THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
.
TRUNG PHONG TAM THỜI HỆ NIỆM
Pháp Sự Toàn Tập Giảng Ký
Lão pháp sư Thích Tịnh Không giảng tại Úc Châu Tịnh Tông Học Viện
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
Chư vị đồng học! 

      Xin hãy xem phần “Dạy hành giả chấp trì danh hiệu để lập hạnh”. Phần giảng nghĩa chia thành chín đoạn, hôm nay chúng ta xem đến đoạn cuối cùng. Đoạn thứ chín là “trùng khuyến phát nguyện” (lại khuyên phát nguyện). Chúng tôi đọc kinh văn một lượt: 
 

      “Xá Lợi Phất! Ngã kiến thị lợi, cố thuyết thử ngôn, nhược hữu chúng sanh văn thị thuyết giả, ưng đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ”.

      (Này Xá Lợi Phất! Ta thấy điều lợi ấy nên nói như thế này: Nếu có chúng sanh nghe nói như vậy, hãy nên phát nguyện sanh về cõi nước ấy). 
 

      Kinh văn nói “ta thấy điều lợi ấy”, “là do chính mắt đức Phật thấy, thấu hiểu rốt ráo”. Đây không phải là cái thấy của người tầm thường, mà là do chính Thích Ca Mâu Ni Phật đích thân thấy. Điều ấy rất quan trọng, chúng ta chớ thô tâm đại ý đọc lướt qua. Điều Thích Ca Mâu Ni Phật trông thấy được, nói thật ra, chúng ta chẳng thể thấy được, điều ấy lợi ích hết sức lớn lao! Chúng ta coi tiếp đoạn văn [trong sách Yếu Giải], điều lợi ích ấy rốt cuộc chính là gì? “Điều lợi ích ấy là hoành siêu ngũ trược, thanh tịnh trọn vẹn bốn cõi, thẳng đến địa vị Bất Thoái, đấy là lợi ích chẳng thể nghĩ bàn”. Lợi ích phi thường như vậy đó! Trong hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian, không có gì hơn được lợi ích này, vô lượng vô biên pháp môn của hết thảy chư Phật trọn khắp pháp giới hư không giới đều chẳng thể sánh bằng lợi ích này. Chúng ta được hạnh ngộ pháp này thật chẳng phải là chuyện dễ! 

Thứ nhất là “hoành siêu ngũ trược”, quý vị phải nhớ kỹ điều này. Bất luận tu học pháp môn nào khác cũng chẳng “hoành xuất” (vượt ra theo chiều ngang); nói cách khác, quý vị tu học nhất định phải tiến từng bước một, giống như đi học: Tiểu học, sơ trung, cao trung, đại học, nghiên cứu sinh, tiến lên dần dần. Mỗi một giai đoạn gồm một năm học, hai năm học, ba năm học, bốn năm học. Phương pháp ấy gọi là “thụ xuất” (vượt ra theo chiều dọc), khó lắm! Rất ư là khó! Nay pháp môn này thật đặc biệt, hoành xuất! Nay chúng ta đang mang thân người, phía trên người là cõi trời, tức Dục Giới thiên. Quý vị phải biết Dục Giới Thiên gồm Tứ Vương Thiên, Đao Lợi Thiên, Dạ Ma Thiên, Đâu Suất Thiên, tiến lên từng bước một. Nay chúng ta không cần phải thế, từ nhân đạo vượt ngang ra khỏi tam giới, thoát khỏi lục đạo luân hồi, có đạo lý như vậy chăng? Vì thế, pháp môn này được gọi là pháp khó tin, thật sự khó tin lắm! 

Siêu việt đến đâu? Phi phàm lắm! Giống như đi học, nay chúng ta đang học tiểu học, tiểu học là cấp một, không cần học cấp hai, chúng ta thoát ra bèn học ngay nghiên cứu sinh. Không phải là không có người như vậy, nhưng hiếm lắm, phải là đứa trẻ thiên tài kia! Thế nhưng chúng ta không phải là thiên tài, chẳng phải là thiên tài mà vẫn vượt cấp được, đã vượt cấp vào học ngay ban nghiên cứu sinh mà còn thật sự thành tựu nữa kia, chẳng thể nghĩ bàn! Bởi thế, câu “ta thấy điều lợi này” hết sức quan trọng. Vì sao? Phật phải nêu chứng minh cho chúng ta thấy; nếu không phải do chính Phật nói, chúng ta sẽ chẳng thể tin nổi pháp môn này. Vì sao? Vì không thể dựa trên lý luận được. Nay chúng ta tin A Di Đà Phật, nhưng thật ra trên mặt lý luận để y cứ chúng ta vẫn hồ đồ, vẫn không biết. Thế nhưng chúng ta tin lời Thích Ca Mâu Ni Phật chắc chắn chân thật, “Như Lai là bậc nói chân thành, nói lời thật, nói đúng đắn, không nói lời gạt gẫm, không nói dối”. Chắc chắn Ngài không lừa dối chúng ta, chúng ta nghe lời Ngài, thực hành theo lời Ngày dạy, chắc chắn không lầm. Thế là tốt! Thật sự có phước báo, người như vậy thật sự có thiện căn, người như vậy thật sự phi phàm, chư Phật, Bồ Tát đều tán thán, hoành siêu mà! 

Sanh về Tịnh Độ, “viên tịnh bốn cõi”, Viên là viên mãn, Tịnh là thanh tịnh, bốn cõi là Phàm Thánh Đồng Cư Độ, Phương Tiện Hữu Dư Độ, Thật Báo Trang Nghiêm Độ, Thường Tịch Quang Tịnh Độ; quý vị sanh về Tịnh Độ viên chứng bốn cõi ấy. Chứng được một bèn chứng hết thảy, sanh vào Đồng Cư là sanh cõi Phương Tiện, là sanh vào Thật Báo, là sanh vào Tịch Quang, có đạo lý như vậy chăng? Chính Thích Ca Mâu Ni Phật thấy như thế, Thích Ca Mâu Ni Phật vì chúng ta chứng thực, Thích Ca Mâu Ni Phật khuyên dạy chúng ta, chúng ta cứ tin tưởng đi theo lão nhân gia là không sai. Nếu cứ thuận theo thành kiến, phiền não, tập khí của chính mình, cứ suy cái này nghĩ cái nọ là sai lầm quá đỗi rồi! Đúng là chẳng thể nghĩ bàn! 

“Thẳng đến địa vị Bất Thoái”: Không vòng vèo, quanh co, thẳng chóng chứng đắc ba thứ Bất Thoái. Viên chứng ba thứ Bất Thoái là địa vị nào vậy? Đẳng Giác Bồ Tát! Do đọc kinh Hoa Nghiêm, chúng tôi biết Sơ Trụ Bồ Tát thuộc Viên Giáo chứng được ba thứ Bất Thoái: Vị Bất Thoái, Hạnh Bất Thoái, Niệm Bất Thoái, nhưng chưa viên mãn. Cho đến Thập Địa Bồ Tát vẫn chưa thể nói là viên mãn, bởi còn có địa vị cao hơn. Do vậy, quý vị phải hiểu: Viên chứng ba thứ Bất Thoái chính là Đẳng Giác Bồ Tát, là địa vị Bổ Xứ. Những ai viên chứng? Quán Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Văn Thù, Phổ Hiền, Di Lặc Bồ Tát. Những vị ấy viên chứng ba thứ Bất Thoái, Đẳng Giác Bồ Tát mà! Pháp Vân Địa Bồ Tát vẫn chưa thể nói là Viên, còn kém một phần nên chưa Viên, gần như Viên, vẫn còn thiếu một chút. Thật ra, không có cách gì để diễn tả sự lợi ích ấy cả, người gặp được pháp môn này cực may mắn! 

“Là lợi ích công đức chẳng thể nghĩ bàn”; trong kinh nói “bất khả tư nghị công đức chi lợi!” có nghĩa là như vậy đó. Chúng ta phải suy nghĩ mấy câu nói này, phải nghĩ cho thông, phải nghĩ cho thấu, rồi mới hạ quyết tâm dũng mãnh tinh tấn, thành tựu viên mãn quyển kinh này, danh hiệu này; chẳng còn lãng phí quá nhiều tinh thần, thời gian la cà nơi các kinh điển thuộc vô lượng pháp môn khác, không cần dùng đến chúng nữa, chỉ pháp này là đủ thành công rồi. 

Lại xem tiếp tiểu đoạn thứ hai: “[Nói] lợi ích này còn có nghĩa là lúc lâm chung, tâm không điên đảo”. Lợi ích này càng giảng càng thù thắng, càng giảng càng chẳng thể nghĩ bàn. Quý vị phải nhớ kỹ: Lợi ích chẳng thể nghĩ bàn là lúc người ấy lâm chung, tâm không điên đảo, lúc lâm chung rất sáng suốt, tỉnh táo, không mê hoặc tí ti nào thì người ấy mới có thể tin, có thể nguyện, có thể niệm, có thể cầu sanh Tịnh Độ, A Di Đà Phật bèn đến tiếp dẫn người ấy. Đó chính là nguyện thứ mười tám trong bốn mươi tám nguyện. Trong bốn mươi tám nguyện, Phật giáo Nhật Bản bảo nguyện mười tám này trọng yếu nhất. Lúc lâm chung sáng suốt, tỉnh táo; nếu lâm chung hôn mê điên đảo là rồi! Dẫu trợ niệm cũng không chắc được vãng sanh. Bởi thế, từ cổ đến nay, chẳng những các vị đại đức nhà Phật, ngay cả bậc đại đức thế gian đều khuyên người trong một đời nên tu phước, tu phước chớ nhận hưởng, phước báo dành cho người khác hưởng thì phước báo của chính mình càng lớn. Lúc nào mình mới hưởng phước? Chỉ một dịp thôi: Khi lâm chung thần trí sáng suốt, ở đây nói là “tâm không điên đảo”, các phước báo khác đều chẳng cần đến, để người khác hưởng thụ, mình chịu khổ chút không sao cả!  

Trước kia, tôi học với thầy Lý mười năm, cả đời thầy Lý sống hết sức đạm bạc. Ăn cơm hai bữa ư, không hề! Suốt đời thầy Lý chưa từng ăn hai bữa, quý vị chưa trông thấy sẽ không biết đâu! Thầy tự nấu cơm, tự chăm sóc mình, đến chín mươi tuổi vẫn tự chăm sóc mình, nêu tấm gương rất tốt cho chúng ta trong thời kỳ Mạt Pháp. Trong thời Mạt Pháp, phong hóa thế gian mỗi ngày mỗi tệ, con người không biết hiếu thuận cha mẹ, không biết tôn sư; nếu quý vị không biết tự chăm sóc mình làm sao quý vị sống như thế được! Thầy Lý ăn cơm từ một cái niêu nhỏ, mang theo cái niêu nhỏ. Thầy thường ăn mì, ở Đài Loan gọi là “tuyến miến”, còn Trung Hoa Đại Lục gọi là “quải miến”, sợi mì rất nhỏ, rất dễ nấu. Nước đun sôi rồi, thả mì và vài cọng rau vào, lại đun cho sôi, đậy nắp lại, tắt lửa, ủ mấy phút là xong, đơn giản như vậy đó. Mỗi bữa ăn nấu chừng bao lâu? Mười lăm phút! Giải quyết chuyện ăn uống như vậy đó. 

Thầy không có chén, dùng niêu làm chén luôn; bởi thế rửa sạch hết sức thuận tiện. Trước kia, tôi học theo lão nhân gia, tôi học được, sống như thế không ít năm, cho đến khi ở nhà Hàn Quán Trưởng tôi mới thôi không tự nấu cơm. Trước khi ở nhà Hàn Quán Trưởng, tôi tự nấu cơm lấy, lúc ấy còn dùng bếp dầu (có lẽ người lớn tuổi mới biết, người trẻ tuổi không biết đâu!) rất thuận tiện, không dùng bếp củi mà dùng bếp dầu. Thầy Lý sống suốt đời như thế, trước khi bếp dầu được phát minh thì dùng bếp than. Bởi lẽ thầy biết tiếc phước, thầy có thâu nhập tương đối khá; lúc ấy, thầy muốn thuê một hai người đầy tớ là chuyện dễ dàng; thầy thừa sức nhưng không làm thế, tự mình chăm sóc mình, sống hết sức tiết kiệm, một ngày xài hai đồng, cả tháng tiêu hết sáu mươi đồng thôi! Kiếm được bao nhiêu tiền đều đổ vào sự nghiệp từ thiện, cụ xướng xuất kiến tạo Đài Trung Liên Xã, dựng thư viện Từ Quang, lập y viện Bồ Đề, mọi người quyên tặng, thầy đứng ra lo liệu. Đạo tràng thành lập xong, khi đã đi vào nề nếp cụ bèn giao cho người khác. Mời làm Đổng Sự Trưởng hay Chấp Sự, cụ đều từ khước, giao cho người khác làm. Không mảy may có tâm tham, không mảy may lưu luyến. Do cụ tu phước nên lúc lâm chung đích thực tâm không điên đảo, ra đi sáng suốt, tự tại. Trước lúc mất còn dặn dò đồ đệ, lời dặn rất sáng suốt, minh bạch như thế này: “Thế gian đã loạn rồi, Phật, Bồ Tát, thần tiên giáng hạ cũng không cứu được. Chúng ta chỉ có một con đường sống là niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ mà thôi!” Di ngôn tối hậu của lão nhân gia là như vậy đó; quý vị thấy cụ sáng suốt, minh bạch như thế đó. Với tình hình xã hội hiện thời, chúng ta thấy rất rõ. Cụ đã mất mười mấy năm rồi. 

