Chư
vị đồng học!
Xin
xem tiếp tiết thứ hai của đoạn thứ hai “Một đời thành
Phật” :
“Kinh dạy: Di Đà Niết Bàn, Quán Âm liền bổ thành Phật,
hiệu là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai, cõi tên Chúng
Bảo Phổ Tập Trang Nghiêm. Sau khi đức Phật ấy diệt độ,
Đại Thế Chí Bồ Tát liền bổ vào ngôi Phật, hiệu là Thiện
Trụ Công Đức Bảo Vương Như Lai”. Đoạn kinh này thuyết
minh Tây Phương Cực Lạc thế giới thật là thù thắng khôn
sánh, không giống với các cõi Phật phương khác. Thông thường,
các cõi Phật khác sau khi Phật diệt độ sẽ có một khoảng
thời gian [không có Phật], thời gian ấy dài hay ngắn không
giống nhau. Nói chung, sẽ giống như trong thế giới Sa Bà của
chúng ta, Thích Ca Mâu Ni Phật diệt độ rồi, Bổ Xứ Bồ
Tát hiện đang ở trên trời Đâu Suất; thọ mạng trên trời
Đâu Suất hết rồi mới thị hiện thành Phật trong thế gian
này. Thọ mạng cõi trời Đâu Suất rất dài, chúng ta biết
một ngày trên trời Đâu Suất bằng bốn trăm năm trong nhân
gian. Trong kinh, đức Phật dạy chúng ta: Một ngày trên trời
Đao Lợi bằng một trăm năm dưới trần, thọ mạng của Đao
Lợi Thiên là một ngàn năm. Dạ Ma Thiên nhiều gấp bội:
Một ngày trên Dạ Ma Thiên bằng hai trăm năm trong nhân gian;
thọ mạng là hai ngàn năm. Trời Đâu Suất lại tăng gấp
bội: Một ngày trên Đâu Suất bằng bốn trăm năm trong nhân
gian; thọ mạng là bốn ngàn năm.
Chư vị cứ tính ra là biết ngay: Một ngày bằng bốn trăm
năm, mỗi năm lại có ba trăm sáu mươi lăm ngày mà lại có
đến bốn ngàn năm lận; vì thế, trong kinh Di Lặc Hạ Sanh
nói: Đại khái nếu tính theo năm tháng trong nhân gian thì thọ
mạng cõi trời Đâu Suất là năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn
năm. Sau năm mươi sáu ức bảy ngàn vạn năm, Di Lặc Bồ Tát
mới từ trời Đâu Suất giáng sanh thị hiện thành Phật trong
nhân gian. Đâu Suất là Tri Túc Thiên, là nơi cư trụ của
Bổ Xứ Bồ Tát. Vì vậy, nói thật ra, thời gian có Phật
trong thế gian này của chúng ta rất ít, thời gian không Phật
rất dài. Quý vị thấy pháp vận của Thích Ca Mâu Ni Phật
là một vạn hai ngàn năm, phải năm mươi sáu ức bảy ngàn
vạn năm sau Di Lặc Bồ Tát mới giáng sanh; trong đêm tối
dài dằng dặc ấy, chúng sanh đau khổ thay!
Thế nhưng, Phật, Bồ Tát hết sức từ bi, sau khi Thích Ca
Mâu Ni Phật diệt độ, Di Lặc Phật chưa xuất sanh, trong khoảng
thời gian đó làm thế nào đây? Chúng ta thấy trong kinh Địa
Tạng, Thích Ca Mâu Ni Phật đã ủy thác Địa Tạng Bồ Tát
thay Phật giáo hóa chúng sanh. Sứ mạng của Địa Tạng Bồ
Tát rất lớn, trong một thời gian dài dằng dặc như vậy
phải giúp đỡ chúng sanh khốn khổ, hoạn nạn. Chúng ta thấy
Tây Phương Cực Lạc thế giới khác xa thế giới của mình:
A Di Đà Phật thị hiện nhập Niết Bàn, Quán Âm Bồ Tát lập
tức thị hiện thành Phật. Quán Âm Bồ Tát thành Phật, thế
giới ấy không gọi là Cực Lạc nữa, mà đổi thành Chúng
Bảo Phổ Tập Trang Nghiêm thế giới. Quán Âm Bồ Tát có đức
hiệu là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai. Thích Ca Mâu
Ni Phật vì chúng ta tiên đoán sự kiện trong vô lượng kiếp
sau. A Di Đà Phật vô lượng thọ, A Di Đà thành Phật đến
nay mới chỉ mười kiếp; nói cách khác, mới thành Phật chưa
lâu. Cực Lạc thế giới hết sức thù thắng!
Quán Âm Bồ Tát thị hiện thành Phật, hiệu là Phổ Quang
Công Đức Sơn Vương Như Lai. Sau khi lão nhân gia nhập diệt,
Đại Thế Chí Bồ Tát lại thị hiện thành Phật. Lúc đó,
chẳng gọi là Đại Thế Chí Bồ Tát, mà gọi là Thiện Trụ
Công Đức Bảo Vương Như Lai. Thật đấy! Bồ Tát công đức
bảo vương thù thắng khôn sánh, quý vị thấy Ngài trong vô
lượng kiếp lần vô lượng kiếp tu tập, tích lũy công đức,
thị hiện gương sáng cho chúng ta thấy. Cớ sao chúng ta không
thể tích cực đoạn ác tu thiện, tích lũy công đức? Tuy
Pháp Thân Bồ Tát đã chứng đắc tâm tánh đến mức cùng
cực, Ngài vẫn vì hết thảy chúng sanh thị hiện tu đức,
từ bi đến mức độ cùng cực; dạy dỗ chúng ta, làm gương
cho chúng ta thấy. Nếu chúng ta không giác ngộ, chẳng thể
lãnh hội, làm sao xứng đáng với Phật, Bồ Tát đã vì chúng
ta thị hiện, diễn nói?
Đoạn tiếp theo là: “Lại nữa, Thích Ca giáo hóa suốt một
đời”, ý nói Phật Thích Ca Mâu Ni bốn mươi chín năm giảng
kinh thuyết pháp, “chỉ riêng mình kinh Hoa Nghiêm giảng rõ
cái lẽ một đời viên mãn, nhưng đến cuối cùng cái nhân
viên mãn trong một đời lại nằm ngay trong hạnh nguyện Phổ
Hiền, mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Lại còn
dùng những điều đó để khuyến tấn hải chúng trong Hoa
Tạng. Hãy nghĩ đi, xét đi!” Tôi đã từng nhiều lần thưa
cùng các đồng học rồi, phải suy nghĩ kỹ càng, chúng ta
không phải là thượng căn, không phải lợi căn, nói miễn
cưỡng là căn tánh bậc trung. Nói thật ra, Phật, Bồ Tát
gia trì thọ mạng cho tôi. Nếu tôi không có thọ mạng, có
thể nói là cả một đời này tôi chẳng thành tựu gì cả.
Vì sao? Khi xưa, tôi theo thầy Lý, thầy Lý đau lòng rát miệng
khuyên tôi tu học pháp môn Tịnh Độ, thậm chí còn nói: “Anh
thấy từ xưa đến nay không ít tổ sư đại đức, đức hạnh,
đạo đức, học vấn của các Ngài, chúng ta thật sự không
thể sánh bằng”. Đúng là như vậy! “Chúng ta không thể
viết được sách Yếu Giải như đại sư Ngẫu Ích, cũng không
thể viết cuốn Sớ Sao như đại sư Liên Trì. Họ là những
bậc đại trí huệ, đại đức hạnh, đều niệm Phật cầu
sanh Tịnh Độ”, thầy Lý nêu những thí dụ như vậy. “Nếu
pháp môn này không đúng, các vị tổ sư đại đức, đại
thiện tri thức ấy đều đi lầm đường”, thầy Lý bảo:
“Chúng ta cũng lầm một phen đâu có sao!” Nói những lời
như vậy để khuyên tôi, tôi rất cảm kích, nhưng vẫn không
chết lòng trọn ý nơi pháp môn này. Chết lòng trọn ý học
pháp môn này là vào năm Dân Quốc sáu mươi (1971) khi giảng
kinh Hoa Nghiêm tại Đài Bắc. Lúc ấy tôi cũng thường ra ngoại
quốc, bởi thế giảng kinh Hoa Nghiêm ở Đài Bắc cứ gián
đoạn hoài, tôi nhớ phải gián đoạn chừng đâu mười mấy
lần mà vẫn mới giảng được một nửa kinh, vẫn chưa giảng
hoàn tất. Hàn Quán Trưởng vãng sanh rồi mà kinh Hoa Nghiêm
giảng vẫn còn dang dở.
Mỗi lần về lại Đài Loan, tôi lại tiếp tục giảng kinh
Hoa Nghiêm. Có một ngày đột nhiên nghĩ Thiện Tài đồng tử
tu pháp môn nào? Nhân vì tôi giảng kinh Hoa Nghiêm ở Đài Loan
là giảng đồng thời hai bản Bát Thập và Tứ Thập. Mỗi
tuần giảng ba lần, hai lần giảng Bát Thập Hoa Nghiêm, một
lần giảng Tứ Thập Hoa Nghiêm. Cả hai bản đều giảng nửa
chừng rồi ngưng. Chú tâm tra cứu kinh, chú tâm xem đọc, thật
bất phàm! Thiện Tài đồng tử tu pháp môn Niệm Phật. Thầy
của Thiện Tài đồng tử là Văn Thù Bồ Tát cũng phát nguyện
cầu sanh Tịnh Độ. Phổ Hiền cũng phát nguyện gần như hoàn
toàn giống với Văn Thù Bồ Tát. Văn Thù, Phổ Hiền đều
cầu sanh Tịnh Độ. Thiện Tài là môn sanh đắc ý của Văn
Thù. Nếu môn sanh đắc ý chẳng thể kế thừa nguyện vọng
của thầy thì chẳng phải là đệ tử truyền pháp!
Lại xem kỹ Thiện Tài đồng tử đi tham phỏng, gặp được
vị đầu tiên là Cát Tường Vân tỳ-kheo (bản Bát Thập Hoa
Nghiêm gọi là Đức Vân, bản Tứ Thập phiên là Cát Tường
Vân) dạy Ngài pháp môn Niệm Phật. Nay ta gọi phương thức
mà bản thân tỳ-kheo Cát Tường Vân tu hành là Ban Châu Tam
Muội, niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ. Vị thiện tri
thức đầu tiên mang ý nghĩa biểu pháp rất sâu, cổ nhân
thường nói “tiên nhập vi chủ” (học pháp nào đầu tiên,
pháp ấy là chủ). Pháp môn thứ nhất của Thiện Tài Đồng
Tử là niệm Phật, tiên nhập vi chủ! Lại xem đến cuối
cùng, vị thiện tri thức thứ năm mươi ba tức vị cuối cùng,
là Phổ Hiền Bồ Tát: Mười đại nguyện vương dẫn về
Cực Lạc. Tôi hiểu rõ: Cát Tường Vân tỳ-kheo khởi đầu,
Phổ Hiền Bồ Tát kết thúc, từ đầu đến cuối Thiện Tài
tu pháp môn nào? Tu pháp môn Niệm Phật! Lúc đó, tôi mới
chết lòng trọn ý, không còn nghi hoặc nữa, chẳng còn do
dự nữa, tôi hiểu rõ rồi. Huống chi Văn Thù, Phổ Hiền
khuyên dạy bốn mươi địa vị Pháp Thân đại sĩ trong Hoa
Tạng thế giới, những hải chúng trong Hoa Tạng thế giới
này, ai nấy đều cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Chúng ta nghĩ xem: Trang nghiêm đến mức độ nào?
Lại xem thấy Tỳ Lô Giá Na Như Lai (đều là thị hiện cho
chúng ta thấy), Tỳ Lô Giá Na Như Lai hoan hỷ, không nói: “Văn
Thù! Phổ Hiền! Sao các ông đem đại chúng của ta đi hết
vậy? Mọi người trong đạo tràng của ta đều mang qua thế
giới Cực Lạc thì đạo tràng này biến thành cái gì đây?
Chắc chắn trong thế gian của ta sẽ nảy sanh sự hiểu lầm.
Đừng có nói là các ông đem toàn bộ mọi người đi, dù
chỉ đem một, hai mống, ta cũng không chấp thuận!” Trong
đạo tràng này, nhất là những người thông minh lanh lợi,
dụng công tu hành, nếu quý vị đem đi hết mà không được
lão hòa thượng của tự viện đồng ý là lôi thôi liền!
Trong Hoa Tạng thế giới, chúng tôi tin Văn Thù, Phổ Hiền
nhất định phải được Tỳ Lô Giá Na Phật đồng ý. Tỳ
Lô Giá Na Phật chấp thuận: “Tốt lắm! Mọi người đều
đi được”. Vì sao? Đến thế giới Cực Lạc thành Phật
nhanh chóng, so với Hoa Tạng nhanh hơn nhiều lắm, rút ngắn
thời gian. Tỳ Lô Giá Na Phật chẳng có tư tâm, Phật Phật
đạo đồng, chư Phật chỉ có một nguyện vọng là hy vọng
mọi người mau chóng thành Phật; nhanh nhất thì không gì hơn
là đến thế giới Cực Lạc thân cận A Di Đà Phật. Bởi
vậy, Văn Thù, Phổ Hiền suất lãnh bốn mươi địa vị Pháp
Thân đại sĩ vãng sanh Cực Lạc thế giới, Tỳ Lô Giá Na
Phật hoan hỷ! Chúng ta phải hiểu đạo lý này. Nếu chúng
ta biết đạo tràng khác có vị thiện tri thức chân chánh,
tôi không bằng vị ấy, các đồng học muốn đến thân cận
vị ấy, tôi hoan hỷ, quý vị thân cận vị đó là đúng,
không sai lầm chút nào!
Trước kia, tôi giảng kinh ở Đài Loan có những đồng học
là sinh viên đại chuyên, nghe tôi giảng hai ba năm, đến bảo
tôi: “Pháp sư! Tôi muốn qua Đài Trung thân cận thầy Lý”.
Tốt lắm! Những vị ấy thông minh, tôi học từ thầy Lý.
Họ thân cận thầy tôi là điều tôi cầu không được. Nếu
thật sự có duyên phận thì phải thân cận vị thiện tri
thức hạng nhất. Vị thiện tri thức bậc nhất trong các cõi
Phật được hết thảy chư Phật công nhận là A Di Đà Phật.
