Chư
vị đồng học!
Xin xem tiếp phần khai thị của Trung Phong thiền sư. Ngày hôm
qua giảng đến “tâm, Phật, chúng sanh”. Về Tâm, giảng
đến Duyên Lự Tâm và Linh Tri Tâm. Những danh từ này rất
quan trọng, chúng ta phải hiểu ý nghĩa của những danh từ
ấy. Vũ trụ vạn hữu, những hiện tượng ấy do đâu mà
có? Hư không do đâu mà có? Pháp giới do đâu mà có? Sát-độ,
nay chúng ta gọi là rất nhiều “tinh cầu” trong không gian
(vô lượng vô biên tinh cầu, tinh hệ ấy trong kinh Phật gọi
là “sát-độ”) do đâu mà có? Chúng sanh do đâu mà có? Hữu
tình chúng sanh, vô tình chúng sanh do đâu mà có? Chúng ta gọi
cái có thể sanh ra vạn vật, hư không, sát-độ, hết thảy
chúng sanh là Tâm.
Vì thế, Tâm ấy chẳng phải là tâm tạng (quả tim) trong thân
thể chúng ta, tâm tạng chẳng thể sanh ra trời đất vạn
vật được. Kinh Phật gọi “có thể sanh” (năng sanh) là
“có thể hiện” (năng hiện), không gọi là Sanh mà gọi
là Hiện. Nói Hiện có ý nghĩa hay hơn Sanh, bởi lẽ chúng
ta đều lầm tưởng Hữu Sanh Hữu Diệt là thật; Năng Hiện
là hư huyễn. Giống như chúng ta xem phim, cái màn bạc có thể
hiện ra tướng, gọi là “hiện tướng” chứ không gọi
là “sanh”. Vì thế, “hiện” có ý nghĩa hay hơn. Năng Hiện
hoặc như ta gọi là Năng Sanh, những danh từ ấy đều có
thể gọi là Tánh. Lại còn có Năng Biến, hiện tượng thiên
biến vạn hóa, Năng Biến là gì vậy? Ta gọi Năng Biến là
Thức.
Thức và Tâm là một. Tâm không đèo thêm vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước thì gọi là Tâm; nếu kèm thêm vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước thì gọi là Thức. Trong Phật pháp
cũng thường nói đến Chân Tâm, Vọng Tâm. Chân Tâm không
kèm thêm vọng tưởng, phân biệt, chấp trước; còn Thức
Tâm xen tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, nên gọi
là Vọng Thức. Phải hiểu rành rẽ, rõ ràng sự việc này
thì mới biết được chân tướng sự thật của vũ trụ và
các pháp, kinh gọi sự thật ấy là “Thật Tướng của các
pháp”, tức chân tướng của vũ trụ vạn hữu, chúng ta phải
hiểu rõ ràng. Vì thế, ở đây thiền sư nêu lên một tổng
kết:
Thị dĩ Phật tức chúng sanh, chúng sanh tức Phật.
(Do vậy, Phật chính là chúng sanh, chúng sanh chính là Phật)
Nói như vậy nghĩa là sao? Tâm chính là Thức, Thức chính là
Tâm. Thức và Tâm là một không phải hai, lúc mê gọi là Thức,
lúc ngộ gọi là Tâm. Ở đây chỉ có mê và ngộ, ngoại trừ
mê và ngộ ra, cái gì cũng không có. Vì thế, ở đây mới
nói: “Chư Phật ngộ nên giả gọi là duy tâm; chúng sanh mê
bèn thành vọng thức. Do vậy, Phật chính là chúng sanh; chúng
sanh chính là Phật”. Chữ “chúng sanh” ở đây chỉ hữu
tình chúng sanh, nhưng sau đó lại nói:
Thả tâm ngoại vô Phật, diệc vô chúng sanh.
(Nhưng ngoài tâm không Phật, cũng không có chúng sanh)
Phạm vi của “chúng sanh” rất rộng. Chữ “chúng sanh”
này bao quát tất cả hết thảy những hiện tượng do các
duyên hòa hợp mà sanh khởi, những hiện tượng ấy đều
được gọi là “chúng sanh”. Ngay cả hư không cũng là chúng
sanh. Phạm vi của các hiện tượng do các duyên hòa hợp mà
sanh khởi rất lớn. Vì thế, chúng ta phải hiểu cách dùng
của danh từ này: Tên gọi tương đồng, danh từ tương đồng,
nhưng tùy mỗi chỗ lại giải thích khác nhau, phạm vi bao quát
của danh từ ở mỗi chỗ khác nhau.
Duy mê ngộ chi hữu gián.
(Chỉ do mê hay ngộ mà có sai biệt)
“Gián” là sai biệt, gián cách là sai biệt. Nói thật ra,
do mê hay ngộ mà có sai biệt.
Cố phàm thánh nhi hồi dị.
(Vì thế, phàm - thánh sai khác)
Do vậy mới nói đến phàm, đến thánh. Mê là phàm, ngộ là
thánh. Phàm và thánh là một, không hai, vẫn chỉ là một người
mà thôi. Nay chúng ta vẫn chưa ngộ thì gọi là phàm; ngày
nào đó mình giác ngộ thì gọi là thánh. Ngộ là người nào
thì mê cũng là người ấy. Vì vậy, trong hết thảy cảnh
duyên không có mê hay ngộ. Mê hay ngộ là do con người, con
người có mê - ngộ, cảnh giới bên ngoài chẳng có mê lẫn
ngộ. Nói thân thiết hơn một chút (ý nghĩa này lại càng
sâu hơn, nói thật ra không dễ hiểu gì), mê hay ngộ tại
mình, chẳng do người khác, chỉ do mỗi một mình ta mà thôi.
Cảnh giới bên ngoài chẳng những vô tình chúng sanh không
có mê hay ngộ, ngay cả hữu tình chúng sanh đối với ta mà
nói thì cũng chẳng mê hay ngộ. Mê hay ngộ là chuyện của
người ta, đối với chúng ta mà nói thì cũng chẳng có mê
và ngộ. Đạo lý này rất sâu. Đó là chân tướng sự thật,
hãy chú tâm quan sát, mong rằng quý vị sẽ hiểu thấu suốt
chân tướng sự thật này.
Khởi tri tâm, Phật, chúng sanh, tam vô sai biệt.
(Há biết tâm, Phật, chúng sanh, ba thứ không sai biệt)
Câu này nêu rõ quan hệ giữa tâm, Phật và chúng sanh. Quan
hệ gì vậy? Một mà ba, ba nhưng một. Tâm có thể hiện, có
thể biến (năng hiện, năng biến), chúng sanh và Phật là cái
được hiện, cái được biến (sở hiện, sở biến). Năng
- Sở là một không hai. Trong Năng Hiện không có mê hay ngộ,
phải biết điều này. Trong Năng Hiện đã không có mê hay
ngộ thì trong Sở Hiện cũng không có mê hay ngộ. Thế nhưng
Năng Biến, Sở Biến lại có mê và ngộ. Năng Biến, Sở Biến
là vọng tâm, vọng cảnh. Năng Hiện, Sở Hiện là Nhất Chân
pháp giới. Phải hiểu rõ điều này thì sau đấy chúng ta
tu hành mới biết phải nên tu những gì? Xa lìa Năng Biến,
Sở Biến như thế nào? Làm thế nào để gìn giữ Năng Hiện,
Sở Hiện? Công phu là ở chỗ này.
Thật sự khế nhập cảnh giới rồi thì Năng - Sở không hai,
Năng Hiện - Sở Hiện không hai, Năng Biến - Sở Biến không
hai, Năng Hiện - Năng Biến bất nhị, Sở Hiện - Sở Biến
bất nhị. Chúc mừng quý vị đã nhập pháp môn Bất Nhị,
cảnh giới không chướng ngại chẳng thể nghĩ bàn, Lý vô
ngại, Sự vô ngại, Lý Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại. Vì
sao Sự vô ngại? Sự là hư huyễn, không thật, hết thảy
pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt, bóng; bởi thế không có
chướng ngại. Kết luận cuối cùng cho chúng ta là: “Tâm,
Phật, chúng sanh, ba thứ không sai biệt”. Đây là tánh bình
đẳng hiện tiền, cảnh giới không chướng ngại hiện tiền.
Vĩnh Gia vân:
(Ngài Vĩnh Gia nói)
Trong Chứng Đạo Ca của Vĩnh Gia thiền sư có hai câu:
Mộng lý minh minh hữu lục thú,
Giác hậu không không vô đại thiên.
(Trong mộng rành rành bày sáu nẻo,
Giác rồi ba cõi rỗng toang hoang)
Lúc mê thì Duy Thức Sở Biến, giống như cảnh mộng; giác
rồi bèn hiểu rõ, hoảng nhiên đại ngộ, giống như tỉnh
giấc mộng. Tỉnh giấc rồi, những cảnh giới trong mộng
không còn nữa. Nếu đã tỉnh rồi thì chẳng những sáu nẻo
không còn nữa, mà mười pháp giới cũng không còn! Lục đạo,
mười pháp giới đều là cảnh mộng, không thật, do vọng
thức biến ra, Thể của nó là Nhất Chân pháp giới, Thể
của nó là nhất tâm bất loạn. Vì thế, Tịnh Độ tông (tức
Tịnh Độ Giáo) nói: “Nhất tâm bất loạn là giác ngộ,
tam tâm nhị ý là mê hoặc”. Thật Tướng của các pháp rốt
cục là như thế đó, nói đại lược như vậy. Dẫu nói không
nhiều, nhưng giảng rất rõ ràng, rất minh bạch, chúng ta không
dễ gì thấu hiểu, ý nghĩa rất sâu.
Chẳng thể thấu hiểu cũng không sao, ngày ngày đọc, ngày
ngày có cơ hội nghe đến, một thời gian lâu sau tâm quý vị
định lại. Quan trọng nhất là tâm định thì trí huệ sẽ
khai phát, sẽ nghe hiểu. Tâm chao động thì nghe chẳng hiểu.
Tâm phải thanh tịnh thì nghe mới hiểu, mới hòng thể hội:
Tịnh có thể sanh ra Huệ. Cổ nhân nêu tỷ dụ ngọn đèn:
Nếu ngọn đèn bị lay động thì chiếu vật gì cũng không
rõ ràng; nước nếu không có sóng gợn sẽ soi bóng cảnh giới
bên ngoài chi li tường tận. Vì thế, chữ Tịnh hết sức
quan trọng.
Làm thế nào để giữ cho lục căn của chính mình như như
bất động đối với cảnh giới lục trần? Như như bất
động là sử dụng Chân Tâm. Điều này phải rèn luyện, rèn
luyện chính là tu hành, phải thật sự thực hiện! Cách thực
hiện như thế nào? Luyện sáu căn nơi cảnh giới sáu trần,
luyện chẳng khởi tâm, không động niệm, không phân biệt,
không chấp trước. Pháp Tướng Tông gọi phương pháp này
là “chuyển tám Thức thành bốn Trí”. Họ chuyển bằng
cách ấy, học sao cho không khởi tâm, không động niệm. Không
khởi tâm, không động niệm là không dùng thức thứ tám;
không phân biệt là không dùng thức thứ sáu; không chấp trước
là không dùng thức thứ bảy. Chỉ cần quý vị không dùng
đến chúng thì rõ ràng là ngay lập tức Chân Tâm được sử
dụng.
A Lại Da Thức biến thành Đại Viên Kính Trí, trí huệ chân
thật, rõ ràng rành rẽ, hiểu thấu suốt. Thức thứ bảy
biến thành Bình Đẳng Tánh Trí, không chấp trước, vạn pháp
bình đẳng. Thức thứ sáu biến thành Diệu Quan Sát Trí, bị
chuyển đổi đi, cách chuyển như thế đó! Hễ khởi tâm động
niệm là xong, lại rớt vào hai ba, lại biến thành chúng sanh.
Phật và chúng sanh khác nhau ở chỗ này. Phật và Pháp Thân
Bồ Tát có năng lực ấy, quyết định chẳng rớt vào hai
hay ba. Không rớt vào hai hay ba thì chắc chắn sẽ chẳng khởi
tâm động niệm, phân biệt, chấp trước. Khởi tâm động
niệm thuộc về vọng tưởng.