Lúc cụ bảo xã hội loạn, tánh tỉnh giác của chúng tôi vẫn chưa cao! Nay nghĩ lại mấy câu ấy, đúng là cụ thấy rất rõ ràng, rất thấu triệt! Bởi thế câu nói sau đây quan trọng hơn bất cứ gì khác: “Lúc lâm chung, tâm không điên đảo”, đó là điều kiện trọng yếu để quý vị được vãng sanh hay không. Vì sao lúc lâm chung người ta lại bị điên đảo? Vì chẳng biết tu phước; nhất là con người hiện thời chỉ biết hưởng phước. Kể ra đạo tràng này không sai lầm, vẫn còn bố thí cúng dường; nay ở địa phương này, chúng ta phải bố thí cúng dường cho đại chúng xã hội, phải thường mang cái tâm ấy, phải có nguyện vọng ấy, phải có hành động ấy, chứ chẳng mong cầu chính mình hưởng thụ. Tự mình phải biết tiết kiệm, phải biết đoạn ác, phải biết tu phước, hy vọng khi mình lâm chung có thể thật sự tâm không điên đảo. 

Đoạn kế tiếp nói: “Nhưng tự lực tu hành trong uế độ, cái ải sanh tử là khó đắc lực nhất”. Câu này nói thật đấy, phải thường tự răn nhắc mình. Hiện tại trược uế đã đến mức cùng cực, con người hoàn toàn trái nghịch đạo làm người, chẳng biết hiếu thuận, không biết tôn kính, kiêu căng, ngạo mạn, tưởng mình đúng, tưởng mình siêu phàm! Khởi tâm động niệm không gì không cạnh tranh, đấu tranh, tổn người lợi mình; đó là căn nguyên của hết thảy động loạn. Bởi vậy, tham sống sợ chết, lúc lâm chung tay chân luống cuống. Người nghiệp chướng nặng, lúc tuổi cao khó tránh khỏi căn bệnh nay gọi là bệnh si ngốc nơi người già. Chứng si ngốc ấy chính là điên đảo, hồ đồ. Người vừa bị điên đảo, hồ đồ liền bị phiền phức ngay, lưu chuyển theo nghiệp chướng, chẳng thể tự làm chủ. Quý vị phải hiểu: Vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới là chính mình có thể làm chủ. Tôi muốn đến thế giới Cực Lạc, tôi muốn thân cận A Di Đà Phật, tự mình có thể làm chủ. Nếu tự mình không làm chủ được thì vẫn phải luân hồi lục đạo. Luân hồi lục đạo là bị nghiệp lực lôi dẫn, một đời này thiện nhiều ác ít, lúc lâm chung không có ác niệm, sẽ theo nghiệp lực sanh vào ba đường lành. Nếu ác nhiều thiện ít, sự ác bao trùm ý niệm, ý niệm ác nhiều, ý niệm thiện ít, sẽ vào ba ác đạo. Bởi thế chính mình phải thường suy nghĩ đời sau mình sẽ sanh vào đường nào, điều này hết sức quan trọng. Đời sau sanh vào đường nào đừng hỏi ai khác, chính mình phải biết rõ ràng, minh bạch! 

Mỗi ngày tụng kinh sáng tối (điều này chúng tôi đã nói quá nhiều rồi), khóa sáng là để tự cảnh tỉnh mình; khóa tối là phản tỉnh, kiểm điểm, sám hối, sửa lỗi. Chúng ta có làm được như thế hay không? Phản tỉnh, kiểm điểm chính là phát hiện những lỗi lầm của chính mình, sám hối là sửa đổi những lầm lỗi của chính mình, đó chính là quý vị thật sự tu công phu đoạn ác tu thiện. Công phu có thành tích thì lúc lâm chung hiệu quả sẽ hiện tiền, thần trí sáng suốt, tâm không điên đảo, ý chẳng tham chấp. Lúc ấy, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ sẽ cảm ứng đạo giao; dưới đây chúng tôi sẽ nêu gương một vị pháp sư cận đại: 

Viên Anh pháp sư dốc lòng nơi Tịnh Độ, tự xưng là Tam Cầu Đường Chủ Nhân: cầu phước, cầu huệ, cầu sanh Tịnh Độ. Pháp sư suốt đời giảng kinh hoằng pháp, soạn chú giải cũng rất phong phú, Ngài có bộ Viên Anh Pháp Sư Pháp Vựng được lưu truyền trong thế gian. Suốt đời lão nhân gia chuyên công nơi kinh Lăng Nghiêm. Từ bài tựa cuốn Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa, ta thấy năm hai mươi lăm tuổi, Ngài phát tâm học Lăng Nghiêm, đến năm bảy mươi lăm tuổi mới hoàn thành tác phẩm Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa, suốt cả năm mươi năm! Ngài làm gương cho chúng ta thấy: thâm nhập một môn, trường thời huân tu mới có được thành tựu như thế. Từ cổ đến nay, chú giải kinh Lăng Nghiêm hết sức phong phú. Xưa kia, lúc tôi theo học với thầy Lý ở Đài Trung cũng là học kinh Lăng Nghiêm; khi đó, tôi sưu tập được hơn ba mươi bản cổ chú. Thầy Lý dạy tôi: Tuy những bản cổ chú hay, nhưng không dễ hiểu cho lắm. Đại khái, những bản chú giải kinh Lăng Nghiêm xưa nay, Viên Anh pháp sư đều đã đọc qua; nói cách khác, cuốn Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa của Ngài chính là tác phẩm tổng hợp toàn bộ chú giải cổ kim. Thầy Lý chỉ tôi: Anh hãy khởi đầu từ bộ Giảng Nghĩa của Viên Anh pháp sư, đúng là đối với người mới học tác phẩm này rất thuận tiện. Tiêu biểu nhất trong số những bản chú giải cổ là bản Trường Thủy Sớ đời Tống, bản Lăng Nghiêm Chánh Mạch của Giao Quang đại sư vào cuối đời Minh. Hai bản ấy đại biểu cho những bản chú giải cổ kim, thầy Lý khuyên tôi nên tham khảo! 

Lăng Nghiêm khai trí huệ! Viên Anh pháp sư thông minh, ở Thượng Hải ngài có một đạo tràng gọi là Viên Minh Giảng Đường. Viên Minh là kinh Lăng Nghiêm, hai mươi lăm môn viên thông trong kinh Lăng Nghiêm, Ngài dùng ý nghĩa ấy nên đặt tên là Viên Minh Giảng Đường. Thập niên 90 tôi đến thăm Thượng Hải, bái phỏng pháp sư Minh Dịch, đến viếng đạo tràng của Viên Anh lão pháp sư, thấy tiểu giảng đường của Ngài không lớn, Tam Cầu Đường cũng không to, không lớn bằng giảng đường của chúng ta; ước chừng bằng một phần ba giảng đường hiện tại của chúng ta mà thôi, có thể chỉ bằng một phần tư, cho nên không lớn lắm. Tôi ước tính chừng năm, sáu chục người là ngồi chật giảng đường; rất nhỏ! Năm sáu chục người là ngồi kín hết. Hai bên tượng Phật treo một đôi liễn do chính pháp sư viết, trên liễn viết “cầu phước, cầu huệ, cầu sanh Tịnh Độ”. Ngài gọi Phật đường ấy là Tam Cầu Đường. “Phước”: tâm không điên đảo là phước; “Huệ”: niệm Phật vãng sanh là huệ, trí huệ chân thật. Bởi thế, trong câu cuối cùng Ngài nói rất rõ ràng: “Cầu sanh Tịnh Độ”. Ngài là bậc chuyên gia cận đại về kinh Lăng Nghiêm đấy! 

Kinh Lăng Nghiêm và pháp môn Tịnh Độ có mối quan hệ gì, chúng ta phải hiểu! Câu hỏi này tôi đã gặp vào năm thứ hai sau khi tôi thọ giới, [lúc ấy] tôi đảm nhiệm vai trò thư ký trong giới đàn chùa Lâm Tế. Một ngày nọ, có mấy vị đồng học dẫn một vị giáo sư của họ, vị này là giáo sư tại trường đại học Đài Loan (ông ta là một vị hòa thượng Nhật Bản) đến gặp tôi. Tôi tiếp họ trong khách đường, vị giáo sư ấy nêu câu hỏi: “Kinh Lăng Nghiêm và Tịnh Độ có mối quan hệ gì?” Bởi ông ta hỏi tôi học kinh gì, lúc đó nhằm lúc tôi đang học kinh Lăng Nghiêm, nhưng tôi tu pháp môn Tịnh Độ. Vì thế, ông ta mới nêu câu hỏi ấy; ông cảm thấy rất ngạc nhiên, bởi lẽ mọi người cho rằng kinh Lăng Nghiêm chỉ liên quan đến Thiền, đến Mật. Năm hội thần chú Lăng Nghiêm chính là Mật mà! Ông cho rằng Lăng Nghiêm không dính dáng gì đến Tịnh Độ cả. Tôi cũng chẳng trả lời mà hỏi ngược lại: “Đại Thế Chí và Quán Thế Âm có liên quan gì đến Tịnh Độ chăng?” Tôi vừa hỏi vậy, ông ta hiểu liền. Tây Phương Tam Thánh ngoại trừ A Di Đà Phật thì chẳng phải là Quán Âm, Thế Chí hay sao? Phương pháp tu hành chủ yếu trong kinh Lăng Nghiêm chính là phương pháp của Quán Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát; thuộc phần nào vậy? Chính là đoạn kinh văn nói về Hai Mươi Lăm Pháp Viên Thông. Trong hai mươi lăm pháp môn có nêu những pháp thông thường, có pháp môn đặc biệt. Trình bày như thế nào? Theo cách liệt kê. Các đồng học học kinh giáo phải lưu ý: Trình bày theo thứ tự thuận chính là những pháp môn thông thường; nếu không trình bày theo thứ tự thuận thì pháp môn ấy là đặc biệt. Hai mươi lăm pháp đó từ đâu có? Quý vị phải hiểu: Đó chính là những phương pháp tu hành Thích Ca Mâu Ni Phật đã chỉ dạy cho các đồ đệ. 

Vô lượng vô biên pháp môn quy nạp thành hai mươi lăm loại, trong mỗi một loại chọn ra một pháp làm đại biểu. Hai mươi lăm pháp ấy quy nạp thành sáu Căn, sáu Trần, sáu Thức, ba lần sáu là mười tám, gọi là Thập Bát Giới. Sau đấy lại thêm vào Thất Đại: Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Kiến, Thức, đó chính là Thất Đại. Thập Bát Giới cộng Thất Đại thành hai mươi lăm. Đó là theo thứ tự thuận. Pháp tu của Quán Thế Âm Bồ Tát là Nhĩ Căn trong sáu căn, chiếu theo thứ tự thuận thì đáng lẽ phải nêu thành pháp thứ hai, như quý vị thấy đó: Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý, phải trình bày như vậy. Nêu sáu Căn đầu tiên rồi đến sáu Trần, rồi đến sáu Thức; cuối cùng là bảy Đại là thứ tự thuận. Nhưng pháp Nhĩ Căn của Quán Thế Âm không theo thứ tự thuận, lại rút ra trình bày cuối cùng, xếp thành pháp thứ hai mươi lăm. Trong bảy Đại, pháp tu Đại Thế Chí Bồ Tát thuộc về Căn Đại, theo thứ tự Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Kiến, Thức thì Kiến là Căn Đại. Bởi vậy, pháp tu của Đại Thế Chí Bồ Tát đáng lẽ phải kể là pháp hai mươi ba, nhưng pháp tu của Ngài không được trình bày theo thứ tự thuận, [đáng lẽ] pháp cuối cùng phải là Thức Đại của Di Lặc Bồ Tát; không theo thứ tự này mà xếp pháp Căn Đại sau [pháp tu của] Di Lặc Bồ Tát. Vì thế, trong hai mươi lăm pháp Viên Thông có hai pháp đặc biệt là pháp môn Niệm Phật của Đại Thế Chí Bồ Tát và pháp môn Nhĩ Căn của Quán Thế Âm Bồ Tát. Tôi vừa phân tích như thế, vị giáo sư Nhật bèn phục. Viên Anh pháp sư dạy tông Lăng Nghiêm, hạnh tại Di Đà là chánh xác, hoàn toàn chánh xác! 

