111
. Lúc nhỏ từng vác bừa,
Vốn
cùng anh ở chung.
Bởi
bị người khiển trách,
Lại
bị vợ chê bỏ.
Buông
hết cảnh hồng trần,
Thường
thích xem kinh sách.
Ai
tiếc một gáo nước,
Cứu
lấy cá vết xe.
112
. Biến hóa kế vô cùng,
Sanh
tử lại chẳng dừng.
Ba
đường làm chim sẻ,
Ngũ
Nhạc làm cá rồng.
Đời
nhơ làm con cừu (giả ngu),
Đời
trong làm ngựa giỏi.
Lúc
trước là phú ông,
Ngày
nay là bần sĩ.
113
. Sách đoán chẳng bất tài,
Trách
thân chẳng chức cao.
Tuyển
quan bị loại bỏ,
Tẩy
nhơ tìm vết sẹo.
Chắc
liên quan số mạng,
Năm
nay lại thử xem.
Bé
mù bắn mắt sẻ,
Bỗng
nhiên trúng chẳng khó.
114
.Lừa nghèo một mét thiếu,
Chó
giàu ba tất hơn.
So
sánh nghèo bất bình,
Khoảng
nửa giàu và khốn.
Mới
cho lừa no đủ,
Lại
bắt chó đói nghèo.
Vì
nó suy nghĩ kỹ,
Khiến
ta cũng sầu muộn.
115
. Liễu Lang tám mươi hai,
Lam
tẩu tròn mười tám,
Vợ
chồng cùng trăm năm,
Mối
tình thật gian trá.
Sanh
trai tên Ô Đồ,
Sanh
gái gọi Oát Nạp,
Cây
dương khô nẩy mầm,
Luôn
bị sương tuyết hoại.
116
. Quán rượu ai rực rỡ,
Rượu
kia thật đậm đà.
Đáng
mến cờ xí cao,
Xa
xa hủ chất hàng.
Ngạc
nhiên sao chẳng bán,
Nhà
kia nhiều chó dữ.
Đồng
tử nếu đến mua,
Chó
cắn co chân chạy.
117
.Than thở chỗ hỗn tạp,
La
sát cùng hiền nhân.
Bảo
là bọn quê dốt,
Đâu
biết đạo chẳng gần?
Dối
trá lại xưng chơn.
Quặng
chì vào lò luyện,
Mới
biết vàng chẳng ròng.
118
. Nhà nông tránh tháng hạn,
Cốc
rượu cùng ai vui.
Dọn
ra trái tạp nhạp,
Lưa
thưa vài cốc rượu.
Dùng
cỏ khô làm chiếu,
Lá
chuối trải đầy mâm.
Khi
say chống má ngồi,
Tu
Di nhỏ (như) viên đạn.
119
. Kẻ tên Hà Thố Đại,
Thường
đến Nam Viện thăm.
Tuổi
khoảng hơn ba mươi,
Từng
trải nhiều lần thi.
Trong
túi không có tiền,
Trong
cặp có quyển sách.
Đi
đến trước quán ăn,
Chẳng
dám xoay mặt nhìn.
120
. Có nhiều khách cơ hàn,
Sống
nuôi cá thú ít.
Mãi
ở dưới miếu đá,
Luôn
bên góc tường cười.
Nhiều
ngày uổng nhớ cơm,
Trọn
đông không áo mặc.
Tư
lương không bó cỏ,
Mang
theo năm thăng trấu.
121
. Dối đến gát cao vút,
Uổng
lên lầu trăm thước.
Dưỡng
sinh nhưng chết non,
Dụ
đọc (kinh) đâu phong hầu.
Chẳng
cần theo trẻ nhỏ,
Nào
phải chán bạc đầu.
Chưa
thể thẳng như tê,
Lại
chớ cong như câu.
122
. Lớp lớp mây núi liền trời xanh,
Rừng
sâu đường vắng không khách đến.
Nhìn
xa vầng trăng chiếu sáng ngời,
Gần
nghe bầy chim kêu lãnh lót.
Ông
già riêng ngồi tựa núi xanh,
Thiếu
Thất nhàn ở mặc đầu bạc.
Than
thở năm qua cùng ngày nay,
Tâm
không lại tợ nước về đông.
123
. Giàu có sơ thân tụ,
Chỉ
vì nhiều của tiền.
Nghèo
nàn ruột thịt lìa,
Chẳng
có tình anh em.
Hãy
mau về đi thôi,
Gác
chiêu hiền chưa mở.
Lang
thang đường công danh,
Đạp
nát gót da giày.
124
. Ta thấy một kẻ ngu,
Nhưng
cưới hai ba vợ.
Nuôi
tám chín đứa con,
Số
khẩu kẻ đòi nợ.
Của
tiền chẳng có sẵn,
Hoàng
bá cột miệng lừa.
Về
sau mới biết đắng.
125
. Lúa mới vẫn chưa chín,
Thóc
cũ nay trống không.
Người
đến vay vài lít,
Ngoài
cửa đứng chờ trông.
Chồng
ra bảo hỏi vợ,
Vợ
ra sai tìm chồng.
Keo
kiệt chẳng cứu đói,
Giàu
có làm ngu thêm.
