
294
. Dù anh ở tê giác,
Dù
anh mang mắt hổ.
Cành
đào bẻ làm thuốc,
Củ
tỏi lấy làm anh (lạc).
Uống
rượu thì bụng ấm,
Bụng
đói ăn (chè) câu kỷ.
Cuối
cùng chẳng thoát chết,
Uổng
công tìm trường sanh.
295
. Làm người thường ăn dùng,
Tâm
ái cần khô cạn.
Già
đi chẳng tự do,
Dần
bị người chê trách.
Đưa
đến núi Thái Sơn,
Cả
đời mong vô ích,
Mất
dê thôi sửa chuồng,
Ý
hết về vô cùng.
296
. Hàn Sơn vách vô lậu,
Vách
kia rất trọng yếu,
Người
xa xưa truyền diệu.
Lặng
lẽ khéo ở yên,
Rỗng
không lìa chê gièm,
Trăng
sáng soi suốt đêm,
Trời
hồng thường chiếu đến.
Hổ
Khâu và Hổ Khê,
Chẳng
cần gọi mời nhau,
Thế
gian có Vương Phó,
Chớ
cho đồng Châu Chiêu.
Ta
tự ẩn Hàn Nham,
Vui
thích ca cười mãi.
297
. Sa môn chẳng giữ giới,
Đạo
sĩ không uống thuốc.
Từ
xưa bao nhiêu hiền,
Thảy
dừng chân núi xanh.
298
. Có người cười thơ ta,
Thơ
ta đồng sách tà.
Chảng
phiền họ Trịnh giảng,
Đâu
cần ông Mao hiểu?
Chẳng
hận người hội ít.
Nếu
bắt theo luật thơ,
Ta
bệnh mãi không hết.
Bỗng
gặp người sáng mắt.
Liền
tự truyền thiên hạ.
299
. Đường Hàn Sơn,
Không
người đến.
Nếu
đi được,
Gọi
là Phật.
Ve
thường hát,
Không
quạ kêu.
Lá
vàng rơi,
Mây
trắng quét.
Đá
chồng chất,
Núi
âm u.
Ta
một mình,
Khéo
dẫn đường.
Xem
kỹ lưỡng,
Có
tướng gì?
300
. Hàn Sơn lạnh,
Băng
phủ đá.
Núi
xanh ẩn,
Mây
trắng hiện.
Mặt
trời chiếu,
Đồng
lúc tan.
Từ
đây ấm,
Dưỡng
khách già.
301
. Ta ở núi,
Người
chẳng biết,
Trong
mây trắng,
Thường
lặng lặng.
302
. Hàn Sơn sâu,
Gọi
tâm ta,
Thuần
đá trắng,
Chẳng
vàng ròng,
Tiếng
suối vang,
Khảy
Bá Cầm,
Có
Tử Kỳ,
Rõ
âm này.
303
. Trong vách núi,
Đủ
gió mát,
Quạt
chẳng động,
Khí
lành thông,
Trăng
sáng chiếu,
Mây
trắng che,
Riêng
tự ngồi,
Một
ông già.
304
. Hàn Sơn Tử,
Mãi
như thế,
Riêng
tự ở,
Chẳng
sanh tử.
305
. Ta thấy người thế gian,
Mỗi
kẻ tranh ý khí.
Một
mai bỗng nhiên chết,
Chỉ
được một miếng đất.
Rộng
một mét hai,
Dài
bốn mét.
Ông
nếu hiểu,
Ra
đây tranh ý khí.
Ta
cùng anh lập bia đá ghi.
306
. Nhà có thơ Hàn Sơn
Hơn
anh xem quyển kinh.
Sách
để trên bình phong,
Thường
thường xem một biến.
|
THẬP ĐẮC
Ngài
Thập Đắc, do Thiền Sư Phong Can trước đó tình cờ đi dạo
núi, đến bên đường Xích Thành, nhân nghe tiếng trẻ nít
khóc, liền tìm đến, gặp một đứa trẻ vài tuổi trở lại.