Ký nhiên như thị, tắc kinh vân: “Tùng thị Tây Phương, quá
thập vạn ức Phật độ, hữu thế giới danh viết Cực Lạc.
Kỳ độ hữu Phật, hiệu A Di Đà, kim hiện tại thuyết pháp”.
(Đã là như vậy thì như kinh nói: “Từ đây đi về Tây Phương
qua khỏi mười vạn ức cõi nước, có một thế giới tên
là Cực Lạc. Cõi ấy có Phật, hiệu là A Di Đà nay đang thuyết
pháp”)
Đây chính là những điều kinh Phật đã nói. Đoạn kinh này
giảng về Sự. Sự và Lý nhất định phải tương ứng, Sự
chẳng trái nghịch Lý, Lý nhất định không trở ngại Sự.
Lý - Sự bất nhị. Có Lý đương nhiên có Sự, có Tánh đương
nhiên có Tướng. Quý vị hiểu rõ ràng điều này rồi thì
mới hiểu được những tướng được hiện ấy.
Tổng bất xuất duy tâm Tịnh Độ, bản tánh Di Đà dã.
(Nói chung, chẳng ngoài duy tâm Tịnh Độ, bản tánh Di Đà)
“Bản tánh” chính là Tự Tánh. Như vậy, Tây Phương Cực
Lạc Tịnh Độ là do Chân Tâm của chúng ta hiện ra. A Di Đà
Phật ở Cực Lạc thế giới là do Tự Tánh của chúng ta hiện
ra. Cõi nước được hiện bởi Tự Tánh, đức Như Lai được
hiện bởi Tự Tánh, lẽ nào chúng ta không thể thân cận được,
chúng có quan hệ rất mật thiết với chúng ta. Vì thế, quý
vị nhất định phải tin tưởng mình có phần vãng sanh. Ở
phần trên, đại sư đã bảo chúng ta tin tưởng: Tin thật
sự có Tây Phương Cực Lạc thế giới. Thứ hai, quả thật
có Phật A Di Đà phát nguyện tiếp dẫn mười phương chúng
sanh hữu duyên. Thế nào là hữu duyên? Có thể tin, có thể
nguyện, có thể chấp trì danh hiệu, đó là hữu duyên. Nay
chúng ta tin, ta có thể tin, ta phát nguyện, ta một ngày từ
sáng đến tối niệm A Di Đà Phật tức là ta hữu duyên, khẳng
định ta phải có phần vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới.
Do thị nhi tri, tức kim hiện tiền.
(Do vậy biết rằng: Ngay trong hiện tiền đây)
Dựa trên những đạo lý ấy, chúng ta nên hiểu rõ:
Vong linh, kỳ sanh dã liên hoa đóa đóa, kỳ một dã hàng thụ
trùng trùng.
(Vong linh sống thì hoa sen đóa đóa, thác thì hàng cây tầng
tầng)
Hai câu này nghĩa là sao? Sống lẫn chết đều chẳng lìa Cực
Lạc thế giới, thật sự không tách lìa. Vấn đề là ở
chỗ nào? Vấn đề là giác hay mê. Nếu quý vị giác là được,
ngay nơi này chính là Cực Lạc. Nếu mê thì Tây Phương Cực
Lạc thế giới tìm không ra. Ngộ thì ngay nơi này chính là
Cực Lạc.
Vô nhất thời bất đạt liên bang, vô nhất niệm bất y từ
phụ.
(Không lúc nào chẳng đến cõi sen, không niệm nào chẳng nương
từ phụ)
“Liên bang” là Cực Lạc thế giới, “từ phụ” là A Di
Đà Phật. Chúng ta ngày nay khẩn thiết cầu mong, tức là cầu
mong sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, thân cận A Di
Đà Phật. Xưa kia, Tử Tâm thiền sư tức ngài Triệt Ngộ,
những đồng học tu Tịnh Độ chắc không ít vị đã đọc
cuốn Triệt Ngộ Thiền Sư Ngữ Lục, tôi đang nói đến vị
này. Ngài đại triệt đại ngộ nơi Thiền Tông xong, khuyên
những ai học Thiền phải niệm A Di Đà Phật. Ngài nói người
tham thiền tốt nhất nên niệm Phật, vì nguyên nhân nào? Sợ
rằng cả một đời không có cách gì đại triệt đại ngộ
được. Nếu Thiền không đại triệt đại ngộ, không ra khỏi
lục đạo, vẫn phải sanh tử luân hồi, là hỏng rồi! Vì
thế phải nương vào nguyện lực A Di Đà Phật tiếp dẫn
vãng sanh.
Ngài nói nếu chịu niệm Phật, có thể tin, có thể nguyện,
có thể niệm Phật mà nếu chẳng sanh về Tịnh Độ thì “lão
tăng sẽ đọa vào địa ngục Bạt Thiệt (ngục bị quỷ sứ
kéo lưỡi tội nhân ra cho trâu cày)”. Ngài bảo đảm như
vậy, pháp môn này đúng là “vạn người tu vạn người về”.
Hiện tại, vì sao người niệm Phật rất đông, người vãng
sanh lại ít? Vì họ niệm không đúng như pháp! Căn bản là
họ không hiểu được đạo lý niệm Phật, phương pháp niệm
Phật. Họ không hiểu cho nên miệng có tâm không, chẳng tương
ứng. Nếu với những đạo lý, cảnh giới ấy quý vị đều
hiểu rõ, đều thấu suốt, đúng lý, đúng pháp, chẳng để
sót một điều gì thì đúng là vạn người tu vạn người
vãng sanh. Đến đây cũng là hết một đoạn khai thị, chúng
ta xem tiếp phần sau, ngài Trung Phong lại tổng kết:
Thẩm như thị, thả đạo: Ly thử tâm Phật chúng sanh ngoại,
biệt hữu thương lượng xứ dã vô.
(Xét như thế, nên nói: Lìa tâm, Phật, chúng sanh này ra, còn
có chỗ thương lượng nào khác hay không?)
“Thẩm” là thẩm sát kỹ càng, cũng có nghĩa là quan sát.
Những Sự - Lý vừa nói trên đây, nếu quý vị đều hiểu
rõ, đều thấu suốt, thì nay phải hỏi: “Nên nói: Lìa tâm,
Phật, chúng sanh này ra, còn có chỗ thương lượng nào khác
hay không?”: Lìa ngoài tâm, Phật, chúng sanh ra, còn có gì
hay không? Một câu này đã nói hết sạch. Tâm, Phật, chúng
sanh bao quát hết thảy vạn sự vạn pháp trong toàn bộ vũ
trụ. Ở đây thiền sư dùng phương cách này để hỏi: “Ngươi
hiểu chưa?” Giảng cho các ngươi đại đạo lý, các ngươi
nghe rồi hiểu chưa? Các ngươi có hiểu thấu hay chăng? Các
ngươi rõ thấu hay chưa? Tiếp đó, thiền sư lại nói một
bài kệ:
Đại viên kính lý tuyệt tiêm ai,
(Nơi gương tròn lớn sạch tinh khôi)
“Đại viên kính” là tâm tánh. Trong tâm tánh không có vật
gì. Trong Đàn Kinh, Lục Tổ đã nói rất hay: “Vốn không
có một vật”. Đại viên kính là Chân Tâm, trong Chân Tánh
vốn chẳng có một vật nào. “Ai” là trần ai (bụi bặm),
“tiêm” là rất nhỏ. Một mảy trần ai cũng không có, Chân
Tâm mà! Câu này giảng về Thể, về Lý, Chân Tâm, Bản Tánh.
Câu tiếp theo luận về Sự, tức những tướng được hiện.
Hễ có Lý nhất định phải có Sự. Có Tánh nhất định có
hiện tướng. Hiện những tướng nào?
Bích ngẫu hoa trung hữu thánh thai,
(Xanh biếc giò sen nẩy thánh thai)
Câu này nói về ao sen bảy báu nơi Tây Phương thế giới.
Bốn câu kệ này nhằm dạy chúng ta; trong hai năm gần đây,
chúng tôi đặc biệt đề cao thuần thiện thuần tịnh. Tâm
chúng ta phải thuần tịnh, hạnh của chúng ta phải thuần
thiện. Thuần tịnh thuần thiện tương ứng tánh đức, tương
ứng Di Đà, tương ứng Tịnh Độ. Câu kệ này nói đến ao
sen bảy báu nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới, “bích ngẫu
hoa trung hữu thánh thai” (trong đóa sen biếc có thánh thai).
Ở đây, chúng ta vừa phát tâm, trong ao bảy báu mọc lên một
búp sen, trên hoa ghi tên họ của chúng ta. Chúng ta niệm Phật
công phu càng siêng năng, hoa sen ngày càng to. Khi nào tâm ta
lui sụt, hoặc đổi sang tu pháp môn khác, hoa ấy bèn khô héo,
không còn nữa!
Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, hết thảy pháp đều
bất sanh bất diệt, chỉ riêng hoa sen trong ao bảy báu có hiện
tượng sanh diệt. Quý vị thấy hoa sen liền biết có một
người phát tâm chân chánh, muốn sanh về Cực Lạc thế giới.
Mấy bữa sau, thấy hoa sen không còn nữa, biết người ấy
đã ngã lòng, thay đổi ý niệm. Lúc nào phát tâm, lúc ấy
đóa sen bèn mọc. Câu kệ này đúng như kinh đã nói: “Tịnh
cực quang thông” (Tịnh đến cùng cực thì sẽ chiếu sáng
thông suốt), tướng báu thanh tịnh được hiện ra. Thật đấy!
Chính chúng ta có thể làm được điều này, chớ bỏ mất.
Chuyện gì trong thế gian này cũng đều là giả, chỉ có mình
chuyện này là thật. Vì thế, quý vị phải biết buông cái
giả xuống, phải biết buông bỏ. Riêng chuyện này là thật.
Dao vọng kim sa trì chiểu ngoại
(Cát vàng ao báu ngoài xa ngắm)
Tây Phương Cực Lạc thế giới cách chúng ta mười vạn ức
cõi Phật. Nay chúng ta là phàm phu chưa đạt đến cảnh giới
ấy; vì thế không gian vẫn còn xa - gần, đạt đến cảnh
giới nào sẽ không còn xa - gần nữa? Khi Kiến tánh sẽ không
còn nữa, khi minh tâm kiến tánh thì xa - gần không còn nữa.
Chúng ta chưa đạt đến cảnh giới ấy, “dao vọng kim sa
trì chiểu ngoại” là phía ngoài ao sen bảy báu. Trong ao bảy
báu ấy, có nước tám công đức, có hoa sen.
Bảo
quang thường chiếu ngọc lâu đài.
(Bảo quang chiếu mãi ngọc lâu đài)
Phía ngoài ao bảy báu là nơi hoạt động của những người
sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới hoa nở thấy Phật,
họ tự hành hóa tha, thân cận Như Lai, rộng độ chúng sanh.
Thiền sư dùng từ ngữ “ngọc lâu đài” để hình dung.
Phần sau là nói đến chuyện Chánh Tu. Đoạn khai thị này
nhằm lay tỉnh mọi người đang mê chấp hãy thật sự tỉnh
ngộ, hết thảy vọng tưởng, phân biệt, chấp trước tự
nhiên buông xuống. Buông xuống rồi thì chúng ta công phu mới
đắc lực. Một tiếng Phật hiệu, một tiếng lòng, một niệm
tương ứng một niệm Phật, phải niệm Phật liên tục. Nay
chúng ta quen thói lúc nhiễu Phật bèn vừa đi nhiễu vừa niệm
Phật ngàn câu, đấy là Chân Tu.
Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi A
Di Đà Phật.
Niệm một ngàn tiếng là chánh xác, tiêu chuẩn đấy! Tiếp
đó, niệm ba lần “Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát, nam mô Đại
Thế Chí Bồ Tát, nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát”,
mỗi danh hiệu ba lần. Phật sự ấy hoàn tất, tức niệm
Phật xong xuôi, tiếp đó lại khai thị lần thứ hai, đúng
là rát miệng xót lòng. Pháp Sự này có Sự, có Lý, hỗ trợ
nhau, hoàn thành cho nhau, niệm Phật thành tựu tam-muội, khai
thị nhằm khải phát trí huệ. Vì thế pháp sự này là học
Định lẫn Huệ một cách quân bình, phước huệ song tu, hết
sức thù thắng, nhất định phải thành tâm thành ý tu. Xin
xem phần Khai Thị tiếp theo, cũng là phần phát nguyện, khai
thị bằng cách phát nguyện.