126
. Có nhiều việc đáng cười,
Lược
bày năm ba kẻ.
Ông
Trương giàu buông lung,
Mạnh
Tử nghèo lận đận.
Chỉ
giữ thân lùn no,
Chẳng
thương Phương Sóc đói.
Ba
ca (?) người xướng nhiều,
Tuyết
trắng không người hòa.
127
. Ông già cưới vợ trẻ,
Tóc
bạc vợ chẳng ưa,
Bà
già lấy chồng trẻ,
Mặt
vàng chồng chẳng thương.
Ông
già cưới bà già,
Mỗi
mỗi không ghét nhau,
Vợ
trẻ lấy chồng trẻ,
Cả
hai cùng thương yêu.
128
. Ung dung tuổi trẻ đẹp,
Học
rộng hết sử kinh.
Mọi
người gọi tiên sanh,
Đều
xưng là học sĩ.
Khi
chưa được chức quan,
Chẳng
biết dùng lưỡi cày.
Đông
mặc áo lót rách,
Bởi
do sách lầm ta.
129
. Đáng cười hang ngũ ấm,
Bốn
rắn cùng ở chung.
Tối
tăm không ánh sáng,
Ba
độc thay nhau đuổi.
Đồng
bọn sáu thằng giặc,
Cướp
phá báu pháp tài,
Chém
hết bọn quân ma,
Bình
an lặng như bơ.
130
. Nhà ta cột chẳng vẽ,
Rừng
xanh là am tớ.
Nháy
mắt một đời qua,
Muôn
việc chớ tưởng bền.
Tế
độ chẳng tạo phà,
Chìm
nổi vì hái hoa.
Căn
lành nay chưa trồng,
Ngày
nào thấy mầm sanh.
131
. Sanh ra ba mươi năm,
Thường
dạo ngàn muôn dặm.
Chơi
sông hợp cỏ xanh,
Vào
đất hiểm bụi bay.
Nấu
thuốc uổng cầu tiên,
Đọc
thơ cùng vịnh sử.
Ngày
nay về Hàn Sơn,
Kê
đầu suối rửa tai.
132
. Đời có người nhiều chuyện,
Học
rộng thấy nghe nhiều,
Chẳng
biết gốc chơn tánh,
Cùng
đạo càng cách xa.
Nếu
hay rõ thật tướng,
Đâu
cần lập nguyện rỗng?
Một
niệm rõ tự tâm,
Mở
toang tri kiến Phật.
133
. Hôm qua sao mơ hồ,
Trong
trường hứa người thương.
Trên
làm đường đào lý,
Dưới
tạo bãi cỏ, (giàn) lan.
Lại
có người áo lụa,
Trong
nhà nổi xanh biếc.
Gặp
nhau muốn gọi nhau,
Hồi
hộp chẳng nên lời.
134
. Trượng phu chớ giữ khốn,
Không
tiền phải siêng năng.
Nuôi
một con trâu cái,
Sanh
được năm trâu con.
Trâu
con lại sanh con,
Số
lượng tăng không cùng,
Nhắn
lời ông Đào Chu,
Giàu
cùng vua tương tợ.
135
. Anh kia sao vội vàng,
Phương
nam nhiều bệnh độc,
Đất
bắc lắm gió sương.
Xó
hoang chẳng thể ở,
Sông
độc không thể uống.
Hồn
ơi về đi thôi,
Ta
ăn trái dâu vườn.
136
. Hôm qua mộng về quê,
Thấy
vợ bên máy dệt.
Dừng
thoi dáng suy tư,
Dời
thoi tợ không sức.
Gọi
vợ quay mặt nhìn,
Sao
lại chẳng biết nhau?
Bởi
vì xa nhiều năm,
Râu
tóc đã đổi màu.
137
. Đời người chẳng đầy trăm,
Thường
ôm lo ngàn năm,
Thân
mình bệnh vừa hết,
Lại
buồn lo cháu con.
Nhìn
xuống đất gốc lúa,
Ngước
lên ngọn cây dâu.
Quả
cân rơi bể đông,
Tận
đáy mới chịu dừng.
138
. Đời có một hạng người,
Lăng
xăng như khúc cây,
Mở
lời không hiểu biết,
Nói
ta không gì phiền.
Hỏi
đạo đạo chẳng hội,
Hỏi
Phật Phật chẳng cầu,
Chín
chắn suy tìm đến,
Mờ
mịt một trường sầu.
139
. Đỗng Lang lúc còn trẻ,
Ra
vào trong cung vua.
Áo
lót thêu ngỗng vàng,
Dáng
mạo giống như vẽ.
Thường
cỡi ngựa trắng tuyết,
Phất
phới bụi hồng bay.
Người
xem đầy bên đường,
Kẻ
này con nhà ai?
140
. Kẻ này con nhà ai,
Làm
người quá bị ghét.
Tâm
si luôn dày đặc,
Mắt
thịt say lờ mờ.
Thấy
Phật chẳng biết lạy,
Gặp
tăng chẳng cúng dường.
Chỉ
biết ăn thịt ngon,
Ngoài
ra chẳng biết gì.
141
. Người lấy thân làm gốc,
Gốc
do tâm làm chủ.
