Chư
vị đồng học!
Trong phần trên chúng ta đã học về mười nguyện của Phổ
Hiền Bồ Tát, cũng có thể nói mười nguyện của Phổ Hiền
Bồ Tát chính là nguyện chung của các Bồ Tát. Thế nhưng,
ngoại trừ những nguyện chung này ra, lại còn có một tổng
nguyện, tức là lời nguyện chung của hết thảy chư Phật,
ngay cả mười nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát cũng chẳng thể
tách rời Tứ Hoằng Thệ Nguyện này. Bốn mươi tám nguyện
của Phật A Di Đà cũng nằm gọn trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện.
Như vậy, Tứ Hoằng Thệ Nguyện là cương lãnh, triển khai
thành vô lượng vô biên đại nguyện của chư Phật, Bồ Tát.
Chúng ta đọc bài kệ đầu tiên:
Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ,
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
Trong Tam Thời Hệ Niệm Pháp Sự, Tứ Hoằng Thệ Nguyện được
đọc ba lần, mỗi một thời đọc một lần, bốn câu kệ
này chúng tôi dành lại sẽ nói sau. Tiếp đến là bài Tam
Bảo Tán, phần tán thán ở đây chính là xưng tán Như Lai.
Tam Bảo Tán là tán Phật, tán Pháp, tán Tăng, gọi là Tam Bảo
Tán. Bảo là tỷ dụ, người thế gian có của báu thì cuộc
sống rất giàu có, sung sướng, cuộc sống rất hạnh phúc,
giải quyết được những vấn đề thuộc đời sống vật
chất. Phật - Pháp - Tăng gọi là Tam Bảo, là ba của báu thật
sự, vì của cải thế gian chỉ có thể giải quyết những
vấn đề trong một đời, chẳng thể giải quyết những vấn
đề thuộc đời đời kiếp kiếp, càng chẳng thể giải quyết
vấn đề sanh tử luân hồi lục đạo. Ngoài chuyện luân hồi
ra còn có vấn đề chẳng thể thoát khỏi mười pháp giới,
còn có vấn đề chẳng thể chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề,
nhiều vấn đề quá! Thế nhưng Tam Bảo là của báu thật
sự, chắc chắn của báu thế gian không thể sánh bằng! Vì
sao? Vì Tam Bảo có thể giải quyết được vấn đề sanh tử
trong lục đạo, giải quyết được vấn đề mười pháp giới,
có thể giúp chúng ta trong vấn đề chứng đắc Phật quả
rốt ráo, đấy mới là của báu thật sự!
Nếu chúng ta hỏi Tam Bảo có thể giải quyết vấn đề sanh
hoạt trong thực tế hay không thì câu trả lời là khẳng định:
“Đương nhiên!” Vì sao? Chuyện trong lục đạo là vấn đề
nhỏ, Vô Thượng Bồ Đề là vấn đề lớn. Vấn đề lớn
còn giải quyết được thì vấn đề nhỏ thấm vào đâu!
Rất đáng tiếc, thế gian rất nhiều người mê không giác,
coi thường Tam Bảo. Tam Bảo chẳng phải ở bên ngoài mà ở
ngay nơi Tự Tánh. Phật Bảo là Tự Tánh Giác, Pháp Bảo là
Tự Tánh Chánh, Tăng Bảo là Tự Tánh Tịnh, Giác - Chánh -
Tịnh Tam Bảo. Giác - Chánh - Tịnh là tánh đức; bởi vậy,
Tam Bảo chẳng ở bên ngoài, không ai cầu không được, đúng
là có cầu ắt ứng. Cầu nơi đâu? Hướng về Tự Tánh mà
cầu.
Thế Tôn dạy cho chúng ta lý luận và phương pháp để cầu.
Tam Bảo đã hiện tiền thì cũng nói được cảnh giới rất
tường tận, rất minh bạch. Cảnh giới ấy chính là Hoa Tạng
thế giới, Cực Lạc thế giới, Nhất Chân pháp giới. Như
vậy, chỉ có Tam Bảo mới có thể giúp chúng ta chuyển mê
thành ngộ, chuyển phàm thành thánh, chuyển Sa Bà thành Cực
Lạc, chuyển uế độ thành tịnh độ, chuyển mười pháp
giới thành Nhất Chân pháp giới. Đấy mới thật sự là của
báu! Nay chúng ta hãy xem đoạn thứ nhất, đoạn thứ nhất
là tán Phật:
14.
Tán thán Phật Bảo
Phật bảo tán vô cùng
(Phật Bảo khen ngợi khôn cùng)
Câu này mang ý nghĩa kép: Phật Bảo nơi Tự Tánh và Phật
Bảo trên mặt sự tướng. Phật Bảo về mặt sự tướng
thì gần nhất là Thích Ca Mâu Ni Phật. Vì sao? Nếu Ngài không
thị hiện thành Phật, dạy cho chúng ta Pháp Bảo Giác Chánh
Tịnh chân chánh thì chúng ta vĩnh viễn chẳng biết, không
ai nói ra cả. Do vậy, tán Phật ở đây bao gồm cả tán thán
Tự Tánh Phật lẫn sự tướng Phật. “Thán vô cùng”: Tự
Tánh vô cùng, sự tướng cũng vô cùng.
Công thành vô lượng kiếp trung.
(Thành tựu công phu trong vô lượng kiếp)
Luận trên mặt sự tướng, “công” là công phu tu hành. Phật
là do con người tu thành, phải tu bao lâu? Tu trong vô lượng
kiếp, không phải là thời gian ngắn. Thoạt nhìn vô lượng
kiếp rất ư là dài, thường khiến cho cái tâm tu học của
chúng ta hoảng sợ: “Vô lượng kiếp ư? Đến bao giờ mới
thành tựu được nổi?” Trong giáo pháp Đại Thừa đức
Phật dạy: “Không những thời gian là giả mà không gian cũng
không thật!” Thời gian và không gian do đâu mà có? Do từ
vọng niệm của chúng ta mà sanh ra, không phải là chân thật.
Nếu quý vị chuyển mê thành ngộ thì vô lượng kiếp bèn
biến thành một sát-na; nếu mê không giác thì một sát-na
liền biến thành vô lượng kiếp. Trong giáo pháp Đại Thừa,
đức Thế Tôn giảng về chuyện này rất nhiều, nhất là
trong kinh Hoa Nghiêm, chúng ta đọc thấy: “Mê không giác thì
quả thật là vô lượng kiếp, giác không mê thì nhất niệm
đốn siêu” (siêu thoát nhanh chóng trong một niệm). Việc
này khó lắm! Khó ở chỗ nào? Khó ở chỗ chúng ta chưa buông
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước xuống được, khó ở
chỗ này đấy! Lúc nào buông vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước được thì “công thành vô lượng kiếp trung”, quý
vị bèn thành tựu, vô lượng kiếp không còn nữa. Ai làm
được như thế? Thích Ca Mâu Ni Phật làm được, Ngài nêu
gương cho chúng ta thấy.
Nguy nguy trượng lục tử kim thân.
(Thân trượng sáu vàng ròng vòi vọi)
Chữ “nguy nguy” hình dung sự cao lớn. Lúc Thích Ca Mâu Ni
Phật tại thế, thân Ngài cao một trượng sáu thước. Chúng
tôi nghĩ một trượng sáu quá cao, hầu như trong hiện tại
không có người nào cao được như thế. Há chẳng phải biến
thành người khổng lồ ư? Thật ra, phép đo lường của Ấn
Độ thời cổ không giống cách đo lường hiện thời của
chúng ta. Quý vị xem cuốn Luật Học Tam Thập Tam Chủng Hiệp
San (ba mươi loại sách về Giới Luật được in chung lại)
của Hoằng Nhất đại sư, thấy có một chương sách mang tựa
đề Châu Xích Khảo (Khảo luận về thước đời Châu). Thước
của người đời Châu sử dụng chỉ gần bằng sáu tấc của
chúng ta hiện thời. Chúng tôi nghĩ nhận định ấy rất hợp
lý. Thích Ca Mâu Ni Phật như vậy rất cao, đại khái Phật
phải cao từ một mét tám đến một mét chín (thước Tây).
So với mọi người thì Phật rất cao nhưng cũng rất bình
thường, chứ không như [tính theo] thước tấc hiện tại,
một trượng sáu là quá cao!
Màu
da nơi thân đức Phật là màu vàng tía. Vì thế, câu này nhằm
mục đích tán thán, khen ngợi thân sắc Phật, “nguy nguy trượng
lục tử kim thân”. Tướng hảo ấy do đâu mà có? Một con
người tâm tốt, tư tưởng tốt, ngôn hạnh tốt, thân sắc
của chính người ấy cũng có thể chuyển biến theo ý niệm.
Người thế gian coi thân thể, màu da như thế là tôn quý nhất,
người thế gian trông thấy tướng ấy bảo là quý tướng.
Mỗi một tướng của đức Phật đều là quý tướng, người
thế gian vô cùng hâm mộ, hết sức yêu thích, mong cầu nhưng
không đạt được tướng ấy. Mỗi một vị Phật cũng đều
có đủ [những tướng ấy]. Thế nhưng đức Phật dạy chúng
ta: Tướng hảo là quả báo, quả ắt phải có nhân. Tu nhân
thế nào sẽ được quả báo như thế ấy. Quý vị thấy Phật
hiện thân thuyết pháp, dạy chúng ta muốn được tướng hảo
thì phải khéo tu hành.
Tướng chuyển theo tâm; thân thể, thể chất cũng chuyển theo
tâm. Sự chuyển biến này hết sức nhanh chóng. Ngay cả sơn
hà đại địa, hoàn cảnh cũng chuyển theo tâm, công phu ấy
càng phải cao hơn nữa. Nếu chúng ta chia công phu thành ba bậc:
1) Thượng thượng đẳng thì hoàn cảnh cư trụ, phong thủy
đều chuyển theo.
2) Trung đẳng thì thể chất chuyển biến.
3) Hạ đẳng là tướng mạo biến chuyển. Vì thế, chuyển
tướng mạo là dễ dàng nhất. Hễ tướng mạo chuyển thì
quý vị sẽ có tín tâm. Từ đấy trở đi, quyết định chẳng
khởi một ác niệm, quyết định chẳng khởi một tâm bất
thiện, dần dần chuyển được thân thể, lại còn chuyển
được cảnh giới.
Đến lúc chuyển được cảnh giới thì ngay cả hoàn cảnh
nhân sự cũng phải chuyển theo. Hoàn cảnh nhân sự là lúc
kẻ ác trông thấy mình chẳng khởi ác niệm. Khoa học hiện
đại đã giảng thông suốt điều này, người Tàu chúng ta
gọi là “khí phận”, người ngoại quốc gọi là “từ
trường”. Phật pháp gọi “từ trường” của quý vị là
“quang”. Chúng ta thường thấy kinh nói “Phật quang phổ
chiếu” (ánh sáng của Phật chiếu khắp); cái được Phật
pháp gọi là “quang” thì người Tàu gọi là “khí phận”.
Khí phận của quý vị hết sức từ bi, hiền lành, kẻ ác
bước vào khí phận của quý vị sẽ bị cảm động, ác niệm
tạm thời không sanh, bị quang minh (tức khí phận) của quý
vị nhiếp trì, chẳng thể khởi ác niệm. Lúc rời khỏi nơi
ấy, rất có thể ác niệm lại khởi lên; còn thuộc vòng
kiểm soát của khí phận thì ác niệm chẳng thể sanh khởi.
Đây là thường thức, là thật, chứ không phải giả.
Do vậy, chúng ta thật sự hiểu rõ, mong mỏi cảnh giới của
chính mình được nâng cao không ngừng thì phải hạ thủ công
phu nơi tâm hạnh, đó mới là công phu thật sự. Quý vị hạ
thủ công phu nơi kinh giáo, văn tự, nếu chẳng thực hiện
được [những điều ấy] thì cũng vô ích, chẳng chuyển được
cảnh giới. Xưa kia, thầy Lý thường bảo: “Sanh tử như
thế nào thì vẫn là sanh tử đúng như thế ấy! Quý vị học
kinh giáo, giảng kinh thuyết pháp thì nhiều nhất là bồi thêm
một chút phước đức, thuộc về phước đức chứ không
phải là công đức”. Công đức giải quyết sanh tử, giải
quyết được vấn đề. Công là gì? Thực hiện được thì
mới gọi là công phu; không thực hiện được thì chẳng thể
gọi là công phu; không có công phu thật sự, chỉ tu một chút
phước. Phước báo ấy được gọi là “phước báo hữu
lậu” trong tam giới. Vì sao là hữu lậu? Vì phiền não tập
khí chẳng đoạn, nên là hữu lậu. Quý vị tu phước, chưa
đoạn tập khí phiền não thì gọi là “phước báo hữu lậu”.