Ở đây, chúng ta phải chú ý chuyện “cầu phước”. Muốn cầu phước phải tu phước, có tu phước mới cầu phước được. Cầu phước mà không biết tu phước thì phước từ đâu có? Có phước lại còn phải có huệ, nếu không có huệ thì phước báo ấy không phải là chân phước, trong kinh Phật thường gọi là “phước báo hữu lậu thế gian”. Có phước mà không có huệ chỉ sợ phước báo càng lớn, tạo nghiệp chướng càng nặng. Phước báo nhỏ hại người ít, phước báo lớn hại người nhiều, hậu quả chẳng thể tưởng tượng được nổi. Một người không có phước báo trong một đời này không làm được chuyện lành lớn, cũng chẳng tạo sự ác lớn. Nếu phước báo lớn thì phải có trí huệ. Ai tu đại phước báo, đại thiện, mà không có trí huệ sẽ tạo chuyện đại ác. Vì thế, cầu huệ hết sức quan trọng, thậm chí so với cầu phước, cầu huệ càng trọng yếu hơn. Phật dạy người phước huệ song tu, cầu huệ đừng quên cầu phước, cầu phước chẳng được quên cầu huệ, phước huệ song tu! Đức Thế Tôn vì chúng ta nêu gương, vì chúng ta hiển thị: Mục tiêu chung cục phải thuần chánh, tức là “quyết định cầu sanh Tịnh Độ”. Chiếu theo kinh Vô Lượng, kinh A Di Đà, biến những đạo lý được giảng trong những kinh ấy thành tư tưởng, kiến giải của chính mình, áp dụng những giáo huấn trong kinh điển vào cuộc sống thường nhật của chính mình, đó là “tu chân” đấy! Có như vậy chuyện cầu sanh Tịnh Độ mới hòng nắm chắc! 

Lại xem tiếp điều thứ ba: “Đừng nói là những kẻ tu hành ngoan bướng, trí huệ ngông cuồng đến cửa ải sanh tử không làm được gì, hoàn toàn vô dụng; ngay cả những người chứng ngộ sâu xa, tu tập tiềm dưỡng đích xác nếu còn chút phần mảy may tập khí chưa trừ thì khó tránh khỏi thuận theo nghiệp lực nào mạnh mà đọa lạc”. Đây là Ngẫu Ích đại sư cảnh tỉnh chúng ta, dạy chúng ta phải thời thời khắc khắc tỉnh giác cao độ. “Ngoan tu cuồng huệ” (tu hành ngoan bướng, trí huệ ngông cuồng) chính là nói đến những kẻ không thật sự tu hành trong Tông môn, Giáo Hạ, trong xã hội hiện tại hết sức phổ biến. “Đến cái ải sanh tử, chẳng làm được gì, hoàn toàn vô dụng”: Điều này nay chúng ta thấy rất rõ ràng, minh bạch; quý vị chỉ cần lưu tâm một chút mà thôi, sẽ thấy người xuất gia hiện tại, nói thật ra, xuất gia còn kém cả tại gia. Người tu hành tại gia lúc lâm chung tâm không điên đảo, tôi thấy không ít; còn người xuất gia lúc lâm chung tâm không điên đảo cả đời tôi chưa gặp được một ai! 

Những người xuất gia tôi được gặp lúc mất đều điên đảo, mê hoặc; trái lại, chính tôi đã gặp mấy vị cư sĩ tại gia lúc mất sáng suốt, tỉnh táo, không điên đảo. Bởi thế, câu nói “chẳng làm được gì, hoàn toàn vô dụng” là đúng, không sai chút nào. Câu kế tiếp “ngay cả người chứng ngộ sâu xa” nhằm chỉ những người thật sự chân tu, là người xuất gia tốt lành trong nhà Thiền; “tu tập tiềm dưỡng đích xác” là những người trì giới rất thanh tịnh, rất nghiêm nhặt, nghiêm trì giới luật. Mấy câu tiếp đó của đại sư rất quan trọng: Nếu anh vẫn còn một điểm tập khí chưa đoạn hết, tập khí gì vậy? Tập khí tham - sân - si - mạn còn chưa đoạn hết, chỉ e đến lúc lâm chung, tập khí đó sẽ hiện tiền, vẫn phải theo nghiệp lực đọa lạc. “Khó tránh khỏi thuận theo nghiệp lực nào mạnh”, nghiệp lực mạnh, đạo lực yếu; nói cách khác, “nghiệp nào mạnh lôi trước”, vẫn phải lưu chuyển theo nghiệp lực, rất đáng sợ! Không đùa đâu, quan hệ đến tiền đồ đấy! 

Bởi lẽ, đối với những người thật sự tu hành, tập khí lớn nhất là ngạo mạn, cho là “ta tu hành, các ngươi không tu, các ngươi thua ta”. Kiêu căng, ngạo mạn, không để ai vào mắt, thường phê bình người không tu hành, không trì giới. Đấy chính là tập khí hiện tiền, chẳng phải người thật sự tu hành. Vì sao kẻ đó không thật sự tu hành? Lục Tổ đại sư đã nói rồi: “Nếu người thật tu hành, không thấy lỗi thế gian”. Kẻ nào từ sáng đến tối thấy lỗi người khác thì kẻ đó chính người được đại sư Ngẫu Ích nói đến ở đây. A! Nay đã đến giờ rồi! 

 

*

 

      Chư vị đồng học! 

      Xin tiếp tục xem tiểu đoạn thứ tư: 

      “Ngài Vĩnh Minh nói: ‘Mười người chín lạc lối, ấm cảnh chợt hiện tiền, chớp mắt đi theo nó’, đúng là lời nói lạnh buốt xương”. Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư là người thời Nam Bắc Triều, theo sử truyện ghi chép, Ngài là A Di Đà Phật hóa thân tái lai, cũng nhằm biểu diễn cho chúng ta thấy. Trong thời ấy, Thiền phong rất thạnh, bởi thế lão nhân gia thị hiện trước hết học Thiền, đại triệt đại ngộ nơi Thiền. Thị hiện đại triệt đại ngộ xong, hồi quy Tịnh Độ, tu Tịnh. Vì thế, vào thời đó, lão nhân gia đề xướng Thiền Tịnh Song Tu, quý vị phải hiểu: Đó là nhằm khế hợp căn cơ người thời ấy. Vì thế, Ngài có bài Tứ Liệu Giản dạy chúng ta phân biệt pháp nào thù thắng, ba câu trên trích từ bài thứ nhất. Câu đầu tiên là “Có Thiền không Tịnh Độ”, mười người tu hành chín người đi lầm đường, vì sao? 

      Lúc lâm chung, “ấm cảnh hiện tiền”, tức lúc sắp mất, nếu Thiền không đắc lực, nói trắng ra phải Thiền làm sao mới đắc lực? Phải đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh mới là đắc lực. Không đạt đến triệt ngộ tức là chưa thể phá được một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân, vẫn phải theo nghiệp lực luân hồi. Đây cũng có nghĩa là quý vị tu Thiền đắc Thiền Định, nhưng không khai ngộ, đắc Thiền Định đã chẳng dễ dàng gì. Tùy theo công phu Thiền Định sâu hay cạn, quý vị sẽ thọ sanh nơi đâu? Đến Tứ Thiền Thiên. Nếu công phu càng sâu sẽ sanh lên Tứ Không Thiên, nhưng không ra khỏi luân hồi lục đạo, vẫn là lưu chuyển theo nghiệp lực. Quý vị sanh về Tứ Thiền Tứ Không Thiên, khi thọ mạng hết lại đọa lạc xuống, chuyện như vậy rất nhiều. 

      Đương thời, Thiền phong thạnh hành, Vĩnh Minh đại sư cũng không có cách nào dạy người ta bỏ Thiền tu Tịnh, dạy như vậy họ chẳng tiếp nhận. Bởi thế Ngài dạy họ “có Thiền, có Tịnh Độ”: tu Thiền kiêm tu Tịnh Độ; thật là khổ tâm. Công phu Thiền không đắc lực sẽ nhờ Tịnh mà đắc độ. Chúng ta nghe những lời ấy của đại sư, ngàn vạn phần chớ có Thiền Tịnh Song Tu, nếu không là lầm! Quý vị phải hiểu dụng ý Thiền Tịnh Song Tu của Ngài: Đối với những kẻ chẳng chịu bỏ tu Thiền, chẳng chịu hồi đầu, Thiền Tịnh Song Tu là nhằm dạy cho những người ấy! Đó không phải là chuyên tu Tịnh Độ. Chuyên tu Tịnh Độ thù thắng lắm, “không Thiền có Tịnh Độ, vạn người tu vạn người về”. Bởi thế, xem văn tự của cổ nhân phải hiểu: Ngài nói những lời ấy, viết lách như thế ấy là dành cho hạng người nào; dụng ý ở đâu? Nhất định phải hiểu cho rõ ràng, minh bạch thì chúng ta mới hòng thọ dụng. Nếu hiểu lầm, nghe lầm, đừng trách móc Ngài, Ngài đâu có lầm, lỗi tại chính mình mà! 

      Huống chi trong kinh Đại Tập, đức Thế Tôn đã dạy chúng ta một nguyên tắc chung: “Trong thời kỳ Chánh Pháp, Giới Luật thành tựu. Thời kỳ Tượng Pháp, Thiền Định thành tựu. Thời kỳ Mạt Pháp, Tịnh Độ thành tựu”. Nay chúng ta sanh nhằm thời Mạt Pháp, chiếu theo ghi chép của cổ nhân Trung Quốc, gần đây Ấn Quang đại sư và Đàm Hư lão hòa thượng đều chiếu theo những tài liệu của Trung Quốc cổ đại, Thích Ca Mâu Ni Phật nhập diệt đến nay đã hơn 3.020 năm. Nói cách khác, Chánh Pháp một ngàn năm, Tượng Pháp một ngàn năm, Mạt Pháp đã trải qua một ngàn năm rồi, nay đang mở đầu một ngàn năm thứ hai của thời Mạt Pháp. Mạt Pháp là một vạn năm; nói cách khác, thời Mạt Pháp hãy còn chín ngàn năm nữa. Rất nhiều người nói đến ngày Tận Thế, nhưng Phật pháp không nói đến ngày đó, Phật pháp chỉ nói đến Mạt Pháp. Mạt Pháp là pháp vận theo thông lệ có lên có xuống, có lúc cao trào, có lúc thoái trào, dẫu vào lúc cao trào vẫn khó thể sánh bằng Chánh Pháp, Tượng Pháp được; nhưng chuyện vãng sanh Tịnh Độ lại thù thắng, thật sự vượt cả những lúc cao trào trong thời Chánh Pháp, Tượng Pháp thì chỉ có mình pháp môn này. Pháp môn này thù thắng khôn sánh, chẳng thể nghĩ bàn nhất trong số những kinh Vãng Sanh chính là Di Đà Kinh Yếu Giải. Câu nói của Vĩnh Minh đại sư là lời cảm thán hết sức, các đồng học học Phật chớ coi thường pháp môn Tịnh Độ này. 

      Lại xem tiếp đoạn kế đó: “Tu hành chỉ có Niệm Phật là ổn thỏa, thích đáng nhất, tự có sức tịnh nghiệp tín nguyện trì danh, lại còn nhờ vào từ bi nguyện lực của Phật A Di Đà nên sự dụng công ấy quyết chẳng hư luống, Phật và thánh chúng hiện trước mặt vỗ về, chỉ dạy, nên được không điên đảo, tự tại vãng sanh!” Mấy câu này đều là lời thật, câu nào cũng đều là chân tướng sự thật. Nhất định phải hiểu ý nghĩa hai chữ “tu hành” cho thật rõ ràng, quyết chớ hàm hồ! Hành là hành vi, hành vi rất nhiều, đức Thế Tôn quy nạp thành ba loại lớn: ngôn ngữ nơi miệng, tức hành vi khẩu nghiệp; tạo tác nơi thân, tức hành vi thân nghiệp; ý niệm khởi diệt là hành vi nơi ý nghiệp. Hành vi rất nhiều, nói chung không ngoài ba loại trên. Vì sao? Chúng được gây tạo bởi thân - ngữ - ý! Hành vi là tạo tác, nhưng trong tạo tác có thiện, có ác; vì thế Phật dạy hàng sơ học chúng ta phải đoạn hành vi ác, phải học hành vi thiện, tức đoạn ác tu thiện. Phật dạy kẻ sơ học như vậy. 

      Nếu tu học nhất định có thành tựu thì đức Phật lại nâng tu hành lên một mức nữa: Thiện - ác đều là nhiễm, đều là nhiễm trước. Vì thế, đức Phật lại dạy chúng ta phải đoạn nhiễm, phải tu thanh tịnh. Cảnh giới ấy rất cao! Xa lìa hết thảy nhiễm ô, nhiễm ô là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Đoạn ác nhưng không chấp trước tướng đoạn ác, tu thiện không chấp tướng tu thiện. Vĩnh viễn giữ gìn thân tâm thanh tịnh, bình đẳng, đó chính là tịnh nghiệp! Thân tâm thanh tịnh, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, thưa cùng quý vị, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới phẩm vị khác biệt: Người đoạn ác tu thiện niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ thì sanh vào Phàm Thánh Đồng Cư độ. Vừa đoạn ác tu thiện lại vừa không chấp tướng thì hạng người như vậy thân tâm thanh tịnh, vãng sanh vào Phương Tiện Hữu Dư độ, sanh vào Thật Báo Trang Nghiêm độ, phẩm vị cao lắm! 

