THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả
 .....................................................
Thơ Văn Phật Giáo.
Nhạc Phật Giáo
......................................................

 
c
THƠ HÀN SƠN VÀ THẬP ĐẮC
Trang 00
Trang 01.
Trang 02
Trang 03
THƠ HÀN SƠN THẬP ĐẮC 
Người dịch: Thiền sinh Trúc Lâm 

TỰA 

Nói về Hàn Sơn Tử, chẳng biết người ở đâu, từ xa xưa đã thấy Ngài, đều gọi là Bần Nhơn, kẻ sĩ điên cuồng. Ở ẩn núi Thiên Thai, cách huyện Đường Hưng bảy mươi dặm về phía tây, gọi là Hàn Nham. Ngài thường ở đất này, hay về chùa Quốc Thanh. 

Trong chùa có Thập Đắc, coi sóc việc hành đường, bình thường thu nhặt cặn bã rau thừa bỏ trong ống tre, nếu Hàn Sơn đến, vác lên vai mà đi. Hoặc đi thong thả dưới hành lang, kêu la, reo hò, mắng người, hoặc nhìn trời tự cười. Bấy giờ Tăng đuổi bắt, mắng chửi, đánh đuổi, Ngài đứng lại vỗ tay cười lớn ha ha, giây lát rồi bỏ đi. Lại dáng vẻ giống như kẻ nghèo cùng, hình tướng khô héo. Mỗi lời nói ra, ý nghĩa hợp với đạo, thầm suy nghĩ có lý; hoặc xướng nơi tình đạo, hoặc đi nơi hành lang ca vịnh: “Ôi chao! Ôi chao! Luân hồi trong tam giới.” Hoặc nơi thôn xóm, làm mục đồng chăn trâu múa may ca cười hoặc thuận hoặc nghịch, tự vui với tánh mình. Chẳng phải bậc thông suốt, đâu thể hiểu Ngài? 

Thường những lời nói ra, thông suốt bao hàm ý sâu kín. Ngài dùng da cây hoa làm nón, mặc áo vải thô rách nát, chân đi guốc gỗ, thế nên Chí Nhơn ẩn dấu vết, đồng loại để giáo hóa muôn vật. 

Dận Khoảnh nhậm chức đi làm quan ở Đơn Khâu, ngày sắp lên đường, đầu liền đau choáng váng, bèn dời lại ngày sau để điều trị. Bệnh càng lúc càng nặng, liền gặp một Thiền Sư tên là Phong Can, nói là từ chùa Quốc Thanh, núi Thiên Thai, riêng đến để hỏi thăm nhau. Dận Khoảnh cầu xin trị bệnh, Sư bèn dung nghi thong thả mỉm cười và nói rằng: 

- Thân thuộc bốn đại, bệnh từ huyễn sanh, nếu muốn trừ bệnh, phải có nước sạch. 

Bấy giờ Dận lấy nước sạch dâng lên Sư. Sư liền ngậm nước phun vào mình quan, chốc lát trở lại bình phục, liền bảo Dận rằng: 

- Bãi biển Đài Châu khí độc, ngày mai lên đường cần phải giữ gìn! 

Dận liền hỏi rằng: 

- Chưa biết nơi đó sẽ có Hiền sĩ nào đáng thờ làm thầy? 

Sư đáp: 

- Thấy đó mà chẳng biết, biết đó thì không chấp, nếu muốn gặp thì chẳng được chấp tướng liền có thể gặp Ngài. Hàn Sơn là Văn Thù ẩn tích trong chùa Quốc Thanh. Thập Đắc là Phổ Hiền, hình dáng như nghèo cùng, lại giống kẻ điên cuồng, hoặc đi hoặc lại, làm kẻ phục dịch trong kho chùa Quốc Thanh, đốt lò trong nhà bếp. 

Nói xong liền đi. 

Dận liền lên đường, đến nhậm chức ở Đài Châu, chẳng quên việc đó. Sau ba hôm nhậm chức, đích thân qua tự viện, tìm hỏi các bậc Thiền Đức, quả đúng với lời Sư, liền sai khám xét huyện Đường Hưng xem có Hàn Sơn, Thập Đắc chăng? Bấy giờ người trong huyện nói rằng: tại khu vực của huyện, cách bảy mươi dặm về phía tây, có một núi, trong núi lâu đời, thấy có Bần Sĩ, thường về chùa Quốc Thanh, nghỉ ở trong nhà kho chùa; có một hành giả, tên là Thập Đắc. Dận liền riêng đến lễ bái. Đến chùa Quốc Thanh bèn hỏi chúng tăng rằng: 

- Chùa này ngày trước có phòng của Thiền Sư Phong Can nay ở đâu? Và Thập Đắc, Hàn Sơn hiện ở chỗ nào?” 

Bấy giờ tăng Đạo Kiển đáp rằng: 

- Phòng Thiền Sư Phong Can ở phía sau kho chứa kinh, hiện nay không có người ở được, thường có một con cọp luôn đến rống ở đây. Hai người Hàn Sơn, Thập Đắc hiện ở trong nhà bếp. 

Tăng hướng dẫn Dận đến phòng của Thiền Sư Phong Can, rồi mở cửa phòng, chỉ thấy dấu chân cọp, bèn hỏi tăng Bảo Đức và Thiền Sư Đạo Kiển rằng: 

- Thiền Sư ngày thường làm hạnh nghiệp gì? 

Tăng đáp: 

- Phong Can ngày thường chỉ giả gạo cúng dường đại chúng, đêm đến hát ca tự vui. 

Dận đến trong nhà bếp, thấy hai người hướng vào lửa cười lớn, Dận liền lễ bái, hai người hét liên tục “Dận”, tự nắm tay nhau, cười hớn ha hả, kêu réo vang trời, liền nói rằng: 

- Phong Can nhiều lời, Di Đà nhiều lời chẳng biết, lễ ta làm gì? 

Tăng chúng chạy xôn xao nhóm lại, nhìn nhau lấy làm kinh lạ. Vì sao tôn quan lạy hai kẻ bần cùng? 

