7.
Chú
Vãng Sanh
Chư vị đồng học!
Xin xem tiếp phần sau kinh Di Đà có Bạt Trừ Nhất Thiết Nghiệp
Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni. Câu này phải
đọc như thế này “Bạt Trừ Nghiệp Chướng Căn Bản, Đắc
Sanh Tịnh Độ Đà La Ni”, thường gọi là chú Vãng Sanh. Thông
thường tụng kinh Di Đà xong, mọi người thường niệm ba
biến hoặc bảy biến chú Vãng Sanh. Nếu chiếu theo truyện
ký ghi chép thì phải niệm hai mươi mốt biến, ba lần bảy
là hai mươi mốt biến, kinh truyện nói như vậy. Con người
hiện tại thích giản lược, hai mươi mốt biến giản lược
thành bảy biến, nay bảy biến giảm thành ba biến.
Chúng tôi dựa theo lời giải thích của Liên Trì đại sư
trong Sớ Sao để giới thiệu khái lược ý nghĩa bài chú này.
Đại sư giải thích ý nghĩa bài chú này như sau: “Dùng chú
để bổ trợ kinh”, kinh Di Đà vốn không có chú này, nhân
vì chú này cũng nói về việc vãng sanh, nên tổ sư đại đức
đem chú đây (bài chú này không dài) ghép vào sau kinh. “Dùng
chú phụ trợ kinh, kinh thêm chú càng rõ ràng”. Kinh A Di Đà
được bài chú Vãng Sanh ghép thêm đằng sau thì kinh càng thêm
rõ rệt. Chú là mật chú, hiển mật viên dung, thể hiện ý
nghĩa: Kinh là hiển thuyết, chú là mật thuyết. Nói “kinh
được đặt trước chú”, kinh đặt ở đằng trước, chú
đặt ở sau, “chú được kinh càng linh”, chú là chú của
kinh, kinh là kinh của chú. Chú này có ý nghĩa gì? Ý nghĩa
của bài chú đều nằm gọn trong kinh, kinh là hiển thuyết,
chú là mật thuyết, “dùng lẫn nhau”, kinh và chú hỗ trợ
nhau, thành toàn lẫn nhau. “Ưng kết thích dã”: Nên giải
thích như vậy!
Trước hết, hãy nói về xuất xứ của bài chú này. “Chú
này thấy [ghi chép] tường tận trong Bất Tư Nghị Thần Lực
Truyện”. Đây là xuất xứ của bài chú này, chú được
chép trong Bất Tư Nghị Thần Lực Truyện. Sách nói “trì
chú này, diệt tội vãng sanh”, nghĩa này rất hy hữu, trong
Hiển giáo chúng ta nói vãng sanh Tây Phương Cực Lạc là đới
nghiệp vãng sanh, chú này lại có thể diệt tội vãng sanh,
há chẳng phải là viên mãn hơn kinh ư? Do vậy, quả thật
có người không niệm kinh Di Đà, chuyên trì chú Vãng Sanh.
Trì chú có được linh nghiệm hay không? Trước kia, tôi giảng
kinh ở Đài Bắc, có một vị cư sĩ bảo mình hoàn toàn tuân
theo những gì Bất Tư Nghị Thần Lực Truyện đã nói, niệm
chú Vãng Sanh ba mươi vạn biến. Ông niệm đủ ba mươi vạn
biến không thấy có cảm ứng, đến hỏi tôi. Ông nói: “Thưa
pháp sư! Chú này không linh!” Thật ra, không phải chú không
linh. Cùng một đạo lý, như trong phần trước chúng tôi đã
nói về kinh, quý vị có hiểu hay không? Chú cũng giống như
vậy, quý vị có hiểu hay không? Nếu không hiểu thì chỉ
là học khẩu ngữ, khó lòng lắm! Chú linh như thế nào? Nói
thật ra, từ cổ đến nay thần chú không giải thích. Người
Ấn Độ nghe cũng không hiểu, bởi nó chẳng phải là tiếng
Phạn. Trước kia, thầy Lý từng bảo tôi thầy đã từng học
Mật, học suốt tám năm. Thầy bảo: Quá nửa thần chú là
ngôn ngữ của lục đạo. Khi Phật giảng kinh thuyết pháp,
thần linh trong lục đạo đều đến nghe, đại khái thính
chúng [trong lục đạo] còn nhiều hơn loài người chúng ta.
Chúng ta mắt thịt không thấy, Phật, Bồ Tát, A La Hán đều
có thể thấy được. Phải biết đạo tràng giảng kinh của
Phật, ngoại trừ thiên long bát bộ ra, quỷ thần trong sáu
nẻo đều thật sự đến nghe kinh. Họ đều có năng lực
nghe hiểu những ý nghĩa Phật thuyết pháp. Đúng là như kinh
Đại Thừa thường nói: “Phật dùng một âm để thuyết
pháp, chúng sanh tùy mỗi loại đều hiểu”. Như vậy, âm
thanh thuyết pháp của Phật là Viên Âm, tức là âm thanh viên
mãn, bất luận loài chúng sanh nào đến nghe Phật thuyết pháp
đều hiểu được, tựa hồ như nghe Phật đang nói bằng chính
ngôn ngữ của loài mình. Đó là thần lực chẳng thể nghĩ
bàn!
Sau khi giảng xong một bộ kinh, thông thường Phật dùng những
ngôn ngữ của thính chúng để nói mấy câu. Mấy câu ấy
hết sức thân thiết, dùng ngôn ngữ của chính họ để nói,
cũng là lòng từ bi lưu lộ, thân thiết từ bi. Chúng ta thể
hội sâu xa, đối với thần linh trong lục đạo đến nghe,
Phật cũng dùng ngôn ngữ của họ để nói mấy câu, nhất
định khiến họ hết sức phấn khích, hết sức hoan hỷ.
Đó là lý do mật chú chỉ có âm thanh chứ không thể giảng
ý nghĩa. Đa số ý nghĩa của chú là những ý nghĩa đã được
tuyên nói trong kinh, đương nhiên Phật cũng chẳng thể nói
tỉ mỉ, chỉ nói mấy câu trọng yếu mà thôi. Thầy Lý dạy
tôi: Do vậy, chúng ta cung cung kính kính niệm thần chú là
tốt, thế nhưng chúng ta niệm lại sợ gì? Sợ rằng tiếng
niệm không chuẩn xác, không sao cả! Âm thanh không chuẩn xác,
quỷ thần cũng lượng thứ. Đương nhiên, đức Phật niệm
sẽ chuẩn xác nhất; sau đức Phật, người niệm chuẩn xác
không nhiều. Cốt sao tâm chân thành, như thường nói: “Hễ
thành ắt linh”, chân thành ắt cảm ứng. Đó là một loại
thần chú.
Trong Đại Tạng Kinh còn có một loại chú ngữ ta không thể
gọi là thần chú được, nó cũng không mang ý nghĩa ấy. Chú
ngữ thuộc loại nào vậy? Loại trị bệnh. Trị bệnh thì
không phải là thần chú; đối tượng của những chú ấy
không nhằm để quỷ thần nghe, mà nhắm vào căn bệnh. Đại
khái là huyệt đạo bế tắc, đức Phật biết bộ phận nào
bị bế tắc không thông suốt nên bệnh tật phát sanh. Phật
đem phạm âm dạy cho quý vị, dạy quý vị niệm, niệm những
câu chữ ấy, âm thanh lớn hay nhỏ đều đã khảo cứu. Dùng
âm thanh chấn động những bộ vị bế tắc; do chấn động,
sự bế tắc bị tiêu trừ, kinh mạch thông suốt. Do vậy,
trong kinh điển cũng có rất nhiều chú ngữ trị bệnh, nhưng
ngày nay còn linh hay không? Hiện thời, thật sự không linh.
Là vì loại chú ngữ ấy nhất định phải được khẩu truyền.
Chúng ta dựa theo kinh ấy, thấy bệnh như thế bèn niệm chú
ấy không thấy linh nghiệm chút nào hết. Không phải chú ấy
không linh mà vì chúng ta không biết niệm, chúng ta không biết
cách phát âm. Phát âm phải chánh xác, âm lượng phải rất
chuẩn thì mới thật sự thấu đến bộ vị ấy.
Đây có thể gọi là phương pháp trị bệnh cao minh nhất,
chẳng cần phải châm cứu. Châm cứu vẫn cần phải đâm
kim. Cách này không cần, dùng âm thanh trị bệnh là phương
pháp cao minh nhất; cách này đã thất truyền. Dù Đại Tạng
Kinh vẫn có, nhưng quả thật không linh là vì tiếng niệm
của chúng ta không chuẩn, không biết âm lượng lớn - nhỏ.
Trong thế gian này cũng có rất nhiều thổ dân, tổ tổ tương
truyền, rất có thể vẫn còn giữ được phương pháp này,
nhưng hiện tại chúng ta rất ít thấy. Điều này thật sự
có lý, chứ không phải vô lý, những chú ngữ ấy không có
ý nghĩa gì hết. Điều này thuộc về thường thức, chúng
ta phải hiểu như thế. Nếu trong tương lai, có ai phát hiện,
người ấy dùng âm thanh chữa bệnh sẽ hiểu được phương
pháp này. Lúc Thế Tôn còn tại thế thường dùng phương pháp
này. Đại khái ở Trung Quốc, đến đời Đường vẫn còn
phương pháp dùng chú ngữ trị bệnh này, rất có hiệu quả.
Hơn ngàn năm sau, loại chú ngữ này bị thất truyền, hết
sức đáng tiếc!
Ở đây, Liên Trì đại sư nói: “Người trì chú này diệt
tội vãng sanh, nên đặt tên là Bạt Trừ Nghiệp Chướng Sanh
Tịnh Độ”. Bài chú này có danh xưng là Bạt Nhất Thiết
Nghiệp Chướng Căn Bản, Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni. Đà
La Ni có nghĩa là Tổng Trì. Sau lời Sớ có lời Sao, Sao nhằm
giải thích Sớ, Sớ để giải thích kinh, tức là lại có
phần chú giải những lời chú giải [kinh]. Chúng tôi cũng
không cần phải đọc hết, chỉ nhắc đến những phần trọng
yếu. Nói đến nghiệp chướng thì thông thường, nghiệp chướng
gồm ba loại lớn: Phiền não chướng, nghiệp chướng, báo
chướng. Nhà Phật thường nói “nguyện tiêu tam chướng trừ
phiền não, nguyện đắc trí huệ chân minh liễu”; ba chướng
vừa nói ấy chính là những chướng vừa được liệt kê
ở đây: Phiền não chướng, nghiệp chướng, báo chướng.
Vì sao không nói dẹp trừ phiền não chướng và báo chướng?
Trong ba chướng vì sao chỉ nhắc đến mình nghiệp chướng?
Đối với nghiệp chướng thì phiền não chướng là nhân của
nghiệp chướng, báo chướng là quả của nghiệp chướng.
Nói thật ra, những thứ nhân quả báo ứng đều lần lượt
làm nhân quả lẫn nhau. Do vì phiền não bèn tạo nghiệp, nghiệp
chướng là nhân, báo chướng là quả. Nói như vậy chắc quý
vị hiểu rõ. Do vì phiền não quý vị mới tạo nghiệp. Nếu
không có phiền não làm sao tạo nghiệp được! Phiền não
là gì? Tham - sân - si - mạn, trong phần trên gọi là Kiến
Hoặc, Tư Hoặc. Quý vị có Kiến Tư phiền não nên mới tạo
nghiệp; tạo nghiệp rồi, nhất định có quả báo. Ác nghiệp
thì quả báo là ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục; thiện nghiệp
thì quả báo là thiện quả nhân thiên. Như vậy, lục đạo
luân hồi thuộc về quả báo. Lục đạo luân hồi vì đâu
mà có? Do khởi Hoặc tạo nghiệp nên mới biến hiện ra như
thế. Đại sư cũng giải thích rất khéo: “Nghiệp ắt có
nhân, nghiệp ắt chiêu quả”. Vì thế có thể nói là phiền
não chướng và báo chướng được bao gồm trong nghiệp chướng.
Ở đây, đại sư cũng nói mấy câu rất hay: “Trừ chướng
quý ở chỗ trừ tận gốc. Nếu rễ tuyệt sẽ chẳng nẩy
mầm. Mầm chẳng sanh thì cành, lá, hoa, quả đều chẳng sanh
được”. Ý nghĩa này hay lắm, chúng ta phải hiểu. Cổ đức
thường chỉ dạy người học tu hành là tu từ đâu? Tu từ
căn bản, ý nghĩa như vậy. Căn bản là gì? Căn bản là khởi
tâm động niệm. Cách tu hành cao minh nhất là ý niệm vừa
khởi, lập tức “chiếu trụ”. Chiếu trụ là gì? Biết
rõ ràng minh bạch ý niệm này của mình là thiện hay ác. Ý
niệm là thiện, thiện là lợi ích hết thảy chúng sanh, điều
thiện ấy chính là ý niệm tốt, phải làm cho nó tăng trưởng.
Nếu ý niệm ấy là niệm ác, lập tức phát hiện, đoạn
ngay lập tức, dùng một câu A Di Đà Phật thay thế. Đó là
tu từ căn bản.
Do vậy, quý vị phải biết: Pháp môn Tịnh Độ là tu từ
căn bản, so với bất cứ pháp môn nào cũng đều dễ dàng
hơn. Do vì pháp môn này đề khởi chánh niệm, chánh niệm
là một câu Phật hiệu, hết sức dễ dàng, hết sức đơn
giản. Ý niệm vừa khởi bèn A Di Đà Phật, quy về A Di Đà
Phật. Cái niệm thứ nhất vừa khởi, cái niệm thứ hai bèn
chuyển. Quý vị phải thật sự niệm Phật như thế, công
phu đắc lực! Lợi căn thì ba tháng, nửa năm sẽ có hiệu
quả rất tốt. Độn căn thì ước chừng ba năm, năm năm sẽ
thấy hiệu quả. Quan trọng nhất là trì cho thường hằng,
phải giác ngộ nhanh, đừng cho vọng tâm tiếp tục tăng trưởng.
Đấy là điều chúng tôi thường giảng, phải thường đề
khởi sự cảnh giác cao độ, vi mật quán chiếu; ấy mới
là chân chánh dụng công!
Liên Trì đại sư nói: “Nay trì chú này thì phiền não không
khởi, đó là dẹp trừ căn bản của nghiệp chướng vậy”.