Gốc
tại tâm chẳng tà,
Tâm
tà mất bổn mạng.
Chưa
thể thoát họa này,
Lời
nào lười soi kính?
Chẳng
niệm kinh Kim Cang,
Lại
khiến Bồ Tát bệnh.
142
. Thành bắc có ông Trọng,
Nhà
to nhiều rượu thịt.
Ông
Trọng khi vợ chết,
Khách
điếu đầy cả nhà.
Ông
Trọng tự thân mất,
Không
có một người khóc.
Người
ăn chén thịt kia,
Thâm
tình sao nhạt nhẽo.
143
. Hạ ngu đọc thơ ta,
Chẳng
hiểu lại chê cười,
Trung
dung đọc thơ ta,
Suy
nghĩ nói rất yếu,
Thượng
Hiền đọc thơ ta,
Nắm
lấy nét mặt tươi,
Dương
Tu thấy vợ trẻ,
Vừa
nhìn liền biết diệu.
144
. Xưa có người keo kiệt,
Ta
chẳng đồng như họ.
Áo
lót mặc khiêu vũ,
Rượu
hết do mê ca.
Thường
ăn một bụng no,
Chớ
để hai chân yếu.
Cỏ
tranh dùi đầu lâu,
Ngày
nay anh nên hối.
145
. Ta đi qua mộ xưa,
Lệ
cạn than còn mất.
Mã
sụp ép ruột vàng,
Hòm
mục lộ xương trắng.
Vò
hủ bị nghiên ngã,
Không
trâm chống đứng lại.
Gió
thổi lồng trong ấy,
Bụi
tro bay mịt mù.
146
. Mặt trời hạ núi tây,
Cỏ
cây ửng tươi tốt.
Lại
có chỗ mịt mờ,
Tùng
mây hòa quyện nhau.
Trong
ấy nhiều chỗ ẩn,
Thấy
ta tóc đổi màu.
Trong
tay không lưỡi dao,
Thảy
đều khép nép sợ.
147
. Xuất thân đã mệt mỏi,
Việc
đời chẳng một thứ,
Chưa
thể xả dòng tục,
Cho
nên tìm hỏi nhau.
Hôm
qua điếu Từ Ngũ,
Nay
đưa tang Lưu Tam,
Ngày
ngày chẳng được nhàn,
Do
vậy tâm buồn thương.
148
. Có vui hãy cứ vui,
Thời
giờ chẳng để mất.
Tuy
nói một trăm năm,
Đâu
tròn ba vạn ngày.
Cuộc
đời trong nháy mắt,
Bàn
tiền chớ thở than.
Kinh
Hiếu chương cuối cùng,
Quanh
co nói hết tình.
149
. Riêng ngồi thường buồn bã,
Trong
lòng thật xôn xao.
Eo
núi mây dày đặc,
Cửa
hang gió xạc xào.
Vượn
đu cây quằn quại,
Chim
vào rừng kêu vang.
Thời
gian gió vùn vụt,
Tuổi
tàn già buồn hiu.
150
. Một người thích tài năng,
Sáu
nghề đều thông suốt.
Nhìn
nam lầm hướng bắc,
Nhìn
tây lầm hướng đông.
Nổi
mãi như bèo trôi,
Chẳng
dừng tợ (cỏ) bồng bay,
Hỏi
là những sắc gì?
Họ
Bần tên là Không.
151
. Người hiền anh liền nhận,
Chẳng
hiền anh chớ chơi.
Anh
hiền người thấy dáng,
Chẳng
hiền người giả từ.
Mến
thiện chớ kiêu căng,
Nhân
nghĩa mới an ổn.
Khuyên
theo lời Tử Trương,
Buông
hết lời so sánh.
152
. Tục bạc chân thành bạc,
Tâm
người chẳng đồng nhau.
Ông
Ân cười lão Liễu,
Lão
Liễu cười ông Ân.
Vì
sao chê cười nhau,
Cùng
đi trong gian xảo.
153
. Khi ta ngày có tiền,
Thường
vì anh cho vay.
Anh
nay đã no ấm,
Thấy
ta chẳng trả lại.
Nhớ
xưa anh muốn được,
Đồng
ta nay ngóng trông.
Có
không việc thay đổi,
Khuyên
anh suy nghĩ kỹ.
154
. Người sống một trăm năm,
Phật
nói mười hai bộ,
Từ
bi như nai đồng,
Sân
nộ tợ chó nhà.
Chó
nhà đuổi chẳng đi,
Nai
đồng thường thích chạy,
Muốn
dừng tâm khỉ vượn,
Cần
nghe sư tử rống.
155
. Dạy anh bao nhiêu việc,
Nghĩ
hiền biết ta hiền.
Quá
nghèo nhịn mua nhà,
Vừa
giàu phải mua ruộng.
Bụng
trống chẳng được chạy,
Chiếc
gối chớ nên ngủ,
Lời
này mong cùng thấy,
Treo
tại đông mặt trời.
156
. Hàn Sơn nhiều cảnh lạ,
Người
lên đều nép sợ.
Trăng
soi nước lặng lẽ,
Gió
thổi cỏ vi vu.
Mai
tàn kết hoa tuyết,
Cây
trơ mây làm lá.