Bấy giờ hai người nắm tay nhau chạy ra khỏi chùa, Dận liền sai người đuổi theo. Hai người chạy nhanh về hang Hàn Sơn. 

Dận liền hỏi Tăng rằng: 

- Hai người ấy chịu ở chùa này chăng? 

Ngài sai hỏi tìm, mời về chùa ở yên. Dận trở về quận, liền cho may hai cái áo sạch bằng nhau, hương, thuốc, … mang đến dâng cúng dường. 

Bấy giờ hai người không chịu trở về chùa, sứ liền đến núi, dâng phẩm vật lên liền thấy. Hàn Sơn Tử liền to tiếng hét rằng: 

- Giặc! Giặc! 

Rồi lui mình vào hang núi. Bèn nói rằng: 

- Báo rõ các người, mỗi mỗi phải nổ lực! 

Nói xong vào hang rồi đi. Hang kia tự đóng lại, chẳng thể đuổi theo. Thu nhặt được những di tích rơi rớt của các Ngài, không có chỗ cố định. 

Đạo Kiển và những người khác thuật lại đầy đủ hành trạng những ngày khi Ngài còn sống, chỉ thấy ghi thơ kệ ở bụi trúc, vách đá, và trên vách ghế quan tòa trong thôn xóm, thơ kệ được sáng tác có hơn ba trăm bài; và Thập Đắc viết thơ kệ trên vách miếu thờ thần thổ địa, cùng góp chung biên tập thành một quyển. Dận từ đó để tâm vào lý Phật, may mắn gặp được Đạo Nhơn, bèn làm bài tụng khen ngợi rằng: 
 

Bồ Tát ẩn dấu, 
Thị hiện nghèo cùng. 
Riêng ở Hàn Sơn, 
Tự vui tánh mình. 
Dáng khô hình gầy, 
Áo vải rách nát. 
Mở lời thành chương, 
Gọi là kẻ điên. 
Thường đến Thiên Thai, 
Vào chùa Quốc Thanh. 
Thả bộ hành lang, 
Vỗ tay ha hả. 
Hoặc đi hoặc đứng. 
Tự nói lầm thầm. 
Chỗ ăn nhà bếp, 
Cơm thừa canh cặn. 
Ngâm kệ buồn thảm, 
Tăng tục quát đánh. 
Đều chẳng dao động, 
Người đời tự thẹn. 
Tác dụng tự tại, 
Phàm ngu khó lường. 
Nói ra một lời, 
Chóng trừ trần lụy. 
Cho nên Quốc Thanh, 
Họa vẽ hình Ngài. 
Vĩnh kiếp cúng dường, 
Mãi làm đệ tử. 
Xưa ở Hàn Sơn, 
Thường đến đất này, 
Đảnh lễ Văn Thù, 
Bậc sĩ Hàn Sơn. 
Nam Mô Phổ Hiền, 
Chính là Thập Đắc. 
Tỏ bày khen ngợi, 
Nguyện thoát sanh tử. 

HÀN SƠN TỬ 

Hàn Sơn Tử, đời gọi là “gã bần”, hay là “kẻ sĩ ngông cuồng”, chẳng thể thường suy lường Ngài được. 

Ngài ở núi Thiên Thai, cách phía tây huyện Thủy Phong khoảng 70 dặm; gọi là “Hàn Ám Nhị Nham” (tức là Hàn Nham và Ám Nham). Ngài thường ở trong hang sâu nơi Hàn Nham, lấy đó làm chỗ ở nhất định. Về sau, tại chùa Quốc Thanh, có Thập Đắc. Tăng trong chùa sai Ngài trông coi thực đường (trai đường), hàng ngày thường thu nhặt thức ăn thừa, cặn bã của chúng tăng, cắt một cây tre lớn làm ống, rồi chứa thức ăn vào trong đó, nếu khi Hàn Sơn đến, liền vác lên vai mà đi. 

Hoặc có khi đi thong thả dưới hành lang, hoặc có lúc huýt sáo, la lối làm xúc phạm người, hoặc ngữa mặt lên hư không mà mắng, tăng trong chùa không chịu nổi, dùng gậy xua đuổi. Ngài lộn nhào người, vỗ tay cười ha ha, thong thả bước lui. Nhưng mà Ngài chỉ mặc áo cánh bằng vải rách rưới, dáng vẻ gầy gò, dùng vỏ cây hoa làm mũ để đội, mang guốc bằng gỗ to. Hoặc có nói ra lời gì rất có ý nghĩa, trở về lý Phật (đều có đạo lý). Lúc đầu Lư Khâu (tức Lư Khâu Vận là quan Thái Thú ở Thâu Châu), vào chùa tìm hỏi Hàn Sơn. Sa môn Đạo Kiển đáp rằng: 

- Đây là người điên cuồng, vốn ở Hàn Nham, thích ngâm thơ kệ, nói năng bất thường, hoặc lành hoặc dữ, không thể biết được. Cùng với hành giả (người làm công quả) Thập Đắc ở trong chùa này kết bạn. Tụ nhau nói chuyện, không thể hiểu rõ được. Tăng trong chùa thấy quan Thái Thú lễ bái hai người, bèn giật mình, nói: "Đại quan sao lại lễ kẻ điên ư?". 

Hai người kéo tay nhau cười cợt rồi đi ra khỏi chùa. Lư Khâu sau đó lại sang Hàn Nham tìm hỏi thăm, cùng đem theo quần áo thuốc men đến, Ngài lớn tiếng nói to: 

- Giặc ngã giặc lui (1) 

Liền rút thân vào kẽ hang đá, lại nói: 

- Bảo với các ngươi, mỗi người đều phải nỗ lực. 

