Nói
về những cảnh đẹp đất nước mình, người Trung Hoa có
câu: “Thượng hữu thiên đàng, hạ hữu Tô Hàng” nghĩa
là “Trên trời có thiên đàng, dưới đất có Tô Châu và
Hàng Châu”. Hàng Châu với Tây Hồ liễu rũ chúng tôi đã
đi qua, còn hôm nay 21 Tháng Mười 2005 thì đến Tô Châu và
buổi sáng đã viếng chùa Hổ Khâu trên núi là ngôi chùa cổ
nhất ở Tô Châu. Sau đó chúng tôi đi thăm chùa Hàn Sơn (Hanshan
Temple) rất nổi tiếng với 4 câu thơ trong bài “Phong Kiều
Dạ Bạc” của Trương Kế (Zhangji):
“Nguyệt
lạc ô đề sương mãn thiên
Giang
phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô
Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự
Dạ
bán chung thanh đáo khách thuyền.”
Thi
sĩ Tản Ðà dịch như sau qua thể lục bát:
“Trăng
tà tiếng quạ kêu sương
Lửa
chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền
ai đậu bến Cô Tô
Nửa
đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.”
Và
bản dịch sang tiếng Anh:
“Moon
sets, crows cry and frost fills all the sky;
By
maples and boat lights, I sleepless lie.
Outside
Suzhou Hanshan Temple is in sight;
Its
ringing bells reach my boat at midnight.”
Trương
Kế là một nhà thơ đời Ðường sinh khoảng năm 756 người
Tương Dương, thi rớt, trên đường về nhà một đêm ông
neo thuyền đậu bên cầu Phong Kiều (cầu làm bằng cây phong
- maple) gần chùa Hàn Sơn. Tâm trạng u buồn nửa đêm nhìn
sông vắng le lói vài ánh lửa của dân chài, tiếng quạ kêu
thảm não khiến ông cảm hứng sáng tác bài thơ được xem
là hay nhất trong văn học Trung Hoa mà học sinh ai cũng thuộc
lòng.
Hàn
Sơn Tự cách trung tâm Tô Châu chừng 5 cây số tọa lạc bên
cạnh con kinh đào hẹp và có một cây cầu đá dốc cao bắc
ngang trước chùa. Cây cầu này bắc qua xóm nhà bên kia kinh
đào có tên là Giang Thôn nên gọi là Giang Thôn Kiều không
phải cây cầu Phong Kiều trong bài thơ đã nói đến. Tại
sao chùa có tên là Hàn Sơn? Theo tương truyền khi chùa mới
lập có hai vị cao tăng mồ côi tu tại chùa tên Hàn Sơn và
Thập Ðắc, hai người rất thương nhau như anh em ruột thịt
và dân chúng lấy tên một trong hai vị sư này để đặt tên
ngôi chùa.
Vừa
đến cổng Hàn Sơn Tự nhìn toàn cảnh ngôi chùa toát lên
một vẻ nghiêm trang cổ kính. Một ngôi tháp cao vượt lên
trên không nhưng tháp không giống kiến trúc Trung Hoa mà là
kiến trúc Nhật Bản vì do người Nhật đứng ra xây dựng.
Trước cổng chùa dân chúng bày bán vàng hương và những bức
tranh cổ rất đẹp nhất là những bức thư họa cổ thi ghi
lại bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc. Hàn Sơn Tự được xây năm
502 tên xưa là Diệu Lợi Phổ Minh Tháp Viện. Ðến năm Bắc
Tống Thái Bình Hưng Quốc (976-984) Tiết Ðộ Sứ Trung Ngôn
Tôn Thừa Hữu xây Phật Tháp bảy tầng. Vua Tống Nhân Tông
(1056-1063) sắc phong chùa là Phổ Minh Thiền Viện. Ðời Nam
Tống (1134) chùa được trùng tu đẹp hơn. Ðến triều nhà
Thanh đời vua Hàm Phong năm thứ 10 (1860) chùa bị binh lửa
bỏ điêu tàn trong một khoảng thời gian dài. Mãi đến năm
1910 mới được tu sửa lại tráng lệ hơn xưa.