Gặp
mưa càng tốt tươi,
Trời
mù khó bước lên.
157
. Có cây mọc trước (khi có) rừng,
Tính
tuổi càng gấp đôi,
Gốc
bị hang đất đổi,
Lá
bị gió sương phai.
Tức
cười chạy rong ngoài,
Chẳng
tiếc thần quang mình.
Da
ngoài đã rơi sạch,
Chỉ
còn lại chân thật.
158
. Hàn Sơn có loài trùng,
Thân
trắng mà đầu đen,
Tay
cầm hai quyển sách,
Một
đạo và một đức.
Ở
không sắm bếp nồi,
Đi
chẳng mang áo cơm,
Thường
cầm kiếm trí tuệ,
Định
phá giặc phiền não.
159
. Có người sợ đầu bạc,
Chẳng
chịu bỏ trang sức,
Hái
thuốc uổng cầu tiên,
Gốc
mầm loạn lăng xăng.
Nhiều
năm không kết quả,
Ý
sân si chứa đầy,
Thợ
săn khoác cà sa,
Chẳng
phải áo của anh.
160
. Ngày xưa quá nghèo khó,
Hôm
nay càng nghèo hơn,
Làm
việc không hòa hợp,
Gặp
việc thành cùng khốn.
Lội
bùn thường mỏi gối,
Ngồi
tại chúng đau bụng.
Mất
đi con mèo đốm,
Chuột
chạy quanh nồi cơm.
161
. Rất quý vật thiên nhiên,
Một
mình không bè bạn,
Tìm
khác chẳng thể thấy,
Ra
vào không cửa nẻo.
Thu
lại tại tất vuông,
Buông
ra khắp cả chỗ,
Anh
nếu chẳng tin nhận,
Đối
mặt chẳng biết nhau.
162
. Nhà ta có một hang,
Trong
hang không một vật,
Sạch
rỗng lại sáng ngời,
Chói
chang ánh nhật nguyệt.
Cơm
rau dưỡng thân tàn,
Vải
thô che huyễn chất,
Mặc
cho ngàn thánh hiện,
Ta
có Phật Thiên Chơn.
163
. Nam nhi đại trượng phu,
Làm
việc chớ cẩu thả.
Vững
mạnh tâm sắc đá,
Thẳng
giữ đường Bồ Đề.
Đường
tà chớ nên đi,
Đi
vào luống chịu khổ.
Chẳng
cần cầu quả Phật,
Biết
nhận chủ tâm vương.
164
. Nhàn tự hỏi cao tăng,
Khói
núi muôn vạn tầng,
Thầy
thương chỉ đường về,
Trăng
treo như ngọn đuốc.
165
. Nhàn dạo trên Hoa Đảnh,
Trời
trong trăng sáng ngời,
Bốn
phía trời trống vắng,
Mây
trắng đồng hạc bay.
166
. Hàn Sơn có một nhà,
Trong
nhà không ngăn cách,
Sáu
cửa phải trái thông,
Giữa
nhà thấy trời xanh.
Mỗi
phòng rỗng vắng tanh,
Vách
đông qua vách tây,
Trong
ấy không một vật,
Khỏi
bị người ở nhờ.
Lạnh
đến đốt lửa hơ,
Đói
đến luộc rau dùng.
Chẳng
theo ông Điền Xá,
Rộng
sắm ruộng vườn nhà.
Thảy
tạo nghiệp địa ngục,
Đã
vào khi nào ra?
Trầm
tĩnh khéo suy xét,
Suy
kỹ biết phép tắc.
167
. Nhà kia tạm xuống núi,
Vào
đến trong thành đô,
Nhìn
thấy nhóm thiếu nữ,
Đoan
chánh dung mạo đẹp.
Đầu
cài hoa ong bướm,
Môi
son mặt phấn mịn,
Vòng
vàng điểm hoa bạc,
Áo
lụa tơ hồng tím.
Sắc
hồng đồng thần tiên,
Thoa
hương mùi nồng nặc,
Người
đời đều cố nhìn,
Si
ái nhiễm tâm ý.
Bảo
rằng không ai bằng,
Bóng
hồn mê theo kia,
Chó
gậm khúc xương khô,
Tự
dối liếm môi răng.
Chẳng
biết suy nghĩ lại,
Súc
sanh nào khác gì?
Nay
thành bà đầu bạc,
Già
tàn như quỷ sứ.
Từ
lâu do tâm chó,
Chẳng
đạt cảnh giải thoát.
168
. Một mình ẩn Hàn Sơn,
Nuôi
mạng ăn quả núi.
Bình
sanh có gì buồn,
Đời
này sống tùy duyên.
Ngày
tháng như nước chảy,
Thời
gian như lửa nháng.
Mặc
cho trời đất đổi,
Ta
thích ngồi trong núi.
169
. Ta thấy người thế gian,
Lăng
xăng chạy đường trần.
Chẳng
biết việc trong ấy,
Lấy
gì làm mục tiêu.
Giàu
sang được bao lâu,
Quyến
thuộc thân một lúc.
Dù
có ngàn lượng vàng,
Sao
bằng nghèo ở rừng.
