Chư
vị đồng học!
Xin xem tiếp phần khai thị của Trung Phong thiền sư, tức phần
khai thị trong thời thứ nhất.
Chỉ nhân tối sơ bất giác, hốt nhĩ động tâm, nhận vọng
vi chân, mê kỷ trục vật. Do thị nghiệp võng khiên triền,
lưu chuyển ngũ đạo. Hằng tùy sanh tử dĩ thăng trầm, cắng
cổ chí kim nhi mị gián.
(Chỉ vì thoạt đầu bất giác, đột nhiên động tâm, tưởng
vọng là chân, mê mất bản thân chạy theo vật dục. Do vậy,
lưới nghiệp quấn trói, lưu chuyển năm đường. Luôn thăng
trầm theo sanh tử, suốt từ xưa đến tận nay chưa hề gián
đoạn)
Chúng ta đọc đến đoạn này. Trong phần trên, thiền sư dạy
chúng ta về chân tướng sự thật của Pháp Tánh và nghiệp
quả; đồng thời lại giảng: Pháp Tánh linh minh trạm tịch,
không gì không có, ai nấy sẵn đủ. Chúng tôi nói: Nơi hoàn
cảnh y báo, đặc biệt là tại thực vật, khoáng vật là
rõ ràng nhất. Trên thực tế, thân thể chúng ta cũng là y
báo, vì sao? Thân thể là cái được hiện, cái được biến,
so với sơn hà đại địa, cây cối hoa cỏ bên ngoài là vật
chất, thì vật chất nơi thân thể và vật chất bên ngoài
không khác gì nhau. Kinh Kim Cang gọi là “nhất hiệp tướng”
chính là giảng rất rõ, rất minh bạch. Nếu nói theo học
thuật hiện tại thì “nhất” là lạp tử cơ bản, tất
cả hết thảy vật chất đều do những hạt này hợp thành.
Nhưng lạp tử cơ bản rốt cuộc là gì vậy? Hiện thời chưa
phát hiện được, vẫn khó nói lắm. Nay khoa học đã phát
hiện điện tử, nguyên tử, lạp tử; lạp tử có còn chia
chẻ ra được nữa hay không? Trên mặt lý luận thì chia chẻ
vĩnh viễn bất tận, nhưng trên thực tế, khoa học kỹ thuật
mới chỉ đạt đến mức độ này: Hiện thời, vật chất
nhỏ nhất được phát hiện được gán cho cái tên là “khoa-khắc”
(quark). Còn có thể tách nó ra nhỏ hơn nữa được không?
Các nhà khoa học chẳng dám quyết đoán. Vì sao? Khoa học kỹ
thuật chưa tiến bộ đến mức ấy. Trên mặt lý luận, đương
nhiên là có thể chia nhỏ được. Những thứ này đều là
thứ được hiện, được biến, đúng là “không gì không
có, ai nấy sẵn đủ”.
Vật thể dù nhỏ đến đâu, cho dù nó là căn bản của hết
thảy vạn vật trong vũ trụ, tức là hết thảy vạn vật
đều do nó hợp thành, thì nó vẫn có Pháp Tánh. Phải biết
điều này: Nó có Pháp Tánh. Pháp Tánh trạm nhiên, chẳng biến
đổi mảy may. Vậy rốt cuộc cái gì đã biến đổi chúng
ta? Trong kinh Lăng Nghiêm có một đoạn Văn Thù Bồ Tát giảng
rất khéo, tức là trong phần Tuyển Trạch Viên Thông, Ngài
đã nói:
Giác
hải tánh trừng viên,
Viên
trừng giác nguyên diệu,
Nguyên
minh chiếu sanh sở,
Sở
lập chiếu tánh vong.
(Tạm
dịch nghĩa:
Tánh
của biển giác là ngưng lặng, viên mãn. Cái giác ngưng lặng,
tròn đầy vốn mầu nhiệm, vốn sáng suốt ấy nếu sanh ra
sự chiếu soi thì sự chiếu soi đã được thành lập ấy
sẽ làm cho tánh bị mất đi).
Đây là giảng về vô minh do đâu mà khởi? Cũng là do vọng
tưởng. Vọng tưởng do đâu mà khởi? Cũng chính trong kinh
Lăng Nghiêm, đức Phật đã giảng rất rõ ràng, rất minh bạch:
Tôn giả Phú Lâu Na hỏi đức Thế Tôn: “Vì sao lại có vọng
tưởng? Vọng tưởng khi nào sanh?” Vọng tưởng ấy là vô
minh căn bản. Thế Tôn đáp rất hay: “Đó là do một niệm
vọng giác”. Chúng ta phải chú ý chữ “vọng”. Vọng là
không thật, nhưng vọng là do mê chân mà sanh ra, ta chẳng thể
nói nó là không có, cũng chẳng thể nói nó là có. Đức Thế
Tôn nói: “Cái biết do tri kiến tạo lập chính là căn bản
của vô minh”. Lời giảng của Văn Thù Bồ Tát có cùng ý
nghĩa với lời Phật dạy: “Nguyên minh chiếu sanh sở” là
cái biết do tri kiến lập thành. “Sở lập chiếu tánh vong”
chính là gốc của vô minh. Lập thành cái biết! Không thể
lập! Đại Thừa Phật pháp thường giảng: “Một pháp chẳng
lập!”, lập một pháp là mê, một pháp chẳng lập sẽ rất
tự tại. Một pháp không lập thì quý vị hoàn toàn nhất
trí với Pháp Tánh, cùng một Thể, một Tướng, một Lực
Dụng với Pháp Tánh. Đấy chính là chư Phật Như Lai, đắc
đại tự tại, vô chướng vô ngại, nhập pháp giới vô chướng
ngại, cảnh giới vô chướng ngại. Quyết định chẳng được
lập, hễ lập là hỏng! Vì thế, Bồ Tát nói “sở lập chiếu
tánh vong” (sự chiếu soi đã được thành lập ấy làm cho
tánh bị mất đi). Tánh của sự chiếu soi (tức những sự
hay biết do tri kiến tạo ra) là linh tri, linh minh trạm tịch.
[Chiếu được thành lập] thì linh minh trạm tịch bèn mất
đi, sanh ra những biến đổi. Giống như thí nghiệm nước
kết tinh vậy, nó sanh ra những biến đổi không đúng đắn;
nếu đúng đắn thì phải đẹp đẽ tột bậc, đẹp đẽ
không thiếu khuyết mảy may. Chúng ta vừa động một niệm
bèn sanh ra những biến hóa, dẫu vẫn rất đẹp đẽ nhưng
so với sự đẹp đẽ vốn có đã bị sai khác rất lớn. Càng
mê sâu hơn, càng biến thành xấu xí hơn. Pháp Tánh tùy duyên
mà!
Hễ mê là xong, “mê vọng hữu hư không” (do mê vọng nên
có hư không), Văn Thù Bồ Tát giảng như vậy đấy. Hư không
từ đâu mà có? Do mê vọng mà có. “Y không lập thế giới”
(nương vào hư không tạo thành thế giới), thế giới do đâu
mà có? Thế giới từ trong Không mà sanh ra. Không là Vô, vô
trung sanh hữu, sanh ra thế giới. “Tưởng trừng thành quốc
độ” (Tưởng lắng đọng thành cõi nước); Tưởng ở đây
là vọng tưởng, vọng tưởng ngưng tụ biến thành vật chất.
Vật chất là gì? Nói theo cách bây giờ, vật chất là do tinh
thần ngưng tụ biến thành. Vật chất là tinh thần; vật chất
chính là Pháp Tánh đang được nói đến ở đây. Pháp Tánh
ở tại đâu? Vật chất là Pháp Tánh, [vọng tưởng] ngưng
tụ bèn biến thành Pháp Tánh, vô tướng biến thành hữu tướng;
do đó, Có là do Không mà có. Dù hiện tướng, biến thành
vật chất, nhưng bản năng của Pháp Tánh không bị mất đi,
vĩnh viễn chẳng bị hư mất. Bản năng của Pháp Tánh là
gì? Chính là linh tri! Kinh Đại Thừa gọi linh tri là thấy
- nghe - hay - biết! Bởi vậy, thứ gì cũng đều có thấy -
nghe - hay - biết!
Trên thân thể của chúng ta, nay ta gọi là tế bào (tế bào
hãy còn lớn lắm), có không biết bao nhiêu tế bào (theo thuật
ngữ Phật pháp là “vi trần, cực vi vi”), cực vi vi ngưng
tụ thành tế bào. Mắt thịt của chúng ta không thấy được
cực vi vi, nói thật ra chúng ta cũng không hiểu được, nhưng
rất nhiều cực vi vi nhóm lại một chỗ hình thành một tế
bào. Chúng ta có thể thấy được, hiểu được tế bào, tế
bào có linh tánh hay không? Có chứ! Nó có thể thấy, có thể
nghe, có thể cảm nhận, có thể biết, quý vị phải khéo
đối đãi nó. Thế nào là khéo đối đãi? Tâm thiện! Tế
bào thuận theo ý niệm. Trong kinh Đại Thừa, đức Phật thường
nói: “Hết thảy pháp từ tâm tưởng mà sanh”, “tướng
chuyển theo tâm”, “nếu chuyển được vật thì giống với
Như Lai”. Những câu nói này hết sức quan trọng! Chỉ cần
quý vị nắm được những câu này, thật sự hiểu rõ, thật
sự biết dùng, tâm thiện, tư tưởng thiện, ngôn ngữ, hành
vi thiện thì tất cả tế bào trên toàn thân sẽ phản ứng
đúng mực. Chúng ta thường bảo là “thật sự hiểu được
đạo dưỡng sanh”! Tuổi cao cũng không sao, vẫn có thể phản
lão hoàn đồng. Có thật sự làm được như vậy hay chăng?
Thật sự được! Quý vị đã hiểu thì sẽ dùng tâm tưởng
để khôi phục tất cả những khí quan, tế bào trên thân
thể trở lại tuổi trẻ, khôi phục sự bình ổn, khôi phục
sức khỏe, về lý vốn là như vậy. Nếu không hiểu thì sao?
Không hiểu thì chính mình tàn hại mình mà thôi! Tàn hại
như thế nào? Cả ngày từ sáng đến tối khởi vọng tưởng,
tâm bất thiện, tư tưởng bất thiện, hành vi bất thiện,
tự mình tàn hại mình, tự mình hủy diệt thân thể!
Tôi chỉ giảng tới đây thôi, không giảng thêm nữa, càng
giảng mọi người càng không hiểu, sợ rằng càng nghe càng
mê thêm. Tôi nói đến đây, nếu quý vị lãnh hội được
sẽ rất có ích. Lời khai thị này hay lắm! Trung Phong là bậc
tái lai, chẳng phải là phàm nhân. Trong đoạn văn này, Ngài
khai thị vì đâu chúng ta thành ra nông nỗi này:
“Chỉ nhân tối sơ bất giác” (chỉ do thoạt đầu bất
giác): Tối sơ là thời gian nào? Đừng hỏi ai khác, nếu hỏi
ai khác lại càng khởi vọng tưởng! Nếu quý vị đi tìm cái
thời điểm tối sơ ấy thì trong vọng tưởng lại tăng thêm
vọng tưởng; chẳng chuyển biến được vọng tưởng, chẳng
thể hóa giải. Nói thật ra, thưa cùng quý vị, thời gian là
giả, không thật! Giáo pháp Đại Thừa nói thời gian không
có khởi đầu, mà cũng không có kết thúc. Nếu nói có khởi
đầu, có kết thúc thì là thật, không còn giả nữa. Do vậy,
nói thời gian không khởi đầu không kết thúc thì nó là giả,
không thật. Đầu cũng được, cuối cũng xong, thảy đều
là nhất niệm. Thế nhưng rất ít ai hiểu được chân tướng
sự thật, đây đều là chân tướng sự thật.
“Tối sơ bất giác” là một niệm hiện tiền bất giác.
Cổ nhân nói “tối sơ nhất niệm bất giác”, nói “tối
sơ” cũng rất hợp lý. Chúng ta không hiểu lời này, cứ
tưởng tối sơ là quá khứ, quá khứ xa xôi hơn nữa, hiểu
lầm mất rồi! Chẳng hiểu ý của người ta! Tối sơ là lúc
thoạt đầu của một niệm, lúc thoạt đầu của một niệm
hiện tiền. Cái tối sơ ấy khoảng chừng một phần ức vạn
giây, hoặc một phần ức ức vạn giây, không cách gì nhận
biết được. Đó là một niệm bất giác. Bất giác là gì?
Chính là quý vị động, tức tâm quý vị động vậy.
Nếu quý vị nhìn vào tự tánh thì Pháp Tánh của Tự Tánh
là trạm nhiên, trạm nhiên là bất động. Phần trên đã giảng:
“Vô sanh là tâm tánh tịch diệt của chư Phật”, tịch diệt
là bất động, đó là Pháp Tánh. Vốn bất động, bất động
là thật; hễ quý vị vừa động thì động là vọng. Động
gọi là “vọng động”. Cái động ấy cực kỳ vi tế, đừng
nói là phàm phu chúng ta không nhận biết được, ngay cả bậc
Đại Thừa Bồ Tát từ Thất Địa trở xuống còn không biết
được, Bát Địa mới cảm nhận được. Vừa động tí ti,
Bát Địa Bồ Tát nhận biết liền. Bát Địa Bồ Tát được
gọi là Bất Động Địa là vì động dù cực kỳ vi tế Ngài
vẫn cảm nhận được; thoạt động liền biết ngay. Đến
Quả Địa Như Lai mới thật sự là tịch diệt, hoàn toàn
bất động, khôi phục bất động. Tánh đức toàn thể đại
dụng hiện tiền viên mãn, cảnh giới của quả địa Như
Lai mà! Đẳng Giác Bồ Tát vẫn còn một phẩm sanh tướng
vô minh, cực kỳ vi tế, toàn thể đại dụng vẫn còn thiếu
một phần. Do vậy, chúng ta bèn hiểu rõ: Chư Phật, Bồ Tát
dạy người tu hành, tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng
pháp môn là tu gì đây? Tu bất động! Trong phần trên, khi
giảng kinh Di Đà, chúng ta thấy danh hiệu chư Phật nhằm biểu
thị pháp. Vị Phật thứ nhất ở phương Đông trong chư Phật
sáu phương là Bất Động Phật. Vừa mở đầu đã hiển thị:
Bất Động là chân, còn Động là vọng. A Súc Bệ Phật là
Bất Động Phật, vì sao quý vị phải khởi tâm động niệm
nơi cảnh giới? Đây chính là nguyên nhân khiến quý vị đọa
lạc, luân hồi, khiến cho cả đời này đâu đâu quý vị
cũng gặp chướng ngại. Chướng ngại do đâu mà có? Là vì
quý vị động. Nếu quý vị bất động sẽ không có chướng
ngại. Chúng ta thấy vì sao Pháp Thân Bồ Tát, chư Phật Như
Lai trong Hoa Tạng, trong Cực Lạc thế giới đều là pháp giới
không chướng ngại; Lý vô ngại, Sự vô ngại, Lý Sự vô
ngại, Sự Sự vô ngại? Pháp giới vốn không chướng ngại
là vì đâu? Là vì không động tâm, không động niệm. Cớ
sao mình lại động niệm? Như vậy, hễ khởi tâm động niệm
thì khởi tâm động niệm là vô minh, tức vô thỉ vô minh.