      Chúng ta tu Tịnh Độ không ít năm thì đương nhiên phải nâng cao cảnh giới thêm lên. Vì thế, trong mấy năm qua, chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh vấn đề “thuần tịnh, thuần thiện”, vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới sanh vào Thật Báo Trang Nghiêm độ, chứ không phải Phương Tiện Hữu Dư độ, chúng ta phải nỗ lực, tinh tấn không lười nhác nơi chuyện này. Vì thế, đại sư dạy chúng ta: “Tu hành chỉ có Niệm Phật là ổn thỏa, thích đáng nhất”. Tu tịnh nghiệp như thế nào? Dùng phương pháp Niệm Phật. Ý niệm khởi lên bèn thành “A Di Đà Phật”, bất kể là thiện niệm hay ác niệm, niệm vừa khởi lên bèn quy nạp vào A Di Đà Phật, A Di Đà Phật là thuần tịnh, thuần thiện, là ổn thỏa, thích đáng, đơn giản, dễ dàng, nhanh chóng, thành tựu cao nhất!

      Ở phần trên, tôi đã trình bày cùng quý vị lý luận làm căn cứ cho việc Niệm Phật rồi. Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, đức Thế Tôn đã nói: “Tâm này là Phật, tâm này làm Phật”, đó chính là lý luận làm căn cứ cho việc Niệm Phật. Chân tâm bản tánh của hết thảy chúng sanh và mười phương hết thảy chư Phật Như Lai không hai, không khác, cùng một chân tâm, cùng một bản tánh. Chân tâm bản tánh là thuần thiện, thuần tịnh, trọn chẳng có mảy may bất thiện xen tạp, không có mảy may bất tịnh xen tạp, thuần thiện thuần tịnh. Do vậy, quý vị vốn sẵn là Phật, tâm này là Phật. Kinh Hoa Nghiêm, kinh Viên Giác nói “hết thảy chúng sanh vốn đã thành Phật”, tức là nhìn từ góc độ này mà nói. Nay chúng ta tuy mê, nhưng mê cũng không sao, mê thì sao? Chân tâm bản tánh chúng ta không cải biến mảy may. Kinh Đại Thừa giảng rất nhiều về chân tâm bản tánh: không sanh diệt, không đến đi, không một, không khác, nên bảo là “không sanh, không diệt, không đến, không đi, không một, không khác, không phải có, chẳng phải không”. Đó là đặc tánh của nó, nhưng trong đặc tánh ấy vẫn có đủ linh minh giác tri. 

      Trong hội Lăng Nghiêm, đức Thế Tôn đã giảng cho chúng ta biết: Bản tánh đầy đủ “kiến văn giác tri”! Hư không, pháp giới, cõi nước, chúng sanh “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Kể cả hư không, pháp giới, hết thảy chúng sanh; những thứ ấy do đâu mà có? Do tâm hiện thức biến! Bởi vậy, lý thể của chúng là tâm tánh, tâm tánh đầy đủ linh tri. Do đây biết rằng: Hư không, thế giới, hết thảy vạn vật đều có linh tri; nói cách khác, đều có kiến văn giác tri, cũng có nghĩa là chúng có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có thể biết, chẳng những động vật có khả năng ấy mà thực vật cũng có, khoáng vật cũng có, hư không cũng có, chẳng thể nghĩ bàn! 

      Trong những năm vừa qua, tiến sĩ Giang Bản Thắng dùng phương pháp thực nghiệm khoa học để quan sát, ông phát hiện nước có khả năng thấy nghe hay biết. Mở rộng ra, ông quan sát rất nhiều loại thực vật, nhận thấy thực vật cũng thấy nghe hay biết. Ngay cả những vật dụng trong sanh hoạt thường nhật, thực phẩm cũng thấy, nghe, hay, biết. Cơm, mạn đầu, chuối, táo đều được thí nghiệm, chứng tỏ chúng thật sự thấy, nghe, hay, biết. Thấy - nghe - hay - biết là pháp tánh, do đâu mà có? Pháp nhĩ như vậy, nghĩa là chúng vốn sẵn là như vậy. Vì thế, nếu quán sát thí nghiệm sâu hơn thì bùn, cát, đá, đất đều thấy nghe hay biết. Đại khái, khó quan sát nhất là hư không, hư không cũng thấy nghe hay biết, không pháp nào chẳng thấy nghe hay biết. Vì thế, những điều kinh Đại Thừa nói quý vị phải tin sâu chớ ngờ vực, các nhà khoa học phát hiện những điều ấy rồi báo với quý vị, quý vị chẳng cảm thấy lạ lùng chút nào hết, quý vị chỉ cảm thấy: “Chuyện ấy bình thường! Kinh Phật đã nói rồi, các ông chỉ dùng phương pháp khoa học để chứng thực đó thôi, chúng vốn dĩ là như vậy, không lạ lùng chi hết!”

      Nếu chúng ta hiểu được đạo lý này thì quý vị mới hiểu Tịnh Độ và uế độ là như thế nào, Tịnh - Uế bất nhị! Tâm con người lành thì tất cả hết thảy vạn vật kết tinh đều lành. Tâm con người chẳng lành thì tất cả hết thảy vạn vật đều kết tinh không lành. Kinh Phật chẳng thường nói như thế này hay sao? “Cảnh tùy tâm chuyển!” Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật giảng: “Nếu có thể chuyển được vật thì giống với Như Lai”. Bởi thế, hết thảy vạn vật chuyển biến theo tâm tánh chúng ta, tâm ta thiện thì không một pháp nào chẳng thiện, toàn là thiện. Tâm ta bất thiện, hết thảy mọi pháp đều bất thiện. Vì sao có uế độ? Vì sao có tai nạn? Vì ý niệm bất thiện, nghiệp cảm bất thiện chiêu cảm, duyên do là như thế. Chúng ta muốn chuyển biến thế giới này không khó, chỉ cần chúng sanh sống trong thế giới này thật sự đoạn ác tu thiện thì tất cả hết thảy thiên tai nhân họa đều tiêu diệt, không còn nữa. Như vậy phải chuyển từ đâu? Chuyển từ tâm địa. Bao nhiêu năm qua thế giới bàn chuyện bảo vệ môi trường, tôi cũng đã nói khá nhiều lần: “Muốn bảo vệ môi trường thì phải bắt đầu từ đâu? Từ tâm địa!” Tâm tịnh thì hoàn cảnh sẽ thanh tịnh; tâm thiện thì hoàn cảnh bèn thiện. Cái tâm, cái ý niệm của chúng ta không thay đổi thì không cách gì thay đổi được hoàn cảnh, dù có đổi cũng không có hiệu quả gì! Phật dạy rất hay: “Hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh”. Dạy rõ ràng, minh bạch đến như vậy, cớ sao quý vị nghe chẳng hiểu? Vì sao chẳng chịu làm theo? Nói thật ra, chuyện này quan trọng hơn bất cứ gì khác, chớ nên xem thường!

      Vậy thì chúng ta cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, Tây Phương Cực Lạc thế giới do tịnh nghiệp của chúng ta thành tựu, cảm thành. Tâm chúng ta không thanh tịnh, hạnh không thanh tịnh sẽ chẳng thể sanh về Tịnh Độ! Bởi vậy, niệm Phật, niệm một câu danh hiệu là tịnh tâm, tịnh ý, tịnh hạnh. Thân - ngữ - ý đều thanh tịnh thì chuyện sanh về Tịnh Độ sẽ được thành tựu. Nếu miệng niệm Di Đà, trong tâm không thanh tịnh, khởi tâm động niệm đều là tham - sân - si - mạn, vẫn là phiền não tập khí, niệm Phật như thế sẽ chẳng thể vãng sanh. Cổ nhân bảo: “Miệng niệm Di Đà tâm tán loạn, rách hầu toạc họng uổng công thôi!” Vì sao? Thân - ngữ - ý không thanh tịnh, bởi vậy chẳng thể thành tựu. Quý vị học Phật, học pháp gì cũng không được. Trong sanh hoạt thường nhật vẫn là tâm tánh bộp chộp, xốc nổi, gặp chuyện không biết xử trí thế nào. Phiền não khởi hiện hành, chứ không phải trí huệ hiện hành, không sanh trí huệ chỉ sanh phiền não. Học Phật như vậy khó lắm! Học Phật chẳng thể thành tựu, chắc chắn vẫn bị chuyển theo nghiệp lực! 

      Nếu quý vị hỏi rốt cuộc là do nguyên nhân nào ư? Do thiện căn, phước đức, nhân duyên của mỗi cá nhân khác biệt; từ kinh nghiệm của chính tôi mà nói thì là do nghe kinh quá ít, bởi thế không giác ngộ, phiền não tập khí vẫn làm chủ y như cũ. Vì vậy, chúng ta phải thường suy nghĩ: Vì lẽ nào Thích Ca Mâu Ni Phật ngày ngày giảng kinh? Bốn mươi chín năm chưa từng gián đoạn một ngày nào. Vì sao phải ngày ngày giảng kinh? Chính là đau lòng rát miệng giúp cho quý vị giác ngộ, giúp quý vị quay đầu. Từ đâu quay đầu? Từ tập khí phiền não quay đầu lại, đừng nương theo tập khí phiền não cũ, nên tuân theo lời Phật, Bồ Tát răn dạy. Kinh điển chính là những răn dạy của Phật, Bồ Tát; những gì Phật, Bồ Tát răn dạy chính là tánh đức của chúng ta. Tùy thuận lời Phật, Bồ Tát răn dạy chính là tùy thuận tánh đức của chính mình. Không tùy thuận tánh đức thì chắc chắn tùy thuận phiền não. 

      Tánh đức là gì? Tánh đức vốn lành, “nhân chi sơ tánh bản thiện” (con người lúc thoạt đầu tánh vốn lành); tánh đức là pháp tánh, tánh đức là Phật tánh. Phật tánh là thuần thiện thuần tịnh. Đó là thật sự học Phật, học thật sự có ích. Không học đúng thì nói trắng ra, dù chỉ học ngoài da cũng không được. Do đâu mà thấy? Từ khởi tâm động niệm, lời lẽ, hành vi mà thấy: Kẻ ấy vẫn tùy thuận tập khí phiền não, đúng là một phân, một mảy Phật pháp cũng không thọ dụng được! Vì nguyên nhân gì vậy? Kinh Địa Tạng bảo là “ương ngạnh khó giáo hóa”, tánh tình quá bướng bỉnh, quá tự phụ! Tự cho mình có đạo lý, rất khó thể tiếp nhận lời Phật, Bồ Tát dạy. Tập khí quá nặng, sửa không được, cứ như vậy đương nhiên phải lưu chuyển theo nghiệp. 

      Vì thế, chính mình phải thường tự phản tỉnh, thường xuyên kiểm điểm, phải tìm cho ra căn bệnh của chính mình. Tự mình có năng lực phát hiện cái bệnh của mình, trong Phật pháp gọi là “khai ngộ” hay giác ngộ! Khai ngộ rồi mới khởi tu, khởi tu là sau khi khai ngộ bèn sửa đổi những căn bệnh tập khí của chính mình. Đó là thật sự tu hành. Nay chúng ta tu Tịnh Độ, tâm không thanh tịnh, ý niệm không thanh tịnh, hành vi không thanh tịnh, hoàn toàn chẳng tương ứng Tịnh Độ. Vì thế phải biết tín nguyện trì danh tu Tịnh nghiệp; tự mình thật sự chịu tu Tịnh nghiệp, Tịnh nghiệp là thiện, là tịnh, biểu hiện ra bên ngoài là thiện, thuần thiện thuần tịnh. Đấy là Tự Lực. 

      Pháp môn Tịnh Độ được gọi là “nhị lực pháp môn”: Tự Lực và Tha Lực. Tha Lực là A Di Đà Phật, “lại nương vào bi nguyện lực của Phật A Di Đà”, đó là Tha Lực. Nương là nhờ cậy, phải làm sao mới hòng nhờ cậy nguyện lực của A Di Đà Phật? Dùng tịnh nghiệp của chúng ta để cảm lấy nguyện lực của Phật A Di Đà. Tịnh nghiệp của chúng ta là Năng Cảm, nguyện lực từ bi của Phật A Di Đà là Năng Ứng, cảm ứng đạo giao! Hết thảy chúng sanh do nghiệp lực cảm lấy Thập Ác; vì thế phải quán sát kỹ càng, nếu thân - khẩu - ý chẳng lìa Thập Ác thì phiền lắm! Thập Ác cảm được gì? Tam đồ khổ báo! Thập Thiện cảm lạc báo, phước báo ba đường lành trong sáu đường; nhưng không thoát khỏi luân hồi lục đạo. Vì thế, tịnh nghiệp quan trọng lắm! 