Câu kế tiếp là:
Giác đạo Tuyết Sơn phong
(Giác đạo đảnh núi Tuyết)
Đây là nói Thích Ca Mâu Ni Phật tu hành. Câu thứ nhất nói
về quả, tức quả báo, có quả ắt phải có nhân. Nhân là
gì? Nhân là tu hành. Tuyết Sơn là núi Hỷ Mã Lạp Nhã (Himalaya),
đây là tỷ dụ. “Giác đạo” giống như chót đảnh Tuyết
Sơn. Câu này nói lên sự tu hành chứng quả của lão nhân
gia, chứng được Phật quả viên mãn rốt ráo, dùng Tuyết
Sơn làm tỷ dụ; Tuyết Sơn là rặng núi cao nhất, Thích Ca
Mâu Ni Phật tu hành thành tựu. Câu kế tiếp là:
Mi tế ngọc hào quang xán lạn,
Chiếu khai lục đạo hôn mông
(Ngọc hào quang rạng rỡ giữa mày,
Chiếu
sáng rực sáu đường tăm tối)
Tự mình đã thành tựu thì phải giúp đỡ chúng sanh. Phần
trên là tự mình tu hành chứng quả, tự mình chứng quả rồi
thì phải giáo hóa chúng sanh. “Mi tế ngọc hào” (tướng
bạch hào đẹp như ngọc giữa hai mày) là một trong ba mươi
hai tướng. Chúng ta thường thấy trong kinh nói đức Phật
phóng bạch hào quang (quang minh phát xuất từ tướng lông trắng
giữa hai mày), trong hào quang có hóa Phật, có hóa Bồ Tát.
“Quang trung hóa Phật vô số ức, hóa Bồ Tát chúng diệc
vô biên”, hai câu kệ trong bài Tán Phật như chúng ta thường
đọc chính là [nói đến chuyện] bạch hào phóng quang. “Mi
tế ngọc hào” thường được gọi là bạch hào, bạch hào
phóng quang.
Câu “chiếu khai lục đạo hôn mông” cho thấy vì chúng sanh
trong lục đạo có cảm, chư Phật Như Lai bèn có ứng, tức
là ứng hóa trong sáu đường, giáo hóa hết thảy chúng sanh.
Ứng hóa về mặt Lý hết sức sâu, chúng ta không cách nào
hiểu được; ứng hóa về mặt Sự hết sức huyền diệu,
chẳng thể nghĩ bàn! Nên dùng thân nào để độ, bèn hiện
thân ấy, bản thân đức Phật tuyệt đối chẳng khởi tâm
động niệm nay phải nên hiện thân hình nào, không hề [nghĩ
như thế]! Nếu Phật khởi tâm động niệm, chẳng phải là
đã biến thành phàm phu ư? Phàm phu mới khởi tâm động niệm.
Nay chúng ta tham dự bất cứ tiệc tùng nào, trước hết phải
khởi tâm động niệm: “Bữa nay mình phải ăn diện như thế
nào? Mặc quần áo gì?” Phàm phu khởi tâm động niệm, Phật,
Bồ Tát thì không. Ngay cả A La Hán ứng hóa trong thế gian
đều chẳng khởi tâm, đều không động niệm. Không khởi
tâm, không động niệm có được chăng? Được chứ! Nay chúng
ta thấy rất rõ ràng, quý vị thấy nước kết tinh đó, nước
có khởi tâm động niệm hay chăng? Không có, cứ tự nhiên
mà ứng. Chúng ta là chúng sanh, chúng ta tạo sự Cảm cho nó
bằng cách viết chữ dán trên bình pha lê, tức là dùng văn
tự để cảm, hoặc là dùng âm nhạc, âm thanh để cảm, quý
vị liền thấy nó đáp ứng. Chúng ta hữu ý, khởi tâm động
niệm là hữu ý; nước lại không, nước phản ứng rất tự
nhiên, đạo lý cảm ứng đạo giao đấy! Bởi thế chúng sanh
trong sáu nẻo có cầu, đó là Cảm, Phật, Bồ Tát bèn Ứng.
Nguyên lý này chính là “nhất thiết duy tâm tạo” (hết
thảy chỉ do tâm tạo). Nay chúng ta “duy tâm tạo”, chúng
ta yêu cầu, cầu Phật, Bồ Tát thì Phật, Bồ Tát bèn có
cảm ứng.
“Nhất
thiết duy tâm tạo” nói theo ngôn ngữ thế gian là chân lý
tối cao. Chúng ta rốt cuộc lãnh hội câu này được chừng
nào? Đọc hiểu như thế nào? Rất khó! Chớ nên hiểu lầm!
Hiểu lầm sẽ phạm sai lầm rất lớn. Trọn pháp giới, hư
không giới, khoa học hiện tại gọi là “những chiều không
gian khác nhau” vô hạn, chẳng lìa duy tâm, toàn là duy tâm
sở hiện, duy thức sở biến. Nếu quý vị hỏi vì sao mình
lại thành ra nông nỗi này ư? Bây giờ phải làm thế nào
ư? Nay chúng ta đang mê, chưa ngộ, mê vẫn là duy tâm, ngộ
cũng là duy tâm; nhưng nay chúng ta còn mê chứ chưa ngộ. Mê
chứ không ngộ thì phải chịu hết những nỗi khổ trong sáu
nẻo. Nằm mộng là duy tâm. Có người ngày nào cũng mơ những
giấc mộng đẹp, rất sung sướng; có người ngày ngày gặp
ác mộng, đều là duy tâm. Quý vị phải biết: Chúng ta hiện
đang ngày ngày gặp ác mộng, Phật, Bồ Tát ngày ngày gặp
mộng đẹp. Làm thế nào để biến ác mộng thành mộng đẹp?
Không cầu Phật, Bồ Tát giúp đỡ sẽ làm không được, quý
vị không biết cách chuyển biến như thế nào. Vì thế, Phật,
Bồ Tát giúp đỡ chúng ta rất lớn, ân đức là đây!
Chúng ta có cầu, tức là cảm, Phật, Bồ Tát bèn ứng; thành
tâm, thành ý cầu, cảm ứng rất linh, hễ thành kính bèn linh
nghiệm. Do vậy, từng câu, từng chữ trong kinh Đại Thừa
quyết chẳng được hiểu lầm. Hiểu sai, hiểu lầm sẽ phải
tiếp tục ở trong lục đạo tam đồ, không biết đến kiếp
nào mới có thể quay đầu, mới có thể giác ngộ. Vì thế,
phải dùng cái tâm chân thành, tâm cung kính cầu pháp! Chúng
ta phải thật sự hiểu được ý tứ giáo huấn của Phật,
Bồ Tát, thiện tri thức, nếu có ngờ vực phải hỏi. Trong
lịch sử Phật giáo Trung Quốc, Triệu Châu đến tám mươi
tuổi vẫn còn hành cước, một cụ già tám mươi vẫn phải
đi tham học bên ngoài là vì lẽ gì? Vì chưa đoạn nghi hoặc,
phải thân cận thiện tri thức, đến các nơi thỉnh giáo,
đoạn nghi sanh tín thì sau đấy công phu mới đắc lực.
Người hiện tại vướng mắc ở chỗ nào? Có nghi hoặc nhưng
không chịu hỏi, dường như hỏi thì rất mất mặt, mang ý
nghĩ rất xấu. Đọc kinh, nghe kinh thường hiểu lệch lạc
ý nghĩa. Đó không phải là hiếu học, không trống lòng. Dẫu
vẫn có người thỉnh giáo, nhưng thỉnh giáo rất tùy tiện,
thiện hữu khai thị cho mình, mình cũng chẳng hiểu được.
Do đạo lý nào vậy? Ấn Quang đại sư nói rất rõ: Quý vị
không hiểu “một phần thành kính được một phần lợi
ích, hai phần thành kính được hai phần lợi ích”. Học
sinh hướng về thầy thỉnh giáo, thầy trả lời có rất nhiều
người nghe. Học sinh nêu lên nghi vấn, có thể nói là nghi
vấn chung của mọi người, thầy trả lời có rất nhiều
học trò nghe. Thầy trả lời rồi, có người khai ngộ, có
người vẫn chẳng hiểu. Mỗi cá nhân nghe thầy thuyết pháp,
mỗi người ngộ khác nhau, quyết định chẳng có hai người
giác ngộ giống nhau. Vì nguyên nhân gì? Tâm thái của mỗi
người đối với thầy khác nhau. Đấy chính là như Ấn Quang
đã giảng: Ai mười phần cung kính thì người ấy được
lợi ích mười phần; ai một phần cung kính thì chỉ được
một phần lợi ích, không giống nhau!
Trong
lịch sử Trung Quốc có một tấm gương rất nổi danh là Liên
Trì đại sư. Lúc còn trẻ, Liên Trì đại sư hiếu học. Lúc
ấy, có một vị thiện tri thức là Biến Dung pháp sư, Cao
Tăng Truyện cũng chép truyện vị này. Liên Trì đại sư hết
sức ngưỡng mộ, đến thân cận Biến Dung pháp sư. Đi đến
núi của ngài Biến Dung bèn bắt đầu tam bộ nhất bái (cứ
đi ba bước là một lạy), Ngài không đi thẳng lên núi gặp
Biến Dung pháp sư mà là vừa đi vừa lạy. Cứ ba bước một
lạy, lạy mãi cho đến đại điện gặp Biến Dung pháp sư.
Đương thời, chúng tại gia, xuất gia rất đông, đều ở
cạnh Biến Dung pháp sư. Trông thấy ngài Liên Trì cung kính
như thế, lạy dưới tòa lão hòa thượng, cầu lão hòa thượng
khai thị. Lão hòa thượng nói sao? Biến Dung pháp sư chỉ nói
một câu: “Ngươi chớ để danh văn lợi dưỡng làm hại!”
Người xung quanh nghe vậy đều cười, cười chuyện gì? Cười
con người kiền thành lạy từng bước đến đây, lão hòa
thượng chẳng có diệu pháp gì để ban cho; đấy là câu thường
nói giữa thầy và trò mà! Thường xuyên nói, mọi người
nghe như gió thoảng qua tai. Thành tựu cả đời của Liên Trì
đại sư, trở thành tổ sư nổi tiếng của Tịnh tông, theo
chính Ngài nói ra là nhờ câu cảnh tỉnh ấy của Biến Dung
pháp sư. Đây chính là như Ấn Quang đại sư đã nói: “Mười
phần thành kính” cho nên Biến Dung nói với Liên Trì câu
ấy, Liên Trì bèn được mười phần lợi ích. Những kẻ
ở quanh lão hòa thượng thường nghe, nghe riết như gió thoảng
qua tai, không có tâm cung kính, nên chẳng được lợi ích.
Lão hòa thượng không có gì bí mật để truyền cho Ngài,
chỉ nói câu thường nói giữa đám đông, vì sao Ngài được
lợi ích, người khác không được lợi ích? Ở đây chúng
ta hiểu: Đúng là một phần thành kính được một phần lợi
ích, mười phần thành kính được mười phần lợi ích. Ngày
ngày ở cạnh lão hòa thượng, chẳng có tâm cung kính đối
với lão hòa thượng, lợi ích gì cũng chẳng đạt được;
một người từ phương xa tới do mười phần thành kính nên
được mười phần lợi ích. Phải khéo suy gẫm chuyện này,
rồi hãy hồi quang phản chiếu: Mình học Phật vì sao không
được lợi ích? Lại thưa cùng quý vị: Học trò của Chương
Gia đại sư rất đông, học trò của tiên sinh Phuơng Đông
Mỹ cũng đông, học trò của lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam khỏi
cần phải nói nữa; trong cả đống học trò như thế, có
mấy người được thành tựu? Vì nguyên nhân nào? Vì tâm
thái đối với thầy không giống nhau.
Cổ
nhân nói “tôn sư trọng đạo”. Tôn sư trọng đạo chẳng
phải là hình thức mà là tâm hạnh. Quý vị nghe lời thầy
dạy dỗ, thật sự thực hiện sẽ được lợi ích; nghe lời
thầy giáo huấn nhưng không thể áp dụng vào sanh hoạt thường
nhật của chính mình thì vô ích, lợi ích gì cũng không đạt
được. Quý vị thực hiện một phần sẽ được một phần
lợi ích, thực hiện hai phần bèn được hai phần lợi ích,
thực hiện mười phần sẽ được lợi ích viên mãn, không
có gì khác cả! Do vậy, thành Phật rồi phải ứng theo lòng
cảm của chúng sanh, giáo hóa hết thảy chúng sanh khổ nạn.
“Lục đạo hôn mông” (sáu nẻo tối tăm) không có trí huệ,
mê hoặc điên đảo; đúng là lục đạo chúng sanh mê chứ
không giác, tà chứ không chánh, nhiễm chứ không tịnh.