Quang minh tôn quý nhất, vua trong các Phật! Bởi vậy, chỉ
cần quý vị phát tâm thân cận A Di Đà Phật, cầu sanh thế
giới Cực Lạc thì tất cả hết thảy chư Phật đều vỗ
tay: “Ngươi thật thông minh! Ngươi chọn lựa đúng!” Những
lời tôi thưa cùng quý vị ở đây câu nào cũng đều chân
thật. Do vậy, đối với những lời khai thị trong đoạn này,
chúng ta càng phải suy nghĩ cặn kẽ.
Đoạn tiếp theo là: “Ngẫu Công than rằng:”, đại sư Ngẫu
Ích than thở, “Ôi chao! Phàm phu được liệt vào ngôi Bổ
Xứ, là một xướng xuất hiếm lạ, một bàn luận cùng tột
chẳng thể suy lường được!” Ngẫu Ích đại sư chú giải
kinh viết đến đây tự mình hết sức cảm thán: Rành rành
là phàm phu, một phẩm phiền não chưa đoạn, đới nghiệp
vãng sanh đến cõi Phàm Thánh Đồng Cư trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới, đương nhiên “liệt vào ngôi Bổ Xứ”.
Kẻ ấy không thật sự là Bổ Xứ, chỉ ở cùng một chỗ
với Bổ Xứ Bồ Tát. Không phải là Bổ Xứ Bồ Tát chẳng
thể ở chung một chỗ được, kẻ kia là phàm phu vì sao lại
có thể ở cùng một chỗ với Bổ Xứ Bồ Tát? Ở cùng một
chỗ với Bổ Xứ Bồ Tát là gần bằng Bổ Xứ, là không
khác Bổ Xứ chi mấy. “Kỳ xướng cực đàm” (một xướng
xuất hiếm lạ, một bàn luận cùng tột), “Kỳ” ở đây
là “hy kỳ” (hiếm lạ), chưa từng nghe đến, chưa hề thấy
qua, thế nhưng thế giới Cực Lạc lại có chuyện như vậy
đấy! “Đàm” là bàn kinh giảng đạo đến mức cùng tột.
Ngẫu Ích đại sư tán thán: Thật sự có chuyện này, không
giả đâu!
“Những điều riêng mình kinh Hoa Nghiêm có (kinh bậc nhất
của chư Phật đã nói, pháp môn tu hành bậc nhất của Bồ
Tát) hoàn toàn được nêu trong kinh này”. Câu trong ngoặc
đơn là do tôi viết. Đối với câu này tôi cũng hiểu đôi
chút. Chúng tôi đọc kinh Hoa Nghiêm, đọc đến cuối cùng
“mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc”, tức là
quy về kinh Vô Lượng Thọ. Cổ nhân gọi kinh Vô Lượng Thọ
là Hoa Nghiêm bản trung. Trong ba kinh Tịnh Độ, kinh Vô Lượng
Thọ là kinh bậc nhất. Nếu chúng ta dùng ba phần Tự Phần,
Chánh Tông Phần, Lưu Thông Phần của kinh điển để nói thì
kinh Vô Lượng Thọ là phần Chánh Tông của Tịnh Độ; A Di
Đà Kinh là Lưu Thông Phần. Trong kinh này, đức Thế Tôn bốn
lượt khuyên chúng ta phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, thật
chẳng thể nghĩ bàn! Cổ nhân thường nói một mà hai, hai
nhưng ba, ba nhưng bốn, bốn lượt khuyên dạy vãng sanh. Chỗ
quy túc cuối cùng của kinh Hoa Nghiêm là quy hướng thế giới
Cực Lạc. Kinh Di Đà là Hoa Nghiêm tiểu bổn, Vô Lượng Thọ
là đại bổn của kinh A Di Đà. Cư sĩ Vương Long Thư hội
tập Vô Lượng Thọ Kinh cũng đặt tên là Đại A Di Đà Kinh,
ông đặt tựa đề kinh như thế. Bởi thế, đây chính là
kinh bậc nhất do chư Phật nói, là pháp môn bậc nhất để
các Bồ Tát tu.
“Nhưng thiên hạ xưa nay, tin ít nghi nhiều, tôi chỉ đành
mổ tim vẩy máu mà thôi”. Đây là lời cảm khái đau lòng
buốt dạ của đại sư Ngẫu Ích. Đại sư Ngẫu Ích viết
đến đây, nghĩ đến đây, đúng là đau lòng đến cùng cực,
rõ ràng là trong một đời có thể thoát luân hồi viên thành
Phật đạo, chẳng phải đợi đến đời thứ hai, chỉ một
đời thôi! Một đời viên mãn, bởi lẽ quý vị vãng sanh,
vãng sanh là đi khi còn đang sống, chẳng phải chết rồi mới
đi. Bởi thế, tôi thường nói pháp môn này gọi là “pháp
môn không chết”, thật sự không chết. Quý vị thấy đó:
Lúc thời tiết nhân duyên thành thục, người vãng sanh thấy
A Di Đà Phật đến tiếp dẫn, từ tạ mọi người: “Phật
đến rồi, tôi theo Ngài về thế giới Cực Lạc”. Nói rồi
bèn đi, đi ngay trong lúc sống. Đi rồi thì sao? Không cần
đến cái đãy da thối này nữa, vứt bỏ, triệt để buông
xuống, đi qua thế giới Cực Lạc đổi lấy thân khác.
Hễ đến Tây Phương Cực Lạc thế giới là liên hoa hóa sanh,
hoa sen ấy do chính mình trồng, chẳng phải ai khác trồng cả!
Tất cả hết thảy chúng sanh chỉ cần chân chánh phát nguyện
cầu sanh Tịnh Độ, trong ao sen bảy báu nơi thế giới Cực
Lạc sẽ mọc lên một búp sen. Quý vị tín nguyện kiên định,
niệm Phật rất siêng, hoa sen ấy ngày càng lớn, càng lớn
càng to. Lúc thọ mạng hết, A Di Đà Phật cầm hoa sen ấy
đến tiếp dẫn quý vị. Hoa sen ấy của chính quý vị chứ
không phải ai khác, trên hoa có đề tên, quyết định không
lầm lẫn được. Quý vị nhập vào hoa sen, chẳng phải là
một đứa bé con dần dần lớn lên, mà thân tướng giống
hệt như Phật. Tây Phương thế giới là pháp giới bình đẳng,
bỏ hết nhục thân, được thân gì? Được thân vàng ròng
giồi mài sáng bóng, trong bốn mươi tám nguyện có lời nguyện
này. Tướng hảo, quang minh không khác gì Phật và Bổ Xứ
Bồ Tát, thật sự bình đẳng. Đó là vì trong quá khứ, lúc
A Di Đà Phật còn tu đạo Bồ Tát, đọc trong kinh Vô Lượng
Thọ chúng ta sẽ thấy đoạn lịch sử ấy, Ngài từng tham
phỏng hai trăm mười ức cõi Phật. “Hai trăm mười ức”
biểu thị pháp chứ không phải là một con số, trong Mật
Tông hai trăm mười ức biểu thị ý nghĩa viên mãn, hàm nghĩa
khắp pháp giới hư không giới hết thảy các cõi Phật không
sót một cõi nào, Ngài đều đến tham học hết. Ưu điểm
của mỗi một thế giới, những điều hay Ngài học lấy;
những khuyết điểm Ngài đều bỏ đi. Vì thế, sự thành
tựu nơi Cực Lạc thế giới chính là kết hợp của tất
cả những ưu điểm trong hết thảy cõi Phật khắp pháp giới
hư không giới, không có khuyết điểm, cõi ấy được kiến
tạo như vậy. A Di Đà Phật kiến lập Tây Phương Cực Lạc
thế giới, chẳng phải là đóng cửa mày mò tự chế, cũng
chẳng phải ở riệt trong nhà nghĩ cách; không phải vậy,
mà là sở đắc từ sự tham học. Đấy là học vấn chân
chánh, học vấn thật sự. Chắc chắn Ngài trông thấy thế
giới Sa Bà (chắc chắn Ngài đã từng đến thế giới Sa Bà
của chúng ta), thấy hết thảy chúng sanh tướng mạo khác
biệt. Tướng mạo đẹp thì phiền não hiện tiền, phiền
não gì? Ngạo mạn! Tướng mạo không đẹp, phiền não cũng
hiện tiền, phiền não gì vậy? Mặc cảm tự ty rất nặng,
những điều này chúng ta đều biết rất rõ. A Di Đà Phật
biết điều này, nên tất cả hết thảy những ai vãng sanh
về thế giới Cực Lạc tuyệt đối chẳng nẩy sanh phiền
não, vì sao? Tướng mạo mọi người giống hệt nhau, không
một ai đẹp hơn ai, cũng không ai có khuyết điểm, thảy đều
hệt như nhau, thể chất giống hệt, cao - thấp giống hệt,
gầy - béo giống hệt, tướng hảo như nhau.
Nói như vậy lại có vấn đề, vấn đề gì vậy? Nếu ta
muốn tìm một người, ta biết ai là ai đây? Toàn bộ giống
hệt nhau. Như vậy là chúng ta bận tâm quá đấy, vì sao? Chúng
ta không có trí huệ, không có huệ nhãn, không có thần thông;
người ở Tây Phương Cực Lạc thế giới ai nấy đều có
thần thông nên nhất định chẳng nhận lầm người. Tất
cả mọi người tướng mạo giống hệt Phật A Di Đà, nhất
định quý vị chẳng thể nhận lầm. Tuy tướng mạo của
mỗi cá nhân vãng sanh cũng giống hệt nhau, quý vị chẳng
nhận lầm, chẳng thể nghĩ bàn! Bởi vậy, đọc đến đoạn
này, rất nên phát nguyện! Trong kinh này đức Phật lại khuyên
chúng ta nên phát nguyện lần nữa, phải nên vãng sanh cõi
nước kia.
Lại
xem tiếp đoạn dưới: “Hạnh Nguyện Phẩm nói:”, tức là
trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm có đoạn
nói, “người ấy lúc sắp mạng chung, hết thảy các căn
thảy đều bại hoại, cho đến thân thuộc, oai thế, voi, ngựa,
xe cộ, thảy đều tan diệt”. Chúng tôi giảng đoạn này
trước. Đoạn này nói lên điều gì? Lúc thọ mạng con người
đã hết, lúc lâm chung, “hết thảy các căn thảy đều bại
hoại”, tức là không khởi tác dụng nữa. Các căn là mắt:
Người chết rồi mắt không thấy nữa, tai không nghe được
nữa, mũi không hô hấp, lưỡi chẳng thể động, thân thể
cũng bất động. Đó là hết thảy các căn thảy đều bại
hoại, không khởi tác dụng, sáu căn mất đi năng lực. Thân
thể của chính mình như vậy đó. Còn những vật ngoài thân
mình như “thân thuộc” (người nhà, quyến thuộc của mình),
mình phải chia lìa. “Oai thế” là địa vị, quyền lực.
Dẫu cho địa vị, quyền lực đạt đến cùng cực, làm đến
quốc vương; lúc ấy có làm vua cũng không được nữa, thọ
mạng đã hết, ngôi vua cũng vứt đi, quyền lực cũng buông
xuôi. “Voi, ngựa” là công cụ giao thông thời cổ sử dụng.
Công cụ giao thông hiện tại gồm xe hơi, du thuyền, thậm
chí tư gia có máy bay, cái gì cũng không mang theo được, không
mang theo cái gì được hết! “Trân bảo” là của cải; hết
thảy của cải mình tom góp không mang theo được gì! “thảy
đều tan diệt”, không cầm gì theo được, thuộc về người
khác hết, quý vị phải giác ngộ điều này! Trong kinh luận,
đức Phật thường cảnh tỉnh chúng ta: “Muôn thứ không
mang được, chỉ mỗi nghiệp theo thân”. Quý vị phải hiểu
rõ ràng, minh bạch: Tất cả hết thảy những vật ngoài thân
không phải của chính mình. Bản thân ta cái gì cũng không
có, ngay đến cái thân này cũng không có, thân thể cũng phải
bại hoại. Vì vậy, trong thế gian này, kinh Bát Nhã giảng
rất rõ: “Hết thảy pháp vô sở hữu, rốt ráo không, bất
khả đắc”. Đó là chân tướng sự thật. Nếu quý vị cho
là hữu sở đắc, vẫn muốn giành lấy thì quý vị lầm rồi!
Quý vị giành lấy, tương lai cũng không mang theo được, lại
còn tạo thêm vô lượng vô biên nghiệp chướng. Thế gian
có mấy ai giác ngộ? Có mấy ai thật sự hiểu rõ? Người
giác ngộ buông bỏ toàn bộ pháp thế gian, ngay cả thân mình
cũng không màng, quyết định chẳng lưu luyến.
“Chỉ
có nguyện vương chẳng hề lìa bỏ, trong hết thảy thời
thường dẫn đường đằng trước. Trong khoảng sát-na liền
được vãng sanh Cực Lạc thế giới”. Nói về điều gì?
Nói về cái quý vị mang theo được. Cái mang theo được là
thiện nghiệp, ác nghiệp, tịnh nghiệp, ba thứ nghiệp này
đi theo quý vị. Người chân chánh giác ngộ đoạn trừ ác
nghiệp, thiện nghiệp tuy vẫn tu nhưng quyết không chấp trước,
không chấp trước nên biến thành tịnh nghiệp, nếu chấp
trước liền biến thành thiện nghiệp. Chấp trước thì quả
báo là ba thiện báo; không chấp trước thì quý vị phải
hồi hướng cầu sanh Tịnh Độ, quả báo của quý vị sẽ
là vượt thoát tam giới, vượt thoát mười pháp giới, thù
thắng khôn sánh. Mười đại nguyện vương dạy chúng ta điều
gì? Quý vị phải biết:
1)
Thứ nhất là dạy chúng ta cung kính “lễ kính chư Phật”.
2)
Thứ hai dạy chúng ta xưng tán, khen ngợi điều lành, quyết
định chẳng nói năng sai trái. Thấy bất cứ sai trái gì cũng
không rêu rao, hòng bồi dưỡng thiện tâm, thiện ý, thiện
hạnh của chính mình, miệng không lầm lỗi, “xưng tán Như
Lai”.
3)
Thứ ba dạy chúng ta bố thí cúng dường “quảng tu cúng dường”.
4)
Thứ tư dạy chúng ta “sám hối nghiệp chướng”, phải biết
sám hối nghiệp chướng của chính mình.
5)
Thứ năm là dạy chúng ta “tùy hỷ công đức”, tùy hỷ
công đức hết sức trọng yếu! Hết thảy chúng sanh đều
có tâm ghen ghét, tùy hỷ công đức nhằm phá trừ ghen ghét.