22.
Phát nguyện
Thập phương tam thế Phật,
A Di Đà đệ nhất.
(Mười phương tam thế Phật,
A Di Đà bậc nhất)
Từ kinh Vô Lượng Thọ chúng ta có thể thấy được điều
này. Trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Thế Tôn thường khen ngợi
A Di Đà Phật, khen A Di Đà Phật là “quang trung cực tôn,
Phật trung chi vương” (ánh sáng tôn quý nhất, vua trong chư
Phật). Thích Ca Mâu Ni Phật xưng tán A Di Đà Phật, mười
phương ba đời hết thảy chư Phật Như Lai cũng giống hệt
như Thích Ca Mâu Ni Phật. Thích Ca Mâu Ni Phật thay mặt cho
hết thảy chư Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật tán thán như thế
chính là mười phương ba đời hết thảy chư Phật tán thán.
Chúng ta nhất định khẳng định được điều này.
“Mười phương tam thế Phật, A Di Đà bậc nhất”: Lời
này nào phải tùy tiện nói! Không phải là chúng ta tu Tịnh
Độ rồi cố ý tán thán Tịnh Độ. Không phải vậy, mà là
sự thật đấy nhé! Vì sao phải tán thán như thế? Trong những
bộ kinh to luận lớn cũng tán thán rất nhiều. Trong Yếu Giải,
Ngẫu Ích đại sư nói hết sức rõ ràng: Cõi thù thắng nhất
của Phật A Di Đà không phải là cõi Thật Báo, cũng không
phải cõi Phương Tiện, mà là Phàm Thánh Đồng Cư độ. Ngài
thiết lập cõi Phàm Thánh Đồng Cư độ quá khéo, khiến cho
hết thảy những chúng sanh nghiệp chướng sâu nặng đều
có thể đới nghiệp vãng sanh. Sanh về Tây Phương Cực Lạc
thế giới, được A Di Đà Phật bốn mươi tám nguyện oai
thần gia trì, khiến những người ấy được thọ dụng hoàn
cảnh tu học bằng với hàng Thất Địa Bồ Tát. Vì thế,
họ đều là A Duy Việt Trí Bồ Tát. Mười phương hết thảy
cõi Phật chẳng có được điều này, chỉ riêng Cực Lạc
thế giới là có, nên hết thảy chư Phật đều xưng tán Ngài.
Trong hết thảy các cõi Phật đều có lục đạo chúng sanh,
lục đạo chúng sanh chẳng dễ gì được thành tựu. Vì thế,
hết thảy chư Phật đều giảng Tịnh Độ tam kinh, đều khuyên
lục đạo chúng sanh trong những cõi ấy niệm Phật cầu sanh
Tây Phương Cực Lạc thế giới, thân cận A Di Đà Phật. Vì
thế, Cực Lạc thế giới giống như một đại học Phật
giáo do hết thảy chư Phật cùng lập ra, chư Phật gởi các
đệ tử của mình đến trường đó học, A Di Đà Phật là
hiệu trưởng của trường ấy. Vị hiệu trưởng ấy giỏi,
khéo dạy, nên tất cả hết thảy chư Phật đều tôn kính
Ngài, đều bội phục Ngài. Quý vị hãy từ tỷ dụ này mà
thể hội, mới biết lời xưng tán này không phải là hư giả.
Cửu phẩm độ chúng sanh,
Oai đức vô cùng cực.
(Chín phẩm độ chúng sanh,
Oai đức không cùng tận)
Trước kia, có kẻ nói Tây Phương Cực Lạc thế giới không
thể đới nghiệp, chỉ có thể tiêu nghiệp vãng sanh, chứ
không thể đới nghiệp vãng sanh. Những lời lẽ ấy gần
như khiến cho toàn bộ những người niệm Phật trên thế
giới bị chấn động, khiến cho tất cả đều hoang mang, không
biết phải làm sao: “Không đới nghiệp thì biết làm sao
đây? Chúng ta tu pháp môn này cũng như không”. Nói thật ra,
trong thời Mạt Pháp hiện tại, nếu không đới nghiệp vãng
sanh, bất luận tu học pháp môn nào cũng không ai có thể thành
tựu được. Vì sao? Vì không tiêu được nghiệp chướng tập
khí, trong ức vạn người khó có được một ai. Vì vậy,
không đới nghiệp vãng sanh sẽ chẳng thể phổ độ chúng
sanh. Quý vị thấy “chín phẩm độ chúng sanh” là đới
nghiệp hay là không? Nếu không đới nghiệp thì chín phẩm
do đâu mà có? Chín phẩm há chẳng phải là do đới nghiệp
nhiều hay ít khác nhau hay sao? Cho dù chưa đoạn được một
phẩm phiền não nào mà niệm Phật vẫn được vãng sanh, sanh
vào Phàm Thánh Đồng Cư độ.
Vì thế, đem so Tây Phương thế giới với hết thảy các cõi
Phật thì Phàm Thánh Đồng Cư độ của Cực Lạc thù thắng
khôn sánh, qua kinh luận chúng ta đã đọc thấy rất nhiều.
Tây Phương Tịnh Độ sanh về một là sanh về hết thảy,
ở trong Phàm Thánh Đồng Cư độ quý vị có thể thân cận
Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, những bậc Pháp Thân
đại sĩ như thế. Trong những Tịnh Độ khác, những vị đại
sĩ đó trụ trong Thật Báo Trang Nghiêm độ, quý vị không
tiến vào Thật Báo Trang Nghiêm độ sẽ không gặp được
những vị ấy. Thế nhưng tại Phàm Thánh Đồng Cư độ của
Tây Phương Cực Lạc thế giới vẫn có thể suốt ngày ở
cùng một chỗ với các Ngài, thù thắng khôn sánh! “Chín
phẩm độ chúng sanh, oai đức không cùng cực”. Sự thù thắng
ấy do oai thần từ bốn mươi tám nguyện của Phật A Di Đà
gia trì.
Ngã kim đại quy y,
Sám hối tam nghiệp tội.
(Con nay đại quy y,
Sám hối tội tam nghiệp)
Nay chúng ta gặp được duyên này, kinh Di Đà dạy: “Chẳng
thể dùng chút thiện căn, phước đức, nhân duyên để được
sanh về cõi ấy”. Chúng ta ngày nay gặp được duyên này,
thiện căn là gì? Có thể tin, có thể phát nguyện, mong cầu
vãng sanh, đấy là thiện căn. Phước đức là gì? Phước
đức là niệm Phật, nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp
nối. Đấy là phước đức. Vậy thì chúc mừng quý vị, quý
vị thoát ly lục đạo luân hồi, thoát ly mười pháp giới,
về Tây Phương Cực Lạc thế giới làm Phật. Đối với chúng
sanh trong chín pháp giới, chẳng những pháp môn này độ được
người mà độ được cả súc sanh đạo. Quý vị thấy trong
Tịnh tông có cuốn sách Vật Do Như Thử (loài vật còn như
thế) chuyên ghi chép những chuyện súc sanh niệm Phật vãng
sanh, ngạ quỷ niệm Phật vãng sanh, thậm chí còn có chuyện
địa ngục niệm Phật vãng sanh. Đúng là phổ độ chúng sanh.
Nay chúng ta gặp được, đã gặp thì phải nên phát tâm, “đại
quy y”.
“Sám hối tam nghiệp tội” giống như trong bài kệ Sám Hối
của Phổ Hiền Bồ Tát đã nói ở phần trên. Sám hối phải
phát xuất từ nội tâm, thật sự sám hối. Trong tam nghiệp
tội thì tội gì nặng nhất? Thưa cùng quý vị: Không phải
là sát sanh, trộm cắp, dâm dục, không phải những tội đó,
tội lớn nhất là không tin vào Tịnh Độ. Vì sao? Vì chẳng
thể vãng sanh, bỏ lỡ mất cơ hội này. Quý vị nên biết:
Qua kinh luận đức Phật dạy chúng ta, Ngũ Nghịch Thập Ác
tội nặng đến đâu? Giết cha mẹ, giết A La Hán, làm thân
Phật chảy máu, phá hòa hợp Tăng, những tội nặng nề! Nếu
như sám hối, quay đầu niệm Phật thì đều được vãng sanh.
Như vậy, tội lỗi nặng nhất quyết định phải là chẳng
thể vãng sanh. Quý vị hoài nghi, không tin tưởng, tội lỗi
ấy nặng nề nhất. Ngày nay chúng ta “sám hối tam nghiệp
tội” phải chú trọng điều này, không chịu niệm Phật,
không tin vào niệm Phật. Hiện tại chúng ta có cái tội này
hay không? Mỗi người hãy tự phản tỉnh.
Chúng tôi thường nghĩ đến lời giáo huấn của Giác Minh
Diệu Hạnh Bồ Tát, những lời dạy ấy được ghi trong tập
sách nhỏ [mang tựa đề] Tây Phương Xác Chỉ, Ngài dạy chúng
ta niệm Phật không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn.
Chúng ta không làm được những điều ấy là có tội! Những
tội nghiệp ấy khiến chúng ta trong một đời này chẳng thể
thành tựu. Khi sám hối tam nghiệp tội, ta phải đặt chuyện
này lên đầu. Thật sự không hoài nghi, không xen tạp, không
gián đoạn. Chúng ta niệm Phật, câu niệm Phật nơi miệng
có thể gián đoạn, nhưng niệm Phật nơi tâm không được
gián đoạn. Miệng niệm thì phải coi mình đang ở nơi đâu,
có những chỗ không thuận tiện niệm, nhưng Phật hiệu trong
tâm chưa hề bị gián đoạn.
Trong đời này tôi đã thấy một người từ trước đến
nay chưa hề thấy có lúc gián đoạn, gây ấn tượng rất
sâu cho tôi, người ấy chính là Chương Gia đại sư. Lão nhân
gia không niệm Phật mà trì chú, Ngài trì chú theo cách Kim
Cang Trì. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, chẳng trở ngại người
khác, miệng Ngài động, tay lần xâu chuỗi; tay động, miệng
động nhưng không phát ra âm thanh. Chúng tôi đến gặp lão
nhân gia, Ngài cùng tôi trò chuyện, lúc đang trò chuyện, chúng
tôi thấy rõ tay lần chuỗi không động, tay cầm xâu chuỗi
không động. Ngài nói chuyện với mình, nói xong, ngay lập
tức lại lần chuỗi tiếp. Từ trước đến nay chưa hề thấy
Ngài thay đổi cách ấy, đúng là đã thành thói quen, tâm Ngài
định, tâm thanh tịnh. Thầy Lý từng thân cận đại sư, lúc
tôi đến Đài Trung thân cận thầy Lý, nhắc đến chuyện
ấy, trong quá khứ tôi chỉ có một vị thầy là Chương Gia
đại sư dạy tôi ba năm. Thầy Lý đối với Chương Gia đại
sư rất khâm phục, thầy nói chúng ta là phàm phu không thể
suy lường nổi cảnh giới của Chương Gia đại sư. Thầy
nói nhìn từ cách hành trì của đại sư, bất luận quan sát
bất cứ khi nào, đại sư luôn đang ở trong Định. Thầy nói
không biết đại sư đã khai ngộ hay chưa, nhưng đại sư đã
đắc tam-muội, thật đấy, không giả đâu! Quả thật đại
sư đi đứng nằm ngồi đều trong Định. Công phu của đại
sư (chúng tôi không biết Ngài ngủ như thế nào), bất luận
trong trường hợp nào mỗi khi quý vị quan sát đại sư, quý
vị quan sát kỹ thấy đại sư công phu không gián đoạn, chẳng
bị khuấy nhiễu. Bất luận trong hoàn cảnh nào, dù là thiện
duyên hay ác duyên, nghịch cảnh hay thuận cảnh, chẳng mảy
may liên can đến Ngài. Ngài lần chuỗi, niệm chú không ra
tiếng. Đúng là sám hối.
