Chư
vị đồng học!
Xin xem tiếp đoạn Tây Phương trong phần Sáu Phương Chư Phật,
trước hết chúng tôi đọc kinh văn một lượt:
“Xá Lợi Phất! Tây phương thế giới hữu Vô Lượng Thọ
Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại
Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật.
Như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật các ư kỳ quốc,
xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại
thiên thế giới, thuyết thành thật ngôn: ‘Nhữ đẳng chúng
sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức
Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.
(Xá
Lợi Phất! Thế giới phương Tây có Vô Lượng Thọ Phật,
Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Ðại Quang
Phật, Ðại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật.
Hằng hà sa số chư Phật như thế đó, mỗi vị ở trong nước
mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại
thiên thế giới, nói lời thành thực: “Chúng sanh các ngươi
nên tin kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Ðức Nhất Thiết
Chư Phật Sở Hộ Niệm này”)
Trong đoạn này, đức Thế Tôn nêu bảy Phật hiệu trong các
thế giới ở phương Tây. Quý vị thấy trong hai phần trên
đều là năm vị Phật, ở chỗ này đột nhiên lại kể tên
bảy vị Phật. Trong pháp hội Di Đà, con số Bảy tượng trưng
cho viên mãn, như trong phần trước chúng ta đã thấy “bảy
tầng lưới mành, bảy tầng hàng cây, bảy tầng lan can”,
Bảy ở đây không phải là con số mà nhằm biểu thị pháp,
biểu thị sự viên mãn. Con số Bảy biểu thị viên mãn vì
bốn phương, trên, dưới, thêm chính giữa là viên mãn. Kinh
Hoa Nghiêm dùng con số Mười để biểu thị viên mãn, Mười
là con số, từ một đến mười, đó là con số viên mãn.
Từ mười đến một trăm, từ một trăm đến một ngàn đều
nhằm biểu thị sự viên mãn. Kinh Di Đà dùng số Bảy để
biểu thị viên mãn; chúng ta thấy trong kinh Vô Lượng Thọ
có bảy, có mười sáu, có hai mươi mốt, có hai trăm mười
ức đều nhằm biểu thị sự viên mãn, đều chẳng thể hiểu
chúng chỉ là những con số. Thế giới Cực Lạc ở phương
Tây, cho nên liệt kê danh hiệu bảy vị Phật ở phương Tây.
Vị Phật thứ nhất là Vô Lượng Thọ Phật. Vô Lượng Thọ
Phật có phải là giáo chủ của Tây Phương Cực Lạc thế
giới hay không? Cũng có thể nói như vậy! Thế nhưng như phần
trên đã nói, Tây Phương có Hằng hà sa số chư Phật, hết
thảy chư Phật đồng danh đồng hiệu rất nhiều. Dẫu đồng
danh đồng hiệu nhưng Vô Lượng Thọ Phật của Tây Phương
Cực Lạc thế giới được đặc biệt tôn kính, là vì sao?
Ở phần trên, tôi đã thưa cùng quý vị rồi, Cực Lạc thế
giới không phải là một thế giới bình thường, mà là thế
giới gì vậy? Giống như hết thảy chư Phật lập một ngôi
trường ở đó, trường học của Phật, Bồ Tát. Hết thảy
chư Phật giống như gia trưởng, hết thảy chúng sanh giống
như con cái; con cái muốn thành Phật, thành tựu trí huệ viên
mãn, đức năng viên mãn, tướng hảo viên mãn thì phải đến
đó học. Vì thế, lập ra một ngôi trường như vậy, A Di
Đà Phật làm hiệu trưởng trường ấy, Quán Âm, Thế Chí
giống như chủ nhiệm giáo vụ, chủ nhiệm huấn đạo. Vị
hiệu trưởng được hết thảy gia trưởng tôn kính. Chắc
từ tỷ dụ này quý vị hiểu rõ vì sao không một vị Phật
nào lại chẳng tôn kính, tán thán A Di Đà Phật, vì sao? Chư
Phật có tôn trọng thì đệ tử chư Phật mới tôn trọng;
gia trưởng có tôn trọng thì con cái mới tôn trọng. Vì thế,
chư Phật (gia trưởng) phải đứng ra nêu gương, dẫu Phật
Phật đạo đồng, Phật và Phật hoàn toàn bình đẳng, không
sai biệt, nhưng để hiển thị, để giáo hóa chúng sanh nên
hết thảy chư Phật đối với A Di Đà Phật đặc biệt tôn
kính. Đạo lý là như vậy! Do vậy, trong đoạn này liệt kê
bảy đức Phật để biểu thị sự viên mãn.
Vị Phật thứ nhất là Vô Lượng Thọ Phật, chúng ta thấy
Vô Lượng Thọ là thọ mạng vô lượng. Thọ là một loại
phước báo, người Tàu thường nói “ngũ phước lâm môn”,
phước bậc nhất trong năm phước là Thọ. Từ xưa, tổ sư
đại đức khi giới thiệu Tây Phương Tịnh Độ, nói đức
bậc nhất (đức lớn bậc nhất) của Tây Phương Tịnh Độ
là gì? Thọ mạng trường cửu! Có thọ mạng trường cửu
thì chúng ta tu hành chứng quả mới không khó; chẳng hạn
như nói theo kinh này, phàm phu từ Sơ Phát Tâm đến khi tu thành
Phật quả phải trải vô lượng kiếp; hàng Pháp Thân Bồ
Tát từ Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo tu cho đến viên mãn
Phật quả phải mất ba A Tăng Kỳ kiếp. Những con số ấy
đều là con số thiên văn, không cách gì tính toán được!
Đức Phật trong Tây Phương Cực Lạc thế giới vô lượng
lần vô lượng thọ, nên giảng như thế nào?
Nên biết “vô lượng” là một đơn vị số đếm của cổ
Ấn Độ; kể từ A Tăng Kỳ trở đi là mười con số lớn
cuối cùng. A Tăng Kỳ là con số lớn nhất đầu tiên [trong
mười số ấy]. Mười con số lớn này không tính theo lối
gấp mười mà tính theo lối nhân gấp bội. A Tăng Kỳ lần
A Tăng Kỳ là một Vô Lượng. Vô Lượng lần Vô Lượng là
một Vô Biên, tính theo cách như thế! Do vậy, Vô Lượng Thọ
vẫn còn là có hạn lượng, nhưng số lượng ấy không quan
trọng! Nếu cứ tính là một Vô Lượng thôi thì thọ mạng
của quý vị là A Tăng Kỳ lần A Tăng Kỳ, nhưng để thành
Phật phải mất bao nhiêu thời gian? Ba A Tăng Kỳ. Thọ mạng
của quý vị là A Tăng Kỳ lần A Tăng Kỳ, vậy thì ba A Tăng
Kỳ có thấm vào đâu! Giống như người sống được một
trăm tuổi, để thành tựu tu hành chứng quả, chứng đắc
vô thượng Bồ Đề phải cần bao nhiêu thời gian? Ba ngày
thôi! Thọ mạng một trăm năm, ba ngày thấm vào đâu! Chẳng
phải là quyết định thành Phật ư?
Thành Phật đúng là vô lượng không hạn lượng, thật sự
là vô lượng, chẳng phải là vô lượng có hạn lượng, mà
là vô lượng không hạn lượng. Do vậy, ta có thể nói phàm
ai vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới đều có thọ mạng
vô lượng không hạn lượng, chẳng phải là vô lượng có
hạn lượng. Vì sao? Do họ đều có thể trong một thời gian
chứng đắc vô thượng Bồ Đề, rốt ráo Phật quả, đó
là cái đức bậc nhất của Tây Phương Cực Lạc thế giới!
Những thế giới khác đều không có. Chỉ dựa vào một điều
này thôi, nếu chúng ta thật sự thấu hiểu rõ ràng thì không
thể không sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, quý vị
không muốn sanh về đó là lầm lạc quá đỗi rồi! Như vậy,
danh hiệu này hàm ý có phước báo, có phước, có thọ, phước
vô lượng, thọ vô lượng. Như tôi vừa mới nói đó, vô
lượng ở đây thật sự là vô lượng, chẳng phải là vô
lượng một cách có hạn lượng.
Vị Phật thứ hai là Vô Lượng Tướng Phật, Tướng là tướng
hảo, biểu thị phú quý. Người thế gian chúng ta thường
nói người nào đó có phước tướng, tướng giàu, tướng
cao quý. “Quý” là có địa vị cao cả trong xã hội như
quốc vương, đại thần có quý tướng. Giàu là của cải
dư dật. Vô Lượng Tướng Phật là vừa tôn quý lại vừa
giàu có, vô lượng vô biên phước đức và của cải.
Vị Phật thứ ba là Vô Lượng Tràng Phật. Tràng tiêu biểu
cho những gì cao cả, rõ ràng, cao hiển. Tràng có nghĩa là
được hết thảy đại chúng tôn kính, đức cao, chúng ta thường
nói là “đức cao vọng trọng”. Đức cao, trí cao, danh cao,
nay ta nói là mức độ nổi danh rộng khắp; không ai không
khen ngợi. Quý vị thấy đó, cả ba điều sau đây đức Phật
đều hội đủ: Thọ mạng, phú quý, cao hiển (tài nghệ cao),
không gì chẳng cao; những điều ấy đều nhằm biểu thị
quả báo. Quả báo do đâu có? Quả nhất định phải có nhân;
vì thế, ba đức Phật tiếp theo đại diện cho nhân hạnh.
Đại Quang Phật: Quang là quang minh trí huệ, Ngài đại diện
cho Trí; bởi lẽ phước thọ, phú quý, cao hiển đều do trí
huệ sanh.
Đại Minh Phật: Minh là chiếu sáng, tức là đại trí khởi
tác dụng. Tác dụng ấy gồm Tự Thọ Dụng và Tha Thọ Dụng.
Ở phần trên đã nói đến phước báo, phú quý, cao hiển;
cao hiển là Tự Thọ Dụng, đồng thời cũng là tác dụng
giáo hóa chúng sanh; không có đại trí, đại đức, đại năng
như thế, làm sao có thể giáo hóa chúng sanh? Chính mình phải
có những thành tựu thù thắng như thế thì mới có năng lực
giúp cho người khác thành tựu, trí huệ khởi tác dụng là
như vậy! Y báo, chánh báo trang nghiêm của Cực Lạc thế giới
đều là do trí huệ của Phật A Di Đà khởi tác dụng. Phàm
đại chúng từ mười phương thế giới vãng sanh Cực Lạc
thế giới đều là do tịnh nghiệp của họ khởi tác dụng,
do tịnh nghiệp của người vãng sanh đã tu tương ứng với
nguyện hạnh của Phật A Di Đà nên chiêu cảm được [như
vậy]. Trong phần khai thị của Hệ Niệm Pháp Sự này, Trung
Phong thiền sư đã giảng rất rõ ràng.
Bảo Tướng Phật biểu thị sự tôn thắng. Trong kinh Đại
Thừa, đức Thế Tôn thường nói: “Phật có vô lượng tướng,
mỗi tướng có vô lượng hảo”. Sanh về Tây Phương Cực
Lạc thế giới sẽ được cái thân Kim Cang Na La Diên, Kim Cang
Na La Diên là thân kim cang. Kim Cang lực sĩ thân thể cứng chắc,
không ai sánh bằng. Thân thể Phật giống như vậy đó. Vãng
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, những thế giới phương
khác không thể sánh bằng, điều tối thù thắng là gì? Sanh
về Tây Phương Cực Lạc thế giới thì thân thể, tướng
hảo, quang minh, trí huệ, đức năng, phước báo của chính
mình tợ hồ gần bằng với A Di Đà Phật. Mười phương thế
giới chắc chắc chẳng có việc như vậy, [ở Cực Lạc] hưởng
phước của Phật A Di Đà mà! Thật là chẳng thể nghĩ bàn!
Bởi thế, Bảo Tướng Phật biểu thị sự tôn thắng.
Nếu quan sát kỹ sáu đức Phật thì trí huệ, thọ mạng,
phước đức, tức những điều hết thảy chúng sanh mong cầu,
các Ngài đều trọn đủ, lại còn rốt ráo viên mãn, không
thiếu khuyết chút nào. “Vô phước chẳng thể độ sanh,
thành Phật trăm kiếp tu phước”. Nếu quý vị không có phước
báo, quý vị sẽ chẳng thể độ sanh. Vì sao? Dù có trí huệ,
có năng lực, nhưng tướng mạo không tốt, người ta vừa
nhìn bèn nghĩ: “Gã này không có phước báo!”, đánh mất
tín tâm đối với quý vị. Giảng cho họ nghe họ bèn hoài
nghi, chẳng thể tin nhận phụng hành. Vì thế, Bồ Tát thành
Phật, phải dùng thời gian trăm kiếp để chuyên môn tu phước
báo, tu tướng hảo! Trong nhà Phật thường nói là ba mươi
hai tướng, tám mươi vẻ đẹp, ngạn ngữ thường nói “tướng
tùy tâm chuyển”. Phải dùng cả một thời gian dài như thế
để tu điều gì? Tu cái tâm thuần thiện thuần tịnh, cái
hạnh thuần thiện thuần tịnh. Tâm hạnh thuần thiện thuần
tịnh, sẽ cảm được tướng hảo, quang minh. Tướng Phật
đúng là viên mãn, ai thấy đều yêu mến. Tướng hảo tiếp
dẫn chúng sanh, chúng sanh thích thấy, bằng lòng đi theo, bằng
lòng học theo, bằng lòng nghe giảng dạy, y giáo phụng hành.