Long
Hoa tam hội nguyện tương phùng
(Nguyện
gặp gỡ trọn ba hội Long Hoa)
Những
câu trên nói về Phật Thích Ca, từ ngữ “Long Hoa tam hội”
ở đây nói đến Phật Di Lặc. Quý vị thường niệm Vô Lượng
Thọ kinh, nhất định quý vị phải hiểu rằng: Thích Ca Mâu
Ni Phật diệt độ rồi, sứ mạng hoằng pháp lợi sanh trong
tương lai được phó thác cho Di Lặc Bồ Tát. Trong tương lai,
Di Lặc Bồ Tát phải từ trời Đâu Suất giáng hạ nhân gian,
thị hiện thành Phật. “Long Hoa tam hội” chính là đại
hội hoằng pháp của Di Lặc Phật. Phàm những ai tu tập, tích
lũy thiện căn trong thời Chánh Pháp, Tượng Pháp, Mạt Pháp,
tức pháp vận một vạn hai ngàn năm của Thích Ca Mâu Ni Phật,
nhưng chưa thành tựu trong pháp vận của đức Thế Tôn, thì
trong tương lai, lúc Di Lặc Bồ Tát thành Phật, những người
ấy sẽ đều thành tựu. Nói cách khác, nhân được trồng
trong hội của Thích Ca Mâu Ni Phật, quả hiện tiền trong Long
Hoa tam hội. Do rất nhiều người nghe kinh dạy như thế, ai
nấy đều cầu sanh vào Tịnh Độ của Phật Di Lặc, hy vọng
tương lai được chứng quả nơi pháp hội của Di Lặc Bồ
Tát, chứng quả A La Hán, chứng quả Bích Chi Phật, chứng
quả Bồ Tát. Điều này không sai, nhưng rất khó được!
Diễn
thuyết pháp chân tông
“Pháp
chân tông” ở đây là gì? “Chân tông” là niệm A Di Đà
Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nói cách khác,
tương lai Di Lặc Phật xuất thế sẽ thành tựu những người
tu nhân gieo thiện căn nơi Thích Ca Mâu Ni Phật như thế nào,
dùng phương pháp gì để thành tựu họ? Vẫn cứ là giảng
pháp môn Tịnh Độ y như cũ, vẫn cứ giảng kinh Vô Lượng
Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ, kinh Phật Thuyết A Di Đà y
như cũ, dạy mọi người niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, thành tựu họ như vậy đó. Khi chúng tôi
giảng kinh Vô Lượng Thọ đã nói về “pháp chân tông”
rất nhiều. Di Lặc Bồ Tát tương lai thành Phật sẽ giảng
kinh gì? Sẽ giảng pháp môn nào? Vẫn chủ yếu là giảng ba
kinh Tịnh Độ.
Do
đây biết rằng: Niệm Phật cầu vãng sanh như thế, tức là
đến thời Phật Di Lặc mới vãng sanh thì gần như là năm
mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm. Chúng ta đợi đến năm mươi
sáu ức bảy ngàn vạn năm rồi mới niệm Phật vãng sanh,
chẳng bằng hiện tại vãng sanh ư? Trong hội Di Lặc sẽ thành
tựu như thế nào? Vẫn là niệm Phật cầu sanh Tây Phương
Cực Lạc thế giới y như cũ. Hiện tại niệm Phật vãng sanh
và đến hội Di Lặc lại niệm Phật vãng sanh, quý vị vãng
sanh trong hiện tại trở thành những bậc đàn anh, vượt lên
trước rất nhiều, những người kia rớt lại đằng sau. Rớt
lại đằng sau cũng không sao, hễ cứ vãng sanh là không sao.
Hàm ý của bài tán tụng này rất sâu, rất rộng, tùy thuộc
quý vị lãnh ngộ như thế nào! Quý vị phải thật sự ngộ,
hiện tại nỗ lực, gấp rút vãng sanh Cực Lạc thế giới.
Pháp
sự này dành cho những vong nhân (người đã khuất) nghiệp
chướng sâu nặng, trong một đời này không thể quay đầu,
vẫn không giác ngộ, phó chúc họ rốt cuộc được thành
tựu nơi đức Phật kế tiếp. Vì thế, câu nào, chữ nào
cũng đều mang ý nghĩa kép. Chúng ta phải đại triệt đại
ngộ! Đại triệt đại ngộ đây không phải là minh tâm kiến
tánh mà là trong một đời nhất định phải vãng sanh, chẳng
được bỏ lỡ cơ hội này! Nếu bỏ lỡ thì phải đợi đến
khi gặp Di Lặc Bồ Tát trong tương lai, cũng có nghĩa là phải
đợi năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm nữa, thời gian
ấy thật là dài quá! Trong thời gian dài như thế, thầy Lý
thường nói: Quý vị khó tránh khỏi luân hồi lục đạo,
trong lục đạo (đặc biệt là tam đồ) phải chịu khổ nạn.
Sau phần tán tụng lại có một phen khai thị, chúng ta hãy
xem một đoạn khai thị:
15.
Khai thị
Nhân
nhân phần thượng, bản hữu Di Đà, cá cá tâm trung, tổng
vi Tịnh Độ. Liễu tắc đầu đầu kiến Phật, ngộ lai bộ
bộ Tây Phương.
(Bản
thân ai nấy vốn sẵn Di Đà, trong tâm mỗi người đều là
Tịnh Độ. Hiểu thì thời thời thấy Phật, ngộ thì bước
bước Tây Phương)
Trong
đoạn này, “liễu” là hiểu rõ. Trung Phong thiền sư dạy
chúng ta: “Bản thân ai nấy vốn sẵn Di Đà”, tức là nơi
bản thân mỗi người pháp đã vốn sẵn là như thế. Đấy
là điều hết sức tự nhiên, xét trên căn bản của mỗi
người, Di Đà chính là tự tâm, ở phần trên đã giảng rồi:
Di Đà là tâm ta, tâm ta chính là Di Đà. Rất dễ hiểu lầm
tự tâm; cứ tưởng tự tâm là cái tâm suốt ngày suy nghĩ
lung tung của chúng ta. Không sai! Cái tâm suy nghĩ lung tung ấy
chính là Di Đà, nhưng là Di Đà đã bị điên đảo, đã bị
mê, đã không còn biết chính mình, đã bị luân hồi trong
lục đạo. Giác là Di Đà, mê là phàm phu.
“Trong
tâm mỗi người đều là Tịnh Độ”: Hễ giác thì Tịnh
Độ hiện tiền, hễ mê thì uế độ hiện tiền. Cõi nước
không có uế hay tịnh, trong Tánh không có phàm - thánh, chẳng
có chúng sanh, chẳng có Phật. Chúng sanh - Phật, tịnh - uế
chỉ do Thức biến, chỉ là hết thảy pháp từ tâm tưởng
mà sanh. Tâm thanh tịnh, Tịnh Độ hiện tiền; tâm không thanh
tịnh, uế độ hiện tiền. Tâm giác ngộ, phàm phu thành Phật;
tâm mê hoặc, vĩnh viễn làm phàm phu. Đấy chính là ý nghĩa
của hai câu trên vậy.
“Liễu
tắc đầu đầu kiến Phật” (hiểu thì thời thời thấy
Phật); Liễu là giác ngộ, là hiểu rõ. Giác ngộ rồi, mỗi
bước là Tây Phương. Câu đầu (tức câu “liễu tác đầu
đầu kiến Phật”) là chuyển phàm thành thánh, quý vị thấy
Phật tức là thành Phật. Quý vị không thành Phật làm sao
thấy được Phật? Quý vị thấy Bồ Tát thì chính là thành
Bồ Tát. Thiện Tài đồng tử tham học năm mươi ba lần là
một thí dụ hay nhất. Ngài tự chứng được Sơ Trụ, bèn
thấy Sơ Trụ Bồ Tát – tỳ-kheo Cát Tường Vân là Sơ Trụ
Bồ Tát. Chứng được Nhị Trụ bèn gặp tỳ-kheo Hải Vân,
Hải Vân là bậc Nhị Trụ. Quý vị tự chứng được Đẳng
Giác mới thấy được Đẳng Giác Bồ Tát. Thế nhưng Tây
Phương thế giới khác biệt ở chỗ nào? Quý vị chưa chứng
đắc, nhưng sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng có
thể thấy được những vị Bồ Tát như thế, thật chẳng
thể nghĩ bàn, là pháp khó tin, thật sự là pháp môn đặc
biệt.
Người
tin có phước, người không tin không có phước báo; nếu họ
cật lực tu, tu cần mẫn trong vô lượng kiếp, tu đến khi
minh tâm kiến tánh, sanh vào Hoa Tạng thế giới, lại gặp
Văn Thù, Phổ Hiền mười đại nguyện vương dẫn về Cực
Lạc. Người chịu tin thành tựu rất nhanh, không chịu tin
phải tiến chầm chậm. Tiến đến bao giờ mới tin được?
Đăng địa (Sơ Địa trở lên) mới tin được. Kinh Hoa Nghiêm
dạy: “Thập Địa Bồ Tát từ đầu đến cuối chẳng rời
niệm Phật”. Câu này là khẳng định: Đến khi nào mới
không hoài nghi, hoàn toàn tin tưởng? Đến bậc Thập Địa.
Địa vị đầu tiên trong Thập Địa là Sơ Địa, bắt đầu,
mở đầu là Sơ Địa, cuối cùng là Đẳng Giác. Mười một
địa vị này từ đầu đến cuối không rời niệm Phật,
đối với lời khuyên bảo của Văn Thù, Phổ Hiền không hoài
nghi mảy may.
Điều
này cho thấy trong Hoa Tạng thế giới, Bồ Tát thuộc địa
vị Tam Hiền vẫn chưa nhất định thật sự tin tưởng, phải
đăng địa (từ Sơ Địa trở lên) mới tin tưởng. Vì sao?
Trí huệ đã khai, là bậc đại trí huệ, không phải là tiểu
trí huệ. Đăng địa là Ma Ha Tát, không phải là Bồ Tát tầm
thường. Ma Ha Tát không có vấn đề, vừa nghe nói Ngài bèn
hoàn toàn tin tưởng, bèn niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Nếu
nay chúng ta ở trong thế giới này, ai nghe nói đến pháp môn
này mà không hoài nghi chút nào, hoàn toàn chịu tu tập, thì
nói cách khác, người ấy không khác gì bậc Bồ Tát từ Sơ
Địa trở lên, người ấy thành tựu chẳng thể nghĩ bàn!
Nói thật ra, người thế gian bị thua thiệt chỗ nào? Tự
cậy mình thông minh, không chất phác. Tự cho mình thông minh,
không biết bao lần bỏ lỡ cơ duyên, không chịu trống lòng,
không chịu bỏ cái thân mình, đều là tôn sùng tham - sân
- si - mạn, những thứ ấy hại mình thê thảm. Trái lại,
không bằng những ông già bà cả trong làng quê, một chữ
không biết, gặp được thiện tri thức dạy niệm A Di Đà
Phật, bèn chết lòng trọn ý, không do dự, không hoài nghi,
rốt cuộc họ thành công. Tôi thấy bao nhiêu người đứng
mất, ngồi mất, biết trước lúc mất, không sanh bệnh, tướng
lành hy hữu. Kẻ tự cậy mình thông minh, chẳng sánh bằng
những người ấy được, kém xa! Vì thế, “luôn luôn thấy
Phật” là chuyển phàm thành thánh, “bước bước Tây Phương”
là chuyển uế thành tịnh. A! Nay đã đến giờ rồi!
*
Chư vị đồng học!
Chúng ta tiếp tục phần khai thị của Trung Phong thiền sư:
Thượng lai khải kiến tam thời hệ niệm tịnh nghiệp đạo
tràng, kim đương đệ nhất thời Phật sự dĩ viên.
(Từ trước tới đây đã tạo lập đạo tràng tịnh nghiệp
Tam Thời Hệ Niệm, nay Phật sự thời thứ nhất đã viên
mãn)
Tiếp theo phần Khai Thị, Trung Phong thiền sư bèn nói: Trên
đây là thời thứ nhất mở đầu Tam Thời Hệ Niệm Pháp
Sự, thời thứ nhất đến chỗ này đã viên mãn.
Như thượng thù huân.
(Công huân thù thắng như trên)
Chữ “như thượng” chỉ những điều chúng ta đã thấy
trong những phần trên: Lễ tán đúng là lễ kính, tán thán,
tụng kinh, niệm chú, khai thị, sám hối, phát nguyện, xưng
dương Phật bảo. Những pháp sự này đều là vì siêu độ
vong linh, đến đây là thời thứ nhất. “Như thượng thù
huân”: Huân là công huân, Thù là thù thắng, rất đông người
cùng thực hiện. Nhất là trong Tam Thời Hệ Niệm Phật sự,
ngoại trừ vị pháp sư xuất gia lãnh chúng ra, đại chúng
tham dự rất đông, tứ chúng đồng tu đều tham gia, đúng
là Vô Già pháp hội (1). Bao nhiêu người như thế vì vong linh
chúc phước, vì người đã khuất trợ niệm, đấy là công
đức thù thắng.
Đầu nhập Di Đà đại nguyện hải trung
(Gieo vào trong biển đại nguyện Di Đà)
Di Đà đại nguyện là bốn mươi tám nguyện, nguyện nào cũng
nhằm độ chúng sanh khổ nạn thuộc chín pháp giới khắp
cùng pháp giới, hư không giới. Di Đà được xưng là nguyện
hải. Công đức của chúng ta đã tu tương ứng với Di Đà
nguyện hải, đấy chính là “gieo vào trong biển đại nguyện
Di Đà”.