Sám hối phải thể hiện bằng hành động. Không phải là
đối trước Phật, Bồ Tát cầu xin van vái, nói: “Con sám
hối, cầu Phật Bồ Tát tha tội!” Không hề mang ý nghĩa
ấy, làm như vậy chẳng sám hối được, nhất định phải
hiểu lý này. Chương Gia đại sư chỉ cho chúng ta cách tu sám
hối, cách tu như thế nào? Sau này không làm nữa, đó mới
thật sự là sám hối. Niệm Phật là sám hối rốt ráo. Trong
mười hai thời, từ nay trở đi Phật hiệu trong tâm không
gián đoạn, chẳng có vọng tưởng thì khuất phục được
phiền não. Phật hiệu vừa đoạn thì vọng niệm bèn khởi.
Vọng niệm là tội nghiệp, tạo nghiệp nơi ý. Ý tạo nghiệp,
thân khẩu tự nhiên sẽ tạo nghiệp theo. Do vậy, pháp sám
hối rốt ráo chính là “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm
nối tiếp”. Đấy mới là cách sám hối rốt ráo. A! Nay đã
đến giờ rồi.
*
Chư
vị đồng học!
Chúng
ta lại xem tiếp phần Khai Thị của Trung Phong thiền sư. Trong
buổi trước, chúng ta đã đọc đến:
Ngã
kim đại quy y,
Sám
hối tam nghiệp tội.
Đối
với người niệm Phật mà nói thì câu này là xưng niệm sáu
chữ hồng danh Nam Mô A Di Đà Phật. Nam Mô là Quy Y, A Di Đà
Phật là chân chánh sám hối diệt tội. Trong quá khứ, Phật
môn đặc biệt là Tịnh Độ Tông yêu cầu học nhân trong
từng niệm tâm phải luôn có A Di Đà Phật, phải dưỡng thành
thói quen. Bình thường tiếp xúc người khác, thậm chí người
ta gọi tên mình, phải trả lời như thế nào? Đều trả lời
“A Di Đà Phật”. Dưỡng thành thói quen đó, trong tâm chỉ
có A Di Đà Phật, ngoại trừ A Di Đà Phật ra, cái gì cũng
không có, gần như biến thành một loại quy củ trong nhà Phật.
Người
có tâm cầu vãng sanh niệm một câu A Di Đà Phật, phước
huệ tăng trưởng. Không có ý mong vãng sanh, thậm chí không
muốn học Phật pháp thì niệm một câu A Di Đà Phật sanh
phước báo, diệt tội sanh phước, vô lượng vô biên công
đức. Vô cùng đáng tiếc, người ta không hiểu, cũng không
biết, cho nên trong sanh hoạt thường ngày không biết tu. Vì
nguyên nhân nào vậy? Vì mê hoặc, vì mê mất. A Di Đà Phật
là đức hiệu của Tự Tánh, là tên gốc của Chân Như Bản
Tánh, trong những phần trên chúng tôi đã giảng rồi, A Di
Đà Phật là tên gốc của hết thảy chư Phật, chẳng thể
nghĩ bàn!
Ngay
trong số những người tu Tịnh Độ chúng ta, số người biết
[điều này] cũng không nhiều. Nếu thật sự biết sẽ quý
trọng một câu [danh hiệu] này, sẽ coi một câu danh hiệu
này là vô thượng trân bảo, không có một pháp thế gian hay
xuất thế gian nào sánh bằng được. Quý vị chỉ cần một
mực niệm, đúng như Chương Gia đại sư đã nói trước đây:
“Trong cửa nhà Phật, có cầu ắt ứng”. Quý vị muốn cầu
vãng sanh, muốn cầu thành Phật, đều dễ dàng đạt được,
huống chi tất cả hết thảy những pháp thế gian? Thật sự
là “hữu cầu tất ứng”. Vấn đề là phải niệm đến
mức độ nào? Phải niệm đến khi không hoài nghi, không xen
tạp, không gián đoạn. Trong một đời này (thế giới hiện
tại đúng là quá nhiều tai nạn), gặp hung hóa cát, gặp nạn
thành lành, chuyện gì cũng xứng tâm như ý. Mỗi câu tôi vừa
nói đều là chân thật, hiện tại quý vị được hết thảy
chư Phật hộ niệm, hết thảy các thiện thần ủng hộ. Hai
câu trên đây lợi ích vô biên, sâu rộng không ngằn mé, nhưng
những người học Phật thường coi thường, thuận tiện như
thế mà bỏ qua, đúng là vì nghiệp chướng sâu nặng mà thành
ra như vậy. Tiếp đó nói:
Phàm
hữu chư phước thiện,
Chí
tâm dụng hồi hướng.
(Bao
phước thiện đã có,
Chí
tâm đem hồi hướng)
Trong
sanh hoạt thường nhật, làm được những “phước thiện”,
khởi thiện tâm, thiện niệm, thiện hạnh, vì xã hội, vì
đại chúng tu phước. Tuy vậy, phải nhớ rõ: Chớ tự mình
hưởng thọ phước báo, tự mình sống khổ sở một chút.
Tốt ở chỗ nào? Đối với thế gian này không có tâm lưu
luyến, thường có tâm xuất ly, chẳng khởi tham ái đối với
thế gian này. Vì thế, có phước báo phải chia cho chúng sanh
thụ hưởng, phải giúp đỡ chúng sanh khổ nạn. Trong khi giúp
đỡ thì quan trọng nhất là giúp chúng sanh phá mê khai ngộ,
quan trọng hơn bất cứ gì khác. Bởi lẽ phá mê khai ngộ
thì người ta mới có thể đoạn ác tu thiện, mới có thể
thoát sanh tử, xuất tam giới, triệt để vượt thoát hết
thảy khổ nạn, các phương pháp khác làm không được. Đó
gọi là Phật sự. Phật sự là việc của bậc đại trí đại
giác, không phải là chuyện nhỏ.
Nếu
có phước báo mà tự mình hưởng thụ, rất dễ bị mê hoặc.
Một người hưởng phước bèn mê, bèn điên đảo, bèn tạo
ác nghiệp, bèn đọa lạc; phước báo nên dành cho mọi người
hưởng. Tự mình mỗi ngày ăn không cầu no, chớ ăn quá no.
Ăn quá no sẽ hôn trầm, trọn chẳng tham cầu ăn uống. Ăn
uống nhằm bù đắp thể lực, năng lượng cho thân thể mình,
vừa đủ là tốt rồi, cũng đừng quá phận, hết thảy tùy
duyên. Nghĩ đến đức Thích Ca Mâu Ni Phật khi còn tại thế
ôm bát đi khất thực, người ta cho thứ gì ăn thứ nấy;
có thứ gì vui thích hay không vui thích chăng? Không có! Trong
tâm vẫn là một câu A Di Đà Phật. Ăn ngon, A Di Đà Phật;
khó nuốt cũng là A Di Đà Phật. Như vậy mới tốt! Tiêu nghiệp
chướng, tăng phước huệ.
“Chí
tâm dụng hồi hướng”: Chí tâm là tâm chân thành, thành
tâm thành ý hồi hướng. Trong phần giảng về mười nguyện
Phổ Hiền trước đây chúng tôi đã nhắc đến hồi hướng
Bồ Đề, hồi hướng chúng sanh, hồi hướng Thật Tế. Nay
chúng ta hồi hướng chúng sanh, hồi hướng Cực Lạc thế
giới, nguyện đem công đức này trang nghiêm Tịnh Độ Phật,
niệm niệm chẳng quên cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ, niệm
niệm chẳng quên thân cận A Di Đà Phật.
Nguyện
đồng niệm Phật nhân,
Cảm
ứng tùy thời hiện.
(Nguyện
người cùng niệm Phật,
Cảm
ứng tùy thời hiện)
Chỉ
cần chân thành, thầy Lý truyền cho tôi bốn chữ “chí thành
cảm thông”. Chân thành đến cùng cực là Cảm, chư Phật,
Bồ Tát bèn Ứng. “Cảm ứng tùy thời hiện”, thế tục
thường gọi chuyện này là “Phật, Bồ Tát gia trì, Phật,
Bồ Tát bảo hựu”. “Tùy thời hiện”: Trong hết thảy
thời, hết thảy nơi chẳng lìa Phật, Bồ Tát, trong tâm chúng
ta chỉ có A Di Đà Phật, trong hết thảy thời, hết thảy
xứ chẳng tách lìa, trong hết thảy thời, hết thảy xứ Phật,
Bồ Tát thường chiếu cố.
Lâm
chung Tây Phương cảnh,
Phân
minh tại mục tiền.
(Lâm chung cảnh Tây Phương,
Hiện rõ ràng trước mắt)
Ở Trung Quốc, người đầu tiên đề xướng niệm Phật cầu
sanh Tịnh Độ là Huệ Viễn đại sư thuộc thời đại Đông
Tấn. Ngài dựng Niệm Phật Đường tại Lô Sơn, tập hợp
một trăm hai mươi ba người chí đồng đạo hợp, không xuống
núi, lấy Hổ Khê làm giới hạn, chí đồng đạo hợp niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ. Trong suốt một đời Ngài, ba lần
thấy Cực Lạc thế giới, thấy trong Định, nhưng từ trước
đến nay chưa hề kể với người khác, giấu kín không nói.
Tình trạng Tây Phương Cực Lạc thế giới Ngài thấy được
giống hệt như kinh Vô Lượng Thọ đã nói. Trước khi vãng
sanh bảy ngày, A Di Đà Phật hiện ra trước mặt, bảo Ngài:
“Tịnh nghiệp của ông đã thành thục, bảy ngày nữa ông
sẽ vãng sanh Cực Lạc thế giới”. A Di Đà Phật đến tiếp
dẫn Ngài. Đến ngày thứ bảy, quả nhiên A Di Đà Phật đến
tiếp dẫn. Ngoài Quán Âm, Thế Chí, lại còn có mấy người
thuộc liên xã đã vãng sanh trước Sư cũng đứng gần bên
A Di Đà Phật. Ngài Huệ Viễn bảo với mọi người như thế;
nói xong, Ngài ngồi ngay nơi đó, viên tịch, không sanh bệnh.
Một trăm hai mươi ba người thuộc Liên Xã khi ấy gần như
đều vãng sanh hết, chẳng thể nghĩ bàn! Là vì mọi người
lúc sơ phát tâm không giống nhau, Viễn Công từ nhỏ đã thông
minh tuyệt đỉnh. Truyện ký chép lúc Ngài còn bé, sáu kinh
(1) của Nho Gia đọc rất nhuần, không những đọc nhuần nhuyễn
còn hiểu được ý nghĩa. Năm mười mấy tuổi, dường như
là năm mười ba, nghe biết Phật pháp, thân cận vị thầy
đương thời là Đạo An pháp sư, nghe Đạo An pháp sư giảng
kinh Bát Nhã bèn khai ngộ. Khai ngộ rồi bèn phát tâm xuất
gia. Về sau, Ngài lập đạo tràng tại Lô Sơn, thành tổ đời
thứ nhất của Tịnh tông, thành khai sơn tổ sư. Bốn câu
kệ trên nếu áp dụng vào Niệm Phật Đường ở Lô Sơn quả
thật hoàn toàn tương ứng. “Nguyện người cùng niệm Phật,
cảm ứng tùy thời hiện, lâm chung cảnh Tây Phương, hiện
phân minh trước mắt”.
Từ xưa những vị đại đức, đặc biệt là các tổ sư đại
đức của Tịnh Độ Tông cho đến những bậc đại đức
trong hàng cư sĩ, đã nêu những tấm gương rất tốt. Chúng
ta thấy trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, Vãng Sanh Truyện,
chỉ cần là người thật sự niệm Phật, thật sự thực
hiện được hai câu kệ ở phần trên: “Con nay đại quy y,
sám hối tội tam nghiệp”, một câu A Di Đà Phật chết lòng
niệm, quyết định chẳng còn xen tạp những pháp môn nào
khác, nhất tâm niệm thì không ai không được vãng sanh.