Quý vị có hiểu vô thỉ nghĩa là gì không? Chư Phật, Bồ
Tát dạy cho chúng ta biết chân tướng sự thật của vũ trụ,
trọn chẳng làm khó dễ, hoàn toàn không đàm huyền thuyết
diệu, không nói những gì chúng ta không thể hiểu. Nếu không
sao gọi là từ bi cho được? Các Ngài giảng rất rõ ràng,
minh bạch, lại còn giảng hết sức rõ rệt dễ hiểu. Nói
“vô thỉ vô minh” là ngụ ý không có khởi đầu, cái khởi
tâm động niệm hiện tiền của quý vị có khởi đầu hay
chăng? Nếu hiện tại quý vị chẳng khởi tâm động niệm
thì quý vị đã thành Phật rồi, Sự Sự vô ngại!
Bất giác là khởi tâm động niệm, giác tâm bất động, vô
minh vọng động, cho nên vừa động bèn bất giác. Giống như
nước, dùng nước làm tỷ dụ cho quý vị dễ hiểu. Nước
đứng lặng thì mặt nước không có tí sóng gợn nào, mặt
nước giống như một tấm gương, bất động! Lúc ấy nó
sẽ in bóng cảnh giới bên ngoài rất rõ ràng. Giác là giác
chiếu, rõ ràng rành rẽ. Nếu động thì vừa động bèn gợn
sóng, gợn sóng vẫn có thể chiếu nhưng chiếu không rõ ràng,
mê rồi! Do vậy, ta cúng dường Phật, Bồ Tát thì vật cúng
dường quan trọng nhất là gì? Chính là một chén nước. Tôi
thường dạy người khác: Chén đựng nước cúng Phật tốt
nhất là chén pha lê; nay có người dùng chén bằng thủy tinh
cũng rất tốt, nó trong suốt, quý vị thấy rất rõ ràng.
Học bất động như nước, học thanh tịnh như nước, không
ô nhiễm mảy may, không lay động mảy may, đó là Phật! Phàm
phu và Phật khác biệt ở chỗ này: Tâm phàm phu động, tâm
phàm phu nhiễm ô, nay chúng ta gọi nhiễm ô là “tâm ghi ấn
tượng”. Trong tâm họ có tham - sân - si - mạn; có những
thứ ấy là nhiễm ô. Trong chân tâm không có những thứ ấy,
không có tự tư tự lợi, không có danh văn, lợi dưỡng, không
có tham - sân - si - mạn, không có ghen ghét, đố kỵ. Những
thứ ấy đều là hư vọng. Nói rốt ráo nhất là trong chân
tâm không khởi tâm động niệm, không phân biệt, chấp trước.
Phân biệt chấp trước, khởi tâm động niệm là vọng tâm.
Tâm thủy vừa gợn sóng bèn dậy gió cảnh giới, cảnh giới
là hoàn cảnh bên ngoài. Sáu căn quý vị tiếp xúc cảnh giới
bên ngoài bị động là xong rồi!
Phật, Bồ Tát cao minh, sáu căn tiếp xúc cảnh giới bên ngoài
giống như gương chiếu mọi vật, chiếu rất rõ ràng rành
rẽ. Gương quyết định không phân biệt, quyết định không
chấp trước, trong trẻo hơn mọi thứ, không mê hoặc chút
nào, Huệ đấy! Như Như bất động, đó là Định! Định
và Huệ đều đạt đến viên mãn rốt ráo, Định - Huệ là
một không hai. Định chính là Huệ, Huệ chính là Định. Đấy
chính là con người thật của chúng ta, trong Tông môn gọi
là “bản lai diện mục trước khi cha mẹ sanh ra”; nó chính
là con người thật của chúng ta. Học Phật không có chi khác,
chỉ là tìm cho ra, khôi phục bản lai diện mục của chính
mình mà thôi. Bản tánh trạm tịch là Căn Bản Trí, bản tánh
tịch chiếu là Hậu Đắc Trí, không gì không biết. Tịch
diệt là không biết, Bát Nhã không biết, giác chiếu là không
gì không biết. Không gì không biết nhưng tâm vẫn định,
quyết định chẳng khởi tâm động niệm, quyết định không
có phân biệt, chấp trước. Chỉ cần quý vị khởi tâm động
niệm, phân biệt, chấp trước là xong, đọa lạc mất rồi,
thành phàm phu mất rồi. Bởi thế, tối sơ bất giác chỉ
vì bất giác tâm bị động, không còn tịch nữa, “tưởng
vọng là chân”, phiền phức ngay! Vọng là gì? Vọng là cái
được hiện, cái được biến. Coi cái được hiện, được
biến là thật; không biết cái làm chủ thể biến hiện (năng
biến, năng hiện) mới là thật, cái được hiện, được
biến là hư vọng, phiền toái rất lớn, “tưởng vọng là
chân”.
“Mê kỷ trục vật” (mê mất chính mình chạy theo vật dục),
Kỷ là chính mình. Thế nào là chính mình? Cái tâm năng hiện,
cái thức năng biến là chính mình, tánh thức là chính mình;
còn cái được hiện, được biến không phải là chính mình.
Chúng tôi dùng những tỷ dụ thô thiển để giảng giải:
Thân thể của chúng ta là chính mình, y phục ta mặc không
phải là chính mình. Y phục do chúng ta làm ra, tự ta mặc vào
thân, Phật pháp gọi nó là Ngã Sở (cái của ta). Thân là
Ngã, vật ngoại thân là Ngã Sở Hữu (cái mà ta có). Mọi
người biết rành chuyện này. Nay tôi bảo cùng quý vị, thân
ta cũng là Ngã Sở Hữu, cái thân ta có thể hiện, có thể
biến mới là Ngã. Thân ấy không có hình tướng, vô hình
vô tướng, nhưng thật sự có, chẳng phải là không có. Phật
pháp gọi nó là Chân Tâm, Bản Tánh; ngay cả hư không cũng
do nó biến hiện ra, hư không cũng là cái được hiện, được
biến.
“Mê kỷ trục vật”: “Trục vật” (chạy theo vật) là
vọng tâm, không phải là chân tâm. Trục vật thường được
hiểu là bị chuyển theo cảnh giới, đó là phàm phu. Người
giác ngộ chuyển được cảnh giới. Ví dụ rõ ràng nhất
là thân thể của chính ta, đối với người thật sự giác
ngộ thì thân thể này sẽ chuyển theo Pháp Tánh của chính
mình, chuyển được vật! Chuyển theo Pháp Tánh, không những
thân thể này không già, không bệnh, hoàn toàn chẳng có sanh
- lão - bệnh - tử, mà còn chẳng có những chuyện ba khổ,
tám khổ! Người thế gian có những nỗi khổ là vì đâu?
Vì bị cảnh giới xoay chuyển, không chuyển được cảnh giới,
đó là “mê mất chính mình, đuổi theo vật dục”. Chuyển
không được cảnh giới thì chắc chắn bị cảnh giới chuyển,
không có con đường thứ ba. Chư Phật, Bồ Tát chuyển được
cảnh giới, lục đạo phàm phu bị cảnh giới chuyển. Vì
bị cảnh giới chuyển nên mới có sanh - lão - bệnh - tử,
mới có nào là Ái Biệt Ly (yêu thương phải chia lìa), Cầu
Bất Đắc (cầu không được thỏa ý), Oán Tắng Hội (chán
ghét mà cứ phải gặp gỡ), mới có những chuyện như thế.
Hễ bị cảnh giới chuyển thì phiền phức lớn lắm!
Bị cảnh giới chuyển nhưng người ta cứ nghĩ mình bị mạng
vận chuyển, tức nói trên phương diện hoàn cảnh là “bị
Phong Thủy chuyển”, không có cách gì xoay chuyển được vận
mạng, không có cách gì vượt thoát Phong Thủy. Thế nhưng
người thật sự giác ngộ, hễ thật sự giác ngộ bèn có
phước. Phước ấy nhất định chẳng phải là phước như
trong quan niệm thông thường của mọi người. Chúng ta không
nghĩ ra, không thể nghĩ bàn được, đó là người thật sự
giác ngộ. Vì sao? Người ấy chuyển được cảnh giới; thế
nên người có phước sống nơi phước địa, phước địa
[ắt có] người có phước sống. Người có phước ấy chuyển
được cảnh giới, người ấy đến sống ở một nơi nào
thì sơn hà đại địa, phong thủy nơi ấy cũng chuyển theo
tâm người đó. Người ấy tâm thiện, tư tưởng thiện, hành
vi thiện thì sơn hà đại địa không gì không thiện, thảy
đều thành thiện. Quý vị chẳng tin ư? Cực Lạc thế giới
chuyển như vậy đó, Hoa Tạng thế giới chuyển như vậy đó!
Thật ra, Hoa Tạng, Cực Lạc có khác gì địa cầu của chúng
ta đâu! Không khác gì hết. Chỗ nào Phật, Bồ Tát ở, nơi
đó thuần tịnh thuần thiện. Do vậy, sơn hà đại địa,
hết thảy vạn vật, không thứ gì không thuần thiện thuần
tịnh. Cư dân trên quả địa cầu này tâm bất thiện, tư
tưởng bất thiện, hành vi bất thiện, nên sơn hà đại địa
thảy đều bất thiện; hiện tượng của bất thiện là thiên
tai nhân họa. Trời nào giáng tai ương, người cũng chớ hề
gây tai vạ, đều là do nghiệp bất thiện chiêu cảm nên [những
tai họa ấy] biến hiện ra, càng mê càng sâu hơn.
“Do thị nghiệp võng triền khiên” (do vậy, lưới nghiệp
quấn trói): Nghiệp do chính quý vị tạo tác. Ngày nay quý
vị tạo tác thiện nghiệp, nhưng nói thật ra, cũng chẳng
phải là thiện nghiệp thật sự. Vì sao? Cái thiện đó là
thiện đối với ác! Phật pháp nói đến chân thiện, chí
thiện chính là cái thiện nơi Pháp Tánh. Nay quý vị đã mê
mất Pháp Tánh, nói cách khác, là mê mất chân thiện, chí
thiện. Đã mê rồi thì những cái thiện trong tư tưởng, tâm
tư quý vị hiện thời chỉ là thiện tương đối, tức là
cái thiện trong vòng Thiện - Ác. Thông thường, cái thiện
của người giác ngộ là Bản Thiện: “Nhân chi sơ, tánh bản
thiện” (con người ban đầu tánh vốn lành). Hết thảy chúng
sanh bình đẳng, đúng như đại sư đã giảng ở đây: “Không
gì không có, ai nấy sẵn đủ”, vốn là Thiện. Thiện - ác
như Mạnh Phu Tử, Tuân Phu Tử đã giảng là tập tánh, chứ
không phải là bản tánh. Chúng ta hoàn toàn mê mất bản tánh,
chúng sanh trong lục đạo nào ai biết đến bản tánh? Thanh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát tuy biết đến bản tánh, nhưng chưa
chứng đắc. Nếu chứng đắc bản tánh sẽ siêu việt mười
pháp giới, chúng ta thường gọi người như vậy là Pháp Thân
Bồ Tát. Pháp Thân Bồ Tát chứng đắc bản tánh, phá một
phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân, cảnh giới như thế
đó.
Như vậy, chúng sanh trong lục đạo phiền toái lớn lắm, “lưới
nghiệp trói buộc”, nghiệp đã tạo vô lượng vô biên, dày
đặc xen kín như lưới giăng. Cớ sao tạo lắm nghiệp đến
vậy? Khởi tâm động niệm là tạo nghiệp, đó là ý nghiệp.
Ngôn ngữ nơi miệng, chúng ta nói quá nhiều những điều tệ
hại! Những lời tệ hại là gì? Nói dối, nói đôi chiều,
nói ác, nói thêu dệt. Từ sáng đến tối nói không ngừng;
nếu đem những lời mình nói phân loại cẩn thận thì chẳng
ngoài bốn loại lớn nói trên. Người giác ngộ, người có
đạo hạnh nói năng rất ít, tâm người ấy định, ngày nay
chúng tôi giảng kinh thuyết pháp nói năng quá nhiều.
Khi
xưa, chúng tôi thân cận Chương Gia đại sư, tôi ngồi cùng
Ngài hai tiếng đồng hồ, trong hai giờ ấy, những câu Ngài
nói chúng tôi nhớ từng chữ một, tôi cho rằng không thể
nhiều hơn năm trăm chữ được. Còn tôi trong một buổi giảng
hai tiếng đồng hồ, những đồng học tham gia giảng diễn
đều biết cả, nếu chép lại thành bản thảo thì sao? Tối
thiểu là hai vạn chữ. Tôi và Chương Gia đại sư mỗi lần
gặp nhau, mỗi Chủ Nhật gặp gỡ một lần, nếu ghi lại
những lời Ngài giảng trong hai tiếng đồng hồ thì không
quá năm trăm chữ, khiến cho chúng tôi cảm thấy Ngài như
đang luôn ở trong Định. Ngài gởi cho tôi một bức ảnh,
quý vị thấy đó, Ngài ở trong Định, bất luận lúc nào,
quý vị đều thấy Ngài ở trong Định. Ngài đi rất chậm,
động tác từ tốn, nói rất ít. Tôi chỉ thấy Ngài như thế
này: Môi luôn máy động không ngừng, đại khái là trì chú
theo cách Kim Cang Trì, động môi nhưng không phát ra tiếng.