Cội rễ của nghiệp chướng là phiền não, một ngày từ
sáng đến tối niệm chú Vãng Sanh, thân - miệng - ý đều
chuyên chú vào chú ngữ (tổng cộng gồm mười bốn câu),
niệm đâu chú tâm vào đó khiến phiền não bị khuất phục.
Đến lúc công phu đắc lực, dù không niệm phiền não vẫn
chẳng khởi hiện, bèn được công phu thành phiến, dùng phương
pháp trì chú để đạt công phu thành phiến.
Tiếp đó là giảng về những câu được ghi trong Bất Tư
Nghị Thần Lực Truyện: “Như Truyện nói: Ngày đêm mỗi
thời trì hai mươi mốt biến, diệt các tội như Ngũ Nghịch,
báng pháp v.v…” Nói “ngày đêm” không có nghĩa là buổi
sáng niệm hai mươi mốt biến, buổi tối niệm hai mươi mốt
biến. Nếu quý vị hiểu như vậy là đã hiểu lầm ý nghĩa
mất rồi. Ấn Độ thời cổ, ngày gồm ba thời, đêm gồm
ba thời, mỗi một thời niệm hai mươi mốt biến. Nói cách
khác là ngày đêm sáu thời. Thật ra, cũng không có gì nhiều,
mỗi thời niệm hai mươi mốt biến, ngày đêm phải niệm
sáu lần, tổng cộng sáu lần, phương pháp tu hành như vậy.
Thời cổ, chúng sanh thiện căn sâu dầy, hiểu luân lý đạo
đức, đều có mức tu dưỡng kha khá, phương pháp tu trì này
có hiệu quả. Trong thế giới hiện tại rất khó, trong có
phiền não tập khí nghiêm trọng, bên ngoài có sức dụ hoặc
to lớn. Công phu hiện tại phải là trong mười hai thời không
được gián đoạn trong từng sát-na. Vì sao? Hễ gián đoạn,
phiền não tập khí bèn hiện tiền, rất khó khăn! Đại sư
lại nói: “Sa Bà luân hồi đều vì nghiệp chướng. Nghiệp
chướng đã không thì chủng tử uế độ diệt, tùy nguyện
vãng sanh, nên được sanh về cõi nước Cực Lạc của Phật
A Di Đà”. Ý này rất hay.
Tiếp
đấy, lại có mấy câu nhằm giải thích chữ Tổng Trì. Chúng
ta thường nói đến Tổng Trì rất nhiều. “Tổng nhất thiết
pháp, trì nhất thiết nghĩa” (Gồm chung hết thảy pháp, nắm
giữ hết thảy nghĩa), đó là ý nghĩa của chữ Tổng Trì.
Tổng Trì tiếng Phạn là Đà La Ni, là tên gọi khác của Chú.
“Truyện mang tên là Bất Tư Nghị Thần Lực, tức là bản
kinh mang tên Bất Tư Nghị Công Đức”. Hợp kinh và chú lại
để luận thì: “Trì chú, trì danh bèn được vãng sanh, nên
cùng gọi là Bất Tư Nghị”. Đây là ý nghĩa lớn lao của
việc ghép đem Vãng Sanh Chú vào sau kinh. Đại sư đã giảng
cho chúng ta biết đại ý.
Câu tiếp đó nói về người phiên dịch chú Vãng Sanh: “Tống
Nguyên Gia Thiên Trúc Tam Tạng Cầu Na Bạt Đà La dịch”. Giảng
kinh nhất định phải giới thiệu người phiên dịch. Bởi
lẽ, Phật pháp từ Ấn Độ truyền sang, từ Tây Vực truyền
đến Trung Quốc. Truyền đến Trung Quốc phải qua phiên dịch
mới thành kinh điển bằng Hoa văn. Nhất định phải ghi chép
niên đại phiên dịch, tên người phiên dịch ở đầu, nhằm
chứng thực kinh điển này quả thật do Thích Ca Mâu Ni Phật
đã nói, từ nguyên văn tiếng Phạn dịch ra hòng thủ tín
cùng tín đồ ở Đông phương. Do vậy, danh đề rất quan trọng.
Nhà Tống được đề cập ở đây chính là nhà Lưu Tống
thuộc thời Nam Bắc Triều, Nguyên Gia là niên hiệu, tức những
năm cuối của niên hiệu Nguyên Gia thời Tống Văn Đế (424-453).
Thiên Trúc nay gọi là Ấn Độ. Vì sao gọi là Tây Vực? Vào
thời ấy, từ Ấn Độ sang Trung Quốc, quá nửa là theo đường
Tây Vực, vượt qua Thông Lãnh đi về Nam, phía dưới đó là
Ấn Độ. Do vậy, ta thường gọi là Tây Phương. Nay giao thông
thuận tiện hơn, chúng ta biết rất rõ vị trí của Ấn Độ.
Cầu Na Bạt Đà La là vị pháp sư người Ấn Độ. Tam Tạng:
Chúng ta thường nói là “học lịch”, nay gọi là “học
vị”; Ngài tinh thông Tam Tạng. Tam Tạng pháp sư mới có tư
cách phiên dịch kinh điển, phải thông đạt Tam Tạng. Nếu
không thông đạt Tam Tạng, không thể theo đuổi công tác phiên
dịch; quý vị phải có học lịch (học vấn rộng khắp).
Cầu Na Bạt Đà La là tên hiệu của vị pháp sư dịch kinh.
Đồng thời với Ngài có một vị pháp sư cũng là người
Ấn Độ, tên họ rất giống, tức ngài Cầu Na Bạt Ma. Có
khi ghi là Cầu Na Bạt Đà, không có chữ La ở sau, âm thanh
từa tựa Cầu Na Bạt Ma. Do vậy, rốt cuộc bài chú Vãng Sanh
này do vị nào phiên dịch vẫn là điều tồn nghi. Thế nhưng
cả hai vị đều là người Ấn Độ, cùng thời đại, khẳng
định Vãng Sanh Chú quả thật đã được phiên dịch từ kinh
điển Phạn Văn, ta có thể khẳng định điều này. Tiếp
sau đây là chú ngữ, tôi đọc một lượt rồi xem tiếp những
lời giảng giải của Liên Trì đại sư. Chú ngữ gồm mười
bốn câu:
Nam mô a di đa bà dạ, đá tha già đa dạ, đá địa dạ tha:
A di rị đô bà tỳ, a di rị đá, tất đam bà tỳ, a di rị
đá, tỳ ca lan đế. A di rị đá, tỳ ca lan đá. Già di nị,
già già na, chỉ đa ca lệ, sa bà ha.
Ba hàng tiếp theo đó là những lời trích từ truyện, tức
là những câu trích từ Bất Tư Nghị Thần Lực Truyện. “Nếu
có thiện nam tử, thiện nữ nhân có thể tụng chú này thì
A Di Đà Phật thường đứng trên đảnh đầu, ngày đêm ủng
hộ chẳng để cho oán gia có dịp thuận tiện, hiện đời
được an ổn. Lúc mạng chung, tùy ý vãng sanh”. Đoạn kinh
văn này nêu lên thật rõ mối quan hệ mật thiết giữa kinh
A Di Đà và bài chú này. Thế nhưng khi đọc kinh, chúng ta thường
không lưu ý đến những chữ then chốt trong kinh. Vì thế,
chúng ta hay nói đọc kinh không linh, mình chiếu theo kinh điển
tu học dường như không đạt được hiệu quả như kinh đã
nói. Người nói như vậy không biết kinh luôn đặt ra những
điều kiện rõ ràng! Quý vị thấy đó: “Thiện nam tử, thiện
nữ nhân”, chứ không nói “nếu có kẻ trai, người gái”,
không hề nói như vậy, trước đó phải có chữ Thiện. Thử
hỏi: Chúng ta đã hội đủ tiêu chuẩn Thiện hay chưa? Nếu
hội đủ tiêu chuẩn Thiện, chiếu theo phương pháp này tu
học, chắc chắn có hiệu quả. Đấy là những điều trong
những buổi giảng, chúng tôi thường cảnh tỉnh các đồng
học, chớ nên coi thường.
Tiêu chuẩn của Thiện là gì? Trong Quán Vô Lượng Thọ Phật
Kinh, đức Phật đã nói ra những tiêu chuẩn của Thiện. Trong
đoạn kinh nào vậy? Mọi người đều biết rất rành là “Tịnh
nghiệp tam phước”. Đó chính là tiêu chuẩn của thiện nam
tử, thiện nữ nhân. Điều thứ nhất: “Hiếu dưỡng cha
mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu Thập Thiện
nghiệp”. Đó là cái thiện của nhân - thiên, tức tiểu thiện.
Chúng ta có hội đủ hay không? Nếu hội đủ bốn câu này
thì quý vị chính là thiện nam tử, thiện nữ nhân như kinh
đã nói. Nếu không hội đủ bốn câu này, quý vị chỉ là
nam tử, nữ nhân, chẳng thể thêm vào chữ Thiện được!
Thế nhưng quý vị phải hiểu: Quý vị đạt được điều
kiện này, bèn chiếu theo phương pháp tu hành, thì có được
cảm ứng thù thắng gì hay chăng? Chưa chắc! Do nguyên do nào?
Vì kinh này là kinh Đại Thừa, không phải kinh Tiểu Thừa.
Câu thứ nhất ấy chỉ là thiện pháp thuộc nhân thiên, chưa
phải là thiện của Đại Thừa. Tu nhân thiên tiểu quả thì
được vì đã đạt tiêu chuẩn!
Điều thứ hai trong Tịnh nghiệp tam phước là “thọ trì
Tam Quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi”. Ngoài bốn
câu trên, thêm ba câu này vào thành bảy câu. Làm được bảy
câu này mới là Nhị Thừa thiện. Học Thanh Văn, học Duyên
Giác, trong kinh điển Tiểu Thừa thường nói “thiện nam tử,
thiện nữ nhân” là chỉ những người làm được cả bảy
câu này. Kinh Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ là kinh Đại Thừa,
Vãng Sanh Chú cũng là kinh Đại Thừa, nên quý vị còn phải
làm được điều sau đây nữa. Điều sau đây chính là Đại
Thừa thiện: “Phát Bồ Đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc
tụng Đại Thừa, khuyến tấn hành giả”. Tổng cộng là
mười một câu, mười một câu này là căn bản của mọi
căn bản. Làm được hết mười một câu này thì chính là
Đại Thừa thiện. Như vậy chữ Thiện là then chốt, thiện
nam tử, thiện nữ nhân đầy đủ Tịnh nghiệp tam phước.
Quý vị có đủ cơ sở ấy thì được, quý vị “có thể
tụng chú này, A Di Đà Phật thường đứng trên đảnh đầu,
ngày đêm ủng hộ”. Quý vị tu thành Tịnh nghiệp tam phước,
rồi lại tu pháp môn này, quý vị sẽ thấy có hiệu quả
hay là không!
Tuy vậy, như tôi đã kể cùng quý vị, trước kia, tại Đài
Bắc tôi đã từng gặp một vị cư sĩ niệm chú Vãng Sanh
đến ba mươi vạn biến không có hiệu quả, do nguyên nhân
gì vậy? Ông ta không có Tịnh nghiệp tam phước. Ông ta chỉ
là nam tử, nữ nhân, không có chữ Thiện này. Bởi thế, niệm
xong ba mươi vạn biến không có hiệu quả. Vì tuổi ông ta
đã cao, cũng có thân phận kha khá, khi đó chúng tôi tuổi
trẻ, chẳng tiện nói. Xử sự, đãi người, tiếp vật, lời
lẽ phải có chừng mực. Nói gì phải coi người ta có tiếp
nhận được hay không, mới có thể cùng người bàn luận.
Người ta không tiếp nhận được, không cần phải nói, cứ
chắp tay hoan hỷ. Trong xã hội, ông ta có thân phận, có địa
vị, cũng có tài nghệ văn chương, thường hay vác mặt lên
trời, không có mấy ai được ông ta coi trọng. Những điều
ấy đều là chướng ngại, đều là nghiệp chướng của ông
ta.
Do vậy biết rằng: Tu hành không thể không biết căn bản,
căn bản là thiện. Trước hết, chúng ta phải đạt được
tiêu chuẩn Thiện trong nhãn quan đức Phật, chúng ta phải
tự nỗ lực đạt được! Sau đấy, mới y giáo phụng hành
thì mới có hiệu quả. “A Di Đà Phật thường đứng trên
đảnh đầu” chính là A Di Đà Thế Tôn hộ niệm. Oán thân
trái chủ toan chướng ngại quý vị tu hành, chướng ngại
quý vị vãng sanh, nhưng có Phật lực, có hộ pháp thần bảo
hựu quý vị, chúng không có dịp nào thuận tiện. “Hiện
đời được an ổn”, nghĩa là sống trong thế gian này, quý
vị được Phật hộ niệm, được long thiên thiện thần ủng
hộ, nên tai nạn, chuyện bất tường chẳng dễ gì gặp phải.
Lúc lâm chung, “tùy ý vãng sanh”, “tùy ý” nghĩa là tự
tại.
Đoạn kinh văn này thuyết minh công đức của thần chú, giảng
rất tường tận. Ba câu đầu có thể phiên dịch, bởi lẽ
chúng không phải là chú ngữ. Câu thứ nhất “nam mô a di
đa bà dạ” là niệm nam mô A Di Đà Phật. A-di-đa-bà-dạ
(Amitabhaya) là A Di Đà đọc theo Phạm âm Ấn Độ, nay chúng
ta tỉnh lược thành A Di Đà Phật. A Di Đà chứ không có chữ
Phật, trong câu trên không có chữ Phật. Câu kế đó, “đá
tha già đa dạ” (tathagataya), dịch là Như Lai. Như vậy, niệm
toàn bộ hai câu này, thì “nam mô a di đa bà da, đá tha già
đa dạ” chính là A Di Đà Như Lai, trước đó có chữ Nam
Mô, tức Nam Mô A Di Đà Như Lai. Có thể dịch ra như vậy,
nên hai câu này có thể phiên dịch được. Câu “đá địa
dạ tha” (tatiyatha) cũng dịch nghĩa được, dịch sang nghĩa
tiếng Hán là “tức thuyết chú viết” (liền nói chú rằng),
có nghĩa như vậy. Những câu tiếp đó mới là chú, từ chữ
“a di rị đô bà tỳ” (amrto dbhave) trở xuống gồm mười
câu; mười câu ấy là chú ngữ. Những chú ngữ này từ xưa
đến nay không phiên dịch, chỉ có ba câu đầu là có thể
dịch. Trong lời chú giải, Liên Trì đại sư giảng: “Thần
chú từ xưa đã chẳng phiên, đại lược có năm ý”. Năm
ý ấy chính là năm quy định trong thể lệ dịch kinh:
1)
Ý nghĩa thứ nhất là giống như đế vương thời cổ, đế
vương có những ý chỉ bí mật, chẳng thể tùy tiện tuyên
truyền, quý vị nhận được cứ y giáo phụng hành là được
rồi, cứ chiếu theo đó mà làm, chẳng cần phải hỏi han.