Ban đầu Ngài cho là trẻ con của những người chăn trâu,
hỏi kỹ đầu đuôi mới biết rằng: “Đứa bé không nhà
bỏ ở đây”. Ngài Phong Can dẫn về chùa Quốc Thanh trao cho
vị tăng Điển Tòa, và nói, nếu có ai đến nhận thì trả
lại. Sau đó Sa Môn Linh Tập nhận nuôi, sai trông coi hương
đăng ở trai đường. Bỗng một hôm, thấy Ngài leo lên tòa,
ngồi ngang mâm đối trước tượng mà ăn, lại gọi ngài Kiều
Trần Như là : “Tiểu Quả Thanh Văn”. Coi như bên cạnh không
có người, cầm đũa cười to. Tăng bèn xua đuổi. Ngài Linh
Tập liền thưa lên các vị Tôn Túc, cho Ngài nghỉ việc nơi
trai đường. Lại sai Ngài rửa đồ đạc trong nhà bếp. Rửa
vừa xong, Ngài đãi lọc cơm canh thừa, dùng ống tre bỏ đầy
trong đó, khi Hàn Sơn đến thì vác lên vai là đi. Lại ở
nơi miếu Thần Hộ Già Lam, mỗi ngày thức ăn dưới nhà bếp
của chúng Tăng bị chim quạ mổ lấy vun vãi. Thập Đắc lấy
gậy đánh tượng hai ba cái rồi mắng rằng: “Ông ăn mà
chẳng hay giữ gìn thì đâu được gọi là Hộ Già Lam ư?
Đêm ấy, Thần báo mộng cùng khắp chúng Tăng trong chùa mà
nói: “Thập Đắc đánh tôi”. Sáng hôm sau, chư Tăng thuật
lại việc mộng đều giống hệt nhau, cả chùa xôn xao, mới
biết Ngài chẳng phải người thường. Bấy giờ ở châu,
quận, huyện mới thông tin xuống rằng: “Vị hiền sĩ ở
ẩn, chính là hóa thân của Bồ Tát, nên biểu dương Ngài.
Và gọi Thập Đắc là Hiền Sĩ. Lại, Ngài chăn trâu nơi trang
sở của chùa, ca hát vang trời. Đang khi chúng Tăng trong chùa
Bố Tát, Thập Đắc đuổi trâu đến trước nhà Tăng đang
tụ tập, tựa cửa vỗ tay cười to nói:
- Đông
đảo tụ đầu.
Khi
ấy, vị Thủ Tọa trì luật quát mắng:
- Kẻ
điên vì sao làm ồn ào ngăn ngại buổi thuyết giới?
Thập
Đắc nói:
- Ta
chẳng thả trâu. Bầy trâu đây, phần nhiều là những người
trông coi việc chúng Tăng (Ban Chức Sự) trong chùa này.
Thập
Đắc liền gọi pháp hiệu của mỗi vị Tăng đã mất, mỗi
con trâu nghe đến tên mình liền ứng thanh mà đi qua. Cả chúng
kinh ngạc, đều nghĩ, sửa đổi việc xưa kia và tu sửa lại
về sau, để không phụ lòng Bồ Tát rủ lòng độ thoát. Lúc
bấy giờ, Ngài Đạo Kiểng biên góp văn cú của Ngài Hàn
Sơn, ở nơi miếu thổ thần thổ địa, gặp thơ kệ của
Thập Đắc, liền ghép phụ chung vào thơ Hàn Sơn thành một
quyển.
THƠ THẬP ĐẮC
1
. Từ khi đến chùa Thiên Thai này,
Trải
qua đến nay đã bao năm?
Núi
nước chẳng dời người tự già,
Thấy
rõ bao nhiêu người sanh sau.
Anh
thấy chăng trong tam giới nhiều phiền não,
Chỉ
vì vô minh chẳng thấu suốt.
Một
niệm chẳng sanh tâm lặng yên,
Không
đến không đi chẳng sanh diệt.
2 .
Ta thấy người ngu độn,
Tim
đèn dùi Tu Di.
Con
kiến gậm cây to,
Đâu
biết khí lực nhỏ?
Học
cắn hai cọng rau,
Nói
cùng Tổ Sư đồng.
Hãy
mau xin sám hối,
Từ
nay lại chớ mê.
3 .
Anh thấy trăng sáng rỡ,
Chiếu
soi Tứ Thiên Hạ,
Tròn
đầy treo hư không,
Sáng
trong thật thanh thoát.
Người
nói có khuyết tròn,
Ta
thấy không suy giảm,
Dáng
tợ châu ma ni,
Soi
sáng không đêm ngày.
4 .
Ta ở không chỗ nơi,
Bàng
bạc lý vô vi.