Nay Ấn Quang đại sư dạy chúng ta, Ngài nói rất hay: Dựng
đạo tràng trong thời hiện tại, đạo tràng dù nhỏ vẫn
là đạo tràng thập phương. Nếu ai không có tâm riêng tư,
nếu không tự tư tự lợi, bất luận từ địa phương nào
đến, cốt sao chí đồng đạo hợp, chân chánh tu Tịnh Độ
thì chúng ta đều hoan nghênh dự vào đạo tràng chuyên tu Tịnh
nghiệp. Chúng thường trụ trong đạo tràng không được vượt
quá hai mươi người, đạo tràng ấy không hóa duyên, không
làm pháp hội, không truyền pháp, không thâu đồ chúng, không
truyền giới, không làm những Phật sự kinh sám thù tạc,
chuyên nhất niệm Phật, công khóa mỗi ngày giống như Phật
thất phổ biến vậy.
Nay chúng tôi đề xướng, Ấn Quang đại sư dạy không giảng
kinh, nay chúng tôi lại đề xướng phải nghe kinh, vì sao? Là
vì con người hiện thời không hiểu Lý. Giảng kinh hạn cuộc
trong năm kinh một luận Tịnh Độ, trừ những thứ ấy ra
thì không giảng. Có thể giảng năm kinh một luận của Tịnh
Độ, hoặc ngữ lục của những tổ sư Tịnh Độ tông, đặc
biệt là ngữ lục của Liên Trì đại sư, Ngẫu Ích đại
sư, Ấn Quang đại sư, chúng ta rút gọn lại trong phạm vi
nhỏ như vậy. Mọi người hiểu lý minh bạch, rành rẽ phương
pháp, chất phác niệm, chắc chắn thành tựu. Vì thế, đạo
tràng tốt nhất phải có giảng đường, có Niệm Phật Đường.
Giảng đường để nghe kinh, không hạn chế. Quý vị thích
nghe thì nghe, quý vị không thích nghe thì đi niệm Phật. Lấy
Niệm Phật Đường làm chủ, dùng giảng đường để phụ
trợ, giải hạnh tương ứng, Định lẫn Huệ được học
cân bằng, đó là đạo tràng đúng pháp. Chúng ta lại xem đoạn
văn tiếp theo:
Kiến văn giai tinh tấn,
Đồng sanh Cực Lạc quốc.
(Thấy, nghe đều tinh tấn,
Cùng sanh cõi Cực Lạc)
Đây là đoạn văn mở đầu phần hồi hướng, phát nguyện.
Kiến Phật liễu sanh tử,
Như Phật độ nhất thiết.
(Thấy Phật hết sanh tử,
Độ hết thảy như Phật).
Đây là nguyện vọng duy nhất của chúng ta: Chúng ta nhất
định phải thấy Phật A Di Đà, tu hành trong thế giới Cực
Lạc, đoạn xong hai thứ Biến Dịch và Phần Đoạn sanh tử.
Quyết định phải chứng được Phật quả rốt ráo thì mới
có thể phổ độ chúng sanh trong mười phương pháp giới.
Tiếp theo:
Vô biên phiền não đoạn
Đây chính là phiền não vô biên thệ nguyện đoạn.
Vô lượng pháp môn tu.
Đoạn phiền não, thành tựu đức năng cho chính mình, bèn
học pháp môn để thành tựu học vấn cho mình, sau đấy mới
có thể thực hiện ý nguyện độ chúng sanh.
Thệ nguyện độ chúng sanh.
Câu tiếp theo sau câu này có phạm vi rất lớn, nguyện cho
hết thảy chúng sanh đều thành Phật đạo.
Tổng nguyện thành Phật đạo.
(Nguyện cùng thành Phật đạo)
So với Tứ Hoằng Thệ Nguyện, cảnh giới của nguyện này
càng rộng hơn nữa. “Phật đạo vô thượng thệ nguyện
thành” của Tứ Hoằng Thệ Nguyện chỉ nói về chính mình,
còn ở đây nói đến tất cả hết thảy chúng sanh, “nguyện
cùng thành Phật đạo”.
Hư không hữu tận,
Ngã nguyện vô cùng.
(Hư không có thể tận,
Nguyện của tôi khôn cùng)
Phải phát đại nguyện lớn lao như thế mới tương ứng với
nguyện của Như Lai, không có chút tự tư tự lợi nào. Ta
đoạn phiền não là vì chúng sanh, ta học pháp môn cũng là
vì chúng sanh. Ta thành Phật đạo vẫn là vì chúng sanh. Vì
chúng sanh mới chính là thật sự vì mình, vì riêng mình chính
là tự hại mình. Phải hiểu đạo lý này! Chúng ta có phước
trao cho hết thảy chúng sanh hưởng thì quý vị thật sự có
phước, phước vĩnh viễn chẳng hưởng hết. Nếu phước
báo để chính mình hưởng, dẫu là phước báo tích tập nhiều
đời nhiều kiếp, thường chỉ hưởng trong một đời, hai
ba mươi năm là hết. Sự tình này nếu quý vị chú tâm quan
sát những đế vương trong lịch sử [sẽ thấy]: Kẻ làm vua
chúa, phước báo không phải do tu được trong một đời, hai
đời, mà là do phước đức tu tập tích tụ từ nhiều đời,
sanh vào nhân gian hưởng phước, nên mới được làm đế
vương. Hưởng được bao nhiêu năm? Trong số đế vương các
đời, người có thể sống đến tuổi sáu mươi rất hiếm.
Chúng ta chú tâm quan sát lịch sử, có rất nhiều vua chúa
mới ba, bốn mươi tuổi đã mạng chung. Dẫu cho họ sanh trưởng
trong nhà đế vương, từ nhỏ đã hưởng thụ phú quý, về
sau kế thừa vương vị; ba bốn mươi tuổi đã chết rồi.
Quý vị nghĩ xem nhiều đời nhiều kiếp tu tập, tích tụ
phước đức cũng không quá ba, bốn mươi năm là hết, kể
cả thời gian làm vương tử. Thật sự làm đế vương thì
có rất nhiều kẻ làm vua chưa đầy mười năm! Có vậy quý
vị mới hiểu phước đức mình tích tụ để cho mình hưởng
sẽ bị hết đi rất nhanh. Nếu cấp cho mọi người hưởng,
phước báo ấy sẽ cuồn cuộn đưa tới, vĩnh viễn không
gián đoạn, đấy mới là tốt, đúng là đại phước báo.
Vì thế, chúng ta nguyện phải lớn, phải giống với chư Phật,
Bồ Tát, “hư không dẫu tận, nguyện tôi vô cùng”. Tiếp
theo đây là bài kệ Hồi Hướng, cũng là bài kệ Hồi Hướng
của những người chuyên tu Tịnh Độ chúng ta:
23.
Hồi hướng
Nguyện sanh Tây Phương tịnh độ trung,
Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu.
(Nguyện sanh trong Tây Phương tịnh độ,
Chín phẩm hoa sen là cha mẹ)
Cực Lạc thế giới không có cha mẹ, chẳng có thai sanh mà
là liên hoa hóa sanh, nên ví hoa sen như cha mẹ, chứ không phải
là cha mẹ thật. “Thượng phẩm liên hoa” là thượng phẩm
thượng sanh. Con người phải có chí khí, chúng ta đã tu Tịnh
Tông, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, vì sao không
cầu thượng phẩm thượng sanh? Vì sao hạ hạ phẩm là đã
mãn nguyện rồi? Những thứ khác đều buông xuống, chỉ yêu
cầu mỗi một điều sau đây. Cầu điều gì? Cầu sớm thành
Phật đạo, thành sớm một ngày sẽ giúp chúng sanh khổ nạn,
vẫn là vì chúng sanh, chứ không vì chính mình. Nếu vì chính
mình chứ không vì chúng sanh thì nói thật ra, quý vị không
vãng sanh được đâu! Vì sao? Nguyện ấy khác với nguyện
của A Di Đà Phật, trái nghịch với nguyện của tất cả
các thượng thiện nhân trong Tây Phương Cực Lạc thế giới
nên vãng sanh không được. Hết thảy vì chúng sanh, đoạn
phiền não vì chúng sanh, thành Phật đạo vì chúng sanh, cầu
thượng phẩm thượng sanh vẫn là vì chúng sanh.
Hoa khai kiến Phật ngộ Vô Sanh,
Bất thoái Bồ Tát vi bạn lữ.
(Hoa nở thấy Phật ngộ Vô Sanh,
Bất thoái Bồ Tát là bè bạn)
Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, liên hoa hóa sanh,
thượng phẩm thượng sanh, đến bên ấy hoa nở rất nhanh.
“Hoa nở” tượng trưng cho điều gì? Tượng trưng cho chính
mình, không phải do A Di Đà Phật gia trì mà do công phu tu hành
của chính mình đã đạt đến Lý nhất tâm bất loạn. Chúng
ta vãng sanh đại đa số là công phu thành phiến, sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới ở trong hoa sen, hoa sen chưa nở.
Đến lúc nào hoa mới nở? Đến khi nào chứng được Lý nhất
tâm bất loạn, cũng tức là đã đại triệt đại ngộ, minh
tâm kiến tánh. Do vì quý vị ở trong hoa sen, Phật đến dạy
quý vị, chư Phật đến giảng kinh thuyết pháp cho quý vị,
quý vị thích tu pháp môn nào đều học được pháp môn ấy.
“Bất thoái Bồ Tát”: Bồ Tát viên chứng ba thứ Bất Thoái
từ Thất Địa trở lên là đồng tham đạo hữu của quý
vị, là đồng học của quý vị, là bằng hữu ở cùng một
chỗ với mình. Nhiều đồng tham đạo hữu tốt lành đến
như thế, lại có chư Phật Như Lai dạy dỗ, quý vị nghĩ
thử xem: Khai ngộ rất nhanh chóng! Đại triệt đại ngộ,
minh tâm kiến tánh, hoa sen bèn nở. Vì thế, hoa sen vừa nở
thì đó là cảnh giới nào? Là Thật Báo Trang Nghiêm độ!
Trong hoa sen là Phàm Thánh Đồng Cư độ, là Phương Tiện Hữu
Dư độ. Hoa nở rồi là Thật Báo Trang Nghiêm độ. Đấy là
cảnh giới mình đích thân chứng được.
Tất
cả hết thảy khai thị, tán tụng, phát nguyện, không gì chẳng
nhằm hiển thị Tây Phương Cực Lạc thế giới y báo, chánh
báo trang nghiêm, thù thắng khôn sánh. Chúng ta nghe xong, thấy
xong, hãy nên phát nguyện vãng sanh cõi Phật. Duyên ấy đúng
là “trăm ngàn vạn kiếp khó gặp gỡ”. Cư sĩ Bành Tế
Thanh nói rất hay: “Vô lượng kiếp đến nay, khó gặp được
một ngày”. Ngày hôm nay chúng ta đã gặp. Tiếp đến là
phần tán thán Pháp Bảo trong phần tán thán Tam Bảo. Ở trên,
chúng ta đã đọc qua về phần tán thán Phật Bảo. Ở đây
là tán thán Pháp Bảo trong thời thứ hai:
24.
Tam Bảo tán – tán thán Pháp Bảo
Pháp bảo thực nan lượng,
(Pháp bảo thật khó lường)
“Lượng” là đo lường, suy lường. Nói cách khác, “Pháp
bảo thực nan lượng” nghĩa là Pháp Bảo quả thật chẳng
thể nghĩ bàn. Không cần phải xem kinh luận nào khác, nay chúng
ta chỉ đọc mình Tam Thời Hệ Niệm Pháp Sự này thôi, quý
vị thấy kinh Di Đà, chú Vãng Sanh, lại còn tán Phật, phát
nguyện, khai thị, thấy mỗi điểm đều chẳng thể nghĩ bàn.
Huống chi cả một Đại Tạng giáo, quả thật khó nghĩ khó
bàn, chẳng thể nghĩ bàn!