Ngài nêu gương tốt cho chúng ta thấy, tu hành thật sự như
vậy. Nay chúng tôi hiểu rõ: Thật sự tu thì trong mười hai
thời sáu chữ hồng danh liên tục không gián đoạn, đó là
công phu thật sự, thật sự chẳng thể nghĩ bàn. Rất đáng
tiếc, chúng ta bỏ lỡ tấc bóng, một ngày từ sáng đến
tối không biết niệm Phật, không biết nhớ Phật, niệm Phật,
suốt ngày khởi vọng tưởng. Nói cách khác, suốt ngày tạo
nghiệp.
“Lưới
nghiệp quấn trói”, tức là quý vị tạo tác nên “lưu chuyển
năm đường”; đấy là quả báo. “Năm đường” là sáu
nẻo luân hồi, vì sao gọi là “năm đường”? Không kể
đường A Tu La thì thiên đạo, nhân đạo, súc sanh đạo, địa
ngục đạo, ngạ quỷ đạo là năm đường. Vì sao không tính
A Tu La? A Tu La trên cõi trời thì tính gộp trong thiên đạo,
trong cõi người thì tính gộp vào nhân đạo, trong súc sanh
thì gộp trong súc sanh đạo, trong đường ngạ quỷ thì gộp
trong trong ngạ quỷ đạo. Kinh Lăng Nghiêm nói: Trong bốn đường
ấy đều có A Tu La, địa ngục không có. Thông thường tính
A Tu La thành một đường riêng, tức là thiên A Tu La, nhưng
trên thực tế, có thể tính gộp A Tu La vào nhân đạo lẫn
thiên đạo. Do vậy, kinh Phật thường nói ngũ đạo hay ngũ
thú, luân hồi ngũ thú, đều do nghĩa này. “Lưu chuyển năm
đường” là luân hồi, quả báo hiện tiền, luân hồi từ
đâu mà có? Luân hồi do lưới nghiệp giăng mắc, nên mới
lưu chuyển năm đường.
“Hằng
tùy sanh tử dĩ thăng trầm” (luôn thăng trầm theo sanh tử)
tùy theo quý vị tạo nghiệp thiện hay ác, đó là gì? Tập
khí, tập tánh. Quý vị làm lành thì là hai đường trời -
người; tạo ác thì súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ ba đường
ác, vĩnh viễn lưu chuyển trong ấy. Vì sao? Tạo nghiệp trong
khi đang thọ báo, do tạo nghiệp nên lại phải thọ báo. Quý
vị hãy chú tâm quan sát liền nhận thấy sự tình phiền phức
rất lớn, vì sao? Trong lục đạo khó thể vươn lên, đọa
lạc rất chóng! Càng đọa càng sâu! Nếu chúng ta chú tâm
quan sát điều này sẽ chẳng khó hiểu chi. Quý vị nghĩ xem:
Nay quý vị đã mấy chục tuổi rồi, hãy chú tâm suy tưởng,
quan sát. Mình năm nay bảy mươi tuổi, xã hội lúc mình sáu
mươi tuổi ra sao? Mười năm trước đó, lúc năm mươi tuổi
lại như thế nào? Lúc bốn mươi tuổi, ba mươi tuổi, hai
mươi tuổi, lúc mười tuổi. Cứ lấy mười năm mà so sánh
sẽ nhận thấy điều gì? Khoa học kỹ thuật tiến bộ, nhưng
luân lý đạo đức thụt lùi, lòng người thiện hay ác? Thiện
tâm, thiện niệm, thiện hạnh bị suy thoái với một mức
độ lớn. Chúng tôi nói lòng người thiện lương, thiện ý,
thiện hạnh, con người hiện tại không bằng người lúc mười
năm trước. Người thuở mười năm trước không bằng người
hai mươi năm trước, người hai mươi năm trước không bằng
người ba mươi năm trước. Quý vị cứ nghĩ như thế bèn
thấy đáng sợ thật, đời sau kém hẳn đời trước! Tương
lai phải bị đọa lạc đáng sợ lắm, phải chịu khổ trong
ngạ quỷ, địa ngục. Cũng thế, trong đường ngạ quỷ, trong
đường địa ngục, con người hiện tại đọa lạc vào đấy
chịu khổ nếu so với những kẻ đọa địa ngục, đọa ngạ
quỷ trước kia không biết là khổ sở hơn gấp bao nhiêu lần!
Khổ do đâu mà có? Do nghiệp của chính mình chiêu cảm, chứ
nào phải đến tự bên ngoài; do nghiệp chiêu cảm nên trong
Phật pháp thường nói “nhân quả chẳng không”. Trong cuộc
sống thường nhật, đối người, đối sự, đối vật, khởi
tâm động niệm, ngôn ngữ, hành vi không thể không cẩn thận,
không thể không dè dặt. Chớ mặc tình buông lung, kẻo sau
phải chịu khổ! Chẳng ai gánh chịu thay cho đâu, không gì
không phải là tự mình làm, tự mình chịu, chẳng mảy may
liên can đến người khác. Nếu quý vị trách móc người khác
thì là tội càng thêm tội, khổ chồng thêm khổ, “luôn thăng
trầm theo sanh tử”.
“Cắng
cổ chí kim nhi mị gián” (suốt từ xưa đến nay chưa hề
gián đoạn). “Mị gián” nghĩa là từ trước đến nay chưa
hề gián đoạn, từ xưa đến nay. Câu này nói về tình hình
cuộc sống của chúng ta sau khi mê cho đến hiện tại. Ở
đây, Trung Phong thiền sư chỉ nêu nguyên tắc, nếu chúng ta
chú tâm suy tưởng quan sát, mới biết những hiện tượng
ấy đáng sợ. Phải giải quyết vấn đề như thế nào? Ngày
nay chúng ta học Phật không có gì khác, chỉ là nhằm giải
quyết vấn đề này, muốn hiểu rõ chân tướng sự thật
này. Không hiểu rõ chân tướng sự thật thì ý niệm muốn
giải quyết vấn đề không thể sanh khởi nổi, phải hoàn
toàn hiểu rõ, thông suốt chân tướng sự thật thì mới muốn
giải quyết vấn đề này, không giải quyết không được!
A! Bây giờ đã hết giờ rồi.
*
Chư
vị đồng học!
Xin xem tiếp đoạn khai thị tiếp theo:
Đương tri sanh tự duyên sanh, nhi pháp tánh bất dữ duyên
câu sanh. Diệt tự duyên diệt, nhi pháp tánh bất dữ duyên
câu diệt. Sở dĩ vân: “Pháp Tánh trạm nhiên”. Thị vị:
“Sanh nhi vô sanh” giả dã.
(Nên biết: Sanh tự duyên sanh, nhưng Pháp Tánh chẳng sanh cùng
với duyên. Diệt thì duyên tự diệt, chứ Pháp Tánh chẳng
cùng diệt theo duyên. Do vậy, nói: “Pháp Tánh trạm nhiên”.
Đó là nói về: “Sanh nhưng không sanh” vậy!)
Đến đây, đại sư bảo cho chúng ta biết chân tướng sự
thật. “Đương tri” là hãy nên biết. Tuy nói là phải biết,
nhưng lục đạo chúng sanh đều không biết. Vì sao không biết?
Vì mê! Do vậy, Phật, Bồ Tát ứng hóa trong thế gian nhằm
giúp đỡ chúng ta, cứu độ chúng ta. Công đức lớn lao bậc
nhất là gì? Là giúp chúng ta phá mê khai ngộ. Cái khổ luân
hồi trong lục đạo là do mê, ai cứu được? Phật, Bồ Tát
có thể cứu được! Do vậy, chỉ có Phật, Bồ Tát mới có
thể làm chuyện từ thiện cứu tế triệt để, rốt ráo,
viên mãn nhất. Chẳng phải là quý vị không có gì ăn, bèn
cho quý vị một chút thức ăn, quý vị không có áo mặc bèn
cho một ít y phục, quý vị không có nhà ở bèn cho mấy gian
phòng để ở; người thế gian chúng ta bảo đó là từ bi,
là từ bi cứu tế. Phật, Bồ Tát không như thế! Phật, Bồ
Tát muốn cứu quý vị thoát khỏi luân hồi lục đạo, muốn
cứu quý vị ra khỏi mười pháp giới, muốn giúp cho quý vị
thành Phật, giúp quý vị vĩnh viễn thoát khỏi hết thảy
nỗi khổ thế gian. Sự nghiệp từ bi cứu tế lớn lao như
thế, hết sức đáng tiếc là rất ít người thế gian biết
được. Bậc đại thiện nhân như thế không ai nhận biết,
dẫu không ai nhận biết nhưng Ngài vẫn thời thời khắc khắc
chẳng rời khỏi chúng ta, đó mới là từ bi đến cùng cực.
Ngài không rời khỏi chúng ta, thời thời khắc khắc, vĩnh
viễn không gián đoạn chăm chút chúng ta. Chúng ta phải nên
giác ngộ, phải nên hiểu rõ, phải nên thấu hiểu chân tướng
sự thật này.
Sanh là duyên sanh, “nhưng Pháp Tánh chẳng sanh cùng với duyên
”; diệt là duyên diệt, “nhưng Pháp Tánh chẳng cùng diệt
theo duyên”. Chúng tôi đổi một chữ sanh diệt chắc quý
vị dễ hiểu hơn. Sanh là thân thể của chúng ta được sanh,
diệt là thân thể này chết. Chúng tôi dùng “sống - chết”
để nói chắc quý vị dễ hiểu hơn. Sanh, đúng là duyên sanh.
Thân thể của chúng ta do Tứ Đại, Ngũ Ấm, các duyên hòa
hợp tạo thành. Nói theo cách bây giờ thì thân thể này do
rất nhiều khí quan, kinh mạch, tế bào hợp thành. Nhưng tâm
tánh của chúng ta không phải là những khí quan, không phải
là kinh mạch, cũng không phải là tế bào, cái nào cũng đều
không phải. Tâm tánh không phải là vật chất, vật chất
có sanh diệt; tâm tánh của chúng ta không sanh diệt, điều
này cũng rất khó hiểu.
Hiện thời nói chung quý vị nhờ vào Internet để tiếp nhận
những tin tức của chúng tôi, hoặc là qua CD, qua băng thâu
hình do chúng tôi chế tác, quý vị nhìn vào màn huỳnh quang
của TV sẽ trông thấy tôi. Tôi dùng tỷ dụ này để giảng
cho quý vị dễ hiểu. Màn huỳnh quang của computer, của máy
truyền hình giống như Pháp Tánh, những hình ảnh hiện nơi
màn hình là duyên sanh sanh diệt. Quý vị hãy nghĩ coi: Những
hình ảnh hiện trên màn hình có sanh, có diệt, nhưng cái màn
hình ấy có sanh diệt hay không? Không có! Lại dùng điện
ảnh để tỷ dụ: Tôi cho rằng người hiện thời ai nấy
đều đã từng coi phim, cái phông màn để chiếu phim giống
như Pháp Tánh mà chúng ta đang đề cập ở đây. Những hình
ảnh chiếu trên phông màn có sanh diệt, đó là duyên sanh.
Vì thế, cái hiện tướng (tướng được hiện) này có sanh
có diệt, còn cái phông màn có thể hiện tướng (không có
phông màn, hình ảnh không hiện được) thì không sanh, không
diệt.
Từ những tỷ dụ này, quý vị hiểu: Pháp Tánh giống như
cái màn để chiếu phim, cái gì cũng không có, nhưng nó lại
có thể hiện tướng, dẫu hiện tướng nhưng không nhiễm
trước. Dùng chuyện này để tỷ dụ chân tâm cũng được!
Có đôi chỗ tương tự! Nếu chúng ta hiểu được đạo lý
này, chúng ta sẽ dụng tâm giống như cái màn để chiếu phim,
mặc sức quý vị hiện tướng này nọ. Quý vị hiện tướng
Phật, Bồ Tát rất tốt, mà hiện tướng địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh cũng tốt, không gì không tốt, quyết định
không phân biệt, quyết định không chấp trước, quyết định
không nhiễm ô mảy may. Có thể nói là hiện tại, quý vị
ngày nào cũng phải tiếp xúc với màn huỳnh quang của máy
truyền hình hay màn hình của computer, cái gì chúng cũng không
có, nhưng cái gì cũng hiện được. Thế nhưng những máy móc
ấy hiện được là nhờ vào ngoại duyên, [vẫn là] duyên
sanh. Sanh là hiện tướng, tướng chính là duyên sanh. “Pháp
Tánh chẳng sanh cùng với duyên”. Cái màn hình có thể hiện
được hình ảnh ấy chẳng sanh cùng một lúc với hình ảnh,
không phải thế. Diệt thì những hình ảnh trên màn hình đã
hiện xong; tắt nguồn điện đi, không còn nữa, những tướng
ấy diệt mất, không còn nữa, nhưng màn hình chẳng bị tiêu
diệt theo tướng ấy. Như vậy, màn hình là bất sanh bất
diệt, hình ảnh là hữu sanh hữu diệt. Hình ảnh chính là
cảnh giới sáu trần bên ngoài mà sáu căn của chúng ta tiếp
xúc. Căn của chúng ta lẫn cảnh giới bên ngoài đều là hữu
sanh hữu diệt. Pháp Tánh có thể hiện tướng, nó là bất
sanh bất diệt, giống như cái màn hình không sanh diệt, nó
vĩnh hằng, đó mới thật sự là mình. Nhà Thiền nói “bản
lai diện mục trước khi cha mẹ sanh ra”, đó mới thật sự
là mình, không đâu chẳng tồn tại. Lại thưa cùng quý vị:
Từ trước đến nay, nó không lay động. Pháp Tánh trạm nhiên,
từ trước đến nay chưa từng lay động, từ trước đến
nay chưa từng bị nhiễm ô, có đủ thấy - nghe - hay - biết.