Nói thật ra, công phu tu hành của quý vị đắc lực hay không,
quý vị có bao nhiêu công phu không thể lừa người khác chút
xíu nào, vì sao? Vì đều thể hiện trên tướng hảo của
quý vị! Ngạn ngữ Trung Quốc đã nói về việc này rất có
lý như sau: “Một người trước năm bốn mươi tuổi, mạng
tướng chịu ảnh hưởng của tiên thiên, tức là do nghiệp
báo trong đời quá khứ, chịu ảnh hưởng như vậy. Từ bốn
mươi tuổi trở đi chịu ảnh hưởng của hậu thiên; nói
cách khác, chính mình phải chịu trách nhiệm”. Khởi tâm
động niệm, hết thảy hành vi trong bốn mươi năm sẽ biến
đổi tướng mạo trang nghiêm. Bởi thế người nào đến tuổi
già, tướng mạo đoan nghiêm thì nhất định phải là người
tốt, tu phước, tu cả đời. Tướng tùy tâm chuyển, mạng
tùy tâm chuyển; thân thể, thể chất chúng ta cũng tùy tâm
chuyển! Qua thí nghiệm kết tinh nước, tiên sinh Giang Bản
Thắng đã chứng minh điều này, chứng minh những điều kinh
Đại Thừa đã nói: Vũ trụ sống động! Chính ngay trong kinh
Lăng Nghiêm, đức Phật đã giảng: “Các pháp được sanh
ra chỉ là do tâm hiện, hết thảy nhân quả, vi trần, thế
giới, do tâm mà thành Thể”. Ấy là do tâm hiện, thức biến,
là bản năng của tâm, năng lực ấy bất sanh, bất diệt,
không đến, không đi, không thường, không đoạn, không phải
có, không phải không, vĩnh hằng. Bản năng ấy là gì vậy?
Bản năng là có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận,
có thể biết; trong phần khai thị của Hệ Niệm Pháp Sự,
Trung Phong thiền sư gọi là “tâm linh tri”.
Nói
về Tâm, Ngài cũng giảng ba thứ. Thứ nhất là Nhục Đoàn
Tâm, tức là trái tim trong thân thể chúng ta. Đó là trái tim
thịt, chỉ là một khí quan mà thôi, không có tác dụng gì
lớn lao cho lắm. Thứ hai là Duyên Lự Tâm, nghĩa là mọi người
chúng ta có khả năng suy nghĩ, tưởng tượng, phân biệt thị
- phi, thiện - ác, cũng như mọi vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước đều thuộc về cái tâm này. Tâm ấy trong Phật pháp
gọi là Thức. Thức là sở biến, nó có thể biến, duy thức
sở biến, Duyên Lự Tâm sở biến. Cảnh giới ấy hiện tướng,
hiện tướng là chân tâm, chân tâm gọi là “linh tri tâm”,
linh minh giác tri. Chữ “linh” bao hàm cả ba chữ kia (tức
“minh, giác, tri”); kinh Lăng Nghiêm nói bốn chữ, chữ “linh”
bao gồm kiến, văn, giác. Linh là như vậy đó! Sau “linh”
còn có một chữ “tri” nữa, “linh tri” là “kiến - văn
- giác - tri”.
Từ
thực nghiệm khoa học, phát hiện nước có thể thấy, có
thể nghe, có thể hiểu được ý tưởng con người, tùy theo
trạng huống ý tưởng con người mà biến hóa bất đồng,
đấy chẳng phải là như kinh Phật nói “cảnh tùy tâm chuyển”
hay sao? Thế gian xem tướng đoán mạng cũng thường nói “tướng
tùy tâm chuyển”, thật vậy đó! Mạng tùy tâm chuyển, Phong
Thủy cũng tùy tâm chuyển. Phong thủy là hoàn cảnh chúng ta
đang sống, vì thế, nhà Phong Thủy thường nói: “Phước
nhân cư phước địa, phước địa phước nhân cư” (Người
có phước sống nơi đất phước, đất tốt lành thì người
có phước ở). Vấn đề là chính mình phải tu phước, tự
mình tu phước thì bất luận sống tại nơi nào, phong thủy
nơi đó sẽ tự nhiên biến đổi, hoàn toàn giống như hiện
tượng nước kết tinh. Thí nghiệm khoa học chứng minh những
đạo lý, những sự tướng kinh Phật đã giảng. Đối với
điều này chúng ta tin sâu không nghi. Cái hay của việc học
Phật là chuyển được cảnh giới. Chúng tôi thường nói:
Chuyển cảnh giới thì chuyện đầu tiên là chuyển thân thể.
Thân thể chúng ta vốn chẳng khỏe mạnh chuyển thành khỏe
mạnh, thọ mạng vốn không dài chuyển thành trường thọ.
Tình trạng thông thường là từ sáu mươi tuổi trở đi, con
người dần dần suy lão, khí quan dần dần lão hóa; người
học Phật có khả năng giảm chậm sự lão hóa khí quan; vốn
sáu mươi tuổi bị lão hóa nhưng phải đến năm tám mươi
tuổi mới lão hóa, tai nghe mắt thấy rõ ràng, mắt không lòa,
tai không điếc, da dẻ không nhăn nheo; đó là công phu niệm
Phật, công phu tu hành! Vì vậy, do đây mà thấy được công
phu tu hành. Nếu cảnh giới của cái thân mình không chuyển
được, há quý vị có chuyển được cảnh giới bên ngoài
chăng? Đầu tiên là phải chuyển cảnh giới nơi cái thân
mình, cái đầu tiên phải chuyển nơi thân là tướng. Nói
cách khác, quý vị học Phật mười năm, hai mươi năm, xét
kỹ xem quý vị có đoan nghiêm, an tường được như Phật
hay chăng?
Vị
Phật cuối cùng ở Tây Phương là Tịnh Quang Phật, Ngài “biểu
thị pháp tu phước căn bản”. Quý vị thấy: Ở phần trên
nói đến tu huệ, còn ở đây là tu phước! Tây Phương Cực
Lạc thế giới tu phước, Nam phương tu huệ, Tây phương tu
phước. “Phải tu ba nghiệp thanh tịnh quang minh, thành mãn
đại phước”. Thành là thành tựu, mãn là viên mãn. Vì vậy,
quý vị thấy phương pháp tu phước là “tịnh”, “quang”,
thuần tịnh! Thân thanh tịnh, tâm thanh tịnh, cảnh giới thanh
tịnh, đại phước báo! Trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo,
có một câu dạy chúng ta: “Bồ Tát có một pháp có thể
lìa hết thảy khổ thế gian”. Pháp ấy thù thắng. Pháp gì
vậy? Chúng ta phải nghe cho kỹ, phải học cho khéo. Phật dạy:
“Thường niệm thiện pháp”, tức là tâm thiện, “tư duy
thiện pháp” tức suy nghĩ thiện, “quán sát thiện pháp”
tức hành vi thiện. Tiếp đó lại nói: “Chẳng dung mảy may
bất thiện xen tạp”. Câu này rất quan trọng! Nay chúng ta
tu hành, tu hành thành tựu không rõ ràng, không có gì chuyển
biến rõ rệt, là vì nguyên nhân nào? Vì quý vị tu bị xen
tạp. Sự thiện quý vị tu bị xen tạp bất thiện, tâm xen
tạp bất thiện, niệm xen tạp bất thiện, hành vi cũng xen
tạp bất thiện. Vì thế hiệu quả không rõ ràng, không trừ
nghiệp chướng được, nguyên nhân là do đây.
Phỏng
theo cách đức Thế Tôn thuyết pháp, chúng tôi bảo mọi người:
Tâm chúng ta “thường niệm pháp thanh tịnh, tư duy tịnh pháp,
quán sát tịnh pháp”. Vì thế, trong những năm qua chúng tôi
đặc biệt đề xướng thuần thiện thuần tịnh, “chẳng
dung mảy may bất tịnh xen tạp, chẳng dung mảy may bất thiện
xen tạp”. Đó chính là Tịnh Quang Phật! Tâm chúng ta thanh
tịnh hiền lành, tư tưởng thanh tịnh hiền lành, hành vi thanh
tịnh hiền lành, hoàn toàn tương ứng với Tịnh Độ, vô
lượng trí huệ phước đức bèn hiện tiền. Trí huệ, phước
đức hiện tiền, quý vị sẽ biết rõ ràng rành mạch.
Người
thật sự học Phật chẳng sanh bệnh. Thời đầu Dân Quốc,
vị giảng kinh thuyết pháp nổi tiếng nhất là lão pháp sư
Đế Nhàn (Ngài giảng kinh thuyết pháp nổi danh nhất thời
ấy), có một thời kỳ Ngài bị bệnh. Chuyện này đồn đến
tai Ấn Quang pháp sư, Ấn Quang pháp sư liền gởi một lá thư:
“Ông là pháp sư giảng kinh thuyết pháp, làm sao có thể sanh
bệnh được?” Lời tổ Ấn Quang rất hữu lý, bệnh là gì?
Bệnh là nghiệp bất thiện, nếu tâm địa thật sự thuần
thiện thuần tịnh, làm sao sanh bệnh được? Tâm thanh tịnh
quyết định chẳng nhiễm bệnh độc, tâm từ bi chắc chắn
có thể hóa giải bệnh độc. Vì thế ai tâm địa thanh tịnh
từ bi sẽ chẳng sanh bệnh; nói cách khác, thân quý vị thường
có bệnh chứng tỏ tâm quý vị không thanh tịnh, không từ
bi. Nếu tâm địa thật sự chân thành, thanh tịnh, bình đẳng,
mỗi tế bào nơi thân quyết định rất bình ổn, những tế
bào nơi thân rất tự nhiên chẳng lộn xộn, rối loạn trật
tự, thế nên thân thể khỏe mạnh.
Bệnh
là gì? Bệnh là những tế bào nơi thân thể không yên ổn,
loạn trật tự khiến bệnh sanh ra. Vì sao chúng không được
ổn định? Vì sao chúng bị loạn trật tự? Ắt phải có nguyên
nhân. Đức Phật đã nói nguyên nhân là ba độc phiền não
khởi tác dụng, ba độc là tham - sân - si. Như vậy, tham- sân
- si là bệnh độc bên trong chúng ta; bên trong đã có bệnh
độc thì bệnh độc bên ngoài mới cảm nhiễm được, trong
ngoài giao cảm! Nếu bên trong không có tham - sân - si, không
có bệnh độc, dẫu bệnh độc bên ngoài tàn hại cũng chẳng
thể cảm nhiễm quý vị được. Vì sao? Vì quý vị mạnh khỏe,
không có điều kiện cảm nhiễm, các bác sĩ hiện thời cũng
nói như thế, họ gọi là “sức khỏe tâm lý”. Tâm lý khỏe
mạnh, không có tham - sân - si thì mới thật sự khỏe mạnh;
không đoạn tham - sân - si thì tâm chẳng khỏe mạnh. Tịnh
Quang Phật hay lắm! Để vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới thì phương pháp tu hành này rất quan trọng, nó là pháp
môn tu phước. Ở phần trên chúng ta đã thấy trong phần tu
huệ, “vô lượng tinh tấn”, tức tinh tấn tu huệ. “Tịnh
Quang” là tu phước. Lại xem tiếp đoạn phương Bắc, chúng
tôi đọc kinh văn một lượt.
“Xá
Lợi Phất! Bắc phương thế giới hữu Diệm Kiên Phật, Tối
Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhật Sanh Phật, Võng Minh Phật.
Như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật các ư kỳ quốc,
xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại
thiên thế giới, thuyết thành thật ngôn: ‘Nhữ đẳng chúng
sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức
Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.
(Xá
Lợi Phất! Thế giới phương Bắc có Diệm Kiên Phật, Tối
Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhật Sanh Phật, Võng Minh Phật.
Hằng hà sa số chư Phật như thế đó, mỗi vị ở trong nước
mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại
thiên thế giới, nói lời thành thực: “Chúng sanh các ngươi
nên tin kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Ðức Nhất Thiết
Chư Phật Sở Hộ Niệm này”)
Quý
vị thấy đức Thế Tôn thuyết pháp hết sức có ý nghĩa;
đến phương Bắc lại nói năm vị Phật, cho thấy việc nêu
lên bảy vị Phật là đặc thù. Trong mọi lúc thông thường
thì đều là năm vị Phật. “Phương Bắc kể đại lược
năm vị Phật biểu thị sự hóa tha”. Phần trên là thành
tựu trí huệ của chính mình, thành tựu phước đức của
chính mình; có trí huệ, có phước đức thì mới có thể
giáo hóa chúng sanh. “Phước huệ đầy đủ, lấy độ sanh
làm sự nghiệp”. Trong thế gian này, chư Phật, Bồ Tát làm
những việc gì? Người sống trong thế gian không thể không
làm chuyện gì, cả một đời này không có chuyện gì hết,
vậy là hưởng phước rồi. Hưởng phước nhưng không tu phước
thì phước báo ấy sẽ bị hưởng hết, hưởng hết rồi
thì không còn phước nữa. Không có phước, nhưng trong A Lại
Da Thức vẫn còn có bất thiện nghiệp. Những nghiệp bất
thiện ấy đem lại khổ báo cho quý vị. Hưởng phước xong,
hưởng thiện phước xong, cái khổ bất thiện sẽ hiện tiền.