Chuyên vị vong linh cầu sanh Tịnh Độ.
(Chuyên vì vong linh cầu sanh Tịnh Độ)
Hệ Niệm Pháp Sự này chẳng vì chuyện gì khác, mà “chuyên
vì” giúp cho “vong linh cầu sanh Tịnh Độ”. “Chuyên vì”
là một lẽ, những người được siêu độ ké rất nhiều,
tức là những ai có duyên. Có duyên thì ngay khi ấy cùng được
siêu độ. Bởi thế, thông thường chúng ta hồi hướng, quán
tưởng hết thảy chúng sanh trong chín pháp giới. Nếu là người
tâm lượng lớn hơn nữa thì hồi hướng, quán tưởng hết
thảy thần linh trọn pháp giới, hư không giới. Chúng ta có
thể quán tưởng như thế thì họ đều được lợi ích. Đây
chính là điều đức Phật đã thường dạy trong giáo pháp
Đại Thừa: “Hết thảy pháp từ tâm tưởng mà sanh”, cảnh
giới chẳng thể nghĩ bàn! Tiếp đó, thiền sư lại vì chúng
ta khai thị, lời khai thị này rất quan trọng, đều nhằm
mục đích khơi gợi cho chúng ta:
Đản niệm tự tùng vô thỉ, ngật chí kim sanh.
(Chỉ nghĩ kể từ vô thỉ cho đến đời này)
Đúng là từ vô thỉ kiếp mãi cho đến ngày nay.
Nhất niệm vi chân, lục căn trục vọng, tùy tình tạo nghiệp,
túng ngã vi phi.
(Một niệm trái nghịch chân, sáu căn đuổi theo vọng, theo
tình tạo nghiệp, buông lung cái Ngã làm quấy)
Tiểu đoạn này hết sức cảm khái, thống thiết sám hối.
Chúng ta từ vô thỉ kiếp đến nay, mãi cho đến đời này,
đến tận ngày hôm nay “một niệm trái nghịch chân”, tức
là khởi Hoặc. “Một niệm” là gì? Là khởi tâm động
niệm. Nếu hiểu Chân Tâm, bản tánh sẽ chẳng khởi tâm động
niệm, vĩnh viễn là tướng tịch diệt, tướng thanh tịnh
tịch diệt, sở chứng nơi quả địa Như Lai vốn tịch. Một
niệm vọng động bèn thành vô minh, động một cái là phiền
phức xảy ra liền.
“Sáu căn đuổi theo vọng”, sáu căn lập tức bị mê. Khi
mê bèn khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, Căn, Trần,
Thức đều hư vọng không thật, trong Bách Pháp Minh Môn Luận
chúng đều được gọi là “pháp hữu vi”. Tám thức, năm
mươi mốt Tâm Sở [là pháp hữu vi]. Sáu căn, sáu trần thuộc
về Sắc Pháp, tám thức, năm mươi mốt Tâm Sở thuộc về
Tâm Pháp, chúng vẫn là Bất Tương Ưng Hành Pháp, đều là
hư vọng. Chúng ta mê mất chân tánh, “trái nghịch chân”:
Chân là chân tánh, tức là Tự Tánh. Mê rồi thì niệm niệm
đều chuyển trong hư vọng.
“Mặc tình tạo nghiệp, buông lung cái Ngã làm quấy”: Tình
là gì? Tình chính là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước,
tức tình thức! “Buông lung cái Ngã làm quấy”: Ngã chính
là cái thân này, thân miệng tạo nghiệp. Tình là mê tình,
điều gì cũng cho mình là đúng. Trong những buổi giảng, chúng
tôi thường nói là “tùy thuận phiền não, tập khí”; ở
đây gọi là “theo tình tạo nghiệp”, nghiệp được tạo
ở đây là ý nghiệp, “buông lung cái Ngã làm quấy” là
khẩu nghiệp, thân nghiệp. Câu này là nói tổng quát, câu
tiếp theo lại nói riêng [từng nghiệp].
Thân nghiệp tắc sát, đạo, tà dâm.
(Thân nghiệp thì giết, trộm, tà dâm)
Đây là ba nghiệp nơi thân. Mê mất Tự Tánh, tự nhiên sẽ
tạo ác nghiệp. Phạm vi bao hàm của Sát rất rộng. Hễ tổn
người lợi mình đều thuộc về Giết - Trộm. Hại người
là thuộc về Sát, đoạt lấy danh lợi của người khác là
Trộm. Thân tạo nghiệp giết, trộm, dâm.
Khẩu quá tắc vọng ngôn
(Lỗi nơi miệng là nói dối)
Vọng ngữ là có ý khinh dối người khác.
Ỷ ngữ.
(nói thêu dệt)
Hoa ngôn xảo ngữ dụ hoặc người khác. Hiện thời Ỷ Ngữ
là chuyện rõ ràng nhất, người thế gian gọi Ỷ Ngữ là
gì? Là Văn Nghệ. Hiện tại biểu diễn văn nghệ, ca múa,
hý kịch, âm nhạc, mỹ thuật, hiện thời lại còn có điện
ảnh, truyền hình, quý vị thấy nội dung của chúng là gì?
Là Ỷ Ngữ! Dụ dỗ mê hoặc con người, dụ dỗ mê hoặc
con người làm gì? Dụ dỗ mê hoặc con người làm chuyện
giết - trộm - dâm - dối. Sức dụ hoặc bên người hết sức
mạnh mẽ, dùng truyền hình, dùng Internet đưa đến tận nhà,
quý vị bị những thứ này nhiễm ô.
Lưỡng
thiệt, ác khẩu.
(Nói
đôi chiều, nói thô ác)
“Lưỡng
thiệt” là khuấy động thị phi, dù hữu ý hay vô ý cũng
đều là thích phê bình người khác, hủy báng người khác,
tán dương bản thân, trong giới luật Đại Thừa gọi là [tội]
“khen mình chê người”. Câu này nói về lưỡng thiệt, ác
khẩu, tức miệng tạo nghiệp. Ý là ý niệm.
Ý
ác tắc thường khởi tham - sân, thâm sanh si ái.
(Ý
ác thì thường nổi tham - sân, sanh lòng yêu mến si mê sâu
xa)
Tham
- sân - si: Mười ác nghiệp này ai có thể tránh được? Trong
một ngày, ai có thể không tạo mười ác nghiệp? Đừng nói
chi nhiều, một ngày thôi, ngày hôm nay từ rạng sáng đến
khi đi ngủ, trong một ngày, vẫn chưa đủ hai mươi bốn tiếng
đồng hồ, trừ lúc quý vị ngủ ra không tính. Tính từ buổi
sáng sáu giờ thức dậy cho đến khi quý vị đi ngủ buổi
tối, đến mười hai giờ đêm bèn đi ngủ, trong mười mấy
tiếng đồng hồ ấy, quý vị có thể không tạo mười ác
nghiệp hay không? Một ngày không tạo mười ác nghiệp công
đức rất lớn. Nếu quý vị có thể trong cả một đời không
tạo mười ác nghiệp thì quý vị là Bồ Tát, chẳng phải
là phàm nhân, phàm nhân không thể làm được như thế. Ngày
nay chúng ta học Phật, học Phật là học điều gì? Học chuyển
phàm thành thánh, phải bắt đầu chuyển từ đâu? Không tạo
mười ác nghiệp. Giảng kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, chúng
tôi đã giảng mười ác nghiệp rất tường tận. Kinh Vô Lượng
Thọ cũng giảng rất tường tận. Với mười giới của Sa
Di Luật Nghi quý vị chú tâm xem xét, nghiêm túc nỗ lực học
tập, phải khắc phục những ý niệm bất thiện, hành vi bất
thiện của chính mình thì trong một đời này mới có lối
ra; cầu sanh Tịnh Độ mới thật sự có thể làm được.
Nếu như mười ác không đoạn thì những thứ ấy sẽ gây
phiền lụy cho quý vị, những phiền lụy ấy khiến cho quý
vị chẳng thể vãng sanh. Quý vị niệm Phật cũng không vãng
sanh được, vì sao? Những thứ ấy gây phiền lụy giống như
dây trói, buộc chặt quý vị trong lục đạo, không ra được,
quý vị phải cắt đứt những thứ ấy. Quá khứ vô tri, ngày
ngày tạo nghiệp; nay đã giác ngộ, quyết định chẳng bại,
thà bỏ thân mạng cũng không nên làm mười điều ác.
Nói
thật ra, không đếm xỉa tới thân mạng nữa. Ta bỏ thân
mạng, không tạo mười ác nghiệp, đời sau mình sanh lên cao;
dẫu không niệm Phật, không cầu sanh Tịnh Độ thì quý vị
cũng được sanh vào Thiên Đạo. Nếu quý vị tham sống sợ
chết, vẫn cứ tạo mười ác nghiệp y như cũ, đời sau sanh
vào ba ác đạo: Tâm tham biến thành ngạ quỷ, sân khuể biến
thành địa ngục, ngu si biến thành súc sanh. Quý vị phải
thọ sanh nơi đâu? Thọ sanh trong ba đường ác. Vì thế, đối
với chuyện này, mỗi ngày trước khi đi ngủ phải tự hỏi
lòng mình sẽ biết ngay tương lai mình sanh vào đâu, không
cần hỏi ai khác. Người khác nói chi đi nữa cũng không thể
tin tưởng được, tự mình hỏi mình là đáng tin cậy nhất!
Mỗi ý niệm trong tâm đều là A Di Đà Phật, không có tham
- sân - si, không có thị - phi, nhân - ngã. Tôi gọi là “không
tự tư tự lợi, không tham - sân - si - mạn”, người như
vậy là người thuộc thế giới Cực Lạc, không còn là người
trong thế giới Sa Bà nữa, niệm niệm chỉ có A Di Đà Phật.
Bởi thế, những thứ đó (tức mười ác nghiệp) phiền toái
rất lớn.
Do
tư tam nghiệp.
(Do
ba nghiệp này)
Ba nghiệp này hễ một nghiệp khởi thì cả ba nghiệp đều
khởi, không phải chỉ một nghiệp đơn độc khởi.
Câu tỏa vọng duyên
(Vọng duyên lôi trói)
Vọng duyên là cảnh giới bên ngoài. Trong tâm khởi phiền
não cùng ác duyên bên ngoài tập hợp, đấy là tạo nghiệp.
Tạo nghiệp phải thọ báo.
Thường cốt cốt ư trần lao
(thường chìm lỉm trong trần lao)
“Trần
lao” là lục đạo, nếu nói khó nghe hơn thì là “tam đồ”.
“Cốt cốt” là trầm luân, thường chìm đắm trong tam đồ.
“Trần” là nhiễm ô, nhiễm ô nghiêm trọng. “Lao” là
nhọc nhằn, phiền lụy, khổ sở.
Đản
mang mang ư tuế nguyệt.
(Chỉ
mờ mịt cùng năm tháng)
“Mang
mang” là không bờ bến, chúng ta thường nói là đời này
đời sau chịu khổ bao kiếp. Quả thật, tam ác đạo, Phật
đã nói rất nhiều lần, bước vào dễ, thoát ra rất khó!
Nếu đọa địa ngục thì [thời gian] từ địa ngục thoát
ra phải được tính bằng kiếp, ngạ quỷ đạo cũng rất
nghiêm trọng. Súc sanh đạo ngu si, quý vị đừng vì thọ mạng
của súc sanh tợ hồ không dài [mà cho là không nghiêm trọng],
chúng cố chấp, rất ngu si, đọa vào súc sanh đạo bèn chấp
thân ấy là thân của chính mình; từ đấy trở đi, chúng
không ý niệm đổi lấy thân khác. Từ kinh điển chúng tôi
đọc thấy Thích Ca Mâu Ni Phật tại Kỳ Thọ Cấp Cô Độc
Viên trông thấy một tổ kiến, Phật nhìn rồi mỉm cười,
những đại đệ tử chung quanh Phật thấy Ngài nhìn tổ kiến
mỉm cười bèn hỏi Thích Ca Mâu Ni Phật vì sao lại cười
lũ kiến? Phật dạy:
- Các
ông có biết chăng? Lũ kiến trong tổ này, bảy đức Phật
đã nhập diệt rồi mà chúng vẫn còn làm kiến.
Nào
phải là lũ kiến có thọ mạng dài lâu như thế đâu! Chúng
ta giả thiết cứ mỗi một đức Phật là ba đại A Tăng Kỳ
kiếp thì bảy vị Phật là hai mươi mốt đại A Tăng Kỳ
kiếp, lũ kiến ấy vẫn làm kiến. Nguyên do vì đâu? Chết
đi, vẫn cứ đầu thai làm kiến như cũ. Đời đời kiếp
kiếp không đổi thân kiến. Bảy đức Phật đã nhập diệt
rồi, Phật cười lũ kiến ngu si! Đó là nói về súc sanh đạo,
đọa súc sanh đạo cũng dễ lắm, thế nhưng muốn giác ngộ
trong đường súc sanh nào phải là chuyện dễ. “Mịt mờ
cùng năm tháng”.