170
. Tự nghe triều nhà Lương,
Kính
nương bốn hiền sĩ,
Chí
Công, Sư Vạn Hồi,
Tứ
Tiên, Phó Đại Sĩ.
Xiểng
dương giáo một đời,
Làm
sứ gìn Như Lai.
Xây
dựng Tăng Già Lam,
Tâm
tin theo lý Phật.
Tuy
là được như thế,
Hữu
vi nhiều hoạn lụy.
Cùng
đạo càng cách xa,
Cắt
tây để vá đông.
Chẳng
đạt công vô vi,
Tổn
nhiều lợi chút xiu.
Có
tiếng mà không hình,
Đến
nay nơi nào phải?
171
. Thở than nghèo lại bệnh,
Làm
người không bạn thân.
Trong
hũ mãi hết gạo,
Trong
nồi bụi phủ dầy.
Mái
am mưa thường dột,
Giường
mục tạm chứa thân.
Chớ
lạ nay tiều tụy,
Buồn
nhiều chắc chết sớm.
172
. Nuôi phụ nữ ngại nhiều,
Lỡ
sanh phải dạy dỗ.
Ấn
đầu bỏ tiểu tâm.
Đánh
lưng dạy giữ miệng,
Chưa
biết cầm máy dệt,
Đâu
kham việc quét sàng.
Bà
Trương nói lừa con,
Nó
to chẳng bằng mẹ.
173
. Vững chí chẳng mệt mỏi,
Ta
chẳng phải chiếc chiếu.
Mặc
tình đến núi rừng,
Riêng
nằm trên tảng đá.
Biện
sĩ đến khuyên ta,
Mời
nhận vàng ngọc gấp.
Đục
tường trồng bồng lao,
Như
thế chẳng có ích.
174
. Bởi chỗ ta dừng nghỉ,
Tối
sâu khó diễn tả.
Không
gió dây mây động,
Không
mù trúc tối om.
Tiếng
suối chảy róc rách,
Mây
núi bỗng tự đùn.
Giữa
trưa ngồi trong am,
Mới
thấy mặt trời hiện.
175
. Nhớ xưa chỗ thấy qua,
Du
lịch trong nhân gian.
Dược
Sơn lên vạn thước,
Dạo
nước buồm ngàn chiếc.
Đưa
khách hang Tỳ Bà,
Ôm
đàn châu Oanh Vũ.
Đâu
biết dưới cây tùng,
Ôm
gối lạnh lập cập.
176
. Báo người tu hành rõ,
Siêng
cầu luống nhọc thần.
Người
có vật tinh minh,
Không
tên lại không chữ.
Khi
kêu ứng rõ ràng,
Lúc
ẩn không nơi chỗ.
Nhắc
nhở khéo giữ gìn,
Chớ
để dính vết nhơ.
177
. Năm qua chim xuân hót,
Lúc
này nhớ anh em.
Năm
nay thu cúc tàn,
Khi
ấy nhớ quê hương.
Nước
xanh uốn nhiều chỗ,
Mây
vàng bốn phía bằng.
Buồn
thay trong trăm năm,
Đứt
ruột nhớ Hàm Kinh.
178
. Bao nhiêu người Thiên Thai,
Chẳng
biết Hàn Sơn Tử,
Chẳng
rành lường chân ý,
Gọi
là lời nói suông.
179
. Khi ở Hàn Sơn muôn việc thôi,
Lại
không niệm tạp treo đầu tâm.
Nhàn
nơi vách đá ghi thơ cú,
Mặc
tình lại đồng thuyền không neo.
180
. Đáng tiếc nhà trăm năm,
Trái
đổ phải lại nghiên.
Tường
vách tiêu tán hết,
Kèo
cột nằm ngổn ngang.
Mái
ngói rơi từng mảnh,
Mục
nát chẳng thể ở.
Mặc
gió thổi tung đỗ,
Dựng
lại trọn khó thành.
181
. Tinh thần thật thanh thản,
Dáng
mạo rất sáng láng.
Sức
mạnh khó ai sánh,
Đọc
sách xem ngũ hành.
Từng
ngủ gối đầu hổ,
Xưa
ngồi giường ngà voi.
Nếu
không có vật này,
Chắc
là lạnh như sương.
182
. Cười ta con nhà nông,
Dưới
đầu má ẩm ướt.
Khăn
quấn chẳng từng cao,
Đai
lưng lâu ngày xiết.
Chẳng
phải lo không kịp,
Không
tiền làm sao mua.
Hôm
nào có nhiều vàng,
Một
mình đứng nóc chùa.
183
. Mua thịt máu ứ đọng,
Mua
cá đuôi ngoe ngẩy.
Thân
anh chuốc tội lụy,
Vợ
con được sống vui.
Đánh
chết cả nhà anh,
Người
khác ai dám ngăn.
Hôm
nào nếu giường sập,
Hai
kẻ đương đầu thoát.
184
. Ngàn sống muôn chết khi nào dứt?
Sanh
tử đến đi thêm tình mê.
Chẳng
biết trong tâm báu vô giá,
Giống
hệt lừa mù chân bước càn.
185
.Dùng hết tâm thần vì danh lợi,
Trăm
thứ tham lam tiến thân mình.