2) Ý thứ hai: Hoặc trong một câu có quá nhiều ý nghĩa, như
Tiên Đà Bà (1) mang nhiều nghĩa nên không phiên. Bởi lẽ không
tìm được thành ngữ hoặc từ ngữ Trung Quốc tương tự,
nên bèn phiên âm kèm theo giải thích.
3)
Ba là ở Trung Quốc không có, chẳng hạn như Diêm Phù Đề
(Jambudvipa). Trong kinh chúng thường thấy chữ sau: Am Ma La quả
(Amarapuspaka), Trung Quốc từ trước đến nay chưa hề có, hoặc
Hưng Cừ trong Ngũ Tân (năm thứ cay hôi), Trung Quốc cũng không
có. Nhưng hiện tại giao thông phát đạt, hàng hóa lưu thông
dễ dàng, Am Ma La quả là trái gì vậy? Người Đài Loan gọi
nó là trái Ba Lạc (trái xoài). Trước kia, lão hòa thượng
Đạo Nguyên (Ngài là vị pháp sư giảng kinh tại Đài Loan)
đi triều bái Ấn Độ. Do Ngài thường giảng kinh, thường
giảng trái Am Ma La ở Trung Quốc không có, rốt cuộc vẫn
không biết là trái gì. Lần ấy, Ngài đến Ấn Độ, hỏi
người Ấn Độ: “Trái Am Ma La là trái gì? Xin đem đến cho
tôi xem!” Rốt cuộc họ đem lại, nhận ra trái ấy Đài Loan
cũng có, nhưng ở Trung Quốc đại lục không có. Đó là một
loại. Hưng Cừ là một loại trong Ngũ Tân, chính là thứ gì
vậy? Nay chúng tôi biết nó là một loại hành tây; ở Trung
Quốc không có. Như vậy, những thứ giống như vậy không
có cách nào phiên dịch được, chỉ còn cách phiên âm.
4)
Thứ tư, thuận theo lối cổ không phiên. Thời cổ dịch kinh,
những chữ, những câu đã được dịch âm, ai nấy đều biết
nên không cần canh cải nữa. Hãy nêu một thí dụ: A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Nói thật ra, cũng là do tôn trọng
cổ nhân, tôn trọng nên không phiên dịch.
5)
Thế nhưng điều thứ năm cũng mang ý nghĩa tôn trọng: “Hoặc
do tôn trọng, chứ không phải không dịch được sang tiếng
Hán, như chữ Bát Nhã chẳng hạn”. Nói thật ra, Bát Nhã
cũng có thể dịch, dịch thành trí huệ. A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề, dịch là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Thế
nhưng danh từ Pháp Tướng trong kinh luận hết sức nhiều,
chúng ta đọc đã quá quen, như vậy chúng thuộc về loại
từ ngữ được tôn trọng. Nhất là A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề, đã là người học Phật thì bất luận Tiểu
Thừa hay Đại Thừa, Hiển giáo hay Mật giáo, chúng ta học
Phật nhằm mong mỏi điều gì? Chính là mong cầu Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác. Bát Nhã không phiên, cũng có lý đôi
chút. Bởi lẽ, trí huệ Bát Nhã chẳng phải là trí huệ theo
quan niệm thông thường, không giống với khái niệm trí huệ
thông thường.
Thần
chú thường không phiên dịch, nhưng có khi nào được phiên
hay không? Có chứ! Ngay cả năm hội thần chú Lăng Nghiêm cũng
được phiên dịch. Đời Thanh, Quán Đảnh pháp sư đem toàn
bộ bài chú ấy dịch ra. Đó chỉ là thiểu số, tất nhiên
đa số tôn trọng thể lệ dịch kinh của cổ nhân, nên cũng
không cần phải phiên dịch ra. Không phiên dịch ra thì được
tôn trọng. Dịch ra rồi, ý niệm tôn trọng không còn nữa.
A! Bây giờ đã hết giờ rồi.
*
Chư
vị đồng học!
Xin
xem tiếp phần giảng giải về Vãng Sanh Chú của Liên Trì
đại sư. Lời Sớ viết: “Kinh và chú liên quan, chính là
ý nghĩa Hiển Mật viên thông”. Sau kinh Di Đà, ghép thêm chú
Vãng Sanh, nói thật ra, ý nghĩa thật sự là Hiển giáo và
Mật giáo dung hợp thành một thể. Đó là ý nghĩa chân chánh.
Trong phần Sao viết: “Trình bày rõ cõi ấy”, cõi ấy chính
là Tây Phương Cực Lạc thế giới, “y báo, chánh báo trang
nghiêm, Tín Hạnh Nguyện môn”. Tín -Nguyện - Hạnh, cầu sanh
Tây Phương Cực Lạc thế giới phải hội đủ ba điều kiện
này, “như kinh đã dạy, đó gọi là Hiển”, nghĩa là chỉ
dạy rõ ràng. Sách Yếu Giải của Ngẫu Ích đại sư thật
là khó có. Ngài chia toàn kinh thành ba phần: Tự Phần, Chánh
Tông Phần, Lưu Thông Phần. Ba phần, mỗi một phần lại chia
thành ba phần, tức ba đoạn lớn, mỗi một đoạn dùng Tín
- Nguyện - Hạnh để phân định. Tự Phần gồm ba đoạn Tín
- Nguyện - Hạnh, Chánh Tông phần cũng gồm ba đoạn Tín -
Nguyện - Hạnh, phần Lưu Thông lại có Khuyến Tín - Khuyến
Nguyện - Khuyến Hạnh. Ba phần đều chẳng lìa Tín - Nguyện
- Hạnh, khai thị hết sức rõ ràng. Đó gọi là Hiển.
Tiếp
đó, lời Sao viết: “Tuân lời sắc truyền bí mật của Phật,
chỉ trì chú này liền được vãng sanh, đó gọi là Mật”.
Tuân theo lời Phật răn dạy, chuyên trì Vãng Sanh Chú, tốt
lắm, cũng được vãng sanh. Chú ngữ không có ý nghĩa gì vì
là mật thuyết. Vậy Hiển và Mật liên quan với nhau như thế
nào? “Hiển là nhằm hiển cái Mật này, còn Mật nhằm kín
nhiệm cái Hiển ấy”, cho thấy mối quan hệ giữa Hiển và
Mật là một không hai. Một đằng là hiển thuyết, một đằng
là mật thuyết; ở phần trên tôi đã trình bày cùng quý vị
rồi. Vì sao sau khi đức Phật hiển thuyết, lại phải mật
thuyết? Chủ yếu là nói cho chúng sanh trong chín pháp giới,
dùng ngôn ngữ của bọn họ để nói. Chú không phải là tiếng
Phạn nên người Ấn Độ không hiểu. Ở đây, đại sư bảo
cùng chúng ta: “Kiêm trì thì hai điều tốt đẹp cùng đầy
đủ”, ý nói Hiển, Mật đều trì. Chẳng hạn như khi tụng
kinh, tụng kinh Di Đà xong bèn niệm ba biến chú Vãng Sanh, đó
là thông lệ hiện tại. Tốt nhất là niệm bảy biến, niệm
bảy biến chú Vãng Sanh chính là Hiển Mật cùng tu. Nếu như
chỉ “đơn cử cũng giao nhiếp không sót, nên bảo là Viên
Thông”. “Đơn cử” nghĩa là chỉ niệm kinh không niệm
chú, có được hay không? Được chứ! Mật nằm trong Hiển;
chỉ trì chú không niệm kinh cũng được, vì Hiển nằm trong
Mật. Vì thế gọi là Viên Thông. Viên là viên mãn, Thông là
thông đạt, không chướng ngại. Nói như vậy, rốt cuộc chúng
ta nên tu cách nào? Liên Trì đại sư rất từ bi, lời khai
thị tiếp đó hết sức trọng yếu:
“Dẫu
nói là giao nhiếp, nhưng chuyên trì danh hiệu vẫn hơn trì
chú, cũng tốt hơn trì các chú khác, cũng thù thắng hơn hết
thảy các công đức khác”. Đoạn khai thị này hết sức
tinh vi đẹp đẽ: Chớ có nghe nói Hiển - Mật dung nhiếp lẫn
nhau như trên đây rồi Hiển lẫn Mật pháp nào cũng tu hết.
Lợi ích chân chánh là thâm nhập một môn. Tu pháp nào? Cổ
nhân thường nói: “Niệm kinh không bằng niệm chú, niệm
chú không bằng niệm Phật”. Câu nói ấy rất có lý, hoàn
toàn tương ứng với đoạn khai thị này của Liên Trì đại
sư. Kinh dài quá, chẳng dễ gì nhiếp tâm! Chú ngắn hơn, dễ
nhiếp tâm hơn, nhưng một câu danh hiệu lại ngắn hơn nữa,
càng dễ nhiếp tâm hơn. Chân chánh tu hành dụng công, nhiếp
tâm là bậc nhất. Bởi lẽ, mục đích tu hành của quý vị
là gì? Mục đích là nhất tâm bất loạn. Bất luận Hiển
giáo hay Mật giáo, Tông môn hay Giáo Hạ, Đại Thừa hay Tiểu
Thừa thì tổng cương lãnh, tổng nguyên tắc, tổng phương
hướng, tổng mục tiêu đều là muốn nhất tâm bất loạn.
Dùng phương pháp nào sẽ khiến cho mình nhanh chóng đạt được
nhất tâm bất loạn? Niệm Phật là phương pháp thù thắng
nhất. Do vậy, ở đây đại sư bảo chúng ta: “Chuyên trì
danh hiệu còn hay hơn trì chú”, hơn hẳn trì chú. Trì chú
ở đây ý nói trì Vãng Sanh Chú. Thù thắng hơn những chú
khác! Trong tất cả hết thảy chú ngữ thì Phật hiệu luôn
thù thắng vượt trỗi, không những vượt trội mật chú mà
còn vượt trội cả Hiển giáo. Hiển giáo chính là tu hết
thảy các pháp công đức khác đều không bằng trì danh. Tiếp
đó, lại có lời thuyết minh tỉ mỉ trong phần Sao về lời
Sớ: “Riêng khen ngợi trì danh”. Ở đây, đại sư giảng
ba câu. Câu thứ nhất là “thù thắng hơn bổn chú”, bổn
chú chính là Vãng Sanh Chú. Trì danh thù thắng hơn trì chú
Vãng Sanh. Vì sao? “Do chú nói: Tụng ba mươi vạn biến sẽ
thấy A Di Đà Phật”. Quý vị phải nhớ kỹ, phải đủ ba
mươi vạn biến mới thấy được A Di Đà Phật; còn trì danh
thì “một ngày nhất tâm, Phật bèn hiện tiền”. Vãng Sanh
Chú tụng đủ ba mươi vạn biến, chắc chắn không thể xong
trong một ngày. Niệm nhanh hơn cũng không được, không cách
gì niệm xong trong một ngày. Thế nhưng Phật hiệu chỉ cần
quý vị nhất tâm hệ niệm một ngày, ắt có cảm ứng, Phật
bèn hiện tiền. Trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, chúng ta thấy
Oánh Kha pháp sư niệm Phật ba ngày ba đêm, A Di Đà Phật bèn
hiện tiền. Năm năm trước khi Hàn Quán Trưởng vãng sanh,
chúng tôi trợ niệm bên cạnh bà, bà hai lần thấy A Di Đà
Phật hiện tiền, một lần thấy Liên Trì hải hội. So với
trì chú [thì niệm Phật] dễ dàng hơn, dễ đắc nhất tâm!
“Chú
còn nói: Ngày đêm sáu thời, mỗi thời tụng hai mươi mốt
biến”. Ngày đêm sáu thời, mỗi một thời đều phải niệm
hai mươi mốt biến, “diệt được tội Ngũ Nghịch; nhưng
trì danh thì chí tâm niệm Phật một tiếng, liền diệt được
trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử”. Quý vị hãy
so sánh kỹ càng giữa kinh và chú, trì danh quả thật thù thắng
hơn trì chú.
Câu
thứ hai: “Thắng dư chú giả” (thù thắng hơn các chú khác),
“dư chú” là những chú khác, tức tất cả hết thảy thần
chú trong Đại Tạng Kinh, kể cả năm hội thần chú Lăng Nghiêm.
Một câu A Di Đà Phật chẳng thể nghĩ bàn, mọi người chớ
nên coi thường. Quá dễ dàng nên bèn coi thường, không biết
vãng sanh là thù thắng. “Chuyên trì danh hiệu chính là đại
thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là chú không
gì sánh bằng”. Mấy câu này Liên Trì đại sư mượn từ
Bát Nhã Tâm Kinh để dùng. Một câu Phật hiệu quả thật
là đại thần chú, do nó vượt trỗi hết thảy các chú. Vì
sao? “Do mười niệm liền được vãng sanh, vừa sanh liền
được Bất Thoái, oai linh khôn dò; do vậy gọi là đại thần,
các điều khác cứ phỏng theo đây ắt biết”. Giải thích
một điều là đủ. Trong bốn mươi tám nguyện, nguyện thứ
mười tám: “Lâm chung mười niệm hay một niệm bèn được
vãng sanh”, đúng là chẳng thể nghĩ bàn. Sanh về Tây Phương
Cực Lạc thế giới, chứng trọn vẹn ba thứ Bất Thoái, thần
chú nào có được năng lực như thế? Chẳng có chú nào! Tìm
không ra! Bởi vậy, một câu A Di Đà Phật đúng là danh phù
hợp thực, “đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú,
vô đẳng đẳng chú”, chẳng sai chút nào. Tiếp đó lại
có một câu vấn đáp giúp chúng ta đoạn nghi sanh tín.