Như vậy, [khả năng] thấy - nghe - hay - biết của con người
chúng ta là do đâu mà có? Do Pháp Tánh mà có. Khả năng thấy
- nghe - hay - biết của hết thảy vạn vật do đâu mà có?
Cũng là từ Pháp Tánh. Không lạ lùng chút nào cả! Nó vốn
sẵn là như vậy, kể cả hư không, nếu hư không chẳng thấy
- nghe - hay - biết, nó sẽ chẳng thể truyền đạt sự thấy
- nghe - hay - biết. Hiện thời có rất nhiều tín hiệu phải
nhờ vào hư không để chuyển đi là vì hư không có thấy
- nghe - hay - biết. Do đây biết rằng: Toàn thể vũ trụ sống
động, không phải chết cứng, sống động hoạt bát. Quý
vị thấy sơn hà đại địa, cây cỏ, bùn cát, đá tảng dường
như ù lì không linh hoạt, chứ thật ra chúng linh động.
Văn Thù Bồ Tát nói “tưởng ngưng đọng thành cõi nước”,
nói theo ngôn ngữ hiện thời thì câu này có nghĩa là: Vật
chất do đâu mà có? Ngài giảng rất rõ ràng. “Tri giác là
chúng sanh”, câu này giảng rất hay: Hết thảy chúng sanh đều
có tri, đều có giác, là gì vậy? Pháp Tánh đấy! Tại động
vật thì gọi là Phật Tánh, tại thực vật, khoáng vật thì
gọi là Pháp Tánh. Phật Tánh và Pháp Tánh là một tánh, đều
là thấy - nghe - hay - biết. Chúng tôi hết sức cảm tạ những
nhà khoa học, hiện tại họ dùng phương pháp khoa học chứng
minh thực vật cũng thấy - nghe - hay - biết, khoáng vật cũng
thấy - nghe - hay - biết. Điều này giúp chúng tôi lý giải,
hiểu sâu thêm một tầng, giúp ích cho việc dạy dỗ của
chúng tôi, có tác dụng rất lớn; đặc biệt là đối với
chính bản thân chúng tôi. Trong quá khứ, bản thân chúng tôi
nghiên cứu kinh giáo, thật sự không có chứng cứ khoa học.
Chúng tôi tin tưởng là nhờ vào Thánh Ngôn Lượng, tức là
thánh nhân chẳng khinh dối chúng ta. Sau đấy, nhờ vào công
phu tu hành của chính mình mới đạt đến một trình độ
nhất định. Đấy là tu Định. Đạt đến một mức độ
nhất định thì cảnh giới hiện tiền, tự mình chứng ngộ,
quý vị đã chứng đắc rồi.
Hiện nay, dùng phương pháp khoa học thì dù chúng ta chưa đạt
đến mức độ tu hành như vậy, cũng vẫn có thể thấy được,
dùng máy móc, dụng cụ giúp chúng ta chứng minh. Đương nhiên
máy móc chỉ giúp chúng ta chứng minh một cách hữu hạn, chỉ
chứng minh được những gì rất thô tháp. Từ thiền định
mà chứng đắc sẽ thấy chúng cực vi tế, lại còn rộng
sâu. Chúng tôi cảm tạ những nhà khoa học đã cung cấp những
tin tức này, khiến cho tín tâm của chúng tôi tăng gấp bội,
chúng tôi biết phải khéo đối xử với chính mình như thế
nào, biết phải khéo đối đãi hoàn cảnh sanh hoạt của chính
mình như thế nào. Trong hoàn cảnh bao gồm cả hoàn cảnh nhân
sự lẫn hoàn cảnh vật chất. Đối với hết thảy hữu tình
chúng sanh, đó là hoàn cảnh nhân sự. Đối với hết thảy
vô tình chúng sanh, đó là hoàn cảnh vật chất. Chúng ta giống
như Phật, Bồ Tát, dẫu chẳng thể nói là hoàn toàn giống
hệt, nhưng dần dần rất gần giống. Đãi người, xử sự,
tiếp vật giống hệt như Phật Như Lai, sẽ dần dần khế
nhập cảnh giới Phật. Đoạn khai thị này nhằm giải thích
cho chúng ta biết: “Cho nên nói: ‘Pháp Tánh trạm nhiên”.
Đây là nói về “sanh nhưng không sanh” vậy! Thế nào là
“sanh nhưng không sanh” được giải thích nhiều như thế.
Sanh là dấu vết sanh diệt của chúng sanh. Nói cách khác, sanh
là hiện tướng. Pháp Tánh bất sanh bất diệt, Pháp Tánh không
phải là tướng được hiện. Nói theo cách bây giờ, Pháp
Tánh không phải là vật chất, vật chất sanh khởi từ Pháp
Tánh. Do vậy, hiện tướng của vật chất có sanh diệt; còn
hiện tướng của Pháp Tánh không có sanh diệt. Từ Tướng
quý vị thấy được Tánh, đó là “sanh nhưng không sanh”.
Đúng là như chúng ta trông thấy những tướng được hiện
trên màn huỳnh quang, đồng thời ta cũng thấy được chính
cái màn huỳnh quang ấy. Quý vị biết tướng được hiện
trên màn hình có sanh diệt, còn màn hình bất sanh bất diệt.
Trong sanh diệt quý vị thấy không sanh không diệt, chuyện
này dễ hiểu. Từ chỗ này, quý vị phải chú tâm lãnh hội.
Chúng ta lại đọc tiếp đoạn kế:
Vô sanh nhi sanh giả…
(Vô sanh mà sanh là)
Đây là luận về Tướng, vốn không có, không có mà nay lại
có. Có như thế nào? Ở đây, Trung Phong thiền sư bảo chúng
ta:
Chúng sanh mê vọng nhập tâm
Thưa cùng quý vị, cái tâm ấy là vọng tâm, chẳng phải chân
tâm. Do vì mê vọng nên không nhập được chân tâm. Chân tâm
thuần chân, tuyệt đối không thể kèm theo vọng. Tâm ấy
là gì? Tâm ấy là tám thức, chúng ta thường gọi là A Lại
Da Thức. Thật sự nhập A Lại Da Thức! A Lại Da Thức giống
như cái kho, tất cả hết thảy mê vọng đều cất chứa trong
A Lại Da Thức. A Lại Da Thức là kho lẫm; vì thế, trong kinh
điển, đức Phật gọi thức này là Hàm Tàng Thức hoặc Tạng
Thức. Tạng là kho lẫm. Chúng ta khởi tâm động niệm là
ghi ấn tượng (người hiện thời nói là “ghi ấn tượng”)
vào đâu? Chính là thâu cất trong A Lại Da Thức. A Lại Da
Thức là vọng tâm, cũng rộng lớn không ngằn mé, giống như
hư không. Ấn tượng ấy không phải là vật chất, cho nên
không có thể tích. Trong kinh, đức Thế Tôn đã từng nhắc
đến. Đức Phật nói: Nếu ấn tượng có thể tích thì khắp
cõi hư không chẳng thể chứa đựng hết. May là nó không
có thể tích, tàng trữ trong A Lại Da Thức. Ngày hôm qua chúng
ta làm những chuyện gì, quá khứ làm những việc gì, hoặc
là mấy chục năm trước làm chuyện gì, có những ấn tượng
rất sâu đậm, hễ nghĩ tới bèn tưởng tượng được ngay.
Nếu những ấn tượng ấy không có một chỗ nào giống như
một cái kho tài liệu để cất giữ ngõ hầu lúc nào chúng
ta cần rút tài liệu ra thì sự việc trong quá khứ bèn hiện
bày ngay trước mặt; nếu không có một cái kho như vậy thì
chẳng phải là cái gì cũng không có hay sao? Cái kho tài liệu
ấy không hư nát, vĩnh viễn tồn tại bất hoại. Những thứ
được tàng trữ trong kho ấy là từ đời đời kiếp kiếp,
từ vô thỉ đến nay, tất cả hết thảy điều thiện cũng
vậy, tất cả hết thảy điều bất thiện cũng thế, điều
vô ký (không thiện không ác) cũng thế, đều được cất
giữ trong kho ấy. Chúng ta muốn lấy ra một tài liệu nào
thì tài liệu ấy bèn lập tức xuất hiện, hết sức nhanh
chóng; ngay cả máy điện não (computer) hiện tại cũng chẳng
thể sánh kịp. Máy điện não do con người phát minh, vĩnh
viễn không thể nào sánh kịp bộ óc con người. Cái tâm ấy
“mê vọng nhập tâm”, tâm ở đây là A Lại Da Thức.
Tích nghiệp thành quả
(Chứa nghiệp thành quả)
“Tích” là tích lũy (chất chứa), những tội nghiệp đã
tạo tác từ vô thỉ đến nay được chất chứa, đến bây
giờ biến thành quả, báo bèn hiện tiền, tức là Báo Chướng
trong ba chướng. “Mê vọng nhập tâm” là Phiền Não Chướng,
“tích nghiệp” là Nghiệp Chướng, “thành quả” là Báo
Chướng. Thôi rồi! Quả báo hiện tiền!
Hư thọ luân chuyển, vọng kiến sanh diệt.
(Dối chịu luân chuyển, lầm thấy sanh diệt)
Luân hồi không thật, lục đạo không thật, là huyễn tướng.
Kinh Kim Cang ví rất khéo: “Mộng, huyễn, bọt, bóng”. Phàm
phu không biết, cho đó là thật, bởi thế đối với những
chuyện đó bèn nẩy sanh vọng tưởng, phân biệt, chấp trước,
tức là bị cảnh xoay chuyển. Không như người giác ngộ,
người giác ngộ chuyển được cảnh giới, hoàn toàn làm
chủ được cảnh giới. Phàm phu đáng thương, coi cảnh giới
hư vọng không thật là thật, tâm bị cảnh giới chuyển.
Tâm ấy là vọng tâm, còn chân tâm chẳng khởi tác dụng,
vì mê rồi, bị mê mất rồi, không biết một tí nào cả!
Cả ngày từ sáng đến tối khởi tâm động niệm, những
điều mình nghĩ, mình tưởng đều là vọng tâm. Nếu chúng
ta hỏi chân tâm có tồn tại hay chăng ư? Chân tâm tồn tại.
Tôi vừa mới nói chân tâm giống như cái màn hình, không sanh,
không diệt, không đến, không đi, như như bất động, nó
tồn tại. Tồn tại như thế nào? Chẳng khởi tác dụng! Quý
vị không nhận biết nó sẽ không dùng được nó. Người
giác ngộ biết dùng, biết dùng thì được đại tự tại.
Vì sao? Chẳng bị cảnh giới chuyển. Kinh Lăng Nghiêm nói:
“Nếu chuyển được vật thì giống như Như Lai”. Bản lãnh
của Pháp Thân Bồ Tát và chư Phật Như Lai là nhận chân chứ
không nhận vọng, chẳng bị cảnh giới xoay chuyển.
Pháp Tánh ở tại đâu? Pháp Tánh chẳng lìa Pháp Tướng. Có
thể nói là giống như chúng ta xem truyền hình, màn hình ở
đâu? Chỗ nào quý vị thấy được hình ảnh thì chỗ đó
chính là màn hình, màn hình không tách rời hình ảnh, hình
ảnh chính là màn hình. Như vậy, thánh nhân từ hình ảnh
mà thấy được màn hình bất sanh bất diệt, thấy được
màn hình như bất động, tâm Ngài không động, chẳng bị
cảnh giới của hình ảnh xoay chuyển. Hình ảnh rõ ràng, sáng
tỏ, chẳng mảy may dính dáng gì đến Pháp Tánh cả, nó giữ
được cái tánh. Do đó, từ đây ta cũng có thể hiểu được
cảnh giới của bậc thánh nhân, dẫu nay mình chưa làm được,
nhưng đã suy tưởng được. Ở trong ngũ dục lục trần, trong
đại thiên thế giới, các Ngài đúng là giống như đang xem
phim hay đang coi truyền hình vậy, nhất định không sanh nhiễm
trước, thấy rất rõ ràng, rất minh bạch. Đó là Huệ, chính
là như kinh Bát Nhã đã nói: “Bát Nhã vô tri nhưng không gì
không biết”. Các Ngài thấy rất rõ ràng, không gì không
biết. Vô tri là gì? Vô tri là Pháp Tánh, vô tri mới là chân
tri (thật sự biết).
Lục
đạo phàm phu hoàn toàn tương phản, họ có biết, nhưng cái
họ biết chỉ là tất cả hết thảy những hình ảnh hiện
trên màn hình, quên mất cái màn hình, hoàn toàn quên bẵng,
không biết những hình ảnh đó phải nhờ vào màn hình mà
biến hiện, quên tuốt cái màn hình, hoàn toàn chấp tướng.
Lục đạo phàm phu là vậy đó! Cho tướng ấy là chân thật,
đối với tướng bèn khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước, niệm niệm so đo, không biết chúng là hư huyễn, hư
vọng, về căn bản chẳng hề tồn tại. Vì sao? Vì những
tướng ấy sanh diệt trong từng sát-na.
Quý
vị hãy nghĩ xem có phải là những hình ảnh trên màn hình
sanh diệt trong từng sát-na hay không? Chắc chắn chẳng có
hai tướng giống nhau. Dễ thấy nhất là phim ảnh, [hình ảnh
hiện ra hay biến mất] là do ống kính đóng hay mở, rõ rệt
quá! Truyền hình tiến bộ hơn phim ảnh, người xem truyền
hình rất nhiều, nhưng người hiểu được nguyên lý của
truyền hình không nhiều. Người hiểu được nguyên lý của
truyền hình sẽ hiểu tướng là hư vọng. Tướng của truyền
hình là gì vậy? Là tổ hợp của những tia quét, mỗi tia
quét do các vi điểm (pixel) hợp thành, nhiều điểm hợp thành
tia quét, nhiều tia quét hợp thành hình ảnh. Nguyên lý là
vậy. Do các tia quét di động rất nhanh nên ta chẳng biết
nó là giả tướng. Mỗi giây, nơi ống kính của máy chiếu
phim, hình ảnh được sanh diệt hai mươi bốn lần (ống kính
mở là sanh, ống kính đóng là diệt). Nhìn trên màn bạc,
những hình ảnh trông rất thật, không biết chúng là giả
tướng. Những tia quét trong máy truyền hình so với tốc độ
đóng mở ống kính của máy chiếu phim nhanh không biết gấp
bao nhiêu lần, nên chúng ta bị lừa dối. Nếu tốc độ di
động chậm lại, quý vị sẽ hoàn toàn hiểu rõ. Mỗi tia
quét di động chậm lại, chuyển động từ từ thì quý vị
sẽ hiểu rõ hình ảnh được xuất hiện ra sao; vì chúng xuất
hiện quá nhanh nên quý vị không biết được.