Cuộc
đời huyễn hóa như đuốc cháy,
Nấm
mồ vùi thân là có không.
186
. Thế gian việc gì phải thở than,
Thảy
là tạo nghiệp thô tam đồ.
Chẳng
học dưới núi khách mây trắng,
Một
chiếc áo lạnh là sanh nhai.
Thu
đến mặc cho lá rừng rụng,
Xuân
về đúng tiết cây nở hoa.
Tam
giới ngủ say không một việc,
Gió
mát trăng sáng là nhà ta.
187
. Khách chê Hàn Sơn Tử,
Thơ
anh không đạo lý.
Ta
xem nơi người xưa,
Nghèo
nàn chẳng thấy nhục.
Phải
chi cười lời này,
Nói
sao sơ lược vậy.
Mong
anh như hôm nay,
Tiền
là điều cần gấp.
188
. Từ sanh chẳng đến đi,
Đến
chết không hai nghĩa,
Mở
lời thành cành lá,
Trong
tâm liền gian xảo.
Nếu
anh mở đường nhỏ,
Do
đây sanh lầm to.
Nói
dối tạo thang mây,
Cạo
gọt thành gai góc.
189
. Một bình đúc bằng vàng,
Một
bình đất nung thành,
Hai
bình mặc anh xét,
Cái
bình nào bền lâu.
Muốn
biết bình có hai,
Phải
biết nghiệp chẳng một.
Lấy
đây nghiệm nhân sanh,
Tu
hành tại ngày nay.
190
. Đơn Khâu cao vút cùng mây bằng,
Năm
núi trên không xa nhìn xuống.
Tháp
Nhạn vươn cao ra núi xanh,
Điện
cổ tùng lâm ẩn mây ráng.
Gió
động lá tùng thành đỏ tuyệt,
Mây
đùn giữa núi quên đường tiên.
Trời
trong ngàn núi thấy muôn dặm,
Dây
leo chằng chịt khe nối khe.
191
. Tôi thấy Tăng Dao tánh kỳ đặc,
Khéo
léo sanh giữa đời nhà Lương.
Dù
nơi hư không vẽ dấu bụi,
Không
thể vẽ được sư Chí Công. |
192
. Ở lâu Hàn Sơn đã mấy thu,
Riêng
ngâm khúc ca bặt u sầu.
Đói
ăn một viên thuốc già đà,
Tâm
địa điều hòa nương gò đá.
193
. Các sao la liệt đêm khuya sáng,
Ngọn
đuốc điểm núi trăng chưa chìm.
Ánh
sáng tròn đầy chẳng do tạo,
Treo
tại trời sanh là tâm ta.
194
. Già bệnh năm tàn một trăm hơn,
Mặt
vàng đầu bạc thích ở núi.
Áo
vải che thân tùy duyên qua,
Đâu
thích người đời khuôn mẫu khéo.
195
. Suy tàn lều tranh hoang,
Trong
ấy đầy lửa khói.
Xin
hỏi bọn trẻ nhỏ,
Sanh
ra đã mấy ngày?
Ngoài
cửa có ba xe,
Đón
chờ chẳng chịu ra.
Tham
ăn bụng phình to,
Kẻ
này thật ngu si.
196
. Có thân cùng không thân,
Là
ngã chẳng phải ngã.
Suy
xét kỹ như thế,
Dời
đến nương núi ngồi.
Dưới
chân cỏ xanh mọc,
Trên
đầu bụi hồng rơi.
Đã
thấy người trong tục,
Giường
linh bày tiệc rượu.
197
. Hôm qua thấy cây (bên) sông,
Tồi
tàn hết chỗ nói.
Hai
ba hoa rêu bám,
Ngàn
muôn vết búa rìu.
Sương
lột lá héo sạch,
Sương
dập gốc khô mục.
Chỗ
sống đang như thế,
Đâu
cần oán trời đất.
198
. Trên đá ngàn năm dấu người xưa,
Trước
núi muôn thước một điểm không.
Trăng
tròn chiếu sáng thường trong vắt,
Chẳng
nhọc tìm xét hỏi tây đông.
199
. Thương thay bệnh chúng sanh,
Ăn
nếm mãi chẳng chán,
Hầm
thịt tương tỏi xông,
Nướng
quay chấm muối ớt.
Lóc
xương thái thịt nhỏ,
Luộc
da, thịt gò má,
Chẳng
biết mạng chúng khổ,
Chỉ
giữ nhà mình ngon.
200
. Đọc sách há khỏi chết,
Đọc
thư sao hết nghèo.
Vì
sao thích biết chữ,
Biết
chữ để hơn người.
Trượng
phu chẳng biết chữ,
An
thân ở chỗ nào?
Hoàng
liên hòa tương tỏi,
Quên
tính là cay đắng.
201
. Ta thấy kẻ khinh người,
Như
sọt múc đầy nước.
Một
hơi chạy về nhà,
Trong
sọt chẳng còn gì.
Ta
thấy người bị khinh,
Giống
tợ hẹ trong vườn.
Mỗi
ngày bị dao cắt,
Trời
sanh lá mọc thêm.
202
. Trên đảnh Hàn Sơn một vầng trăng,
Chiếu
cảnh trời không một vật không.