Thường
lên núi Niết Bàn,
Hoặc
ngắm chùa Hương Lâm.
Bình
thường chỉ an nhàn,
Nói
chẳng dính danh lợi.
Biển
đông thành ruộng dâu,
Tâm
ta đâu màng đến.
5 .
Tay trái nắm ly châu, (
Tay
phải cầm kiếm tuệ.
Quyết
bắn giặc vô minh,
Châu
thần tỏa ánh sáng.
Xót
thương người ngu si,
Tham
ái nào biết chán?
Khi
đọa vào tam đồ,
Mới
biết đường hiểm nạn.
6 .
Rượu Bát Nhã lạnh nhạt,
Người
uống nhiều dễ tỉnh.
Ta
ở núi Thiên Thai,
Phàm
ngu nào thấy hình?
Thường
chơi hang động sâu,
Trọn
chẳng theo thường tình.
Không
sầu cũng không lo,
Không
nhục cũng không vinh.
7 .
Thương thấy người thế gian,
Thảy
đều thích ăn thịt,
Chén
bàn chẳng từng cạn,
Ăn
hoài nói không chán.
Hôm
qua bày tiệc trai,
Sáng
nay giết lục súc, (9)
Đều
do nghiệp kéo lôi,
Chẳng
can tình ham muốn.
Một
lần tạo thiên đường,
Trăm
lần tạo địa ngục,
Sứ
Diêm La đến lôi,
Cả
nhà thảy kêu khóc.
Bình
đất vào lò nung,
Chảo
dầu sôi tắm rửa,
Khi
được thoát ra khỏi,
Đổi
hẳn y phục anh.
8 .
Xuất gia cần thanh nhàn,
Thanh
nhàn tức là quý.
Thế
nào người ngoài trần,
Lại
vào trong trần lụy?
Một
khi quên bổn tâm,
Suốt
buổi đuổi danh lợi.
Danh
lợi được đến thân,
Hình
dung đã tiều tụy.
Huống
lại người chẳng theo,
Mặc
tình chí bình sanh.
Đáng
thương người vô sự,
Chưa
thể cười được anh.
9 .
Được thân phần đoạn này,
Đáng
cười hình dáng đẹp,
Khuôn
mặt tợ mâm bạc,
Trong
tâm đen như sơn.
Hầm
heo lại giết dê,
Khoe
nói ngọt như mật,
Chết
rồi vào địa ngục,
Lại
chớ than oan ức.
10
. Phật thương con tam giới,
Thảy
là trai gái ta,
Sợ
chìm hầm đen tối,
Rủ
lòng thương giáo hóa,
Đều
lên đạo vô thượng,
Cùng
chứng đường Bồ Đề.
Dạy
anh chúng sanh si,
Tâm
tuệ cần giác ngộ.
(
Ly châu: Hòn ngọc dưới cổ con Ly Long.
(9)
Lục súc: Bò, ngựa, dê, chó, lợn, gà.
11
. Phật bỏ vui tôn vinh,
Vì
thương các con ngu.
Sớm
nguyện ngộ vô sanh,
Thành
tựu việc Vô Thượng.
Về
sau người xuất gia,
Nhiều
duyên không chuyên nhất.
Chẳng
đầy đủ ăn mặc,
Chui
đầu vào trong chùa.
Ôi
thấy người thế gian,
Vĩnh
kiếp ở bờ mê.
Chẳng
xét cái ý ấy,
Tu
hành luống khổ nhọc.
12
. Thơ ta cũng là thơ,
Có
người gọi là kệ.
Thơ
kệ đều giống nhau,
Người
đọc phải chín chắn.
Thong
thả suy xét kỹ,
Chẳng
được sanh dễ duôi.
Nương
đây học tu hành,
Có
lắm việc đáng cười.
13
. Thơ kệ có ngàn vạn,
Gấp
rút thuật lại khó.
Nếu
cần người biết nhau,
Hãy
vào núi Thiên Thai.
Chỗ
sâu trong núi ngồi,
Nói
lý và bàn huyền.
Cùng
ta chẳng thấy nhau,
Đối
mặt tợ ngàn núi.
14
. Thế gian người ức vạn,
Mặt
mũi chẳng giống nhau.
Xin
hỏi do duyên gì,
Khiến
cho phải như thế?
Mỗi
người chấp thấy riêng,
Đều
nói phải và quấy.
Hãy
tự sửa lỗi mình,
Chớ
bàn nói kia đây.