Bởi lẽ người sống trong thế gian không thể không có việc
này việc nọ, không thể không làm này làm nọ; nên chư Phật
xuất hiện trong thế gian, Bồ Tát xuất hiện trong thế gian
phải có sự nghiệp. Sự nghiệp của chư Phật chẳng giống
với những hạnh nghiệp thông thường của thế gian, mà là
gì? Ngài là đạo sư. Chư Phật Như Lai xuất hiện trong thế
gian, nhất định phải xuất hiện dưới thân phận một vị
thầy. Còn Bồ Tát không nhất định, Bồ Tát có thể xuất
hiện làm các ngành nghề. Trong phẩm Phổ Môn, chúng ta thấy
Quán Thế Âm Bồ Tát có ba mươi hai ứng thân, mọi người
đều biết. Trong kinh Hoa Nghiêm, quý vị thấy Phật, Bồ Tát
thị hiện thành năm mươi ba vị thiện tri thức, nam, nữ,
già, trẻ, các hạnh, các nghiệp. Nếu mang thân Phật thì chắc
chắn là thầy, chẳng thể theo đuổi các hạnh nghiệp khác.
Phật pháp là sư đạo (đạo thầy trò), mang thân phận ông
thầy thì chắc chắn hằng ngày phải dạy học.
Vì
thế, Thích Ca Mâu Ni Phật vì chúng ta thị hiện: Từ năm ba
mươi tuổi Ngài biểu diễn tu hành chứng quả, chứng đắc
quả Phật vô thượng Bồ Đề. Thành Phật xong, bắt đầu
giáo hóa chúng sanh, bắt đầu giảng kinh thuyết pháp, tám
mươi tuổi viên tịch, giảng kinh thuyết pháp suốt bốn mươi
chín năm. Tám mươi tuổi viên tịch là vì người Tàu chúng
ta tính theo tuổi ta, nếu theo cách tính tuổi của người ngoại
quốc thì Thích Ca Mâu Ni Phật viên tịch năm bảy mươi chín
tuổi. Giảng kinh thuyết pháp bốn mươi chín năm; nay gọi
giảng kinh thuyết pháp là “lên lớp”, dạy học! Lên lớp
dạy học suốt bốn mươi chín năm, không nghỉ ngày nào, không
có ngày nào nghỉ xả hơi, không hề có! Trong hết thảy thời,
hết thảy chỗ đều dạy học, từ trước đến nay chưa từng
gián đoạn; nay chúng ta gọi là “cơ hội giáo dục”. Bất
luận ở chỗ nào, bất luận gặp được ai, hoặc là Phật
gọi ai đó đến mà giảng, hoặc người nào đó nêu câu hỏi
hướng về Phật thỉnh giáo, Phật bèn vì người ấy giải
đáp.
Phật
lên lớp không có phòng học cố định, thính chúng không cố
định. Kinh nói “một ngàn hai trăm năm mươi lăm người”,
đó là Thường Tùy Chúng. Phật đến đâu, những học trò
ấy theo đến đó. Bọn họ cũng buông hết thảy thế gian
xuống, chuyên môn theo Thích Ca Mâu Ni Phật học tập. Vì thế,
kinh thường liệt kê đại chúng. Liệt kê đại chúng cũng
là biểu thị pháp. Ở đây, lần này chúng tôi giới thiệu
rất đơn giản, không giảng cặn kẽ như khi giảng kinh Di
Đà, [đại chúng] biểu thị pháp. Một ngàn hai trăm năm mươi
lăm vị ấy, nói thật ra, đều là những học trò kiệt xuất,
đều là những học sinh có sở trường, Phật dùng bọn họ
để biểu thị pháp, hiển thị trong sanh hoạt thường nhật,
lúc lên lớp dạy học, từng chuyện nhỏ nhặt, vụn vặt
đều chân thật không dối, học vấn chân thật, đức hạnh
chân thật.
Phạm
vi giảng dạy của đức Phật hết sức rộng lớn, không như
Khổng lão phu tử. Khổng lão phu tử chỉ dạy con người,
chẳng dạy cho thiên địa quỷ thần, chỉ hy vọng con người
làm người cho trọn vẹn, không sai lầm. Phạm vi của Phật
giáo rất lớn, bao gồm cả những chiều không gian sai khác
như khoa học ngày nay đã đề cập. Phạm vi hết sức rộng
lớn; vì thế, đức Phật giảng y báo, chánh báo trang nghiêm
trong mười pháp giới, kinh Đại Thừa thường nói như vậy.
Kinh Hoa Nghiêm chẳng thể nghĩ bàn bậc nhất, giảng đến
vô lượng pháp giới trùng trùng vô tận, khoa học ngày nay
đang nghiên cứu theo phương hướng này; chúng tôi mong mỏi
có những thành quả nghiên cứu, những thành quả ấy nhất
định sẽ tương ứng với những điều được giảng trong
kinh Hoa Nghiêm.
Sở
dĩ đức Phật lấy độ sanh làm sự nghiệp; nay chúng ta gọi
“độ sanh” là “giáo dục xã hội”. Phật theo đuổi sự
giáo dục xã hội đa nguyên văn hóa, nay gọi là một nghề.
Thế nhưng Phật dạy học không thâu học phí, Ngài không có
trường học cố định, hết thảy chúng sanh đều là đối
tượng giáo hóa của Ngài, thật sự đáng gọi là “đại
học”. Nam nữ già trẻ đủ các ngành nghề, trái lại, đức
Phật trí huệ viên mãn, đức năng viên mãn, không gì không
biết, không gì không thể. Hiện nay học vị tối cao là tiến
sĩ, Phật là vị tiến sĩ danh xứng với thực. Tiến sĩ thuộc
các trường của thế gian không hiểu biết rộng rãi, họ
chỉ nghiên cứu một bộ phận, vượt khỏi bộ phận ấy
họ không biết, có thể nói là “cách hàng như cách núi”.
Thích Ca Mâu Ni Phật đúng là quảng bác, không gì không biết,
không gì không thể.
Lược
nêu tên năm vị Phật, vị thứ nhất là Diệm Kiên Phật.
Kiên là cái vai, Diệm là ngọn lửa, ngọn lửa biểu thị
trí huệ. Con người chúng ta có hai vai, dùng Diệm Kiên để
biểu thị Quyền Trí và Thật Trí. Vì thế, “sau khi phước
huệ trọn đủ, liền dùng hai trí Quyền và Thật để gánh
vác gia nghiệp của Như Lai, lợi ích chúng sanh”. Như Lai là
Phật Quả rốt ráo, thành Phật rồi thì bổn phận sự nghiệp
gọi là “gia nghiệp”. Sự nghiệp bổn phận là giáo dục
xã hội đa nguyên văn hóa, nền giáo dục ấy bao gồm những
cái nay gọi là giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường,
giáo dục xã hội, thảy đều bao gồm trong ấy. Đúng là đại
học vấn. Làm thế nào để hỗ trợ giáo dục gia đình? Học
trò tại gia rất nhiều, xuất gia ít. Đối với học trò tại
gia Phật dạy họ sống ở nhà thì phải học tập, có luân
lý, đạo đức như thế nào, đối xử hòa thuận với người
trong nhà ra sao, tận hết bổn phận mình. Cha mẹ thương yêu,
trong ngũ luân thập nghĩa đã nói: “Cha mẹ thương yêu, vợ
chồng tôn trọng nhau, lớn nhỏ có trật tự, vua tôi có nghĩa,
bạn bè tin tưởng nhau”. Đấy chính là giáo dục gia đình.
Giáo dục nhà trường nhằm dạy quý vị học làm vị thầy
tốt như thế nào, học làm người học trò tốt như thế
nào. Chẳng phải kinh A Nan Vấn Phật Sự Cát Hung đã giảng
rất rõ ràng ư? Phật thường nói như thế. Giáo dục xã hội
không cần phải nói nữa, bất luận đến đâu, bất luận
gặp ai, chẳng phân quốc gia nào, chẳng phân chủng tộc nào,
chẳng phân tôn giáo nào, chẳng phân văn hóa nào, chỉ cần
quý vị đến học, Phật đều vui vẻ dạy dỗ. Lợi ích hết
thảy chúng sanh là hai trí Quyền và Thật. A! Bây giờ đã
đến giờ rồi!
*
Chư vị đồng học!
Xin xem tiếp phần phương Bắc lược nêu năm đức Phật. Vị
Phật thứ nhất là Diệm Kiên Phật, biểu thị sự gánh vác
gia nghiệp Như Lai, tức sứ mạng hoằng pháp lợi sanh. Công
tác ấy được thực hiện như thế nào? Phần ý nghĩa biểu
pháp của bốn vị Phật tiếp theo đó nhằm dạy chúng ta [cách
thực hiện].
Tối Thắng Âm Phật, “biểu thị dùng âm thanh làm Phật sự,
diễn nói kinh này, khuyên dạy niệm Phật, chính là âm thanh
tối thắng”. Nói như vậy là thuần từ pháp môn Tịnh Độ
mà nói. Nếu giảng theo nghĩa rộng thì “chân giáo thể phương
này, thanh tịnh tại nghe tiếng”; đấy chính là như Thích
Ca Mâu Ni Phật xuất hiện trong thế gian này, bốn mươi chín
năm ngày ngày thuyết pháp dạy học. Những âm thanh đức Phật
thốt ra đều là Tối Thắng Âm, âm thanh tối thắng vì giúp
cho hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ. Quý vị phải nhớ
kỹ, khuyên dạy một chúng sanh đoạn ác tu thiện, chẳng đọa
tam đồ, đời sau vẫn tiếp tục hưởng phước báo trời
người, thì âm thanh ấy là âm thanh thù thắng, rất thù thắng.
Không như trong xã hội hiện thời, quý vị nghĩ xem: Trong xã
hội hiện thời, mắt thấy tai nghe những âm thanh gì? Âm thanh
tam đồ. Đúng là chỉ sợ quý vị chẳng đọa tam đồ!
Âm thanh thuyết pháp của Phật là âm thanh thanh tịnh. Âm thanh
thù thắng khuyên người đoạn ác tu thiện, khuyên người
chẳng đọa tam đồ. Âm thanh ấy tối thắng, âm thanh tối
thắng là âm thanh giúp cho hết thảy chúng sanh phá mê khai
ngộ, đó chính là âm thanh tối thắng! Đem Tịnh tông so với
Đại Thừa thì âm thanh của Tịnh tông là thù thắng nhất.
Vì sao? Phá mê khai ngộ, quý vị không thấy được một đời
có thể vượt thoát lục đạo luân hồi, thành Phật, thành
Tổ! Chuyện ấy các pháp khác không làm được, còn Tịnh
tông làm được. Tịnh tông dạy quý vị niệm Phật vãng sanh,
bất thoái thành Phật. Vì thế, nó thù thắng khôn sánh. Đặc
biệt là “diễn nói kinh này”, kinh này thông với kinh Vô
Lượng Thọ, chẳng những thông với kinh Vô Lượng Thọ mà
còn thông với kinh Hoa Nghiêm. Cổ đức nói kinh Hoa Nghiêm,
kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà là cùng một bộ kinh, Hoa
Nghiêm là Đại Bổn, Vô Lượng Thọ là Trung Bổn còn A Di
Đà là Tiểu Bổn, không sai chút nào!
Kinh A Di Đà Tiểu Bổn này là lược thuyết, giới thiệu đại
lược. Vô Lượng Thọ Kinh giảng rất tường tận, giới thiệu
mọi phương diện của Tây Phương Cực Lạc thế giới. Kinh
Hoa Nghiêm giảng rộng, giảng cụ thể nhất, thuyết minh tường
tận. Vì thế, ba bộ kinh này chỉ là một bộ. “Diễn nói
kinh này”, nói theo nghĩa rộng, chính là diễn nói kinh điển
vãng sanh Tịnh Độ, “khuyên người niệm Phật là âm thanh
thù thắng nhất”. Đó chính là hoằng pháp lợi sanh, thật
sự gánh vác gia nghiệp của Như Lai, đảm đương sự nghiệp
chẳng thể nghĩ bàn.
Vị Phật tiếp theo là Nan Trở Phật, “biểu thị hoằng hộ
chánh pháp, dũng mãnh tinh tấn, chẳng sợ ma ngoại, hết thảy
chướng nạn”. Trở là phá hoại, Nan Trở là rất khó phá
hoại. Hoằng hộ: hoằng pháp, hộ pháp là một thể, hoằng
pháp và hộ pháp công đức như nhau; thậm chí công đức hộ
pháp còn cao hơn hoằng pháp. Người hoằng pháp, có thể nói
là chẳng dễ dàng, rất khó có; thế nhưng hộ pháp càng khó
hơn! Nếu không có người hộ pháp mạnh mẽ, người hoằng
pháp dù giỏi nhưng không ai hộ trì, sẽ không có cơ hội
hoằng dương Phật pháp. Nói cách khác, dù thầy thật sự
giỏi, có học vấn, có đức hạnh, lại có phương pháp giảng
dạy rất tốt, nhưng không ai dùng đến, không có trường
nào mời, thật là “không đất dụng võ”. Trường học
chính là hộ pháp của ông thầy.
Nếu nay quý vị học thành tựu rồi, quý vị đúng là một
nhân tài hoằng pháp tốt, nhưng không đạo tràng nào mời.