Trong
khuôn viên Hàn Sơn Tự gồm nhiều gian nhà như Ðại Hùng Bửu
Ðiện, Hàn Thập Ðiện, Phổ Minh Tháp Viện, La Hán Ðường,
Hàn Tháp Ðình, Phương Trượng Thư, Hoằng Pháp Ðường, Tàng
Kinh Lâu, Tăng Ðường và vườn Phong Kiều. Quý nhất là chung
tháp, trên đó chỉ treo duy nhất một quả chuông đồng nặng
2 tấn (2,000 kg) được đúc năm 1906 mỗi khi đánh lên dư âm
du dương thanh thoát làm tan biến mọi phiền não. Trên phiến
đá dưới chuông có khắc 3 chữ “Thính chung thạch” ngụ
ý tiếng chuông làm hồn đá cũng xúc động. Chuông này chỉ
là phiên bản thay thế chuông nguyên thủy đánh lên giữa khuya
làm xúc động Trương Kế. Chuông cổ đã bị một nhà sư
Nhật Bản đem về Nhật vào 10 thế kỷ trước và hiện vẫn
không biết ở nơi đâu? Nhật Bản bồi thường bằng cách
xây ngôi tháp cao là Phổ Minh Tháp Viện như chúng ta thấy
hiện nay.
Trong
gian phòng lưu giữ bia đá với những bút pháp cầu kỳ trong
đó có thủ bút của nhà văn Khang Hữu Vi viết năm 1920 khi
ông đến thăm Hàn Sơn Tự với tâm sự tiếc nuối cho chuông
cổ bị lưu lạc bằng 4 câu thơ:
“Chung
thinh dĩ độ hải vân đông
Lãnh
tận Hàn Sơn cổ tự phong
Vật
sử phong can hựu nhiêu thiệt
Tha
nhân tái đáo bất không không.”
Trong
khuôn viên chùa còn có gian nhà treo 3 quả chuông do chính phủ
Nhật Bản đúc trả gần đây thay cho chuông đã mất. Ba quả
chuông này du khách có thể đánh lên sau khi cúng dường một
số tiền. Bên cạnh đó treo những bức thư họa mới vẽ
ghi lại những bài thơ trong một giai thoại vui vui được dân
gian truyền tụng liên quan đến bài Phong Kiều Dạ Bạc. Câu
chuyện kể rằng khi Trương Kế đến chơi gần chùa Hàn San
và ngẫu hứng làm được hai câu đầu của bài Phong Kiều
Dạ Bạc:
“Nguyệt
lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang
phong ngư hỏa đối sầu miên.”
Tới
đó thì nhà thơ “bí” không tìm ra được hai câu kế tiếp.
Cùng lúc đó trong chùa Hàn San có một vị sư già, đêm khuya
không ngủ được và cũng làm được hai câu thơ:
“Sơ
tam, sơ tứ nguyệt mông lung,
Bán
tự ngân câu, bán tự cung.”
Nghĩa
là:
“Mồng
ba mồng bốn trăng mờ
Nửa
dường móc bạc nửa như cung trời.”
Rồi
thì sư cụ cũng “bí” giống như Trương Kế.
Chú
tiểu thấy vậy mới hỏi: “Bẩm sư phụ, vì sao ngài không
được vui?” Nhà sư mới cho chú tiểu biết về tâm sự đang
“bí” thơ của mình. Chú tiểu ra sau hè (chắc là đi... tưới
cây nửa đêm?) chợt nhìn thấy bóng trăng dưới hồ sen bị
bể làm hai mảnh nên cảm hứng sáng tác được hai câu thơ:
“Nhất
phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn,
Bán
trầm thủy để, bán phù không.”
Nghĩa
là:
“Một
bình ngọc trắng chia hai
Nửa
chìm đáy nước nửa cài từng không.”
(Trần
Trọng San dịch)
Chú
tiểu vào trình với sư cụ hai câu thơ nối tiếp của mình.
Sư cụ nghe xong vỗ tay hoan hỉ, cho rằng đúng là thiên tài
và bài thơ đã đầy đủ như sau:
“Sơ
tam, sơ tứ nguyệt mông lung,
Bán
tự ngân câu, bán tự cung.
Nhất
phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn,
Bán
cầm thủy để, bán phù không.”
Lúc
đó đã nửa đêm, sư cụ dạy chú tiểu đánh chuông hân hoan
tạ ơn Ðức Phật phù độ cho hai thầy trò hoàn tất bài
thơ. Tiếng chuông đánh lên giữa khuya vọng đến thuyền của
Trương Kế làm ông giật mình, đang “bí” thơ thì tiếng
chuông nhắc cho ông biết ông đang ở đâu (chùa Hàn Sơn phía
ngoài thành Cô Tô) nên ông viết nốt được hai câu cuối
của bài thơ:
“Cô
Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ
bán chung thanh đáo khách thuyền.”