Như
vậy, luân hồi là giả, không thật, thế nhưng quý vị không
hiểu, giống như nằm mộng: Mộng là giả, nhưng lúc nằm
mộng không biết mình đang nằm mộng; bởi thế mới có chuyện
chịu khổ, hưởng vui trong mộng. Nếu biết là nằm mộng,
cổ nhân nói: Nếu biết mình đang nằm mộng, trong mộng thấy
cọp ăn thịt mình, ta cũng hết sức phát tâm, phát khởi lòng
từ bi, đem thân này thí cho cọp, mộng cảnh mà! Quý vị không
biết là mộng, cứ cho đó là thật, nên thấy cọp chạy đến,
kinh hoảng toát mồ hôi lạnh khắp mình. Chư Phật, Bồ Tát
ứng hóa trong chín pháp giới, đến hóa độ chúng sanh, chúng
ta thường nghe nhà Phật có câu: “Đại tác mộng trung Phật
sự, khải kiến thủy nguyệt đạo tràng” (Làm Phật sự
lớn lao trong mộng, xây dựng đạo tràng bóng trăng trong nước).
Đạo tràng là bóng trăng trong nước, Phật sự là chuyện
trong mộng. Vì thế, bậc ứng hóa rất tự tại, ở trong những
pháp giới ấy giáo hóa chúng sanh, giúp đỡ chúng sanh, đúng
là chẳng lưu lại vết tích. Nếu quý vị hỏi các Ngài có
tạo tác gì hay chăng ư? Các Ngài không tạo tác, làm nhưng
không làm, không làm mà làm. Nhìn từ quan điểm của chúng
sanh, các Ngài làm rất nhiều, nhưng trên thực tế, chuyện
gì các Ngài cũng không làm.
Bởi
thế, quý vị phải hiểu: Nay chúng ta luân hồi trong lục đạo,
nhưng Phật, Bồ Tát, người giác ngộ thấy chúng ta chỉ luân
hồi một cách hư giả; vì thế, chúng ta được gọi là những
“kẻ rất đáng thương xót”. Vì sao đáng thương xót? Thật
sự đáng thương xót lắm! “Lầm thấy sanh diệt”: Đối
với sanh diệt, đối với chết chóc sợ hãi như thế ấy,
sợ phát khiếp như thế là vì vọng kiến (thấy sai lầm).
Khi quý vị đã hiểu rõ thì không có sanh diệt, không có sống
chết, chỉ là thay đổi cảnh giới mà thôi. Chỉ là đổi
một cảnh mộng này sang một cảnh mộng khác, không có cách
nào lay tỉnh quý vị được! Hễ tỉnh ra thì sáu nẻo không
còn nữa. Vĩnh Gia đại sư nói rất hay: “Trong mộng đành
rành phô sáu nẻo, tỉnh rồi ba cõi rỗng toang hoang”. Giác
ngộ rồi thì không còn nữa! Tiếp theo đây, Trung Phong thiền
sư dùng tỷ dụ để thuyết minh, hy vọng rằng: Nếu với
những điều vừa nói ở trên, quý vị không cách gì lãnh
hội được thì nhờ vào tỷ dụ này sẽ giúp cho quý vị
hiểu được!
Ư
Pháp Tánh thể thượng, như kính hiện tượng, tự châu tùy
sắc. Đương tri kính quang bản tịnh, châu thể tuyệt ngấn.
Vật cảnh hỗ chương, bất vi sắc tượng. Bỉ sắc tượng
chi khứ lai, do nghiệp quả chi nghiễm nhiên dã.
(Pháp
Tánh về bản thể giống như hình ảnh được hiện nơi gương,
giống như viên ngọc phản chiếu màu sắc [những vật xung
quanh]. Phải biết: Ánh sáng của gương vốn tịnh, thể của
châu trọn không tỳ vết. Vật cảnh soi rõ lẫn nhau, hình
sắc chẳng trái nghịch. Hình sắc đến đi giống như nghiệp
quả đành rành vậy)
Đọc
đến đoạn này, có thể nói là giống như những tỷ dụ
của chiếu bóng, màn hình của máy truyền hình, máy điện
não chúng tôi đã dùng. Từ những tỷ dụ ấy, nếu chúng
ta chú tâm thể hội thì quả thật y báo, chánh báo trang nghiêm
trong mười pháp giới đều giống như vậy, đều không thật,
Nhất Chân pháp giới mới là thật! Hoa Tạng, Cực Lạc là
thật, là Nhất Chân pháp giới. Mười pháp giới đều là
mộng, huyễn, bọt, bóng, chứ không riêng gì lục đạo.
“Pháp
Tánh về bản thể giống như hình ảnh được hiện nơi gương”:
Thời cổ chưa có khoa học, kỹ thuật, trong sanh hoạt thường
nhật, mọi người thường dùng đến gương. Sáng sớm ngủ
dậy, buổi tối trước khi ngủ, rửa mặt đều phải soi gương,
“Pháp Tánh về bản thể giống như hình ảnh được hiện
nơi gương”. Lại như “bảo châu tùy sắc”, bảo châu là
thứ được mọi người yêu thích, thế nhưng người có châu
báu không nhiều, nói chung phải là hạng phú quý. Còn gương
hầu như nhà nào cũng có, là một vật dụng rất thông dụng.
Châu có màu chẳng phải vì chính nó có màu, mà do phản chiếu
màu sắc bên ngoài. Nay bảo châu được dùng rất nhiều vì
có rất nhiều loại bảo châu nhân tạo, làm gần giống như
thật, rất khó phân biệt. Chiếu ánh sáng vào châu theo những
góc độ khác nhau, nó bèn hắt ra những tia sáng có màu sắc
khác nhau. Điều này con người hiện thời hiểu rất rõ rệt:
Châu vốn không có ánh sáng, được ánh mặt trời hoặc ánh
đèn soi vào, sẽ thấy nó tỏa ra ánh sáng có màu sắc. Vì
thế, “phải biết ánh sáng nơi gương vốn tịnh”, gương
vốn thanh tịnh, nơi gương vốn chẳng có sắc tướng; châu
cũng rất thanh tịnh, cũng không có màu sắc sáng chói. Vì
thế, đại sư bảo chúng ta: “Ánh sáng của gương vốn tịnh,
thể của châu trọn không tỳ vết”, không có vết sứt mẻ,
hoàn toàn thanh tịnh.
“Vật
cảnh soi rõ lẫn nhau, hình sắc chẳng trái nghịch”: Những
cảnh giới bên ngoài gương là “vật cảnh”. Vật là gương
hay châu, cảnh giới bên ngoài soi vào đó, chúng bèn phản
chiếu lại, đó là “hỗ chương”. Chương có nghĩa là sáng
rõ. Gương chiếu soi cảnh giới bên ngoài, cảnh giới bên
ngoài hiện bóng trong gương; ánh sáng chiếu vào châu, châu
tỏa ra màu sắc. “Hình sắc chẳng trái nghịch ”, hình tượng
tự nhiên hiện ra những tướng như vậy, điều này rất dễ
hiểu! Những hình sắc ấy có sanh có diệt, lúc chiếu là
sanh, lúc không chiếu là diệt. Nếu chúng ta di động cái gương,
dùng mặt này soi thì cảnh giới sẽ sanh nơi mặt này, soi
bằng mặt kia thì cảnh giới bên mặt này không còn nữa,
diệt mất; mặt kia lại sanh. Soi mặt mũi tôi, mặt mũi tôi
bèn sanh trong gương; đem soi vào mặt anh, mặt tôi bèn biến
mất, mặt anh bèn sanh. Cảnh giới dường như có sanh có diệt,
nhưng cái gương (có khả năng chiếu soi) không sanh không diệt.
Châu biến đổi màu sắc thuận theo ánh sáng, biến đổi là
có sanh có diệt, chứ bản thể của châu không sanh không diệt.
Như
vậy, “hình sắc đến đi”: Chữ “sắc” chỉ cho châu
vì châu hiện sắc, gương hiện hình. “Do như nghiệp quả
nghiễm nhiên” (giống như nghiệp quả rành rành), “nghiễm
nhiên” là tự nhiên. Hết thảy chúng sanh chúng ta vì mê hoặc
chân tướng sự thật (Thật Tướng các pháp), nên khởi Hoặc
tạo nghiệp, biến hiện thành quả báo, giống như hình ảnh
hiện trong gương, giống như màu sắc xuất hiện nơi châu,
không phải là chân thật. Gì là chân thật? Tánh của chúng
ta là chân thật, ở đây nói Pháp Tánh là chân vậy. Nếu
bây giờ chúng ta hỏi Pháp Tánh ở nơi đâu thì như kinh Lăng
Nghiêm đã giảng: “Từ cửa ngõ sáu căn phóng quang lay động
cõi đất”. Chư Phật Như Lai thấy được điều này nên
chúng ta chắp tay xưng Ngài là Phật, vì sao? Quý vị có Phật
tánh, tánh của quý vị và tánh của Phật không hai không khác,
Ngài là Phật nhưng vì sao quý vị không là Phật? Hết thảy
chúng sanh đều là Phật, vô tình chúng sanh có Pháp Tánh. Trong
pháp Đại Thừa thường nói: “Minh tâm kiến tánh, kiến tánh
thành Phật”. Ta thấy được Tánh, nơi Tướng thấy được
Tánh sẽ thành Phật. Tuyệt đối chẳng mê nơi tướng thì
gọi là “đại triệt đại ngộ”, Giáo Hạ gọi là “đại
khai viên giải”, Niệm Phật gọi là “Lý nhất tâm bất
loạn”, thật sự nhất tâm bất loạn! Thế nào là nhất
tâm? Hóa giải hết thảy tất cả đối lập thì mới gọi
là “nhất tâm”. Có người, có ta, ta và người đối lập
thì chẳng phải là nhất tâm; trong nhất tâm không có đối
lập. Chúng ta thường hay nói đến Phật và chúng sanh, tức
là vẫn còn có Phật và chúng sanh, như vậy là còn mê, chưa
giác ngộ. Giác ngộ thì sao? Giác ngộ rồi thì không Phật,
không chúng sanh, Phật chính là chúng sanh, chúng sanh chính là
Phật, là một không phải hai, đó là nhất tâm. Phàm những
gì đối lập, tương đối đều không có, chân - vọng không
có, tà - chánh không có, thiện - ác không có, đúng - sai không
có, ta - người không có, xa - gần không có, trước - sau không
có, đó mới là nhất tâm bất loạn, đó là “nhập Bất
Nhị pháp môn”, đó là “nhập Phật cảnh giới”. Phật
giác ngộ cảnh giới triệt để, được đại tự tại, “Lý
vô ngại, Sự vô ngại, Lý Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại”.
Hết thảy mọi thứ không gì không tùy thuận Phật tánh, chẳng
tạo nghiệp, không phiền não, phiền não không còn, nghiệp
không còn; vì vậy, quả báo trong sáu nẻo mười pháp giới
không còn nữa. Đó là “giác rồi ba cõi rỗng toang hoang”,
chỉ còn sót lại cảnh giới nào? Nhất Chân pháp giới. Nhất
Chân pháp giới là Hoa Tạng, là Cực Lạc. Chúng ta xem đoạn
tiếp theo, nếu quý vị muốn thật sự hiểu được những
tỷ dụ trên, quý vị phải chú tâm thể hội:
Cố
chư Phật ư nghiễm nhiên sanh diệt trung, duy kiến vô sanh.
(Bởi
thế chư Phật trong sự sanh diệt rành rành, chỉ thấy vô
sanh)
Câu
này rất dễ hiểu. Chư Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát thấy
hết thảy vạn vật, dẫu là lục đạo hay là mười pháp
giới đều bất sanh bất diệt. Vì sao? Các Ngài từ Tướng
thấy được Tánh, Tánh cũng như Tướng không trở ngại; cốt
sao quý vị hiểu được chân tướng sự thật này. Vì sao?
Như tấm gương soi chiếu vạn vật bên ngoài có trở ngại
gì hay không? Vạn vật hiện trong gương, gương trọn chẳng
nhiễm, mảy may trở ngại cũng không có. Vì sao nay chúng ta
có chướng ngại? Do chúng ta nhiễm trước. Chúng ta mắt thấy,
tai nghe, tiếp xúc cảnh giới bên ngoài bèn khởi tâm động
niệm, sanh khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Vậy
là hỏng bét rồi! Phật, Bồ Tát hiểu rõ chân tướng sự
thật rõ ràng minh bạch, chẳng khởi tâm, chẳng động niệm,
chẳng phân biệt, chẳng chấp trước. Những lời này tôi
đã nói rất nhiều năm rồi, ai thực hiện được thì người
ấy thành tựu. Lời này chẳng để nói xuông, có nói cũng
vô ích, [chỉ là] kể tên món ăn, đếm của báu nhưng chính
mình chẳng được thọ dụng! Nếu chính mình đối với cảnh
giới hiện tiền, thấy sắc, nghe tiếng, quả thật biết chân
tướng sự thật rõ rệt, minh bạch: Đây là Tướng Phần,
kia là Tánh Phần, thật sự khế nhập cảnh giới, Tánh - Tướng
như một. Tánh và Tướng vẫn là đối lập, vẫn là còn mê
chưa ngộ. Thật sự giác ngộ thì Tánh và Tướng là một,
Sự - Lý là một, nhân quả là một, quý vị nhập Nhất Chân,
đắc nhất tâm. Do như vậy mà đắc Nhất tâm .