Chủ nhân của đạo tràng, trụ trì, đương gia, chấp sự
đều là nhân tài hộ pháp, bọn họ phải hộ trì quý vị,
mời mọc quý vị trụ trong đạo tràng ấy giảng kinh thuyết
pháp, mọi việc đều chiếu cố châu đáo, quý vị không phải
lo lắng chút gì, cứ chuyên làm công việc giảng kinh thuyết
pháp, hết thảy sự vụ thuộc phương diện thường trụ bọn
họ đều chia nhau gánh vác. Hoằng pháp và hộ pháp phải phối
hợp mật thiết thì Phật pháp mới hưng vượng. Nếu không
có hộ pháp, quý vị giảng kinh thuyết pháp ở đó, người
ta không thích thú gì. Vì sao không thích thú? Anh giảng được,
tôi không giảng được, tín đồ thường đến nghe anh, tôn
kính anh, không tôn kính tôi, thường hay ghen ghét chướng ngại.
Người ta chướng ngại mình, trọn chẳng cho mình có cơ hội
giảng kinh hoằng pháp, hỏng rồi! Đó là gì vậy? Kẻ ấy
không có trí huệ, chẳng hiểu đạo lý này, cũng chẳng hiểu
nhân quả. Người làm hiệu trưởng không cần phải giảng
kinh thuyết pháp, không cần phải lên lớp dạy học như giáo
viên, không cần thiết. Học trò nghe vị thầy giỏi giảng,
học thành công thì công đức bậc nhất quy về ai? Hiệu trưởng!
Hiệu trưởng vì chúng ta mời vị thầy giỏi như thế, thầy
do chính hiệu trưởng mời về, quyền mời thầy nằm trong
tay hiệu trưởng. Bởi thế, chăm sóc trường cho tốt thì
học trò thành tựu nhiều, công lao không do giáo viên, mà do
hiệu trưởng. Hiệu trưởng có huệ nhãn nhận biết ông thầy
tốt, có năng lực mời mọc giáo sư tốt. Bởi thế, công
đức hộ pháp cao hơn hoằng pháp, hoằng pháp là giáo viên,
hộ pháp là hiệu trưởng. Hiệu trưởng có quyền lực mời
mọc, cũng có quyền lực bãi chức: “Tôi không cần đến
anh nữa!” Ông ta có quyền lực ấy. Người hoằng pháp chỉ
nghe theo lệnh: “Ông mời tôi, tôi nỗ lực dạy dỗ; ông
không cần tôi nữa, tôi đành ra đi thôi!”
Nhất định phải hiểu đạo lý ấy, thành tựu của đạo
tràng là có được nhân tài. Đạo tràng không sản sanh được
nhân tài là thất bại hoàn toàn. Sản sanh những nhân tài
như thế nào? Có sanh ra được nhân tài hay không? Mấu chốt
nằm ở người trụ trì, hay vị thường trụ, hoặc vị chấp
sự chủ chốt. Vị chấp sự chủ chốt là những người có
quyền lực trong đạo tràng ấy như trụ trì, đương gia, thủ
tòa, duy-na. Đấy đều là những người có quyền lực nhất
trong đạo tràng ấy; [thành tựu của đạo tràng] chính là
thành tựu của họ. Do vậy đạo tràng hưng hay suy trách nhiệm
đặt trên thân mấy người đó. Nhân tài hoằng pháp không
chịu trách nhiệm, họ không có quyền, không làm chủ, họ
phải nghe lời sai phái, nghe lệnh chỉ huy. Bởi vậy, người
hoằng pháp là giáo viên, hộ pháp là người thật sự có
quyền lực. Lúc Thích Ca Mâu Ni Phật còn tại thế, đối với
người xuất gia, Phật yêu cầu mọi sự đều là công tác
hoằng pháp, giao phó công tác hộ pháp cho quốc vương, đại
thần, thỉnh những người ấy đến hộ trì. Bọn họ lập
đạo tràng, lễ thỉnh pháp sư đến giảng kinh, thuyết pháp.
Quý vị giảng hay, pháp duyên thù thắng thì tiếp tục lễ
thỉnh hàng năm. Vì thế, pháp sư nhất định phải tu dưỡng
đạo đức, học vấn, ngôn hạnh của chính mình hầu nêu
gương tốt nhất cho đại chúng trong xã hội. Vì sao? Nếu
pháp sư không tu tập cho tốt, năm sau người ta không thỉnh
nữa. Thậm chí giảng xong một bộ kinh này, bộ kinh tiếp
theo người ta không mời giảng nữa. Chẳng nghiêm túc, chẳng
khéo học không được! Bởi vậy, giáo viên và chức viên
(người có chức vụ trong trường) có quan hệ mật thiết,
hoằng hộ chánh pháp như thế mới không bị phá hoại. Nhất
là hộ pháp, trọng yếu lắm! Hộ pháp phải chánh trực, phải
có huệ nhãn.
Đặc
biệt là trong thời kỳ Mạt Pháp, con người không phải là
thánh hiền, ai không lầm lỗi, pháp sư giảng kinh chẳng phải
là thánh nhân, còn là phàm phu, chắc chắn có lầm lỗi! Người
ngoài nắm lấy những lỗi lầm ấy để công kích, đồn đãi,
sanh sự, hủy báng, tạo đủ mọi áp lực với người hộ
pháp. Nếu người hộ pháp không có trí huệ, không có nghị
lực, nghe những kẻ đó bàn ra tán vào sẽ hiểu lầm pháp
sư giảng kinh, khai trừ vị pháp sư giảng kinh ấy. Chuyện
như vậy xưa nay rất nhiều, không phải là ít; vì thế, hoằng
pháp, hộ pháp đều không phải là chuyện dễ. Thế nhưng
hiện thời lại có một con đường, con đường gì vậy? Tức
là mạng Internet và truyền thông vệ tinh. Tuy vậy, vẫn phải
có người hộ pháp có sức lực lui tới chủ trì chánh nghĩa,
mời mọc đại đức, pháp sư, trưởng giả, cư sĩ vì hết
thảy chúng sanh giảng kinh thuyết pháp.
Đạo
tràng không cần phải lớn lắm, bằng một cái tiệm chụp
ảnh nhỏ là được rồi. Mỗi ngày ở đó dùng máy chiếu
phim, nhờ khoa học kỹ thuật để phát hình ảnh, âm thanh
đi khắp thế giới, chúng sanh có duyên sẽ thích thú nghe,
bất luận ở chỗ nào đều có thể thâu được. Kỹ thuật
thông tin đại chúng ngày càng tiến bộ, tôi thường bảo
các đồng học, rất có thể mạng Internet sẽ thay thế truyền
hình. Giá thành của truyền hình vệ tinh mắc, giá thành của
mạng Internet rất thấp, lại rất thuận tiện. Tương lai những
máy móc thâu phát rất có thể sẽ giống như điện thoại
cầm tay hiện đang dùng, màn huỳnh quang nơi điện thoại cầm
tay được nới rộng hơn một chút; bất luận khi nào, lữ
hành cũng nhìn thấy được, đều có thể nghe được.
Trước
kia, chúng tôi nói vệ tinh là đem giảng đường giảng kinh
thuyết pháp đến tận nhà quý vị, quý vị ở nhà mở truyền
hình lên là thấy. Nay tiến bộ hơn, chẳng những đưa đến
tận nhà mà đưa đến tận tay, quý vị nói có phải là tiện
lợi quá hay chăng? Trước kia đâu có như thế, trước kia
không ai tưởng tượng được việc này, nay dần dần thực
hiện được, giá thành không cao, hiệu quả rất lớn. Bởi
thế người phát tâm hoằng pháp phải tích cực, phải nỗ
lực, phải học tập cách đối diện trước màn hình máy
quay phim để giảng kinh thuyết pháp tại rạp nhiếp ảnh,
khiến cho Phật pháp từ nơi ấy được phục hưng. Lòng tôi
mong mỏi mỗi vị pháp sư giảng kinh đều có một trạm phát
hình, tương lai chúng ta có thể phát đi suốt hai mươi bốn
tiếng đồng hồ trên mạng Internet. Mỗi một cá nhân chuyên
công nơi một, hai bộ kinh, không cần quá nhiều, thính chúng
có thể chọn lựa. Họ thích học bộ kinh nào cũng như thích
nghe quý vị giảng diễn, họ sẽ ngày ngày nghe, tiếp thọ
sự giáo huấn của quý vị. Nan Trở Phật là vậy đấy!
Hoằng
hộ lại sợ bị ma tà, ngoại đạo chướng nạn, từ xưa
đến nay, trong nước, ngoài nước không tránh khỏi chuyện
này, suốt cả đời bản thân chúng tôi phải gặp không ít
lần. Đụng chuyện, chúng tôi không tranh, mau chóng thoái nhượng.
Mau chóng thoái nhượng như vậy khiến chướng nạn giảm ít.
Nói chung, phải nhớ kỹ, phải thường suy tưởng: “Chư Phật,
Bồ Tát vĩnh viễn không đối lập bất cứ một chúng sanh
nào”, phải nhớ thật kỹ điểm này. Sở dĩ Phật, Bồ Tát
được gọi là Nhân Giả, tức người nhân từ, bậc nhân
từ không đối địch ai. Thế nào là Nhân Giả? Không có địch
nhân. Đấy là nhân từ thật sự. Nếu có kẻ đối lập,
có oan gia đối đầu thì chẳng phải là người nhân từ.
Người nhân từ vĩnh viễn không có oan gia đối đầu, lúc
oan gia đối đầu đến tìm ta phải nhường nhịn họ, tuyệt
đối không đối lập với họ, quyết định không sân khuể,
quyết định không báo thù, người như vậy chính là Bồ Tát,
là người giác ngộ. Người không giác ngộ mới có tâm sân
khuể, mới có ý niệm báo thù. Người giác ngộ quyết định
không có! Vì thế, lúc cảnh giới hiện tiền, sẽ thấy quý
vị là giác ngộ hay vẫn còn mê hoặc. Trong sanh hoạt thường
nhật, trong những sự việc nhỏ nhặt mình gặp phải, phải
đào luyện từ những chuyện nhỏ nhặt. Đào luyện như thế
nào? Nghịch cảnh, chuyện chẳng vừa lòng, chuyện không như
ý, không có tâm nóng giận, không mang tâm oán hận, không tâm
báo thù, phải rèn luyện công phu ấy. Khi nghịch cảnh lớn
lao hiện tiền, tâm địa quý vị tự nhiên rất thản nhiên,
dùng trí huệ xử trí, chẳng làm việc theo cảm tình thì quý
vị mới không bị hết thảy ma chướng gây chướng nạn.
Vị
Phật thứ tư, Nhật Sanh Phật. Nhật là mặt trời, biểu thị
trí huệ. Bởi thế, “Nhật Sanh Phật biểu thị tướng giáo
học tăng trưởng, huệ nhật tự - tha sáng rực giữa trời,
chánh pháp tồn tại lâu dài, phước lợi trời - người”.
Vì vậy, giảng kinh, dạy học lòng phải trống rỗng! Học
tập nhất định phải hiểu phương pháp, người trên dạy
dỗ chúng ta như thế nào, ta học thành như vậy rồi, ta phải
biết dạy người khác như thế nào? Đời đời truyền nhau.
Trước kia thầy Lý dạy chúng tôi, thường thường khuyến
khích chúng tôi: Từ cổ đến nay, những người sơ học phát
tâm giảng kinh rất nhiều, đến cuối cùng, thành tựu e rằng
chỉ được một hai hay hai ba người thôi, vì nguyên nhân gì?
Thoái chuyển, thoái tâm! Gặp phải khó khăn chẳng thể đột
phá. Nguyên nhân phổ biến nhất khiến ta gặp phải khó khăn
là gì? Tâm háo thắng quá mạnh, tâm mong giỏi giang quá mạnh,
đấy là nguyên nhân gây thất bại bậc nhất trong việc học
kinh giáo. Mười người thất bại, đại khái là chín người
vì nguyên nhân này, tâm mong giỏi giang quá mạnh, hy vọng được
hơn người khác.
Vì
thế, thầy Lý dạy chúng tôi: Từ cổ đến nay, người thành
công phải ngồi yên đứng vững, giữ lấy câu giáo huấn
lời vàng lẽ ngọc của cổ nhân: “Chỉ cầu không lỗi,
chẳng cầu có công”. Quý vị giữ được hai câu ấy thì
rất có thể thành công. Bởi lẽ, chỉ mong lên tòa giảng
không sai lầm, không cầu giảng hay, không cầu giảng có hiệu
quả, thường xuyên phản tỉnh, thường sửa lỗi. Muốn giảng
giỏi thì nói chung phải mười năm, hai mươi năm, trong một
thời gian dài như vậy ngày ngày sửa lỗi, ngày ngày phản
tỉnh, tích lũy công đức mười năm, hai mươi năm, đương
nhiên sẽ giảng hay. Chẳng phải là chuyện trong một thời
gian ngắn, chỉ mấy tháng là đã giảng giỏi, một, hai năm
đã giảng giỏi, không có chuyện ấy đâu! Những bậc tổ
sư đại đức xưa nay, thông Tông thông Giáo, không vị nào
không huân tu lâu dài mà thành công. Dẫu là thiên tài, nghĩa
là nghe một ngộ cả ngàn như Lục Tổ Huệ Năng đại sư
của Thiền Tông, hai mươi bốn tuổi khai ngộ, Ngũ Tổ đem
y bát truyền cho, vẫn phải như thế nào? Tuổi còn trẻ quá,
phải đến ẩn cư trong đám thợ săn mười lăm năm, gần
như là đến bốn mươi tuổi mới lộ diện. Hai mươi bốn
tuổi được truyền y bát, ẩn cư trong đám thợ săn mười
lăm năm, quý vị cứ nghĩ đi, bốn mươi tuổi mới xuất hiện,
mà Ngài là bậc thiên tài đó nghe! Cũng chẳng thể cứ hễ
làm được là ra mặt liền, muốn ra mặt liền cũng không
được. Vì thế, tâm kiên nghị, nhẫn nại là bí quyết thành
công, thành tựu càng lớn thì càng phải có tâm nhẫn nại.