Trong tâm là A Di Đà Phật, miệng niệm A Di Đà Phật, hết thảy tạo tác nơi thân chẳng lìa A Di Đà Phật. Tạo tác nơi thân như thế nào mới gọi là chẳng lìa A Di Đà Phật? Làm theo mọi giáo huấn trong Vô Lượng Thọ Kinh và Quán Kinh, biểu hiện nơi hành vi của chúng ta; đó là không lìa A Di Đà Phật! A Di Đà Phật dạy chúng ta làm sao, chúng ta cứ làm như thế ấy, dạy ta đừng làm điều gì, ta quyết không làm! Như vậy là đúng! Niệm niệm cảm ứng đạo giao như thế, chính là “một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”, “nên sự dụng công ấy quyết chẳng hư luống”. Công ở đây là công phu, đến lúc lâm chung, lúc thọ mạng sắp chấm dứt, Phật bèn đến. “Phật và thánh chúng hiện trước mặt vỗ về, chỉ dạy”. Vỗ về là an ủi, Phật đến an ủi, Phật đến dẫn dắt, tức là tiếp dẫn. Bởi thế, quý vị chẳng bị điên đảo, tâm không bị loạn, nhất tâm bất loạn, tâm không điên đảo, tự tại vãng sanh! Tiếp đó là lời đại sư Ngẫu Ích cực lực tán thán pháp môn này: 

      “Pháp môn thâm diệu”: Thâm là Lý sâu, chúng ta không cách gì hiểu thấu đáo; Diệu là Sự diệu, Tướng diệu, phương pháp xảo diệu, “phá sạch hết thảy hý luận, chặt đứt hết thảy ý kiến”. Hai câu này nói thật đấy, Ngẫu Ích đại sư nêu ra những điều khó thể nói được lắm, vì nếu không nhập cảnh giới này sẽ không thể nói ra những lời ấy, chẳng thể nghĩ bàn! Phá sạch hết thảy hý luận, hý luận là gì? Thưa cùng quý vị, hết thảy những gì chư Phật giảng kinh, thuyết pháp nếu đem so với pháp môn Niệm Phật đều là hý luận cả, không thể so sánh được! Tám vạn bốn ngàn pháp môn chẳng dễ tu, rất khó học tập, vẫn phải tốn thời gian rất dài; pháp môn này lại quá nhanh chóng, một đời thành tựu. Bởi thế, nó ổn thỏa, thích đáng, đơn giản, dễ dàng, nhanh chóng; thành thử, các pháp môn khác đương nhiên bị coi là hý luận. Chữ “hý luận” chỉ Phật pháp, có nghĩa là pháp xuất thế gian; chữ “ý kiến” chỉ các pháp thế gian. Như vậy, hai câu này siêu việt hết thảy pháp thế gian, xuất thế gian, pháp môn thâm diệu quá! Hết thảy pháp thế gian hay xuất thế gian đều chẳng thể sánh bằng! 

      “Chỉ có những bậc như Mã Minh, Long Thọ, Trí Giả, Vĩnh Minh mới triệt để gánh vác được”. Ai mới có thể tin nổi pháp môn này? Ai có thể chết lòng trọn ý tu tập pháp môn này? Ngẫu Ích đại sư chỉ nêu vài vị trong số các tổ sư: Mã Minh Bồ Tát, Long Thọ Bồ Tát là người Ấn Độ, nêu tên hai vị trong số các tổ sư cổ Ấn Độ. Lịch đại tổ sư Trung Quốc cũng chỉ nêu hai vị: Trí Giả đại sư, Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư. Trí Giả, Vĩnh Minh đều ở tại Chiết Giang, Trí Giả đại sư ở núi Thiên Thai; Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư ở Hàng Châu, là tổ thứ sáu của Tịnh Tông. Chỉ có những vị như vậy, các Ngài thật sự chứng được quả vị Bồ Tát, không phải là Bồ Tát tầm thường mà là Pháp Thân Bồ Tát, đều đạt quả vị Pháp Thân Bồ Tát. Thế nhưng chúng ta phải biết: Trí Giả đại sư là Thích Ca Mâu Ni Phật tái lai, ứng hóa trở lại; Vĩnh Minh Diên Thọ là A Di Đà Phật ứng hóa, cổ Phật tái lai! Các Ngài mới triệt để “gánh vác nổi”, gánh vác là tiếp nhận hoàn toàn, không một mảy ngờ vực, y giáo phụng hành. 

      “Ngoài ra, những kẻ thế trí biện thông”: Ngoài ra là những kẻ có trí huệ thế gian, người rất thông minh, người khéo ăn nói nhất. Tiếp đó, Tổ nêu mấy thí dụ: “Thông Nho, Thiền khách”, các vị thông đạt kinh luận của bách gia chư tử thì gọi là “thông Nho”, chúng ta thường gọi là bậc “đại Nho”. “Thiền khách” là tổ sư đại đức trong Tông môn. “Tận sức suy lường, càng suy lường càng cách xa”: Nếu những người ấy suy lường, nghiên cứu, thảo luận những kinh sách Tịnh Độ thì càng nghiên cứu không những không hiểu nổi sự thâm diệu của pháp môn này mà còn lạc xa hơn nữa. Vì sao? Pháp môn này là pháp môn chẳng thể nghĩ bàn, tuyệt đối chẳng thể dùng tư tưởng, suy tư, khảo sát, nghiên cứu để thấu hiểu được, tuyệt đối chẳng thể bàn luận suông để hiểu rõ được. Vì sao? Vì đó là cảnh giới Phật, cảnh giới thuộc về quả địa Như Lai. Đức Phật nói rất rõ, “chỉ có mình Phật với Phật mới hiểu được rốt ráo”. Đối với pháp môn này, có thể dùng tỷ dụ để nói về Đẳng Giác Bồ Tát như sau: “Giống như nhìn trăng qua một lớp the”. Đẳng Giác Bồ Tát còn như thế, huống chi là phàm phu! 

      Từ ngữ “thông Nho, Thiền khách” chỉ những kẻ chưa kiến tánh, dẫu có kiến tánh thì kiến tánh có phẩm vị bất đồng, trong minh tâm kiến tánh có đến bốn mươi mốt địa vị, gọi chung là Tam Hiền Thập Thánh. Chứng Thập Thánh thì không có vấn đề gì, chứ còn thuộc trong Tam Hiền vẫn chưa được. Vì sao Thập Thánh không có vấn đề gì? Đọc kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy Địa Thượng Bồ Tát từ Sơ Địa đến địa vị thứ mười một (Đẳng Giác Bồ Tát) “thủy chung chẳng rời niệm Phật”. Khai thủy (mở đầu) của Địa Thượng Bồ Tát là Sơ Địa, chung cục là Đẳng Giác Bồ Tát, mười một địa vị là như thế. Từ đầu đến cuối tức là từ Sơ Địa đến Đẳng Giác, các Ngài đều niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ; bởi thế, các vị thuộc địa vị này không có vấn đề gì. Mã Minh, Long Thọ đều là Địa Thượng Bồ Tát. Người minh tâm kiến tánh nếu thuộc địa vị Tam Hiền thì không thấy người ấy niệm Phật; nhưng nếu [vị nào] đăng địa thì nhất định [vị đó] niệm Phật. Vì thế, kinh Đại Thừa thường nói: “Thập Địa Bồ Tát từ đầu đến cuối chẳng rời niệm Phật”. Pháp môn chẳng thể nghĩ bàn! 

      “Lại chẳng bằng kẻ ngu phu ngu phụ chắc thật niệm Phật, có thể ngầm thông với Phật trí, thầm hợp diệu đạo”. Thật vậy! Chúng ta không bằng những ông bà già cả nhà quê, chúng ta thua xa họ! Dẫu họ chuyện gì cũng không biết, cũng chẳng nghĩ ngợi gì, dạy họ chắc thật niệm Phật, họ bèn chắc thật niệm Phật; dạy họ đoạn ác tu thiện, họ bèn thật thà chất phác đoạn ác tu thiện, thật sự thành công. Cách tu hành như vậy “ngầm thông với Phật trí, thầm hợp diệu đạo”. Dẫu chưa học qua, tâm hạnh họ lại rất ngầm khế hợp với pháp môn thâm diệu này; vì thế, họ được thành tựu. Họ thành tựu phẩm vị cao hay thấp cũng chẳng thể nghĩ bàn, chúng ta không có cách gì suy lường được hết. Những người như vậy chẳng tầm thường đâu, thiện căn trong đời quá khứ rất sâu dầy! 

      Cuối cùng là lời tổng kết: “Ta thấy điều lợi ấy, nên nói lời này”. “Ta” ở đây là Thích Ca Mâu Ni Phật tự xưng, Thích Ca Mâu Ni Phật trông thấy sự lợi ích đó, vì thế Ngài nói ra. Ngẫu Ích đại sư nói: “Phân minh dùng mắt Phật, tiếng Phật để ấn định việc này, há dám chống báng, chẳng ngoan ngoãn theo vào ư?” Nếu quý vị thật sự là Phật tử, quý vị phải hiểu ý nghĩa sâu xa của câu kinh văn này, vì sao? Điều chính mắt Phật thấy, chính miệng Phật nói, tức là Phật đã khẳng định dứt khoát chuyện A Di Đà Phật đến tiếp dẫn vãng sanh rồi. Nếu chúng ta trái nghịch, chẳng tuân thủ lời Phật dạy, tức là chúng ta chẳng thuận ý Phật, chẳng chấp thuận Phật dạy dỗ thì chẳng phải là đồ đệ Phật. Đồ đệ Phật há chẳng vâng lời, làm theo lời thầy dạy ư? Tùy thuận Phật, Bồ Tát dạy dỗ, chắc chắn thành tựu. Không tùy thuận là không có cách chi hết, phải luân hồi dài lâu. Chúng tôi giảng đoạn lớn này đến đây thôi. 

 

*

6.4. Lưu Thông Phần

6.4.1. Chư Phật khuyến tấn lưu thông

 

Chư vị đồng học! 

Xin xem tiếp đơn vị thứ sáu: “Chư Phật khuyến tấn lưu thông”. Đoạn kinh văn này quý vị hay quen gọi là Sáu Phương Chư Phật Tán Thán. Trước hết, chúng tôi đọc một đoạn kinh văn: 

 

“Xá Lợi Phất! Như ngã kim giả tán thán A Di Đà Phật bất khả tư nghị công đức chi lợi. Đông phương diệc hữu A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thật ngôn: ‘Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm kinh”. 

      (Này Xá Lợi Phất! Như nay ta tán thán lợi ích công đức chẳng thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà, phương Ðông cũng có A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Ðại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật. Hằng hà sa số chư Phật như thế đó, mỗi vị ở trong nước mình, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới, nói lời thành thực: “Chúng sanh các ngươi nên tin kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Ðức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm này”) 

 

      Đến đây là một đoạn. Chúng tôi chia đoạn thành năm đoạn nhỏ để giới thiệu. Đoạn thứ nhất là “Kinh này lấy Thật Tướng làm Thể, do tâm bi triệt để của đức Thế Tôn không ai hỏi tự nói, ai là người có thể gánh vác trách nhiệm lưu thông”. Trước hết, chúng tôi giới thiệu đại lược ý tưởng này. Bộ kinh A Di Đà này kích thước không lớn, phàm là kinh Đại Thừa đều lấy Thật Tướng làm Thể. Thật Tướng là gì? Nhìn từ mặt chữ, “chân tướng sự thật” được gọi là Thật Tướng. Chân tướng sự thật chính là Chân Như Bản Tánh, là Lý Thể của Pháp Thân, có thể hiện, có thể biến, được hiện, được biến, đó là chân tướng sự thật! Những gì đức Thế Tôn dạy chúng ta không ngoài những điều như vậy. 

      Pháp hội này do bi tâm triệt để của Thích Ca Mâu Ni Phật mà có, cũng có thể nói là từ tâm đại từ đại bi viên mãn rốt ráo, không ai thưa hỏi, từ đầu đến cuối chỉ mình đức Phật tự nói; vì thế tựa đề kinh ghi là “Phật Thuyết”. Kinh điển như vậy ai mới là người có năng lực, hay như ta thường nói là “có đủ tư cách” đảm nhiệm lưu thông? Quả thật, kinh này khác hẳn với mọi kinh đức Phật đã nói trong bốn mươi chín năm. Ngay cả kinh Hoa Nghiêm cũng có người khải thỉnh; tuy vậy, khải thỉnh trong kinh Hoa Nghiêm không phải là nói ra mà là trong tâm có nghi vấn nhưng không nói ra, đức Phật liền biết. Còn kinh này không ai nghĩ đến, không ai có thể nêu được câu hỏi. Phật thấy đại chúng duyên phận chín muồi, bèn vì chúng ta nói ra pháp môn thù thắng khôn sánh, là pháp hết thảy chúng sanh khó tin. Vì sao gọi là “duyên chín muồi”? Đức Phật nói ra chắc chắn có người tin tưởng, có người có thể thấu hiểu, có người chịu y giáo phụng hành, đó là “duyên chín muồi”. Phật chẳng đợi ai hỏi, gấp gáp nói ra; vì thế kinh này mới là lòng độ sanh thành Phật triệt để, viên mãn rốt ráo vậy! 