Hang đá liền khép lại, bặt không dấu vết. Lư Khâu bèn bảo tăng Đạo Kiển tìm lại những di vật của Ngài. Chỉ có ở trong khoảng rừng, những lá cây kết lại, viết những lời thơ kệ, trong đó cùng với tại các tường vách nơi nhà dân ở trong thôn xóm; sau chép được hơn ba trăm bài, biên góp lại thành một tập, người đời thường hay đọc tụng. Sau đó, Thiền Sư Tịch ở Tào Sơn chú giải, gọi đó là “Đáp thơ Hàn Sơn Tử”. Do Ngài vốn không có dòng họ, nên người ở xứ Việt chỉ gọi Ngài là Hàn Sơn Tử. 

Đến như có câu: “Bên sân có những gì, mây trắng ôm núi đá.” Lời thơ sáng sủa cao đẹp. Nay ở dưới gộp đá có một tảng đá đứng sừng sững gọi là “U Thạch”. 

(Trích trong “Tống Cao Tăng truyện”) 

(1) Giặc ngã: Làm hại ta (tức làm lộ tung tích Ngài là Bồ Tát). Làm hại ta, làm giặc ta, tức là làm cho ta trở thành kẻ giặc. Vì Bồ Tát hiện ở đời độ sanh không để cho người biết; nếu để lộ thì dễ làm tăng sự sùng mộ mù quáng của người. Nên khi bị lộ thì Ngài coi đó là giặc, sống ở đời không còn ích gì cho người, nên nói “Giặc lui”, tức Ngài liền ẩn mình.

THƠ HÀN SƠN 

1. Ta chọn ở núi rừng, 
Đường chim bặt dấu người. 
Trước sân có những gì?
Mây trắng ôm núi đá. 
Ở đây gồm bao năm, 
Thường thấy xuân đông đổi. 
Nhắn nhủ khách lợi danh, 
Tên rỗng có ích gì? 

2. Người đời đọc thơ ta, 
Trong tâm cần giữ tịnh, 
Keo tham ngày kế mõng, 
Dua nịnh ngay đó chánh. 
Đuổi trừ hết nghiệp ác, 
Quy y nơi chân tánh, 
Ngày nay được thân Phật, 
Hãy mau theo luật răn. 

3. Nực cười đường Hàn Sơn, 
Không có dấu xe ngựa. 
Khe liền khó nhớ khúc, 
Núi chồng chẳng biết lớp 
Sương đọng ngàn đầu cỏ, 
Gió ngâm một dáng tùng. 
Lúc này quên đường tắc, 
Hình hỏi bóng về đâu? 

4. Muốn được chỗ an thân, 
Hàn Sơn giữ gìn lâu. 
Gió nhẹ thổi tùng dày, 
Gần nghe tiếng càng hay. 
Dưới núi người áo vá, 
Lầm thầm tụng kinh Phật. 
Mười năm về chẳng được, 
Quên mất đường đã qua. 

5. Tâm ta tợ trăng thu, 
Đầm xanh nước trong vắt. 
Không vật có thể sánh, 
Bảo ta nói thế nào? 

6. Trong núi sao quá lạnh, 
Rét buốt hơn mọi năm. 
Đỉnh núi tuyết đóng mãi, 
Rừng sâu khói thường cuộn. 
Mùa hạ cỏ xanh tươi, 
Tiết thu lá vàng rụng. 
Đây có khách trầm mê, 
Nhìn mãi chẳng thấy trời. 

7. Gái mày ngài trong thành, 
Đeo châu khua vang tai. 
Oanh vũ đùa trước hoa, 
Tỳ Bà đàn dưới trăng. 
Ca mãi âm mùa xuân, 
Múa vũ vạn người xem. 
Chẳng thể mãi như thế, 
Phù dung chẳng chịu lạnh. 

8. Chàng trai tài cởi ngựa, 
Vun roi chỉ dương liễu. 
Nói rằng không ngày chết, 
Trọn chẳng làm thang, thuyền. 
Bốn mùa hoa tươi đẹp, 
Một mai thành héo vàng. 
Phô mai cùng đường phèn, 
Đến chết chưa từng nếm. 

9. Muốn đi về vách đông, 
Đến nay biết bao năm. 
Hôm qua vịn dây leo, 
Giữa đường bị mây phủ. 
Đường hẹp khó tiến lên, 
Rêu bám giày khó bước. 
Mặc tình dưới gốc quế, 
Gối đầu mây trắng ngủ.

10 . Trước núi riêng tĩnh tọa, 
Trăng tròn đang sáng ngời.
Muôn vật bóng trong ấy, 
Một vầng vốn không soi. 
Rỗng rang thần tự trong, 
Trùm khắp rỗng mầu nhiệm, 
Nương tay thấy trăng kia, 
Trăng là tâm quan yếu. 

11 . Nhà ta khéo ẩn giấu, 
Chỗ ở không ồn ào. 
Đạp cỏ thành ba lối, 
Nhìn mây thành bốn thôn. 
Trợ ca có tiếng chim, 
Hỏi pháp người không lời. 
Ngày nay cây sa bà, 
Bao năm là một xuân? 

12 . Đàn, sách phải tự theo, 
Tước lộc dùng làm gì? 
Vào xe theo vợ hiền, 
Trong xe có con hiếu. 
Gió thổi bày đất lúa, 
Nước tràn vào ao cá. 
Thường nhớ con chim ri, 
Đậu yên trên một cành. 

13 . Anh em cùng năm quận, 
Cha con vốn ba châu. 
Muốn nghiệm bầy le hợp, 
Cần rõ thỏ trắng chạy. 
Bầu linh trong mộng nhận, 
Trong tòa thần quít thu. 
Cố hương sao xa xôi, 
Như cá nương dòng nước. 

14 . Một lần làm khách văn võ, 
Ba phen gặp vua anh minh. 
Giữ đông không thưởng quan văn, 
Đánh tây không khen quan võ. 
Học văn cùng học võ, 
Học võ cùng học văn. 
Ngày nay đã già rồi, 
Sống thừa chẳng đáng nói. 