Người không nhẫn nại, đừng nói pháp xuất thế gian, pháp
thế gian cũng chẳng thể thành tựu. Vì thế, kinh Kim Cang nói
rất hay, “hết thảy pháp được thành do Nhẫn”, quý vị
có thể nhẫn nại! Tuân thủ quy củ của thầy, thầy dạy
quý vị như thế nào thì cứ thật thà làm theo.
Tôi
ở Đài Trung thân cận thầy Lý, tôi học bất cứ gì so với
đồng học quả thật đều nhanh hơn, tôi có sức hiểu biết,
tôi có năng lực ghi nhớ, nhưng thầy Lý vẫn hạn chế tôi:
Bốn mươi tuổi trở đi mới được ra ngoài giảng kinh. Trước
khi bốn mươi tuổi phải luyện tập giảng ở nhà, không cần
ra ngoài. Bên ngoài có người mời cũng không đi, tôi tuân
thủ quy củ ấy mười năm. Nếu tôi giống những người khác
tâm mong giỏi giang quá mạnh, chẳng tuân thủ quy củ của
thầy Lý, rất có thể tôi đã sớm bị đào thải rồi. Về
thành tựu thế gian hay xuất thế gian thường có câu nói rất
hay: “Người chất phác, người tuân thủ quy củ, những người
như vậy được thành tựu”. Không thật thà, không tuân thủ
quy củ, ngày ngày cứ nghĩ chuyện huê dạng, thọ mạng sẽ
không lâu! Chẳng những bị người khác ghen ghét, còn bị
quỷ thần ghen ghét; nói cách khác, hộ pháp thần ít, còn
những ác quỷ, la-sát tìm đến gây phiền phức, chướng ngại
rất nhiều, đều ở quanh bên cạnh, làm sao làm cho tốt được
cơ chứ! Bởi thế, con người chẳng được có tâm ghen ghét,
phải thường mong người khác hơn mình, người khác giỏi
hơn mình thì mình có phước. Giảng kinh thuyết pháp, hoằng
hộ chánh pháp đều là tu phước, ai sẽ hưởng phước? Đại
chúng thanh tịnh hưởng phước, mỗi ngày nghe kinh niệm Phật
là hưởng phước đấy! Tôi rất thích mỗi ngày được nghe
kinh niệm Phật, chuyện gì cũng không hỏi đến, quý vị nói
có phải là cuộc sống rất tốt chăng? Thế nhưng tôi không
có phước báo ấy, không ai giảng cho tôi nghe. Nếu mỗi ngày
có một người có thể giảng kinh cho tôi nghe, tôi sẽ ngày
ngày cúi lạy người đó, ngày ngày cảm tạ, thật đó, không
giả đâu! Tôi phải cảm tạ người ấy cúng dường pháp,
cảm tạ tài cúng dường của những vị hộ pháp đại đức,
lấy thành quả tu hành của chính mình để báo đáp.
Vị
Phật cuối cùng là Võng Minh Phật, “biểu thị phương pháp
hoằng nguyện độ sanh, dùng vô lượng pháp môn (như mắt
lưới) cứu độ chúng sanh”. Hoằng hộ chánh pháp phải có
hoằng nguyện như thế, phải có tâm lượng như thế, phải
có trách nhiệm như thế thì Phật pháp mới hưng thạnh. Một
đạo tràng giảng kinh thuyết pháp không phải là một vị
pháp sư, nay chúng ta lập mười phòng học, chúng tôi hy vọng
có mười vị pháp sư, chúng tôi hy vọng có mười môn, hai
mươi môn công khóa. Học sinh không thể cái gì cũng học hết
được, không thể được! Học sinh tối đa chỉ học hai môn.
Trước kia, ở Đài Trung, thầy Lý dạy chúng tôi như thế;
tối đa chỉ có thể học đồng thời hai môn, nhất định
chẳng được học ba môn, thầy nói học ba môn chẳng thể
thành tựu. Tốt nhất là như thế nào? Tốt nhất là học
một môn sẽ mau có thành tựu. Theo một vị thầy học một
bộ kinh, học cho kỹ bộ kinh ấy, tốt nghiệp xong, quý vị
mới được học bộ thứ hai. Thế nào là tốt nghiệp? Nhất
định phải được vị thầy chấp thuận: “Ngươi học được
rồi”. Ngay chính bản thân tôi, trước kia ở Đài Trung, dẫu
thầy Lý không hạn chế, nhưng chính chúng tôi tự hạn chế
mình, học xong một bộ kinh, nhất định phải giảng mười
lần, lên đài giảng! Thầy Lý dạy tôi chỉ giảng một lượt,
lần thứ hai là học sinh giảng cho thầy nghe, thầy giúp chúng
tôi sửa cho đúng. Từ đó về sau, lần thứ ba, lần thứ
tư, cho đến lần thứ mười, đều là thầy ngồi ở dưới
nghe, học sinh giảng trên tòa. Giảng xong mười lần, thầy
gật đầu: “Được rồi!”, thì mới coi là tốt nghiệp
môn công khóa ấy. Phương pháp dạy học chúng tôi dùng hiện
nay là theo phương pháp ấy. Thầy hằng ngày nghe giảng, hằng
ngày giúp sửa cho đúng, ngày ngày giúp quý vị giải quyết
vấn đề, giúp quý vị nâng cao cảnh giới. Một bộ kinh học
mười biến xong, lại xem xét đức hạnh, định lực của
quý vị. Quý vị có định lực sẽ chẳng bị danh văn lợi
dưỡng bên ngoài lay động thì mới có thể ra giảng kinh được.
Nếu ra giảng kinh, vừa tiếp xúc danh văn, lợi dưỡng bèn
khởi tham - sân - si - mạn, ngay lập tức bị đọa lạc là
xong. Trong tình huống ấy, chắc chắn không được đi. Đạo
tràng có thể bảo vệ quý vị, quý vị ra ngoài không ai bảo
vệ, không chống chọi nổi dụ hoặc sẽ bị đọa lạc. Đọa
lạc rồi quay đầu rất khó.
Võng
Minh Phật là nhân tài hoằng pháp trong đạo tràng nhiều, khoa
mục nhiều. Vì thế, Phật giáo giống như một trường đại
học, mỗi một vị thủ tòa hòa thượng là thầy giáo, mỗi
thầy giáo đều có sở trường chuyên môn, thâm nhập một
môn. Quý vị muốn học một bộ kinh luận nào cứ theo học
với vị đó, vị thầy ấy nhất định rất nghiêm túc dạy
quý vị, thành tựu cho quý vị. Thầy trò hợp đạo, người
dạy, kẻ học cùng tăng trưởng. Làm công tác hoằng pháp
rồi nghỉ hưu thì làm công tác hộ pháp, cũng có nghĩa là
đảm nhiệm chấp sự thường trụ, vì đại chúng phục vụ.
Lúc tôi mới học Phật, tôi có ý nghĩ như sau: Trước năm
bốn mươi tuổi học tập, hoằng pháp cũng thuộc trong học
tập. Từ năm bốn mươi đến sáu mươi tuổi, suốt cả hai
mươi năm phải làm thường trụ phục vụ, đảm nhiệm công
tác. Sau sáu mươi tuổi, từ khước mọi công tác thường
trụ, từ khước để làm gì? Chuyên môn giảng kinh dạy học,
không phải bận tâm lo công việc. Với hoằng pháp lẫn hộ
pháp, tự mình đều có kinh nghiệm khá phong phú, biết phải
bồi dưỡng nhân tài hoằng pháp như thế nào, biết chăm sóc
nhân tài hoằng pháp ra sao, bồi dưỡng nhân tài hộ pháp,
có kinh nghiệm thực tế. Nếu trong đạo tràng người hoằng
pháp càng nhiều, chúng tôi cũng càng mở nhiều pháp môn, phương
châm của chúng tôi là “nhất định phải tuân thủ cách
thức thâm nhập một môn trường thời huân tu” của cổ
đức. Một vị thầy chuyên công nơi một môn, thời gian tối
thiểu phải là mười năm. Mười năm chuyên dốc công phu nơi
một môn mới có thành tựu, chẳng thể học quá nhiều, quá
tạp. Thông một môn, hết thảy đều thông; dẫu thông hết
thảy môn rồi vẫn cứ chuyên hoằng một môn, vì sao? Nêu
gương cho hậu học. Con người hiện thời không biết lợi
ích của việc chuyên tu, nên nhất định phải làm gương cho
họ thấy, khiến họ hiểu rõ, khiến họ hoan hỷ mà được
thành tựu. Lại xem tiếp phần Hạ phương, chúng tôi cũng
đọc đoạn kinh văn nói về hạ phương một lượt:
“Xá
Lợi Phất! Hạ phương thế giới hữu Sư Tử Phật, Danh Văn
Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Trì
Pháp Phật. Như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật các ư
kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam
thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thật ngôn: ‘Nhữ
đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị
Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”.
(Xá
Lợi Phất! Thế giới phương dưới có Sư Tử Phật, Danh Văn
Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Trì
Pháp Phật. Hằng hà sa số chư Phật như thế đó, mỗi vị
ở trong nước mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp
tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thực: “Chúng
sanh các ngươi nên tin kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công
Ðức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm này”)
Đến
đây là một đoạn. Phương dưới có tên sáu vị Phật, không
giống như phần trên, trong đoạn trên là năm vị Phật, ở
đây sáu vị. Đương nhiên những con số đều có ý nghĩa,
chắc chắn không phải là ngẫu nhiên, chắc chắn không nêu
tùy tiện. Con số ấy “biểu thị đại hạnh giáo hóa, phổ
độ chúng sanh”; đấy là nói về pháp Đại Thừa! Dùng sáu
vị Phật để biểu pháp, tượng trưng cho sáu Ba La Mật của
Đại Thừa. Bắc phương biểu thị hóa tha, khởi đầu! Giống
như vị pháp sư học kinh giáo, đại khái là từ mười năm
đến hai mươi năm đầu, đều thuộc vào giai đoạn này. Sau
hai mươi năm dạy dỗ, giảng kinh giáo, có thể nói là lúc
ấy đã mở mang trí huệ, dần dần cũng có thể khế nhập
tam-muội. Người ấy có định lực, có trí huệ, có kinh nghiệm,
có thể mở rộng sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh, “đại
hạnh giáo hóa phổ độ chúng sanh”, người ấy đã có thể
ứng phó được.
Trong
những đức hiệu của chư Phật, vị thứ nhất là Sư Tử
Phật. Sư Tử là tỷ dụ, “ví cho Phật thuyết pháp, biểu
thị pháp vương tử thay Phật hoằng pháp, như Phật không
hai”. Bởi lẽ người hoằng pháp ở đây không phải là sơ
học, mà là pháp sư hoằng pháp thành thục, trong nhà Phật
gọi là bậc Thượng Tọa. Hoằng pháp trọn mười năm là
Hạ Tọa, hai mươi năm là Trung Tọa, trọn ba mươi năm là
Thượng Tọa. Theo như tập tục của chúng ta, tức tập tục
trong nhà Phật mà nói, thì địa vị ấy (được biểu thị
bằng sáu vị Phật ở phương Hạ) là Thượng Tọa. Thượng
Tọa là người thực hiện sự nghiệp giảng kinh hoằng pháp
ba mươi năm, phải nhớ như vậy, suốt ba mươi năm phải ngày
ngày dạy dỗ mới xứng [danh xưng Thượng Tọa]!
Cả
năm chỉ giảng một hai tuần, một tháng thì không tính, vì
không phải là giáo viên. Có trường học nào thầy chỉ lên
lớp một tháng mỗi năm chăng? Dạy một hai tuần thôi ư?
Không có trường nào như thế cả! Giáo viên của những trường
chánh quy phải dạy học hằng ngày, giáo sư đại học mỗi
tuần tối thiểu phải lên lớp một lần hai tiếng hoặc ba
tiếng, mỗi một tuần như thế không thể gián đoạn, trường
học như thế đó! Trong Phật pháp không như vậy, Thích Ca
Mâu Ni Phật làm gương cho chúng ta. Thích Ca Mâu Ni Phật giảng
kinh mỗi ngày, suốt bốn mươi chín năm không gián đoạn.
Ngày ngày giảng, năm năm giảng không gián đoạn, đủ ba mươi
năm mới thật sự là Thượng Tọa. Tuyệt đối chẳng thể
một ngày nóng, mười ngày lạnh mà tính đâu nhé!