Bởi
thế, tách lìa hết thảy cảnh giới thì quý vị sẽ đạt
được nhất tâm từ đâu đây? Huống hồ quý vị có lìa
được cảnh giới hay chăng? Không lìa được! Quý vị chỉ
có thể chuyển đổi, chứ chắc chắn không thể lìa khỏi
được. Vì sao không tách lìa được? Pháp Tánh tự nhiên hiện,
có thể tánh thì tự nhiên bèn hiện tướng, hễ có hiện
tướng thì tự nhiên có tác dụng. Thể - Tướng - Dụng là
một nhưng ba, tuy ba mà một, giống như hình tướng hiện trong
gương, là một không hai. Đúng là mê - ngộ bất đồng, do
vậy: “Chư Phật trong sự sanh diệt rành rành, chỉ thấy
vô sanh”, trong Tướng thấy Tánh, Tánh - Tướng như một.
Chúng
sanh ư trạm nhiên vô sanh trung, duy kiến sanh diệt.
(Trong
vô sanh trạm nhiên, chúng sanh chỉ thấy sanh diệt)
Chúng
sanh đang mê, vô sanh là Pháp Tánh. Nơi Pháp Tánh chúng sanh
thấy hiện tướng sanh diệt, chỉ thấy được Pháp Tướng,
đem Pháp Tướng đối lập, quên mất Pháp Tánh vô sanh, hoàn
toàn không biết mình đối lập nơi tướng hư vọng. Giống
như chúng ta thấy cái phông màn đây; cái phông màn này là
tướng, phía sau có núi, có mây vờn, có cây cối, phân biệt
như thế. Sự phân biệt ấy là khởi tâm động niệm: Đây
là núi, đây là mây, đây là cây, cây không phải là núi,
núi không phải là mây. Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước
là hỏng rồi, mê rồi, càng mê sâu hơn, càng chấp trước
nghiêm trọng hơn. Chư Phật, Bồ Tát không vọng tưởng, không
phân biệt, không chấp trước, thấy rất rõ ràng, không khởi
tâm động niệm. Các Ngài không nói đây là cây, đây là mây,
đây là núi, không hề có, nhất thể! Bất đắc dĩ thì gọi
bằng một danh từ, đó là Pháp Tướng.
Pháp
Tánh có thể hiện, Pháp Tướng là cái được hiện, Pháp
Tánh là một, Pháp Tướng bất nhị, đó là trí huệ chân
thật. Có vậy mới thấy chân tướng sự thật rõ ràng, minh
bạch, không mê, không nhiễm. Chúng ta học Phật phải lấy
việc khế nhập cảnh giới này làm mục tiêu tu học, kinh
thường gọi là “nhập Phật tri kiến”. A! Nay đã đến
giờ rồi!
*
Chư
vị đồng học!
Xin
xem tiếp phần khai thị của Trung Phong thiền sư trong thời
thứ nhất. Chúng tôi đã đọc đoạn sau đây:
Cố
chư Phật ư nghiễm nhiên sanh diệt trung, duy kiến vô sanh;
chúng sanh ư trạm nhiên vô sanh trung, duy kiến sanh diệt.
(Vì
thế, chư Phật đối với sự sanh diệt đành rành, chỉ thấy
vô sanh; chúng sanh đối với vô sanh trạm nhiên chỉ thấy
sanh diệt).
Hai
câu này tôi đã giảng rồi. Trung Phong thiền sư quả thật
đã dùng lời giải thích trực tiếp, thích đáng nhất để
thuyết minh chúng sanh khác với Phật ở chỗ nào. Chúng ta
hãy xem đoạn văn khai thị tiếp theo đó:
Chỉ
nhân mê ngộ chi hữu sai, toại chí hiện lượng nhi bất nhất;
thực nãi sanh vô tự tánh, vô sanh diệc vô tự tánh, ngộ
tắc sanh diệt giai vô sanh, mê tắc vô sanh giai sanh diệt. Sở
dĩ, ly thử biệt vô, thị nãi nhất thể nhi dị danh dã.
( Chỉ
do mê ngộ sai khác mà đến nỗi hiện lượng (1) khác nhau,
chứ thật ra, sanh không có tự tánh, vô sanh cũng không có
tự tánh. Hễ ngộ thì sanh diệt đều là vô sanh, còn mê thì
vô sanh đều thành sanh diệt. Do vậy, lìa khỏi cái này không
còn gì khác, đấy chỉ là một thể mà tên gọi khác nhau).
Chúng
ta đọc đến đoạn này. Trong đoạn trên đại sư đã vì
chúng ta thuyết minh tỉ mỉ: Chúng sanh và Phật khác nhau ở
chỗ nào? Sai biệt ở chỗ mê hay ngộ, mê thì gọi là chúng
sanh, giác ngộ thì gọi là Phật. Vì vậy, ở đây, thiền
sư nói: “Chỉ do mê ngộ sai khác”. Mê ngộ là quý vị thấy
cảnh giới bên ngoài, tức sáu căn tiếp xúc cảnh giới bên
ngoài, mắt thấy, tai nghe, thân thể tiếp xúc, thậm chí tất
cả hết thảy cảm thọ đều khác nhau. Những đạo lý như
vậy nếu giảng giải một cách nông cạn thì không đến nỗi
khó hiểu lắm. Ví như chúng ta đều cùng sống trong thế gian
này như nhau, nhưng do trình độ văn hóa khác biệt, tu dưỡng
sai khác, thấy cảnh giới bên ngoài - tức là đối với hết
thảy người, sự, vật - mỗi người cảm nhận khác nhau.
Đấy là một sự thật rất rõ ràng. Ngoài ra, còn có thể
nêu một thí dụ khác: Như khi mỗi một người chúng ta đang
vui vẻ, thấy hết thảy người, sự, vật đều cảm thấy
vui thích; nếu khi chúng ta đang lo buồn, phiền não, nhìn vào
hết thảy người, sự, vật ắt cảm thấy chán ghét, đều
không đáng ưa.
Do
vậy biết rằng, cảnh giới bên ngoài là một, tùy theo mức
tu dưỡng, tùy theo tình cảm của ta, sau khi ta tiếp xúc, trong
sự cảm nhận của ta cảnh giới sẽ bị biến đổi rất
lớn. Ngay từ bản thân mỗi người chúng ta, hoặc là từ
giữa chốn bạn bè thân thiết, mọi người cùng tụ hội,
dễ thấy chuyện này rõ rệt nhất. Từ đây chúng ta có thể
suy đoán là bọn phàm phu chúng ta và Phật khác biệt rất
lớn. Sự khác biệt trong việc nhận biết vũ trụ nhân sanh
càng lớn hơn nữa. Chư Phật thấy được chân tướng của
vũ trụ nhân sanh, chúng ta chỉ thấy vọng tướng của nhân
sanh vũ trụ. Vì sao chúng ta thấy hư vọng? Chỉ vì chúng ta
mê mất chân tướng. Mê như thế nào? Trong phần trên đã
nói rồi đó: Phật, Bồ Tát giác ngộ, triệt để giác ngộ,
viên mãn giác ngộ; bởi vậy, các Ngài trông thấy chân tướng
của vũ trụ nhân sanh.
Ở
đây, thiền sư dạy chúng ta: “Chỉ vì mê ngộ sai biệt,
đến nỗi hiện lượng khác nhau” - cách thấy của chúng
ta và cách thấy của Phật bất đồng. Cách thấy của chúng
ta là đối với cảnh giới bèn sanh khởi vọng tưởng, bèn
khởi tâm động niệm, bèn phân biệt, chấp trước. Sáu căn
của Pháp Thân Bồ Tát và chư Phật Như Lai tiếp xúc cảnh
giới sáu trần chẳng khởi tâm động niệm, không phân biệt,
chấp trước. Khởi tâm động niệm là vô minh; vọng tưởng,
chấp trước là tạo nghiệp. Trong hết thảy cảnh duyên, Phật,
Bồ Tát không mê hoặc, không tạo nghiệp, đắc đại tự
tại! Sai biệt ở chỗ này, ngoài điều này ra, sai biệt gì
cũng chẳng có. Vì thế, tiếp theo đó, thiền sư lại nói:
“Thực
nãi” nghĩa là nói thật ra, “sanh không có tự tánh”. Sanh
là hiện tướng của hết thảy vạn vật, hết thảy vạn
sự vạn vật sanh khởi, kể cả hư không, hư không vốn cũng
chẳng có, hư không sanh khởi như thế nào? Nếu nói hư không
chẳng có, ắt mọi người cảm thấy rất lạ lùng; thế nhưng
qua tỷ dụ sau đây, có lẽ quý vị sẽ lãnh hội được.
Ví như nằm mộng, trong mộng có hư không hay chăng? Có! Vậy
tôi hỏi quý vị: “Hư không trong mộng do đâu mà có?” Lúc
quý vị nằm mộng, hư không hiện hữu, lúc tỉnh dậy, cái
hư không trong mộng không còn nữa. Như vậy, nếu quý vị
chú tâm quan sát: Hiện tướng ấy thật sự tồn tại, hư
không có sanh diệt, cái hư không trong giấc mộng của chúng
ta có sanh diệt. Đương nhiên, hết thảy hiện tượng, thế
giới, vi trần, chúng sanh được hiện trong cái hư không đó,
những cảnh giới vốn có trong mộng tợ hồ hiện hữu đối
với chúng ta, chúng có sanh có diệt. Nay cái hư không thế
giới, sơn hà đại địa, chúng sanh lăng xăng đang hiện diện
đây do đâu mà có? Đúng là từ hư không sanh, hư không là
Không, trong Không sanh ra Có. Hiện tại, khoa học đã phát hiện:
Quả thật trong Không sanh ra Có, đã thế lại còn nhất thời
đốn hiện, hoàn toàn giống với những gì kinh Đại Thừa
đã nói, nhưng không diễn giải được tường tận như trong
kinh điển.
“Sanh
không có tự tánh”, tự tánh ấy chính là tự thể, sanh không
có tự thể. Vì không có tự thể nên mới gọi là vọng,
không gọi là chân. Kinh Lăng Nghiêm giảng rất khéo: “Từ
đâu sanh ra thì cũng chính ngay đó mà diệt”. Tốc độ sanh
diệt rất nhanh, không cách gì hình dung được nên Phật bảo
là “chẳng thể nghĩ bàn”, tức là không có cách gì hình
dung được tốc độ nhanh chóng ấy. Trong những buổi giảng,
chúng tôi thường dùng chuyện chiếu bóng làm tỷ dụ, tấm
phim lọt vào ống kính của máy chiếu phim khi nó mở ra, chẳng
phải là hình ảnh bèn được chiếu ngay lên màn bạc hay sao?
Đó là Sanh. Ống kính đóng lại, hình ảnh ấy không còn nữa.
Đó là Diệt. Ống kính lại mở ra, tấm ảnh thứ hai lại
xuất hiện, đó lại là Sanh. Rồi lại đóng vào, bức ảnh
thứ hai lại diệt. Đó là sự sanh diệt trông thấy rõ ràng
nhất. Sự sanh diệt ấy là nhất thời đốn hiện, Sanh là
nhất thời đốn sanh, không có trước sau; Diệt cũng là nhất
thời đốn diệt, cũng không có trước sau. Đấy chính là
như kinh Lăng Nghiêm đã giảng: “Từ đâu sanh ra thì cũng
chính từ ngay đó mà diệt”. Thế nhưng sự sanh diệt do ống
kính của máy chiếu phim đóng mở trong một giây chỉ là hai
mươi bốn lần. Những hiện tượng hiện đang ở trước mắt,
kể cả thân thể chúng ta, kể cả những gì chúng ta cảm
nhận, những gì chúng ta thấy được, nghe được, suy nghĩ,
tưởng tượng đều được tính gộp trong đó, trong một giây
những hiện tượng ấy sanh diệt bao nhiêu lần? Kinh Nhân Vương
bảo một cái khảy ngón tay là sáu mươi sát-na, trong một
sát-na có chín trăm lần sanh diệt. Chiếu theo đó, trong một
giây tối thiểu khảy ngón tay được bốn lần, bốn lần
sáu mươi nhân chín trăm gần bằng hai mươi vạn tám ngàn,
tức là hai mươi mốt vạn sáu ngàn lần sanh diệt. Không [chậm]
như tốc độ của ống kính trong máy chiếu phim mà nhanh như
thế nào? Một giây không phải là hai mươi bốn lần mà là
hai mươi mốt vạn sáu ngàn lần, làm sao quý vị biết là
giả cho được! Tôi cho rằng trong kinh Nhân Vương, đức Thế
Tôn giảng như vậy chỉ là phương tiện nói, chứ chưa phải
đã nói sự thật. Vì sao? Sự thật, tốc độ còn nhanh hơn
thế nữa, không cách gì tưởng tượng được. Tợ hồ nhanh
đến mức độ nào? Gần như sanh diệt đồng thời. Bởi vậy,
kinh Phật thường bảo là “bất sanh bất diệt”, bất sanh
bất diệt là sanh diệt đồng thời, vừa sanh đã diệt, vừa
diệt lại sanh, nhất thời đốn hiện. Nhất thời đốn hiện
là ngay trong cùng một thời, tính như thế nào là “một thời”?
Trong một thời sanh, lại diệt trong cùng một thời ấy, sanh
diệt đồng thời. Bởi thế, sanh không có tự tánh, vô sanh
cũng không có tự tánh.