Dục
tư xuất ly, duy bằng sám hối huân tu chi lực.
(Nghĩ
muốn thoát lìa, chỉ có cách nhờ vào sức huân tu sám hối)
Muốn
thoát ly ba ác đạo thì phải “sám hối huân tu”. Thế nhưng
không dễ gì sám hối do vì chấp trước, vô cùng chấp trước,
lúc đọa ba ác đạo là lúc tham - sân - si - mạn nghiêm trọng
nhất. Người ta bảo cho nghe chuyện gì tốt, vẫn cứ hoài
nghi, không tin tưởng: Ông nói vậy là có ý gì? Có phải ông
tính lừa tôi hay chăng? Đa nghi, hay nghi, khiến cho thiện căn,
phước đức, nhân duyên của mình đều bị chướng ngại.
Nay nhiều thiện tri thức như vậy cùng ở một chỗ tu Tam
Thời Hệ Niệm pháp sự, giúp đỡ chúng sanh khổ nạn. Mỗi
một thời đều sám hối, hy vọng những vong linh đều có
thể tùy hỷ; họ trông thấy, nghe thấy đều giác ngộ, cùng
mọi người tu pháp sám hối. Huân tu: Chúng tôi thường nói
là “trường thời huân tu”. Cách thức như thế này:
Hề
nhãn nhĩ thiệt thân ý chi quá khiên, ứng niệm đốn tiêu.
(Mong
những tội lỗi nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, ngay lập
tức nhanh chóng tiêu tan)
Tiêu
nghiệp chướng chỉ có phương pháp này: Khiến cho quý vị
đối với những lỗi lầm nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
ý, những tội lỗi ấy (phần trên gọi là “tùy tình tạo
nghiệp”) chân chánh sám hối, thật sự được Phật pháp
huân tu. Đại chúng cùng hợp sức lại, thiện tâm, thiện
nguyện ấy gia trì, hy vọng những lầm lỗi nơi sáu căn của
các vị, tức những lầm lỗi nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
ý “ngay lập tức tiêu tan nhanh chóng”. Ngay lập tức tiêu
tan nhanh chóng là thật, chỉ sợ điều gì? Chỉ sợ người
ta không ứng, chẳng hoàn toàn tương ứng pháp sự này. Nếu
tương ứng sẽ tiêu trừ rất nhanh chóng, tội chướng liền
tiêu.
Sử
sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp chi phù trần, tức thời
thanh tịnh.
(Khiến
cho phù trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp ngay lập tức
thanh tịnh)
Đây
là nói về quả báo. “Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp”
là sáu trần, trong chín pháp giới khác nhau. “Phù trần”
sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp của nhân gian khác với ngạ
quỷ. Sáu trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp của ngạ
quỷ đạo lại khác với địa ngục đạo, do cảm quả báo
mà! Giống như trong thế giới hiện hữu của chúng ta đây,
sáu trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp khác với sáu trần
trong thế giới Cực Lạc. Vì sao khác nhau? Do nghiệp khác nhau.
Do vậy nói: Sáu căn tạo nghiệp có nặng - nhẹ sai khác. Tạo
nghiệp nhẹ thì cảnh giới sáu trần tốt hơn một chút; tạo
nghiệp nặng thì cảnh giới tệ hơn. Chúng ta thường gọi
là hoàn cảnh sống, tạo thiện nghiệp nhiều, ác nghiệp ít
thì hoàn cảnh sống tốt đẹp; tạo ác nghiệp nhiều thiện
nghiệp ít thì hoàn cảnh sống không tốt, tai nạn lại nhiều.
Hiện
tại trong thế gian này, vì sao tai nạn lại nhiều đến thế?
Chúng ta hiểu rất rõ ràng, minh bạch: Do cộng nghiệp chiêu
cảm. Người sống trên quả địa cầu này, người tạo nghiệp
bất thiện rất nhiều, người tạo thiện nghiệp quá ít.
Bởi thế tần số thiên tai nhân họa không ngừng tăng thêm,
tai nạn ngày càng nghiêm trọng hơn. Quý vị hiểu rõ sự lý
nhân quả này thì tự nhiên sẽ thấu hiểu: Chúng ta phải
tự cứu, phải giúp đỡ người khác. Làm cách nào đây? Phải
bắt đầu từ chính bản thân mình, đoạn ác tu thiện, sửa
lỗi đổi mới, hy vọng tội chướng của chính mình tiêu
trừ, hy vọng hoàn cảnh của chúng ta sẽ chuyển biến thanh
tịnh hơn. Tiếp đó, kinh văn dạy chúng ta phát nguyện:
Hựu
Cực Lạc cầu sanh
(Lại
cầu sanh Cực Lạc)
Nay
chúng ta phải nghĩ cầu sanh về Cực Lạc thế giới.
Toàn
bằng phát nguyện
(Hoàn
toàn nhờ vào phát nguyện)
Câu
nói này không khác gì lời Ngẫu Ích đại sư nói cả. Ngẫu
Ích đại sư nói: “Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới
được hay chăng, quyết định ở chỗ có tín nguyện hay không?”
Chúng ta tin chân thành, nguyện thiết tha thì được vãng sanh;
phẩm vị cao hay thấp là do công phu niệm Phật sâu hay cạn.
Cầu sanh “hoàn toàn nhờ vào phát nguyện”, nguyện chân
thật, tin thiết tha. Chúng ta phải thật lòng, tin thật sự,
nguyện thiết tha niệm bài kệ phát nguyện này mới có thể
cảm động quỷ thần. Cảm động được quỷ thần bèn có
lợi ích. Chính chúng ta tín nguyện không thật, không thiết
tha, dùng ý niệm ấy niệm bài kệ này sẽ chẳng cảm nhận
được lợi ích rất lớn. Đối với chuyện này, hiện nay
không ít đồng học đã đọc cuốn sách nói về nước kết
tinh, cuốn sách ấy đã chứng minh điều sau: Tâm chân thành,
thành tâm thành ý dùng ý nghĩ tốt lành đối với một chén
nước; thật sự dùng thiện tâm, thiện ý, tâm chân thành,
chuyển những ý niệm tốt lành của chúng ta đến nước,
xa đến đâu cũng không ngại. Bọn họ đã từng làm thí nghiệm:
Đặt một chén nước trên bàn làm việc trong sở, gọi điện
thoại thông báo cho năm trăm người sống ở những chỗ khác
nhau trên toàn quốc cùng một lúc - thời gian rất quan trọng
- cùng một thời gian, đại khái chỉ cần chừng ba phút thôi,
tự mình dùng thành ý, tâm chân thành, dùng thiện ý nói với
chén nước ấy: “Ngươi rất trong sạch, chúng ta rất vui
thích, rất cảm tạ ngươi”. Lặp lại câu ấy mấy lượt
trong vòng ba phút, sau đấy đem nước đó đi xét nghiệm, nước
kết tinh hết sức đẹp đẽ.
Như
vậy, ý niệm không có khoảng cách thời gian hay không gian,
thí nghiệm trên đã chứng minh điều này! Chúng ta giúp cho
chúng sanh trong chín pháp giới, giúp đỡ hết thảy quỷ thần
không thể không thành tâm thành ý. Tâm quý vị không chân
thành, nguyện không thiết tha, quỷ thần cười cợt: “Ngươi
bày trò đùa, ngươi không thật sự làm!” Quý vị đùa bỡn
họ, họ cũng chọc ghẹo lại quý vị. Vì thế, chân thành,
bình đẳng, chánh giác, từ bi phải được bồi dưỡng trong
sanh hoạt thường nhật. Chúng ta sống chân thành, dùng Chân
Tâm xử sự, dùng chân tâm thành ý để đãi người tiếp
vật, một điều chân thật thì hết thảy điều chân thật,
một sự thành thực thì hết thảy mọi sự thành thực, có
vậy mới chuyển được cảnh giới của chính mình: Chuyển
ác thành thiện, chuyển mê thành ngộ, đến rốt cục là chuyển
phàm thành thánh, chuyển Sa Bà thành Cực Lạc. Chúng ta cầu
sanh Tịnh Độ như thế thì mới hòng nắm chắc [chuyện vãng
sanh], một đời này học Phật mới không luống uổng, chắc
chắc có thành tựu.
Quý
vị có thành tựu thì đối với thầy, đối với bạn lành,
đối với hộ pháp, quý vị mới là thật sự cảm tạ. Do
vậy, điều kiện tiên quyết của báo ân là tri ân, thế nào
là tri ân? Thật sự nhận cái ân ấy. Nay bảo là quý vị
báo ân, nhưng sao chẳng sanh khởi ý niệm gì cả? Do nguyên
nhân nào? Do không cảm nhận ân đức, căn bản là quý vị
chẳng tri ân. Tri ân là phải hoàn toàn thực hiện được
lời Phật dạy dỗ, đấy mới là tri ân. Tâm biến đổi,
tư tưởng biến đổi, hành vi biến đổi, có vậy mới là
tri ân. Ai giúp quý vị biến đổi? Thiện tri thức giúp mình
biến đổi, hộ pháp giúp mình chuyển biến, hết thảy chúng
sanh giúp mình biến chuyển. Trên báo bốn ân nặng, dưới
cứu khổ ba đường, cái tâm ấy phải thật sự sanh khởi.
Vì vậy, cầu sanh Tịnh Độ “hoàn toàn nhờ vào phát nguyện”.
Ngưỡng
lao pháp chúng
(Xin nhọc sức pháp chúng)
Quý vị thấy đó: Giọng điệu trong câu này rất khẩn thiết,
rất khiêm tốn, rất tôn trọng người khác! Ngài là bậc
đại đức minh tâm kiến tánh, chẳng phải là hạng người
tầm thường. Đại chúng là phàm phu, “thỉnh” đại chúng
hãy vui lòng, “xin nhọc sức” tôn kính đến cùng cực! Từ
nguyện lễ kính chư Phật của mười nguyện Phổ Hiền ở
phần trên quý vị đã thấy rồi đó! “Pháp chúng” là đại
chúng tham gia pháp hội.
Dị
khẩu đồng âm
(Khác
miệng cùng âm)
Mọi
người chúng ta hãy cùng vì vong linh chúc phước.
Kính
vị vong linh chí tâm sám hối phát nguyện.
(Kính
vì vong linh chí tâm sám hối phát nguyện)
Điều
chúng ta sắp làm đây trong kinh Phật thường gọi là “vì
người diễn nói”. Chúng ta vì vong linh biểu diễn, vì họ
thuyết pháp, vì hết thảy quỷ thần, vì chúng sanh trong chín
pháp giới “sám hối phát nguyện”. Sám hối là vì họ biểu
diễn, vì họ thuyết pháp. Dưới đây là bài kệ sám hối,
tức bài kệ sám hối của Phổ Hiền Bồ Tát.
16.
Sám hối, phát Tứ Hoằng Thệ Nguyện
Vãng
tích sở tạo chư ác nghiệp.
(Xưa
kia trót tạo bao nghiệp ác)
Hai
chữ “vãng tích” có thể tính ngược lên đến vô thỉ
kiếp trước, từ vô thỉ kiếp cho đến ngày nay đã làm vô
lượng vô biên ác nghiệp. Phải thật sự hiểu được chân
tướng sự thật thì mới lãnh hội được câu nói trong Địa
Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh: “Chúng sanh Diêm Phù Đề khởi
tâm động niệm không gì chẳng phải là tội”. Trước hết
là thừa nhận, tỏ bày sám hối, ta từ quá khứ cho đến
hiện tại đã tạo vô lượng vô biên ác nghiệp.
Giai
do vô thỉ tham sân si
(Đều
do vô thỉ tham sân si)
Vì
đâu chúng ta tạo nghiệp? Vì sao Phật, Bồ Tát không tạo
nghiệp? Phật, Bồ Tát không có tham - sân - si, chúng ta không
đoạn tham - sân - si. Từ vô thỉ kiếp đến nay tham - sân
- si không đoạn, tham - sân - si là căn bản tạo nghiệp.
Tùng
thân ngữ ý chi sở sanh
(Từ
thân miệng ý phát sanh ra)
Đây
chính là nghiệp nhân. Tham - sân - si là mê, mê rồi sẽ khiến
cho thân - khẩu - ý chúng ta tạo tác mọi thứ bất thiện,
tổn người lợi mình. Thế gian thường nói “tổn người
lợi mình”, thật ra nói như vậy là sai, phải nói như thế
nào? Tổn người hại mình mới là đúng! Nếu tổn người
lợi mình thì tốt quá rồi! Nếu tổn người lợi mình thì
Phật, Bồ Tát đều làm hết rồi, tổn người có thể lợi
mình thì ai lại chẳng muốn làm cơ chứ? Tổn người quyết
định hại mình, bởi thế Phật, Bồ Tát không làm. Quý vị
tưởng tổn người thì mình được lợi đôi chút, nhưng chỉ
là cái lợi nhỏ nhoi trước mắt. Lợi ấy hưởng được
mấy ngày? Hưởng xong, quả báo về sau là tam đồ. Bởi thế,
tổn người quyết định hại mình, tự mình hại mình thê
thảm, khiến cho chính mình đọa lạc tam đồ, đọa lạc địa
ngục, khổ chẳng thể nói nổi!