      Ở đây, Ngẫu Ích đại sư vì chúng ta nêu lên câu hỏi: Ai là người có năng lực, có tư cách lưu thông? Lão nhân gia nói rất hay. Kinh chia thành ba phần, Ngài phán định từ đây trở đi thuộc phần Lưu Thông. Từ trước đến nay khi tổ sư đại đức giảng kinh A Di Đà, chưa vị nào coi phần này là Lưu Thông, đều cho đoạn này thuộc về phần Chánh Tông; riêng mình Ngẫu Ích đại sư huệ nhãn trọn đủ, phán định từ đây trở đi là phần Lưu Thông, “chư Phật khuyến tín lưu thông”. Trong phần Lưu Thông, Ngài cũng chia thành ba khoa: Khuyến tín, khuyến nguyện, khuyến hành. Trong ba phần, Tự Phần cũng là Tín - Nguyện - Hạnh, phần Chánh Tông cũng là Tín - Nguyện - Hạnh, trong phần Lưu Thông cũng là Tín - Nguyện - Hạnh, dùng ba tư lương quán triệt cả ba phần. Ai có thể khuyến tín (khuyên nên tin tưởng)? Chư Phật Như Lai! 

      Dưới đây là phần lược giải ý nghĩa của chữ Lưu Thông: “Lưu là lưu truyền vạn cổ, Thông là thông đạt mười phương”. Thánh hiền giáo huấn nếu không có ai lưu truyền sẽ chẳng thể lợi ích hết thảy chúng sanh. Con người hiện thời không gọi là “lưu thông” mà gọi là “tuyên truyền, tuyên đạo”, đều mang ý nghĩa lưu thông. Cổ Trung Hoa gọi là “truyền thừa”, đều thuộc về ý nghĩa lưu thông. Đời đời có truyền nhân thực hiện công tác hoằng truyền chánh pháp. Pháp khó tin này ngoại trừ Phật ra, ai là người có thể thực hiện tốt đẹp hơn? Bởi thế, “chỉ có Phật với Phật mới có thể rốt ráo Thật Tướng các pháp, mới có thể cùng nhau lưu thông”. Chỉ có Như Lai Quả Địa, tức thành Phật rồi, mới có thể triệt để rốt ráo chứng đắc Thật Tướng các pháp; vì thế, đối với pháp môn khó tin này, chư Phật không hoài nghi, các Ngài lưu thông bằng cách nào? Vì hết thảy chúng sanh giảng kinh điển này, đó là lưu thông. Từ câu này chúng ta phải hiểu: Tuyệt đối không phải Ngẫu Ích đại sư tự chế ra câu nói ấy mà Ngài có kinh điển để làm căn cứ. Quý vị thấy trong cả đoạn kinh văn dài như vậy, sáu phương Phật chính ra là mười phương, kinh A Di Đà bản dịch của ngài Huyền Trang ghi mười phương, La Thập đại sư dịch ý, tỉnh lược. Người Tàu thích đơn giản, không thích rườm rà, bởi thế tỉnh lược mười phương thành sáu phương: Đông, Nam, Tây, Bắc, trên, dưới; còn thì tỉnh lược Đông Nam, Tây Nam, Tây Bắc, Đông Bắc. Mười phương tam thế hết thảy chư Phật, không vị Phật nào không giảng pháp môn này. Nói cách khác, khi Phật ứng hóa trong thế gian thì vô lượng vô biên pháp môn vị tất đã giảng, mà phải giảng những kinh nào? 

      Kinh Phật được gọi là Khế Kinh, nguyên tắc giảng kinh nhất định phải là khế hợp căn tánh chúng sanh, khế hợp lòng chúng sanh ưa thích, khế hợp trình độ chúng sanh, khế hợp thói quen sanh sống hiện tại của chúng sanh, bởi thế gọi là Khế Kinh. Nếu không thích hợp trình độ hoặc có chỗ nào không thích hợp, đức Phật sẽ không giảng. Giống như thầy dạy trò, thầy thật sự học vấn đầy ắp bụng, mời thầy dạy cho học trò tiểu học: “Được! Tôi cũng hoan hỷ dạy các bạn nhỏ”. Dạy các bạn nhỏ có phương pháp dạy trò nhỏ, dạy sao cho chúng hiểu được, tiếp nhận được, vui thích làm theo, phải có phương pháp dạy riêng. Dạy thanh thiếu niên, tuổi tác lớn rồi, mười mấy tuổi, hai mươi tuổi, phương pháp dạy học có từng giai đoạn như vậy. Vì sao? Sức hiểu biết cao hơn; còn tuổi nhi đồng sức ghi nhớ mạnh mẽ. Căn tánh như vậy đó, phải thích hợp căn tánh. 

      Vì thế, quan trọng nhất khi dạy tiểu học là phải làm cho trẻ nhớ kỹ những đạo lý, giáo huấn của thánh hiền trong giai đoạn đó, đọc nhiều, thuộc kỹ, không cần phải giảng giải. Thầy nêu gương, làm gương có tác dụng rất lớn, tác dụng như thế nào? Khiến cho học trò khởi lòng tin đối với thầy, hết sức quan trọng đấy nhé! Học sinh không hoài nghi thầy. Dạy học như vậy là dạy trong giai đoạn đầu tiên, gia trưởng và thầy hợp tác mật thiết khiến cho học sinh ghi vào lòng, in vào mắt, nhớ kỹ trong tâm. Nói trắng ra, đó cũng là diễn tuồng, thầy và cha mẹ cùng diễn cho học trò xem tuồng. 

      Lúc tôi lên sáu bảy tuổi đi học trường tư, tôi đã kể cùng quý vị rồi, cha tôi mang lễ vật đến biếu thầy, xin cho tôi theo học. Vào trường (trường này là trường tư đặt trong từ đường của một người nọ), trước hết, đối trước bài vị của Khổng lão phu tử (lúc ấy chưa có tranh vẽ, chỉ có bài vị của Khổng lão phu tử), hành lễ theo cách cung kính nhất là quỳ lạy ba lần, dập đầu chín cái. Cha tôi lễ đằng trước, tôi ở đằng sau lễ theo, quỳ lạy ba lần, dập đầu chín cái. Lễ Khổng lão phu tử xong, thỉnh thầy ngồi lên cao, hành đại lễ quỳ ba lần, dập đầu chín cái đối với thầy, hết sức kính lễ. Thầy tuổi chưa cao, xem chừng không lớn tuổi hơn cha tôi, cha tôi hướng về thầy lễ ba lần, dập đầu chín cái, tôi ở đằng sau làm theo. Vì sao vậy? Để in vào mắt, ghi vào lòng kẻ làm học trò, cha tôn kính đối với thầy như thế đó, bọn ta không được hoài nghi. Lời thầy hệt như thánh chỉ, không nghi ngờ chi, đương nhiên không phản đối, thầy dạy làm sao học theo làm vậy. Gia trưởng cung kính thầy như thế ấy, thầy không tích cực dạy học trò sao dám nhìn mặt gia trưởng? Sao dám nhìn mặt học trò? Có cảm giác trách nhiệm mà! Không như nhà trường bây giờ, nhà trường hiện thời không còn quy cách như vậy nữa. Nay toàn bộ xã hội hướng theo thương nghiệp hóa. Thầy dạy học để làm gì? Vì tiền lương, được trả lương giờ, vì như vậy đó! Học sinh đi học để làm gì? Để kiếm văn bằng. Đạo nghĩa thầy trò không còn nữa, tình bè bạn giữa đồng học cũng không còn, không thể sánh với khi xưa được. Trước kia, mối quan hệ thầy trò đúng là “một ngày là thầy, suốt đời là cha”, thầy trò như cha con, đồng học không khác gì anh chị em ruột. Nay hai thứ tình cảm ấy đã biến mất, quan hệ giữa người với người hiện tại là mối quan hệ lợi hại, đạo nghĩa, tình bạn không còn nữa. Nhân gian bi thương không gì hơn được nữa! 

      Vì thế, kinh văn này cần phải có người thật sự hiểu thấu, thông đạt, không ngờ vực để lưu thông. Chư Phật lưu thông, chư Phật tán dương, không vị Phật nào chẳng hoan hỷ, không tán thán. Chúng ta đọc kinh Vô Lượng Thọ thấy Thích Ca Mâu Ni Phật tán thán A Di Đà Phật, chính là thay mặt mười phương ba đời hết thảy chư Phật cùng tán thán A Di Đà Phật, xưng tán Di Đà là “quang trung cực tôn, Phật trung chi vương” (quang minh cao quý nhất, vua trong các đức Phật)! Tán thán đến cùng cực. Nếu chúng ta lắng lòng suy nghĩ, sẽ nhận rõ: Hết thảy chư Phật đều tán thán A Di Đà Phật là quang trung cực tôn, Phật trung chi vương; vậy thì chúng ta học Phật, không học với Phật A Di Đà còn học với ai đây? “Mười phương ba đời Phật, A Di Đà Phật bậc nhất”. Nay chúng ta phải học với vị thầy bậc nhất, vị thầy bậc nhất ấy do chính Thích Ca Mâu Ni Phật giới thiệu cho chúng ta! 

      Thích Ca Mâu Ni Phật giống như cha chúng ta, A Di Đà Phật là thầy. Cha đem con đến bái sư, giao con cho thầy; nếu chúng ta không tuân lời thầy dạy chính là đại bất hiếu. Thế nhưng có rất nhiều kẻ tình chấp quá sâu, hết sức chấp trước, cứ nhất định phải theo Thích Ca Mâu Ni Phật. Họ cũng niệm Phật, nhưng niệm Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, không niệm A Di Đà Phật. Vì sao? Họ chưa từng đọc Phật Thuyết A Di Đà Kinh, hoặc là đọc rồi nhưng không hiểu. Nếu thật sự hiểu sẽ không như thế, nhất định nghe lời Thích Ca Mâu Ni Phật niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ, Thích Ca Mâu Ni Phật dạy chúng ta như vậy. 

      “Kinh này là pháp môn vô thượng viên đốn”, kinh này viên đốn như các kinh Đại Thừa lẫn Nhất Thừa! Hoa Nghiêm là viên đốn, Pháp Hoa là viên đốn, Lăng Nghiêm là viên đốn, Tịnh Độ Tam Kinh ngoài viên đốn còn thêm hai chữ “vô thượng”! Không thể nói kinh Hoa Nghiêm là “vô thượng viên đốn”, vì sao? Phía trên còn có kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà. Vì sao biết vậy? Quý vị thấy kinh Hoa Nghiêm tối hậu là “mười đại nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát dẫn về Cực Lạc”, tức là quy về kinh Vô Lượng Thọ, quy về A Di Đà Phật. Vì thế, kinh này được gọi là pháp môn vô thượng viên đốn là như vậy đó. 

      “Chỉ nói về cảnh giới của chư Phật”: Kinh này hoàn toàn nói đến cảnh giới thuộc Quả Địa Như Lai, chẳng phải cảnh giới Bồ Tát! “Nên nói chỉ Phật với Phật mới có thể lưu thông vậy!”. Chỉ có Phật và chư Phật Như Lai mới đủ năng lực, đủ điều kiện để lưu thông bộ kinh này. Từ đây chúng ta có thể khẳng định hết thảy chư Phật Như Lai đều phải diễn nói kinh này, hết thảy những kinh khác chưa chắc chư Phật đều nói, chỉ riêng mình kinh này, hết thảy chư Phật không vị nào chẳng nói, không vị Phật nào không khuyên người, không khuyên hết thảy chúng sanh niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, Phật Phật đạo đồng! Chúng ta phải hiểu rõ ràng, thấu suốt điều này. 

      Tiếp theo là phân đoạn thứ hai, Ngẫu Ích đại sư bảo: “Bất khả tư nghị, nói đại lược có năm điều”. Lược nói năm ý nghĩa chữ “bất khả tư nghị” (chẳng thể nghĩ bàn), phải nói đại lược vì nói mãi cũng không hết! 

      1) Thứ nhất là “hoành siêu tam giới, chẳng cần phải đoạn Hoặc”: Đó là điều chẳng thể nghĩ bàn! Chúng ta biết muốn thoát khỏi tam giới lục đạo, ở phần trên tôi đã nói rồi, phải dần dần nâng cao lên mới hòng vượt thoát, không phải chuyện dễ dàng gì! Đoạn Kiến Hoặc thoát được tam đồ, nhưng chưa thoát khỏi lục đạo, quý vị vĩnh viễn không đọa tam đồ; tức là trong lục đạo quý vị vĩnh viễn chẳng đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Đoạn sạch Kiến Tư Hoặc mới thoát khỏi lục đạo luân hồi, vượt thoát được cả ba thiện đạo. Phải đoạn được Tư Hoặc! Sau khi vượt thoát lục đạo, sanh trong Tứ Thánh pháp giới: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, và Phật pháp giới trong mười pháp giới. Trong cảnh giới ấy phải đoạn Trần Sa phiền não, phá được một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân thì mới có thể thoát khỏi Tứ Thánh pháp giới. Vì thế, phải đoạn Hoặc! 

      Nay trong pháp môn Tịnh Độ không cần đoạn Hoặc mà đới nghiệp vãng sanh! Dẫu không đoạn Hoặc, cổ đại đức nói rất rõ là ta phải chế phục Hoặc nghiệp. Hoặc là tập khí phiền não. Quý vị phải khuất phục được tập khí phiền não, dẫu chưa đoạn Hoặc, nhưng trong sanh hoạt thường nhật chẳng để cho chúng phát tác, phải có bản lãnh ấy. Không có bản lãnh ấy sẽ chẳng thể vãng sanh, chẳng thể vượt ngang tam giới được! Phải có bản lãnh! Bản lãnh gì vậy? Trong kinh Phật dạy: Trì danh niệm Phật, chấp trì danh hiệu! Phải tốn thời gian bao lâu? Không dài lắm đâu! Quý vị thấy “hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc đến bảy ngày”. Đúng là dễ dàng quá, đơn giản quá! Người ta không tin: Há dễ dàng vậy ư? Đại pháp vô thượng viên đốn mà! Nếu không dễ dàng, đơn giản, ổn thỏa, thích đáng như thế sao là pháp vô thượng viên đốn được? 