“Hễ
ngộ thì sanh lẫn diệt đều là vô sanh”: Chư Phật, Bồ
Tát giác ngộ, biết sanh diệt đều là bất sanh, hết thảy
pháp không sanh, không sanh thì có đâu mà diệt? Đấy mới
là chân tướng của vũ trụ nhân sanh. Do vậy, chư Phật, Bồ
Tát đối với những hiện tượng này từ trước đến nay
chẳng khởi tâm, chẳng động niệm, chẳng phân biệt, không
chấp trước, hoàn toàn tương ứng với chân tướng. Do vậy,
Thanh Lương đại sư khi chú giải kinh Hoa Nghiêm đã bảo: Chư
Phật, Bồ Tát thuộc về vô ngại pháp giới, pháp giới Lý
vô ngại, Sự vô ngại, Lý Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại,
pháp giới không chướng ngại. Pháp giới không chướng ngại
ở đâu? Ở ngay trước mặt chúng ta. Vì sao chúng ta không
thấy? Là vì mê! Hình dáng của mê là gì? Hình dáng của mê
là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, quý vị khởi lên
những thứ ấy là bị phiền phức rồi! Như thế gọi là
“khởi Hoặc tạo nghiệp”. Tạo nghiệp chính là quý vị
đã bóp méo những hiện tướng của vũ trụ nhân sanh, chúng
chỉ là những hiện tướng được hiện bởi tâm. Những hiện
tướng ấy vốn là Cực Lạc thế giới, là Nhất Chân pháp
giới, là Hoa Tạng thế giới rốt ráo viên mãn, không khiếm
khuyết mảy may nào. Sau khi bị bóp méo, cảnh giới bên ngoài
bèn nảy sanh biến hóa, biến thành mười pháp giới, biến
thành sáu nẻo, biến thành tam đồ, biến hóa như vậy đó!
Thế
nhưng nếu quý vị hiểu biết thì chủ thể gây ra sự biến
hiện (năng biến) ấy chính là vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước. Do vậy, cái cảnh giới được biến hiện do được
sanh từ cái năng biến này (cái được biến là lục đạo,
tam đồ) nên cũng chẳng phải là thật. Tuy không thật, nhưng
quý vị chẳng giác; do bất giác nên phải gánh chịu, phải
chịu khổ chịu nạn trong ấy, khác nào quý vị nằm mộng
trong khi đang mộng. Quý vị gặp ác mộng, gặp ác mộng rất
khó chịu! Có lúc sợ đến nỗi mướt mồ hôi lạnh tỉnh
phắt dậy, sợ điếng người. Kết quả chỉ là một cơn
mộng. Nay chúng ta đang luân hồi trong lục đạo cũng là đang
mơ một giấc mộng lớn trong mười pháp giới. Cơn mộng ấy
từng giấc nối tiếp nhau, nằm mộng trong khi đang mộng, vĩnh
viễn không tỉnh được, có phải là phiền phức quá hay chăng?
Phật, Bồ Tát không dạy chúng ta điều chi khác cả, chỉ
là nhằm đánh thức chúng ta khỏi giấc mộng đó thôi.
Vì
thế, câu này nói rất khéo, rất thật: “Sanh không có tự
tánh, vô sanh cũng không có tự tánh”. Đối với người giác
ngộ, sanh lẫn diệt đều là vô sanh, họ thấy rất rõ ràng,
rất minh bạch; người mê không vậy, “mê thì vô sanh đều
là sanh diệt”. Người mê chấp trước, phân biệt, trong sự
cảm nhận của họ, tất cả hết thảy vạn sự vạn vật
trong vũ trụ đều có sanh có diệt. Mỗi khi đức Phật giảng
kinh, ta biết Ngài căn cứ trên Nhị Đế. Nhị Đế là gì?
Thứ nhất là thuận theo cảnh giới chính mình đã chứng đắc,
đó gọi là Chân Đế. Giảng cho quý vị những điều chân
thật: Những kinh Hoa Nghiêm, kinh Pháp Hoa là những kinh giảng
lẽ chân thật, giảng về cảnh giới của Phật, Bồ Tát,
bọn lục đạo phàm phu chúng ta rất khó tiếp nhận, rất
khó thấu hiểu. Vì sao? Đó chẳng phải là cảnh giới của
chúng ta, hoàn toàn khác với cảnh giới của chúng ta. Vì vậy,
ngoài ra đức Phật còn thuyết pháp thuận theo chúng sanh, tùy
thuận chúng sanh chính là Tục Đế. Tùy thuận Tục Đế thì
đức Phật giảng có sanh - lão - bệnh - tử, động vật có
sanh - lão - bệnh - tử, thực vật có sanh - trụ - dị - diệt,
tinh cầu có thành - trụ - hoại - không. Những điều này chúng
ta hiểu, chúng ta đồng ý, thừa nhận những cách giảng như
thế, không sai chút nào. Đó là thế giới theo cảm nhận của
phàm phu, Phật cũng thường giảng như thế. Vì sao? Quý vị
chưa giác ngộ, giảng sự thật quý vị không hiểu được,
giảng điều giả thì quý vị hoàn toàn đồng ý, đấy chính
là “hễ mê thì vô sanh đều là sanh diệt”. Kiến giải
của Phàm và Thánh bất đồng, chứ thật ra Lý và Sự chẳng
hai. Tôi thường nói tiến sĩ Giang Bản Thắng của Nhật Bản
đã dùng phương pháp khoa học [để chứng minh] đạo lý này,
tức là dùng nước làm thí nghiệm (nước là khoáng vật),
phát hiện nước có thể thấy, có thể nghe, có thể hiểu
được ý con người. Dùng thiện ý đối với nó, nó kết
tinh hết sức đẹp đẽ. Dùng ác ý đối với nó, nó kết
tinh hết sức xấu xí. Những điều này chứng minh lời Phật
đã giảng: Nước có khả năng thấy - nghe - hay - biết, thấy
- nghe - hay - biết là Pháp Tánh. Nó không phân biệt, vọng
tưởng, chấp trước, nhưng nó có thể bị ảnh hưởng bởi
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của những thứ khác
mà biến dạng, tướng trạng biến dạng.
Từ
thí nghiệm này chúng ta có thể nhận hiểu một điều: Nước
nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới, nước trong Hoa Tạng thế
giới nhất định không hề thiếu khuyết mảy may, hết sức
viên mãn, thật sự đầy đủ “chân thiện mỹ huệ” như
ta thường nói. Vì sao? Người trong những thế giới ấy toàn
là bậc giác ngộ, Hoa Tạng thế giới toàn là Pháp Thân đại
sĩ, không có phàm phu. Mức thấp nhất đều là hàng Sơ Trụ
Bồ Tát của Viên Giáo, cho đến hàng Đẳng Giác, cho đến
quả địa Như Lai. Vì vậy, nơi ấy không có người mê hoặc,
đều là người thật sự giác ngộ. Tất cả hết thảy vật
chất đều biến thành hoàn mỹ nhất, nên gọi là Nhất Chân.
Địa cầu của chúng ta đây vốn vẫn là Nhất Chân, vì sao
lại biến ra nông nỗi này? Cư dân trên địa cầu mê không
giác, suốt ngày từ sáng đến tối khởi vọng tưởng, những
điều suy nghĩ, tâm niệm, lời lẽ, việc làm đều hoàn toàn
trái nghịch Pháp Tánh. Do vậy, sơn hà đại địa, tất cả
hết thảy vật chất nơi đây đều bị biến đổi theo tâm
tưởng của chúng ta, biến thành hết sức xấu xí. Sơn hà
đại địa nơi cõi này và sơn hà đại địa cõi Cực Lạc
giống hệt nhau, vì sao bên họ đẹp đẽ đến thế, chỗ
chúng mình lại xấu tệ đến thế? Không có gì khác cả,
tướng chuyển theo tâm! Tâm chúng ta bất thiện, nó bèn phản
ứng bất thiện; tâm chúng ta thiện thì ngay lập tức nó bèn
thiện. Do vậy, chúng ta bèn hiểu được rằng: Nếu như tất
cả cư dân trên thế giới này buông được hết thảy vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước xuống thì thế giới của
chúng ta chính là Cực Lạc thế giới. Vì sao? Tất cả hết
thảy vật chất lập tức biến đổi. Từ thí nghiệm nước
kết tinh, chúng ta thấy rằng nếu dùng ác ý đối với nước,
nó sẽ kết tinh hết sức xấu xí. Chúng ta thay đổi ý niệm,
dùng ý niệm tốt lành nhất đối với nó, ngay lập tức nước
bèn biến đổi, biến hiện những kết tinh rất đẹp cho ta
thấy, biến đổi theo ý niệm của chúng ta. Tiến sĩ Giang
cho biết trong suốt tám chín năm, ông chưa hề thấy có hai
kết tinh nước hoàn toàn giống nhau, chúng tôi có thể khẳng
định điều này. Vì sao? Mỗi ý niệm của quý vị khác nhau,
nước phát sanh những biến hóa theo từng ý niệm. Quý vị
không có hai ý niệm hoàn toàn tương đồng nên chẳng thể
xuất hiện hai kết tinh hoàn toàn giống nhau, đạo lý là vậy!
Hy
hữu thay! Khoa học đã phát hiện được điều này, coi như
là đã bước đầu chứng thực được chân tướng vũ trụ
(nói theo thuật ngữ nhà Phật là “Thật Tướng của các
pháp”). Phật và các đại Bồ Tát chẳng cần đến những
máy móc khoa học, các Ngài tận mắt thấy, dùng phương pháp
gì vậy? Thiền Định rất sâu. Cũng có nghĩa là: Hoàn toàn
buông được vọng tưởng, phân biệt, chấp trước xuống
thì chân tướng phơi bày lồ lộ. Tướng giác ngộ, tướng
mê hoặc, y báo, chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới
thấy rất rõ ràng, minh bạch, rốt cuộc là nguyên nhân gì,
là duyên do nào cũng đều rất rõ ràng minh bạch.
“Do
vậy, lìa khỏi cái này thì không còn gì khác, chỉ là cùng
một thể mà tên gọi khác nhau”. Thế nào là “tên gọi
khác nhau”? Tướng khác nhau, nhưng vốn cùng một thể. Phải
biết địa cầu của chúng ta, tức địa cầu của thế giới
Sa Bà, tinh cầu của Cực Lạc thế giới, và tinh cầu của
Hoa Tạng thế giới đều là một thể, giống hệt nhau, đều
là vật chất. Khoa học hiện tại bảo chúng đều là những
nguyên tố, nhưng được tổ hợp khác nhau, nay ta thường nói
là công thức cấu tạo khác nhau. Vì sao kết cấu khác nhau?
Kết cấu do ai chủ trì? Ý niệm! Tâm quý vị thanh tịnh, những
nguyên tố cảm nhận được, nó thấy - nghe - hay - biết mà!
Đó là bản năng của Pháp Tánh chẳng bị tiêu mất, bất
sanh bất diệt, không có hình tướng, nhưng hiện hữu trong
hình tướng. Vì thế, bất cứ hình tướng nào, bất cứ vật
chất nào cũng đều có khả năng thấy - nghe - hay - biết,
thuận theo hữu tình chúng sanh mà biến hóa. Hữu tình chúng
sanh thiện thì chúng biến hóa rất tốt, hữu tình chúng sanh
bất thiện thì chúng cũng biến hóa rất tồi tệ. Bởi thế,
“chỉ cùng là một thể mà tên gọi khác nhau”, bởi nó
chỉ cùng một thể mà hình tướng khác nhau. Tiếp đó, đại
sư giảng mấy câu về lẽ thực tế.
Thẩm
như thị.
(Xét
như vậy)
“Thẩm
như thị”: Thẩm có nghĩa là xem xét kỹ càng, rất nghiêm
túc, rất chú tâm xem xét vấn đề này thật minh bạch, rõ
ràng. Chữ “như thị” chỉ những điều đã nói ở phần
trên.
Tắc
A Di Đà Phật tức thị ngã tâm, ngã tâm tức thị A Di Đà
Phật.
(Thì
A Di Đà Phật chính là tâm ta, tâm ta chính là A Di Đà Phật)
Ta
bèn có thể khẳng định, A Di Đà Phật từ đâu mà có? Từ
tâm hiện thức biến. Tâm của ai? Chính cái tâm của chúng
ta. Quý vị hiểu cái tâm này là cùng chung, thức cũng là của
chung, chân tâm là của chung, còn vọng tâm bất đồng. Vọng
tâm của tôi khác với vọng tâm của anh, cũng có thể hiểu
là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước mỗi người mỗi
khác, nhưng chân tâm tương đồng. Chân tâm: Lìa vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước chính là chân tâm. Trong kinh Lăng Nghiêm,
đức Phật có nêu một tỷ dụ, từ tỷ dụ này chúng ta có
thể hiểu được. Phật nói chân tâm giống như cái gì? Biển
cả! Biển cả là chân tâm. Vọng tâm là gì? Vọng tâm là
một cái bọt nước trong biển cả. Biển cả là một, nhưng
các hoa sóng xuất hiện do sóng vỗ thì vô lượng vô biên,
mỗi một bọt nước giống như vọng tâm của những chúng
sanh chúng ta, ta chấp trước vọng tâm là chân tâm của chính
mình, quên mất chân tâm thật sự. Chân tâm là biển cả kia
mà! Khi nào cái bọt nước ấy bị vỡ tan, tan đi sẽ dung
hợp với biển cả thành một thể. Chân là một, vọng là
hai ba, là vô lượng vô biên. Vì thế, kinh Đại Thừa thường
nói: “Mười phương tam thế, cùng chung một Pháp Thân, một
tâm, một trí huệ, lực vô úy cũng thế”. Do vậy, chân tâm
là một, không phải hai.
A Di
Đà chỉ do tâm hiện, chỉ do thức biến. Ngã ở đây là Chân
Ngã, chứ không phải là Ngã nơi cái thân xác thịt, xác thịt
không phải là Ngã. Kinh Phật thường nói Vô Ngã, Vô Ngã là
nói về nhục thân, nơi nhục thân không có Ngã (vô ngã), nhưng
quý vị có Chân Ngã. Nhà Phật nói đến bốn tịnh đức Thường
- Lạc - Ngã - Tịnh, đó là thật. Trong Pháp Tánh có Ngã, Pháp
Tánh có Thường - Lạc - Ngã - Tịnh, Pháp Thân có Ngã, Pháp
Thân có Thường - Lạc - Ngã - Tịnh. Mười phương tam thế
Phật cùng chung một Pháp Thân, Pháp Thân gì vậy? Pháp Thân
chính là Pháp Tướng. Chân tâm, Chân Ngã là Pháp Tánh, tướng
được hiện bởi Pháp Tánh gọi là Pháp Tướng. Pháp Tướng
là gì? Hư không, thế giới, hết thảy chúng sanh là Ngã! Chuyện
này rất khó hiểu, rất khó lãnh hội.