Trông thấy chỗ hay của người khác, ta không ghen ghét chút
nào, tùy tâm, tùy lực giúp đỡ người ta, thành tựu cho người
ta. Đó là tùy hỷ công đức. Người ta có công đức nhiều
lớn, mình tùy hỷ thì công đức cũng lớn như người ta vậy,
công đức người ta đâu có bị giảm thiểu. Cũng giống như
người khác có một cây nến đã thắp rồi, mình có một
cây nến chưa thắp, người ta dùng cây nến ấy thắp sáng
cho mình, quang minh của cây nến người ta không tổn thất
mảy may. Cây nến của mình được thắp xong, ánh sáng chiếu
rọi lẫn nhau, tùy hỷ công đức là vậy đó!
6)
Thứ sáu, “thỉnh chuyển pháp luân”.
7)
Thứ bảy, “thỉnh Phật trụ thế”.
Thỉnh
chuyển pháp luân, thỉnh Phật trụ thế không vì bản thân
mình, mà nhằm lợi ích chúng sanh. Quý vị gặp được thiện
tri thức, chúng sanh không biết, ta biết. Ta biết thì ta thay
họ thỉnh, thay mặt cho mọi chúng sanh trong khu vực ấy, thay
cho chúng sanh khắp cả thế gian lễ thỉnh thiện tri thức
vì chúng ta giảng kinh, thuyết pháp. Nhân duyên thành thục,
chúng ta phải thỉnh thiện tri thức trụ lâu dài trong khu vực
chúng ta. Thiện tri thức ở lâu dài nơi ấy thì người ở
nơi ấy có phước. Chân thiện tri thức được chư Phật hộ
niệm, long thiên thiện thần ủng hộ, Ngài sống trong địa
phương này, mọi người chẳng lẽ không được hưởng lây
ư? Không phải là ai nấy đều có phước hay sao? Phải là
người có trí huệ chân chánh, phước báo chân chánh mới
biết khải thỉnh.
Trong
thực tế, Phổ Hiền nguyện chỉ gồm bảy điều, bảy điều
trên chính là nguyện. So với trước kia, hiện thời thỉnh
chuyển pháp luân thuận tiện lắm. Nay chúng ta có thể lợi
dụng những kỹ thuật cao cấp, lợi dụng mạng lưới quốc
tế (Internet), lợi dụng truyền hình vệ tinh thỉnh pháp sư,
thỉnh thiện tri thức giảng kinh thuyết pháp. Chúng ta đưa
CD, băng thâu hình lên Internet, phát trên truyền hình vệ tinh
hòng lợi ích chúng sanh toàn thế giới. Làm như vậy chính
là gì? Đều thuộc về thỉnh chuyển pháp luân, thỉnh Phật
trụ thế. Hiện tại, hai nguyện trên có thể gộp thành một,
hai nguyện gộp thành một thật chẳng thể nghĩ bàn!
Ba
điều nguyện sau đều thuộc về hồi hướng, “thường tùy
Phật học” là hồi hướng Bồ Đề, “hằng thuận chúng
sanh” là hồi hướng chúng sanh, “phổ giai hồi hướng”
là hồi hướng pháp giới. Mười đại nguyện dẫn dắt quý
vị chúng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Bây giờ hết
giờ rồi!
*
Chư
vị đồng học!
Xin
xem tiếp tiểu đoạn thứ năm, câu cuối cùng là: “Thấy
như thế bèn phát nguyện cầu vãng sanh, tự lấy đó làm nhiệm
vụ cấp bách”. Thời thời, chốn chốn đều thấy Thế Tôn,
Tổ Sư ân cần, khẩn thiết khuyên dạy chúng ta, chỉ sợ
chúng ta lại bỏ lỡ cơ hội lần này. Bởi vậy, chúng ta
chỉ nên nhớ kỹ: Như trong phẩm Hạnh Nguyện nói đến mười
đại nguyện, mười đại nguyện ấy là cương lãnh tu học.
Ba điều nguyện cuối tôi nói là hồi hướng. Hồi hướng
với ý nghĩa gì? Nhằm mở rộng tâm lượng, thật sự khôi
phục “tâm bao thái hư, lượng châu sa giới”. Phải biết
bản nguyện của mình vốn sẵn tâm bao thái hư, lượng châu
sa giới. Cái tâm hiện tại quá nhỏ, thật đáng thương, đáng
xót xa lắm! Vì thế, dùng phương pháp hồi hướng này để
mở rộng nó, khôi phục nó.
“Thường
tùy Phật học”, niệm niệm chẳng quên lời Phật dạy, đó
là hồi hướng Bồ Đề. Trong những tôn giáo khác, chúng tôi
thấy trong kinh điển của bọn họ, hết thảy vinh diệu đều
quy về Thượng Đế, đều quy về Chân Chúa. Trong Phật pháp,
chúng ta không nói đến Thượng Đế, không có Chân Chúa, chúng
ta nói đến thầy, thầy dạy dỗ chúng ta. Con người trong
thế gian, vào thời cổ, mỗi người khi có thành tựu, nhất
định sẽ quy sự vinh diệu về cho cha mẹ, cho thầy, hòng
báo ân dưỡng dục, báo ân thầy giáo hóa. Niệm niệm chẳng
quên, tâm cảm ân. Cái tâm cảm ân ấy trọn khắp pháp giới
hư không giới. Đó là hồi hướng Bồ Đề.
“Hằng
thuận chúng sanh” là hồi hướng chúng sanh. Trong đây quan
trọng nhất là Thuận, chẳng phải thuận tạm thời, không
thuận hữu hạn, mà hằng thuận, vô hạn, vĩnh hằng! Quý
vị thấy chư Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát giáo hóa hết
thảy chúng sanh trong chín pháp giới, nêu gương tốt cho chúng
ta, đó là thuận! Quý vị muốn học điều gì bèn giúp cho,
chỉ không giúp đỡ khi quý vị học sự bất thiện, học
theo cái ác thì Ngài không dạy. Chứ nếu là thiện thì không
gì không dạy! Đại thiện, tiểu thiện đều dạy hết, chẳng
nệ nhọc nhằn, chẳng sợ cay đắng, chẳng ngại gian lao,
chỗ nào có cầu bèn ứng chỗ đó.
Đức
Thế Tôn vì chúng ta thị hiện, lúc còn tại thế - ta phải
biết khi ấy đâu có công cụ giao thông, người xuất gia toàn
đi bộ - Phật đi đến mọi nơi dạy dỗ. Vết chân Phật
in dấu khắp Ấn Độ, luôn du hành, cực Nam đến tận đảo
Tích Lan, ngày nay là Tư Lý Lan Kha (Sri Lanka). Thị hiện ngàn
chỗ mong cầu, ngàn chỗ ứng như vậy, địa phương nào muốn
thỉnh Phật: “Xin giáo hóa chúng con!” Phật bèn đến. Hễ
có người thỉnh, Phật bèn đến. Học trò Ngài không ít vị
là Bồ Tát, Bồ Tát không cần ai thỉnh, chủ động đi đến,
làm “bạn chẳng mời” của hết thảy chúng sanh; nhưng Phật
nhất định phải thỉnh, vì sao? Phật đại biểu cho sư đạo,
tôn sư trọng đạo, bởi thế nhất định phải thỉnh. Bồ
Tát là đồng học, đồng học chẳng cần phải nghiêm túc,
chẳng cần phải mời cũng đến. Nhưng trong đây vẫn có một
điều kiện, trước hết phải lắng nghe xem [người mình định
tiếp độ] có thể tiếp nhận hay không. Nếu có thể tiếp
nhận, hoan hỷ nghe, nghe được, hiểu được, Bồ Tát bèn
đến. Chẳng thỉnh Ngài cũng đến, hằng thuận chúng sanh
mà! Tuyệt đối chẳng chấp trước vào một pháp môn. Quý
vị nói pháp môn Niệm Phật rất tốt, quá tốt ấy chứ!
Nhưng người ta không tiếp nhận được thì chẳng thể đem
pháp môn này ra nói. Họ muốn pháp gì, quý vị phải biết;
họ có thể thực hành điều gì, quý vị phải hiểu. Họ
ưa thích những gì quý vị phải hiểu thì quý vị thuyết
pháp mới khế cơ. Điều này những đồng học muốn học
kinh giáo phải đặc biệt chú ý, quán cơ! Chư Phật Bồ Tát
vì thuyết pháp khế lý, khế cơ cho chúng sanh nên dạy dỗ
thành công.
Nguyện
cuối cùng là “phổ giai hồi hướng”, hồi hướng khắp
tất cả, tâm lượng hoàn toàn mở rộng, chẳng có một tí
ti câu thúc nào, đúng là trọn khắp hư không pháp giới; khắp
hư không pháp giới là tánh đức viên mãn, tánh đức mà!
Hư không, pháp giới, cõi nước, chúng sanh đều do tự tánh
hiện, chỉ do Thức biến. Trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật giảng
rất rõ: “Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Hồi hướng
khắp tất cả là hồi hướng về tâm tánh, hết thảy đều
quy về tự tánh, tất cả hết thảy pháp thế gian, xuất thế
gian từ tự tánh phát sanh, tối hậu quy hồi tự tánh, đó
là đại viên mãn!
Bởi
thế, nguyện vương này “chẳng hề bỏ lìa”, lúc con người
lâm chung, tất cả hết thảy đều tách rời, không mang theo
được gì, chỉ mang được theo mỗi một mình nguyện vương
này. Tịnh nghiệp thù thắng khôn sánh đi theo mình, “trong
hết thảy thời dẫn đường đằng trước”, dẫn dắt mình
về đâu? Dẫn mình về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đó
chính là những nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát. “Quán thử
tắc phát nguyện cầu sanh, tự thuộc đương vụ chi cấp”
(Thấy như thế bèn phát nguyện cầu vãng sanh, tự lấy đó
làm nhiệm vụ cấp bách trong hiện tại): Đương là “đương
hạ”, tức là hiện tiền. “Vụ” là chuyện bắt buộc
phải làm, “cấp” là lập tức, tức chuyện lập tức phải
làm. Nếu quý vị thật sự hiểu rõ, thấu hiểu, sẽ phải
làm ngay lập tức, buông xuống hết thảy những thứ khác.
Trong cuộc sống thường nhật của chúng ta, khởi tâm động
niệm, ngôn ngữ, hành vi, quyết định tương ứng với kinh
giáo.
Tinh
thần, nghĩa thú chân chánh của kinh giáo là gì? “Thọ trì
đọc tụng, vì người diễn nói”, là tám chữ ấy. Những
gì Phật dạy trong kinh giáo chúng ta tiếp nhận toàn bộ, đó
là “thọ trì”. Tiếp thâu toàn bộ xong, biến chúng hoàn
toàn thành của chính mình. Vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước của chính mình là hư huyễn, là giả, là nghiệp, nghiệp
bất thiện; thảy đều buông xuống hết, thay thế toàn bộ
bằng kinh giáo của đức Như Lai. Cách nhìn, cách nghĩ, cách
làm của chúng ta hoàn toàn tương ứng với kinh giáo, đó là
thọ trì! Thọ là tiếp nhận, Trì là gìn giữ, chẳng để
mất. Chẳng để mất dẫu chỉ một ngày hay chỉ trong một
sát-na. Đó là Thọ Trì!
“Đọc
tụng” là ôn tập. Ngày ngày ôn tập, ôn cố tri tân (ôn
chuyện cũ để hiểu chuyện mới), trường thời huân tu. Huân
tu lâu ngày bèn khai ngộ! Ngộ rồi thì sao? “Vì người diễn
nói”, tức là thực hiện trong cuộc sống thường nhật,
thực hiện trong công việc, thực hiện trong việc xử sự,
đãi người, tiếp vật, vì người khác biểu diễn, vì người
khác diễn nói, hết thảy đều vì chúng sanh, chẳng vì chính
mình. Hết thảy đều nhằm biểu diễn cho chúng sanh thấy:
Đây là cuộc sống giác ngộ, cuộc sống của Phật, Bồ Tát,
cuộc sống đại tự tại. Khổng lão phu tử nói: “Học nhi
thời tập chi” (Học rồi luôn tu tập - tức thực hiện).
“Tập” chính là như nay ta nói là thực hiện, thực hiện
trong cuộc sống, thực hiện trong công việc, thực hiện trong
cách xử sự đãi người, tiếp vật. “Thời” là luôn luôn
không gián đoạn; tiếp đó là “bất diệc duyệt hồ” (cũng
chẳng vui sao?); nói theo cách nói của nhà Phật là “pháp
hỷ sung mãn”, đúng là sung sướng, pháp hỷ sung mãn! Sự
vui sướng ấy không do bên ngoài mà có, mà từ trong tự tánh
lưu lộ. Tiểu tiết cuối cùng là:
“Kinh
nói: Được cùng các thượng thiện nhân như vậy ở cùng
một chỗ”. Kinh văn viết như vậy. “Ý nói: Quán Âm, Thế
Chí nắm tay cùng đi”. Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới,
quý vị theo Quán Âm, Thế Chí tức là tay nắm tay cùng đi:
Kinh hành, tản bộ, chuyện trò, đàm luận Phật pháp, có phải
vui sướng lắm không? “Văn Thù, Phổ Hiền làm bạn bè thù
thắng”. Văn Thù, Phổ Hiền đều là Đẳng Giác Bồ Tát
trong thế giới Hoa Tạng; các Ngài thường sống trong Tây Phương
Cực Lạc thế giới. “Thắng hữu” là bạn bè tốt nhất,
bạn bè thù thắng nhất. Câu này miêu tả tình trạng cuộc
sống và tình hình học tập tại Tây Phương Cực Lạc thế
giới: Những người chung quanh ta toàn là thượng thiện nhân.
“Nên tự được un đúc, thành Phật không khó”, không sai
chút nào! Chúng ta trường thời huân tu, huân tập, un đúc,
do nguyên nhân ấy, chứ không phải không có nguyên nhân. Vậy
thì, vì sao trong Tây Phương Cực Lạc thế giới thành tựu
nhanh chóng đến thế? Vì sao trong thế gian này chúng ta chẳng
thể đạt được như thế? Xem đến đây quý vị hiểu ngay.
Trong thế gian chúng ta, làm sao được ngang vai sát cánh cùng
Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, chẳng có lẽ ấy!