Ở
trong địa ngục lúc nào mới thoát ra được? Thăm thẳm không
kỳ hạn. Lúc còn sống không biết, tưởng mình chiếm được
tiện nghi, nào biết mình bị thiệt thòi lớn lắm. Những
người bị quý vị hại, nếu không tội lỗi, họ bị quý
vị hại, người ta sanh lên trời, hoặc là đời sau lại sanh
làm người. Hãy nghĩ xem: Quý vị có hại được họ hay không?
Không hại được họ, mà hại chính mình. Tương lai thoát
khỏi địa ngục rồi, thoát khỏi ngạ quỷ rồi, vẫn phải
biến thành súc sanh trả nợ. Quý vị hại người, tương lai
người ta đòi nợ mình, báo này đền báo kia, đúng là “thiếu
mạng phải đền mạng, thiếu tiền phải trả tiền”. Nếu
quý vị thật sự thông đạt nhân quả ba đời thì tâm sẽ
bình. Như vậy rồi mới thật sự biết bất cứ ai sống trên
thế gian này muốn chiếm tiện nghi thì chẳng hề có chuyện
đó đâu! Nếu bảo là bị thua thiệt cũng chẳng có chuyện
ấy đâu! Vì sao? Quả báo đền trả thông suốt ba đời. Hiện
tại dường như chúng ta bị thua thiệt; tương lai người ta
phải đền nợ, trả nợ còn đèo thêm tiền lời. Phật, Bồ
Tát, A La Hán có Thiên Nhãn Thông, trong kinh đức Phật dạy
chúng ta: “Thiên Nhãn, Túc Mạng của bậc A La Hán biết được
năm trăm đời”. Các Ngài thấy được nhân quả năm trăm
đời của lục đạo chúng sanh trong thế giới Sa Bà, nghiệp
nhân quả báo! Địa vị chứng ngộ càng cao hơn, năng lực
càng lớn hơn, đến quả địa Như Lai hoàn toàn không có chướng
ngại. Vô lượng kiếp của vô lượng kiếp, Phật thấy rõ
ràng, minh bạch.
Do
tham - sân - si là gốc của hết thảy ác nghiệp nên chúng
được gọi là Tam Độc. Chúng ta trong có Tam Độc, lại bị
bên ngoài dụ dỗ, mê hoặc, bị những cảnh giới bất thiện
ấy dụ dỗ, mê hoặc khiến cho thân - ngữ - ý làm ác. Làm
ác chắc chắn không thể tránh khỏi ác báo. Bởi thế, nếu
quý vị thành tâm thành ý niệm bài kệ này, ắt sẽ ứa lệ,
ắt phải cảm động.
Kim
đối Phật tiền cầu sám hối.
(Nay
đối trước Phật xin sám hối)
Nay
chúng ta đối trước tượng Phật, Phật là bậc đại trí
đại giác, đại từ đại bi, cầu Phật chứng minh, con nay
thật sự sám hối. Chẳng phải là cầu Phật tha tội, Phật
chẳng thể tha tội cho quý vị được. Nếu quý vị cầu Phật
tha tội thì quan niệm ấy hoàn toàn sai lầm! Cầu Phật chứng
minh, từ nay trở đi con hối cải. Sám hối chính là sửa đổi
lỗi lầm nơi ý tưởng, sau này không gây tạo nữa, Phật
chứng minh cho con, ý nghĩa là như thế. Chỗ này chẳng được
hiểu lầm kẻo rồi cứ cầu Phật, cầu Bồ Tát tha tội,
tha thứ cho mình. Phật, Bồ Tát đâu có trách móc quý vị.
Phật, Bồ Tát chẳng bận tâm quý vị đã làm chuyện gì đâu!
Quý vị tự làm tự chịu, ai lo cho quý vị được? Nay chính
bản thân chúng ta phải thống thiết phát nguyện, sửa lỗi
đổi mới, đoạn ác tu thiện, cầu Phật, Bồ Tát chứng minh,
cầu Phật, Bồ Tát gia trì. Sợ chính mình không có năng lực,
vẫn cứ không đương cự nổi dụ dỗ, mê hoặc y như cũ
nên cầu Phật, Bồ Tát oai thần gia trì. Khi dụ dỗ, mê hoặc
hiện diện, Phật, Bồ Tát sẽ khiến cho mình cảnh giác cao
độ, không còn làm ác nữa. Đấy chính là ý nghĩa của câu
“nay đối trước Phật cầu sám hối”. Sám hối xong lại
phát nguyện:
Chúng
sanh vô biên thệ nguyện độ
Muốn
được như Phật thì ta phải học theo Phật, phải làm giống
như Phật. Nguyện của Phật là phổ độ chúng sanh, phát tâm,
phát nguyện, thật sự nghĩ đến chuyện làm lợi cho hết
thảy chúng sanh. Chúng sanh vô lượng vô biên, ở đây bao gồm
chúng sanh trong chín pháp giới, gồm trọn khắp pháp giới,
hư không giới. Nếu nói như kinh Hoa Nghiêm thì là chúng sanh
trong trùng trùng vô tận thế giới. Ta khởi tâm động niệm
nghĩ đến họ, giúp cho họ phá mê khai ngộ, giúp họ viên
thành Phật đạo. Đấy là bổn nguyện của hết thảy chư
Phật, Bồ Tát. Nay chúng ta cũng phải phát đại nguyện giống
như thế. Phát được đại nguyện ấy, phi thường thay! Mười
phương ba đời tất cả hết thảy chư Phật Như Lai đều
bảo hựu mình, vì sao? Mình đồng tâm, đồng nguyện, chí
đồng đạo hợp với các Ngài. Mình là đồng chí của các
Ngài, Phật, Bồ Tát lẽ đâu không hộ niệm! Hết thảy thiện
thần nào ai không ủng hộ! Không cầu Phật hộ niệm, Phật
vẫn hộ niệm; không cầu thiện thần ủng hộ, thiện thần
vẫn bảo hựu. Vì sao? Nguyện ấy phi thường lắm!
Thế
nhưng khi chúng ta niệm câu này có phát được nguyện ấy
hay không? Không phát! Sao biết là mình không phát? Kẻ kia mình
ghét lắm, không lẽ quý vị nói “chúng sanh vô biên thệ
nguyện độ” ngoại trừ kẻ đó ra; tiếp đó thòng thêm
một câu: “Ngoại trừ kẻ đó ra”; lẽ nào có đạo lý
như vậy được! Do vậy, chúng ta ngày ngày niệm nhưng không
phát nguyện. Hễ phát thì phải làm sao nữa? Nguyện để dẫn
hạnh, phát nguyện rồi thì phải có hành vi tiếp theo sau đó.
Miệng phát nguyện, chẳng có hành vi tiếp theo thì nguyện
ấy là giả, là trống rỗng. Nói khó nghe hơn là “dối mình
lừa người”: Dối gạt bản thân mình, dối gạt Phật, Bồ
Tát, dối gạt chúng sanh, quý vị phải gánh cái tội gì? Mở
mắt thao láo mà nói dối! Chúng ta phải hiểu điều này.
Với
nguyện này, Phật, Bồ Tát không có vấn đề gì, các Ngài
có trí huệ, có năng lực, có phước báo, quả thật có thể
độ hết thảy chúng sanh; nay chúng ta phát nguyện này, không
có trí huệ, cũng không có đức hạnh, cũng không có phước
báo, lấy gì giúp đỡ người khác đây? Hoàn toàn không có
năng lực, làm sao giúp đỡ người khác cho được? Tùy hỷ!
Thấy người khác làm việc tốt, chúng ta hoan hỷ, tán thán,
chúng ta làm được chuyện này. Chỉ cần tận tâm, dốc tận
sức thì là công đức viên mãn. Do vậy, chân chánh phát nguyện
này xong, thiện tâm sẽ sanh khởi, thiện niệm sanh khởi, thiện
hạnh cũng sanh khởi, tự nhiên có thể sửa lỗi đổi mới.
Câu tiếp theo:
Phiền
não vô tận thệ nguyện đoạn
Thật
sự phát đại nguyện này thì trước hết chính mình phải
đoạn phiền não, thành tựu đức hạnh của chính mình. Giáo
học của Khổng lão phu tử gồm bốn khoa, thứ nhất là đức
hạnh, thứ hai là ngôn ngữ, thứ ba là biện sự (nay chúng
ta gọi là năng lực về mặt kỹ thuật), thứ tư mới là
văn học. Theo thứ tự ấy, đầu tiên là đức hạnh. Đức
hạnh nghĩa là trước hết phải làm thiện nhân. Căn bản
của thiện nhân là ba thiện căn: không tham, không sân, không
si. Nếu trừ sạch tham - sân - si thì quý vị mới là thiện
nhân thật sự, con người như vậy mới không làm ác. Tất
cả hết thảy thiện pháp thế gian đều sanh từ những căn
cội không tham, không sân, không si này. Tất cả hết thảy
tội ác trong thế gian, tất cả hết thảy ác nghiệp đều
sanh từ Tam Độc tham - sân - si. Tham - sân - si sanh ra ác nghiệp,
nên được gọi là Tam Độc. Vô tham, vô sân, vô si gọi là
ba thiện căn, sanh ra tất cả hết thảy thiện nghiệp thế
gian. Trước hết quý vị phải đoạn phiền não, trong phần
trên đã gọi phiền não là “vô thỉ tham - sân - si”, trước
hết phải đoạn những thứ ấy. Phải đoạn sạch tham - sân
- si - nghi - mạn từ vô thỉ kiếp đến nay.
Đoạn
trừ phiền não rồi phải học pháp môn. Nếu quý vị không
có học vấn sẽ không có bản lãnh, không cứu người khác
được, giúp người ta không thể giúp đỡ rất lớn. Như
vậy, đoạn phiền não chính là thành tựu đức hạnh của
chính mình rồi mới học pháp môn, thuận theo thứ tự. Từ
xưa đến nay tổ sư đại đức yêu cầu chúng ta phải thâm
nhập một môn, trường thời huân tu là vì lẽ gì? Để đoạn
phiền não chứ không có chi khác cả! Phiền não đoạn sạch,
trí huệ mở ra. Rồi lại:
Pháp
môn vô lượng thệ nguyện học
Trí
huệ chưa khai phát, học pháp môn sao được? Phiền não đoạn
sạch rồi, pháp môn phải khéo tu. Cuối cùng là:
Phật
đạo vô thượng thệ nguyện thành
Ý
nghĩa bài kệ này vẫn giảng chưa xong, buổi học sau chúng
tôi sẽ giảng tiếp. Bây giờ hết giờ rồi!
*
Chư
vị đồng học!
Chúng
ta lại tiếp tục phần Tứ Hoằng Thệ Nguyện:
Chúng
sanh vô biên thệ nguyện độ,
Phiền
não vô tận thệ nguyện đoạn,
Pháp
môn vô lượng thệ nguyện học
Phật
đạo vô thượng thệ nguyện thành.
Trong
tiết trước đã giảng hai câu đầu của bài kệ này, chúng
ta hãy xem tiếp hai câu kế đó. Do bài kệ này là tổng nguyện
(nguyện tổng quát, nguyện chung) của hết thảy chư Phật
Như Lai, là thứ tự tu hành của hết thảy Bồ Tát, là cương
lãnh tổng chỉ đạo; chúng ta sơ học thì phải khởi sự
từ đâu? Thứ nhất là phải phát nguyện, nguyện nếu thật
sự phát thì hành sẽ không khó. Nói thật ra, Tứ Hoằng Thệ
Nguyện thật sự chỉ gồm có mỗi một câu “chúng sanh vô
biên thệ nguyện độ”; ba nguyện sau hoàn toàn nhằm để
viên mãn cái nguyện thứ nhất này nên mới có. Làm thế nào
để có thể phổ độ chúng sanh? Hết thảy chúng sanh khổ
nạn trọn khắp pháp giới, hư không giới chúng ta có năng
lực giúp đỡ hay chăng? Chư Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát
dẫu có năng lực, có tâm nguyện ấy, vẫn phải cần một
điều kiện khách quan. Điều kiện khách quan gì vậy? Chúng
sanh phải bằng lòng tiếp nhận, tức là có Cảm. Chúng sanh
chịu tiếp nhận là có Cảm, không chịu tiếp nhận là không
có Cảm. Không có Cảm thì không có Ứng, quý vị nhất định
phải hiểu đạo lý này: Có Cảm bèn có Ứng! Cảm là chúng
ta bằng lòng tiếp nhận Phật, Bồ Tát oai thần gia trì.