Năm
vị Phật ở phương Bắc tượng trưng cho ba mươi năm đầu,
sáu vị Phật ở phương dưới tượng trưng cho ba mươi năm
sau. “Đại hạnh giáo hóa, phổ độ chúng sanh”. Đức hạnh,
trí huệ, học vấn, kinh nghiệm, kỹ xảo giáo hóa chúng sanh
đều thành thục; lúc đó có thể nói là pháp duyên thù thắng,
hiện sư tử hống. Sư tử hống là tượng trưng cho Phật
thuyết pháp. Pháp vương tử thay Phật thuyết pháp, nên ta
nói là “như Phật không hai”. Quý vị không giảng lầm kinh
giáo, bất luận quý vị nói cạn hay sâu, nói dài, nói ngắn,
nhất định khế cơ khế lý, trên khế hợp lý được chứng
bởi chư Phật, dưới khế hợp căn cơ chúng sanh đáng độ.
Đó là bản lãnh của Phật, ta cũng phải học theo. Quý vị
hãy suy nghĩ: Tự hành hóa tha, năm dài tháng chầy thành thục,
chẳng phải là háo cường háo thắng trong một thời gian ngắn
mà hòng thành tựu, không có đạo lý ấy đâu. Bởi thế,
đối với một điểm này, quý vị nhất định phải cảm
kích người hộ pháp. Sở dĩ tôi cảm kích Hàn Quán Trưởng
vì bà giúp tôi suốt cả ba mươi năm. Ba mươi năm giúp tôi
có cơ hội ngày ngày lên đài giảng, đó chính là chân chánh
hộ pháp. Do đó, chúng tôi cảm kích, chúng tôi được thành
tựu như thế này. Nếu không có ba mươi năm ngày ngày giảng
kinh, dễ hòng thành tựu ư? Ba mươi năm, đúng là như người
ta thường nói “bà giúp tôi lên bậc Thượng Tọa rồi bèn
tịch”. Chúng tôi vĩnh viễn ghi nhớ, vĩnh viễn ôm lòng báo
ân, dùng cách nào để báo ân? Dùng thành tích của chính mình
để báo đáp; ngoài cách ấy ra, không cách gì báo đáp được.
Nay đã hết giờ rồi!
*
Chư
vị đồng học!
“Danh
Văn Phật”
“Danh
xưng (tức danh hiệu của Ngài) vang khắp mười phương, biểu
thị Ngài là con mắt của trời người, giống như Quán Âm,
Phổ Hiền, các tổ sư trong nhà Phật”. Phương dưới nêu
tên sáu vị Phật nhằm biểu thị nền giáo dục của đức
Phật thạnh hành trong thế gian, giúp hết thảy chúng sanh phá
mê khai ngộ, cầu sanh Tịnh Độ. Vì sao phá mê khai ngộ phải
cầu sanh Tịnh Độ? Có đạo lý đấy! Có thật sự giác ngộ
quý vị mới cầu sanh Tịnh Độ. Nói cách khác, bất luận
quý vị tu học pháp môn nào, dẫu công phu giỏi đến mấy,
đắc tam-muội, minh tâm kiến tánh, nhưng nếu không cầu sanh
Tịnh Độ, quý vị sẽ không thật sự triệt ngộ. Người
thật sự triệt để giác ngộ không ai không cầu sanh Tịnh
Độ. Quý vị thấy bậc Địa Thượng Bồ Tát trong kinh Hoa
Nghiêm, Thập Địa Bồ Tát từ đầu đến cuối không rời
niệm Phật, thật sự giác ngộ, triệt để giác ngộ. Đầu
- cuối: Đầu là bậc Sơ Địa, Cuối là Đẳng Giác, tổng
cộng mười một địa vị. Trong mười một địa vị ấy,
không vị nào không niệm A Di Đà Phật, không vị nào không
cầu sanh Tịnh Độ. Văn Thù, Phổ Hiền nêu gương! Hai vị
thượng thủ trong hội Hoa Nghiêm bày đầu, phát nguyện cầu
sanh Tịnh Độ! Do đây biết rằng: Chân chánh giác ngộ, triệt
để giác ngộ, không ai không phát tâm cầu sanh Tịnh Độ!
Danh
Văn Phật đương nhiên không ngoại lệ. Ở đây, danh hiệu
Phật tượng trưng cho con mắt của trời - người. Thiên -
nhân tượng trưng cho ba đường lành trong lục đạo, có huệ
nhãn, có khả năng phân biệt đúng - sai, tà - chánh, lợi -
hại. Trong các pháp thế gian, xuất thế gian, niệm Phật cầu
sanh Tịnh Độ thù thắng bậc nhất, thù thắng không gì sánh
bằng, sao không tuyển chọn pháp môn này? Quán Âm Bồ Tát
là vị thượng thủ Bồ Tát của Tây Phương Cực Lạc thế
giới, Phổ Hiền Bồ Tát là vị thượng thủ Bồ Tát trong
pháp hội của Tỳ Lô Giá Na Phật nơi Hoa Tạng thế giới,
các tổ sư đại đức trong nhà Phật phát nguyện cầu sanh
Tịnh Độ rất nhiều. Danh hiệu mấy vị Phật này đều là
Phật pháp thạnh hành trong thế gian, hiển thị tình trạng
hưng vượng. Vị Phật thứ ba là:
Danh
Quang Phật.
“Biểu
thị đại trí tùy diễn, pháp âm xa nghe, có thể khiến cho
chúng sanh phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui”. Trong đức
hiệu của Phật có một chữ Danh nhằm bao hàm mật nghĩa!
Mật nghĩa ấy chính là dạy chúng ta chấp trì danh hiệu, nhất
tâm bất loạn, tâm không điên đảo, quyết định vãng sanh.
Quang biểu thị trí huệ. Vì thế, danh hiệu này biểu thị
trí huệ viên mãn, hằng thuận chúng sanh, ứng theo căn cơ
mà bố thí; “Tùy” là tùy thuận chúng sanh, tùy thuận căn
tánh, tùy lòng chúng sanh ưa thích, tùy thuận phương thức
sanh sống hiện tại của chúng sanh mà vì họ diễn nói. Bởi
thế, Phật giáo hóa chúng sanh hết sức sống động, tùy thời,
tùy chỗ mà biến hóa, điều này rất giống với việc dạy
học của thế gian. Ví như một đứa trẻ, tùy theo độ tuổi
của nó, tuổi lớn thì trí huệ cũng tăng trưởng, kinh nghiệm
cũng tăng trưởng. Thầy dạy nó nhất định phải tùy theo
độ tuổi, tùy theo trí huệ, tùy theo kinh nghiệm của nó mà
không ngừng điều chỉnh tài liệu giảng dạy, điều chỉnh
phương pháp dạy dỗ. Tuyệt đối chẳng thể dạy nó bằng
một khóa trình hễ đã soạn thành thì bất biến, không phải
như vậy! Dẫu cho việc dạy học thời cổ, đúng là từ nhỏ
(lúc mới sáu bảy tuổi) liền dạy nó đọc Tứ Thư, Ngũ
Kinh, đến năm bảy tám mươi tuổi tóc râu bạc trắng vẫn
đọc Tứ Thư Ngũ Kinh, tài liệu giảng dạy không thay đổi;
nhưng quý vị phải hiểu: Trong phương pháp dạy học, đối
với việc giải thích, nhận hiểu, vận dụng tài liệu giảng
dạy, đúng là phải thay đổi theo từng độ tuổi. Kinh điển
Phật giáo cũng giống như thế. Từ lúc quý vị mới học
Phật dạy quý vị đọc kinh, cho đến một trăm tuổi vẫn
là đọc một bản kinh đó, nhưng có thể nói là quý vị lãnh
hội sai khác, mỗi năm không giống nhau, mỗi tháng khác nhau.
Đem những ý nghĩa quý vị đã thể hội từ kinh sách áp dụng
vào cuộc sống thực tại, áp dụng vào công việc, áp dụng
trong cách xử sự, đãi người, tiếp vật, dẫn dắt chúng
sanh phá mê khai ngộ trong đời này, lìa khổ được vui. Chẳng
những dẫn dắt một đời lại còn dẫn dắt đời đời kiếp
kiếp trong mai sau, kinh điển chẳng thể nghĩ bàn! Bởi thế,
phải biết tùy cơ diễn nói!
“Pháp
âm xa nghe”, phàm phu chúng ta chẳng dễ gì hiểu nổi chuyện
“pháp âm xa nghe” này. Hiện tại khoa học kỹ thuật phát
đạt, chúng ta có thể dùng kỹ thuật khoa học để chuyển
hình ảnh, âm thanh thành sóng điện từ. Người ở phương
xa thâu được sóng điện từ ấy, lại chuyển nó thành hình
ảnh, âm thanh, nên sẽ thấy được, nghe được. Nay nhờ máy
truyền hình, máy phát thanh, mạng Internet nên hình ảnh, âm
thanh đều có thể thấy được. Pháp âm xa nghe! Nhưng thật
ra, chúng ta mê mất tự tánh nên tác dụng đức năng của
tự tánh chẳng hiện tiền, bởi thế các nhà khoa học dùng
máy móc, dùng khí cụ để hỗ trợ chuyển biến. Chứ trên
thực tế, kinh Phật dạy chúng ta, không cần phải nhờ vào
bất cứ máy móc nào, tự bản thân chúng ta có năng lực.
Sắc tướng, âm thanh, ý niệm, tạo tác của chúng ta trong
khoảng sát-na tợ hồ đồng thời trọn khắp pháp giới. Chúng
ta phải hiểu đạo lý, chân tướng sự thật này. Nếu sự
thấy - nghe - hay - biết của chúng ta chẳng trọn khắp hư
không pháp giới, quý vị hãy nghĩ xem, lẽ nào chúng ta lại
có thể khởi tác dụng cảm ứng đạo giao với chư Phật,
Bồ Tát?
Tâm
tánh Phật, Bồ Tát trọn khắp hư không, pháp giới, tâm tánh
của hết thảy chúng sanh cũng trọn khắp hư không pháp giới.
Vì thế, nói trên mặt tâm tánh thì không hai, không khác, tự
- tha bất nhị; chẳng những chúng sanh và Phật không hai, mà
chúng sanh và hết thảy hữu tình, vô tình chúng sanh cũng không
hai! Từ kinh Hoa Nghiêm, chúng ta hãy chú tâm thể hội, quán
sát sẽ thấy vũ trụ là một thể, hễ một thể thì quyết
định chẳng thể chia cắt! Nay nói từ cái thân người của
chúng ta đây thì tất cả hết thảy khí quan nơi thân người,
các tế bào đều là một thể, thế nhưng cái một thể ấy
lại có thể chia cắt, hiện tại có thể dùng thủ thuật
ngoại khoa để chia cắt. Vũ trụ một thể là Pháp Thân, Pháp
Thân chẳng thể chia cắt. Bởi vậy, nếu muốn tỷ dụ thì
nói thật ra, chẳng có một vật nào có thể dùng để sánh
ví cho thích hợp cả; tỷ dụ chỉ có thể mường tượng,
tương tự; chắc chắn không có cách nào sánh ví cho thật
phù hợp được.
Như
vậy, thấy - nghe - hay - biết trọn khắp pháp giới, hư không
giới, nhân vì chúng ta có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước
nên năng lực ấy bị chướng ngại, chứ năng lực ấy không
hề bị hoại mất. Khi nào quý vị trừ được chướng ngại
ấy, năng lực sẽ khôi phục hiện tiền. Nói “khôi phục”
cũng không thích đáng! Khôi phục là phải mất đi rồi có
lại được thì mới gọi là khôi phục; chứ về căn bản,
năng lực ấy không hề bị mất đi, chỉ bị chướng ngại
mà thôi! Dẫu bị chướng ngại, năng lực vẫn khởi tác dụng
y như cũ, chẳng qua nó khởi tác dụng nhưng chúng ta không
cảm nhận được. Chướng ngại là như vậy đó, chướng
ngại sự cảm nhận của chính chúng ta là vì vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước chưa thể buông xuống được! Nói
chung, phải hiểu rõ: Quả thật pháp âm có thể xa nghe.
“Có
thể khiến cho chúng sanh phá mê khai ngộ, lìa khổ được
vui”. Đây là âm thanh thù thắng, phần trên gọi là “âm
thanh tối thù thắng!” Thế nhưng, nói thật ra, mê hay ngộ
là do chính mình. Người hiểu và người không hiểu khác biệt
rất lớn; bởi vậy, tổ sư đại đức trong Tông Môn, Giáo
Hạ nhà Phật thường trắc nghiệm học trò: “Ngươi hiểu
ư?” Câu này ý nghĩa rất sâu xa, sâu rộng vô tận. “Ngươi
hiểu ư?”, nếu quả thật hiểu, phàm tất cả tướng đều
là Thật Tướng; tất cả âm thanh đều là Phật âm, hiểu
là như vậy đó! Hiểu là giác ngộ. Nếu như mê thì cảnh
giới bên ngoài, cảnh giới được tiếp xúc bởi sáu căn
sẽ được gọi là “sáu trần”!
Trần
là gì? Trần là bất giác, Trần là mê hoặc, Trần là ô nhiễm,
đó gọi là “sáu trần”. Sau khi giác ngộ thì không gọi
là sáu trần mà gọi là “sáu tánh”, mắt thấy Sắc Tánh,
chứ không gọi là Sắc Trần. Như vậy, chưa hiểu thì mắt
thấy Sắc Trần, tai nghe Thanh Trần; còn nếu giác ngộ thì
mắt thấy Sắc Tánh, tai nghe Thanh Tánh, thấy - nghe - hay - biết
đều là tánh, minh tâm kiến tánh! Căn tánh Năng Kiến (chủ
thể nhận biết) của sáu căn và sáu tánh (sắc, thanh, hương,
vị, xúc, pháp là sáu tánh), của cảnh giới Sở Kiến (bị
nhận biết), Năng - Sở là một không hai. Vì thế, ông Âu
Dương Cánh Vô nói Phật pháp không phải là triết học. Trong
triết học, Năng và Sở là hai; trong Phật pháp, Năng và Sở
là một, không hai. Ý nghĩa này rất sâu.