Bồ Tát quá cao! Nhưng trong Tây Phương Cực Lạc thế giới
lại khác, vì sao khác? Đều là học trò A Di Đà Phật, quan
hệ giữa chúng ta là gì? Đồng học. Các vị ấy theo Phật
A Di Đà đã lâu, chúng ta mới theo. Về thân phận, họ là
lớp đàn anh, mình là đàn em, đàn anh đương nhiên phải chăm
nom đàn em. Chúng ta có câu hỏi gì ngại không hỏi Phật,
hỏi họ rất tiện. Một ngày từ sáng đến tối sống cùng
một chỗ, cho nên thành Phật không khó.
Tiếp
đó là mấy câu tỏ ý mừng rỡ trước vận may: “Đời này
may mắn, được thấy, được nghe, há chẳng nguyện sanh ư?”
Một đời này chúng ta thật sự may mắn, nói đúng ra, mình
may mắn quá đỗi! Mình được thấy sự tình này, được
nghe kinh điển này, há vẫn chẳng bằng lòng vãng sanh ư? Phải
hiểu đây là chuyện thành Phật trong một đời, là đại
sự nhân duyên bậc nhất trong các pháp thế gian, xuất thế
gian, không có sự việc gì có thể sánh được với việc
này, chúng ta không thể không biết như vậy. Đúng là không
thể nào so sánh được. Nếu để lỡ việc này, đúng là
tổn thất lớn lao không ai có thể diễn tả được, lớn
lao quá mà! Nhân duyên để thành Phật trong một đời mà!
Ngẫu
Ích đại sư nói rất hay, vì đâu ta coi thường? Coi thường
là vì lẽ gì? Rất mong đến đó, nhưng không nghiêm túc tu
tập, nguyên nhân vì đâu? Không tin! Không thật sự tin, trong
một đời này thậm chí ngày ngày đọc kinh này, ngày ngày
giảng kinh này, nhưng bán tín bán nghi. Kẻ ấy tin gì? Vẫn
là tin vào danh văn, lợi dưỡng trong thế gian này, hưởng
thọ ngũ dục lục trần, vẫn tin vào những thứ ấy. Nếu
bày hai chuyện ấy ra trước mặt, họ sẽ chọn thứ gì? Chọn
danh văn lợi dưỡng, chọn lấy ngũ dục lục trần thế gian,
chẳng chọn lấy Niệm Phật, lầm lẫn là đây! Bởi thế,
Tổ Sư đối với việc này rất đau lòng, đau lòng vì không
phải là trong một đời này không có cơ hội nghe được,
không phải vì kẻ ấy nghiệp chướng sâu nặng cả đời
không được gặp gỡ pháp này mà đau lòng bởi lẽ gì? Kẻ
ấy gặp được nhưng lại sao? Ngay trước mặt mà bỏ lỡ!
Chẳng thể y giáo phụng hành, vẫn cứ tùy thuận phiền não
tập khí của chính mình như cũ, vẫn tạo tác mười ác nghiệp
như cũ, biết làm cách nào đây?
Người
thật sự hiểu rõ, thật sự tin tưởng sẽ làm rất rõ như
thế này: Ngay lập tức đoạn trừ mười ác nghiệp, chẳng
những không tạo mười ác nghiệp nữa mà còn quyết định
tu mười thiện nghiệp đạo. Vì sao? Đến Tây Phương Cực
Lạc thế giới ở cùng một chỗ với các thượng thiện nhân,
dẫu mình chưa là thượng thiện thì cũng phải là hạ thiện.
Ngay cả hạ thiện cũng không có, sao ở cùng một chỗ với
các thượng thiện nhân cho được? Vì thế, người thật sự
sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới nhất định đoạn
ác tu thiện là điều khẳng định, người ấy quyết định
chân thành, trong hết thảy thời, hết thảy chỗ, đúng là:
Tâm nhất vị chân thành, không có nhị niệm, tâm quyết định
thanh tịnh, tâm quyết định bình đẳng, tâm quyết định
chánh giác, tâm từ bi, niệm niệm khởi tâm động niệm nhất
định tương ứng với những thứ ấy.
Chúng
ta biết con người giác ngộ, hồi đầu ấy trong một đời
này nhất định được sanh về Tịnh Độ. Nếu nói tôi tin,
tôi hằng ngày niệm Phật, trong mười hai thời chẳng thiếu
khóa lễ nào tại Niệm Phật Đường, nhưng tâm địa chẳng
thanh tịnh, chẳng bình đẳng, ngu si, tự tư, chẳng thành thật
thì cũng chẳng thể vãng sanh. Cổ đức nói: “Một ngày niệm
mười vạn câu Phật hiệu, rách hầu toạc họng cũng uổng
công” là vì lẽ nào? Tâm hạnh bất thiện. Chỉ thiện đằng
miệng, trong ba nghiệp thân - khẩu - ý thì thân và ý bất
thiện, chỉ có cái miệng từ sáng đến tối niệm A Di Đà
Phật, không chửi người, như vậy chưa vãng sanh được! Quý
vị xem kinh Vô Lượng Thọ thì thấy đúng là như vậy, đọc
trong kinh văn, đức Thế Tôn dạy chúng ta khéo giữ khẩu nghiệp,
chẳng chê bai lỗi người khác, khéo giữ thân nghiệp, chẳng
mất luật nghi, khéo giữ ý nghiệp, thanh tịnh vô nhiễm. Đó
là mười thiện nghiệp! Niệm Phật mà vẫn tạo nghiệp thì
tương lai đi về đâu? Đi vào địa ngục!
Quý
vị xem bộ Lăng Nghiêm Kinh Đại Thế Chí Niệm Phật Viên
Thông Chương Sớ Sao do pháp sư Quán Đảnh soạn vào đời
Thanh Càn Long, đoạn cuối cùng của bộ Sớ Sao này nói đến
một trăm thứ quả báo bất đồng của người niệm Phật,
câu đầu tiên là người niệm Phật đọa A Tỳ địa ngục.
Lúc tôi còn trẻ, vừa mới học Phật, đọc đến đoạn này
hết sức nghi hoặc: Dù niệm Phật không tốt lẽ ra không
đến nỗi đọa A Tỳ địa ngục, sao lại đọa A Tỳ địa
ngục được? Tôi cầm sách đem hỏi thầy Lý: “Rốt cuộc
là chuyện gì đây? Con nghĩ không ra, không cách gì hiểu được!”
Thầy Lý đọc rồi bảo: “Đây là câu hỏi lớn, tôi chẳng
giảng cho mình ông, khi tôi giảng kinh sẽ giảng cho khắp đại
chúng”. Miệng niệm Di Đà chẳng đoạn ác nghiệp, vẫn tạo
ác nghiệp. Ác nghiệp nghiêm trọng nhất là báng Phật, báng
Pháp, báng Tăng, hủy báng Tam Bảo lẽ đâu chẳng đọa địa
ngục? Niệm vị Phật nào cũng vô ích, không ai cứu được
hết!
Trong
những tội ấy, mọi người dễ phạm nhất là tội tự khen
mình, chê người! Hiện nay chúng ta cũng thường thấy: Trong
vô lượng pháp môn, chỉ pháp môn của tôi tốt, người khác
đều trật hết! Quý vị phải hiểu mỗi pháp môn đều do
Phật nói. Quý vị nói pháp môn nào không đúng là nói bậy
rồi, những pháp môn ấy do ai nói? Phật nói đấy. Chẳng
phải quý vị đã báng Phật ư? Pháp do Phật nói, đừng nói
chi khác, cứ nói đơn giản kinh Vô Lượng Thọ thôi. Ai nấy
đều biết Vô Lượng Thọ Kinh có mười hai bản dịch, nhưng
qua nhiều đời bảy bản bị thất truyền, chỉ còn năm bản
được truyền đến nay. Đối với năm bản đó, nếu nói
bản này hay, chê bản kia dở là báng Phật, chẳng được
nói như vậy. Nếu không hay sao được lưu truyền trong thiên
hạ? Được lưu truyền trong thiên hạ nhất định phải có
giá trị lưu truyền. Cổ thánh tiên hiền Trung Quốc rất coi
trọng giá trị ấy, nếu anh không có giá trị, mọi người
đâu chịu lưu thông; lưu thông thành sách rất lớn. Chẳng
giống như ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển, kỹ thuật
ấn loát rất phát triển, in sách rất dễ dàng; thời cổ
không dễ như vậy. Ngay như thời đầu Dân Quốc mới đây
thôi; chúng tôi thấy vào thời đầu Dân Quốc vẫn còn in
sách bằng bản khắc gỗ, rất tốn công. Một người một
ngày làm tám chín tiếng, in được bao nhiêu bản? Trước kia,
sách được in thành từng quyển, một quyển không nhiều,
đại khái chừng sáu mươi, bảy mươi trang. Một ngày chỉ
in được sáu bản! Tôi đến viếng Kim Lăng Khắc Kinh Xứ,
họ ấn loát bằng bản khắc gỗ. Khi đó tiến bộ hơn trước
nhiều, xưa kia phải dùng muội khói gỗ tùng [làm mực in],
khi đó vẫn dùng muội khói gỗ tùng nhưng pha thêm mực dầu,
vậy là tiến bộ hơn trước nhiều! Nhưng khi in thì vẫn phải
áp từng trang lên bản gỗ, đặt giấy lên đó, rồi mới
ép xuống, rất tốn công! Làm tám tiếng một ngày, một người
chỉ in được sáu quyển. Hiện tại máy móc rất tiện lợi,
in mấy ngàn bản trong vòng ba bốn ngày là xong, là hoàn tất,
công việc được cơ giới hóa. Trước kia dùng sức người,
cho nên giá trị của sách vở rất cao. Đúng là người bình
thường không mua nổi sách.
Khoảng
năm Dân Quốc hai mươi mấy, lúc đó tôi chưa đến mười
tuổi, chừng tám hay chín tuổi chi đó, Thương Vụ Ấn Thư
Quán in bộ [từ điển] Từ Nguyên, in bìa cứng đẹp đẽ
thành hai quyển thượng - hạ. Bộ Từ Nguyên ấy đến nay
chưa hề in được đẹp như thế, giá bao nhiêu? Năm đồng
Đại Dương. Năm đồng Đại Dương giá trị ra sao? Bằng tiền
ăn xài của một gia đình bốn người trong cả tháng. Phải
mất một số tiền bằng tiền tiêu dùng của một gia đình
bốn người trong cả tháng mới mua được sách, chỉ mua được
một bộ tự điển thôi! Nói vậy quý vị mới hiểu khi đó
sách quý đến thế nào! Người giàu có mới tích lũy sách,
sách khi ấy giống như đồ sưu tập của người chơi đồ
cổ bây giờ vậy, coi sách như vật quý giá để tặng nhau.
Đọc
sách cũng rất trân quý. Lúc đọc sách chẳng được khuyên
hay chấm, không được phép! Muốn khuyên hay chấm thì sao?
Phải chép lại. Vì thế, trước kia người ta đọc sách, chắc
chắn là sách nào mình ưa thích sẽ sao lại một bản. Tự
mình sao lấy một bản thì có thể khuyên hay điểm, có thể
dùng bút màu để đánh dấu. Sách bản gốc là bảo bối!
Tự mình đọc xong lại còn truyền cho đời sau, đời sau lại
truyền xuống đời sau nữa. Bởi thế, chẳng được có chút
gì nhơ bẩn, quyết định chẳng được tổn hoại. Trước
kia, sách vở được quý trọng như thế, nay nào được như
thế. Hiện nay, khoa học kỹ thuật phát đạt, sách vở biến
thành rẻ mạt, chẳng đáng giá, mọi người coi thường; trước
kia, sách vở đúng là của báu!
Bây
giờ chúng ta lại xem tiếp đoạn thứ ba “đốn siêu tuyệt
đãi”, phần này có bốn tiểu đoạn. Tiểu đoạn thứ nhất
là “Hạ phàm chúng sanh trong Niệm Bất Thoái, vượt hết
khỏi bốn mươi mốt địa vị (từ Thập Trụ đến Đẳng
Giác Bồ Tát), tức là phàm phu chẳng trải qua [các địa vị]
Dị Sanh, ắt bổ vào địa vị Phật, không khác gì Quán Âm,
Thế Chí”. Trước hết, chúng ta đọc đoạn này. Câu trên
thuộc phân nửa trước của đoạn này. Chữ “hạ phàm”
chỉ ai? Những kẻ vãng sanh trong bậc hạ thuộc Phàm Thánh
Đồng Cư độ, tức là ba phẩm Hạ sanh về Tây Phương Cực
Lạc thế giới, liền được Niệm Bất Thoái. Chẳng những
là Niệm Bất Thoái mà còn viên chứng Niệm Bất Thoái. Nếu
chỉ nói đơn giản là Niệm Bất Thoái thì có thể nói là
kẻ ấy chỉ bằng với Sơ Trụ Bồ Tát, chúng ta có thể hiểu
như vậy. Nếu nói là “viên chứng ba thứ Bất Thoái” thì
khác hẳn, vì bậc viên chứng ba thứ Bất Thoái là ai? Là
Đẳng Giác Bồ Tát. Ở đây, đại sư Ngẫu Ích khẳng định
viên chứng ba thứ Bất Thoái chính là Đẳng Giác Bồ Tát,
cho nên “vượt hết khỏi bốn mươi mốt địa vị”. Bốn
mươi mốt địa vị là nhân vị (địa vị khi còn đang tu
nhân) của Bồ Tát: Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng,
Thập Địa, Đẳng Giác. Đúng là khó tin, bởi thế phải nói
kẻ ấy là phàm phu nhưng trong một đời quyết định thành
Phật “ắt bổ vào địa vị Phật, chẳng khác gì Quán Âm,
Thế Chí”, không khác gì bậc Đẳng Giác Bồ Tát cả! Kẻ
ấy là hạ phàm chúng sanh, trong Cực Lạc thế giới cớ sao
thành được như vậy! Đó là chân tướng sự thật của Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Tiếp đến là đoạn:
“Nếu
bảo là Nhất Sanh Bổ Xứ thì chỉ có thể gọi là phàm phu,
chẳng thể gọi là Đẳng Giác Bồ Tát”: Kẻ ấy là chúng
sanh thuộc ba phẩm Hạ trong Phàm Thánh Đồng Cư độ, nếu
quý vị nói kẻ ấy là Nhất Sanh Bổ Xứ thì chẳng thể nói
như vậy được. Vì sao? Vì kẻ ấy thuộc ba phẩm hạ vãng
sanh về Phàm Thánh Đồng Cư độ, là phàm phu mà! Một phẩm
phiền não chưa đoạn, chẳng thể gọi kẻ ấy là Đẳng Giác
Bồ Tát được! Sự việc này “chẳng thể tính gộp trong
giáo võng được, chẳng thể liệt vào sát võng được”.