Cũng
có nhiều đồng học muốn hỏi: Chúng tôi đều rất vui lòng,
đều mong mỏi Phật, Bồ Tát giúp đỡ chúng tôi; cớ sao Phật,
Bồ Tát không đến? Chương Gia đại sư lão nhân gia đã nói
rồi đó: “Bản thân chúng ta có chướng ngại”. Không phải
là Phật, Bồ Tát không đến, mà vì chính mình có chướng
ngại, các Ngài gia trì không được. Phải hiểu đạo lý này,
không phải là Phật, Bồ Tát không linh; Phật, Bồ Tát linh
đến cùng cực! Nghiệp chướng tập khí của chính mình quá
nặng, chúng ta cầu Phật, Bồ Tát đến giúp đỡ mình, hoàn
toàn là tư tâm, hoàn toàn là tự lợi. Tự tư tự lợi là
đại chướng ngại, không có cách nào hết, không cách gì
cảm thông cả. Nếu chúng ta không vì chính mình, không vì
tự tư tự lợi, mà vì chúng sanh thì chúng ta cầu Phật, Bồ
Tát gia trì không có chướng ngại chi hết. Ý niệm vừa chuyển,
đại công vô tư, cũng có thể nói là ý niệm của quý vị
tương ứng ý niệm của Phật, Bồ Tát, tương ứng với tánh
đức. Ở đây, Trung Phong thiền sư khai thị, do Ngài là bậc
đại đức trong Thiền Tông, là bậc đại thiện tri thức
đại triệt, đại ngộ, minh tâm kiến tánh, nên dù nói rất
rõ ràng, nông cạn, vẫn có ý vị sâu xa. Dẫu cho chúng ta
vừa nghe dường như hiểu liền, chứ thật sự ra chưa hiểu.
Cũng giống như bài kệ sám hối của Phổ Hiền Bồ Tát, Tứ
Hoằng Thệ Nguyện của chư Phật Như Lai chúng ta đọc quá
quen thuộc, tợ hồ hiểu rồi, thật ra chưa hiểu. Vì sao chưa
hiểu? Vì chưa thể thực hiện, chưa làm được. “Chúng sanh
vô biên thệ nguyện độ” mà mình vẫn còn oán hận rất
nhiều chúng sanh, chán ghét chúng sanh, tuyệt đối chẳng thể
độ họ được. Do vậy, không có được nguyện này. Nguyện
này không có thì ba nguyện sau chắc chắn chẳng có. Đó là
đạo lý nhất định.
Nếu
quý vị thật sự phát cái nguyện này thì “chúng sanh vô
biên thệ nguyện độ”. Thứ nhất là mở rộng tâm lượng,
thật sự giống như chư Phật, Bồ Tát: Tâm bao thái hư, lượng
châu sa giới. Thứ hai phải khẳng định oán thân bình đẳng,
mới có thể dùng tâm chân thành, thanh tịnh, bình đẳng đối
với hết thảy chúng sanh trọn khắp pháp giới, hư không giới;
có vậy cái nguyện của quý vị vừa phát mới thật sự được
phát. Thật sự phát nguyện xong, niệm niệm mong thực hiện,
ta thật sự làm được, thật sự làm được là trước hết
phải tu sửa chính mình. Trong kinh giáo, đức Phật thường
nói: “Bồ Tát chưa thể độ mình mà có thể độ người,
không có lẽ đó!” Vì thế, quý vị muốn độ người thì
trước hết phải độ mình, tức là thành tựu đức hạnh
của chính mình. Đoạn phiền não là thành tựu đức hạnh;
học pháp môn là thành tựu học vấn. Thành tựu trí huệ,
thành tựu năng lực thì quý vị mới có bản lãnh giúp được
người khác. Có đức hạnh nhưng không có bản lãnh cũng không
được.
Vì
vậy, tu hành phải có thứ tự, trước hết tu đức hạnh,
rồi thành trí huệ, cuối cùng phải thành tựu vô thượng
Phật đạo. Vì sao? Có vậy mới phổ độ được! Nếu quý
vị không thành vô thượng Phật đạo sẽ không độ được
Ma Ha Tát. Những bậc Địa Thượng, Đẳng Giác Bồ Tát cao
hơn mình làm sao mình độ được họ? Quý vị phải cao hơn
họ mới độ họ được. Vì thế, nhất định phải phát
nguyện “Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành” thì cái
nguyện chúng sanh vô biên thệ nguyện độ mới thật sự làm
được viên mãn, mới làm được rốt ráo. Đẳng Giác Bồ
Tát cũng là chúng sanh, trong nhà Phật thường gọi là chúng
sanh trong chín pháp giới. Đẳng Giác Bồ Tát hay Bồ Tát vẫn
là chúng sanh trong chín pháp giới, chỉ có mình đức Phật
siêu việt chín pháp giới. Vì thế, phải ở quả vị Phật
mới có thể phổ độ chúng sanh.
Nói
đến chuyện học pháp môn thì trước khi đoạn sạch phiền
não, học pháp môn vẫn là để giúp đoạn phiền não; phải
hiểu đạo lý này. Do vậy, tổ tổ truyền nhau, dạy răn hàng
sơ học phải thâm nhập một môn, trường thời huân tu. Vì
sao? Nhằm để đoạn phiền não, thành tựu Giới - Định cho
quý vị, chính vì lẽ này vậy. Đến khi Giới - Định thành
tựu, trong Định sanh Huệ, trí huệ sanh rồi thì lúc ấy mới
thật sự là “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Chính
trong kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài đồng tử đã vì chúng ta thị
hiện tham học. Tham học là “pháp môn vô lượng thệ nguyện
học”. Do đây biết rằng: Phát nguyện (tức là Bồ Đề
đại nguyện) là phát nguyện phổ độ chúng sanh, tu Giới
- Định thành tựu Căn Bản Trí nơi pháp hội của thầy (thầy
của Thiện Tài đồng tử là Văn Thù Bồ Tát). Giới - Định
viên mãn, trí huệ mở mang, Định phát Huệ rồi; lúc ấy
bèn ra đi tham học. Tham học là thành tựu Hậu Đắc Trí,
thành tựu “không gì không biết”. Đấy chính là “pháp
môn vô lượng thệ nguyện học”.
Vì
sao phải thành tựu viên mãn Hậu Đắc Trí? Chúng sanh căn
tánh bất đồng, tuyệt đối chẳng thể dùng một phương
pháp để phổ độ được. Vì thế, phải có đủ mọi phương
pháp thích ứng mọi căn tánh bất đồng của hết thảy chúng
sanh. Vì thế, học vô lượng pháp môn không phải để học
cho mình, mà vì chúng sanh mà học. Thế nhưng quý vị phải
hiểu: Vô lượng pháp môn đều là phương tiện tiếp dẫn
chúng sanh, lấy từ bi làm gốc, phương tiện làm cửa. Phương
tiện tiếp dẫn chúng sanh; nói chung là nghĩ cách giúp cho chúng
sanh thành thục thiện căn, phước đức, nhân duyên, khi nào
thành tựu rồi lại trao cho họ pháp môn chân chánh.
Pháp
môn chân chánh là gì vậy? Chính là Niệm Phật vãng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Chỉ có một pháp này là thật,
các pháp khác đều là phương tiện. Quý vị nghe tôi giảng
kinh Hoa Nghiêm, trong khi giảng kinh Hoa Nghiêm tôi đã nói rất
nhiều lần: “Hoa Nghiêm, Pháp Hoa đều là phương tiện, đều
không phải chân thật, nhằm tiếp dẫn những vị Bồ Tát
vào Hoa Tạng thế giới!” Trong Hoa Tạng thế giới tu hành,
thiện căn, phước đức, nhân duyên sâu dầy, địa vị Tam
Hiền phát tâm niệm Phật vãng sanh. Nếu thiện căn, phước
đức, nhân duyên còn kém một chút, ắt phải ở trong Hoa Tạng
thế giới tu thành Địa Thượng Bồ Tát, chứng địa rồi
(2), lúc ấy trí huệ mở mang, không còn ngờ vực, tin tưởng
được lời của Phổ Hiền, Văn Thù, mười đại nguyện vương
dẫn về Cực Lạc. Vì thế, chúng ta thấy kinh Hoa Nghiêm nói:
“Thập Địa Bồ Tát từ đầu đến cuối chẳng rời Niệm
Phật”. Quá rõ ràng! Thập Địa Bồ Tát thì “đầu” tức
bắt đầu là Sơ Địa Bồ Tát, “cuối” là địa vị thứ
mười một, tức là Đẳng Giác. Trong mười một tầng cấp
ấy, khẳng định họ niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương
Cực Lạc thế giới. Quý vị thấy đó: Rốt cuộc chỉ tỏ
bày một pháp khiến cho chúng ta mau chóng thành tựu, thành
cái gì? “Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”. Rốt
ráo nhất, viên mãn nhất là Tây Phương Cực Lạc thế giới,
Hoa Tạng quy về Cực Lạc. Nếu quý vị xem xét kỹ, chú tâm
thể hội thì chúng ta mới thật sự hiểu rõ tường tận.
Tôi đã bảo các đồng học nhiều lần rồi, lúc chúng tôi
còn trẻ học Phật, không có ai giảng cho tôi rõ ràng, thấu
triệt như thế. Vì sao? Nếu họ giảng rõ ràng, thấu triệt
như thế tôi đã sớm tin tưởng rồi. Vì sao thầy không giảng?
Cũng là có nguyên nhân. Thầy của tôi là người thuộc tầng
lớp xưa, có tư tưởng cổ nhân, phương pháp dạy dỗ cũng
theo cổ nhân, cổ nhân không nói. Vì sao không nói? Nói ra sẽ
đóng bít cửa ngộ của học trò, vì thế không nói, để
cho học trò tự ngộ. Quý vị ngộ rồi thầy sẽ ấn chứng
cho. Đó là phương pháp của cổ nhân. Nay tôi không theo đường
lối của cổ nhân, vì sao? Đi theo đường lối của cổ nhân
chỉ sợ rất nhiều đồng tu học cả một đời này chẳng
thể ngộ nhập được, vì sao? Phiền não tập khí của quý
vị quá nặng, không thể ngộ nhập được, tôi đem sự tình
này nói trắng ra, nói toạc ra. Nói trắng, nói toạc ra có
ích gì cho quý vị? Tốt hay không rất khó nói, đúng là Phật
pháp không có pháp nhất định. Nếu với cách giảng như vậy
mà quý vị hiểu rõ thì sẽ sanh tín tâm đối với Phật pháp,
chuyên tu Tịnh Độ, không ngộ cũng không quan trọng. Tổ sư
đại đức nói rất hay: “Chỉ thấy Di Đà Phật, lo gì không
khai ngộ?” Trong thế gian này quý vị không khai ngộ thì khi
gặp được A Di Đà Phật bèn khai ngộ. Nếu cái tâm nguyện
vãng sanh không sanh khởi thì cũng là đã gieo thiện căn này
vào A Lại Da Thức; sức của thiện căn ấy rất mạnh, trong
tương lai gặp duyên nhất định thành thục.
Ở
phần trên, chúng tôi đã nói: Chư Phật, Bồ Tát vì hết thảy
chúng sanh diễn nói, quan trọng nhất là khế cơ khế lý. Vì
thế, chúng tôi quan sát căn cơ chúng sanh trong thế gian hiện
thời, phương pháp của cổ đức không còn hợp nữa, không
khế hợp căn cơ con người hiện thời. Thế nhưng chúng tôi
nhất định phải tuân thủ nguyên lý, nguyên tắc, quyết định
chẳng thể trái nghịch nguyên lý, nguyên tắc. Trái nghịch
nguyên tắc, nguyên lý là không khế lý. Khế cơ không khế
lý sẽ chẳng thể thành tựu, đấy là ma thuyết. Cả hai mặt
Lý và Cơ đều phải quan tâm.
Do
vậy, đối với chuyện học pháp môn này, chúng tôi đặc
biệt nói rất rõ ràng cùng quý vị: “Đức hạnh chưa thành
tựu mà lạm dự nhiều pháp môn sẽ bị trở ngại, không
lợi ích. Nhất định phải đạt đến tam-muội hiện tiền
[mới được học nhiều pháp môn]”. Chúng tôi lại đặt
tiêu chuẩn thấp nhất là không có ý niệm tự tư tự lợi,
không có ý niệm danh văn, lợi dưỡng, không bị ngũ dục,
lục trần bên ngoài dụ dỗ, mê hoặc thì mới được, không
sai chạy cho lắm. Quý vị có được công phu ấy, nhưng không
có đại trí huệ, không thể đại triệt đại ngộ, vẫn
có chút tiểu trí huệ. Nếu quý vị thật sự trí huệ hiện
tiền thì có thể học nhiều pháp môn khác, có thể tham học,
có thể mở rộng không gian học tập, học rộng nghe nhiều,
thành tựu Hậu Đắc Trí.