Tánh
Thấy và Sắc Tánh là một tánh. Quý vị thường nghe nói đến
Phật Tánh, Pháp Tánh, ở đây quý vị sẽ hiểu rất rõ ràng:
Mắt thấy Sắc, mắt và căn tánh là Phật Tánh; còn cái sắc
tướng, sắc tánh được quý vị thấy đó chính là Pháp Tánh.
Nếu như mê thì căn chẳng được gọi là Căn Tánh, mà gọi
là Nhãn Thức, những gì ở bên ngoài được thấy bởi mắt
sẽ gọi là Sắc Trần, không gọi là Sắc Tánh. Mê một thì
mê hết thảy, mê nơi chính mình nên cũng mê nơi cảnh giới
bên ngoài. Mê nơi chính mình là chuyển Tánh Thấy thành Nhãn
Thức, đó là mê vậy! Tánh Thấy chuyển thành Nhãn Thức thì
cảnh giới bên ngoài cũng bị chuyển theo, y báo chuyển theo
chánh báo; Sắc Tánh bên ngoài bị chuyển thành Sắc Trần,
cảnh tùy tâm chuyển. Từ chỗ này, ta có thể hiểu hết sức
rõ ràng thế nào là Phật tánh, thế nào là Pháp Tánh? Phật
Tánh có thể biến, có giác và mê; Pháp Tánh thì không, Pháp
Tánh chuyển theo Phật Tánh. Phật Tánh là chánh báo, Pháp Tánh
là y báo; y báo hoàn toàn chuyển theo chánh báo.
Chánh
báo giác ngộ thì chính là như Giao Quang đại sư đã nói trong
sách Lăng Nghiêm Chánh Mạch; Sư giảng rất hay: “Bỏ Thức
dùng Căn”. Bỏ Thức dùng Căn là chuyển Thức thành Trí,
Pháp Tướng Tông gọi là “chuyển Thức thành Trí”. Chuyển
thì có chuyển trên mặt Nhân và chuyển nơi mặt Quả. Trong
tám thức thì thức thứ sáu và thức thứ bảy chuyển nơi
Nhân, năm thức đầu và thức thứ tám chuyển nơi Quả. Quý
vị hiểu rõ thì sẽ biết mình phải dụng công như thế nào.
Năng lực mạnh nhất của thức thứ sáu tức Ý Thức là phân
biệt, năng lực mạnh nhất của thức thứ bảy tức Mạt
Na Thức là chấp trước. Vậy thì chúng ta phải chuyển chúng
bằng cách nào? Không chấp trước hết thảy pháp thế gian
hay xuất thế gian, không chấp trước là chuyển Mạt Na Thức
thành Bình Đẳng Tánh Trí. Không phân biệt hết thảy pháp
thế gian và xuất thế gian nữa, không phân biệt sẽ chuyển
thức thứ sáu thành Diệu Quán Sát Trí. Phải chuyển từ chỗ
ấy. Còn như thức thứ tám và năm thức trước quý vị không
cần phải bận tâm, hai thứ đó sẽ chuyển theo. Thức thứ
tám và năm thức trước thảy đều bị chuyển cả, liên đới
chuyển theo.
Người
tu hành bất luận tu học một pháp môn nào, trong kinh Phật
thường nói là “tác quán”. Danh từ “Chỉ Quán” chỉ
chung cả tám vạn bốn ngàn pháp môn, kể cả pháp môn Tịnh
Độ Niệm Phật. Trong nhà Phật, danh từ ấy là nguyên tắc
chỉ huy tổng quát, là tổng cương lãnh, bất luận Đại Thừa
hay Tiểu Thừa, Hiển Giáo, Mật Giáo, Tông Môn, Giáo Hạ. Chẳng
hạn như chúng ta niệm một câu A Di Đà Phật có phải là
tu Chỉ Quán hay không? Phải! Lúc niệm một câu A Di Đà Phật
buông xuống vạn duyên, trong tâm chỉ có một câu A Di Đà
Phật, ngoại trừ Phật A Di Đà ra, ý niệm gì cũng không có,
buông ý niệm xuống chính là Chỉ. Một câu Phật hiệu rõ
ràng, minh bạch là Quán. Vì thế, trong kinh Đại Tập, đức
Thế Tôn nói Trì Danh Niệm Phật là “thậm thâm thượng diệu
thiền”, Thiền chính là Chỉ Quán. Vì sao nói niệm Phật
không phải là Tu Thiền? Đúng là đang tu Thiền ấy chứ, đã
thế lại còn tu Thượng Thượng Thâm Diệu Thiền, rất ít
ai biết!
Chỉ
là gì? Là dứt vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, khiến
cho chúng ngừng dứt. Trong giáo pháp Đại Thừa thường gọi
Chỉ là tam-muội, tâm địa vĩnh viễn giữ chân thành, thanh
tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi là Chỉ! Quán là cảnh
giới bên ngoài rõ ràng, minh bạch; trong - ngoài đều rõ ràng;
trong là căn tánh của sáu căn, ngoài là Pháp Tánh. Minh tâm
kiến tánh! Minh tâm là năng kiến, chân tâm; Kiến tánh: Không
một pháp nào chẳng do tánh biến hiện, “duy tâm sở hiện,
duy thức sở biến”, tâm thức là pháp tánh. Vì thế, đạt
đến cảnh giới này, những cảnh giới mà sáu căn đối ứng,
tiếp xúc chỉ là pháp tánh mà thôi! Giống như cổ đức thường
ví von: “Dùng vàng làm đồ vật, món món đều là vàng”.
Vàng ròng chế làm ngàn vạn món vật, lấp lánh chóa mắt
để mình đến ngắm nghía, thưởng thức. Quý vị nhìn xong,
thấy chúng là gì? Chỉ là hoàng kim mà thôi! Ngoại trừ hoàng
kim ra, không có gì khác hết.
Vì
vậy, người thật sự minh tâm kiến tánh thấy sơn hà, đại
địa, hư không, pháp giới, hết thảy chúng sanh, nếu quý
vị hỏi người ấy thấy gì ư? Những gì họ thấy là một
tánh; giống như những thứ lấp lánh chóa mắt ta thấy toàn
là vàng ròng, khắp tất cả là vàng ròng! Ngoại trừ hoàng
kim ra không còn có gì khác. Lúc kiến tánh, ngoại trừ pháp
tánh ra, cái gì cũng không có! Pháp tánh là thanh tịnh, pháp
tánh là bình đẳng, pháp tánh không sanh diệt, pháp tánh không
đến đi: “Sanh ra từ nơi nào, diệt tận ngay nơi đó”,
“Tùy tâm chúng sanh, ứng theo khả năng nhận biết của họ”.
Quý vị thấy mấy câu kinh Lăng Nghiêm giảng rất rõ ràng.
Chân tướng vũ trụ vạn hữu đấy! Phá mê khai ngộ rồi
sẽ lìa khổ được vui, tất cả hết thảy khổ đều chẳng
có; chẳng bị hết thảy khổ, đó chính là lạc!
Trong
kinh Di Đà, đức Thế Tôn cho biết vì sao thế giới ấy gọi
là Cực Lạc? Phật giảng rất hay, chúng sanh trong thế giới
ấy không có các nỗi khổ, không phải chịu khổ, nên gọi
là thế giới Cực Lạc. Thế giới này của chúng ta khổ nhiều
vui ít, vui cũng là khổ, chẳng phải là chân lạc! Vì thế,
đức Phật nói Vui là Hoại Khổ, không khổ không vui là Hành
Khổ; nói cách khác, cái khổ bao trùm mọi trạng huống cuộc
sống của chúng sanh trong thế giới Sa Bà. Bọn họ chịu khổ,
tam giới đều khổ. Thế giới Cực Lạc không khổ, không
có Khổ Khổ, Hoại Khổ, Hành Khổ; vì thế gọi là Cực Lạc.
Chúng ta hiểu rõ, hiểu thông suốt, hiểu rành rẽ ý nghĩa
thô thiển ấy thì sẽ chết lòng trọn ý niệm Phật cầu
sanh Tịnh Độ, đã thế còn khuyên người. Bất cứ chướng
nạn nào cũng không chướng ngại được quý vị. Vì sao? Thật
sự hiểu rõ, hiểu minh bạch chân tướng sự thật. Danh Quang
Phật là như vậy đó. Tiếp theo là vị Phật:
Đạt
Ma Phật
Đạt
Ma là dịch âm tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Pháp.
Chúng ta nói Phật - Pháp - Tăng: Phật Đà, Đạt Ma, Tăng Già
đều là dịch âm tiếng Phạn, bởi thế Đạt Ma được dịch
là Pháp, “biểu thị đại pháp được truyền thừa từ chính
đức Phật”. Pháp môn ấy sâu rộng vô tận, không pháp nào
có thể sánh bằng. Quý vị học đại pháp ấy từ đâu? Ta
học từ thầy, thầy là ai? Thầy là Thích Ca Mâu Ni Phật,
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Đương nhiên chúng ta được
thừa hưởng từ từng đời tổ sư truyền xuống, chúng ta
mới biết. Tuy là tổ sư dạy cho chúng ta, nhưng kinh chúng
ta đọc được đây là do chính miệng Như Lai nói ra, tổ sư
đại đức lại giới thiệu cho mình. Chúng ta mở kinh ra chính
là được truyền thừa trực tiếp từ đức Phật.
Huống chi Thích Ca Mâu Ni Phật trước khi nhập Niết Bàn dạy
chúng ta Tứ Y Pháp (bốn phép nương tựa). Phật không còn
trong thế gian, chúng ta phải nương tựa vào đâu? Phật rất
từ bi, dạy cho chúng ta Tứ Y Pháp:
1)
Thứ nhất là “y pháp bất y nhân” (nương vào pháp chứ
không nương theo người). Pháp là gì? Pháp là kinh điển. Y
Pháp, Pháp do đức Phật nói, trực tiếp nương theo lời Phật
giảng. Quý vị thấy đó, thật phi phàm! Chúng ta là truyền
nhân trực tiếp của Thích Ca Như Lai. Đặc biệt là Tịnh
Độ Tông, Tịnh Độ Tông không có tổ sư, tổ sư Tịnh Độ
Tông do đâu mà có? Do người đời sau đặc biệt tôn kính
những vị tu Tịnh Độ ấy, xưng tụng các Ngài là tổ sư.
Bởi thế, tổ sư Tịnh Độ Tông khác với tổ sư các tông
phái khác. Hết thảy tông phái khác là một thầy truyền cho
một trò, vì thế có nhiều đời. Tịnh Độ Tông không có,
Tịnh Độ Tông là dân tuyển, chẳng phải là một người
truyền cho một người: Sơ Tổ không truyền cho Nhị Tổ, Nhị
Tổ cũng chẳng truyền cho Tam Tổ. Người đời sau công nhận
thành tựu của vị ấy: Đối với sự tu trì Tịnh Độ, đối
với việc hoằng dương Tịnh Độ Tông, Ngài có cống hiến
đặc biệt thù thắng, bèn tôn Ngài làm tổ sư. Bởi thế,
cho đến nay, Tịnh Độ Tông chỉ có mười ba đời, tức là
chỉ có mười ba vị. “Y pháp bất y nhân”, trực tiếp truyền
thừa.
Chúng
ta trực tiếp truyền thừa giáo huấn của Thích Ca Mâu Ni Phật,
ba kinh một luận của Tịnh Độ Tông, sau này tổ sư đại
đức thêm vào hai loại, nay là năm kinh một luận, đủ rồi,
đó là trực tiếp truyền thừa! Chúng ta phải hiểu ý nghĩa
này, quả thật trong Tịnh Độ Tông không có Tổ Sư truyền
cho nhau từng đời, chúng ta chớ hiểu lầm. Vì sao? Mỗi một
người tu Tịnh Độ đều là trực tiếp truyền thừa, thật
chẳng thể nghĩ bàn! Ai nấy đều là đệ tử Thích Ca Mâu
Ni Phật, là đích truyền! Bởi thế, pháp môn này hết thảy
chư Phật khen ngợi, hết thảy Bồ Tát, thiện thần ủng hộ,
không phải là không có lý! “Kham làm khuôn phép cho chúng
sanh”, được truyền thừa từ chính đức Phật, kham làm
khuôn phép cho chúng sanh, làm mô phạm cho hết thảy chúng sanh,
“tức là Tứ Y Pháp trong nhà Phật vậy”. Chúng tôi cũng
nêu Tứ Y Pháp ở đây, “y pháp bất y nhân”.
2)
Thứ hai, “y nghĩa bất y ngữ” (nương theo nghĩa chứ không
nương theo lời nói). Hiện nay có rất nhiều người phê bình
bản hội tập, họ không hiểu câu này trong pháp Tứ Y. Nếu
hiểu được câu này, vấn đề sẽ được giải quyết ngay.