15 . Trang Tử nói đám ma, 
Trời đất là quan tài. 
Ta có lúc về đây, 
Chỉ cần một tấm bạc. 
Chết đem nuôi ruồi xanh, 
Điếu chẳng cần hạc trắng. 
Đói đến núi Thủ Dương, (Bá Di, Thúc Tề chết đói tại núi này) 
Sống sạch chết cũng vui. 

16 . Người hỏi đường Hàn Sơn, 
Đường Hàn Sơn chẳng thông. 
Mùa hạ băng không tan, 
Ba ngày mây lờ mờ. 
Giống ta từ đâu đến? 
Cùng tâm anh chẳng đồng. 
Tâm anh nếu giống ta, 
Lại được đến trong ấy. 

17 . Trời sanh cây trăm thước, 
Cắt làm một khúc dài. 
Đáng tiếc tài rường cột, 
Quăng bỏ trong hang tối. 
Nhiều năm lỗi còn chắc, 
Lâu ngày da mục sạch. 
Người trí vác đem về, 
Còn chống được chuồng ngựa. 

18 . Đuổi ngựa qua thành hoang, 
Thành hoang động tình khách. 
Tường thành xưa cao thấp, 
Mồ mã hoang lớn nhỏ. 
Bóng cỏ (bồng) tự bay lên, 
Vang vọng tiếng người chết. 
Thở than đều xương tục, 
Sách tiên không ghi tên. 

19 . Oanh vũ nhà phía tây, 
Ngu La bắt đem về. 
Người đẹp sớm chiều đùa, 
Ra vào tại nhà mình. 
Ban cho lồng vàng nuôi, 
Lồng hẹp tổn cánh lông. 
Sao bằng loài ngỗng trời, 
Bồng bềnh vào mây trắng. 

20 . Nhà ngọc rũ rèm châu, 
Trong có thiếu nữ đẹp.
Dáng mạo hơn thần tiên, 
Hồng hào như đào lý. 
Nhà đông hợp sương xuân, 
Nhà tây nổi gió thu. 
Đã qua tuổi ba mươi, 
Lại thành bã xác mía.

21 . Cha mẹ nhiều kinh doanh, 
Ruộng vườn kia chẳng dư. 
Vợ dệt tơ kẻo kẹt, 
Con đùa miệng oa oa. 
Chống má nghe chim ca. 
Ngày sau ai khen ngợi, 
Tiều khách thường đi qua. 

22 . Nhà ở ven dưới núi, 
Trước sân cỏ không cắt, 
Dây leo quấn chằng chịt, 
Đá xưa dựng cao vót. 
Quả núi khỉ vượn hái, 
Cá ao cò trắng ngậm, 
Sách tiên một hai quyển, 
Dưới cây đọc thì thào. 

23 . Bốn mùa không dừng lại. 
Năm đi rồi năm đến. 
Muôn vật thường đổi thay, 
Trời cao không hoại diệt. 
Trời mọc rồi trời lặn, 
Hoa nở rồi hoa tàn. 
Chỉ có khách suối vàng, 
Lặng lẽ đi chẳng về. 

24 . Năm đi đổi năm sầu, 
Xuân mới sắc vật tươi. 
Hoa núi cười nước xanh, 
Cây rừng múa khói biếc. 
Ong bướm tự nói vui, 
Chim cá lại rất thích. 
Tình bạn chơi chưa nguôi, 
Đến sáng không thể ngủ. 

25 . Xử sự rất ngang tàng, 
Chiếc thân quá nặng nề. 
Sống là thân có hạn, 
Chết làm quỷ vô danh. 
Từ xưa nhiều như thế, 
Anh nay tính thế nào? 
Nên đến trong mây trắng, 
Dạy anh ca linh chi. 

26 . Bèn tự ở Hàn Sơn, 
Đã qua bao vạn năm. 
Mặc tình ẩn suối rừng, 
Dừng lâu thấy tự tại. 
Trong núi người chẳng đến, 
Mây trắng thường mịt mù. 
Cỏ mịn làm nệm nằm, 
Trời xanh làm chăn đắp. 
Vui sống dựa đầu đá, 
Trời đất mặc đổi thay. 

27 . Có đạo sĩ tu tiên, 
Chỗ ở kỵ người đến. 
Khí hậu thật mát mẽ, 
Mùa hạ cũng như thu. 
Khe tối thường chảy mãi, 
Tùng cao gió xạc xào. 
Trong ấy ngồi nửa ngày, 
Quên hẳn sầu trăm năm. 

28 . Nhà thiếp ở Hàm Đan, 
Giọng ca thật trầm bổng. 
Nhờ ta ở an ổn, 
Khúc ấy dài xưa nay. 
Đã say chớ bảo về, 
Quyến luyến chưa hết ngày. 
Nhà em chỗ ngơi nghỉ, 
Chăn thêu đầy giường bạc. 

29 . Chèo nhanh thuyền ba lá, 
Khéo cỡi ngựa ngàn dặm. 
Không thể đến nhà ta, 
Bảo rằng quá hoang vắng. 
Hang động sâu trong núi, 
Sấm vang trọn cả ngày. 
Nếu chẳng phải Khổng Khâu, 
Không thể đến với nhau. 

30 . Người trí, anh bỏ ta, 
Người ngu, ta bỏ anh. 
Không ngu cũng chẳng trí, 
Từ đây nghe tiếp nhau. 
Vào đêm ca (với) trăng sáng, 
Bình minh múa (cùng) mây trắng. 
Đâu thể dừng tay miệng, 
Ngồi thẳng tóc phất phơ.

31 . Người quê ở nhà tranh, 
Trước cửa xe ngựa ít. 
Rừng sâu chim tụ họp, 
Khe rộng chứa nhiều cá. 
Dắt trẻ hái quả núi, 
Cùng vợ bừa ruộng cao, 
Trong nhà có những gì? 
Chỉ có sách đầy giường. 

32 . Đi lên đường Hàn Sơn, 
Đường Hàn Sơn chẳng cùng. 
Suối dài đá chồng chất, 
Khe rộng cỏ chen nhau. 
Rêu trơn chẳng ngại mưa, 
Tùng kêu chẳng nhờ gió. 
Người nào thoát khổ lụy, 
Cùng ngồi trong mây trắng. 