Một
mặt thành tựu Hậu Đắc Trí, một mặt tăng trưởng Định
- Huệ của mình. Trong quá trình tu học, nếu quý vị thấy
mình dần dần xa lìa Giới - Định thì phải đặc biệt chú
tâm cẩn thận, gấp gáp hồi đầu. Vì sao? Quý vị đã sai
rồi! Trí huệ đã mở mang, đã đạt được Hậu Đắc Trí
rồi thì Giới - Định nhất định phải tăng trưởng, không
thể lui sụt. Huệ giúp cho Giới tăng tấn, giúp cho Định
tăng tấn, đó là điều khẳng định. Tuyệt đối chẳng thể
nói: Huệ hiện tiền, Giới - Định không còn nữa! Đấy là
ma, đâu phải là Phật! Chúng tôi giới thiệu Tứ Hoằng Thệ
Nguyện đến đây thôi. Câu tiếp theo là xưng tán Phổ Hiền
Bồ Tát Ma Ha Tát:
Nam
mô Phổ Hiền Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
“Nam-mô”
nghĩa là quy y, lễ kính. Phổ Hiền Bồ Tát được xưng là
Vương, tức là đặc biệt tôn kính Ngài. Phổ Hiền Bồ Tát
là một trong Hoa Nghiêm Tam Thánh, điều này chúng ta đã biết
quá rõ rồi. Phổ Hiền còn được dịch là Biến Cát: Biến
là phổ biến, Biến có nghĩa là rộng khắp; Cát Tường cũng
có nghĩa là Hiền. Tại Trung Quốc, danh hiệu Ngài được dịch
là Biến Cát cũng không ít, nên tôi đặc biệt nêu ra cho mọi
người biết. Hình tượng, danh hiệu của Phật, Bồ Tát đều
nhằm biểu thị pháp, kinh Hoa Nghiêm đã nói đến rất nhiều.
Phổ Hiền Bồ Tát đại biểu cho lý đức, định đức, hạnh
đức của chư Phật. Nói thật ra, những điều ấy đều là
tánh đức của Tự Tánh.
Trong
phần trước, Trung Phong thiền sư đã nói rất hay: “Tâm ta
chính là A Di Đà Phật, A Di Đà Phật chính là tâm ta”. Hai
câu này chúng ta chẳng thể coi thường lướt qua, chúng có
ý nghĩa rất sâu, đối với sự tu học của chúng ta mà nói
thì có ích rất lớn. Biết được điều gì? Tâm chính là
Phật, Phật chính là tâm. Nói đến Phật đức chính là nói
đến tánh đức. Phổ Hiền Bồ Tát tượng trưng cho lý đức,
tức lý Chân Như Tự Tánh của chúng ta. Lý Chân Như là Biến
Cát, là Phổ Hiền: Phổ là bình đẳng, không cao thấp. Quý
vị phải hiểu được ý nghĩa này: Tánh đức, bản đức,
đại đức của chúng ta bất sanh bất diệt, không đến không
đi, vĩnh viễn chẳng bị mất đi, chẳng vì chúng ta sanh tử
luân hồi mà chuyển biến. Sanh tử luân hồi là duyên, Pháp
Tánh chẳng tùy thuộc cái duyên ấy. Dẫu cho duyên có tụ
- tán, có sanh - diệt, Pháp Tánh chẳng tùy thuộc vào những
duyên ấy. Pháp Tánh không tụ - tán, không sanh - diệt. Vì
thế, tánh đức là chân thường. Thương cho bọn phàm phu chúng
ta mê mất Tự Tánh ấy; vì mê mất Tự Tánh nên đương nhiên
tánh đức chẳng thể hiện tiền.
Nay
chúng ta khởi tâm động niệm, đối với hết thảy người,
sự, vật, nói chung đều thấy mình giỏi, người khác không
bằng mình, [vậy là mình] không có đức hạnh Phổ Hiền.
Chẳng biết hết thảy người sự vật trọn khắp pháp giới,
hư không giới cùng ta bình đẳng, quyết định không có cao
- thấp. Chúng ta tôn trọng người khác là tôn trọng tánh
đức của chính mình. Lễ kính người khác là tôn trọng tánh
đức của chính mình. Chân tướng sự thật này không ai biết
cả. Vì sao chúng ta phải hiếu với cha mẹ? Hiếu với cha
mẹ chính là tôn trọng tánh đức của chính mình. Vì sao phải
tôn sư? Tôn sư chính là tôn trọng tánh đức của chính mình,
chắc chắn thầy chẳng mong được người khác tôn kính. Thầy
mong được người khác tôn kính thì là tiểu nhân, chẳng
phải là quân tử. Vì sao? Không lìa được danh văn, lợi dưỡng.
Bậc quân tử chân chánh khởi tâm động niệm, hết thảy
hành vi đều tùy thuận lời thánh nhân dạy dỗ, thánh nhân
không dạy họ những điều ấy. Quân tử là chưa chứng đắc,
hiền nhân đã chứng được mấy phần, thánh nhân chứng đắc
viên mãn. “Thánh, hiền, quân tử” trong Nho gia được Phật
giáo gọi là Phật, Bồ Tát, A La Hán, là những bậc thiện
tri thức của người học Phật. Phật và Pháp Thân Bồ Tát
chứng đắc viên mãn, là thánh nhân; Thanh Văn, Duyên Giác đã
chứng được một ít, chưa viên mãn, là hiền nhân. Ta là
phàm nhân, là phàm phu trong lục đạo, thật sự trừ được
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, chúng tôi thường nói
là vứt bỏ thành kiến của chính mình, hết thảy tùy thuận
giáo huấn của Phật, Bồ Tát, y giáo phụng hành, Nho gia gọi
người như vậy là “quân tử”.
Kinh
luận không dạy chúng ta như thế, mà chúng ta vẫn còn tập
khí như thế, đủ chứng tỏ ta đáng gọi là “hạng nghiệp
chướng sâu nặng”. Vẫn tự mình khen ngợi mình, hủy báng
người khác, ghen ghét người khác, chướng ngại người khác,
trọn vẫn thấy mình hơn người khác một chút. Ấy là phàm
phu, chưa phải là quân tử. Vì thế, quy mạng, xưng tán, không
gì chẳng tùy thuận tánh đức, không gì chẳng nhằm giúp
chúng ta khôi phục tánh đức. Tánh đức là cái vốn sẵn
có, nhưng bị mê mất, nay Phật, Bồ Tát dùng những phương
pháp ấy giúp chúng ta khôi phục. Đạo lý là đây!
Do
vậy, chúng ta phải hiểu Phổ Hiền Bồ Tát tượng trưng cho
chân lý, chân định, tánh định, đại hạnh nơi tánh đức,
Phổ Hiền đại hạnh. Đại hạnh là gì? Ở phần trên đã
nói đến mười nguyện. Trong mười nguyện, lễ kính là đại
hạnh, đại hạnh Phổ Hiền tự nhiên lưu lộ từ tánh đức.
Cung kính đối với hết thảy chúng sanh và cung kính đối
với chư Phật Như Lai không khác gì nhau, nhưng trên mặt hình
thức lại khác nhau. Chúng ta thấy hình tượng Phật, Bồ Tát
bèn đảnh lễ ba lạy, nhưng không thể thấy bất cứ muỗi,
trùng, kiến gì cũng đảnh lễ nó ba lạy, làm như thế là
trật! Trên mặt hình thức thì không giống nhau, nhưng ý niệm
cung kính bên trong hoàn toàn tương đồng. Chúng ta cung kính
muỗi, trùng, kiến hệt như cung kính chư Phật Như Lai, bình
đẳng mà! Nhưng trên mặt nghi thức phải tùy thuận thế gian.
Phải tham thấu lý rồi mới biểu hiện qua hành động.
Lại
nói thêm về Văn Thù Bồ Tát; hai vị Bồ Tát này (tức Phổ
Hiền và Văn Thù) thường ở cùng một chỗ:
1)
Văn Thù Bồ Tát là Trí Đức của tánh đức. Quý vị thấy
Phổ Hiền tượng trưng cho Lý, Văn Thù tượng trưng cho Trí,
Lý - Trí thành một cặp.
2)
Phổ Hiền biểu thị Định, Văn Thù biểu thị chứng đắc,
chỉ Trí mới có thể chứng; nhưng chỉ có Định mới có
thể mở khai Trí, chỉ Trí mới có thể chứng. Trí và Hạnh
thành một cặp chẳng thể tách rời.
3)
Thứ ba, Văn Thù biểu thị tam-muội, Phổ Hiền biểu thị
Bát Nhã. Tam Muội và Bát Nhã thành một cặp.
Như
vậy, quan hệ giữa hai vị Bồ Tát này rất rõ ràng như thế
này: Lý - Trí, Hạnh - Chứng, Tam Muội - Bát Nhã.
Bên
cạnh hết thảy chư Phật Như Lai luôn có Văn Thù, Phổ Hiền,
biểu
thị pháp đấy! Do vậy, quý vị thấy trên Đại Hùng bảo
điện thờ Phật, Bồ Tát, có rất nhiều nơi thờ như thế
này: Chính giữa là Thích Ca Mâu Ni Phật, hai bên là Văn Thù,
Phổ Hiền. Pháp Đại Thừa đại khái đều thờ như vậy.
Còn cách thờ phượng của pháp Tiểu Thừa thì chính giữa
thờ Thích Ca Mâu Ni Phật, hai bên là Ca Diếp và A Nan. Đây
là hai vị đại đệ tử của Phật. Ca Diếp truyền Thiền
Tông, A Nan truyền Giáo Hạ, hai Ngài là hai vị đại tổ sư
của Thiền Môn và Giáo Hạ, đều nhằm biểu thị pháp.
Chúng
ta thường thấy ngài Văn Thù cưỡi sư tử ở bên trái đức
Phật, vị trí của Ngài là bên tay trái đức Phật. Phổ Hiền
cưỡi voi trắng sáu ngà, vị trí của Ngài là bên tay phải
đức Phật. Lý - Trí, Hạnh - Chứng, Tam Muội - Bát Nhã viên
mãn, thảy đều viên mãn được tượng trưng bằng Tỳ Lô
Giá Na Phật. Tỳ Lô Giá Na Biến Nhất Thiết Xứ, đại biểu
đại viên mãn. Vì thế một bộ kinh đồ sộ Hoa Nghiêm chính
là để giảng về pháp môn viên tu viên chứng của một đức
Phật, hai vị Bồ Tát. Vì thế, các Ngài được gọi là “Hoa
Nghiêm Tam Thánh”. Ba vị tượng trưng cho bản thể của hết
thảy hạnh đức, vì thế kinh Hoa Nghiêm nói đến mười đại
nguyện. Chúng tôi giới thiệu Phổ Hiền Bồ Tát một cách
đơn giản. Nếu giảng tường tận thì khi giảng kinh Hoa Nghiêm
chúng tôi đã nói nhiều lắm rồi.
Ở
đây, pháp sự đến đây thì hết thảy đều phải kết quy
nơi tánh đức. Ở đây niệm Nam Mô Phổ Hiền Vương Bồ Tát
Ma Ha Tát nhằm kết quy nơi tánh đức, phải hiểu đạo lý
này. Tiếp theo lại có một đoạn khai thị, chúng ta hãy xem
kinh văn:
17.
Khai thị vong linh
Thượng
lai sám hối phát nguyện dĩ cánh.
(Trên
đây, sám hối phát nguyện đã xong)
Ở
trên nói “vãng tích sở tạo chư ác nghiệp” là sám hối;
“chúng sanh vô biên thệ nguyện độ” là phát nguyện. Đến
đây là đã xong phần sám hối phát nguyện.
Vong
linh mỗ đương tri.
(Vong
linh… hãy nên biết)
“Mỗ”
là vì người nào làm [pháp sự này] thì ở đây đem tên họ
người ấy viết vào đây. Quý vị nên biết như thế.
Phù
Tịnh Độ chi vi giáo dã.
(Phàm
là giáo pháp Tịnh Độ)
“Phù”
là trợ từ, không có ý nghĩa gì hết. “Tịnh Độ chi vi
giáo dã” tức là giáo học Tịnh Độ.
Ngưỡng
thừa A Di Đà Phật tứ thập hữu bát đại từ đại bi thâm
trọng nguyện lực, nhiếp thủ thập phương nhất thiết chúng
sanh. Phàm cụ tín tâm giả, giai đắc vãng sanh.
(Ngửa
nhờ A Di Đà Phật có sức đại từ đại bi sâu nặng của
bốn mươi tám nguyện, thâu tóm mười phương hết thảy chúng
sanh. Hễ ai đầy đủ tín tâm đều được vãng sanh)
Đây
là đặc biệt giảng rõ giáo học Tịnh Độ cho vong linh. Sự
việc này há chẳng phải là đã dính vào mê tín hay sao? Chớ
bảo là mê tín, thật sự có việc này đấy. Không phải chỉ
một người, tôi đã gặp rất nhiều. Có người buổi tối,
đại khái là năm giờ chiều trở đi, muốn niệm Tam Thời
Hệ Niệm sẽ có rất nhiều quỷ thần. Thật đấy, quý vị
ni