“Hỏi:
Chú Chuẩn Đề công đức rất rộng, rất lớn, cớ sao chỉ
trì danh hiệu lại có thể vượt trỗi chú ấy được?”
Quý vị thường đọc Liễu Phàm Tứ Huấn thấy trong sách
ấy nói Vân Cốc Thiền Sư dạy ông Viên Liễu Phàm trì chú
Chuẩn Đề. Tiên sinh Viên Liễu Phàm hằng ngày trì chú Chuẩn
Đề, ai nấy đều biết chú Chuẩn Đề linh nghiệm vô cùng,
niệm chú Chuẩn Đề công đức rất lớn, vì sao niệm một
câu A Di Đà lại có thể vượt trỗi được, thù thắng hơn
được? Liên Trì đại sư giải đáp cho chúng ta: “Chuẩn
Đề là nhân địa Bồ Tát, Di Đà là quả vị Như Lai”, khác
nhau! Trong Mật giáo, Chuẩn Đề Bồ Tát chính là hóa thân
của Quán Thế Âm Bồ Tát. “Trì chú Chuẩn Đề đã có thần
lực, há niệm Di Đà lại chẳng có cảm ứng mầu nhiệm ư?”
Cảm ứng đương nhiên rất rõ rệt. “Vì thế kinh nói: Trì
danh hiệu sáu mươi hai ức hằng hà sa Bồ Tát”, quý vị
hãy nghĩ xem, kinh nói như vậy đó, đức Phật dạy nói [trì]
danh hiệu của sáu mươi hai ức hằng hà sa Bồ Tát, “và
xưng một tiếng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, công đức
giống hệt nhau”. Phước báo niệm một tiếng “nam-mô Quán
Thế Âm Bồ Tát” và phước báo của người trì danh hiệu
sáu mươi hai ức hằng hà sa Bồ Tát bằng nhau. Chuẩn Đề
là Quán Thế Âm Bồ Tát hóa thân, nên trì chú Chuẩn Đề
giống như trì danh hiệu Quán Âm. Tiếp đó, sách viết: “Lại
nói: Trì vô lượng vô số danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát
hoặc xưng niệm Địa Tạng Bồ Tát một tiếng, hai phước
báo ấy như nhau”. Địa Tạng công đức lớn lao! Vì sao?
Sau khi Thích Ca Mâu Ni Phật diệt độ, trước khi Di Lặc Phật
xuất thế, trong khoảng thời gian dài như thế, ai sẽ thay
Phật hóa độ chúng sanh? Địa Tạng Bồ Tát! Trong khoảng
thời gian trống rỗng ấy (tức thời gian không có Phật xuất
thế), Địa Tạng Bồ Tát thay mặt đức Phật. Quý vị đọc
kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện phải hiểu điều này.
Hiện tại, người tu pháp môn Địa Tạng rất nhiều, người
niệm Địa Tạng Bồ Tát rất nhiều, nhưng phải hiểu: Công
đức niệm Địa Tạng Bồ Tát không bằng niệm A Di Đà Phật!
Tiếp đó, [sách Sớ Sao] lại viết: “Huống Như Lai ư?”
Như Lai là Quả Địa! Chúng ta biết Địa Tạng Bồ Tát thật
ra đã thành Phật từ bao kiếp lâu xa, nhưng Ngài chẳng muốn
ở địa vị Phật, cứ muốn ở mãi nơi địa vị Bồ Tát,
vĩnh viễn làm Bồ Tát, “địa ngục chẳng trống, thề chẳng
thành Phật”. Không biết bao nhiêu đồ đệ của Ngài đã
thành Phật, từ phẩm Tự của kinh Địa Tạng quý vị đã
đọc thấy rồi đó. Đây là luận về việc niệm danh hiệu
A Di Đà Phật vượt trỗi hết thảy thần chú vậy.
Câu
thứ ba là “cũng thù thắng hơn các công đức khác”. Đối
với Hiển giáo, quý vị tu hết thảy các pháp công đức không
bằng niệm Phật, công đức niệm Phật thù thắng bậc nhất,
thù thắng khôn sánh. “Lục độ vạn hạnh, pháp môn vô lượng,
nhưng chuyên trì danh hiệu thì mọi thứ công đức sẽ được
thâu nhiếp bất tận, vì chẳng ra khỏi nhất tâm, như đã
giảng trong những đoạn văn trước”. Ở đây, chữ “đoạn
văn trước” chỉ sách Sớ Sao, trong Di Đà Sớ Sao đã luận
về điều này rất nhiều. Công đức niệm Phật thật sự
lớn lao đến như thế ư? Nhưng trong quan niệm của người
thế gian lại chẳng nghĩ như vậy. Quý vị thấy đó: Nếu
trên thế giới này có tai nạn, có người bỏ tiền bỏ sức
để giúp đỡ nạn nhân thì mọi người đều khen ngợi công
đức ấy rất lớn lao; còn quý vị ở bên cạnh, chuyện gì
cũng không lý đến, niệm mấy câu A Di Đà Phật, công đức
này có vượt trỗi được công đức trên ư? Người thế
gian khó thể tin tưởng nổi nên gọi là “pháp khó tin”.
Nay
chúng ta mới hiểu được một chút: Bỏ tiền bỏ sức cứu
tế tai nạn chỉ là cứu người nhất thời, xưng niệm một
câu danh hiệu A Di Đà Phật, nếu người ta nghe được, vừa
lọt qua tai, vĩnh viễn trở thành hạt giống đạo. Chủng
tử ấy gieo vào A Lại Da Thức, tương lai gặp duyên, chủng
tử ấy hiện hành, người ấy có thể vượt thoát ra khỏi
tam giới theo chiều ngang, niệm Phật vãng sanh, bất thoái thành
Phật. Quý vị hãy so sánh xem công đức nào lớn hơn? Tuy vậy,
bỏ tiền ra sức là chuyện cứu tế tai nạn ngay trước mắt,
quý vị thấy được; còn niệm Phật là chuyện tương lai,
quý vị không thấy được, nhưng chủng tử ấy quý hơn bất
cứ thứ gì khác! Thuyết pháp như vậy người minh bạch ắt
hiểu, nhưng người mê không giác hoàn toàn chẳng thể tiếp
nhận, họ không hiểu. Dù không hiểu, nhưng một câu A Di Đà
Phật từ nhĩ căn lọt vào A Lại Da Thức, đến lúc nào người
ấy mới cảm ơn quý vị? Đến khi vãng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới mới thật sự giác ngộ: “Vô lượng kiếp
trước, ông niệm một câu A Di Đà Phật ban cho tôi chủng
tử, nên ngày nay tôi mới sanh vào Cực Lạc thế giới”.
Người ấy bèn nẩy sanh tâm cảm kích, mới biết công đức
lợi ích ấy chẳng thể nghĩ bàn, hết thảy từ thiện cứu
tế nhất định không thể sánh bằng được. Do vậy, lúc
Thế Tôn còn tại thế, Ngài vì chúng ta thị hiện: Suốt bốn
mươi năm giảng kinh thuyết pháp chứ không làm gì khác. Nay
chúng ta mới hiểu: Ngài làm như vậy chính là sự nghiệp
từ thiện cứu tế bậc nhất trong thế gian lẫn xuất thế
gian, không một ai sánh bằng được.
Tiếp
đó, Liên Trì đại sư đau lòng rát miệng khuyên dạy chúng
ta: “Nguyện tịnh nghiệp đệ tử lòng tin chuyên nhất, chẳng
sanh hai tâm”. Những đệ tử Phật tu tịnh nghiệp chúng ta,
ở đây Liên Trì đại sư mong chúng ta chuyên tâm, chớ có
tam tâm nhị ý! Tam tâm nhị ý thì hết sức đáng tiếc, bỏ
lỡ cơ duyên một đời này chẳng thể thành tựu! Rồi Ngài
lại dẫn kinh để thuyết minh: “Như kinh dạy: ‘Dẫu có
một pháp hơn cả Niết Bàn cũng chẳng ngó đến”. Nói thật
ra, lời khuyên trong tỷ dụ trên đây chẳng ngoài những gì
chương Thượng Phẩm Thượng Sanh của Quán Vô Lượng Thọ
Kinh đã dạy, nhất là trong chú giải của Thiện Đạo Đại
Sư. Trước đây chúng tôi đã đọc qua, giảng qua, đặc biệt
là Thượng Phẩm Thượng Sanh Chương đã giảng rồi. Không
có bất cứ pháp nào có thể vượt trỗi pháp này.
Sau
đó, lại nói: “Bậc tri thức Thiền Tông có vị dạy người
chỉ trì câu thoại đầu, hết thảy [những gì khác] đều
không làm”. Câu thoại đầu nào vậy? “Tham cứu câu “người
niệm Phật là ai?” vẫn thuộc về pháp môn Niệm Phật, là
một phương pháp Niệm Phật riêng biệt. Niệm A Di Đà Phật,
niệm mấy câu A Di Đà Phật xong lại hỏi “người niệm
Phật là ai?” Đó là phương pháp Niệm Phật trong nhà Thiền.
“Cố tri nguyên nghiệp dư môn giả” (Nên biết họ vốn
tu các pháp môn khác), “nguyên nghiệp” nghĩa là nguyên lai
họ tu học các pháp môn khác, “đổi sang đề cao tu niệm
Phật”. Đấy là tổ sư đại đức thường khuyên người,
tự lấy thân mình làm gương. Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư
đại triệt đại ngộ nơi Thiền, quay đầu chuyên tu Tịnh
Độ, trở thành tổ thứ sáu của Tịnh Độ Tông. Bậc đại
đức trong Tông Môn làm gương cho chúng ta, khuyên người học
Thiền kiêm tu Tịnh Độ. Trong Tứ Liệu Giản, Ngài nói rất
hay: “Có Thiền có Tịnh Độ”, tức Thiền Tịnh song tu,
“khác nào cọp mọc sừng”. Lại còn nói: “Không Thiền,
có Tịnh Độ, vạn người tu vạn về”. Quý vị hãy nhìn
thấu suốt ý nghĩa thật sự nơi câu nói của Ngài. Không
Thiền có Tịnh Độ, vạn người tu vạn người về, tức
là khuyên người tu Thiền, nếu Tu Thiền chẳng thể thành
tựu hãy hồi đầu tu Tịnh Độ, tu Tịnh Độ sẽ có thể
thành tựu.
Người
tu những tông phái khác, như tông Thiên Thai, Trí Giả đại
sư niệm Phật vãng sanh. Do vậy, tổ sư tông Thiên Thai từ
đấy về sau mãi cho đến thời cận đại, Đế Nhàn pháp
sư niệm Phật vãng sanh, Đàm Hư pháp sư, Bảo Tịnh pháp sư
đều là những vị tổ sư cận đại của tông Thiên Thai,
đều niệm Phật vãng sanh. Trong những vị đại đức cư sĩ,
chắc quý vị đã biết, cư sĩ Giang Vị Nông, cư sĩ Châu Chỉ
Am, “dạy tông Bát Nhã, hạnh tại Di Đà”. Những vị tu
hành các tông phái khác, tối hậu đều niệm Phật cầu sanh
Tịnh Độ, chúng ta không thể không biết điều này. “Huống
hồ người vốn niệm Phật”, chúng ta vốn là kẻ niệm Phật,
“há lại thay đổi cái mình tuân giữ, theo đuổi chuyện
người khác tôn sùng”: Chúng ta thay đổi việc niệm Phật
của chính mình, đi tu học những pháp môn khác. “Lòng ôm
ấp hai nẻo, chí không quy nhất, tam muội làm sao thành tựu
cho được?” Đấy là lời cảm thán hết mực của Liên Trì
đại sư.
Chúng ta đọc đến đoạn văn này, nghe câu nói ấy, phải
nghiêm túc phản tỉnh: Chúng ta có thật sự tu hay chăng? Đừng
hỏi ai khác, phải hỏi chính mình. Chúng ta có tam tâm nhị
ý hay chăng? Vẫn nghĩ học pháp môn khác ư! Niệm Phật tam
muội cạn nhất là công phu thành phiến, vì sao chúng ta chưa
làm được? Có phải là như Liên Trì đại sư đã nói ở
đây hay chăng? “Thay đổi cái mình tuân giữ, theo đuổi cái
người khác tôn sùng”, hâm mộ pháp môn khác, hướng về
pháp môn khác, “lòng ôm ấp hai nẻo”. Tuy chẳng bằng lòng
buông bỏ Tịnh Độ, nhưng vẫn muốn học pháp môn khác, vì
thế “chí không quy nhất”, phương hướng, mục tiêu không
nhất trí, như vậy thì ngay cả công phu thành phiến cũng không
đạt được, sẽ bị rắc rối như thế này:
“Kịp đến khi vô thường, chẳng đạt được gì”. Đến
lúc vô thường, vô thường là mạng chung, vô thường xảy
đến; nói cách khác, lúc sắp chết, không thành một điều
nào cả. “Chẳng nghĩ lỗi mình, lại còn báng bổ! Ô hô!
Lầm lạc thay!” Quý vị chẳng biết phản tỉnh cái lỗi
của mình, nghĩ lời Phật, Bồ Tát nói không linh, ấy là báng
Phật. Báng Phật, báng Pháp là tội A Tỳ địa ngục, đúng
là đúc thành tội lỗi quá lớn lao, khiến người mắt sáng
cảm thán không ngớt, trách nhiệm chính mình phải gánh lấy.
Kinh không lầm lỗi, pháp môn không sai lầm, mà do chính mình
phạm lỗi, không biết đạo lý thâm nhập một môn, trường
thời huân tu. Đoạn cuối cùng là Xứng Lý.