Rất
quý thiên nhiên báu vô giá,
Vùi
tại ngũ ấm chìm thân phàm.
203
. Ta đến trước khe soi dòng xanh,
Hoặc
tới bên núi ngồi bàn đá.
Tâm
tợ áng mây không chỗ nương,
Việc
đời lăng xăng cần tìm gì?
204
. Nhà ta vốn ở tại Hàn Sơn,
Dừng
nghỉ núi đá lìa phiền duyên.
Buông
hết vạn tượng không dấu vết.
Thư
thả bao trùm khắp Đại Thiên.
Ánh
sáng rực rỡ chiếu tâm địa,
Không
có một pháp đang hiện tiền.
Mới
biết một viên châu ma ni,
Biết
dùng vô cùng mỗi nơi tròn.
205
. Người đời việc gì đáng thở than,
Khổ
vui nung nấu không bờ mé.
Sanh
tử lại qua bao nhiêu kiếp?
Đông
tây nam bắc là nhà ai?
Trương,
Vương, Lý,Triệu tạm là họ,
Sáu
đạo ba đường việc tợ (cây) gai.
Chỉ
vì chủ nhơn chẳng thấu suốt,
Bèn
chịu sanh diệt vào đường tà.
206
. Nhà ta vốn ở tại Thiên Thai,
Đường
mây khói sâu không khách đến.
Núi
hiểm ngàn thước sâu đáng ẩn,
Hang
khe muôn lớp đá lâu đài.
Khăn
hoa guốc gỗ bước ven dòng,
Áo
vải gậy lê quanh núi về.
Tự
biết cuộc đời việc huyễn hóa,
Tiêu
diêu khoái lạc thật sướng thay!
207
. Thấy chăng sương sớm đọng,
Nắng
soi tự tiêu trừ,
Thân
người cũng như thế,
Diêm
phù ở tạm thôi.
Thận
trọng chớ qua suông,
Hãy
khiến trừ ba độc.
Bồ
Đề tức phiền não,
Quét
sạch không còn thừa.
208
. Mặt nước lặng trong suốt,
Tự
nhiên thấy tận đáy.
Trong
tâm không một vật,
Muôn
cảnh chẳng thể chuyển.
Tâm
đã không khởi vọng,
Vĩnh
kiếp không biến đổi.
Nếu
hay biết như thế,
Biết
này không trước sau.
209
. Nói ăn trọn chẳng no,
Nói
mặc không hết lạnh.
Ăn
no phải là cơm,
Mặc
áo mới khỏi lạnh.
Chẳng
biết suy nghĩ kỹ,
Chỉ
nói cầu Phật khó.
Xoay
tâm lại là Phật,
Chớ
hướng tìm bên ngoài.
210
. Đáng sợ khổ luân hồi,
Qua
lại như bụi bay,
Kiến
lòng vòng không dứt,
Sáu
đường loạn lăng xăng.
Thay
đầu đổi mặt mũi,
Chẳng
lìa người xưa nay,
Chóng
rõ ngục đen tối,
Chớ
khiến tâm tánh mờ.
211
. Đáng sợ vòng tam giới,
Niệm
niệm chưa từng thôi,
Vừa
mới được trồi đầu,
Lại
bị chìm xuống sâu.
Giả
sử trời Phi Tưởng,
Bởi
do nhiều phước lực,
Sao
bằng biết nguồn chơn,
Sống
được là bất tử.
212
. Hôm qua lên đỉnh núi,
Nhìn
xuống vách ngàn thước.
Lâm
nguy một gốc cây,
Gió
lay tét hai cành.
Mưa
soi thành bụi trần.
Than
ôi xưa tươi tốt,
Ngày
nay thành đống bụi.
213
. Từ xưa bao nhiêu thánh,
Dặn
dò bảo tự tin.
Người
căn tánh chẳng đồng,
Cao
thấp có nhanh chậm.
Chân
Phật chẳng chịu nhận,
Gắng
sức uổng nhọc phiền.
Chẳng
biết tâm thanh tịnh,
Chính
là ấn Pháp Vương.
214
. Ta nghe núi Thiên Thai,
Trong
núi có cây quý.
Nói
mãi muốn trèo lên,
Chẳng
theo đường cầu đá.
Do
đó sanh than buồn,
May
mắn ở lòng mến.
Sống
vui tuổi về già.
Ngày
nay đối trước gương,
Tóc
trắng rũ như tơ.
215
. Nuôi con chẳng thầy dạy,
Chẳng
bằng chuột nhà trọ.
Nào
từng thấy người tốt,
Há
nghe lời trưởng giả.
Bị
nhiễm bởi hôi thơm,
Phải
cần chọn bạn lành.
Tháng
năm bán cá tươi,
Chớ
để người cười anh.
216
. Đóng cửa ngồi lều tranh,
Năm
dời tháng đổi nhanh.
Chỉ
nghe người thành quỷ,
Chẳng
thấy hạc thành tiên.
Nghĩ
đây sao đáng nói,
Theo
duyên cần thương mình.
Quay
nhìn vùng ngoại ô,
Mồ
xưa thành đồng xanh.