Như Lai kim khẩu tuyên dương
“Kim khẩu” (miệng vàng) hàm ý xưng tán. Nhìn từ mặt Sự,
Phật là kim sắc thân, thân Phật màu vàng ròng, bởi thế
chúng ta nói mặt Phật là “kim diện”, gọi miệng Phật
là “kim khẩu”. Nếu luận theo Lý thì trong bảy báu, vì
sao vàng được mọi người coi trọng đến thế? Vì vàng chẳng
biến đổi, những thứ khác như bạc chẳng hạn bị “dưỡng
hóa” (oxidize: ốc-xít hóa), biến thành màu đen. Riêng màu
vàng của vàng trong bất cứ tình huống nào cũng vẫn giữ
được bản sắc, nên trong những thứ kim loại, mọi người
đều quý vàng. “Kim khẩu” ý nói những lời Như Lai nói
đều là vĩnh hằng bất biến, chữ Kim có ý nghĩa như vậy,
biểu thị ý nghĩa này. Hết thảy pháp do từ miệng vàng của
đức Như Lai tuyên dương.
Long cung hải tạng tán thiên hương.
(Cất tại cung rồng trong biển cả, rải hương trời)
Lúc đức Thế Tôn thuyết pháp, nói xong, Đại Long Bồ Tát
thâu thập lại, cất giữ trong thư viện của mình, cất giữ
trong cung rồng. Câu này chỉ kinh gì vậy? Đại Phương Quảng
Phật Hoa Nghiêm Kinh. Lúc đức Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện
mới thành Phật, ở dưới cội Bồ Đề, Phật nói kinh này
trong Định, thời gian không dài, trong hai tuần, có chỗ nói
là ba tuần. Nói cách khác, tính là ba tuần, tức là hai mươi
mốt ngày đức Phật giảng trong Định. Phàm phu chẳng có
phần, chẳng thể tham dự pháp hội trong Định, bởi lẽ đại
chúng tham dự pháp hội là các Pháp Thân đại sĩ thuộc bốn
mươi mốt địa vị. Chúng tôi thường nói: “Phá một phẩm
vô minh, chứng một phần Chân Tánh”. Người như vậy mới
đủ tư cách tham dự pháp hội Hoa Nghiêm, nghe Phật giảng
kinh Hoa Nghiêm, đi vào trong Định của Như Lai. Cũng có nghĩa
là người trong mười pháp giới chẳng có phần.
Trong kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy có rất nhiều thiên chúng,
thần chúng, vì sao họ cũng tham dự được? Phải biết: Những
loại chúng quỷ thần ấy đều là chư Phật, là Pháp Thân
Bồ Tát thị hiện trong chín pháp giới, không thật sự là
phàm phu. Nếu thật sự là phàm phu, làm sao có thể tham dự
pháp hội ấy được? Vì thế, trong số các quỷ thần cũng
có chư Phật, Bồ Tát ứng hóa, họ là ứng hóa nên có thể
tham gia. Họ tham gia cũng như đại diện cho một loài chúng
sanh, chứ không phải là phàm nhân, mà toàn là Pháp Thân Bồ
Tát.
Trong thời gian ngắn ngủi như thế, đức Phật giảng bao nhiêu?
Giảng rất ư là nhiều! Phật diệt độ được sáu trăm năm,
Long Thọ Bồ Tát sanh ra. Long Thọ là Sơ Địa Bồ Tát, đi
vào long cung, thấy Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh
lớn đến chừng nào? Ngài nói: “Mười đại thiên thế giới
vi trần kệ, một tứ thiên hạ vi trần phẩm”. Trong thế
gian này không có ai đọc hết được nổi. Lại xem có bản
nào đơn giản hơn hay không? A! Lại coi đến Trung Bổn, người
thế gian chúng ta vẫn không thể lãnh thọ được nổi, vì
phân lượng quá lớn. Cuối cùng, còn có thứ nào đơn giản
hơn hay chăng? Đại Long Bồ Tát liền đưa phần mục lục
đề yếu của Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh cho Bồ
Tát xem, giống như Tứ Khố Toàn Thư của chúng ta vậy. Quý
vị thấy bộ Tứ Khố Toàn Thư ở giảng đường chúng ta,
nay là bản in chữ rút nhỏ lại, tổng cộng một ngàn năm
trăm tập. Bộ sách này có bản Mục Lục Cương Yếu đơn
giản nhất, in thành năm tập; phần này do Kỷ Hiểu Lam biên
soạn: Mỗi một cuốn sách, tựa đề, tác giả, sáng tác trong
niên đại nào, nội dung nói những gì, đều được giới
thiệu đơn giản. Những thứ này trước đây được soạn
cho vua Càn Long xem. Càn Long hoàng đế không có thời gian xem
nhiều sách đến thế, do vua muốn hiểu nội dung mỗi cuốn
sách như thế nào, nên đặc biệt soạn tóm tắt cho vua xem.
Ngày nay chúng ta đọc kinh Hoa Nghiêm, chính là mục lục cương
yếu của kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh. Quý
vị mới hiểu đức Thế Tôn nhập Định, quý vị phải biết
là thời gian trong Định đem so với thời gian hiện tại của
chúng ta phải có sai biệt. Kinh Đại Thừa thường nói: “Một
niệm có thể mở rộng thành vô lượng kiếp, vô lượng kiếp
có thể rút gọn thành một niệm”. Niệm và kiếp viên dung.
Vì thế, đức Phật có thể trong khoảng một niệm giảng
vô lượng vô biên Phật pháp, biến thành vô lượng kiếp.
Đấy chính là ý nghĩa câu “long cung hải tạng tán thiên
hương”. Đại Long Bồ Tát thâu cất trong cung rồng. Bản
Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh do Bồ Tát Long Thọ
truyền ra gồm mười vạn kệ (2), bốn mươi phẩm, đều là
phần mục lục cương yếu.
Giác giả tụng lang hàm.
(Bậc giác đọc kinh văn)
Chỉ có người thật sự giác ngộ mới hiếu học, mới vui
thích, thích thọ trì, đọc tụng. Từ ngữ “lang hàm” nay
cũng ít người hiểu. Lang Hàm là gì vậy? Lang Hàm là cái
hộp chứa đựng sách thời cổ. Như nay quý vị thấy những
cuốn sách in theo lối cổ, bên ngoài có một cái hộp đựng
để bảo vệ. Câu này có ý nghĩa là đọc quyển kinh, nói
theo cách bây giờ là đọc bản kinh.
Ngọc trục, hà điều, kim tả tự.
(Trục ngọc, lụa màu ráng trời, viết chữ vàng)
Những bản kinh xưa kia, những bản kinh cổ nhất được viết
trên lụa, giống như thư họa hiện tại. Vì thế gọi là
một Quyển (quyển là cuộn lại). Quyển ấy viết xong, cuộn
lại, gắn trục, trục được làm bằng ngọc. Dùng lụa loại
tốt nhất nhằm tôn trọng kinh điển, coi kinh điển như của
báu vô thượng. Kinh quyển thời cổ như thế – nói theo cách
bây giờ là “trang hoàng” – dùng cách trang hoàng kinh điển
đẹp đẽ, quý trọng nhất, chữ viết bằng vàng. Hiện tại
quý vị có thể thấy những quyển kinh như thế trong những
viện bảo tàng, có loại viết chữ vàng, có loại viết chữ
bạc; dùng vàng bạc để viết.
Tự bài thu nhạn thành hàng
(Như chim nhạn bay thành hàng trong mùa Thu)
Câu này có ý chỉ Phạn văn, cũng có thể hiểu là thư pháp
hết sức đẹp đẽ, thư pháp tinh xảo, tề chỉnh. Phạn văn
được viết theo hàng ngang, còn Hán văn viết theo hàng dọc.
Văn tự Tây Tạng là biến thể trực tiếp của văn tự tiếng
Phạn, có quan hệ hết sức mật thiết. Nay chúng tôi đến
Nhật Bản, nói thật ra, không khác gì ở Trung Quốc cả, dẫu
ngôn ngữ không thông, nhưng văn tự xem đến liền hiểu được.
Chúng tôi đọc tên mỗi đường phố đều hiểu, dù không
biết cách phát âm, nhưng nhận biết được mặt chữ, hiểu
được ý nghĩa. Câu này chúng ta có thể hiểu là văn tự
chỉnh tề, lối chữ khéo léo, ngay ngắn, chỉnh tề, đều
hàm ý tôn trọng Pháp Bảo.
Tích nhân tam tạng thủ lai Đường.
(Xưa nhờ Tam Tạng đem qua Tàu)
Mọi người vừa đọc đến câu này, thấy từ ngữ “Tam
Tạng” bèn nghĩ ngay đến pháp sư Huyền Trang, tức Đường
Tam Tạng. Trên thực tế, câu này mang ý nghĩa rất rộng. Thời
cổ, rất nhiều pháp sư từ Trung Quốc qua Ấn Độ thỉnh
kinh, học tập. Cao tăng đại đức Ấn Độ mang theo tượng
Phật, kinh sách đến Trung Quốc cũng không ít. Vào thời đó,
những pháp sư phiên dịch kinh điển đều gọi là “Tam Tạng
pháp sư”. Kinh Phật [dịch sang tiếng Hán] bắt đầu từ
thời Hán, vào đời Hậu Hán kinh Phật được chánh thức
truyền sang Trung Quốc, truyền sang rồi mới bắt đầu phiên
dịch, nhưng kinh được phiên dịch nhiều nhất là vào đời
Đường. Vì thế, vào đời Đường, mười tông phái Đại
Thừa và Tiểu Thừa của Phật giáo Trung Quốc được thành
lập, có thể nói là Phật pháp Ấn Độ đã di thực (3) hoàn
toàn đến Trung Quốc. Vào đời Đường có thể nói là [Phật
giáo] đã di thực hết sức viên mãn, biến thành một bộ
phận của văn hóa Trung Quốc, ảnh hưởng hết sức rộng
lớn. Có rất nhiều thuật ngữ trong sanh hoạt thường nhật
của chúng ta phát xuất từ Phật giáo. Vì vậy, lão cư sĩ
Triệu Phác Sơ từng nói rất hay; cụ nói: “Nếu chúng ta
vứt bỏ Phật giáo sẽ không thể nói năng gì được nữa!”
Cụ nói như vậy là đúng đấy, nhưng người hiểu được
câu nói ấy không nhiều. Trong những thuật ngữ thường dùng
hằng ngày của chúng ta có rất nhiều từ ngữ lấy từ kinh
Phật.
Vạn cổ vị phu dương.
(Phô diễn đến muôn đời)
Tức là đời đời truyền tụng, lưu thông muôn đời, lợi
ích rộng rãi chúng sanh. Đây là đại ý của bài tán Pháp
Bảo.
Trong Phật sự có xướng niệm, do vậy thời gian làm Phật
sự phải dài. Nếu rất nghiêm túc, rất chân thành làm Phật
sự thì một buổi Phật sự phải mất ba tiếng. Ba tiếng
đồng hồ, sức lực ai nấy đều kém đi một chút, cảm thấy
mỏi mệt. Bởi thế, trong Phật sự phải có âm nhạc, phải
có xướng tụng, có nhiễu Phật, có hoạt động. Phối hợp
rất nhiều phương tiện thiện xảo lại, khiến chúng ta cảm
thấy nhẹ nhàng, rất nhanh chóng, không biết là thời gian
kéo dài, cũng không cảm thấy nhọc nhằn. Tâm chân thành thực
hiện được một buổi Phật sự viên mãn, cõi âm lẫn cõi
dương cùng được lợi. Nói thật ra, người làm Phật sự
chúng ta được lợi ích lớn nhất. Kinh Địa Tạng dạy không
sai, bảy phần công đức tự chúng ta được hưởng sáu phần,
vong linh, quỷ thần được một phần bảy.
Thế nhưng Phật sự ấy có lợi ích rất thù thắng đối
với vong linh. Do nguyên nhân nào? Người làm pháp sự rất
đông, chẳng phải chỉ là mấy vị pháp sư làm, không phải
thế, mà là đại chúng đều có thể tham dự. Vì vậy, nay
chúng ta thường làm Phật sự Tam Thời Hệ Niệm; tại Đài
Loan, tại Trung Quốc, có đến hơn cả trăm người tham dự,
thậm chí có khi đến hơn ba trăm người, quý vị nói xem công
đức ấy lớn đến đâu! Lợi ích ấy rất lớn. Từ báo
cáo kết tinh nước, chúng ta có thể hiểu được đạo lý
này: Tập hợp sức của đại chúng, công đức thù thắng!