15
. Ta khuyên bọn xuất gia,
Nên
biết giáo pháp sâu,
Chuyên
tâm cầu xa lìa,
Lại
chớ nhiễm tham dâm.
Có
lắm bậc sĩ tục,
Biết
quấy chẳng nhận vàng,
Nên
biết chí quân tử,
Mặc
tình theo thịnh suy.
16
. Hàn sơn tự Hàn Sơn,
Thập
Đắc tự Thập Đắc,
Phàm
ngu há thấy biết?
Phong
Can lại biết nhau.
Khi
thấy chẳng thể thấy,
Lúc
tìm chỗ nào tìm,
Xin
hỏi có duyên gì?
Hãy
nói sức vô vi.
17
. Từ xưa là Thập Đắc,
Chẳng
phải ngẫu nhiên xưng.
Riêng
không thân quyến thuộc,
Hàn
Sơn là anh ta.
Hai
người tâm giống nhau,
Ai
thể theo tình tục?
Nếu
hỏi tuổi bao nhiêu,
Hoàng
Hà bao lần trong? |
18
. Nếu biết bắt con chuột,
Chẳng
cần năm mèo trắng;
Nếu
thể ngộ lý tánh,
Nào
do gấm lụa bao.
Chân
châu vào túi lác,
Phật
tánh dừng bồng mao.
Một
đám kẻ chấp tướng,
Dụng
ý thảy không giao (dính).
19
. Dụng tâm thường rộng lớn,
Đây
ắt gọi là trùm.
Tổn
mình lợi nơi người,
Mới
gọi là bố thí.
Về
sau người chẳng biết,
Đâu
thể hội nghĩa này?
Chưa
tròn một tăng hèn,
Sớm
định mong giàu to.
20
. Khỉ vượn còn dạy được,
Người
sao chẳng vươn lên?
Xe
trước đã rơi hầm,
Xe
sau cần chuyển lối.
Nếu
cũng chẳng hiểu đây,
Ngại
anh ác giết hết.
Khi
xưa là dạ xoa,
Biến
đổi thành Bồ Tát.
21
. Đóng cửa riêng tạo tội,
Nghĩ
sẽ khỏi tai ương,
Bị
kẻ đày tớ xấu,
Chép
được báo Diêm Vương.
Dù
không vào chảo dầu,
Cũng
phải nằm giường sắt.
Chẳng
cho đày tớ thay,
Tự
làm tự thân chịu.
22
. Đường Phật xưa lạnh lẽo,
Người
ngu đến rồi quên.
Chỉ
vì nghiệp trước nặng,
Do
đó chẳng biết về.
Muốn
hiểu lý vô vi,
Trong
tâm chẳng vướng tơ.
Đời
đời cần khổ học,
Quyết
định gặp thầy ta.
23
. Người có Thiên Chơn Phật,
Gọi
đó là Bảo Vương.
Ánh
châu ngày đêm chiếu,
Huyền
diệu rất khó lường.
Người
mê thường ngơ ngáo,
Nào
sợ chịu tai ương?
Chỉ
tham dâm theo nghiệp,
Bọn
này thật đáng thương.
24
. Xuất gia cầu xa lìa,
Thương
nhớ khổ chúng sanh.
Giúp
Phật để giáo hóa,
Dạy
chọn đường trở về.
Nào
từng biết cứu khổ?
Buông
thói loạn tung hoành.
Một
khi bị sa đọa,
Đều
rớt xuống hầm sâu.
25
. Ta thấy người xuất gia,
Thảy
thích ăn rượu thịt.
Đáng
lý sanh Thiên Đường,
Lại
chìm về địa ngục.
Nhớ
được hai quyển kinh,
Lừa
dối người thành thị,
Đâu
biết người thành thị,
Nhiều
người căn tánh thuần.
26
. Ôi thấy kẻ biết nhiều,
Trọn
ngày uổng dụng tâm,
Đường
tẻ gặp lâu la, (10)
Khinh
mạn tất cả người.
Chỉ
tạo nghiệp địa ngục,
Chẳng
tu nhân đời sau.
Bỗng
nhiên vô thường đến,
Biết
chắc loạn lăng xăng.
27
. Xa xôi đường núi cao,
Muôn
thước rất hiểm nguy,
Cầu
đá rong rêu bao,
Thường
thấy mảnh mây bay,
Thác
đổ như lụa treo,
Bóng
trăng rơi đầm trong,
Lại
lên trên Hoa Đảnh,
Còn
đợi hạc lẻ đến.