33 . Lục cực (2) trẻ thường bệnh, 
Chín châu luống tự bàn. 
Có tài bỏ hoang vắng, 
Không nghề nhàn lều tranh. 
Trời lên hang còn tối, 
Mây tan động còn mờ. 
Trong ấy con trưởng giả, 
Mỗi đứa không quần mặc. 

34 . Mây trắng cao chót vót, 
Sóng nổi đầm nước xanh. 
Lúc này nghe ngư phủ, 
Luôn luôn vỗ chèo ca. 
Mỗi tiếng chẳng thể nghe, 
Nay ta nhiều lo sầu. 
Ai bảo (chim) sẻ không sừng,
Làm sao xuyên mái nhà. 

35 . Đường Hàn Sơn tối tăm, 
Bến khe lạnh vắng vẻ. 
Tiếng chim vang lảnh lót, 
Lặng lẽ không một người. 
Gió thổi mặt vùn vụt, 
Phất phới tuyết đầy thân. 
Mỗi sáng chẳng thấy trời, 
Năm năm chẳng biết xuân. 

36 . Tuổi trẻ sầu những gì? 
Sầu thấy râu tóc bạc. 
Tóc bạc sầu những gì? 
Sầu thấy ngày rút ngắn. 
Dời đến ở Thái Sơn, 
Đày giữ nhà nghĩa địa. 
Sao nhẫn nói lời này, 
Lời này đau khách già. 

37 . Nghe nói sầu khó bỏ, 
Bảo lời này chẳng đúng . 
Sáng qua vừa đuổi sạch, 
Ngày nay lại trói thân. 
Tháng hết sầu còn mãi, 
Năm mới sầu lại thêm. 
Ai biết dưới chiếc nón, 
Vốn là người sầu xưa. 

38 . Hai rùa nương xe trâu, 
Vượt lên đầu đường đùa. 
Bò cạp bên cạnh đến, 
Kêu cứu muốn nương nhờ. 
Chẳng chở tình lầm lỡ, 
Vừa chở bị trầm lụy. 
Nháy mắt chưa nói gì, 
Ra ân lại bị đâm. 

39 . Mùa xuân tầm còn nhỏ, 
Người nữ đi hái hoa. 
Đùa bướm nơi góc tường, 
Quăng ểnh ương xuống nước. 
Tay áo đầy trái mơ, 
Thoa vàng khều măng non. 
Bàn luận tranh sắc vật, 
Đất này hơn nhà tôi. 

40 . Bà già nhà phía đông, 
Giàu sang khoảng ba năm. 
Ngày xưa nghèo hơn ta, 
Nay cười ta không tiền. 
Bà cười ta về sau, 
Ta cười bà ngày trước. 
Cười nhau nếu không dừng, 
Bên đông rồi bên tây. 
(2) Sáu hiện tượng hoặc quá nóng, quá lạnh … khiến trẻ phải bệnh.

41 . Giàu sang nhiều phiền nhọc, 
Gặp việc khó vâng theo. 
Gạo trắng đã đổi hồng, 
Một lít chẳng cho vay. 
Hỏi vặn tra xét mãi, 
Mua tơ chọn lụa trước. 
Nếu đến ngày lâm chung, 
Khách điếu có ruồi xanh. 

42 . Tôi xưa từng thấy kẻ thông minh, 
Thông suốt tài ba chẳng ai sánh. 
Thi đậu tiếng khen rền đất trời, 
Thơ cú ngũ ngôn vượt quần chúng. 
Làm quan trị nước siêu tiền bối, 
Lại bảo người sau khó noi theo. 
Bỗng nhiên giàu có tham tài sắc, 
Ngói bể băng tan không lời bày. 

43 . Hạc trắng ngậm hoa đắng, 
Một hơi bay ngàn dặm. 
Muốn qua núi Bồng Lai, 
Đến đây lương thực nhiều. 
Chưa đến lông gẫy rụng, 
Lìa bầy lòng nhớ thương. 
Bay về tổ xưa cũ, 
Vợ con chẳng biết nhau. 

44 . Quen ở nơi xa vắng, 
Chợt về chùa Quốc Thanh. 
Thường hỏi lão Phong Can, 
Nhưng đến gặp Thập Đắc. 
Riêng về trên Hàn Nham, 
Không người nói hợp lòng. 
Tầm cứu không nguồn nước, 
Nguồn cùng nước không cùng. 

45 . Đời trước quá ngu si, 
Chẳng phải ngộ hôm nay. 
Hiện tại nghèo như thế, 
Đều do đời trước làm. 
Đời nay nếu chẳng tu, 
Đời sau hoàn như cũ. 
Hai bờ đều không thuyền, 
Xa xôi nên khó qua. 

46 . Rực rỡ gái họ Lư, 
Xưa nay tên chẳng sầu. 
Thích cỡi ngựa hái hoa, 
Vui chèo thuyền cắt sen. 
Quỳ trên chiếu thêu gấu, 
Thân mặc áo phụng xanh. 
Nhớ sầu sau trăm năm, 
Cũng phải về nghĩa trang. 

47 . Vợ Trâu Công (ở) Để Nhãn, 
Mẹ nàng tại Hàm Đan. 
Hai người đều đã già, 
Đồng thích thiếu niên đẹp. 
Hôm qua gặp tiệc tùng, 
Áo rách bày sau lưng. 
Chỉ vì mặc quần rách, 
Ăn bánh thừa của người. 

48 . Một mình nằm hang đá, 
Mây đùn ngày chưa tan. 
Trong thất tuy tối tăm, 
Nơi lòng dứt ồn náo. 
Nằm mộng dạo lầu vàng, 
Hồn về qua cầu đá. 
Đuổi trừ kẻ phiền ta, 
Rõ ràng bầu treo cây. 