Tôi
lại dùng chuyện mộng để tỷ dụ, chúng ta ai cũng có kinh
nghiệm về mộng. Tôi hỏi quý vị nhé: Nếu trong khi quý vị
đang nằm mộng, nếu quý vị bất chợt giác ngộ: “Mình
đang nằm mộng mà!” thì mộng ấy từ đâu mà có? Con người
hiện thời nói mộng do tâm ý thức biến hiện, tâm ý thức
biến hiện thành cảnh giới trong mộng. Trong mộng có hư không,
trong mộng có sơn hà đại địa, trong một có rất nhiều
nhân vật. Vậy thì quý vị phải hỏi: Có cái gì trong mộng
không phải là quý vị hay chăng? Mộng do tâm ý thức của
ta biến hiện, thảy đều là ta; quý vị bèn hiểu rõ: Không
gì không phải là ta. Lúc ấy, quý vị mới thật sự hiểu
lời Phật đã nói: “Đồng thể đại bi, vô duyên đại từ”.
Vì
sao Phật phải yêu thương, che chở hết thảy chúng sanh, phải
độ chúng sanh khổ nạn? Không có gì khác cả! Vì cùng chung
một Pháp Thân. Ta có cái thân này, thân của hết thảy chúng
sanh cũng là thân của ta, sơn hà đại địa cũng là cái ta
có, thậm chí hư không cũng là cái ta có. Chúng ta nói đến
người một nhà, người một nhà vẫn chưa thân thiết, thân
thiết nhất chính là “cùng chung một Pháp Thân”, lẽ đâu
không yêu thương, che chở? Do vậy, trông thấy hết thảy chúng
sanh chịu khổ chính là bản thân mình chịu khổ, thấy hết
thảy chúng sanh hưởng vui chính là tự mình hưởng vui. Chúng
sanh và Phật không hai, chúng sanh và Phật là một, không phải
hai. Chúng sanh và ta không hai, ta và chúng sanh là một thể.
Không chỉ cùng một thể với hữu tình chúng sanh, kinh Hoa
Nghiêm nói: “Tình và vô tình cùng viên mãn Chủng Trí”,
ta và cây cối hoa cỏ, sơn hà đại địa, hư không rộng lớn
có cùng một thể. Đạo lý này sâu xa lắm, chỉ có kinh Đại
Thừa mới giảng thật rõ ràng, thật thấu triệt. Đó là
Thật Tướng, là chân tướng sự thật, vốn sẵn là như thế.
Mười
pháp giới một thể nhưng tên khác, thật sự là một thể,
chúng ta nói đến Phật pháp giới, Bồ Tát pháp giới, Thanh
Văn pháp giới, Duyên Giác pháp giới, thiên pháp giới, nhân
pháp giới, ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục pháp giới, một
thể khác tên. Vì sao khác tên? Do khác tướng, tướng không
giống nhau, nhưng quả thật là một thể. Vốn chỉ là một
tướng, tướng khác đi là vì chúng sanh khởi vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước, bóp méo tướng ấy. Tướng bị bóp
méo khác nhau, nên mang tên khác nhau, chứ thật ra chỉ là một
thể. Có khôi phục lại được tướng ấy thành giống hệt
nhau hay chăng? Được chứ! Chỉ cần lìa được vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước, hết thảy tướng sẽ biến thành
một tướng. Một tướng có nghĩa là núi vẫn là núi, nước
vẫn là nước, cây vẫn là cây, hoa vẫn là hoa, nhưng biến
thành tướng đẹp đẽ nhất!
Giống
như trong kinh Phật đã giảng: Trong các cõi Phật, cây cối
hoa cỏ vĩnh viễn không điêu tàn, vĩnh viễn xanh tươi, thật
lạ lùng! Nói cách khác, thực vật không sanh - trụ - dị -
diệt, động vật không sanh - lão - bệnh - tử, khoáng vật
không thành - trụ - hoại - không, chẳng thể nghĩ bàn! Con
người thọ vô lượng, cây cối hoa cỏ cũng thọ vô lượng,
sơn hà đại địa cũng thọ vô lượng, chúng ta thấy đó:
Cảnh giới chư Phật chẳng thể nghĩ bàn! Cảnh giới chư
Phật thật như thế đó, bị biến thành nông nỗi này là
do vọng tưởng, phân biệt, chấp trước mà thành, lầm lẫn
chịu khổ chịu nạn trong ấy. Vạn pháp một thể nhưng tên
khác, một thể là Pháp Tánh. Chúng ta lại thấy: Ở đây,
đại sư lại nói A Di Đà Phật chỉ do tâm hiện, chỉ do Thức
biến, lại xét đến y báo:
Tịnh
Độ tức thử phương, thử phương tức Tịnh Độ.
(Tịnh
Độ chính là phương này, phương này chính là Tịnh Độ)
Quả
địa cầu của chúng ta đây và Tây Phương Cực Lạc thế
giới là một không hai, không khác gì nhau. Tây Phương Cực
Lạc thế giới trang nghiêm như thế đó, tốt đẹp như thế
đó. Đức Thế Tôn dạy chúng ta: Mặt đất của Tây Phương
Cực Lạc thế giới không phải là đất cát, không phải là
xình lầy mà là gì? Là bảy báu. Đại địa là lưu ly, người
thế gian chúng ta gọi lưu ly là Phỉ Thúy, tức một loại
ngọc có màu xanh lá cây trong suốt. Như vậy đại địa của
Tây Phương Cực Lạc thế giới trong suốt, từ trên mặt thấy
thấu tận đáy, thuần sắc xanh tuyền. Bảy báu trong thế
giới chúng ta rất cứng rắn như đá tảng vậy, rất cứng
nên chỉ có thể làm bảo châu, làm đồ công nghệ, làm nghệ
thuật phẩm để thưởng thức. Bảy báu của Tây Phương Cực
Lạc thế giới mềm mại, cả cõi đất rất mềm, ta bước
lên giống như đi trên một cái mền bằng đất rất dầy,
đi lên đó rất dễ chịu, không cứng chắc. Ở chỗ chúng
ta đây, làm đường bằng nhựa đường, phủ nhựa đường
hoặc đắp đất. Đường sá ở Tây Phương Cực Lạc thế
giới bằng vàng ròng, quý vị hiểu vàng ròng biết là bao
nhiêu, vàng ròng đem đắp đường. Vàng, bạc, lưu ly, xa cừ,
mã não, phần lớn những thứ quý báu ấy được dùng làm
vật liệu xây dựng. Vì sao trong thế giới chúng ta, những
thứ này bị biến thành đất sét, cát, đá, đều bị biến
thành những thứ như vậy? Không có gì khác cả, hoàn toàn
giống như phản ứng kết tinh nước! Người sống nơi này
tâm bất thiện, bởi thế phản ứng kết tinh bèn biến thành
những thứ ấy. Người Tây Phương Cực Lạc thế giới hiền
lành, vật chất bèn biến thành vô lượng trân bảo, chứ
thật ra, chúng chỉ là một thứ, không khác gì nhau! Bởi thế,
“Tịnh Độ chính là phương này, phương này chính là Tịnh
Độ”.
Khởi
phi mê ngộ chi tự thù, hà hữu thánh phàm nhi bỉ thử.
(Há
chẳng phải do mê ngộ nên tự khác nhau, nào có thánh phàm
sai biệt!)
Phàm
hay Thánh bất quá chỉ là danh từ mà thôi, tên gọi khác nhau,
nguyên nhân thật sự gây nên những hiện tượng bất đồng
chính là mê - ngộ. Người Tây Phương Cực Lạc thế giới
giác ngộ, tất cả hết thảy vạn vật, cảnh giới biến
hiện theo cái ngộ đó đều tốt đẹp chẳng thể nghĩ bàn.
Con người trong thế gian chúng ta hiện thời tâm hạnh bất
thiện, cho nên tất cả hết thảy vạn vật ở nơi đây biến
thành xấu tệ, đạo lý là vậy. Như vậy, y báo, chánh báo
trang nghiêm trong mười pháp giới chính là những hình ảnh
biến hiện từ chính cái tâm của chúng ta. Kinh Kim Cang dạy:
“Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”,
là những hình tướng do chính tâm chúng ta biến hiện. Đạo
lý này, chân tướng sự thật này chúng ta phải rõ ràng, phải
thấu suốt, phải hiểu rõ. Như vậy, phải sửa đổi từ
đâu? Từ ngay nơi cái tâm chúng ta, đó là thật sự tu đấy.
Chân
tu không phải là hình thức, mà cốt ở thực chất. Thực
chất là gì? Khởi tâm động niệm. Thoạt đầu, Chương Gia
Đại Sư dạy tôi câu này: “Phật pháp trọng thực chất
chứ không trọng hình thức. Tâm anh biến thành thiện thì
không gì chẳng thiện”. Đầu tiên là tướng mạo chuyển
biến, tướng chuyển theo tâm, tướng mạo trang nghiêm; tiếp
đến là thể chất, thân thể mạnh khỏe, không có bệnh tật.
Đó là vật chất gần mình nhất. Chúng ta khởi tâm động
niệm, tất cả hết thảy vật chất đều có phản ứng, giống
như nước kết tinh vậy. Vì thế, tâm quý vị lành, tư tưởng
lành, ngôn ngữ, hành vi lành thì mỗi tế bào khắp toàn thân,
mỗi một khí quan đều tốt lành, mọi thứ tốt lành cả,
lẽ nào quý vị không khỏe mạnh cho được, làm sao sanh bệnh
cho được!
Nói
cách khác, nếu quý vị sanh bệnh, có bệnh tật gì thì bệnh
do đâu sanh ra? Chủ yếu là do ý niệm bất thiện tạo thành.
Đương nhiên vẫn còn có những nhân tố khác, những nhân
tố khác là ăn uống, khí hậu, bị hoàn cảnh bên ngoài công
kích, nhưng quan trọng nhất vẫn là tâm tư của chính mình.
Nay y giới cũng đang nghiên cứu sức khỏe tâm lý, người
tâm lý khỏe mạnh dẫu bị bệnh vì lạnh, gió cũng rất dễ
chữa trị, rất mau lành, khôi phục bình thường. Nếu tâm
lý không khỏe mạnh ắt phiền toái vô cùng, rất dễ bị
bệnh độc bên ngoài công kích, lại còn chẳng dễ lành bệnh,
tâm lý không khỏe mạnh mà! Hiện tại, các bác sĩ thường
nói như thế nhưng chưa biết được tiêu chuẩn của tâm lý
khỏe mạnh là gì, còn trong Phật đã nói về điều này rất
rõ rệt.
Lần
thứ nhất chúng tôi được nghe câu “Phật pháp trọng thực
chất chứ không trọng hình thức” là từ Chương Gia đại
sư dạy. Lần thứ hai được nghe câu này ở Tân Gia Ba, Tổng
Thống Nạp Đan bảo tôi như vậy. Ông là người theo Ấn Độ
Giáo (Hinduism), ông cho biết rất tôn trọng Phật giáo, ông
bảo: “Phật giáo trọng thực chất chứ không trọng hình
thức”. Tôi nghe xong hết sức kinh ngạc, bởi lẽ sau khi tôi
được nghe câu nói này từ Chương Gia đại sư, trong mấy
mươi năm chưa có ai nói câu này trước mặt tôi. Chẳng phải
là người nội hạnh (có công tu dưỡng thật sự bên trong)
chẳng thể nói nổi câu này. Cái “thực chất” đó chính
là khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, hành vi nhất định phải
tương ứng với chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác,
từ bi, không gì là bất thiện. Chúng ta xử sự, đãi người,
tiếp vật, nhất là đối với những người hiểu lầm, hủy
báng, tổn hại chúng ta, chúng ta phải dùng lòng chân thành
đối với họ, dùng tâm thanh tịnh, bình đẳng đối với
họ, dùng tâm chánh giác từ bi đối với họ, chân tâm! Quyết
định chẳng được nói gã đó chơi xấu mình, cần gì phải
xử tốt với nó? Nếu vậy là trật rồi! Kẻ ấy đọa địa
ngục, vì sao ta không đọa địa ngục? Nói vậy chẳng phải
là nói ác hay sao? Kẻ ấy gây tạo lục đạo, vì sao ta không
gây tạo lục đạo? Nay ta cùng kẻ ấy chẳng đi cùng một
đường; kẻ ấy theo con đường lục đạo, chúng ta theo con
đường thành Phật. Con đường họ đi là mê không giác, con
đường nay chúng ta đang đi là giác chứ không mê, khác nhau!
Như vậy nếu cảm thấy bị thua thiệt, vẫn còn lòng giận
hờn, vẫn có tâm báo thù, há chẳng phải là lầm lạc quá
đỗi ư? Chẳng những người ta sai lầm, mình cũng lầm luôn!
Đoạn khai thị này là đại đạo lý, cũng chứa đựng chân
tướng sự thật. Nói xong, trong tiểu đoạn cuối cùng, thiền
sư dạy chúng ta:
Nãi
tri hiện tiền chúng đẳng
(vậy
thì hiện tiền đại chúng)
Chúng
ta hiện đang ở cùng một chỗ làm pháp sự này, làm pháp
sự này để nhằm cùng học tập, cùng tu hành.
Dĩ
tự tánh A Di Đà Phật
(Hãy
đem A Di Đà Phật nơi tự tánh)
Hiểu
rồi thì A Di Đà Phật chính là tự tánh.
Dữ
đại chúng thiệt căn
(Cùng
với cái lưỡi của đại chúng)
“Cái
lưỡi của đại chúng” ý nói chúng ta hãy xưng niệm A Di
Đà Phật.
Phổ
đồng vận chuyển căn bản pháp luân
(Cùng
xoay chuyển rộng khắp căn bản pháp luân )
“Căn
bản pháp luân” chính là Nhất Chân pháp giới; y báo, chánh
báo trang nghiêm trong mười pháp giới đều là những hình
ảnh do tự tánh hiện, do thức biến. Đó là “căn bản pháp
luân”. Việc này chỉ có chư Phật Như Lai, Pháp Thân đại
sĩ thấu hiểu, thông suốt. Ngày nay chúng ta có tín tâm, tin
rằng chư Phật không nói dối, Phật chẳ