28
. Gió tùng lạnh vì vèo,
Từng
mảnh ráng mây hiện.
Nhiều
lớp núi bao quanh,
Mặc
tình ngắm muôn dặm.
Khe
đầm nước trong veo,
Thấy
đáy như soi kính.
Rất
quý vật đài linh,
Bảy
báu không thể sánh.
29
. Bùn thêm nước vò viên,
Suy
lường không lẽ thật.
Thân
mộng huyễn bọt nổi,
Trăm
năm được bao lâu?
Chẳng
biết suy nghĩ kỹ,
Rằng
sống mãi không chết.
Mong
cầu chứa nhiều vàng,
Để
lại cho vợ con.
30
. Đời có người biết nhiều,
Ngu
si học văn suông,
Chẳng
lo quả tương lai,
Chỉ
biết tạo nhân ác.
Thấy
Phật chẳng biết lạy,
Gặp
Tăng lòng sân thêm,
Bọn
ngũ nghịch thập ác,
Ba
độc làm quyến thuộc.
Chết
quyết vào địa ngục,
Chưa
biết ngày nào ra.
(10)
Lâu la: Đàn em của tướng cướp.
31
. Đáng cười suối rừng này,
Nhiều
dặm thiếu bóng người.
Mây
từ núi xanh bay,
Thác
đổ nước thì thào.
Vượn
kêu hát khúc đạo,
Hổ
gầm thoát nhơn gian,
Gió
tùng nhè nhẹ mát,
Tiếng
chim kêu lảnh lót.
Riêng
bước quanh khe đá,
Một
mình trèo núi cao.
Thường
ngồi trên mỏm đá,
Nằm
ngửa vịn dây leo.
Xa
trông về thành đô,
Chỉ
nghe tiếng ồn ào.
32
. Tự cười lão phu gân sức tàn,
Riêng
luyến tùng núi thích dạo chơi,
Thở
than năm qua đến ngày nay,
Mặc
tình lại đồng thuyền không neo.
Không
đến không đi vốn lặng lẻ,
Chẳng
kẹt trong ngoài và khoảng giữa.
Một
viên thủy tinh bặt vết tỳ,
Ánh
sáng tràn đầy thoát nhơn gian.
33
. Mây núi chất chồng mấy ngàn lớp,
Hang
tối đường sâu bặt bóng người.
Khe
xanh dòng trong nhiều thắng cảnh,
Thời
tiết chim kêu hợp lòng người.
34
. Tam giới (như) bánh xe quay,
Cuộc
đời như nước chảy.
Lúc
nhúc các chủng loài,
Tham
sống không biết chết.
Anh
xem sương sớm đọng,
Thời
gian được bao lâu.
35
. Lăng xăng người trong thành,
Thường
vui thú trong trần.
Ta
thấy người trong ấy,
Tâm
phần nhiều xót thương.
Vì
sao thương bọn này,
Nhớ
kia trong trần khổ.
|
PHỤ
LỤC
THƠ PHONG CAN
Ta
tự đến Thiên Thai,
Từng
trải bao lần về.
Một
thân như mây nước,
Xa
xôi mặc đến đi.
Tiêu
diêu bặt ồn náo,
Quên
cơ lên Phật đạo.
Tâm
thế gian nhiều mối,
Chúng
sanh lắm phiền não.
Ngơ
ngáo chìm biển sóng,
Trôi
nổi quanh tam giới.
Đáng
tiếc một vật linh,
Từ
lâu bị cảnh vùi.
Điện
chớp bỗng nhiên khởi,
Sanh
tử dấy bụi hồng.
Hàn
Sơn riêng hỏi nhau,
Thập
Đắc thường qua lại.
Bàn
tâm nói trăng sáng,
Hư
không rỗng không ngăn.
Pháp
giới tức vô biên,
Một
pháp trùm tất cả.
Xưa
nay không một vật,
Cũng
không bụi để phủi.
Nếu
hay thấu suốt đây,
Chẳng
cần ngồi ngơ ngáo.