      Ai có thể sanh về đó được? Ai tin là sanh về được, ai y giáo phụng hành là sanh về được. Ngẫu Ích đại sư giảng kinh này rất hay: “Được vãng sanh hay không hoàn toàn cậy vào tín nguyện có hay không?” Quý vị có thật sự tin tưởng hay không, thật sự muốn ra đi hay không, quý vị có hội đủ điều kiện ấy hay không? Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, phẩm vị cao hay thấp là do công phu trì danh hiện thời sâu hay cạn. Giống như trong thế gian này của chúng ta, lục đạo chúng sanh luân hồi xả thân thọ sanh, sẽ có hai lực lượng: 

a. Một là Dẫn Nghiệp dẫn quý vị thọ sanh trong đường nào; như nay ta được thân người là do Dẫn Nghiệp dẫn ta sanh vào thân người. 

b. Trong một đời này, chúng ta gặp gỡ, chúng ta hưởng nhận những nỗi khổ niềm vui. Quả báo khổ hay sướng ấy gọi là Mãn Nghiệp (mãn là viên mãn). Mãn nghiệp là quả báo của cả một đời, nhất định phải hứng chịu. 

Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng có hai điều kiện, cũng có dẫn nghiệp tức là Tín Nguyện. Tín Nguyện dẫn chúng ta sanh vào Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, trong thế giới ấy có chín phẩm ba bậc, quý vị vãng sanh vào phẩm vị nào giống như mãn nghiệp, do công phu niệm Phật sâu hay cạn. Công phu niệm Phật sâu, phẩm vị cao; công phu niệm Phật nông cạn, phẩm vị thấp kém. Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, phẩm vị bất đồng, thọ dụng khác biệt. Bởi thế, chư vị hãy nghĩ đi: Tợ hồ có dẫn nghiệp và cũng có mãn nghiệp. Tín - Nguyện - Hạnh: Tín Nguyện dẫn đường, Hạnh là phẩm vị cao hay thấp. Trong Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư đã giảng rất hay! Vì vậy, pháp môn này không cần đoạn Hoặc, một phẩm vô minh chưa đoạn, chỉ cần chế ngự; việc chế ngự phiền não phải được tu tập trong sanh hoạt thường nhật. Tu tập như thế nào? Tôi thường nói: “Thuận cảnh thiện duyên chẳng khởi tham luyến, không tâm tham luyến; nghịch cảnh ác duyên không khởi sân khuể”. Phải đào luyện trong sanh hoạt thường nhật! 

Mấy năm gần đây tôi đặc biệt nhấn mạnh chuyện thuần thiện thuần tịnh. Giảng kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo xong rồi, tôi vẫn cứ nói mãi: “Tâm phải thuần tịnh, chẳng dung một phần bất tịnh xen tạp, hành vi phải thuần thiện, chẳng dung mảy may bất thiện xen tạp!” Thuần tịnh thuần thiện là dùng một câu A Di Đà Phật, dùng phương pháp ấy khiến cho chúng ta trong một đời này tu thành thuần tịnh thuần thiện, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới phẩm vị sẽ cao! Đó là cái chúng ta có thể mang theo được, tất cả hết thảy pháp thế gian không một thứ gì có thể mang theo được! Những gì không mang theo được không thèm bận lòng nữa, hết thảy tùy duyên! Những gì mang theo được phải nghiêm túc nỗ lực làm cho được. Tín - Nguyện - Hạnh mang theo được. Đó là bất khả tư nghị thứ nhất. 

2) Bất khả tư nghị thứ hai, “liền được hoành siêu về bốn cõi, không do tiến dần dần”. Thật chẳng thể nghĩ bàn! Các thế giới phương khác ngoại trừ thế giới Cực Lạc, không có thế giới nào giống như thế giới Cực Lạc, thế giới Cực Lạc đặc biệt quá. Hết thảy các cõi Phật khác đều có bốn cõi, thế giới của Thích Ca Mâu Ni Phật cũng có bốn cõi, nhưng bốn cõi không ở cùng một chỗ, bốn cõi có cao thấp. Phàm Thánh Đồng Cư độ thấp nhất, Phương Tiện Hữu Dư độ cao hơn. Trong thế giới Sa Bà của Thích Ca Mâu Ni Phật, lục đạo là Phàm Thánh Đồng Cư độ, Tứ Thánh pháp giới là Phương Tiện Hữu Dư độ, Nhất Chân pháp giới là Thật Báo Trang Nghiêm độ, là Thường Tịch Quang Tịnh Độ. Phật Thích Ca có bốn cõi, hết thảy chư Phật đều có bốn cõi, nhưng không bày hàng ngang. Tây Phương Cực Lạc thế giới khác hẳn, “hoành siêu bốn cõi”, thế giới ấy có bốn cõi, bốn cõi bình đẳng, bốn cõi cùng ở một chỗ. “Chẳng do tiến dần dần”, chẳng giống như chỗ chúng ta, phải đoạn Kiến Tư phiền não rồi mới có thể dự vào Phương Tiện Hữu Dư độ. Đoạn sạch Trần Sa phiền não, phá một phẩm vô minh, mới sanh vào Thật Báo Trang Nghiêm độ. Đó là tu hành tiệm tiến cao dần lên, không thể đạt ngay được. Tây Phương Cực Lạc thế giới là đạt được ngay; bởi vậy, sanh vào cõi Đồng Cư sẽ đồng thời sanh vào Phương Tiện Hữu Dư, sanh vào Thật Báo Trang Nghiêm, sanh vào cõi Tịch Quang; một chính là bốn, bốn nhưng mà một; chẳng thể nghĩ bàn! Chỉ có Tây Phương Cực Lạc thế giới là như thế, bốn cõi ở cùng một chỗ. Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền trụ trong Thật Báo Trang Nghiêm độ! Chúng ta vãng sanh, Kiến Tư phiền não chưa đoạn, sanh Phàm Thánh Đồng Cư độ, ngày ngày chúng ta nghiễm nhiên ở cùng một chỗ với Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, đúng là pháp khó tin! Ta là phàm phu, sao ở cùng một chỗ với thánh nhân cho được? Lại là đại thánh, chứ không phải tiểu thánh, chẳng phải bậc thánh nhân tầm thường đâu nhé! 

3) Điều thứ ba là “Chỉ trì danh hiệu, chẳng nhọc công dùng đến các phương tiện Thiền Quán”. Quý vị thấy đó, thuận tiện quá đi! Phương pháp rất đơn giản, rất dễ dàng, chỉ cần chấp trì danh hiệu, một ngày từ sáng đến tối trong mười hai thời một câu A Di Đà Phật chẳng gián đoạn. Đại Thế Chí Bồ Tát dạy: “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”. Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát dạy chúng ta “không hoài nghi, không gián đoạn, không xen tạp”; không hoài nghi, không xen tạp là tịnh niệm, không gián đoạn là tiếp nối, tịnh niệm tiếp nối vậy! Điều này làm được, ai cũng có thể làm được, chỉ sợ quý vị không chịu làm thì không còn cách gì hết. Nếu quý vị chịu làm, không một ai là không làm được. Đó là sự chẳng thể nghĩ bàn thứ ba, “chỉ trì danh hiệu, chẳng nhọc công dùng đến các phương tiện Thiền Quán”. Không cần phải tham cứu, cũng chẳng cần dùng đến các pháp môn khác hỗ trợ, chỉ một câu Phật hiệu niệm đến cùng tột là được rồi. 

4) Sự bất khả tư nghị thứ tư “lấy một thất làm kỳ hạn, không cần mất nhiều kiếp, nhiều đời, nhiều năm tháng”. Quý vị thấy đó: Pháp môn này hết sức nhanh chóng như vậy, một thất là bảy ngày; kinh nói từ một ngày đến bảy ngày. Chẳng như các pháp môn khác, Phật thường dạy phải tu vô lượng kiếp, phải tu ba đại A Tăng Kỳ kiếp, thời gian rất dài, nhiều đời, nhiều kiếp, rất nhiều năm tháng! Pháp môn này bảy ngày thành công, bảy ngày tu thành công là chuyện thật sự có, từ xưa đến nay quả thật đã có ghi chép, bảy ngày thật sự có thể thành công. Nếu nói pháp môn này đúng là bảy ngày bèn vãng sanh thì không những pháp môn này là pháp khó tin mà còn biến thành một pháp môn rất đáng sợ. Vì sao? Bảy ngày phải chết rồi! Ai dám tu pháp môn này nữa! Trong lục đạo có kẻ nào không tham sống sợ chết? Nói cách khác, người không sợ chết mới tu được pháp môn này, kẻ tham sống sợ chết sẽ chẳng dám tu. 

Không ít đồng học chúng ta thường tham gia đả thất, vẫn có người phát tâm đả tinh tấn Phật thất, rất tốt, hiếm có! Đả trọn bảy ngày, đả trọn một trăm lần bảy ngày vẫn chưa vãng sanh là vì nguyên nhân nào? Làm chưa giống như kinh dạy. Kinh dạy bảy ngày thành công, nay chúng ta niệm hết bảy mươi ngày, bảy trăm ngày vẫn chưa thành công là vì nguyên nhân gì? Là vì chính mình tu chưa đúng lý, không đúng pháp; nếu đúng lý đúng pháp không ai chẳng thành công. Bởi thế, dù quý vị niệm Phật đã lâu, A Di Đà Phật chẳng đến tiếp dẫn quý vị. 

A Di Đà thấy rõ quý vị không muốn vãng sanh nên Ngài không đến tiếp dẫn quý vị kẻo quý vị sợ điếng người. A Di Đà Phật rất từ bi, không dọa dẫm người khác, đợi đến khi quý vị thật sự muốn vãng sanh, Ngài bèn đến; lúc lâm chung quý vị có nguyện vọng khẩn thiết, Ngài bèn đến. Quý vị không có nguyện vọng khẩn thiết, đối với Cực Lạc chẳng mười phần quy hướng, khẩn thiết mong cầu, Ngài cũng không đến. Vì sao? Vì chẳng tương ứng bổn nguyện của Phật A Di Đà. Ba điều kiện Tín - Nguyện - Hạnh thiếu một điều không được; vì thế, chúng ta phải cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng được xem thường nguyện. Phải nguyện như thế nào? Trong bản Pháp Sự này, Trung Phong thiền sư giảng rất rõ, nhất định phải lấy bốn mươi tám nguyện của Phật A Di Đà làm bổn nguyện của chính mình; khi giảng đến phần sau chúng tôi sẽ giới thiệu chi tiết cùng quý vị. Bởi lẽ tâm chúng ta không giống với tâm Phật A Di Đà, nguyện chẳng giống với nguyện A Di Đà, nên chẳng thể vãng sanh, phải đồng tâm, đồng nguyện, đồng đức, đồng hạnh mới chắc chắn vãng sanh, chớ nên coi thường. 

5) Điều bất khả tư nghị thứ năm là “trì một danh hiệu Phật liền được chư Phật hộ niệm, không khác gì trì hết thảy danh hiệu”. Đạo lý này hết sức sâu xa! Chúng ta bình thường niệm Phật là niệm A Di Đà Phật, là niệm danh hiệu một vị Phật, nào biết danh hiệu ấy là danh hiệu của hết thảy chư Phật, niệm một danh hiệu này chính là niệm tất cả hết thảy chư Phật. Vì thế, trong đoạn này, tổ sư giảng rất rõ ràng: Quý vị niệm A Di Đà Phật sẽ được hết thảy chư Phật hộ niệm; người Tàu chúng ta thường nói “hết thảy chư Phật đều bảo hựu mình”, ta niệm Phật, Phật cũng niệm ta. Trì danh hiệu một đức Phật giống như trì danh hiệu hết thảy chư Phật, vì sao? Quý vị phải chú tâm xem xét đoạn kinh văn này mới hòng hiểu rõ được. Hết thảy chư Phật không một vị Phật nào chẳng niệm A Di Đà Phật, nay ta niệm A Di Đà Phật chính là đồng tâm, đồng nguyện, đồng đức, đồng hạnh với hết thảy chư Phật, lẽ đương nhiên cảm được hết thảy chư Phật hộ niệm! Niệm Phật không linh, gặp phải ma chướng, Phật hiệu không niệm được, chẳng biết làm sao ư? Vì nguyên nhân gì? Đều là do chẳng chết lòng trọn ý tin, nguyện, hành đối với A Di Đà Phật. Nếu thật sự tâm, nguyện, đức, hạnh giống với A Di Đà Phật thì hết thảy chư Phật đều hộ niệm mình, hết thảy oán thân trái chủ, yêu ma quỷ quái đều tôn kính, bội phục, ủng hộ mình, lẽ đâu làm hại mình? Chúng ta phải suy nghĩ đạo lý ấy cho nhiều mới thông suốt được. A! Nay đã hết giờ rồi! 