Thường
nhà chùa không đánh chuông nửa đêm, nhờ tiếng chuông bất
thường này ta mới có bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc nổi tiếng
của Trương Kế.
Trong
chùa Hàn Sơn có Phổ Minh Bửu Tháp mới xây năm 1996 thờ nhiều
vị anh hùng trong đó có Nhạc Phi (1103-1141) danh tướng đời
Nam Tống chống lại quân Kim, chúng tôi đã từng viếng lăng
mộ ở Hàng Châu. Khi ông từ biên thùy về qua Hàn Sơn Tự,
rẽ vào dâng hương và hạ bút viết hai câu liễn nói lên
hùng khí của nhà võ tướng:
“Tam
thinh mã điệp yên chi huyết
Ngũ
phạt kỳ kiêu khắc Hãn đầu.”
Nhà
thơ Thanh Vân dịch rằng:
“Ðẫm
máu Hung nô vang vó ngựa
Tung
cờ Khả Hãn đã năm phen.”
Di
bút của danh tướng này được khắc vào đá cùng tượng
của ông được thờ trong Phổ Minh Bửu Tháp.
VIẾNG
XƯỞNG TƠ LỤA TÔ CHÂU
Chúng
tôi rời Hàn Sơn Tự để đến một xưởng sản xuất tơ
lụa ở Tô Châu. Trên xe buýt trên đường đến xưởng tơ
lụa, John là hướng dẫn viên du lịch Tô Châu khoảng hơn
50 tuổi tâm sự rằng thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa (1966-1976)
là thời kỳ đen tối của Trung Hoa. Cha mẹ John là bác sĩ
y khoa bị điều động về nông thôn làm ruộng hết 8 năm.
Sau khi Mao Trạch Ðông chết mới trở về làm lại nghề bác
sĩ. Trước năm 1970 Mao khuyến khích dân chúng có nhiều con
để có đủ binh lính và nhân công sản xuất nhưng sau đó
vì thiếu lương thực nên thay đổi chính sách. Hiện nay mỗi
cặp vợ chồng chỉ được có một con. Xưởng tơ lụa chúng
tôi sắp đến có từ thời Mao Trạch Ðông. Tốt nghiệp xong
đại học John vào làm ở xưởng này với lương 2 yuan một
tháng rồi lên dần 36 yuan một tháng trong khi lương giám đốc
ở đây là 45 yuan. Năm 1982 thời Ðặng Tiểu Bình mở cửa
với thế giới bên ngoài, phá tan bức màn sắt, ngoại quốc
đầu tư vào cuộc sống mới bắt đầu thay đổi dễ thở
hơn!
Xe
chúng tôi đến xưởng tơ lụa có tên là Suzhou No.1 Silk Mill
được thành lập từ năm 1926 đó là một khu nhiều căn nhà
xưa cũ tường sơn màu vàng thời 1950-1960. Ngoài sân nhiều
xe buýt chở khách du lịch nước ngoài. Chúng tôi vào ăn trưa
trong một Cafeteria lớn, ăn theo lối Buffet và món ăn Tây Phương.
Hai tuần nay ngao du sơn thủy Trung Hoa ăn toàn là món Tàu nhiều
dầu mỡ nên hôm nay thay đổi thực đơn cũng là điều tốt.
Ðại khái thức ăn cũng như Home Town Buffet ở California nhưng
không phải Mỹ nấu mà người Tàu nấu. Có Roasted Beef (thịt
bò quay) khá ngon vì lạ miệng, mấy tuần nay du lịch ở Trung
Quốc hiếm thấy thực đơn có thịt bò.
Ăn
xong chúng tôi được đưa vào ngồi trong một gian phòng như
một lớp học mà ông thầy lại là... John hướng dẫn viên
du lịch! John không hiểu sao vừa làm cho Sở Du Lịch Tô Châu
lại làm luôn cho xưởng tơ lụa nhằm giới thiệu về nghề
làm tơ tằm là nghề truyền thống của đất Tô Châu. Trên
bàn là những lọ thủy tinh, mỗi lọ chứa một con tằm từ
lúc là con sâu nhỏ đến lớn dần thành con ngài nhả tơ quấn
xung quanh mình thành một cái kén (cocoon) trắng và nằm trong
kén đó một thời gian trước khi mọc cánh biến thành bướm.