PHONG
CAN
Phong
Can chẳng biết người ở đâu. Niên hiệu Trinh Quán đời
nhà Đường, Sư đến ở chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai, cắt
tóc ngang mày, mặc áo vải rách, có ai hỏi lý Phật, chỉ
đáp hai chữ “tùy thời”. Thường xướng đạo, cởi cọp
ra vào, chúng Tăng đều kinh sợ chẳng ai dám nói chuyện với
Sư. Có Hàn Sơn, Thập Đắc chơi thân với Phong Can.
Một
hôm, Hàn Sơn hỏi Phong Can rằng:
- Gương
xưa chẳng lau, làm sao chiếu soi?
-
Đài băng không hình bóng. Khỉ vượn mò bóng trăng.
-
Đây là chẳng chiếu soi, thỉnh Sư nói thêm.
-
Muôn đức chẳng đem đến, bảo ta nói cái gì?
Hàn
Sơn, Thập Đắc đều làm lễ. Phong Can bảo Hàn Sơn:
- Ông
đi dạo Ngũ Đài Sơn với ta thì là bạn ta; nếu không đi
không phải bạn ta.
-
Tôi không đi.
Phong
Can nói:
-
Ông chẳng phải bạn ta.
Hàn
Sơn hỏi Phong Can:
-
Ông đi Ngũ Đài Sơn làm gì?
-
Ta đi lễ Văn Thù. Ông không phải bạn của ta.
Phong
Can đi Ngũ Đài một mình. Gặp một ông già, Phong Can hỏi:
-
Có phải là Văn Thù không ?
-
Há có hai Văn Thù?
Phong
Can liền làm lễ. Chợt ông già biến mất. Sau Phong Can trở
về núi Thiên Thai thị tịch.
Hàn
Sơn nhân chúng Tăng đang nướng cà, bèn lấy xâu cà đánh
vào lưng một vị Tăng, Tăng quay đầu lại. Hàn Sơn đưa xâu
cà hỏi:
-
Là cái gì?
Tăng
nói:
-
Gã điên này!
Hàn
Sơn hỏi Tăng bên cạnh:
-
Ông nói xem ông Sư này tốn bao nhiêu tương muối?
Triệu
Châu đến Thiên Thai, đi thấy dấu chân trâu. Hàn Sơn hỏi:
- Thượng
Tọa lại biết trâu chăng? Đâu là năm trăm La Hán dạo núi.
-
Đã là La Hán vì sao lại làm trâu?
Hàn
Sơn nói:
-
Trời xanh! Trời xanh!
Triệu
Châu cười ha ha.
Hàn
Sơn nói:
-
Cười cái gì?
Triệu
Châu nói:
-
Trời xanh! Trời xanh!
Hàn
Sơn nói:
-
Chú tiểu nhỏ này lại có tư cách đại nhân.
Thập
Đắc đang quét sân, chủ chùa hỏi:
-
Ngươi họ gì? Ở đâu?
Thập
Đắc buông chổi, vòng tay đứng.
Chủ
chùa mờ mịt.
Hàn
Sơn đấm ngực nói:
-
Trời xanh! Trời xanh!
Thập
Đắc hỏi:
-
Ông làm gì vậy?
Hàn
Sơn nói:
-
Há không nghe nói nhà phía Đông có người chết, nhà phía
Tây buồn lây sao!
Rồi
vừa múa vừa cười khóc mà đi ra.
Thập
Đắc lại chăn trâu ở Trang xá ca vịnh kêu trời rằng:
- Ta
có một hạt châu, chôn ở trong ấm giới, không một ai biết
cả.
Hết
tập thơ HÀN SƠN THẬP ĐẮC
Source:
Thiền Tông Việt Nam
Bài
Đọc Thêm:
Thơ
Hàn Sơn Thập Đắc
Bài
Thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế
Đến
Hàn San Tự Để Tìm Hiểu Bài Thơ Phong Kiều Dạ Bạc
Thiền
Sư Nhất Hạnh Nói Về Bài Thơ Trên
Đọc
Lại Phong Kều Dạ Bạc, Trần Long Hồ
Trở
Lại Với Phong Kiều Dạ Bạc, Hải Đà Vương Ngọc Long
Đôi
Bạn Chùa Hàn Sơn, Duyên Trường
Trao
Đổi Thêm Về Bài Thơ Phong Kiều Dạ Bạc, Hà Quảng
Chùa
Hàn Sơn Trong Hồn Thơ Trương Kế, Hồ Sĩ Hiệp
Hoàng
Hạc Lâu và Phong Kiều Dạ bạc, Trần Dương Hân

|