 

*

Chư vị đồng học! 

Xin xem tiếp tiểu đoạn thứ ba: “Ta - người chẳng thể nghĩ bàn”. Ngẫu Ích đại sư nói: “Hành nhân tín nguyện trì danh”, hành nhân là những ai y giáo phụng hành, đầy đủ lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, nhất tâm trì danh, hội đủ những điều kiện ấy. “Nhiếp hoàn toàn công đức của Phật thành công đức của chính mình”, đem công đức của Phật A Di Đà chuyển biến thành công đức của chính mình. Vì thế, học Phật quan trọng nhất là học chuyển được cảnh giới, biến hoàn cảnh bất thiện thành hoàn cảnh thiện, phải từ đâu chuyển? Chuyển từ nơi khởi tâm động niệm của chính mình, phải bắt đầu từ ý niệm, ý niệm không thiện phải lập tức biết ngay, sự nhận biết ngay ấy nhà Phật gọi là “giác ngộ”. 

Khi giảng pháp, chúng tôi thường nói: “Giác chứ không mê, chánh chứ không tà, tịnh chứ không nhiễm”. Niệm niệm phải giác, ý niệm vừa khởi lên lập tức liền nhận biết, quan sát. Nếu ý niệm ấy chẳng lành, chẳng chánh, chẳng tịnh, lập tức chuyển ngay, chuyển thành thuần thiện, thuần chánh, thuần tịnh, phải chuyển cho lẹ! Cách chuyển như thế nào? Dùng một câu A Di Đà Phật thuần giác, thuần chánh, thuần tịnh, giác - chánh - tịnh viên mãn rốt ráo. Vừa khởi ý niệm quyết chẳng để bất giác, bất chánh, bất tịnh xen tạp, phải chuyển cho lẹ! Nếu quý vị chuyển được, bèn có thể chuyển Sa Bà thành Cực Lạc, chuyển phàm ngã (cái ngã phàm phu) thành A Di Đà, rất giống với A Di Đà. Lúc tôi giảng kinh đã nói nhiều lần, nếu như chính mình có thể thực hiện toàn bộ bản kinh Vô Lượng Thọ, biến bộ kinh ấy thành tư tưởng, kiến giải, ngôn hạnh của chính mình thì chẳng phải là quý vị biến thành A Di Đà Phật hay sao? Quý vị không là A Di Đà Phật, còn ai là A Di Đà Phật nữa! Đó gọi là “chuyển phàm thành thánh”. Tâm - nguyện - giải - hạnh của quý vị hoàn toàn tương ứng với Phật A Di Đà, quý vị không đến được Cực Lạc thế giới còn ai đến nữa đây? Lại thưa thật cùng quý vị, chỗ quý vị đang ở chính là thế giới Cực Lạc, cảnh tùy tâm chuyển! Nếu tâm quý vị là tâm Phật, cảnh giới quý vị đang ở sao không phải là cảnh Phật? Như vậy, chính nội tâm chúng ta chuyển tạp nhiễm thành thanh tịnh, chuyển tà tri tà kiến thành chánh tri chánh kiến, chuyển mê hoặc điên đảo thành chánh kiến chẳng loạn. Người học Phật quý ở chỗ chuyển được, chư Phật Như Lai đều chuyển chính mình thành Phật A Di Đà, khiến cho chính mình và A Di Đà Phật dung hợp thành một thể, cùng pháp giới hư không dung hợp thành một thể; ấy chính là chuyển biến viên mãn rốt ráo, chẳng thể nghĩ bàn! 

“Ở phần dưới, kinh nói”: Đây chính là trong đoạn cuối cùng của kinh có nói “công đức chẳng thể nghĩ bàn của chư Phật, công đức chẳng thể nghĩ bàn của ta”; tức là đoạn kinh sau đây: “Này Xá Lợi Phất! Như ta nay xưng tán công đức chẳng thể nghĩ bàn của chư Phật, các vị Phật ấy cũng xưng tán công đức chẳng thể nghĩ bàn của ta”; ở đây sách Yếu Giải trích dẫn câu kinh này, “như vậy, chư Phật và Phật Thích Ca đều lấy A Di Đà Phật làm chính mình”. Chư Phật và Phật Thích Ca đều lấy A Di Đà Phật làm chính mình, chính mình là hóa thân của Phật A Di Đà, A Di Đà Phật là bổn thân của ta, ta là hóa thân của Phật A Di Đà, hóa thân và bổn thân là một chứ không phải hai. Chư Phật Như Lai chuyển được cảnh giới ấy, chúng ta có làm được chăng? Được chứ! Câu trả lời là khẳng định. Vấn đề là quý vị có chuyển hay không, có chịu chuyển hay không, có bằng lòng chuyển hay không. Nếu quý vị muốn chuyển, chịu chuyển, lẽ đâu chẳng thể chuyển được! 

Chúng ta tu Tịnh Độ, tu Tịnh Độ là học theo A Di Đà, chúng ta phải học cho giống. Giống với A Di Đà Phật là trúng, học chẳng giống là trật. Phải nghiêm túc, phải nỗ lực, A Di Đà Phật đại từ đại bi, bốn mươi tám nguyện nguyện nào cũng đều là muốn cứu độ chúng sanh khổ nạn khắp hư không pháp giới, nhưng vì bi tâm triệt để, giúp cho chúng sanh vãng sanh Tịnh Độ viên thành Phật đạo ngay trong một đời này, chẳng cần mất nhiều kiếp, nhiều đời, nhiều năm tháng; vậy thì sao không dạy cho họ được sớm thành tựu hơn một chút, thành tựu nhanh chóng hơn một chút? Chẳng phải là phụ bạc chúng sanh ư? Thế Tôn dạy rất nhiều pháp môn, vì sao nói nhiều đến thế? Là vì chúng sanh chẳng thể tiếp nhận pháp môn này! Quý vị phải hiểu: Đây là pháp môn vô thượng viên đốn, không phải là một pháp môn bình thường, những ai không có căn tánh, không có thiện căn, phước đức, nhân duyên, đức Phật không nói! Phật luôn ứng cơ thuyết pháp. Đức Phật rất từ bi, nhưng không miễn cưỡng kẻ khác, dạy học mà miễn cưỡng là không xong, nhất định phải đợi đến khi chính kẻ ấy giác ngộ, chính kẻ ấy muốn học, khi đó duyên chín muồi. Nếu người ta không biết, bản thân họ không có ý niệm muốn học, tức là duyên vẫn chưa chín muồi. Không thể không hiểu điều này! Cũng có nghĩa là chúng ta đọc xong phải học tập, Ngẫu Ích đại sư giúp chúng ta rất lớn, Ngài vì chúng ta khai thị, chỉ dẫn chúng ta. 

Trong đoạn tiếp theo đó, chúng ta bước vào kinh văn “Sáu phương hằng sa chư Phật tán thán khuyên tin tưởng kinh này”, lẽ tự nhiên kinh văn được chia thành sáu đoạn. Sáu đoạn kinh văn này ý nghĩa hết sức rõ ràng, mỗi một đoạn nêu đại lược vài danh hiệu, “lược nêu danh hiệu để biểu thị sự việc tu nhân chứng quả chẳng thể nghĩ bàn!” Tuy chỉ lược nêu danh hiệu, nhưng nêu tên năm vị, sáu vị, bảy vị cho đến mười vị đều có ý nghĩa, đều chẳng phải là nêu tên tùy tiện. Danh hiệu đều biểu thị pháp nghĩa, những bản chú giải kinh Di Đà xưa nay không giảng rõ, quả thật những danh hiệu ấy mang ý nghĩa biểu thị pháp, chúng tôi đọc kinh Hoa Nghiêm mới hiểu rõ. Kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh đầu tiên đức Thế Tôn giảng sau khi thị hiện thành đạo, trong bộ kinh được giảng đầu tiên này, tất cả hết thảy danh hiệu đều biểu thị pháp. Nói cách khác, hết thảy pháp đức Phật đã giảng trong suốt bốn mươi chín năm không danh hiệu nào chẳng biểu thị pháp! 

 Đọc phẩm Danh Hiệu [của kinh Hoa Nghiêm] chúng tôi thấy chẳng những danh hiệu của Phật, Bồ Tát biểu thị pháp, mà danh hiệu của hết thảy chúng sanh, danh hiệu của hết thảy chúng sanh khắp pháp giới hư không giới thảy đều biểu thị pháp, đều là danh hiệu Phật. Đây mới thật sự là chẳng thể nghĩ bàn, mới thật sự giảng đến viên mãn rốt ráo. Như thường nói: “Trong cửa nhà Phật, chẳng bỏ một pháp”. Nếu chúng tôi không đọc phẩm Danh Hiệu thì đối với câu nói ấy chỉ hiểu lờ mờ qua quít, chẳng thể hiểu rõ ý nghĩa thật sự. Kệ Khai kinh nói: “Nguyện hiểu nghĩa chân thật của Như Lai”, nói dễ dàng sao! 

Tiếp đây, chúng tôi chia thành mấy tiểu đoạn. Đoạn thứ nhất là câu trình bày tổng quát, Đông phương hằng hà sa số chư Phật, phương Nam, phương Tây, phương Bắc, phương trên, phương dưới là sáu phương. “Trong mỗi một nước, hiện tướng lưỡi rộng dài, che khắp tam thiên đại thiên thế giới nói lời thành thực: “Chúng sanh các ngươi nên tin tưởng kinh Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Được Hết Thảy Chư Phật Hộ Niệm này”. Đó là câu nói chung của sáu phương chư Phật. Chúng ta biết mỗi một phương, trong mỗi một tam thiên đại thiên thế giới có một đức Phật, đó là tối thiểu! Cũng có những đức Phật giáo hóa hai đại thiên thế giới, ba đại thiên thế giới, thậm chí mười đại thiên thế giới, hai mươi đại thiên thế giới; tối thiểu là giáo hóa một đại thiên thế giới. Phật nhiều như số cát trong sông Hằng, không cách gì tính đếm được, như vậy ta biết số thế giới cũng nhiều như cát sông Hằng. Chư Phật Như Lai không thể đếm hết, Đông, Nam, Tây, Bắc là như trong thế giới Sa Bà của chúng ta nói: Đông phương, Nam phương, Tây phương, Bắc phương, thượng phương, hạ phương. Lúc đức Thế Tôn tại thế còn nói Đông Bắc phương, Đông Nam phương, Tây Bắc phương, Tây Nam phương, [gọi chung là] mười phương. Ở phần trên, chúng tôi đã thưa cùng quý vị, La Thập đại sư dịch kinh tỉnh lược, chỉ nói sáu phương là đủ rồi. 

Mỗi một đức Phật trong số ấy đều nói, không vị Phật nào chẳng giảng kinh này, bởi thế kinh này là pháp môn được hết thảy chư Phật cùng chung hoằng dương. Không một đức Phật nào không khuyên người vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, quý vị hãy nghĩ xem pháp môn này như thế nào? Thật sự là chẳng thể nghĩ bàn! Lưỡi rộng dài là một trong ba mươi hai tướng, trong kinh Phật đã dạy: “Ai ba đời không nói láo (phải tu suốt ba đời, ba đời không vọng ngữ), đầu lưỡi thè ra có thể chạm đến chót mũi, ba đời không vọng ngữ!” Như vậy, tướng hảo là quả báo, đều là có nhân. Không có nhân sẽ không thể có tướng hảo như vậy. Thích Ca Mâu Ni Phật le lưỡi có thể che hết cả mặt, dùng điều đó để chứng tỏ mình nói lời thành thật, vì sao? Ba đời không nói dối có thể liếm đến chót mũi; lưỡi Phật che kín mặt, chứng tỏ Ngài đời đời kiếp kiếp không nói dối cho nên lời nói được người khác tin tưởng. 

Nay đức Phật hiện tướng lưỡi rộng dài chẳng thể nghĩ bàn, “che khắp tam thiên đại thiên thế giới”, không phải lưỡi thè ra che khắp mặt mà là che khắp trọn vẹn tam thiên đại thiên thế giới; đấy là tánh đức, thật sự chẳng thể nghĩ bàn. “Nói lời thành thật”, trước hết nêu chứng cứ thành thật, anh nói anh thành thật, vậy chứng cứ đâu? Lưỡi rộng dài là chứng cứ đấy; thật sự có cái tướng ấy chăng? Thật sự có. Thân tướng đó là thân gì vậy? Báo Thân Phật, Pháp Thân Như Lai! Không một điểm giả, Pháp Tánh Thân! Trí huệ thân! Hiện thần thông chẳng thể nghĩ bàn, thành tựu khôn sánh, hy hữu khó được! Phật vì chúng ta nói lời thành thật, lời thành thật gì vậy? “Chúng sanh các ngươi hãy nên tin kinh này”, khuyên mọi người hãy nên tin tưởng vào bộ kinh này, kinh này là kinh gì? “Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm” (khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn được hết thảy chư Phật hộ niệm), đó chính là tên kinh này. Lúc La Thập đại sư dịch kinh không dùng tên gốc của kinh mà dùng danh hi