49 . Sự vật có chỗ dùng, 
Dùng nó phải thích hợp. 
Nếu dùng không đúng chỗ, 
Không lợi lại hại thêm. 
Đục tròn đẽo mộng vuông, 
Buồn thay phí công làm. 
Ngựa giỏi sai bắt chuột, 
Chẳng bằng con mèo què. 

50 . Mọi người ai chẳng chết, 
Việc chết xưa nay đồng. 
Mới thấy gã to lớn. 
Bỗng thành một đống tro. 
Suối vàng không ánh sáng, 
Cỏ xanh có lúc tươi. 
Đi đến chỗ đau lòng, 
Gió tang buồn chết người.

51 . Đánh ngựa roi san hô, 
Đuổi chạy về Lạc Dương. 
Tự thích tuổi trẻ đẹp, 
Chẳng tin có già buồn. 
Tóc bạc chắc chắn điểm, 
Hồng nhan há bền lâu? 
Hãy xem mồ nghĩa trang, 
Chính là đảo Bồng Lai. 

52 . Trọn ngày mãi như say, 
Dòng đời chẳng tạm dừng. 
Vùi dưới cỏ bồng lau, 
Sáng nay sao mờ mịt. 
Xương thịt tiêu tán hết, 
Hồn phách bao điêu linh. 
Chẳng cần cắn miệng sắt, 
Bởi do chẳng đọc kinh (kinh Lão) 

53 . Chuyên bề ngồi Hàn Sơn, 
Thầm ở ba mươi năm. 
Hôm qua hỏi bạn thân, 
Quá nửa vào suối vàng. 
Chết dần như đuốc tàn, 
Chảy mãi tợ nước sông, 
Sáng nay đối ảnh mình, 
Chẳng theo dòng lệ rơi. 

54 . Gọi nhau hái phù dung, 
Rất thích trên dòng xanh. 
Vui đùa chẳng biết chiều, 
Thường thấy gió cuồng thổi. 
Sóng bợ con uyên ương, 
Nước nhồi chim le le. 
Lúc này ngồi trên thuyền, 
Tình dâng trào không nguôi. 

55 . Liễu rũ tối như khói, 
Hoa bay như tuyết rơi. 
Chồng ở châu Lìa Vợ, 
Vợ tại huyện Nhớ Chồng. 
Mỗi người trụ một nơi, 
Khi nào được thấy nhau? 
Nhắn nhủ lầu trăng sáng, 
Chớ chứa đôi én bay. 

56 . Có rượu đãi nhau uống, 
Có thịt mời nhau ăn. 
Suối vàng người trước sau, 
Tuổi trẻ cần nổ lực. 
Quan quyền tạm thời vinh, 
Vòng vàng trang sức tạm, 
Ông Trương cùng bà Trịnh, 
Chết rồi không tin tức. 

57 . Đáng thương bậc trượng phu, 
Thân thể rất oai linh. 
Tuổi chưa tròn ba mươi, 
Tài nghệ trăm thứ khéo. 
Ngựa vàng đuổi hiệp khách, 
Cơm vua nhóm bạn lành, 
Chỉ có một thứ ác, 
Chẳng truyền đèn vô tận. 

58 . Hoa đào sắp qua hạ, 
Gió trăng thúc chẳng chờ. 
Tìm hỏi người đời Hán, 
Không thể còn một người. 
Mỗi sớm hoa héo rụng, 
Hàng năm người đổi dời. 
Ngày nay nơi đất liền, 
Khi xưa là biển lớn. 

59 . Ta thấy gái nhà đông, 
Tuổi đời khoảng mười tám, 
Nhà tây bên cạnh hỏi,
Nguyện cùng kết vợ chồng. 
Giết dê nấu mạng chúng, 
Tụ đầu hành dâm sát, 
Vui thích cười hỷ hạ, 
Tiếng khóc bị hành quyết. 

60 . Nhà nông nhiều ruộng dâu, 
Vết trâu đầy mé hiên. 
Chẳng tin có nhân quả, 
Cố chấp khi nào tỉnh. 
Mắt nhìn tiêu tán hết, 
Mỗi người tự tìm sống. 
Mặc quần ngói, khố giấy, 
Cuối cùng lạnh đói chết.

61 .Ta thấy một bầy chó, 
Mỗi con lông bù xù, 
Con nằm tự vui nằm, 
Con đứng tự vui đứng. 
Quăng cho một khúc xương, 
Tranh giành cắn sủa nhau, 
Bởi do vì xương thiếu, 
Chó phần nhiều bất bình. 

62 . Ta thấy một bầy chó, 
Mỗi con lông bù xù, 
Con nằm tự vui nằm, 
Con đứng tự vui đứng. 
Quăng cho một khúc xương, 
Tranh giành cắn sủa nhau, 
Bởi do vì xương thiếu, 
Chó phần nhiều bất bình. 

63 . Lạc Dương nhiều thiếu nữ, 
Ngày xuân khoe sắc hương. 
Cùng hái hoa bên đường, 
Cày vào trong mái tóc. 
Tóc cao hoa một vòng, 
Người thấy đều liếc nhìn. 
Riêng cầu chút tình yêu, 
Sắp về thấy phu quân. 

64 . Xuân nữ khoe nhan sắc, 
Dắt nhau về phương nam. 
Xem hoa sầu ngày tàn, 
Dưới cây ẩn sợ gió. 
Thiếu niên từ xa lại, 
Ngựa trắng (dây) hàm vàng ròng. 
Đâu cần đùa nhau lâu, 
Chồng em thấy sẽ biết. 

65 . Nhóm nữ vui bóng chiều, 
Gió thổi đầy đường thơm. 
Quần thêu bươm bướm vàng, 
Tóc cày uyên ương ngọc. 
Tiểu tỳ quần lụa hồng, 
Tớ hầu xiêm gấm tía. 
Vì thấy người mất đạo, 
Tóc bạc lòng bàng hoàng. 