Chữ “giáo võng” chỉ giáo học; trong giáo học không thể
có tình huống như vậy được. Trong giáo võng, theo Ngũ Thừa
Phật giáo thì pháp để phàm phu học tập là pháp Nhân Thiên
“Ngũ Giới, Thập Thiện, tứ vô lượng tâm”; học những
thứ đó. Thanh Văn học pháp Tứ Đế, Duyên Giác học pháp
Thập Nhị Nhân Duyên, Bồ Tát học lục độ vạn hạnh, đó
là nói về Giáo! Những điều đó không cách gì thích ứng
với tình trạng trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, làm
sao phàm phu lại ở cùng một chỗ với Đẳng Giác Bồ Tát
được? Khác nào học trò tiểu học lại học cùng một lớp
với nghiên cứu sinh, thành ra thể thống gì nữa?
“Chẳng
thể liệt vào sát võng”: Chữ “sát võng” chỉ thế giới.
Trong tất cả thế giới không có sự việc này. Phàm phu quyết
định phải thuộc vào Phàm Thánh Đồng Cư độ, quyết định
chẳng dự vào Phương Tiện Hữu Dư độ. Thanh Văn, Duyên Giác,
Quyền Giáo Bồ Tát quyết định thuộc Phương Tiện Hữu Dư
độ, chẳng thuộc Thật Báo Trang Nghiêm độ. Pháp Thân Bồ
Tát quyết định ở trong Thật Báo Trang Nghiêm độ, chẳng
ngụ nơi Phàm Thánh Đồng Cư độ. Sát võng là vậy đó. Tây
Phương Cực Lạc thế giới phá cái lệ ấy, người thuộc
Phàm Thánh Đồng Cư độ ở cùng một chỗ với Đẳng Giác
Bồ Tát, mà Đẳng Giác Bồ Tát thuộc Thật Báo Trang Nghiêm
độ. Bởi thế, Giáo Hạ của mười phương thế giới không
có sự tình này, không có cái lệ này. Trong bốn cõi cũng
không có trạng huống này, nên gọi là pháp môn đặc biệt.
Đặc biệt ở chỗ nào? Ở đây chúng ta thấy rõ thật là
đặc biệt!
Đoạn
này giảng “đốn siêu tuyệt đãi” như thế đó, rất trọng
yếu. Sau khi quý vị thật sự hiểu được rồi thì lòng tín
nguyện đối với việc cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới chẳng những sẽ sanh khởi mà còn kiên định nữa. Đối
với việc một đời sanh về Tây Phương Tịnh Độ, đây chính
là chỗ mấu chốt.
“Nên
biết đại sự nhân duyên của chúng ta chính là: Một ải
Đồng Cư khó vượt thoát nhất”. Câu này luận về các cõi
Phật thông thường. Phàm Thánh Đồng Cư Độ là gì? Là lục
đạo luân hồi. Vượt khỏi luân hồi lục đạo rất khó
khăn, “khó vượt thoát nhất”. Phật, Tổ nói như vậy,
chúng ta phải chú tâm suy nghĩ, quan sát, không được lầm
chút nào. Hãy suy nghĩ: Nay chúng ta đang sống trong cái ải
Đồng Cư, có năng lực gì để vượt thoát đây? Từ xưa,
tổ sư đại đức nói: Trong thời kỳ Mạt Pháp, trừ Tịnh
Độ ra, tu hành bất cứ pháp môn nào cũng không thể thành
tựu trong một đời được, không thể thành tựu thì không
thể vượt thoát luân hồi được! Vì sao? Bất luận quý vị
tu học một pháp môn nào, công phu định lực nhất định
phải là Cửu Thứ Đệ Định thì mới có thể vượt thoát
tam giới được. Tứ Thiền Bát Định trong tam giới không
thể vượt thoát luân hồi được!
Bởi
thế, nếu quý vị suy nghĩ: Quý vị muốn vượt khỏi luân
hồi lục đạo thì công phu định lực phải hơn Bát Định.
Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật dạy sở chứng của A La Hán
là Đệ Cửu Định, Cửu Thứ Đệ Định mới vượt thoát
được! Chúng ta có năng lực ấy hay chăng? Hiện tại, các
nhà khoa học nói đến những chiều không gian khác nhau, Phật
pháp gọi là vượt thoát luân hồi lục đạo. Cõi trời gồm
hai mươi tám tầng, tức là trong Tam Giới có hai mươi tám
tầng trời, nghĩa là hai mươi tám chiều không gian khác nhau.
Quý vị phải vượt khỏi hai mươi tám chiều không gian khác
nhau mới vượt được cái ải Đồng Cư. Xưa kia vào thời
Chánh Pháp, Tượng Pháp có người làm được, chứ thời kỳ
Mạt Pháp không được! Đàm Hư đại sư đã nói về tình
hình này rất khéo, quý vị cứ đọc sách của cụ Đàm sẽ
biết ngay; hãy đọc cuốn Ảnh Trần Hồi Ức Lục là truyện
ký của cụ Đàm.
Tôi
chưa từng gặp mặt Sư, nhưng được nghe băng thâu âm lời
Sư khai thị trong kỳ đả Phật Thất ở Hương Cảng. Băng
ghi âm ấy nay chúng tôi đã chế thành CD, chỗ chúng tôi có
lưu truyền. Băng thâu âm lời khai thị ấy, tôi đã nghe ít
nhất hơn trăm lần, nghe rất thích, rất cảm động. Sư giảng
rất hay. Suốt một đời Sư (lúc đó Sư đã chín mươi tuổi),
chưa hề thấy, nghe có một người nào trong Thiền Tông khai
ngộ cả, chưa từng nghe nói đến. Sư nói đã từng gặp những
người tham thiền đắc định, chứ người khai ngộ chưa hề
gặp.
Đắc
thiền định chẳng thể thoát khỏi luân hồi lục đạo. Nếu
đắc Sơ Thiền, Nhị Thiền thì nói thật ra sẽ sanh trong Tứ
Thiền Thiên, không thoát được luân hồi lục đạo. Bậc
đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh mới thoát khỏi
được. Bậc đại khai viên giải bên Giáo, Đại Sư cũng chưa
từng nghe nói có một ai. Người niệm Phật vãng sanh chẳng
những nghe nói rất nhiều, mà cả đời Sư được chính mắt
thấy phải hơn hai mươi trường hợp. Sư thường khuyên người
niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ; trừ phương pháp này ra, không
còn phương pháp thứ hai nào nữa cả. Đấy là lời trình
bày về kinh nghiệm suốt cả một đời của cụ Đàm. Ngài
niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, lúc mất cũng là ngồi mà
mất. A! Nay đã hết giờ rồi.
*
Chư
vị đồng học!
Chúng
ta xem tiểu đoạn thứ hai của đoạn thứ ba “đốn siêu
tuyệt đãi”. Chúng tôi đọc một lượt: “Nên biết đại
sự nhân duyên của chúng ta chính là một cái ải Đồng cư
khó vượt thoát nhất. Chỉ mình cõi Đồng Cư của Cực Lạc
vượt thoát ngoài các cõi Đồng Cư của mười phương. Hiểu
rõ điều đó mới có thể tin tưởng sâu xa vào nguyện lực
của Phật Di Đà, tin vào Phật lực thì mới có thể tin tưởng
sâu xa nơi công đức của danh hiệu. Có tin trì danh thì mới
có thể tin tưởng sâu xa tâm tánh của chính mình vốn chẳng
thể nghĩ bàn vậy!” Tuy những điều được nói trong đoạn
này trong phần trên chúng tôi đã nói không ít, nhưng ý nghĩa
đoạn này rất sâu, hết sức trọng yếu. Kinh Pháp Hoa giảng
“đại sự nhân duyên” là “khai thị ngộ nhập tri kiến
Phật”, đó là đại sự nhân duyên của chúng ta. Nói cách
khác, cái gọi là đại sự nhân duyên chính là kiến giải,
tư tưởng, trí huệ của chúng ta phải viên mãn rốt ráo giống
như Phật. Mười phương ba đời hết thảy nhân quả, cõi
nước, chúng sanh, không gì không biết chính là đại sự nhân
duyên.
Chẳng
những không gì không biết, mà chính mình còn thật sự làm
chủ vũ trụ; Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, bốn việc này đều
viên mãn hiện tiền. Nói thật ra, tự tánh của mỗi chúng
sanh đều đầy đủ viên mãn bốn việc này; dẫu đầy đủ
nhưng lại mê mất tự tánh, nên bốn việc hoàn toàn không
có. Bởi vậy, chúng ta nói “[viên mãn] hiện tiền” thì
đó chỉ là khôi phục tự tánh, nhà Phật thường gọi là
“minh tâm kiến tánh”, là “đại sự nhân duyên”. Đó
là cảnh giới tu học tối cao, là mục tiêu chung cục của
chúng ta. Phải bắt đầu thực hiện từ đâu? Từ một cửa
ải Đồng Cư, phải khởi đầu từ đó. Trước hết, ta phải
đột phá được cửa ải này, cũng có nghĩa là phải vượt
thoát luân hồi lục đạo. Khó lắm! Hôm qua tôi đã thưa cùng
quý vị, thật sự khó lắm!
Chúng
ta không có năng lực vượt thoát, nay đức Thế Tôn dạy cho
chúng ta một phương pháp, chẳng cần phải vượt thoát vẫn
có thể đột phá được, làm thế nào vậy? Nay chúng ta đang
mang thân phận con người trong lục đạo, dùng ngay thân phận
này để di dân sang Tây Phương Cực Lạc thế giới, vẫn mang
thân người. Thân người chúng ta không có cách gì di dân lên
thiên đạo, nhưng từ nhân đạo di dân sang thân người chẳng
phải là chuyện khó. Chúng ta di dân sang Phàm Thánh Đồng Cư
độ của Tây Phương Cực Lạc thế giới. Phàm Thánh Đồng
Cư độ cõi ấy rất đặc biệt, “chỉ mình cõi Đồng Cư
của Cực Lạc là vượt thoát ngoài các cõi Đồng Cư trong
mười phương”, mười phương ba đời các cõi Đồng Cư của
chư Phật, Bồ Tát đều chẳng sánh bằng cõi Đồng Cư của
thế giới Cực Lạc. Là vì trong thế giới Cực Lạc, cõi
Đồng Cư, cõi Phương Tiện, cõi Thật Báo, cõi Thường Tịch
Quang dung hợp thành một thể, giống như bốn ngọn đèn vậy.
Tịch Quang là ngọn đèn lớn, chúng ta nói nó có độ sáng
là một vạn chi quang (1), ngọn đèn ấy sáng bừng. Cõi Thật
Báo là ngọn đèn có độ sáng một ngàn chi quang. Độ sáng
của ngọn đèn Phương Tiện Độ là một trăm chi quang. Cõi
Đồng Cư chỉ sáng có một nến hay một chi quang. Nay cả bốn
ngọn đèn ấy đều được đặt trong cùng một căn phòng,
quý vị thấy có diệu kỳ hay không? Cây đèn một nến của
ta cũng sáng khắp cả gian phòng, cây đèn sáng chói trăm nến
cũng chiếu khắp phòng, cây đèn sáng chói một ngàn nến cũng
chiếu khắp phòng. Cây đèn một vạn nến cũng chiếu khắp
phòng, dung hợp thành một thể. Cõi Đồng Cư của thế giới
Cực Lạc giống như vậy đó. Cõi Đồng Cư của mười phương
thế giới giống như mỗi căn phòng chỉ có một ngọn đèn
một nến, không giống Cực Lạc; vì thế Cực Lạc vượt
ngoài mười phương.
“Liễu
thử” (hiểu rõ điều đó), Liễu là “minh liễu” (hiểu
rành rẽ, rõ ràng). Quý vị phải hiểu rõ chân tướng sự
thật này thì quý vị mới có thể “tin tưởng sâu xa vào
nguyện lực của Di Đà”, nguyện lực của bốn mươi tám
nguyện của Phật A Di Đà chẳng thể nghĩ bàn! Vì sao tình
hình cõi Đồng Cư của thế giới Cực Lạc lại được như
thế? Vì nó được hiển hiện bởi nguyện lực của Phật
A Di Đà. Trong Yếu Giải, đại sư Ngẫu Ích giải thích điều
này rất khéo: Chủ yếu nhất là Di Đà nguyện lực, kế đến
là công lực niệm Phật của chúng ta, tức sức tịnh nghiệp.
Di Đà nguyện lực giống như ngọn đèn sáng một vạn nến,
tịnh nghiệp của chúng ta giống như ngọn đèn một nến,
đến nơi đó bèn dung hợp. Nhờ vào nguyện lực của Phật
A Di Đà, quang minh ngọn đèn một nến của chúng ta cũng lớn
phổng lên, chẳng khác quang minh của A Di Đà Phật chi mấy,
đều là A Duy Việt Trí Bồ Tát. Quý vị hãy suy nghĩ thí dụ
này của tôi, hãy quan sát, dần dần quý vị sẽ lãnh hội
được. Đó chính là điều chẳng thể tìm thấy trong các
thế giới của mười phương chư Phật.
Chúng
ta “tin vào Phật lực mới có thể tin tưởng sâu xa công
đức của danh hiệu”. Công đức của danh hiệu chẳng thể
nghĩ bàn! Đối với mỗi câu trong đoạn này, chúng ta phải
đặc biệt chú ý đến chữ “tin tưởng sâu xa”, một mảy
nghi ngờ cũng chẳng có, tin tưởng sâu xa đấy nhé! Danh hiệu
có công đức thù thắng. Những năm qua, chúng tôi giảng kinh
luận Tịnh Độ, đã trình bày cùng mọi người rất nhiều
lần. Qua việc so sánh nhiều tầng, chúng ta sẽ hiểu được
công đức của danh hiệu, vì mỗi khi nói danh hiệu công đức
thù thắng, chúng tôi thường nghe nói: “Thù thắng ở chỗ
nào? Thù thắng bằng cách nào? ” Chẳng đoạn mối nghi hoặc
ấy, sẽ không đạt được lợi ích nơi công đức của danh
hiệu.
Tôi
đã từng trình bày cùng mọi người nhiều lần: Trong thời
đại Tùy - Đường, có không ít cao tăng đại đức nghiên
cứu hết thảy những kinh đức Phật đã nói trong suốt bốn
mươi chín năm, [muốn tìm ra] bộ nào đại biểu cho toàn bộ
những lời dạy trong bốn mươi chín năm của đức Thế Tôn.