217
. Người đời thấy Hàn Sơn,
Đều
cho là phong điên,
Dáng
mạo không muốn nhìn,
Thân
chỉ quấn mảnh vải.
Lời
ta người chẳng hiểu,
Lời
người ta chẳng nói,
Vì
báo người tới lui,
Nên
về hướng Hàn Sơn.
218
. Tự tại mây trắng nhàn,
Xưa
nay chẳng mua núi.
Xuống
núi hiểm chống gậy,
Lên
non nguy vịn dây.
Bên
khe thường tùng xanh,
Đá
vằng tại mé suối.
Bạn
lành tuy cách trở,
Xuân
đến chim kêu vang.
219
. Ta ở tại trong thôn,
Người
tìm không nơi chỗ.
Hôm
qua đến dưới thành,
Nhưng
bị hình tướng chó.
Hoặc
chê quần quá hẹp,
Lại
trách áo thiếu dài.
Nhét
đầy mắt diều hâu,
Chim
sẻ múa rõ ràng.
220
. Sanh tử vốn có mạng,
Giàu
có vốn do trời.
Đây
là người xưa nói,
Ta
nay chẳng lầm truyền.
Thông
minh thường chết yểu,
Ngu
ngốc lại sống lâu.
Ngọc
quý ẩn đá xấu,
Kẻ
sáng suốt không tiền.
221
. Nước lấy người làm gốc,
Như
cây mọc từ đất,
Đất
dầy cây sống lâu,
Đất
mỏng cây khô héo.
Chẳng
được bày gốc kia,
Cành
khô trái rụng trước.
Ngăn
ao để bắt cá,
Là
mong một lúc lợi.
222
. Chúng sanh hết nói nổi,
Đâu
ngờ nhận điên tà,
Trên
mặt hai chim ác,
Trong
tâm ba rắn độc.
Bởi
nó làm chướng ngại,
Khiến
anh việc rối bời,
Dơ
cao tay khảy nhẹ,
Nam
mô Phật Đà Da.
223
. Tự vui đạo bình sanh,
Khói
cuộn trong hang đá.
Tình
quê thật mênh mông,
Bạn
thân mảnh mây nhàn.
Có
đường chẳng thông đời,
Không
tâm ai nắm bắt?
Giường
đá đêm riêng ngồi,
Trăng
tròn lên Hàn Sơn.
224
. Biển rộng nước vô biên,
Cá
rồng muôn vạn thiên,
Thay
đổi ăn nuốt nhau,
Lăng
xăng mê miếng thịt.
Vì
tâm chẳng thông suốt,
Vọng
tưởng khởi như mây,
Trăng
bổn tánh lặng sáng,
Rỗng
rang chiếu vô biên.
225
. Ta thấy đỉnh Thiên Thai,
Riêng
cao hơn các núi.
Gió
đọng tùng trúc kêu,
Sóng
biển nhồi bóng trăng.
Nhìn
xuống triền núi xanh,
Bàn
huyền có trăng sáng.
Tình
quê là núi nước,
Bổn
chí mến nếp đạo.
226
. Vài kẻ hậu sanh ngu,
Làm
việc chẳng chân thật,
Chưa
đọc mười quyển sách,
Gượng
cầm bút sửa bừa.
Đem
thiên hạnh nho kia,
Gọi
là luật trộm cướp,
Hết
thảy tợ con mọt,
Cắn
rách quyển sách kia.
227
. Tâm cao như núi Nhạc,
Nhơn
ngã chẳng phục người.
Giảng
giải sách Di Đà,
Hay
bàn văn tam giáo.
Trong
tâm không hổ thẹn,
Phá
giới trái luật răn,
Tự
nói pháp thượng nhơn,
Xưng
ta là số một.
Người
ngu đều khen ngợi,
Người
trí vỗ tay cười.
Sóng
nắng, hoa hư không,
Há
được thoát sanh tử?
Sao
bằng trăm chẳng hiểu,
Ngồi
lặng dứt ưu phiền.
228
. Của quý nhiều như thế,
Chèo
thuyền mục vào biển.
Phía
trước không cột buồm,
Phần
sau không bến lái.
Quay
cuồng mặc gió thổi,
Ngã
nghiêng theo sóng nhồi.
Làm
sao được đến bờ?
Nổ
lực chớ ngồi yên.
229
. Ta thấy người phàm ngu,
Chứa
nhiều thóc tiền của,
Uống
rượu ăn mạng sống,
Khoe
rằng ta giàu sang.
Chẳng
biết địa ngục sâu,
Chỉ
cầu phước trên Trời,
Tội
nghiệp như Tỳ Phú (4),
Há
được thoát tai độc?
Tài
chủ bỗng nhiên chết,
Tranh
nhau dụm đầu khóc.
Cúng
Tăng đọc sớ văn,
Lộc
quỷ thần trống rỗng.
Ruộng
phước một chút không,
Dối
bày một bầy ngốc.
Sao
bằng sớm giác ngộ,
Chẳng
tạo ngục đen tối.
Gió
cuồng chẳng động cây,
Chơn
tâm không tội phước.
Nhắn
nhủ người ngơ ngáo,
Nhắc
nhở thường xuyên đọc.
230
. Khuyên anh còn tam giới, < |