66 . Nếu người gặp quỷ sứ, 
Bậc nhất chớ kinh sợ. 
Kềm cứng chớ đổi sắc(?). 
Gọi tên nó bỏ đi. 
Đốt hương thỉnh lực Phật, 
Lễ bái cầu Tăng giúp. 
Con muỗi chích trâu sắt, 
Không chỗ nó cấm mỏ. 

67 . Mênh mông nước Hoàng Hà, 
Chảy mãi về biển đông. 
Nước cuộn dòng chẳng trong, 
Mỗi người tuổi có hạn. 
Nếu muốn cỡi mây trắng, 
Đâu cần mọc cánh lông. 
Chỉ đang lúc còn khỏe, 
Đi đứng phải nổ lực. 

68 . Ngồi trên chiếc thuyền mục, 
Thái bỉ nhậm bà tử (?). 
Đi vào trong biển lớn, 
Sóng nhồi mãi chẳng dừng. 
Chỉ mang một ngày lương, 
Cách bờ ba ngàn dặm. 
Phiền não sanh từ đâu? 
Buồn thay do khổ khởi. 

69 . Im lặng mãi chẳng nói, 
Người sau biết gì theo. 
Ở ẩn tại rừng cỏ, 
Do đâu cảnh trí bày. 
Khô khan chẳng giữ lâu, 
Gió sương thành họa bệnh. 
Trâu đất cày ruộng đá, 
Ngày nào thu được lúa. 

70 . Khách núi tâm lặng lẽ, 
Thường than năm đổi dời. 
Siêng năng hái chi truật, (linh chi, bạch truật) 
Tìm tòi há thành tiên? 
Trước sân mây vừa cuộn. 
Trăng chiếu rừng sáng ngời, 
Chẳng về ở làm gì? 
Quyến luyến cùng cây quế.

71 . Có người ngồi đường núi, 
Áo mây hề mũ ráng. 
Ôm cỏ thơm muốn gởi, 
Đường dài hề khó đi. 
Tâm buồn sầu hồ nghi, 
Tuổi già không ra gì. 
Mọi người chê già suy, 
Riêng đứng hề trung trực. 

72 . Heo ăn thịt người mất, 
Người ăn ruột heo chết, 
Heo chẳng chê người hôi, 
Người lại khen heo thơm. 
Heo chết quăng trong nước, 
Người chết đào đất chôn, 
Heo người chẳng ăn nhau, 
Nước sôi sen hồng nở. 

73 . Vui thay thân hỗn tạp, 
Chẳng ăn lại chẳng tiểu. 
Gặp được ai dùi phủng, 
Do đó thành chín lỗ (cửu khiếu). 
Hàng ngày vì ăn mặc, 
Mỗi năm sầu thuế nhiều. 
Ngàn kẻ tranh một tiền, 
Dụm đầu than muốn chết. 

74 . Khóc than do việc gì? 
Lệ rơi như dòng châu, 
Lý đáng có biệt ly, 
Lại là gặp họa tang. 
Bởi vì còn nghèo cùng, 
Chưa thể rõ nhân quả. 
Giữa mồ gánh thây ma, 
Sáu đường chẳng thích ta. 

75 . Phụ nữ lười dệt vải, 
Nam nhi nhác cày ruộng. 
Buông lung mê ôm đàn, 
Ngón chân khảy dây hát. 
Lạnh xương cần áo gấp, 
No lòng trước phải ăn. 
Nay ai thông cảm anh, 
Đau khổ khóc trời xanh. 

76 . Chẳng đi đường chân chánh, 
Theo tà gọi hạnh bà. 
Miệng niệm chút Thần Phật, 
Tâm ôm nhiều tật đố. 
Sau lưng ăn cá thịt, 
Trước người niệm nam mô. 
Chỗ tu thân như thế, 
Nên khó tránh địa ngục. 

77 . Đời có một hạng ngu, 
Mờ mịt tợ như lừa, 
Lại hiểu lời nói người, 
Tham dâm tợ như heo. 
Hiểm ca (3) khó thể lường, 
Lời thật lại thành hư, 
Ai hay cùng y nói, 
Khiến cho chớ ở đây. 

78 . Có kẻ tánh ngạo mạn, 
Tên Tham tự Bất Liêm. 
Một thân không hiểu gì, 
Trăm việc bị người khi. 
Chết ghét hoàng liên đắng, 
Sống thích mật trắng ngon. 
Ăn cá vẫn chưa dừng, 
Xơi thịt lại không chán. 

79 . Chọn lựa đất ở ẩn, 
Thiên Thai hết chỗ chê. 
Vượn kêu hơi khe lạnh, 
Cỏ xanh mọc đầy hiên. 
Lá trúc che thất tùng, 
Khơi ao dẫn suối về. 
Cam chịu buông tất cả, 
Hái rau hết tuổi già. 

80 . Ích là ích tinh kia, 
Sao gọi là có ích. 
Đổi là đổi hình kia, 
Đó gọi là thay đổi. 
Hay ích lại hay đổi, 
Được ghi trên sách tiên, 
Không ích lại không đổi, 
Trọn chẳng thoát nạn chết. 
(3) Hiểm ca: Khúc ca kỳ quặc, không bình thường.

81 . Uổng công nói ba sử, 
Tự nhọc xem năm kinh. 
Đến già kiểm sổ vàng, 
Như cũ ghi thường dân. 
Bói gặp quẻ xấu tệ, 
Mạng sống (là) sao hư dối. 
Sao bằng cây bên sông, 
Mỗi năm lá thêm xanh. 

82 . Khe xanh suối nước trong, 
Hàn Sơn trăng sáng rõ, 
Thầm biết thần tự trong,
Quán không cảnh càng lặng. 

83 . Ta nay có một áo, 
Chẳng tơ cũng không lụa, 
Xin hỏi là màu gì? 
Chẳng hồng cũng không tím. 
Mùa đông làm áo ấm, 
Mùa hạ đổi thành chăn, 
Đông hạ thay đổi dùng, 
Nhiều năm chỉ thế ấy. 