Lúc tằm là con sâu, con nhộng thì cho ăn bằng lá cây dâu
(mulberry) để nó lớn lên thành ngài. Khi nó nhả tơ quấn
thành cái kén tròn và trắng như một quả trứng nhỏ. Từ
cái kén đó người ta kéo ra sợi tơ dài, óng ánh, mềm nhưng
lại dai. Với 9 sợi tơ nhỏ này người ta se lại thành một
sợi tơ lớn rồi đưa vào máy để dệt thành những tấm
lụa hay dùng để thêu. Thường trong mỗi kén là một con ngài
nằm trong đó nhưng cũng có ít kén có hai con nằm chung. Tơ
của kén có hai con thường ngắn và người ta không dệt làm
lụa được mà bện nhiều lớp làm mền. Trước khi kéo ra
sợi tơ người ta phải luộc cái kén trong nước tức giết
chết con ngài trước khi nó hóa bướm. Ðời sống con tằm
chỉ có 28 ngày và nó nhả được tối đa 1,000 mét tơ (3,280
feet).
Nghề
nuôi tằm để lấy tơ dệt lụa đã có ở Trung Hoa từ 3,000
năm trước Công Nguyên. Ðến đời Ðường và Tống (618-1279)
lụa được xem như đơn vị tiền tệ để bán buôn trao đổi
giữa các nước và cũng là món hàng quý để các nước chư
hầu triều cống cho những nước lớn. Ðến đời vua Vạn
Lịch (Wanli) nhà Minh (1573-1620) vùng ngoại ô Tô Châu toàn là
ruộng dâu người ta trồng để lấy lá nuôi tằm. Lụa Tô
Châu rất nổi tiếng vì vừa đẹp, bền lại mềm, mát và
mịn, người La Mã, Ai Cập, Ba Tư, Ấn Ðộ biết tiếng và
họ đã sang mua tạo thành Con Ðường Tơ Lụa (Silk Road) bắt
đầu từ thế kỷ thứ 3 sau Công Nguyên (200 AD). Trước khi
người ta khám phá ra đường biển tới Ấn Ðộ, Con Ðường
Tơ Lụa nối Trung Hoa với đế quốc La Mã rất nhộn nhịp
những thương buôn. Bắt đầu đi từ Lạc Dương (Luoyang) và
Tây An (Xian) gặp nhau trên sông Hoàng Hà ở Lan Châu (Lanzhou)
sau đó con đường chia làm 3 nhánh đi bằng ngựa và lạc đà
xuyên qua vùng núi non, sa mạc qua Thanh Hải, Tây Tạng để
tới những nước phía Tây. Con đường dài hơn 7,000 cây số
từ Ðông sang Tây này đã để lại nhiều du ký lịch sử,
đồ vật quý giá cho các nhà khảo cổ và con đường được
một nhà địa dư người Ðức gọi là Con Ðường Tơ Lụa
vào cuối những năm 1800.
Trong
xưởng Tô Châu Ðệ Nhất Tơ Lụa này chúng tôi được đưa
đi xem người ta luộc kén, kéo tơ chứa trong những khung tròn,
dệt lụa và thêu những bức tranh bông hoa, chim chóc, mèo hổ
rất đẹp. Có những bức tranh thêu xem được cả hai mặt.
Những cô gái ngồi chăm chút, tỉ mỉ thêu hàng tuần mới
xong một bức, quả thật công phu rất nhiều! Cuối cùng là
những gian hàng trưng bày và bán các sản phẩm tơ lụa như
quần áo, đồ lót, mền gối. Vì bán cho du khách nước ngoài
nên giá cả rất đắt và không trả giá được. Món được
nhiều người trong đoàn mua nhiều nhất là mền vì mềm mại,
thông hơi mát vào Mùa Hè lại ấm trong Mùa Ðông. Nhân viên
cửa hàng rút hơi trong mền, ép lại đựng trong những túi
nhựa rất gọn gàng tiện việc mang lên máy bay. Nhằm quảng
cáo cho các sản phẩm tơ lụa, xưởng có một gian nhà dùng
để trình diễn thời trang, y phục làm bằng lụa do những
người đẹp Tô Châu trình diễn. Người ta cho rằng gái Tô
Châu rất đẹp da trắng, tóc dài và giọng nói ngọt ngào
thánh thót và người ta có câu: “Thà là nghe gái Tô Châu...