Nhất là tập hợp những người thật sự có tu hành, những
người tâm địa thanh tịnh, tâm địa thiện lương, những
người ấy tâm ít nhiều tương ứng cùng kinh giáo. Trong khi
làm Phật sự, họ có thể buông xuống vạn duyên, tối thiểu
là trong lúc làm pháp hội, trong thời gian ngắn ngủi, buông
xuống hết thảy tạp niệm, chuyên tâm thực hiện buổi công
khóa ấy. Người lại đông, có pháp sư dẫn đầu; do vậy,
Phật sự như vậy thù thắng hơn những Phật sự khác. Ví
như nói Lương Hoàng Sám, người tham dự không đông được
như thế; thật sự làm pháp sự chỉ có vài vị pháp sư,
chứ đại chúng không thực sự tham dự. Nhưng Tam Thời Hệ
Niệm là thực sự tham dự, khác hẳn. A! Bây giờ đã hết
giờ rồi.
*
25.
Khai thị
Chư vị đồng học!
Xin xem tiếp phần khai thị lần thứ ba trong thời thứ hai,
tiếp ngay sau phần tán thán Pháp Bảo. Chúng tôi đọc lời
khai thị một lượt:
Cái văn: Hư nhi hữu minh đáp chi thanh, tịch nhi vô hình ảnh
chi tướng. Nhiên cốc hưởng tự nhiên, phi hô chi nhi bất
đáp. Phật thân vô tác, phi khấu chi nhi bất chương.
(Từng nghe: Trống rỗng mà có tiếng đáp ứng, tịch nhưng
không có tướng hình ảnh. Thế nhưng, hang dội tiếng vọng
là tự nhiên, không bao giờ kêu mà chẳng đáp. Phật thân
vô tác, không bao giờ gõ mà chẳng hiển bày)
Chúng ta xem đoạn này trước. Đoạn này giảng về cảm ứng
đạo giao. “Cái văn” (từng nghe) – “văn” là nghe –
từng nghe đức Thế Tôn khi giảng kinh, thuyết pháp thường
nói đến. “Hư nhi hữu”: Hư là hư vô, con người hiện
nay gọi “hư nhi hữu” là trong Không sanh ra Có. Trước kia
thường tưởng chuyện trong Không sanh ra Có không thể nào
xảy ra được. Khoa học cận đại đã chứng thực: Quả thật,
Hữu từ Vô sanh ra, đúng là trong Không sanh ra Có. “Trống
rỗng mà có tiếng đáp vọng”, “tiếng đáp vọng” là
cách nói hình tượng, ở phần sau thiền sư sẽ nói cụ thể
cho chúng ta hiểu, dẫn sự tướng làm chứng. “Tịch nhưng
không có tướng hình ảnh”, trong thanh tịnh tịch diệt không
có tướng hình ảnh, pháp vốn là như thế. Hình tướng do
đâu mà có? Nói chung không ngoài cảm ứng. Tiếp đó, dùng
sự thật để nói. Hai câu đầu giảng về Lý Thể, Thể của
Pháp Tánh vốn là như vậy, thanh tịnh tịch diệt!
“Nhưng hang dội tiếng vọng là tự nhiên, không bao giờ kêu
mà không đáp”. Đây là nêu thí dụ minh họa ý đầu tiên
“trống rỗng mà có tiếng đáp vọng”. Hang núi quả thật
không có âm thanh, nhưng nếu quý vị hú dài một tiếng sẽ
có tiếng vọng; bởi thế “không bao giờ kêu mà không đáp”.
Nếu quý vị không hú dài một tiếng, hang núi cũng không vọng
lại tiếng. Đấy chính là “trống rỗng mà có tiếng đáp
vọng”. Tiếng đáp vọng ấy phải do chính quý vị dẫn khởi;
hang núi có khả năng ứng tiếng, nhưng quý vị phải cảm,
cảm ứng mà, hiện tướng bèn hiện tiền.
Trong câu kế đó, “Phật thân vô tác” chính là “tịch
nhưng không có tướng hình ảnh”. Quả thật chư Phật Như
Lai không có hình tướng, nhưng nếu quý vị đánh động, chư
Phật liền hiện ra. Khấu (gõ, đánh động) là Cảm, Chương
là hiển hiện rõ rệt, tức là Ứng. Chúng sanh có Cảm, Phật
bèn có Ứng. Cảm khác nhau, thiên sai vạn biệt nên Ứng cũng
khác nhau, cũng là thiên sai vạn biệt. Người cảm có lúc
hữu ý, có lúc vô ý, hoặc có thể nói là chúng ta hữu tâm
hay vô tâm, nhưng Ứng luôn luôn là vô tâm. Vô tâm, vô ý,
tùy quý vị cảm như thế nào sẽ ứng như thế đó, cảm
ứng đạo giao, hiển hiện vô lượng vô biên sắc tướng.
Sự cảm ứng ấy đều là duy thức sở biến, nó có thể
hiện thì là duy tâm sở hiện, tâm hiện thức biến. Thức
do tâm hiện, biến thành vô lượng vô biên sắc tướng, trong
Phật pháp gọi là “vô lượng vô biên pháp giới”. Vốn
là Nhất Chân, kết quả Nhất Chân biến thành vô lượng vô
biên pháp giới, trong ấy khổ - vui khác nhau. Tiểu đoạn này
nói không nhiều, nhưng nghĩa lý sâu rộng vô tận, người
học Phật không thể không biết.
Tin Phật thì dựa vào đâu để tin? Dựa vào đạo lý mà tin,
nhờ vào những sự thật mà tin tưởng. Phá mê khai ngộ, phản
vọng quy chân nhờ vào đâu? Cũng nhờ vào đạo lý này. Nếu
quý vị thật sự hiểu được đạo lý này sẽ có thể thay
đổi được vận mạng hiện tiền. Mình muốn được vận
mạng tốt, mình hy vọng suốt đời gặp may, không khó đâu,
chỉ cần quý vị có Cảm tốt, tự nhiên sẽ có Ứng tốt.
Cổ đức đã nói: “Trồng thiện nhân được thiện quả”.
Trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, đức Thế Tôn đã dạy
chúng ta: “Thường nghĩ đến thiện pháp, tư duy thiện pháp,
quán sát thiện pháp, chẳng để mảy may bất thiện xen tạp”,
quý vị sẽ được hạnh phúc vĩnh hằng, rốt ráo, viên mãn,
“lìa được hết thảy khổ thế gian”. Đó là cảm ứng!
Lý cảm ứng pháp vốn là như thế, là đức năng của tánh
đức. Tự tánh vốn sẵn có, vốn có năng lực, vốn có đức
tướng. Nay chúng ta thành ra nông nỗi này thì không có chi
khác cả, do mê mất mà thôi! Mê mất nên khởi tâm động
niệm đều là bất thiện, nếu cảm là bất thiện thì sự
hồi đáp làm sao thiện cho được? Không có đạo lý ấy đâu!
Người thế gian cầu tài, hiện tượng này phổ biến nhất,
tài ở nơi đâu? Tài ở ngay trong mạng của quý vị. Trong
mạng quý vị không có của thì quý vị cầu nơi đâu? Của
cải ngập đất quý vị cũng không dùng được. Nếu quý vị
cố làm cho được thì họa hại xảy ra liền. Vì sao? Không
có số để hưởng. Trong mạng không có của, phải tu! Không
phải là cầu không được, có thể cầu, tu đi! Tu gì? Phật
dạy chúng ta tu Tài Bố Thí. Càng không có của càng keo kiệt,
đúng là sai lầm, phải cùng quẫn suốt đời. Nếu quý vị
thấy ai cùng khổ, đúng là người ấy không có chút phước
báo nào. Nếu quý vị thấy họ là người rất rộng rãi,
dẫu không có, vẫn bỏ ra một chút, cũng chịu bố thí, chúng
ta biết người ấy sau này nhất định sẽ khá giả. Vì sao?
Hiện tại người ấy gieo nhân, trong mạng dẫu không có của,
nhưng người ấy có thể dần dần chất đầy cái kho của
trong số mạng. Tài Bố Thí được giàu có, Pháp Bố Thí được
thông minh, trí huệ. Vô Úy Bố Thí được khỏe mạnh, sống
lâu. Đức Thế Tôn thường nói như vậy trong các kinh luận
Đại, Tiểu Thừa. Trong những buổi giảng, chúng tôi cũng
không ngừng lặp lại, quý vị nghe có hiểu hay chăng? Quý
vị có nghe lọt tai hay không? Quý vị có y giáo phụng hành
hay chăng? Chỉ cần quý vị chịu làm, đừng gấp, năm năm,
mười năm, hai mươi năm sau, quả báo sẽ hiện tiền. Không
phải mình bố thí hôm nay, ngày mai được phát tài liền,
không có đạo lý như vậy đâu! Chỉ thành tâm thành ý mà
làm, ngạn ngữ thường nói: “Chỉ hỏi cấy cày, chớ hỏi
thâu hoạch”. Chỉ quan tâm mình phải trồng nhân lành, mình
cần tu Tài Bố Thí, Pháp Bố Thí, Vô Úy Bố Thí, đừng hỏi
đến quả báo. Nhân duyên thành thục, quả báo sẽ tự nhiên
hiện tiền. Như vậy rồi mới thật sự hiểu rõ lời Phật
nói là thật, không giả! Cảm và Ứng thật sự hiện tiền.
Hiện tiền rồi, quý vị phải có trí huệ, quả báo hiện
tiền chính mình không thụ hưởng, lại phải bố thí cho hết
thảy chúng sanh hưởng thụ, vậy mới là tốt!
Những vị lão đồng học, quý vị theo tôi đã lâu, bao nhiêu
năm rồi, quý vị đã thấy, đều thấy cả rồi. Lúc tôi
mới học, tôi là người có phước hay không, nhìn tướng
mạo là biết liền. Quý vị thấy tướng mạo tôi lúc mới
xuất gia, quý vị biết ngay: Một tí phước báo cũng không
có! Nếu quý vị chú tâm quan sát thêm, lại còn là tướng
đoản mạng. Lúc tôi xuất gia là đã học Phật bảy năm rồi.
Nói cách khác, lúc ấy đã có chút chuyển biến. Lúc vừa
mới học Phật, lúc ấy tướng mạo đúng là bất hảo. Vì
thế, chính tôi cũng chẳng biết khéo sao, vì lẽ nào thầy
lại chiếu cố đến tôi? Đây không phải là chuyện dễ!
Mọi người chiếu cố ai đó đều là vì thấy kẻ ấy có
tương lai, người ấy có thể dạy được. Thấy kẻ nào vừa
không có phước lại vừa đoản mạng, trong mắt mọi người,
ắt họ kính nhi viễn chi kẻ đó, buông bỏ kẻ đó. Những
vị thầy của tôi thật chẳng phải là phàm nhân!
Đại khái trong đời quá khứ, tôi không tu Tài Bố Thí, coi
thường, cũng chẳng tu Vô Úy Bố Thí, đã thế, đời này
khi trẻ tôi còn đi săn, đi săn cả ba năm, ngày ngày sát sanh,
không ngày nào không sát sanh. Sát nghiệp rất nặng. May là
trong đời quá khứ tu được chút Pháp Bố Thí, có được
một chút trí huệ. Lúc nhỏ (thời gian không dài, đại khái
chỉ chừng hai ba năm, lúc còn rất nhỏ), đại khái khoảng
năm sáu tuổi, khoảng thời gian ấy được cha mẹ dạy dỗ.
Lúc ấy tuy chưa lớn, nhưng đã bén rễ khiến cho tôi hiếu
học, biết hiếu thuận cha mẹ, tôn sư trọng đạo, nền tảng
rất sâu dày. Trông thấy miếu Thành Hoàng bị quân đội phá
hủy, Thành Hoàng phải dọn nhà; ba ngày trước khi miếu bị
phá hủy, tôi giúp Thành Hoàng dọn nhà, bởi thế tôi kết
duyên rất tốt với Thành Hoàng. Vị Thành Hoàng ấy thường
thân cận bên tôi.