Trong bản chú giải Di Đà Kinh Sớ Sao của đại sư, mỗi một
tiết đều quy về tự tánh, trong Giáo Hạ cũng thường nói
“tiêu quy tự tánh”, mỗi đoạn như vậy hết sức tinh vi
đẹp đẽ, ngay cả phần giải thích chú Vãng Sanh cũng không
ngoại lệ. “Xứng lý thì Tự Tánh Không là ý nghĩa của
Bạt Chướng (dẹp trừ chướng), Tự Tánh Có là ý nghĩa của
Đà La Ni, Tự Tánh Chẳng Có Chẳng Không là ý nghĩa của Sanh
Tịnh Độ”. Đoạn này hoàn toàn tiêu quy tự tánh: Chân thật
trí huệ. Chúng ta xem lời giải thích trong phần Sao, dẫu không
chỉ vỏn vẹn ba câu như thế, nhưng vẫn rất khó lãnh hội
những điều phần Sớ đã giảng. “Tìm tâm không thể được,
trong hết thảy nghiệp chướng cái gì là căn bản?”. “Tìm
tâm không thể được” là chuyện thuộc Thiền Tông. Đạt
Ma Tổ Sư đến Trung Quốc truyền pháp, không có người, tìm
không ra người truyền pháp, không ai nhận biết Ngài. Lão
nhân gia thật từ bi, nếu như bọn chúng ta ắt sẽ nói: “Nơi
đây không pháp duyên, không pháp duyên thì ra đi, còn ở mãi
đây làm chi?” Ngài cứ đợi ở đó, đợi không ít năm,
đợi một người là Huệ Khả. Thiền Tông nói Tổ nhìn vách
chín năm gặp được Huệ Khả. Huệ Khả tìm đến thỉnh
giáo, Tổ cũng chẳng đếm xỉa tới. Lúc ấy nhằm mùa Đông
tuyết rơi, Huệ Khả đứng ngoài cửa, tuyết ngập đến gối;
từ chỗ này chúng ta có thể tưởng tượng Ngài đứng lâu
đến chừng nào. Trời đổ tuyết rất lớn, tuyết ngập đến
gối, Huệ Khả thấy Đạt Ma tổ sư vẫn chẳng ngó ngàng
đến mình; trước kia người xuất gia đều mang theo giới
đao, Ngài bèn rút giới đao chặt phăng cánh tay mình, chặt
đứt một cánh tay cúng dường Đạt Ma tổ sư. Đạt Ma tổ
sư thấy thế, mới mở miệng: “Ngươi đến đây làm gì?”
Huệ Khả chặt tay cúng dường mà Đạt Ma tổ sư chỉ hỏi:
“Rốt cuộc, ngươi đến đây làm gì?” Huệ Khả thưa: “Con
đến cầu đại sư an tâm!” Tâm không yên. Đạt Ma tổ sư
đưa tay ra: “Ngươi lấy cái tâm ra đây, ta sẽ thay ngươi
an cho!” Nay quý vị thấy rất nhiều bức tượng tạc hình
Đạt Ma tổ sư giơ một tay ra, đó chính là lúc Ngài bảo
Huệ Khả: “Lấy cái tâm ngươi ra đây, ta sẽ thay ngươi
an cho”. Nhờ câu nói này, Huệ Khả hồi quang phản chiếu,
“Nay ngươi đem cái tâm đưa ra, ta sẽ thế ngươi an cho”.
Hồi quang phản chiếu nơi câu nói này, tìm không được tâm,
Ngài bèn nói: “Con tìm không được cái tâm”. Ngài muốn
con tìm cái tâm, không biết cái tâm nằm đâu, Đạt Ma tổ
sư bèn nói tiếp: “Ta đã an cái tâm cho ngươi rồi”. Ta
đã thay ngươi an cái tâm, an định rồi, tìm tâm trọn chẳng
thể được! Nhờ câu nói ấy Huệ Khả đại triệt đại
ngộ. Đạt Ma tổ sư đến Trung Quốc chẳng uổng công, có
truyền nhân rồi. Huệ Khả đại triệt đại ngộ minh tâm
kiến tánh, thành tổ thứ hai của Thiền Tông Trung Quốc! Tâm
chân thành cầu pháp. Ấn Quang đại sư nói: “Mười phần
thành kính được mười phần lợi ích”, Huệ Khả quả thật
mười phần chân thành, nên mới có thể khai ngộ. Ngày nay
chúng ta nghe những câu trao đổi giữa Đạt Ma tổ sư và tổ
Huệ Khả không thể khai ngộ; mà sao Huệ Khả đại sư lại
khai ngộ? Vì Ngài chân thành, thành ắt linh, thành bèn cảm
thông. Chúng ta không có thành ý, không có thành tâm, có nghe
như thế nào, nhìn như thế nào đi nữa vẫn chẳng thể giác
ngộ!
Tìm tâm trọn chẳng thể được, trong kinh Phật, chẳng hạn
như kinh Lăng Nghiêm, Thích Ca Mâu Ni Phật bảo A Nan tìm tâm.
Tâm nằm đâu? A Nan nói bảy chỗ đều bị Thích Ca Mâu Ni
Phật bác bỏ: “Đúng là ngươi chưa biết cái tâm nằm đâu!”
Rốt cuộc tâm nằm đâu? Khắp hư không pháp giới không chỗ
nào không tồn tại, chẳng thể nói tâm ở một chỗ nào,
nói nó ở một chỗ nào là sai rồi, không chỗ nào nó chẳng
hiện hữu, không lúc nào không tồn tại. Vì sao? Hư không,
pháp giới do tâm mà thành thể. Kinh Lăng Nghiêm đã giảng
rất minh bạch như thế này: “Các pháp được sanh chỉ do
tâm hiện, hết thảy nhân quả, thế giới, vi trần do tâm
mà thành thể”. Tâm ở đâu? Không lúc nào, không chỗ nào
không tồn tại, nó bất sanh bất diệt, không đến, không
đi, không tăng, không giảm, không tương đối mà cũng chẳng
tuyệt đối, ngôn ngữ dứt bặt, tâm hạnh xứ diệt.
Đặc tánh của tâm là linh tri, trong Hệ Niệm Pháp Sự, Trung
Phong thiền sư đã giảng rất rõ ràng: “Linh tri tâm”. Tâm
sẵn đủ linh minh giác tri, cũng có thể nói rõ ràng hơn một
chút là nó đầy đủ thấy - nghe - hay - biết. Thấy - nghe
- hay - biết là bản tánh, thấy - nghe - hay - biết là chân
tâm, bất sanh bất diệt, không đến, không đi, không phải
có, không phải không, tất cả hết thảy vạn sự, vạn vật,
kể cả hư không [đều thấy - nghe - hay - biết]. Vì vậy,
quý vị phải thật sự hiểu rõ, quý vị hỏi tâm ở chỗ
nào ư? Tùy tiện chọn lấy một pháp, pháp ấy chẳng phải
là tâm ư? Cái gì cũng đều có thấy - nghe - hay - biết. Như
vậy, hiểu được chân tướng sự thật này “hết thảy
nghiệp chướng, gì là căn bản?”, đúng là dẹp trừ nghiệp
chướng tận cội rễ. Chân tâm bản tánh cái gì cũng không
có, sạch sẽ, không vướng mắc mảy may.
“Cái tâm này không gì chẳng đủ, hết thảy công đức không
gì chẳng tổng trì”. Chân tâm đầy đủ trí huệ Bát Nhã
viên mãn, đức năng viên mãn, tướng hảo viên mãn. Đó chính
là ý nghĩa của chữ Tổng Trì. “Dẫu tổng trì nhưng chẳng
lập mảy trần, Hữu chính là Tức Không chi Hữu (cái Có chính
là Không); không căn bản mà xuất sanh vạn pháp, Không chính
là Tức Hữu Chi Không (cái Không chính là Có)”. Ý nghĩa hai
câu này rất sâu, rất khó hiểu! Thế nhưng khoa học ngày
nay đã phát hiện, bảo cho chúng ta biết một chuyện: Hữu
do đâu mà có? Hữu do Vô biến hiện ra, vô trung sanh hữu (trong
không sanh ra có), Hữu lại quy về Vô. Phát hiện ấy giống
với những điều kinh Phật đã dạy. Tổng Trì là có tướng,
nhưng cái Có ấy là huyễn có, sanh diệt trong từng sát-na,
niệm niệm chẳng ngừng. Chúng ta trông thấy sắc tướng,
hết thảy hiện tướng đều là tướng tiếp nối. Kinh Kim
Cang dạy: “Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt,
bóng; như sương, cũng như chớp”. Sương là tướng tiếp
nối, “chớp” ngụ ý sanh diệt trong từng sát-na. Kinh Lăng
Nghiêm có câu: “Sanh ra từ chỗ nào, diệt tận ngay nơi ấy”,
tốc độ rất nhanh, chúng ta nhìn không ra. Đây là đối với
câu hỏi về Không và Có mà nói ra chân tướng của Có và
Không. “Không căn bản mà xuất sanh vạn pháp”, tức là
Không có thể sanh ra Có, Hữu từ Vô mà sanh ra. Mấy câu tiếp
theo giảng về nghĩa lý Trung Đạo.
“Hữu
chính là bất Không, Không chính là bất Hữu, chẳng Có chẳng
Không, chỉ là nhất tâm, chẳng vượt khỏi nhất tâm, nên
gọi là Tịnh Độ”. Chân Tịnh Độ! Vốn đã sống trong
Tịnh Độ, Tịnh Độ ở đâu vậy? Tịnh Độ ở ngay trước
mặt, vấn đề là quý vị có hiểu hay không? Có thấy được
hay không? Thấy được Tịnh Độ thì thấy Pháp Tánh, hiểu
rõ pháp tướng, Tánh và Tướng là một không hai, Tướng là
Có, Tánh là Không. Tánh - Tướng nhất như (là một, đồng
nhất), Tánh - Tướng bất nhị. Chẳng Có, chẳng Không, chẳng
Không là Tướng, tướng mộng, huyễn, bọt bóng. Chẳng Có
là Tánh, là Pháp Tánh. Tánh cũng được, Tướng cũng không
sao, đều là nhất tâm, Tánh - Tướng là một không phải hai.
Vì sao không phải là hai? Bởi từ Tánh biến hiện ra những
tướng ấy, tướng ấy chỉ do tâm hiện. Bản năng, đặc
tánh nơi tự tánh của chúng vĩnh viễn bất biến, tức là
thấy - nghe - hay - biết. Vì thế, hết thảy vạn sự vạn
vật linh tri, sống động, linh minh giác tri, chẳng chết cứng.
Ba
ngàn năm trước, Phật pháp đã nói ra chân tướng sự thật
này, đến nay khoa học mới phát hiện, nhưng vẫn hiểu biết
chưa viên mãn, vẫn mới chỉ biết được một chút xíu, chỉ
là từ lý luận suy diễn rằng có khả năng là như vậy, nhưng
hiện thời vẫn chưa có cách nào chứng thực. Vì thế, tiến
sĩ Giang Bản Thắng của Nhật Bản rất hy hữu. Ông ta đã
dùng nước để chứng minh sự thật ấy, hy vọng khi ông ta
đến thăm, chúng tôi sẽ cung cấp cho ông ta một thông tin:
“Trong vũ trụ vạn sự vạn vật đều có đủ khả năng
có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có thể biết,
chứ không riêng gì nước” để ông ta làm thí nghiệm. Bọn
họ rất kinh ngạc, lấy làm lạ, chứ trong nhà Phật chúng
ta, không kinh ngạc tí nào, chẳng sững sờ tí xíu nào, vì
sao? Vốn sẵn là như vậy. Kinh đã dạy rõ ràng, minh bạch.
Thôi được! Giới thiệu Bạt Trừ Nghiệp Chướng Căn Bản
Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni đến đây thôi!
*
Chư
vị đồng học!
Mở
đầu Hệ Niệm Pháp Sự là Hương Tán, tiếp đó là tụng
kinh, tụng Phật Thuyết A Di Đà Kinh. Theo sau tụng kinh là niệm
chú, “Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sanh
Tịnh Độ Đà La Ni”, niệm chú ba lần. Rồi đến phần khai
thị của Trung Phong thiền sư. Mở đầu phần khai thị lại
niệm ba lần:
Nam
mô Liên Trì Hội Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.
Trước
lúc tụng kinh, niệm ba lần Nam Mô Liên Trì Hải Hội Phật
Bồ Tát. Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát và Liên Trì Hội
Phật Bồ Tát Ma Ha Tát ở đây có sai khác gì chăng? Nếu không
sai khác, sao không dùng Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát? Vì
sao không dùng thống nhất? Đã xưng tán hai cách, đương nhiên
ý nghĩa khác nhau. Dù có thể nói là ý nghĩa tương đồng,
nhưng cũng có thể nói là có chút sai khác, đại đồng tiểu
dị. Nói Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát thì hải hội rộng
lớn, có thể bao trùm khắp pháp giới hư không giới mười
phương vô lượng vô biên các cõi Phật, hết thảy chư Phật
Như Lai đều ở trong ấy tuyên nói pháp môn Trì Danh Niệm
Phật vãng sanh thành Phật. Chúng ta có thể hiểu là Liên Trì
Hải Hội gồm trọn khắp hư không pháp giới, rất lớn lao!
Mỗi một người niệm Phật đều thuộc trong Liên Trì Hải
Hội, thậm chí trong xã hội hiện thời, những kẻ phản đối
niệm Phật, bài xích người niệm Phật, hủy báng người
niệm Phật, thậm chí muốn tiêu diệt pháp môn Niệm Phật
cũng đều thuộc trong Liên Trì Hải Hội. Nguyên nhân gì vậy?
Danh hiệu A Di Đà Phật vừa lọt qua tai vĩnh viễn thành hạt
giống đạo. Nay kẻ ấy bài xích là vì mê hoặc, sau khi chịu
quả báo xong, nhân duyên thành thục, vẫn là vì chủng tử
A Di Đà trong A Lại Da Thức của kẻ ấy thành thục! Nói cách
khác, nhất định vãng sanh Cực Lạc. Sợ nhất là gì? Sợ
nhất là trong một đời này hoàn toàn không có duyên phận
nghe đến, đó mới thật sự là khổ. Nghe đến phản đối
không sợ, tạo ác nghiệp cũng không sợ, thiện căn ấy là
chủng tử kim cang, vĩnh viễn bất hoại. Như vậy, pháp môn
này là pháp môn chẳng thể nghĩ bàn, Liên Trì Hải Hội.
Ở
đây nói Liên Trì Hội Phật Bồ Tát Ma Ha Tát, không thêm chữ
Hải Hội, ta có thể nghĩ [Liên Trì Hội] là Tây Phương Cực
Lạc thế giới bổn độ (cõi chính, tức chỉ riêng mình cõi
Cực Lạc), chứ không phải là trọn khắp hư không pháp giới.
Nếu trọn khắp hư không pháp giới ta phải thêm chữ Hải
Hội thành Liên Trì Hải Hội. Như vậy, giống - khác, sai biệt
ở chỗ này. Ở đây là nói riêng về Cực Lạc thế giới.