Tìm được bộ kinh nào có thể đại biểu cho toàn bộ giáo
pháp thì cũng chính là khẳng định kinh ấy là bậc nhất
trong hết thảy kinh, là một hội thù thắng khôn sánh trong
bốn mươi chín năm thuyết pháp của đức Thế Tôn. Các tổ
sư đại đức các tông phái đều đồng ý, đều thừa nhận
Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh là kinh bậc nhất mà
đức
Phật nói ra. Bởi thế, kinh Hoa Nghiêm được gọi là “căn
bản pháp luân”. Lúc tôi vừa mới tiếp xúc Phật giáo sơ
sài, tiên sinh Phương Đông Mỹ đã giới thiệu kinh Hoa Nghiêm
là khái luận Phật giáo, các kinh điển khác đều là những
phần đặc biệt thuyết minh tường tận một bộ phận nào
đó của kinh Hoa Nghiêm, còn kinh Hoa Nghiêm giảng về toàn thể.
Thuyết này của tiên sinh Phương Đông Mỹ rất dễ hiểu!
Phật pháp khái luận, đúng là như vậy!
So
sánh hai bộ kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh và
Vô Lượng Thọ Kinh, các tổ sư đại đức cũng đều thừa
nhận kinh Vô Lượng Thọ là bậc nhất. Hoa Nghiêm đã là đệ
nhất, sao Vô Lượng Thọ Kinh lại là đệ nhất? Giải thích
cách nào đây? Hoa Nghiêm đến tối hậu là “mười đại
nguyện của Phổ Hiền dẫn về Cực Lạc”, kinh Vô Lượng
Thọ chính là Cực Lạc; còn Hoa Nghiêm đến tối hậu quy về
Cực Lạc. Bởi thế so với Hoa Nghiêm, kinh Vô Lượng Thọ
là bậc nhất! Cổ đức nói đến đây thôi. Trên cơ sở này
chúng ta lại tiến thêm một bước nữa. Nay với kinh Vô Lượng
Thọ, chúng ta chọn bản hội tập của cụ Hạ Liên Cư, bản
hội tập chia toàn bộ kinh văn thành bốn mươi tám phẩm,
chúng ta phải hỏi phẩm nào là bậc nhất trong bốn mươi
tám phẩm đó? Chúng ta phải tìm cho ra phẩm bậc nhất. Các
tổ sư đại đức cũng đều nói, phần tinh vi đẹp đẽ nhất,
không gì sánh bằng của kinh Vô Lượng Thọ chính là bốn
mươi tám nguyện; tức là phẩm thứ sáu của kinh Vô Lượng
Thọ, phẩm thứ sáu là bậc nhất. Phẩm kinh ấy do chính đức
A Di Đà Phật nói ra, Thích Ca Mâu Ni Phật chỉ tường thuật
cho chúng ta biết mà thôi. Tường thuật, không thêm, không
bớt, nghĩa là A Di Đà Phật nói làm sao, Thích Ca Mâu Ni Phật
bèn kể lại như vậy, kể lại cho chúng ta nghe bốn mươi
tám nguyện A Di Đà Phật đã phát thệ. Phẩm này là phẩm
bậc nhất của toàn bộ kinh. Nói thật ra, bốn mươi tám nguyện
giống như hiến pháp của một quốc gia, chúng chính là hiến
pháp của thế giới Cực Lạc.
Bốn
mươi tám nguyện tức bốn mươi tám điều, điều nào là
bậc nhất? Lại tìm tòi! Đây cũng chính là ý kiến của các
tổ sư đại đức, nguyện thứ mười tám là bậc nhất. Nguyện
thứ mười tám nói những gì? Mười niệm ắt sanh! Điều
này nói lên danh hiệu có công đức chẳng thể nghĩ bàn! Nguyện
thứ mười tám nói về danh hiệu: “Lúc lâm chung, từ một
niệm đến mười niệm ắt sanh về Tịnh Độ”. Do đây biết
rằng: Chấp trì danh hiệu là trung tâm của bốn mươi tám
nguyện này; bốn mươi tám nguyện chỉ nhằm giải thích công
đức của danh hiệu; Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh
nhằm giải thích kinh Vô Lượng Thọ. Cả một Đại Tạng
Giáo, hết thảy pháp đức Thế Tôn đã nói trong suốt bốn
mươi chín năm chỉ nhằm giải thích kinh Hoa Nghiêm đó thôi.
Có
quan sát như vật quý vị mới hiểu danh hiệu chẳng thể nghĩ
bàn! Bởi thế, Thiện Đạo đại sư nói: “Sở dĩ đức Như
Lai xuất hiện trong thế gian, chỉ nhằm để nói biển bản
nguyện của Phật A Di Đà”. Lời nói này chẳng nhằm giảng
riêng mỗi mình Thích Ca Mâu Ni Phật, đại sư chẳng chỉ giảng
lý do Thích Ca Mâu Ni Phật xuất thế, mà đại sư còn chỉ
ra lý do xuất thế của Như Lai. Nói Như Lai là chỉ chung mười
phương ba đời hết thảy Phật Như Lai, ứng hóa trong chín
pháp giới của vô lượng vô biên cõi Phật, chỉ nhằm một
chuyện, nhằm một đại sự nhân duyên: Giới thiệu Tịnh
Độ của Phật A Di Đà với hết thảy chúng sanh, chỉ để
vậy thôi! Đấy mới là nhân duyên hy hữu rốt ráo. Bởi vậy,
chúng ta tin vào Di Đà nguyện lực thì mới có thể tin sâu
xa công đức chẳng thể nghĩ bàn của danh hiệu!
Nhất
tâm trì danh ắt sanh Tịnh Độ, hãy nhớ kỹ trong kinh Đại
Thừa, Phật thường dạy chúng ta: “Hết thảy pháp từ tâm
tưởng sanh”, kể cả trong cuộc sống thường nhật của
chúng ta, tâm tưởng là chủ tể. Tâm mình bất thiện thì
thân thể, hoàn cảnh chung quanh mình cũng thành bất thiện.
Thân tâm mình phải thiện. Trong kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo,
đức Phật dạy chúng ta: “Thường nghĩ đến thiện pháp
là tâm thiện; tư duy thiện pháp là ý thiện; quán sát thiện
pháp là hạnh thiện”. Thuần thiện, chẳng để mảy may bất
thiện xen tạp chính là hạng người nào? Chính là Phật, là
Như Lai. Chúng ta muốn làm Phật, muốn làm Như Lai thì không
có gì khác cả, phải thuần tịnh, thuần thiện, quyết định
chẳng để nhiễm ô mảy may, đó chính là điều tự mình
có thể làm được. Người khác gây nhiễm ô cho mình, nếu
mình tiếp nhận mình mới bị nhiễm ô; không tiếp nhận sẽ
chẳng thể nhiễm ô. Bởi thế tự mình phải biết giữ gìn
sự thanh tịnh của chính mình, giữ gìn sự thuần thiện của
chính mình, điều đó rất trọng yếu. Thế sao không làm?
Quá
khứ không biết còn tha thứ được, nay chúng ta đã tiếp
xúc Phật pháp nhiều năm, đã biết rồi. Biết rồi mà không
làm, sai trái do chính mình; không thể làm được nói chung
là có nguyên nhân, nguyên nhân gì vậy? Chẳng hiểu triệt
để, chẳng biết rõ ràng. Vì thế, biết một phần, hiểu
một nửa, bán tín bán nghi, tạo thành chướng ngại nên chẳng
thể làm được! Nếu quý vị thật sự biết thì lẽ đâu
chẳng làm được! Lẽ đâu chẳng vui thích làm! Không hề
có, trong thế gian tìm đâu ra con người như vậy! Đối với
chính mình lợi ích vô lượng vô biên, chúng ta phải khéo
suy nghĩ cho lắm!
Trong
đây lại có chân lý, chân lý gì vậy? “Tin vào trì danh thì
mới có thể tin tưởng sâu ra rằng tâm tánh của chúng ta
vốn chẳng thể nghĩ bàn!” Câu này là chân lý đấy! Tâm
tánh của chúng ta chẳng thể nghĩ bàn, kinh Hoa Nghiêm giảng
là “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”, tâm tánh chẳng
thể nghĩ bàn! Hư không do đâu có? Thế giới từ đâu có?
Vô lượng vô biên cõi Phật từ đâu có? Mọi loài chúng sanh
từ đâu có? Do tâm hiện thức biến! Tâm thuần tịnh thuần
thiện, ngay cả thiện lẫn tịnh cũng không có dấu vết, chẳng
để lại dấu vết, thuần mà! Trong Thức có thiện niệm,
có ác niệm. Quý vị thấy trong kinh luận của Pháp Tướng
Duy Thức Tông, đức Phật nói trong tâm có Thiện Tâm Sở,
có Ác Tâm Sở.
Tâm
Sở vô lượng vô biên, đức Phật quy nạp thành năm mươi
mốt loại. Trong đó, Thiện Tâm Sở gồm mười một loại,
Tâm Sở bất thiện là phiền não gồm hai mươi sáu loại.
Nay chúng ta phải làm sao dẹp hai mươi sáu Tâm Sở bất thiện
qua một bên, không đếm xỉa đến chúng nữa, phải phát dương
quang đại mười một Tâm Sở thiện. Nhất định phải vùi
lấp, phải vượt qua hai mươi sáu Tâm Sở bất thiện thì
mới hòng thành công. Tâm tánh vốn chẳng thể nghĩ bàn, nhưng
vấn đề là gì? Là giác, không giác thì mê, mê là phàm phu,
giác là Phật, Bồ Tát. Giác ngộ thì phàm phu thành Phật,
không giác ngộ bèn là mê hoặc, sẽ thành phàm phu, chuyện
như vậy đó. Lại xem tiếp đoạn sau:
“Đầy
đủ lòng tin sâu xa ấy mới có thể phát đại nguyện, hai
chữ “ưng đương” (phải nên) trong kinh chỉ cho lòng tin
sâu xa ấy”. Trong kinh, đức Phật khuyên dạy chúng ta: “Ưng
đương phát nguyện, nguyện sanh bỉ quốc” (phải nên phát
nguyện, nguyện sanh về cõi nước kia), sách Yếu Giải nhắc
đến hai chữ “ưng đương” này. Vì thế, chúng ta hiểu
rõ tuy chưa thể nói là triệt để, nhưng cũng là hiểu rõ
kha khá. Cõi Phàm Thánh Đồng Cư Độ của Tây Phương Cực
Lạc thế giới do đại nguyện chủng trí của A Di Đà Phật
hiện thành, do tịnh nghiệp niệm Phật của chúng ta cảm thành,
cảm ứng đạo giao! Do tâm tánh của chính mình hiện, tức
là “duy tâm Tịnh Độ, tự tánh Di Đà”, hết thảy pháp
chẳng tách rời tự tánh, tức tâm tánh của chính mình. Y
báo, chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới cũng do tâm
tánh của chính mình biến hiện, do nghiệp nhơ (nhiễm nghiệp)
cảm thành; Tây Phương Cực Lạc thế giới do tịnh nghiệp
cảm thành, do tịnh nghiệp tâm đồng, nguyện đồng, đức
đồng với A Di Đà Phật cảm thành. Nếu chúng ta chẳng dốc
công phu vào ngay chỗ này thì là trật rồi! Bởi thế hai chữ
“ưng đương” trong kinh chính là nói về lòng tin sâu đậm.
“Tin
sâu phát nguyện chính là Vô Thượng Bồ Đề”, từ trước
đến nay chưa có ai giảng như vậy. Chúng ta thấy rất nhiều
người niệm Phật thật sự vãng sanh, nhưng họ là hạng người
như thế nào? Không biết chữ, về căn bản chẳng hiểu kinh
giáo chi hết, họ niệm kinh A Di Đà nhưng kinh A Di Đà ý nghĩa
ra sao, họ hoàn toàn không biết, chỉ niệm A Di Đà Phật,
vẫn nghiễm nhiên vãng sanh. Vãng sanh thật sự có tướng lành,
đứng mất, biết trước lúc đi, lúc nào A Di Đà Phật sẽ
đến đón mình; hoặc ngồi mất, người ấy không biết chữ.
Vì thế, chúng ta đọc kinh Vô Lượng Thọ thấy nói muốn
vãng sanh ắt phải có đủ điều kiện là “phát Bồ Đề
tâm, một dạ chuyên niệm”, chúng ta hiểu: Với người ấy
một dạ chuyên niệm không có vấn đề gì, nhưng ta có thể
khẳng định người ấy chưa từng phát Bồ Đề tâm. Người
ấy không phát Bồ Đề tâm, vì sao vẫn có thể vãng sanh?
Tôi ôm nghi vấn ấy cả mười mấy năm, cứ nghi mãi. Về
căn bản, bà lão niệm Phật vãng sanh kia chẳng biết thế
nào là Bồ Đề tâm cả!
Khởi
Tín Luận nói đến trực tâm, thâm tâm, đại bi tâm; kinh Quán
Vô Lượng Thọ nói đến chí thành tâm, thâm tâm, hồi hướng
phát nguyện tâm, bà cụ làm sao hiểu được những thứ đó,
thế sao vẫn vãng sanh? Lúc đọc Yếu Giải, đọc đến đây
mới hiểu rõ. Một câu nói này của đại sư Ngẫu Ích trọng
yếu hơn tất cả, nó đã cho tôi lời giải đáp. “Thâm tín
phát nguyện chính là Vô Thượng Bồ Đề”. Về căn bản,
người ấy không hiểu Vô Thượng Bồ Đề là gì, nhưng tin
rất sâu, phát nguyện, không hoài nghi chút nào, đó chính là
tâm Vô Thượng Bồ Đề. Khi đó, đọc được câu nói này,
tôi suy nghĩ mãi, càng nghĩ càng có lý, đại sư Ngẫu Ích
giảng không sai lầm!