cãi lộn còn hơn nghe người Ninh Ba ca hát!” Ông Lương Kiện
kêu gọi mọi người vào gian phòng trình diễn ngồi chờ vài
phút nữa sẽ được xem các người đẹp Tây Thi trình diễn
các kiểu y phục may bằng lụa Tô Châu. Chỉ có tôi và anh
Quảng ở San Diego vào ngồi chờ, ông trở ra đi tìm và kêu
gọi các bà vào xem, đông người họ mới trình diễn. Có
lẽ các bà mải mê mua sắm quần áo nên không ai chịu vào
hết. Hai chúng tôi ngồi chờ, trong nhà diễn hơi tối lại
không khí mát dịu nên chúng tôi thiu thiu buồn ngủ và... ngủ
luôn. Mãi không biết bao lâu, ánh đèn vụt bật sáng, đoàn
du khách người Ðức ồn ào bước vào để chuẩn bị xem
trình diễn, hai chúng tôi mới thức dậy. Ông Lương Kiện
trở vào cho hay các bà cứ mải mê ở cửa hàng, không ai chịu
vào. Show diễn bây giờ có đoàn du khách người Ðức vào
xem nên sắp bắt đầu. Tôi muốn ngồi lại xem nhưng ông cho
biết các bà muốn về Thượng Hải sớm để ra Nam Kinh Lộ
mua sắm chuyến tàu chót! Lệnh bà là Lệnh Hồ Xung tối thượng
nên chúng tôi đành theo ra xe để lên đường trở về Thượng
Hải mà không có dịp xem các cô gái Tô Châu biểu diễn những
màn thướt tha lả lướt! Thôi đành hẹn lại chuyến sau nếu
có dịp trở lại vùng Tô Châu có Trữ La Thôn là quê hương
của nàng Tây Thi.
Trên
xe trên đường về hướng dẫn viên ca tụng cảnh đẹp Tô
Châu và lặp lại ngạn ngữ nói về cách hưởng thụ đời
sống của người Trung Hoa: “Sống ở Tô Châu, chơi ở Hàng
Châu, ăn ở Quảng Châu, chết ở Liễu Châu” thì có anh chàng
trong đoàn đề nghị với ông Lương Kiện nên thêm vào câu
ngạn ngữ đó bằng câu “Và đi cầu ở... Mỹ Châu!” vì
theo anh ta nhà vệ sinh ở Trung Quốc thiếu... vệ sinh chỉ
có ở Mỹ cầu tiêu công cộng mới sạch!
Trịnh
Hảo Tâm
(Cali
Tháng Chín hạ tàn,
Bằng
lăng đã rụng, cúc vàng đượm hoa)
Cùng
một tác giả đã phát hành “Ký Sự Du Lịch Trung Quốc”
dày 372 trang với 206 hình ảnh in đẹp, kể lại chuyến đi
Trung Quốc với nhiều chi tiết văn hóa, lịch sử rất thú
vị. Giá 15 US$ mỗi quyển, có bán tại các nhà sách Văn Bút,
Văn Khoa, Tự Lực, Tú Quỳnh. Ở xa gởi ngân phiếu 15 US$ (bao
cước phí) về tác giả, sách có chữ ký sẽ được gởi
đến tận nhà:
TRỊNH
HẢO TÂM
3683
Hawks Drive
Brea,
CA 92823
Ðiện
thoại 714-528-1413
Email:
trinhhaotam@hotmail.com
09-01-2006
12:23:34
Bài
Đọc Thêm:
Thơ
Hàn Sơn Thập Đắc
Bài
Thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế
Đến
Hàn San Tự Để Tìm Hiểu Bài Thơ Phong Kiều Dạ Bạc
Thiền
Sư Nhất Hạnh Nói Về Bài Thơ Trên
Đọc
Lại Phong Kều Dạ Bạc, Trần Long Hồ
Trở
Lại Với Phong Kiều Dạ Bạc, Hải Đà Vương Ngọc Long
Đôi
Bạn Chùa Hàn Sơn, Duyên Trường
Trao
Đổi Thêm Về Bài Thơ Phong Kiều Dạ Bạc, Hà Quảng
Chùa
Hàn Sơn Trong Hồn Thơ Trương Kế, Hồ Sĩ Hiệp
Hoàng
Hạc Lâu và Phong Kiều Dạ bạc, Trần Dương Hân