Bồ Tát: Những vị thuộc Địa Tiền (chưa chứng nhập địa
vị từ Sơ Địa trở lên) đều gọi là Bồ Tát. Hạ Hạ
Phẩm vãng sanh là những người đới nghiệp vãng sanh, phiền
não tập khí dẫu một phẩm cũng chưa đoạn, vẫn là Bồ
Tát. Là hạng Bồ Tát nào vậy? Sơ Tín Vị Bồ Tát! Pháp môn
này là Đại Thừa Viên Giáo, chí viên chí đốn. Tổ sư đại
đức trong quá khứ nói pháp này ngang bằng Hoa Nghiêm, Pháp
Hoa. Lại còn thế nào nữa? Sơ Tín Bồ Tát của Viên Giáo
nhất định phải đoạn tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc, còn
người đới nghiệp vãng sanh chúng ta chưa đoạn dù chỉ một
phẩm trong tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc, đến Tây Phương
Cực Lạc thế giới đều là A Duy Việt Trí Bồ Tát, thật
chẳng thể nghĩ bàn! Bởi vậy, trong sách Yếu Giải, Ngẫu
Ích đại sư đã viết: “Người đới nghiệp vãng sanh về
Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng thể gọi là Bồ Tát,
vì sao? Vì một phẩm Hoặc chưa đoạn, nhưng cũng chẳng thể
nói kẻ ấy là phàm phu. Vì sao? Kẻ ấy cũng là A Duy Việt
Trí Bồ Tát”. Do vậy, Ngẫu Ích đại sư nói thân phận của
người Tây Phương Cực Lạc thế giới rất lạ lùng, “hết
thảy đều không phải mà hết thảy đều là phải”, là
thân phận chẳng thể nghĩ bàn. Nếu chúng ta miễn cưỡng
nói thì: Do kẻ ấy chưa phá một phẩm Kiến Hoặc nào, ta
có thể bảo kẻ ấy là Tương Tự Vị Bồ Tát, chưa phải
là Bồ Tát thật, chỉ tương tự. Rất giống Bồ Tát, nhưng
lại chẳng phải là Bồ Tát, Phàm Thánh Đồng Cư độ mà!
Chưa đoạn một phẩm Kiến Hoặc nào!
Đương
nhiên sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới rồi thì có
cần đoạn phiền não hay chăng? Phải đoạn chứ! Phải đoạn
sạch sành sanh mới viên thành Phật đạo. Như vậy, đến
Tây Phương Cực Lạc thế giới để tu hành, nơi đó là hoàn
cảnh tu hành thù thắng bậc nhất. Chúng ta tu hành ở thế
giới này có người, có sự, có vật khuấy nhiễu. Hoàn cảnh
tu hành, tu học của tiền nhân thù thắng hơn chúng ta. Bao
nhiêu người tu hành tìm lấy một hoàn cảnh thanh tịnh, u
nhã, dựng một cái lều tranh nhỏ, mấy mươi năm không xuống
núi, rất dễ thành tựu. Thế nhưng rốt cuộc người thành
tựu vẫn là thiểu số, vì nguyên nhân nào? Tâm địa thanh
tịnh, họ đạt được điều kiện ấy; nhưng thầy giỏi,
đồng tu đạo hữu cũng chẳng dễ gì gặp được. Vì thế,
phải tầm sư phỏng đạo, phải đi tham học khắp nơi. Nghi
hoặc hoàn toàn đoạn trừ, thật sự giác ngộ hiểu rõ, lại
tìm một hoàn cảnh u tịnh để dưỡng đạo, xa lìa hết thảy
cảnh duyên. Trụ trong núi sâu không dấu chân người để
dưỡng đạo.
Chúng
ta thấy tổ sư đại đức bất luận tông phái nào trong các
đời được thành tựu [là do thân tâm thanh tịnh], ngay cả
Tịnh Độ Tông cũng không ngoại lệ. Thời đại Đông Tấn,
Huệ Viễn đại sư dựng một Niệm Phật Đường ở Lô Sơn,
một trăm hai mươi ba người lấy Hổ Khê làm giới hạn, chẳng
ra ngoài giới tuyến ấy, thân tâm thanh tịnh, nên ai nấy đều
có thành tựu. Hoàn cảnh hiện thời khó khăn lắm, dẫu quý
vị ở trong núi thẳm, nhưng hiện tại giao thông thuận tiện,
khách đến thăm vẫn rất nhiều. Khách đến thăm, quý vị
không thể không tiếp đãi. Tiếp đãi, xã giao quá nhiều,
thị phi xảy ra, cái hay của họ Trương, cái dở của họ
Lý không thể không nghe, không thể không bị nhiễm ô. Nếu
chính mình chẳng cam tâm tịch mịch, lại sắm một cái truyền
hình vệ tinh thì phiền phức càng lớn hơn nữa, dẫu ở trong
núi thẳm vẫn không thoát ly xã hội bên ngoài.
Vì
thế, tu hành trong hiện tại, luận về hoàn cảnh thật rất
kém xưa kia, nhưng hiện thời cơ hội nghe kinh, cơ hội đồng
tham đạo hữu cùng tu học so với xưa kia thuận tiện hơn
trước. Đó là do giao thông, thông tin thuận tiện, nhanh chóng,
khoa học kỹ thuật tiến bộ. Như vậy, xưa kia và hiện nay
đều có những điểm thuận lợi lẫn tệ hại. Làm thế nào
để giữ điều lợi, bỏ điều tệ? Đó là trí huệ, là
phương tiện thiện xảo. Ngày nay chúng tôi chọn ở nơi này
là một thành phố nhỏ của Úc Châu, cư dân chỉ có tám vạn
người, từ Bố Lý Tư Bản (Brisbane) lái xe đến đây chỉ
mất hai tiếng đồng hồ. Bản thân tôi vẫn ở chốn làng
quê, những mong xa lìa phiền phức, mong mỏi thân tâm thanh
tịnh, có nhiều thời gian đọc kinh, niệm Phật. Mỗi ngày
chúng tôi ở tại phòng phát hình bốn tiếng đồng hồ để
báo ân: Trên báo ân chư Phật, ân tổ sư đại đức, ân hộ
pháp, dưới báo ân hết thảy chúng sanh. Sanh hoạt càng đơn
thuần càng tốt.
Tại
nơi đây, những bậc hiền giả, hiển đạt trong xã hội,
những lãnh tụ tôn giáo đều hết sức quan tâm đến những
tai nạn trên thế giới, cầu nguyện thế giới hòa bình, các
sắc dân khác nhau, các nền văn hóa khác nhau đều đối xử
hòa mục với nhau. Mọi người luôn mở rộng tâm lượng,
bao dung, tôn trọng lẫn nhau, đối xử bình đẳng, đối xử
hòa mục. Đây là một chuyện tốt, đúng là đường lối
để tiêu tai tránh nạn. Bọn họ đến tìm tôi, mời tôi tham
dự. Chuyện này là chuyện nghĩa chẳng thể chối từ, tôi
phải tận sức giúp đỡ họ thành tựu thiện nguyện. Thế
nhưng đối với việc thanh tu của chính mình vẫn là bị phiền
nhiễu, tốt đẹp đôi bề chẳng dễ! Đến Tây Phương Cực
Lạc thế giới là tốt nhất, vì sao? Có khả năng phân thân,
đó mới thật sự là đúng. Đừng nói tốt đẹp đôi bề,
mà vạn bề đều tốt đẹp. Bất cứ chuyện gì cũng có thể
tham dự, phân thân là xong! Một thân có thể biến thành vô
lượng thân đến tham dự những chuyện tốt đẹp của hết
thảy chúng sanh, bản thân mình vẫn trụ trong Cực Lạc thế
giới y như cũ, ở trước mặt Phật A Di Đà, không hề tách
rời. Tự hành hóa tha thảy đều thực hiện viên mãn, đó
không phải là chuyện lý tưởng mà là sự thật. Nếu quý
vị biết sự thật ấy thì quý vị mới thật sự phát nguyện,
gấp rút cầu sanh Tịnh Độ hòng mãn cái nguyện chân thật
của chính mình.
“Ma
Ha Tát” là đại Bồ Tát, đã chứng địa vị Bồ Tát. “Bồ
Tát” là Tam Hiền Bồ Tát. Mười địa vị thuộc Thập Tín
đều gộp trong Tam Hiền, ngay cả địa vị tương tự như
chúng ta (vẫn chưa thể tính là địa vị Sơ Tín, mới là
Tương Tự thôi) đều được tính gộp vào đây. Đó là cảnh
giới chẳng thể nghĩ bàn của Cực Lạc thế giới.
8.
Khai Thị
Tiếp
theo, trước phần khai thị của đại sư, chúng ta thấy có
một bài kệ như sau:
Thế
giới hà duyên xưng Cực Lạc?
Chỉ
nhân chúng khổ bất năng xâm,
Đạo
nhân nhược yếu tầm quy lộ,
Đản
hướng trần trung tự liễu tâm!
(Tạm
dịch:
Thế
giới duyên gì tên Cực Lạc?
Chỉ
vì các khổ chẳng hề xâm,
Nẻo
về nếu muốn tìm cho được,
Hãy
đối trần lao tự hiểu tâm)
Chúng
ta biết Trung Phong thiền sư là Pháp Thân Bồ Tát chứ không
phải là kẻ tầm thường, cũng có thể nói Ngài quả thực
là bậc minh tâm kiến tánh. Hễ minh tâm kiến tánh thì mức
độ thấp nhất là bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo, đó là mức
độ thấp nhất. Ngài là đồng sanh tánh với chư Phật Như
Lai, chứ không phải là dị sanh tánh. Cũng có thể nói là
trong sanh hoạt thường nhật, Ngài dùng bốn trí Bồ Đề,
chứ không dùng tám Thức, năm mươi mốt Tâm Sở. Chúng ta
dùng tám Thức, năm mươi mốt Tâm Sở, còn Ngài dùng bốn
trí Bồ Đề. Do đâu biết được điều ấy? Từ lời khai
thị này mà biết, nếu không kiến tánh Ngài chẳng thể nói
được những câu như vậy.
Hai
câu đầu dễ hiểu, không khó lắm. Vì sao? Đọc kinh Di Đà
nhuần nhuyễn rồi, hiểu ngay. Thế giới kia vì sao gọi là
thế giới Cực Lạc? Trong kinh Di Đà, chẳng phải Thích Ca
Mâu Ni Phật đã bảo rất rõ ràng cùng tôn giả Xá Lợi Phất
đó ư? “Cõi ấy vì sao tên là Cực Lạc? Chúng sanh cõi ấy
không có các sự khổ, chỉ hưởng các điều vui, nên tên
là Cực Lạc”. Chẳng phải là giải đáp rất rõ ràng hay
sao? Vì thế, hai câu kệ đầu không có vấn đề gì, chúng
ta cũng nói được như vậy. Nhưng hai câu kệ sau chúng ta không
thể nói được, nhất là câu cuối cùng. “Đạo nhân nhược
yếu tầm quy lộ” (đạo nhân nếu muốn tìm đường trở
về), “đạo nhân” là người tu hành, “quy lộ” là đường
nào? Là con đường thành Phật. Con đường này không dễ,
tìm ở đâu đây? Nay chúng ta nói chúng ta đã tìm ra, chúng
ta tín nguyện trì danh, cầu sanh Tịnh Độ, chính là con đường
thành Phật, không sai, mọi người chúng ta đều có thể nói
như thế; nhưng Trung Phong thiền sư không nói như vậy, Ngài
bảo: “Đản hướng trần trung liễu tự tâm” (Chỉ hướng
vào trong trần lao mà liễu ngộ tự tâm), người bình phàm
chẳng thể nói như vậy được. Nếu là chúng ta ắt sẽ nói:
“Đạo nhân nhược yếu tầm quy lộ, tín nguyện trì danh
cầu vãng sanh”, nhất định sẽ nói như vậy, chúng ta chẳng
thể nói “đản hướng trần trung liễu tự tâm”. Người
kiến tánh rốt ráo minh tâm kiến tánh, khác với phàm phu thuộc
chín
pháp giới. “Trần” là trần lao, nay chúng ta gọi là hoàn
cảnh sanh hoạt hiện thực, “liễu” là minh liễu (hiểu
thấu suốt), “tự tâm” là tâm tánh của chính mình. Như
vậy một câu này thiền vị rất sâu. Nói cách khác, “liễu
tự tâm” là minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật. Vị
Phật này là “Phần Chứng Phật”, không phải là địa vị
tương tự. Bốn thánh pháp giới là địa vị tương tự, Thiên
Thai đại sư gọi đó là “Tương Tự Tức Phật”, còn minh
tâm kiến tánh là thật, là “Phần Chứng Tức Phật”. Trong
lục đạo luân hồi mà tu hành giỏi, chưa đoạn được Kiến
phiền não, thì gọi là “Quán Hạnh Tức Phật”, chưa đoạn
phiền não. Đoạn được phiền não, đoạn được Kiến Phiền
Não thì gọi là Tương Tự Tức Phật. Đó là Tương Tự Tức
Phật của Tứ Thánh Pháp Giới; còn Nhất Chân pháp giới là
Phần Chứng Tức Phật. Minh tâm kiến tánh đạt đến Nhất
Chân pháp giới, chẳng những vượt thoát lục đạo, mà còn
vượt khỏi mười pháp giới. Thiền sư biết rằng: Nhất
định phải cầu minh tâm kiến tánh trong sanh hoạt thường
nhật, nếu nói theo cách thuyết pháp của Bát Nhã thì là “hiểu
thấu Thật Tướng của các pháp”. Hiểu thấu Thật Tướng
của các pháp là minh tâm kiến tánh. Đối với chân tướng
của nhân sanh vũ trụ mà quý vị thông đạt, hiểu thấu,
không còn nghi hoặc thì quý vị đã đạt đến Nhất Chân
pháp giới; đó là “quy lộ” (đường về).