Được thầy quan tâm chiếu cố, cuối cùng tôi hiểu rõ, giác
ngộ, quay đầu, đoạn ác tu thiện, tự mình nhận thấy trước
đây mình sát nghiệp rất nặng, khi hiểu ra, tôi bèn ăn chay
trường, phóng sanh! Dẫu thâu nhập hết sức ít ỏi, tôi bằng
lòng bỏ hết tiền để phóng sanh. Học xong, xuất gia, xuất
gia năm ba mươi ba tuổi, bắt đầu nhận lời người khác
mời giảng kinh, giảng kinh được cúng dường. Tôi có tiền
bèn phóng sanh, có tiền để bố thí thuốc men, có tiền bèn
in kinh. Có lúc in kinh, chúng tôi không có tiền để in kinh
một mình, xưởng in kinh in kèm thêm (4), gởi trước một ít
tiền thôi. Kinh sách in xong, họ gởi cho tôi mấy bản. Tôi
làm chuyện như vậy, làm như vậy suốt đời. Đến khi ngoài
bốn mươi tuổi, cúng dường dần dần nhiều hơn, tôi có
khả năng đứng ra in kinh một mình, mình muốn in bao nhiêu
cũng được, suốt đời làm chuyện này, cuộc sống hết sức
đơn giản.
Gần đây nhất, khoảng chừng hơn ba mươi năm, tôi không dùng
đến tiền. Ở Mỹ, ngân hàng cấp cho tôi thẻ tín dụng,
tôi có khá nhiều chi phiếu, từ đó đến nay chưa dùng tới
lần nào. Hình như họ cấp cho đôi ba lượt, về sau không
cấp nữa, chưa hề dùng đến. Như vậy phước báo như quý
vị hiện đang thấy đó hình như là càng ngày càng nhiều,
đúng là tâm tưởng sự thành. Chúng tôi không có ý niệm
ác, không có ý niệm hưởng thụ, toàn là tất yếu có cảm
ắt có ứng. Vì thế chính mình chẳng nên thụ hưởng phước
báo, để cho hết thảy chúng sanh hưởng, đặc biệt là chúng
sanh khổ nạn.
Sau khi hiểu rõ đạo lý này, quý vị mới thật sự làm, thật
sự có cảm ứng. Quý vị càng làm càng hoan hỷ, vì sao? Có
thể giúp cho rất nhiều chúng sanh khổ nạn. Giúp đỡ quan
trọng nhất vẫn là Pháp Bố Thí. Hiện tại, chúng ta thực
hiện Pháp Bố Thí, ngoại trừ công khai giảng diễn ra, có
không ít bản giảng ký được lưu thông. Rốt cuộc số lượng
là bao nhiêu? Chúng tôi không biết, không phải do tôi in. Thậm
chí rất nhiều bản giảng ký không do tôi viết. Tôi giảng
xong, có người chép lại từ băng thâu âm, băng thâu hình,
soạn thành sách để lưu thông. Rất nhiều thứ ghi chép tôi
chưa từng xem đến, tôi cũng không muốn xem. Vì sao? Nói xong
thì thôi. Cớ gì phải lưu lại vết tích? Ai thích làm thì
tùy duyên, quý vị thích làm thì cứ làm!
Hiện
thời còn lợi dụng kỹ thuật cao, chúng ta có Internet, có
vệ tinh. Internet hay vệ tinh cũng không do tôi làm, ai làm tôi
đều hoan hỷ, tôi cũng chẳng chướng ngại người ấy mà
cũng chẳng tán thán người ấy. Nếu tôi tán trợ quý vị,
tôi phải đi hóa duyên, tôi phải quyên góp, suốt đời tôi
không làm chuyện ấy. Có không ít người hảo tâm làm chuyện
đó, làm gần như có thành tựu, đều là chuyện tốt. Bản
thân chúng tôi suốt đời không nhọc lòng, không phan duyên.
Không nhọc lòng thì chuyện gì cũng tốt, như vậy mới tự
tại, tâm mới thanh tịnh. Tâm thanh tịnh sanh trí huệ, trí
huệ mở mang rồi mới hiểu được kinh giáo, mới có thể
lãnh hội. Vì thế tâm phải thuần thiện thuần tịnh, chẳng
những tiếp xúc với kinh kuận của Phật, Bồ Tát, trí huệ
của quý vị mở mang mà ngay cả những pháp thế gian, sáu
căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần bên ngoài thảy đều mở
mang trí huệ. Đấy chính là năm mươi ba lần tham học của
Thiện Tài.
Từ
kinh giáo mở mang Căn Bản Trí, từ sanh hoạt thường nhật
khai phát Hậu Đắc Trí. Suốt một đời chúng ta có thể sống
trong trí huệ, không sống trong phiền não, không sống trong
ưu lự, quý vị nói xem: Hạnh phúc nào sánh bằng? Hạnh phúc
ấy do Phật, Bồ Tát, thầy, thiện tri thức ban cho chúng ta,
ân đức ấy niệm niệm chẳng quên, tri ân báo ân, báo ân
bằng cách nào? Vì người diễn nói. Trong kinh đức Phật dạy
chúng ta: Thọ trì đọc tụng, vì người diễn nói thì mới
là báo ân Phật, mới hòng báo ân thầy, mới hòng báo ân
thiện tri thức, mới hòng báo ân hết thảy chúng sanh. Xin
xem tiếp đoạn văn kế đó:
Thượng
lai khải kiến đệ nhị thời Hệ Niệm Phật Sự dĩ viên.
(Từ
trên tới đây tạo tác Hệ Niệm Phật Sự thời thứ hai đã
viên mãn)
Hệ
Niệm Phật Sự thời thứ hai tới đây đã viên mãn.
Như
thượng thù huân, đầu nhập Như Lai đại nguyện hải trung,
xuất sanh công đức.
(Công
huân thù thắng như thế, gieo vào trong biển đại nguyện của
Như Lai, sanh ra công đức)
[Ý
nghĩa] hoàn toàn giống như trong thời thứ nhất.
Chuyên vị vong linh tẩy trừ nghiệp cấu.
(Chuyên vì vong linh rửa trừ nghiệp cấu)
Phần trên là thời thứ nhất, đây là thời thứ hai. Có nhiều
người như thế cùng hợp lại tu pháp sự này, nhằm để
làm gì? “Chuyên vì vong linh”, cũng vì hết thảy quỷ thần,
“rửa trừ nghiệp cấu”.
Tăng trưởng thiện căn, xả thử báo duyên, vãng sanh Tịnh
Độ.
(Tăng trưởng thiện căn, bỏ báo duyên này, sanh về Tịnh
Độ)
Chúng ta tu pháp sự này nhằm vào mục đích này đây. Lợi
người, đương nhiên cũng là tự lợi. chúng ta nhất định
phải hiểu rõ “tự - tha không hai”. Vì sao? Trên kia đã
nói: “Tâm, Phật, chúng sanh, ba thứ không sai biệt”. Tâm,
Phật, chúng sanh nguyên là một thể. Vì thế, lợi tha mới
là thật sự tự lợi, tự lợi nhất định phải lợi tha.
Nếu tự lợi không lợi tha thì chẳng phải là tự lợi mà
là “tự mình hại mình”! Phần khai thị tiếp theo đây đối
với chúng ta có tánh chất khải phát rất mạnh.
Đản niệm tự tùng vô thỉ kiếp, ngật chí kim sanh.
(Nhưng nghĩ từ vô thỉ kiếp cho đến đời này)
“Đản niệm” là chúng ta hồi tưởng, phản tỉnh, từ vô
thỉ kiếp cho đến ngày nay.
Âu sanh cự hải, trục thức lãng dĩ cao đê.
(Bọt nước sanh trong biển cả, theo sóng thức lên cao xuống
thấp)
Đây là nói tỷ dụ. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Thế Tôn từng
nhắc đến tỷ dụ này. Trong kinh Lăng Nghiêm có tỷ dụ này:
Đức Phật ví chân tâm, tâm tánh, pháp tánh như biển cả,
ở phần trên gọi là Linh Tri Tâm, tâm Linh Tri như biển cả.
Tâm phân biệt, tức là Duyên Lự Tâm là gì? Duyên Lự Tâm
là một cái bọt nước sanh từ nước biển. “Âu” chính
là bọt nước. Đấy chính là ý nghĩa của câu “âu sanh cự
hải”. Thức sanh từ Pháp Tánh, mê mất tự tánh, do mê mất
tự tánh bèn sanh ra vọng tâm, vọng tâm là A Lại Da Thức.
Từ A Lại Da Thức biến ra (nó có thể biến), biến thành
thức thứ bảy, thức thứ sáu, năm thức đầu, lại biến
thành Tâm Sở, lại biến thành Sắc pháp, thảy đều biến
hiện ra, “âu sanh cự hải”.
“Trục Thức lãng dĩ cao đê” (theo sóng Thức mà lên cao
xuống thấp). “Sóng Thức” là gì? Sóng là động, không
tịnh. Tâm tánh chúng ta tịnh, trạm tịch linh minh, trong Phật
pháp thường dùng bốn chữ này để hình dung. Thức (vọng
tâm) không thế, vọng tâm là động, vọng tâm là sóng mòi.
Sóng mòi có cao - thấp, gió lớn sóng to, gió nhỏ sóng bé.
Gió to sóng lớn là lục đạo tam đồ. Gió nhẹ sóng bé là
Tứ Thánh Pháp Giới. Trong lục đạo, gió to sóng lớn là ba
ác đạo; gió nhẹ sóng bé là ba thiện đạo, lục đạo luân
hồi. Câu này giảng vì sao có lục đạo luân hồi. Tiếp theo
lại là một tỷ dụ:
Vân điểm thái thanh, nhậm tình phong nhi nhân ngã.
(Mây điểm hư không, mặc tình nổi gió ta - người).
“Thái thanh” là hư không, dùng hư không sánh ví tâm tánh,
một áng mây trong hư không ví cho mê hoặc. Áng mây trong hư
không bị gió đùa, gió Đông thổi bạt sang phía Tây, gió
Tây đánh dạt về phía Đông, tự mình hoàn toàn chẳng tự
chủ được. Câu này hình dung điều gì? Hình dung sự lưu
chuyển theo nghiệp lực, tự mình chẳng thể làm chủ. “Mặc
tình nổi gió nhân ngã”. Đây là giảng về Lý, câu kế giảng
về Sự.
Ư thị tuần hoàn chư thú, lưu chuyển tứ sanh, nghiệp hải
mang mang, tội sơn ngập ngập.
(Do vậy xoay vần các nẻo, trôi lăn tứ sanh, biển nghiệp
mênh mông, núi tội chót vót)
A! Quả báo hiện tiền, luận trên mặt Sự. “Tuần hoàn chư
thú”: Chư thú chính là lục đạo, chúng ta xoay vần trong
lục đạo. Gió nhẹ sóng bé, vượt lên ba thiện đạo; gió
to sóng lớn bèn chìm xuống, vào trong ba ác đạo. “Lưu chuyển
tứ sanh”: Chữ “tứ sanh” chỉ những cách để sanh ra trong
lục đạo, tức Noãn, Thai, Thấp, Hóa. Loài người chúng ta
là Thai Sanh, trong súc sanh đạo có cả bốn loại sanh. Có thai
sanh, có noãn sanh. Loài chim là noãn sanh (sanh bằng trứng),
loài cá trong biển quá nửa là loài noãn sanh. Có loài thấp
sanh (sanh nơi ẩm ướt), có loài hóa sanh. Loài côn trùng hóa
sanh, thấp sanh khá nhiều. Kinh Phật nói trong loài ngạ quỷ
cả bốn loại sanh đều có. Trong địa ngục đạo chỉ có
một loại là hóa sanh. Thiên đạo phước báo rất lớn, quá
nửa là hóa sanh. Đấy là luận về cách thức sanh ra.
“Nghiệp hải mang mang, tội sơn ngập ngập” (Biển nghiệp
mênh mông, núi tội chót vót): “Ngập ngập” là cao lớn,
giống như một hòn núi lớn, tội lớn đến như thế, nặng
đến như thế. Đoạn này thuyết minh đạo lý luân hồi, mà
cũng chỉ ra chân tướng sự thật của luân hồi. Nói xong,
phải làm sao? Làm thế nào để tiêu tội nghiệp, thoát luân
hồi?
Phi bằng phát lộ
(Không nhờ bày tỏ)
Nếu không nhờ vào phát lộ sám hối, thế nào là “phát
lộ”? Làm chuyện gì sai, t