Cốt sao ý nghĩa minh bạch, lời lẽ nhiều thêm một câu hay
bớt đi một câu, nói sâu, nói cạn, nói dài, nói ngắn cũng
không ăn nhằm gì. Chỉ cần đúng ý nghĩa là được! Nêu
ra pháp Tứ Y này, đức Phật biết rõ ràng minh bạch rằng
trong tương lai kinh giáo lưu thông đến mười phương, ngôn
ngữ, văn tự mỗi địa phương bất đồng, nhất định phải
thông qua phiên dịch. Phiên dịch rồi, những bản dịch ấy
có được đại chúng tin tưởng hay không thì dùng pháp Tứ
Y này để luận. Bản dịch không có vấn đề: Hễ ý nghĩa
đúng thì ngôn ngữ bất đồng không quan hệ gì, ý nghĩa phải
đúng! “Y nghĩa bất y ngữ”.
Bản
hội tập là [tập hợp những ý quan trọng được] tuyển
chọn từ năm bản dịch gốc, chúng ta đem bản hội tập đối
chiếu với những bản dịch gốc, không sai ý nghĩa, y nghĩa
bất y ngữ, chúng ta thấy tin tưởng được, có thể sử dụng
được. Nếu phản đối tức là không hiểu Tứ Y Pháp. Nói
thật ra, nay có rất nhiều người nghi hoặc những bản phiên
dịch không đáng tin, nhất định phải dựa vào nguyên bản
Phạn văn. Theo như chúng tôi biết về kinh điển nguyên bản
bằng Phạn văn thì lúc đức Phật còn tại thế, không dùng
văn tự để ghi chép. Sau khi đức Phật diệt độ, A Nan nhắc
lại, đại chúng ghi chép. Rốt cuộc là đáng tin tưởng hay
không? Nếu thật sự tìm lấy bản rốt ráo tin tưởng được,
thì không phải do người thân cận Thích Ca Mâu Ni Phật ghi
chép lại là không được. Từ miệng người này truyền sang
người khác, ai nấy đều hoài nghi, trở thành vấn đề nghiêm
trọng. Tất cả hết thảy kinh, ngay cả nguyên bản Phạn văn
cũng bị đánh dấu hỏi, không đạt được lợi ích thù thắng!
3)
Thứ ba, “y liễu nghĩa, bất y bất liễu nghĩa” (nương theo
kinh liễu nghĩa, không nương vào kinh không liễu nghĩa). Liễu
nghĩa là gì? Bất liễu nghĩa là gì? Ở đây, tôi chỉ ra nguyên
tắc cho quý vị: Liễu nghĩa, bất liễu nghĩa mỗi người
mỗi khác. Khế cơ, khế lý chính là liễu nghĩa; khế lý không
khế cơ là bất liễu nghĩa. Khế cơ không khế lý cũng là
bất liễu nghĩa. Liễu nghĩa nếu giảng đến rốt ráo là
nếu chúng ta nương vào pháp môn này, trong một đời chúng
ta có thể khai ngộ, có thể chứng quả, có thể vượt thoát
lục đạo, vượt thoát mười pháp giới, thì đối với ta,
pháp môn ấy là liễu nghĩa! Rốt ráo liễu nghĩa thì phải
giúp cho chúng ta trong một đời này chứng được Phật quả
viên mãn rốt ráo. Đấy chính là liễu nghĩa bậc nhất trong
các liễu nghĩa. Ngàn kinh vạn luận bày trước mặt ta, chính
mình chọn lựa, pháp môn nào, bộ kinh nào đối với chúng
ta là rốt ráo liễu nghĩa? Chính là bộ kinh nào, pháp môn
nào mà chúng ta y theo đó trong một đời này sẽ chắc chắn
thành tựu Phật quả viên mãn. Quý vị hãy suy nghĩ, ngoại
trừ kinh A Di Đà và kinh Vô Lượng Thọ, muốn trong một đời
sẽ chứng đắc Phật quả viên mãn rốt ráo là chuyện không
thể được. Nói cách khác, kinh Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ
là liễu nghĩa rốt ráo!
Kinh
Di Đà từ xưa đến nay có hai bản dịch, hiện chúng ta đang
đọc tụng là bản dịch của La Thập Đại Sư . Bản dịch
của Huyền Trang là dịch thẳng. Hai loại bản dịch như vậy.
Nay chúng tôi đều in cả hai bản dịch, quý vị có thể tham
khảo, có thể so sánh. Từ cổ đến nay, tổ sư đại đức,
rất nhiều người học đều chọn lấy bản dịch của ngài
La Thập, quả thật đây là bản dịch hay. Còn như kinh Vô
Lượng Thọ, từ mục lục Đại Tạng Kinh, chúng tôi thấy
thời cổ kinh này được phiên dịch đến mười hai lần.
Từ đời Hậu Hán đến Nam Tống, trong vòng một trăm lẻ
tám năm, tổng cộng mười hai lần phiên dịch, nhưng có những
bản đã bị thất truyền, có bảy bản trong số ấy bị thất
truyền, nay chỉ còn lưu truyền năm bản, chúng ta gọi là
“năm bản dịch gốc”(ngũ chủng nguyên dịch). Đối chiếu
những bản ấy thấy sự khác biệt rất lớn, vì thế dựa
trên tình hình này cổ đức nhận định: Nhất định Thích
Ca Mâu Ni Phật phải giảng kinh Vô Lượng Thọ nhiều lần,
chứ không chỉ một lần. Nếu chỉ một lần, cùng một bản
gốc được nhiều người dịch thì chỉ đại đồng tiểu
dị, không thể sai biệt quá lớn như thế được! Rõ ràng
nhất là phần phát nguyện của A Di Đà Phật, quý vị thấy
đó, trong năm bản dịch, hai bản ghi bốn mươi tám nguyện,
hai bản ghi hai mươi bốn nguyện, một bản ghi ba mươi sáu
nguyện, sai biệt rất lớn như thế. Nếu chỉ là một bản
gốc (tức nguyên bản tiếng Phạn) thì chẳng thể có dị
biệt lớn như vậy được. Vì vậy, từ ba loại sai biệt
ấy, cổ đức phán đoán đương thời Thích Ca Mâu Ni Phật
giảng kinh Vô Lượng Thọ tối thiểu ba lần. Chúng ta không
được đọc những bản thất truyền, nhưng nói chung kinh này
phải được giảng từ ba lần trở lên! Thích Ca Mâu Ni Phật
giảng kinh chưa bao giờ giảng trùng lặp, thế nhưng kinh Vô
Lượng Thọ lão nhân gia giảng tối thiểu ba lần, nên bộ
kinh này rất đáng được coi trọng!
Do
vậy, hội tập là chuyện cần thiết! Người hội tập sớm
nhất là ông Vương Long Thư, người đời Tống. Bản hội
tập của ông Vương Long Thư mang tên Đại A Di Đà Kinh, đã
được lưu trong Càn Long Đại Tạng Kinh, tức là đã nhập
tạng rồi. Trong tác phẩm chú giải A Di Đà Kinh là A Di Đà
Kinh Sớ Sao, Liên Trì đại sư có trích dẫn kinh Vô Lượng
Thọ. Quá nửa những đoạn kinh Vô Lượng Thọ được trích
dẫn được lấy từ bản hội tập của ông Vương Long Thư.
Do đây ta biết, tổ sư đã khẳng định [giá trị của bản
hội tập]! Tổ sư chẳng trích dẫn từ bản dịch gốc mà
dùng bản hội tập là có lý. Nếu nay chúng ta hoài nghi bản
hội tập thì là sai lầm quá sức, chính là không hiểu được
pháp Tứ Y!
4)
Pháp cuối cùng trong Tứ Y Pháp là “y trí bất y thức”.
Đây chính là điều chúng ta hiện đang nói: Chẳng riêng việc
học Phật mà ngay cả trong xử sự đãi người tiếp vật
bình thường, cũng phải dựa theo Lý Trí, chẳng được làm
việc theo tình cảm. Nay ta gọi Thức là “dùng cảm tình để
xử sự”. Xử sự theo cảm xúc thường mắc sai lầm, quý
vị phải dựa vào Lý Trí, học Phật lại càng phải làm như
thế. Ở đây, đức Phật dạy chúng ta: Phải dùng trí huệ
để phán đoán, chọn lựa, chẳng thể xử sự theo cảm tình.
Xử sự theo cảm tình sẽ tạo thành sai lầm. Ở đây, chúng
tôi có chú thích một câu như sau: “Khuy Cơ pháp sư soạn
Thông Tán Sớ để làm gương cho mạt thế”. Làm gương như
thế nào? Chính là “y trí bất y thức”. Khuy Cơ đại sư
là đồ đệ của Huyền Trang đại sư, ngài soạn Thông Tán
Sớ để chú giải kinh A Di Đà, không dùng bản dịch của
thầy mình. Nói theo lẽ thường, bản dịch của thầy mình
không sai, lẽ ra ta phải dùng bản dịch của thầy mình để
soạn chú giải, Ngài lại không làm vậy, mà dùng bản dịch
của ngài Cưu Ma La Thập, chẳng dùng bản dịch của thầy
mình. Vậy có phải là bất kính đối với thầy hay chăng?
Không phải! Bản dịch của ngài La Thập rất hay, đã được
lưu truyền rộng rãi toàn quốc, cớ gì phải dùng bản dịch
của thầy mình, rất ít người đọc đến bản dịch ấy.
Khi Ngài chú giải kinh này, dù là tình thầy trò, vẫn chẳng
thể nhiễu loạn sự thấy nghe của người tu hành. Ngài chọn
dùng bản dịch của Cưu Ma La Thập, Huyền Trang đại sư thầy
Ngài cũng không trách móc, không nói: “Ngươi phản thầy nghịch
đạo!” Không hề có! Huyền Trang đại sư có nhã lượng
như vậy, Khuy Cơ đại sư làm như vậy không sai, đó chính
là “y trí bất y thức”, nương theo lý trí chứ không dùng
cảm tình. Thầy trò họ nêu gương cho chúng ta. Bây giờ đã
hết giờ rồi!
*
Chư
vị đồng học!
Xin
xem tiếp vị Phật thứ năm trong đoạn thứ sáu của phần
Mười Phương Phật.
Pháp
Tràng Phật.
“Biểu
thị vì chúng sanh làm con mắt chọn lựa pháp, dựng tràng
pháp, lập tông chỉ, giáo hóa thạnh hành, phước độ chúng
sanh”. Đó là ý nghĩa của danh hiệu này. Tràng là một loại
cờ xí, chúng ta thường nói là “tiêu chí” (biểu hiệu).
Tràng có hình tròn, hơi giống cái ống thông gió ở phi trường,
hơi giống hình dạng ấy. Tại Trung Quốc và Nhật Bản, chúng
ta thường thấy những cái tràng tại các tự viện lớn. Thời
cổ, khi chùa chiền giảng kinh thuyết pháp, nay chúng ta gọi
là “lên lớp”, làm thế nào để thông tri cho người khác
biết mà đến nghe, đến cùng học tập? Phật pháp là đạo
thầy trò, người Tàu hết sức coi trọng thầy, hết sức
tôn kính. Bởi vậy “chỉ văn lai học, vị văn vãng giáo”
(chỉ nghe nói đến học, chứ chưa nghe nói phải đi dạy).
Học là cầu học, mình phải đến chỗ thầy để cầu học,
chứ thầy không phải đến dạy cho mình. Thầy hết sức khiêm
hư, trọn chẳng dám chèo kéo mình, nay ta nói “chiêu sinh”,
chứ xưa kia không dám bảo là chiêu sinh. Nói “chiêu sinh”
là rất cuồng vọng, anh có đức hạnh gì mà dám dạy người
khác, người càng đạo đức lại càng khiêm hư. Làm cách
nào đây? Bèn dùng tràng phan, dùng phương pháp ấy thông báo
cho mọi người biết: Bữa nay trong đạo tràng của chúng tôi
có giảng kinh, dạy học, chúng tôi treo tràng trên cột cờ.
Mọi người xa gần trông thấy cột cờ của đạo tràng có
treo cái tràng hình tròn, liền biết hôm nay pháp sư sẽ giảng
kinh thuyết pháp, người thích nghe kinh sẽ tự đến. Vì thế
không chiêu sinh, mà là thông tri, quý vị thích thì đến, không
thích thì thôi. Dùng phương pháp ấy, hoàn toàn tự động,
khiêm hư mà!
Trong
thời đại hiện nay lại khác hẳn, trong thời đại hiện
tại đã bước vào giai đoạn kỹ thuật cao, chúng ta không
dùng tràng nữa, bởi với khoảng cách rất gần dùng tràng
thì được, chứ với khoảng cách xa không hiệu quả. Nay chúng
ta đem thời gian, băng tần giảng kinh in ra như quảng cáo để
giới thiệu cùng hết thảy đại chúng, khiến cho mọi người
đều biết. Nếu quý vị thích nghe kinh, thích nghe kinh gì,
vào lúc nào, ở làn sóng nào thì đến lúc đó quý vị tự
mở lên, hoàn toàn có cùng ý nghĩa với tràng phan.
Vì
thế, giới thiệu cho người khác nghe kinh, nay có thể không
cần phải gởi tặng kinh sách, băng thâu hình, băng thâu âm,
đều không cần đến nữa, tốt nhất là in những tấm cạc
(card), to bằng tấm danh thiếp, in những thông tin [giảng kinh]
trên đó, tặng cho bạn bè thân thiết và người quen biết.
Họ thích nghe thì dựa theo những thông tin đó, vào lúc nào,
trên làn sóng nào, họ đều có thể thâu được, hoặc là
nối vào Internet, hoặc là xem t