Như
vậy, học Phật theo Đại Thừa Phật pháp, bất luận tông
phái nào, bất luận pháp môn nào, mặc kệ phương pháp sai
biệt, mặc kệ kinh giáo y cứ khác nhau, phương hướng, đường
lối, mục tiêu vẫn hoàn toàn tương đồng, là gì vậy? Là
minh tâm kiến tánh. Thiền cũng thế, Giáo cũng thế, Mật cũng
thế, Tịnh cũng thế! Tịnh Độ chúng ta cũng là minh tâm kiến
tánh. Lý nhất tâm bất loạn chính là minh tâm kiến tánh,
Giáo Hạ gọi là đại khai viên giải. Như vậy, với bài kệ
mở đầu này, quý vị thấy Ngài đã giãi bày hết cả ra,
không giấu diếm mảy may, đem kinh nghiệm tu hành chứng quả
của chính mình phô bày trọn vẹn. Hai câu kệ đầu khuyên
chúng ta tu Tịnh Độ, thế giới ấy không có các sự khổ,
không có các sự khổ chính là cực lạc (rất vui). Trong kinh
Thập Thiện Nghiệp Đạo, Phật dạy chúng ta: “Bồ Tát có
một pháp có thể lìa được hết thảy khổ thế gian”. Pháp
ấy là “thường niệm thiện pháp, tư duy thiện pháp, quán
sát thiện pháp”. Trong hoàn cảnh hiện tại của chúng ta,
muốn thật sự đạt được tâm lành, tư tưởng lành, quán
hạnh lành chẳng phải là chuyện dễ, khó lắm! Thế nhưng
nếu quý vị thật sự phát tâm tín nguyện trì danh, cầu sanh
Tịnh Độ, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, vĩnh viễn
thoát khỏi hết thảy các khổ, so với tu mười thiện đạo
dễ hơn nhiều. Tu viên mãn mười thiện nghiệp đạo bèn thành
Phật, trong những buổi giảng chúng tôi đã nhiều lần giảng
cặn kẽ. Lại xem đoạn văn kế tiếp đó:
Tâm
tâm tức Phật.
Câu
này là thuyết pháp, hai câu sau tỷ dụ:
Đề
hồ, tô, lạc, hàm tự nhũ sanh.
(Đề
hồ, tô, lạc đều sanh từ sữa)
Đề
hồ, tô, lạc đều là những chế phẩm từ sữa. Nay chúng
ta nói những chế phẩm của sữa đều tinh luyện từ sữa,
càng luyện càng thù thắng. Như vậy, từ sữa luyện thành
Lạc, từ Lạc luyện thành Tô, Tô lại luyện kỹ hơn thành
Đề Hồ. Đề Hồ là chế phẩm tinh hoa của sữa, vị nó
ngon lành nhất. Nhà Phật thường dùng Đề Hồ để tỷ dụ
Phật, Bồ Tát, hoặc tỷ dụ cảnh giới thù thắng nhất.
Đề Hồ thật sự ra chính là gì vậy? Hiện tại có hay không?
Có chứ! Rất bình thường, nó là thực phẩm ngon nhất trong
cuộc sống thường ngày. Lúc chúng tôi mới học Phật, Đạo
Nguyên lão hòa thượng có lần theo đoàn sang Ấn Độ triều
thánh, qua Ấn Độ ngắm cảnh, du lịch, thăm viếng. Do Ngài
là pháp sư giảng kinh, kinh thường nhắc đến Đề Hồ, nhắc
đến Am Ma La quả, Ngài đều không thể giảng rõ Đề Hồ
là gì? Quả Am Ma La là quả gì? Đến Ấn Độ, Ngài đặc
biệt tìm người Ấn Độ hỏi: “Hãy đem Đề Hồ cho tôi
coi, đem trái Am Ma La cho tôi xem”. Người ta đem trái Am Ma
La đến, hóa ra là trái Ba Lạc (trái xoài). Ngài vừa thấy
bèn cười, Đài Loan cũng có, rất nhiều nữa cơ! Đề Hồ
là gì? Họ đem lại, nó vốn cũng rất bình thường, đều
là thứ mình thường ăn. Hiện tại gọi là phó-mát (fromage,
cheese), người ngoại quốc gọi là “phó-mát”, kinh Phật
gọi là Đề Hồ. Đến lúc đó, Ngài mới hiểu rõ, sau này
giảng kinh thường kể cho chúng tôi nghe. Trước kia vì sao
không có cách nào phiên dịch được? Vì Trung Quốc không có,
Trung Quốc không có loại thực phẩm ấy. Do đây biết rằng,
ba ngàn năm trước Ấn Độ đã chế luyện được một loại
thức ăn ngon như thế.
“Tâm
tâm tức Phật”, vì sao Ngài dùng đến hai chữ Tâm? Một
chữ Tâm không được hay sao mà phải dùng đến hai chữ Tâm?
Dùng hai chữ nhất định phải có ý nghĩa, nhưng ý nghĩa gì?
Chúng tôi hiểu là chân tâm và vọng tâm. Quả thật chân tâm
là Phật mà vọng tâm cũng là Phật. Có như vậy Phật mới
nói hết thảy chúng sanh đều là vị lai Phật. Hết thảy
chúng sanh hiện đang dùng vọng tâm, vọng tâm do đâu mà có?
Vọng tâm vẫn là chân tâm bị mê, chân tâm khi bị mê thì
gọi là vọng tâm. Như vậy, cái Thể của vọng tâm là chân
tâm. Lìa khỏi chân thì vọng do đâu mà có? Chân và vọng
không hai, chân - vọng là một. Do vậy, tỷ dụ ở đây rất
hay, dùng Đề Hồ tỷ dụ chân tâm; lấy Tô và Lạc ví cho
vọng tâm. Tất cả những thứ này đều do sữa chế luyện
thành, không thứ gì rời khỏi sữa, đều là chế phẩm của
sữa. Chân - vọng bất nhị. Nếu từ chỗ này, quý vị thật
sự giác ngộ toàn thể vũ trụ là một không hai thì quý vị
thật sự khai ngộ. Chân - vọng bất nhị, mê - ngộ bất nhị,
thánh - phàm bất nhị, sanh - tử bất nhị, phiền não - Bồ
Đề bất nhị, đó là nhất tâm! Nhất tâm bất loạn. Là
cảnh giới nào? Là cảnh giới Nhất Chân pháp giới. Ở đâu?
Ngay trong hiện hữu. Nếu quý vị không nhập Bất Nhị, sẽ
không thấy được. Nói cách khác, quý vị không đắc nhất
tâm sẽ không thấy Nhất Chân, vẫn thuộc trong vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước. Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước
là mê không giác. Lời khai thị của đại sư mở cửa thấy
núi, ngay câu đầu tiên đã hiển thị chân tướng vũ trụ
nhân sanh cho chúng ta thấy. Vấn đề là quý vị có hiểu hay
không, hiểu được hay không vậy? Câu thứ hai mang ý nghĩa
trùng phức:
Phật Phật duy tâm.
Ở trên là “tâm tâm tức Phật”, còn ở đây là “Phật
Phật duy tâm”, nói đến hai chữ Phật. Hai chữ Phật cũng
có ý nghĩa, có thể hiểu là hết thảy chư Phật, hoặc kim
Phật (Phật hiện tại), cổ Phật (Phật quá khứ). Hai chữ
“Phật Phật” đại biểu mười phương ba đời hết thảy
chư Phật. Phật là gì? Phật chính là tâm, tâm chính là Phật.
Tâm này là chân tâm, ai chẳng có chân tâm? Ai nấy đều có
chân tâm, chân tâm ở đâu? Chân tâm ở ngay trước mặt, từ
trước đến nay chưa hề rời khỏi chân tâm. Không riêng gì
quý vị có chân tâm mà hết thảy hữu tình chúng sanh, nay
chúng ta gọi là động vật, tất cả động vật đều có
chân tâm. Không riêng gì động vật có chân tâm, mà thực
vật, khoáng vật, thậm chí hư không [đều có chân tâm]. Vì
sao? Chân tâm là bản thể của hết thảy các pháp, thể là
chân tâm.
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Pháp Tánh trọn khắp hết thảy nơi”;
hết thảy nơi bao gồm cả hư không. Rời khỏi Pháp Tánh thì
hư không từ đâu có? Hư không do Pháp Tánh biến hiện ra,
hư không thuộc về Tướng Phần. Các nhà khoa học cận đại
đã dần dần hiểu rõ chân tướng sự thật, họ nói không
gian và thời gian không thật, dưới một điều kiện nào đó,
không gian và thời gian bằng không, không còn nữa! Không có
thời gian, không có không gian, không gian cũng là từ “vô
trung sanh hữu” biến hiện ra. Đấy chẳng phải là những
nghĩa lý kinh Hoa Nghiêm đã giảng hay sao? “Pháp Tánh trọn
khắp hết thảy nơi, hết thảy chúng sanh và cõi nước, ba
đời đều không còn sót”, hết thảy chúng sanh và cõi nước
là không gian, ba đời là thời gian, “cũng vô hình tướng
nhưng có thể đạt được”. Đấy chính là như kinh Bát Nhã
đã giảng: Hết thảy các pháp (kể cả hư không), chân tướng
của chúng là gì? Chân tướng là vô sở hữu, là rốt ráo
không, là bất khả đắc. Nói ra chân tướng sự thật như
vậy. “Phật Phật duy tâm” là câu thuyết pháp, hai câu tiếp
đó là tỷ dụ:
Thoa, xuyến, bình, bàn, tận tùng kim xuất.
(Thoa, xuyến, bình, mâm đều chế từ vàng)
Dùng Vàng để ví cho tự tánh, lấy những món bằng vàng:
Thoa làm bằng vàng, Xuyến (vòng đeo tay) cũng làm bằng vàng,
bình và mâm là những vật dụng trong cuộc sống thường ngày,
đều do hoàng kim chế ra. Dù các đồ vật khác nhau, cách sử
dụng cũng sai khác, nhưng thể tánh của chúng là một không
hai. Kim Phật, cổ Phật chẳng rời tự tánh. Hai câu này giảng
về quan hệ, tánh chất của Tánh và Tướng rất rõ ràng,
minh bạch. Nếu như thông đạt hai câu này thì chính là Pháp
Thân Bồ Tát, quý vị sống trong thế gian này, tư tưởng,
kiến giải, ngôn hạnh, sanh hoạt, xử sự, đãi người, tiếp
vật chắc chắn khác với mọi phàm nhân, vì sao? Quý vị đã
sống như Phật, Bồ Tát, đã hành Bồ Tát đạo, quả thật
đã nêu tấm gương tốt nhất cho hết thảy chúng sanh: Cuộc
sống của bậc giác ngộ, hành vi của bậc giác ngộ. Đây
là đoạn thứ nhất của lời khai thị, nêu lên tổng nguyên
tắc, tổng cương lãnh. Hãy xem tiếp đoạn dưới, Ngài dạy
chúng ta như thế nào:
Thập vạn ức trình, Đông Tây bất cách
(Đường xa mười ức cõi Phật, Đông Tây há đâu xa cách)
“Thập vạn ức trình” do chính kinh Di Đà nói ra. Ở phương
Tây của thế giới Sa Bà, qua khỏi mười vạn ức cõi Phật
có một thế giới là thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà.
“Thập vạn ức trình” là nói về khoảng cách, tức mười
vạn ức cõi Phật. Mỗi một cõi Phật là một tam thiên đại
thiên thế giới. Quý vị nghĩ xem cái khoảng cách mười vạn
ức tam thiên đại thiên thế giới to lớn lắm! Một câu “Đông
Tây bất cách” đã nói lên điều gì? Không có khoảng cách
về mặt không gian, xa - gần bất nhị, trong khoảng khảy ngón
tay, trong một sát-na bèn đến được.
Nhị lục thời nội,
(Trong mười hai thời)
Đây là nói về thời gian. Nói “mười hai thời” là theo
cách nói của người Tàu, người Ấn Độ chỉ nói “đêm
ngày sáu thời”, người Tàu nói mười hai thời. “Nhị lục”
tức là mười hai thời thần, thời xưa người Tàu tính giờ
giấc bằng Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân,
Dậu, Tuất, Hợi. Đó là mười hai thời thần. Dùng cách tính
thời gian này cho mãi đến cuối đời Thanh, lúc Dân Quốc
thành lập mới không sử dụng nữa, dùng cách tính hai mươi
bốn giờ của Tây phương, cho nên gọi là “tiểu thời”.
Vì sao gọi là “tiểu thời”? Vì nhỏ hơn cách tính giờ
của người Tàu. Một giờ Tàu bằng hai giờ hiện thời, cho
nên gọi là “nhị tiểu thời”. Nguồn gốc chữ “tiểu
thời” là như vậy. Giờ Ấn Độ so với giờ Tàu còn lớn
hơn nữa, một giờ Ấn Độ bằng hai giờ Tàu, nói theo giờ
giấc hiện thời là bốn tiếng đồng hồ. Vì thế, trong kinh
thường nói “nhị thời giảng kinh” thì có nghĩa là bằng
với tám tiếng đồng hồ hiện thời.
Qua kinh điển chúng ta biết tăng đoàn lúc Thích Ca Mâu Ni Phật
còn tại thế mỗi ngày học tập tám tiếng đồng hồ. Hết
sức quan trọng, thị hiện cho chúng ta thấy. Vì sao ngày nay
chúng ta công phu không đắc lực? Không đắc lực cũng không
bận lòng, cứ ngày ngày khởi vọng tưởng, niệm niệm đều
tạo nghiệp, thật là đáng sợ! Làm thế nào để xa lìa vọng
tưởng, không còn tạo nghiệp nữa? Phật thị hiện cho chúng
ta thấy chỉ có một phương pháp, lên lớp. Giảng kinh, nghe
kinh, lên lớp mỗi ngày tám tiếng đồng hồ, ngày ngày không
gián đoạn. Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện như vậy suốt
bốn mươi chín năm, mỗi ngày lên lớp tám tiếng. Như vậy
mới lìa vọng tưởng. Xa lìa vọng tưởng thì thân khẩu chẳng
tạo nghiệp, có thể khôi phục chánh thường. Hành vi sanh
hoạt chánh thường thì là Phật, Bồ Tát, đó gọi là học
Phật chân chánh, thật sự được thọ dụng nơi Phật pháp,
chúng ta phải hiểu rõ!
Như vậy, không đọc kinh, không nghe kinh há có được chăng?
Phật giáo ngày nay suy đồi là vì tứ chúng tại gia, xuất
gia không nghe kinh, không chịu học tập. Hễ không nghe kinh,
không học tập, nhất định quý vị sẽ tùy thuận phiền
não tập khí của chính mình. Tùy thuận tập khí phiền não
của chính mình thì sanh hoạt cũng vậy, làm việc cũng vậy,
đãi người tiếp vật cũng vậy không gì là không tạo nghiệp.