Bởi
thế, những người ấy là Hạ Hạ Căn, chúng ta thường gọi
là kẻ ngu, không có trí huệ, là người ngu, ngu ngốc nhất,
chính là như cổ nhân thường nói “ngu không ai bằng”, nhưng
chúng ta thua xa họ. Họ cái gì cũng không biết, nhưng được
dạy bèn tin, tin chân thành, tin thật sự không hoài nghi; dạy
cầu sanh Tịnh Độ họ bèn thật sự phát nguyện, đối với
thế gian này bèn nghiễm nhiên buông xuống, một mảy may lưu
luyến cũng không có. Kết quả: Niệm Phật ba năm, năm năm
bèn thành công. Thọ mạng vẫn còn, nhưng không cần đến
nữa, bèn vãng sanh. Bởi thế, đến đây chúng ta mới thật
sự hiểu rõ: “Thâm tín phát nguyện” chính là tâm Vô Thượng
Bồ Đề. Quý vị thấy họ đáp ứng tiêu chuẩn “thâm tín
phát nguyện, một dạ chuyên niệm”. Bản thân chúng ta vẫn
hiểu lơ mơ, vẫn nghi lự trùng trùng, công phu không đắc
lực. Những ông già bà cả kia chuyện gì cũng không hiểu,
nhưng công phu đắc lực, nay ta gọi là “tập trung tinh thần,
tập trung ý chí”, năng lực ấy rất lớn! Tập trung vào
đâu? Tập trung nơi thế giới Cực Lạc, tập trung nơi A Di
Đà Phật, phát sanh năng lượng rất lớn, cảm ứng đạo
giao cùng A Di Đà Phật!
Mấy
hôm trước, pháp sư Ngộ Bình hạ tải (download) từ Internet
xuống một vài văn kiện, đại khái ở Đài Loan có bốn,
năm trường tiểu học, thầy hướng dẫn học trò làm thí
nghiệm: Dùng thiện ý, bất thiện ý và thái độ không thèm
quan tâm để thử tác động lên thực vật và một số vật;
dùng ba thứ đề mục đó để thí nghiệm trên chúng. Thầy
trò hết sức kinh ngạc trước kết quả thu được. Ông Giang
Bản Thắng của Nhật Bản làm thí nghiệm với nước, còn
trong bản báo cáo này, tại Đài Loan họ dùng hoa lan, ba giò
hoa lan. Đại khái hình dạng lớn nhỏ không khác nhau chi mấy,
chọn mỗi giò hoa xong, treo bên cửa để học sinh mỗi ngày
ba lượt, chia thành mấy tổ: một tổ thiện ý, một tổ ác
ý, một tổ chẳng thèm quan tâm, tức là mặc kệ không để
ý đến.
Thiện
ý là nói với hoa: “Hoa đẹp lắm, tôi rất thích hoa”, khen
ngợi nó một ngày ba lần; bảo những học trò tham gia tổ
ấy mỗi ngày ba lần bày tỏ thiện ý với hoa. Tổ bất thiện
ý thì nói: “Tao chán ghét mày quá, tao không thích mày, mày
xấu xí quá đi!”, nói như vậy đấy. Độ mấy ngày sau,
hoa được đối đãi bằng thiện ý chẳng thay đổi, rất
thơm. Hoa bị đối xử ác ý dần dần héo rụi, không còn
mùi thơm nữa. Còn hoa không được quan tâm đến bắt đầu
tàn tạ, mục nát ra. Hoa thật sự có thể nghe, có thể tiếp
nhận ý tưởng của con người. Họ thí nghiệm với “mạn
đầu” (2), cũng dùng phương pháp trên đối với ba cái mạn
đầu. Kết quả cái mạn đầu được đối xử bằng thiện
ý, hai tuần lễ vẫn không bị biến đổi; thật đấy! Tợ
hồ thiện ý là một loại thuốc chống mục nát vậy. Đối
xử bằng ác ý thì mạn đầu bị biến hóa, mùi rất khó
ngửi. Cái mạn đầu không được quan tâm đến cũng dần
dần bị biến hoại.
Bọn
họ dùng chuối, táo, dùng rất nhiều thứ khác. Lại còn dùng
giá đậu, đậu xanh đã nẩy mầm thành giá: Dùng thiện ý
đối xử, mầm giá mọc rất khỏe. Đối xử bằng ác ý,
giá mọc rất chậm. Nếu không quan tâm đến, nó bèn chết
khô. Họ nhận ra các loài thực vật, ngay cả bánh mạn đầu
cũng hiểu được ý người, đều tiếp nhận hết. Trên thực
tế, trong kinh Lăng Nghiêm đức Phật đã giảng: Bất luận
loại vật chất nào cũng đều có linh tri. Trung Phong thiền
sư gọi cái tâm này là “linh tri tâm”. Linh tri tâm chính
là bản thể của hết thảy vạn sự vạn vật, thể là linh
tri.
Vì
thế, mỗi tế bào trên thân thể chúng ta, mỗi một sợi lông
đều có thể thấy, nghe, cảm nhận, biết, đừng tưởng chúng
vô tri. Những bậc chân nhân thổ dân Úc Châu hiểu được
điều này, bởi vậy, lúc họ trị bệnh, về căn bản là
chẳng dùng đến thuốc men. Họ cho rằng khi mình bị thương
ở chỗ nào thì trò chuyện cùng với những tế bào thuộc
phạm vi bị thương, dùng thiện ý an ủi chúng, dần dần chúng
sẽ khôi phục bình thường, tự nhiên khôi phục bình thường.
Lúc bị thương chúng bị chấn động, kinh sợ, kinh hoảng
nên trật tự bị rối loạn, không bình thường, nên chúng
ta thấy chúng bị tổn thương. Phải làm cho mỗi tế bào khôi
phục bình thường, hết khủng hoảng, trở lại bình thường,
rất hợp lý! Chẳng cần dùng đến thuốc men, trên thân mình
chỗ nào bị đau nhức, chẳng thoải mái, chỗ đó nhất định
phát sanh vấn đề, chúng ta phải mau điều hòa, giải trừ,
an ủi nó khiến nó được khôi phục bình thường thì mình
sẽ hết bị đau nhức.
Mọi
người cảm thấy [nói như vậy] quá thần kỳ, chứ trong Phật
pháp, đạo lý này được giảng rất thấu triệt: Nhỏ là
một thân, lớn là toàn vũ trụ, vũ trụ phải hài hòa. Vì
thế yêu thương và cảm ơn, cảm tạ chính là vũ trụ hài
hòa. Hài hòa là nhân tố chẳng thể khuyết thiếu của sanh
mạng vũ trụ. Sở dĩ Phật có thể thành Phật, sở dĩ Pháp
Thân Bồ Tát có thể thành Pháp Thân Bồ Tát không có chi khác
cả, tôi thường nói: “Chân thành trọn khắp hư không pháp
giới, thanh tịnh, bình đẳng trọn khắp hư không pháp giới,
chánh giác từ bi trọn khắp hư không pháp giới”. Nói cách
khác, tâm thương yêu trọn khắp hư không pháp giới, lòng
cảm ơn trọn khắp hư không pháp giới. Ta gọi những vị
như vậy là chư Phật Như Lai, là Pháp Thân Bồ Tát. Đáng
thương hại thay! Tâm lượng chúng ta quá nhỏ!
Hôm
nay, từ những thí nghiệm ấy chúng ta biết được tình hình
trên, kinh Lăng Nghiêm đã từng giảng tình hình ấy như sau:
“Các pháp được sanh ra chỉ là do tâm hiện. Hết thảy nhân
quả, thế giới, vi trần do tâm mà thành Thể”. Tâm là linh
tri, tâm là kiến văn giác tri. Bởi thế, mỗi một thực vật,
dù nhỏ tí như vi trần cũng đều có thể nghe, thấy, ta có
thể nói là chúng có thể thấy, có thể nghe, có thể hay,
có thể biết. Nhà khoa học Giang Bản Thắng dùng phương pháp
khoa học để quan sát kết tinh nước bằng kính hiển vi, là
một khởi đầu tốt đẹp hòng làm cho mọi người nhận biết:
dần dần qua thí nghiệm, [chứng thực] hết thảy vạn vật
quả nhiên đều có thể nghe, thấy, đều có thể tiếp nhận
năng lượng, tư tưởng của con người. Chúng ta có thiện
ý, chúng sẽ hồi đáp hết sức tốt đẹp. Chúng ta muốn
thân thể của chính mình mạnh khỏe, thì phải dùng thiện
ý để đối đãi mỗi một khí quan trên thân, đối đãi mỗi
một tế bào trên toàn thân. Thân chúng ta giống như một quốc
gia, ý niệm của ta giống như ông Tổng Thống, mỗi một tế
bào giống như nhân dân trong nước. Quý vị phải dùng thiện
ý đối đãi họ thì quốc gia mới cường thịnh, đạo lý
là đây! Dùng thiện ý để đối xử với mỗi một khí quan,
mỗi một tế bào trên thân chúng ta thì thân thể mạnh khỏe
cường tráng. Nếu hoài nghi một khí quan nào đó nơi thân:
Bao tử mình không tốt, chỗ này chỗ nọ không khỏe. Ái chà!
Quý vị khởi ý niệm bất thiện đối với chúng, chúng bèn
yếu đi. Quý vị có hiểu đạo lý này chăng? Đạo lý đức
Phật đã giảng trong kinh Đại Thừa, hy vọng các nhà khoa
sẽ dần dần thí nghiệm để khẳng định, chúng tôi tin rằng
không khó đâu, chúng ta đều có thể chứng thực được.
Hiểu
được đạo lý này, nếu quý vị muốn cầu thế giới hòa
bình thì không có gì khác cả, dùng thiện ý đối đãi hết
thảy tất cả chúng sanh trên thế giới, chẳng những đối
với mọi người trên toàn thế giới, mà đối với hết thảy
động vật, hết thảy thực vật, hết thảy khoáng vật, sơn
hà đại địa đều đối đãi bằng cái tâm thuần thiện,
thuần tịnh thì thế giới này sẽ an định, hòa bình, hưng
vượng, có thể chuyển thế giới Sa Bà thành thế giới Cực
Lạc. Sự thành do người, người nào? Phải là người giác
ngộ mới được, quyết định chẳng có tư tâm thì hết thảy
sẽ hóa thành rộng lớn, không có tư tâm, không dục vọng.
Nay chúng ta hiểu được mỗi một khí quan trên toàn thân do
các tế bào tạo thành; cái thân này của chúng ta là một
tiểu thế giới, bên ngoài là đại thế giới. Tiểu thế
giới và đại thế giới là một không hai. Đấy là Phật
pháp, là pháp giác ngộ chân chánh. Đoạn dưới nói:
“Tín
nguyện này hợp lại chính là kim chỉ nam của Tịnh Độ,
do đây chấp trì danh hiệu, ấy là chánh hạnh”. Bởi vậy,
Ấn Quang đại sư dạy chúng ta trong thời đại hiện thời,
chẳng cần phải cất đạo tràng to, mà lập đạo tràng nhỏ,
số người cùng tu chẳng được quá hai mươi người, nhất
tâm trì danh niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ, ai nấy đều
thành tựu. Không hóa duyên, không làm pháp hội, chẳng làm
kinh sám Phật sự, cũng chẳng truyền giới, cũng chẳng thâu
đệ tử, niệm Phật tu hành cho tốt; ngay cả kinh cũng không
giảng. Tôi thêm giảng kinh vào. Vì sao thêm giảng kinh vào?
Bởi nếu quý vị không hiểu đạo lý này, sẽ có nghi hoặc,
thâm tín phát nguyện rất khó. Chúng ta không phải là kẻ
hạ ngu; kẻ hạ ngu thì được, họ lợi hại hơn chúng ta
nhiều lắm! Chúng ta lại chẳng phải là thượng trí, vừa
không phải là hạ ngu, lơ lửng ở giữa, trên không thấu,
dưới không đến, nghi vấn đặc biệt nhiều. Nếu quý vị
chẳng nhờ kinh giáo để đoạn nghi sanh tín, “thâm tín phát
nguyện” sẽ không có, công phu chẳng đắc lực. Nay chúng
tôi giảng những kinh giáo cũng chẳng có gì khác, hoàn toàn
quy về Cực Lạc! Giảng Hoa Nghiêm cũng chẳng ngoại lệ, nhất
định phải giảng đại đạo lý chân tướng nhân sanh vũ
trụ cho rõ ràng, cho minh bạch mới đoạn trừ nghi hoặc được,
có chết lòng trọn ý thì mới thâm tín phát nguyện. Như vậy
mới tương ứng một câu Phật hiệu, một niệm tương ứng
một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật.
Vì thế, đấy là Chánh Hạnh. Bây giờ hết giờ rồi!
*
Chư
vị đồng học!
Xin
xem tiếp đoạn cuối cùng: “Nếu tín nguyện kiên định,
lâm chung mười niệm hay một niệm cũng quyết định được
vãng sanh”. Trước hết, chúng tôi nói một câu: Từ cổ,
tổ sư đại đức công nhận nguyện thứ mười tám là thù
thắng nhất, là lời răn dạy thù thắng khôn sánh; nhưng điều
kiện là “tín nguyện kiên định”: Tín tâm quyết định
không nghi hoặc, “nguyện sanh” là nguyện vọng, cả một
đời này chỉ có mỗi nguyện vọng này; trừ nguyện vọng
này, không có nguyện vọng nào khác cả. Đơn thuần như vậy,
kiên định như vậy, lâm chung niệm mười câu Phật hiệu,
hoặc niệm một câu Phật hiệu, quyết định được sanh.
Chữ “quyết” này hết sức trọng yếu, khẳng định! Một
điểm nghi hoặc cũng không có thì quyết định được vãng
sanh.
Ở
đây, quý vị phải hiểu: Thật ra, không phải ngẫu nhiên
đâu! Ngàn vạn phần chẳng được nghĩ vì đoạn kinh văn
này được tổ sư đại đức coi trọng, tán thán như thế,
chúng ta bèn nẩy lòng cầu may: “Nay mình không niệm Phật,
chẳng tu hành cũng không sao! Đến lúc lâm chung một niệm
hay mười niệm đều có thể vãng sanh”. Có tâm lý cầu may
như thế là hoàn toàn thất bại rồi. Ở phần trên tôi đã
thưa cùng quý vị rồi đó, phải thường xuyên ghi nhớ, chớ
quên: Lâm chung mười niệm hay một niệm vãng sanh thì nhất
định phải hội đủ ba điều kiện. Lúc lâm chung quý vị
có thể hội đủ ba điều kiện ấy chăng?
1)
Điều thứ nhất, lúc lâm chung thần trí phải sáng suốt,
không mê hoặc tí ti nào. Đó là điều kiện đầu tiên. Cả
đời người không thể không tu phước, chẳng tạo tội nghiệp.
Người Tàu nói có năm thứ phước báo, “ngũ phước lâm
môn”, trong năm thứ phước ấy, quan trọng nhất là phước
sau cùng. Phước sau cùng là phước gì? Chết tốt lành! Lúc
chết rõ ràng, minh bạch, chẳng mê hoặc, chẳng điên đảo,
ấy là phước báo lớn nhất, là phước báo chân thật nhất.