84 . Phất trần cán trầm hương, 
Mùi thơm trọn ngày nồng. 
Mềm mại như khói cuộn, 
Dao động tợ mây bay. 
Trời nóng phụng sự mãi, 
Quơ cao để quét bụi. 
Thường ở trong phương trượng, 
Dùng để chỉ người mê. 

85 . Có người tham ái mong vui sướng, 
Chẳng biết họa tại thân trăm năm. 
Hãy xem sóng nắng bọt nước nổi, 
Liền biết vô thường thân rã tan. 
Ý chí trượng phu cứng như sắt, 
Trong tâm không cong đạo tự chơn. 
Mật hạnh tiết cao sương phủ trúc, 
Mới biết chẳng uổng dụng tâm thần. 

86 . Bao nhiêu bọn người hèn, 
Trăm kế cầu danh lợi. 
Tâm tham tìm vinh hoa, 
Kinh doanh mong giàu có. 
Tâm chưa từng thôi dứt, 
Cuồn cuộn như mây khói. 
Gia quyến thật sum vầy, 
Vừa hô trăm kẻ dạ. 
Chẳng quá tuổi bảy mươi, 
Băng tan ngói bể rồi. 
Đã chết muôn việc thôi, 
Người nào thừa kế tiếp. 
Nước thấm vào hòn đất, 
Mới biết quá ngu si. 

87 . Người tham thích chứa tiền, 
Giống như cú thương con. 
Con lớn ăn thịt mẹ, 
Tiền nhiều lại hại mình. 
Bố thí tức phước sanh, 
Tích lũy liền họa khởi. 
Không tiền cũng không họa, 
Vỗ cánh trong mây xanh. 

88 . Cách nhà một vạn dặm, 
Đưa kiếm giết hung nô. 
Được lợi anh liền chết, 
Mất lợi anh cũng tàn. 
Mạng anh đã chẳng tiếc, 
Thân anh có tội gì? 
Dạy anh thuật trăm thắng, 
Chẳng tham là thượng mưu. 

89 . Sân là lửa trong tâm, 
Hay thiêu rừng công đức, 
Muốn hành đạo Bồ Tát, 
Nhãn nhục gìn chơn tâm. 

90 . Bọn anh vùi đầu quá lầm mê, 
Thích hướng vô minh hang la sát. 
Bao lần khuyên anh sớm tu hành, 
Chính anh ngu si tâm hoảng hốt. 
Chẳng chịu tin nhận lời Hàn Sơn, 
Càng tạo tăng thêm nghiệp chất chồng. 
Đợi khi chém đầu làm hai khúc, 
Mới biết thân mình là giặc nô.

91 . Ác thú rất mờ mịt, 
Tối tăm không ánh sáng. 
Nhân gian tám trăm năm, 
Địa ngục mới nửa đêm. 
Những bọn ngu si này, 
Theo tình rất đáng thương, 
Khuyên anh cầu xa lìa, 
Nhận lấy ngôi Pháp Vương. 

92 .Trời cao vút chẳng cùng, 
Đất sâu dày vô cực. 
Động vật tại trong ấy, 
Nương sức tạo hóa này. 
Tranh giành tìm no ấm, 
Mưu kế cắn xé nhau. 
Nhân quả thảy chẳng rành, 
Bé mù hỏi màu sữa. 

93 . Thiên hạ bao loại người, 
Khi bàn có vài hạng. 
Cổ bà theo Hứa phu, 
Hoàng Lão vốn không vợ. 
Họ Vệ con đáng mến, 
Nhà chung gái cực xấu. 
Nó nếu đi về tây, 
Ta nhắm hướng đông chạy. 

94 . Hiền sĩ chẳng tham lam, 
Người ngu thích lò luyện. 
Chiếm đất lúa của người, 
Vườn trúc đều của ta. 
Ra sức tìm tiền tài, 
Cắn răng đuổi ngựa nô. 
Hãy xem ngoài cửa thành, 
Nhiều lũy dưới tùng bách. 

95 . Lừa dối mua thịt cá, 
Gánh về nuôi vợ con. 
Đâu cần giết mạng nó, 
Đem về nuôi mình người. 
Chẳng phải nhân thiên đường, 
Chỉ thuần nghiệp địa ngục. 
Lời Từ Lục vỡ tan, 
Mới biết không đạo lý. 

96 . Có người nắm cây xuân, 
Gọi là bạch chiên đàn, 
Học đạo nhiều như cát, 
Mấy người đạt Niết Bàn. 
Bỏ vàng lại gánh cỏ, 
Dối người cũng lừa mình, 
Tợ nhóm cát một chỗ, 
Thành viên cũng rất khó. 

97 . Nấu cát định làm cơm, 
Khát nước mới đào giếng. 
Ra sức mài đá gạch, 
Đâu kham làm kính soi. 
Phật nói vốn bình đẳng, 
Thảy có tánh chơn như. 
Hãy tự suy nghĩ kỹ, 
Đâu cần tranh luận suông. 

98 . Suy tìm việc thế gian, 
Chín chắn thảy cần biết. 
Việc phàm chớ dễ duôi, 
Đều thích tìm tiện nghi. 
Giữ gìn tệ thành tốt, 
Hủy bỏ phải thành trái. 
Nên biết nhiều lời tạp, 
Trước sau thảy do y. 
Lạnh nóng ta tự lường, 
Chẳng tin môi nô tỳ. 

99 . Ngơ ngác kẻ sĩ nghèo, 
Đói lạnh thành cùng khốn. 
Ngồi không thích làm thơ, 
Cố gắng dụng tâm lực. 
Người hèn lời tốt đẹp, 
Khuyên anh thôi than thở. 
Viết chữ là bánh Hồ, 
Cho chó cũng chẳng ăn. 

100 . Muốn biết dụ sống chết, 
Hãy sánh băng và nước, 
Nước đông tức thành băng, 
Băng tan trở về nước. 
Chết rồi ắt phải sanh, 
Sanh ra rồi lại chết, 
Băng nước chẳng hại nhau, 
Sống chết thảy đều tốt.

101 . Nhớ lại thời còn trẻ,