Đúng là như kinh Địa Tạng đã dạy: “Chúng sanh trong Diêm
Phù Đề khởi tâm động niệm không gì chẳng phải là nghiệp”.
Đáng sợ quá! Nghĩ mình tạo nghiệp nhất định có quả báo,
chẳng thể nói tạo nghiệp rồi thôi. Ở những phần trên,
chúng tôi đã giảng rất rõ ràng, Hoặc - Nghiệp - Khổ, trong
ba chướng Phiền Não Chướng, Nghiệp Chướng, Báo Chướng,
Báo là tam đồ khổ báo, quý vị có biết hay chăng? Thưa cùng
quý vị, quý vị nghe vậy dường như cảm động, thế nhưng
thời gian cảm động ngắn ngủi lắm. Độ mấy giây thôi,
lại y chang như cũ, phiền não tập khí lại hiện hành. Vì
nguyên nhân gì vậy? Là vì sức lực của phiền não tập khí
quá lớn mạnh, năng lực tu học Phật pháp của chúng ta quá
mỏng yếu, chống cự không nổi. Chống cự không nổi thì
làm cách nào? Phật dạy chúng ta: Thâm nhập một môn, trường
thời huân tu. Nếu quý vị làm được, hiểu được câu ấy
thì khống chế phiền não tập khí có mất nhiều thời gian
hay chăng? Thường là từ ba năm đến năm năm, tiêu chuẩn
thời cổ là từ ba năm đến năm năm. Hiện tại, ba năm, năm
năm không đủ, vì sao? Phiền não tập khí bên trong quá nặng,
sức dẫn dụ bên ngoài quá mạnh. Vì thế, hiện tại chúng
ta sống trong thế giới này, ngày ngày đọc kinh, ngày ngày
nghe kinh, ngày ngày giảng kinh, từ ba mươi năm đến năm mươi
năm, đó là kinh nghiệm của tôi. Tôi học Phật đến nay là
năm mươi hai năm rồi, tôi mới có thể khống chế được,
tôi mới chẳng bị xã hội dụ hoặc. Ngày ngày phải hành,
không hành không được!
Nói cách khác, trong thời đại này, không những là thiện
căn, phước đức, nhân duyên trong đời quá khứ phải sâu
dầy, nếu quý vị muốn thành tựu thì điều kiện đầu tiên
là thọ mạng! Quý vị không có thọ mạng dài lâu như thế,
công phu tu hành còn chưa đủ, thọ mạng đã hết rồi! Thọ
mạng hết bèn luân hồi, hễ luân hồi thì lúc cách ấm bèn
mê. Dẫu tu hành không sai lầm, đời sau lại được thân người
thì những gì đã tu đời trước đã quên sạch sành sanh,
phải làm lại hết thảy từ đầu, rất đáng sợ! Bắt đầu
lại từ đầu, chẳng đảm bảo không bị dụ hoặc. Nhưng
trong xã hội này, từ lịch sử chúng ta thấy diễn biến nhiễm
ô ngày càng nghiêm trọng, thói đời ngày càng tệ, đời sau
kém hẳn đời trước. Do vậy, biện pháp đáng tin cậy nhất
là trong một đời này quyết định sanh về Tịnh Độ, quyết
định chẳng luân hồi nữa. Hai câu nói trên của đại sư
dạy chúng ta việc ấy. Nay đã hết giờ rồi!
*
Chư
vị đồng học!
Xin xem đoạn văn tiếp theo:
Thập vạn ức trình, Đông Tây bất cách, nhị lục thời nội,
phàm thánh đồng đồ.
(Đường xa mười vạn ức, Đông Tây nào có cách ngăn. Trong
mười hai thời, phàm thánh cùng là một đường)
“Thập vạn ức trình” là xa - gần bất nhị. “Nhị lục
thời nội” là nói về thời gian, quá khứ - vị lai bất
nhị. “Phàm Thánh đồng đồ” thuyết minh cảnh giới Nhất
Chân, nhất tâm có thể chứng, có thể hiện, có thể biến,
có thể chứng. Nói chung, chẳng lìa nhất tâm bất loạn. Nhất
tâm rất quan trọng. Đoạn văn tiếp theo là:
Đê đầu hiệp chưởng bạch ngọc hào, tinh minh nhật lệ.
(Cúi đầu chắp tay trước tướng bạch ngọc hào, sao sáng
ngời, mặt trời rạng rỡ)
Câu này thể hiện sự lễ kính. Nguyện thứ nhất trong mười
đại nguyện vương Phổ Hiền là “lễ kính chư Phật”.
Nguyện thứ hai là “xưng tán Như Lai”. Trong câu “Đê đầu
hiệp chưởng bạch ngọc hào” thì Bạch Ngọc Hào là một
trong ba mươi hai tướng của Như Lai, tức là tướng bạch
hào giữa hai chân mày. Chữ “bạch ngọc hào” chỉ cho tướng
ấy. Chúng ta đọc kinh điển thấy kinh nói đến, thấy kinh
ghi chép tướng ấy rất nhiều, tướng bạch hào của Phật
phóng quang, trong quang minh hóa Phật phổ độ chúng sanh, nhằm
biểu thị lễ kính, dạy chúng ta phải thường giữ lòng lễ
kính: Đối với hết thảy chúng sanh, hết thảy người, hết
thảy sự, hết thảy vật phải thường biết lễ kính. Trong
“lễ kính chư Phật” thì chư Phật bao gồm cả hữu tình
lẫn vô tình như kinh Hoa Nghiêm đã nói. Vì sao? Vô tình có
Pháp Tánh, hữu tình có Phật tánh. Phần trên đã nói “tâm
tâm tức Phật” và “Phật Phật duy tâm”. “Phật Phật”
bao gồm ba đời hết thảy chư Phật, bao gồm hữu tình lẫn
vô tình. Như vậy chẳng thể rời bỏ cái tâm lễ kính dẫu
chỉ khoảnh khắc.
“Tinh minh nhật lệ” là thiền cơ, phải hiểu như thế nào?
Lìa vọng tưởng, phân biệt, chấp trước! Nói “tinh minh
nhật lệ” để sánh ví với nhất tâm. Có nhất tâm thì
mới thật sự chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác
lễ kính, trong ấy quyết định chẳng vọng tưởng, chấp
trước mảy may, không khởi tâm động niệm, không vọng tưởng,
chấp trước. Câu tiếp theo là tán thán:
Ca vịnh tán dương tử kim dung.
(Ca ngâm khen ngợi dung nhan vàng ròng)
Từ kinh Vô Lượng Thọ, chúng ta đọc thấy thân tướng Phật
là “tử ma chân kim sắc” (màu vàng ròng rực tía được
giồi mài sáng bóng). Trong phần lễ kính ở trên chỉ nhắc
đến tướng bạch hào phóng quang trong ba mươi hai tướng,
còn ở đây xưng tán toàn thân Phật. “Ca vịnh tán thán”:
Ở đây chúng ta dùng phạm bái kệ tán [để tán tụng].
Đình chấn lôi oanh.
(Sét động sấm rền)
Tán thán ắt có âm thanh, lễ kính không có âm thanh. Tán thán
có âm thanh thì âm thanh ấy như chúng ta thường nói là “rền
vang thấu trời thẳm”. Dùng chữ “đình chấn lôi oanh”
để hình dung. “Đình chấn” là sấm nổ thình lình, ngạn
ngữ có câu: “Tấn lôi bất cập yểm nhĩ” (sét nổ chẳng
kịp bưng tai). Vì sao? Vì khoảng cách quá gần. Vừa thấy
chớp lòa thì ngay lập tức đã có âm thanh, khoảng cách quá
gần, âm thanh vô cùng vang động nổ ra không kịp bịt tai.
Bốn chữ “đình chấn lôi oanh” dùng để hình dung điều
này. Chúng ta thường nói âm thanh tán thán ca vịnh vang rền
thấu trời thẳm cũng nhằm ngụ ý gần giống như vậy. Tán
Phật mà! Quý vị phải biết: Tán Phật là khen ngợi tánh
đức. Do vì hết thảy chẳng rời tự tánh, tự tánh Như Như
Phật. Tán A Di Đà Phật là tán thán tự tánh Di Đà. Các vị
đồng học tu học Phật, vì sao đã lâu mà quý vị chẳng
nhập cảnh giới, chẳng được hưởng lợi ích chân thật
từ Phật pháp? Chớ nói chi nhiều, lợi ích tí tẹo quý vị
cũng không đạt được, nguyên nhân là đâu? Nguyên nhân là
do không buông vọng tưởng, phân biệt, chấp trước xuống
được! Phân chia mình - người! Nói cách khác, quý vị thường
rớt vào hai ba, không quy nhất. Lúc nào quý vị quy nhất được
thì sẽ hưởng lợi ích chân thật nơi Phật pháp. Quy nhất?
Nhất là gì? Nhất tâm bất loạn đấy! Bất luận tu pháp
môn nào, chúng tôi thường nói: Thủ đoạn không giống nhau,
phương pháp khác nhau, nhưng tu cái gì? Đều là tu nhất tâm.
Trong Thiền tông gọi nhất tâm là minh tâm kiến tánh, trong
Giáo Hạ gọi là đại khai viên giải, trong Tịnh Độ Tông
của chúng ta gọi là nhất tâm bất loạn. Như vậy mới thật
sự thọ dụng được. Nhà Thiền nói đại triệt đại ngộ,
minh tâm kiến tánh rồi mới thọ dụng. Lúc chưa ngộ, quý
vị là phàm phu, không sống trong cảnh giới Phật, ngộ rồi
bèn khác hẳn. Quý vị phải biết chúng ta niệm Phật quyết
định phải nhắm đến gì? Quyết định phải nhất tâm bất
loạn.
Muốn đạt được nhất tâm bất loạn mà không thể buông
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước xuống thì nhất tâm
bất loạn sẽ vĩnh viễn bị chướng ngại. Nói cách khác,
nhất tâm bất loạn là điều mà tự tánh vốn sẵn có, tự
tánh vốn sẵn nhất tâm bất loạn. Quý vị mê mất nhất
tâm, mê mất tự tánh, nên sáu căn mới khởi vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước đối với cảnh duyên sáu trần, quên
mất nhất tâm bất loạn sẵn có, mê mất. Đấy là chân tướng
sự thật. Đại sư đau lòng rát miệng chỉ dạy chúng ta,
không gì khác cả, Ngài bảo chúng ta quay đầu, bảo chúng
ta buông phân biệt, chấp trước xuống, quay về nhất tâm.
Lại xem đoạn văn tiếp theo:
Thanh lương nguyệt hề hữu thủy giai hàm.
(Mặt trăng trong mát, hễ chỗ nào có nước đều hiện bóng)
“Thanh lương nguyệt” tỷ dụ Phật tánh. Người đời thường
nói “thiên giang hữu thủy thiên giang nguyệt” (nước ngàn
con sông hiện bóng ngàn mặt trăng). Ở đây đại sư dùng
mặt trăng trong mát để ví Phật tánh, dùng bóng trăng hiện
trong nước để ví cái được hiện, cái được biến. Các
pháp được sanh ra chỉ là do tâm hiện. Cái có thể hiện
(năng hiện) là vầng trăng trên không, vầng trăng ấy là thật,
vì thật nên được ví với Phật tánh. Bóng trăng trong nước
là cái được hiện, cái được biến, ví như pháp tướng.
Trong pháp tướng có tánh, chẳng rời khỏi chân tánh, không
có chân tánh thì há có thể có pháp tướng được ư? Căn
nguyên của pháp tướng là tự tánh, câu này khiến chúng ta
liễu giải chân tướng sự thật.
Công đức vân nhi vô sơn bất đới.
(Mây công đức không núi nào chẳng phủ)
Công đức là điều tự tánh vốn sẵn đủ, chẳng đến từ
bên ngoài. Điều này tỷ dụ Pháp Tánh. Phật tánh và Pháp
Tánh là một tánh. Núi cao có mây mù, mây mù từ hang núi bốc
lên, dần dần bay lên cao thì gọi là mây, lúc còn ở trên
mặt đất thì gọi là “vụ khí” (sương mù). Ở thành phố
nhỏ Đồ Văn Ba (Toowoomba) chúng ta thường thấy chuyện này.
Chúng ta lái xe trên đường thường thấy sương mù rất dày.
Lúc sương mù quá dày, chúng ta chỉ thấy được rất gần,
nên phải lái xe rất chậm. Có lúc chúng tôi thấy sương mù
phủ kín mặt đất, trông như nhà cửa, rừng cây đang ở
trong mây vậy. Cảnh tượng ấy những kẻ ở trong núi như
chúng tôi thường thấy.
Kinh Phật dùng “mây” để tỷ dụ rất nhiều thứ. Mây
biểu thị điều gì? Không phải có, không phải không. Nhìn
từ xa thấy mây có từng đám một, [dường như] là có; nhìn
gần bèn chẳng thấy gì. Điều này cho thấy tất cả hết
thảy vạn sự vạn vật trong vũ trụ như mộng, huyễn, bọt,
bóng. Mộng, huyễn, bọt, bóng giống như mây, chẳng thể nói
là không có, nhưng cũng chẳng thể nói là có. Tướng có,
thể không, sự có, lý không, đều thuyết minh chân tướng
của vạn vật trong vũ trụ; nhờ vậy quý vị mới thấy thấu
suốt thế gian. Chẳng những thấy thấu suốt thế gian mà
còn thấy thấu suốt xuất thế gian. Lại xem tiếp đoạn kế
tiếp của phần khai thị.
Hương tượng độ hà, nhất cử hồng danh siêu nhị tử.
(Hương tượng vượt sông, vừa niệm hồng danh bèn thoát khỏi
Phần Đoạn Sanh Tử và Biến Dịch Sanh Tử)
“Hương tượng” (2) tỷ dụ người tu hành. “Độ hà”
(vượt sông), sông tượng trưng cho bờ bên này và bờ bên
kia. Bờ bên này là thế giới Sa Bà, bờ kia là Cực Lạc thế
giới. Người niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới rất giống với Hương Tượng, thật khó có! Trong một
đời, người ấy quả thật giác ngộ triệt để, không có
năng lực đoạn phiền não nhưng người ấy biết cầu sanh
Tịnh Độ, biết thân cận Di Đà, biết phương pháp tu tín
nguyện trì danh
“Nhất cử hồng danh”, [nhờ ni