Vì sao? Ảnh hưởng đến đời sau của quý vị. Nếu lúc ấy,
gặp được người niệm Phật dạy mình niệm Phật, mình
thành Phật rồi! Trong năm phước, bốn thứ phước đầu không
thật, chỉ là sự hưởng thụ trong một đời này, trong nhà
Phật gọi là “hoa báo”, phước cuối cùng là quả báo.
Một đời hành thiện tích đức, dùng thiện tâm, thiện sự
đối đãi hết thảy người, sự, vật, đối đãi thiên địa
quỷ thần; lúc lâm chung sáng suốt, minh bạch, tâm không điên
đảo, không tán loạn, lúc ấy niệm một niệm hay mười niệm
mới được vãng sanh. Bởi thế, lúc ấy phải có người cảnh
tỉnh quý vị, sợ quý vị quên mất. Như vậy, điều kiện
thứ nhất là thần trí sáng suốt, đó là điều kiện đầu
tiên.
2)
Điều kiện thứ hai có người cảnh tỉnh quý vị.
3)
Điều kiện thứ ba là quý vị có thể tiếp nhận, người
ta cảnh tỉnh bèn lập tức tiếp nhận, liền quyết tâm, tín
nguyện lập tức kiên định, cầu sanh về Tịnh Độ chắc
chắn được vãng sanh.
Quý
vị hãy nghĩ xem lúc lâm chung mình có thể hội đủ ba điều
kiện này hay chăng? Quan trọng nhất là điều kiện đầu tiên,
quý vị phải có phước báo. Chúng tôi thấy rất nhiều thân
thích bằng hữu, lúc họ sắp mất chúng tôi đến đưa đi,
có người khi bệnh chuyển nặng, không còn biết gì hết,
chẳng nhận biết được ai, vậy là hỏng bét! Đáng sợ lắm!
Lúc lâm chung chẳng tỉnh táo nhận biết, mê hoặc, điên đảo,
sẽ lưu chuyển theo nghiệp, đáng sợ nhất là chuyện đó!
Đoạn ác tu thiện, tích lũy công đức để làm gì? Để cầu
lúc lâm chung, ra đi sáng suốt rõ ràng, minh bạch, rành rẽ.
Không học Phật, không biết vãng sanh Cực Lạc thế giới,
cũng quyết định sanh vào đường lành, con người sáng suốt,
minh bạch rành rẽ ấy có thành ngạ quỷ, có thành súc sanh
được chăng? Chẳng thể nào! Phàm kẻ đọa vào ba ác đạo
đều chết một cách mê muội, hồ đồ! Trong tam ác đạo
có quỷ thần dẫn dụ, mê hoặc, quý vị không biết đó là
sai trái, thấy rất hợp ý mình, lôi kéo tham - sân - si - mạn,
dẫn khởi phiền não tập khí của chính mình, đọa lạc liền.
Thật là đáng sợ!
Bởi
thế con người phải tu phước, biết tu phước, biết làm
lành, chúng ta đều nhìn từ duyên, nhìn từ bên ngoài, không
dễ gì làm được! Xin giảng sâu thêm một tầng nữa: Người
thập niệm vãng sanh trong quá khứ đã tu tập, tích lũy thiện
căn sâu dầy, đó là cái nhân chân thật! Thiện căn tu tập
trong bao kiếp, trong một đời này không gặp được thiện
duyên, không gặp được Phật pháp. Nếu người ấy sớm gặp
được Phật pháp thì thiện căn trong A Lại Da Thức đã sớm
dẫn khởi, phát tác dụng, người ấy nhất định là một
người tu hành rất giỏi, hay một vị thiện tri thức rất
tốt. Trong đời này không có duyên, vô duyên tiếp xúc Phật
giáo, vô duyên dẫn phát thiện căn. Trong một sát-na lúc sắp
mạng chung, trong thời gian ngắn ngủi ấy, gặp được thiện
tri thức vừa cảnh tỉnh, vừa chỉ dạy cho biết Tây Phương
Cực Lạc thế giới tốt đẹp vừa khuyên lơn, kẻ ấy vừa
nghe thì thiện căn trong A Lại Da Thức bèn phát hiện, lập
tức tin tưởng, bèn có thể tiếp nhận, bèn có thể phát
nguyện, niệm Phật theo mọi người.
Tại
Washington DC chúng ta đã thấy ông Châu Quảng Đại là một
trường hợp như vậy. Ba ngày trước khi ông vãng sanh, tận
cho đến lúc vãng sanh thần trí ông sáng suốt, không mê hoặc
tí nào, chẳng chút gì tán loạn, mọi người trong nhà cùng
niệm Phật giúp ông. Thân thích, bằng hữu đến thăm đều
niệm A Di Đà Phật, vui sướng lắm! Tuy bệnh rất nặng, cõi
lòng ông rất sung sướng, bởi lẽ niệm Phật sự đau khổ
giảm thiểu, không đau đớn nữa, ông kêu mọi người đều
niệm Phật giúp, ba ngày rồi mất. Có tướng lành! Không biết
vị đồng học nào trong Tịnh Tông Học Hội là thân thích
của ông, thấy Phật đến tiếp dẫn, thấy tướng lành như
sau: Thấy quang minh, ngửi thấy mùi thơm. Hình như có người
thấy Phật đứng trên nóc nhà, thấy vậy đó! Tướng lành
hy hữu sao!
Chúng
ta không biết trong đời quá khứ mình có túc căn hay không,
chính mình không biết, nhưng nếu chú tâm quán sát trên mặt
dấu vết, chúng ta sẽ có thể thấy được. Trong đời quá
khứ phải thật sự có thiện căn thì trong đời này mới
khá hiền lành; chúng ta thường gọi là “người có lương
tâm”, chẳng hại người. Đó đều là hiện tượng chứng
tỏ thiện căn sâu dầy. Đồng cảm với người khác, giúp
đỡ những người khổ nạn là trong quá khứ từng có thiện
căn! Có thể bỏ mình vì người, biết nghĩ đến đại cuộc,
đó đều là hình dáng của thiện căn, trí huệ. Chúng ta lắng
lòng quán sát sẽ biết ngay. Quan trọng nhất vẫn là chính
mình phải nỗ lực tu hành, đặt nặng tín nguyện kiên cố,
tín - nguyện - giải - hạnh tương ứng với Phật. Lại xem
tiếp đoạn dưới:
“Nếu
không tín nguyện thì dù có trì danh hiệu đến mức gió thổi
không lọt, mưa tạt chẳng ướt, hệt như tường đồng vách
sắt, cũng không lẽ nào được vãng sanh. Người tu tịnh nghiệp
không thể không biết điều này”. Chúng ta phải hiểu rõ
đoạn này: Tín tâm nếu lúc có lúc không, có lúc tợ hồ
tin, có lúc lại hoài nghi, nguyện chẳng khẩn thiết. Nguyện
chẳng khẩn thiết thì sao? Không buông danh văn, lợi dưỡng,
ngũ dục, lục trần của thế gian này xuống được! Tín nguyện
kiên cố thì bất cứ sự gì trong thế gian cũng buông xuống
được, chẳng phải đến lúc mạng chung mới buông xuống,
mà buông ngay trong hiện tại. Chúng ta phải hiểu lý sự này,
những việc trong hiện tại có cần phải làm hay không? Phải
làm chứ! Trong thế gian này, tuy chúng ta hòa quang đồng trần
cùng hết thảy chúng sanh, những việc gì nên làm chúng ta
đều tích cực nỗ lực thực hiện, nhưng trong tâm không vướng
mắc! Trong mười hai thời, một câu Phật hiệu trong tâm niệm
niệm không quên.
Thật
sự đầy đủ tín nguyện trì danh, cổ đức gọi phương pháp
niệm Phật như vậy là “bất hồi hướng pháp môn”. Vì
sao gọi là hồi hướng? Không dùng đến hồi hướng. Mục
đích của một câu A Di Đà Phật đối với ta là để cầu
sanh Tịnh Độ, cho nên niệm niệm đều là hồi hướng, trì
danh và hồi hướng hợp thành một thể. Chúng ta chẳng cầu
bất cứ gì dù thế gian hay xuất thế gian, ta chỉ có một
niềm cầu nguyện là cầu sanh về Tịnh Độ, thân cận Di
Đà, nguyện vọng như vậy đó. Bởi thế gọi là “bất hồi
hướng pháp môn”.
Bậc
thiện tri thức trong Niệm Phật Đường thường dạy chúng
ta hồi hướng để làm gì? Để nhắc nhở mình, sợ mình
quên mất, ý nghĩa là đây. Hồi hướng, phát nguyện không
phải là nói với Phật mà là để thường tự nhắc nhở
mình, phải biết mình niệm Phật để làm gì? Tu hành để
làm gì? Đoạn ác tu thiện để làm gì? Trì trai niệm Phật
để làm gì? Bố thí, cúng dường để làm gì? Quyết định
chẳng cầu danh văn, lợi dưỡng thế gian, quyết định chẳng
cầu phước báo nhân thiên, chỉ cầu vãng sanh Tây Phương
Cực Lạc thế giới, chỉ cầu sớm có ngày thấy được Phật
A Di Đà. Bởi thế, pháp môn này gọi là pháp môn bất hồi
hướng. Dành trọn thời gian niệm kệ hồi hướng để niệm
Phật hiệu, tín - nguyện - giải - hạnh của ta (hạnh bao gồm
cả hồi hướng) đều gộp trong một câu Phật hiệu. Đó
gọi là thuần tịnh, thuần thiện. Tâm địa thanh tịnh, thân
tâm thế giới hết thảy đều buông xuống.
Vậy
thì nếu tín nguyện có vấn đề, bán tín bán nghi, có lúc
muốn về Tây Phương Cực Lạc thế giới, có lúc không muốn
đi, có tâm thái như vậy thì niệm Phật “dẫu chấp trì
danh hiệu đến mức gió thổi chẳng lọt, mưa tạt không ướt
hệt như tường đồng vách sắt”, mấy câu này hình dung:
Dù quý vị niệm một câu Phật hiệu rất giỏi, cổ đại
đức nói một ngày niệm mười vạn tiếng, niệm hai mươi
vạn tiếng, tâm - miệng chẳng tương ứng, cho nên rách hầu
toạc họng cũng uổng công. Vì sao? “Cũng không lẽ nào được
vãng sanh”. Quý vị chẳng thể vãng sanh vì quý vị niệm
Phật tâm và miệng chẳng tương ứng, tâm là gì? Tâm chỉ
cho tín và nguyện. Quý vị không có tín, không có nguyện.
Tin chẳng chân thành, nguyện chẳng thiết tha thì niệm Phật
chẳng thể vãng sanh. Niệm Phật như thế nào mới được
vãng sanh? Niệm Phật thế nào không được vãng sanh? “Người
tu Tịnh nghiệp chẳng thể không biết vậy”. Chúng ta phải
nghiêm túc suy nghĩ, nhất định phải loại trừ những nhân
tố khiến mình chẳng được vãng sanh, phải sửa đổi, nhất
định phải thật sự đáp ứng những điều kiện vãng sanh.
“Đại
Bổn A Di Đà Kinh (Đại Bổn A Di Đà Kinh là kinh Vô Lượng
Thọ) cũng lấy phát tâm Bồ Đề làm chủ, chính là giống
với kinh đây”, lấy phát Bồ Đề tâm làm sự việc trọng
yếu. Quý vị xem trong kinh A Di Đà Đại Bổn, hai phẩm Ba Bậc
Vãng Sanh và Chánh Nhân Vãng Sanh chuyên giảng về những điều
kiện cần phải hội đủ để được vãng sanh. Chúng ta có
đủ những điều ấy hay không? Nếu không có đủ, phải gấp
tu đi; đã đủ rồi thì phải gìn giữ vĩnh viễn chẳng để
mất đi. Trong phẩm Ba Bậc Vãng Sanh, trong mỗi đoạn Phật
đều nói “phát Bồ Đề tâm, một bề chuyên niệm”. Một
phương hướng, một mục tiêu, quyết định chẳng được
tam tâm nhị ý.
Có
một lần đúng vào lúc bệnh dịch SARS lan tràn khắp thế
giới, tôi nghe hình như ở Úc Châu có một bài phát biểu
cho biết chứng cảm mạo viêm phổi này rất bình thường,
nhưng làm cho mọi người hoảng loạn, là do hệ thống truyền
thông gây ra. Nếu truyền thông không đăng tin, ai biết? Bởi
thế, sự tình này vừa phát sanh, có người đến hỏi tôi,
tôi nói chuyện này bình thường, năm nào cũng có. Trời vừa
cuối Xuân sang Hạ, hoặc khi cuối Thu chớm Đông, nhằm lúc
đổi mùa thì trúng gió cảm mạo, bệnh truyền nhiễm lây
lan thường phát sanh trong những lúc ấy, năm nào cũng có.
Từ cổ đến nay, trong lịch sử Trung Quốc, ngoại quốc đều
ghi nhận, chúng ta thấy rất nhiều, là chuyện rất bình thường.
Nay chúng ta học Phật hiểu được đạo lý sau: Tâm thiện,
hạnh thiện, ý niệm thiện thì những bệnh khuẩn (virus),
bệnh độc ấy ta đều hóa giải được hết.
Lúc
đó, tôi cứ tưởng bệnh dịch ấy nhiều lắm chừng một
tháng là hết, kéo dài chừng nửa tháng thôi, nay nó kéo dài
đã hơn ba tháng, là vì con người tạo nên như vậy. Từ các
thí nghiệm (những bản báo cáo thí nghiệm này do các đồng
học hạ tải từ Internet), chúng ta biết là chính mỗi cá
nhân chúng ta đã đem những tin tức bất thiện truyền báo
cho các vi khuẩn biết, khiến chúng cũng bị truyền nhiễm,
truyền nhiễm ý niệm bất thiện của chúng ta. Chúng ta muốn
giết chết, muốn tiêu diệt nó. Lúc truyền cho chúng nó những
ý niệm ấy, chúng bèn biến đổi, càng biến đổi càng độc
hơn. Vì sao? Chúng cũng phải tự bảo vệ mình chứ! Có phải
càng thêm phiền phức hay không? Giống như trên thế giới
đang chạy đua vũ trang càng ngày càng nghiêm trọng hơn. Nếu
chúng ta dùng thái độ ôn hòa, thái độ thiện ý đối đãi
chúng, quý vị thấy ở Trung Quốc từ cổ đến nay, đối
với những loại bệnh độc hoặc những vi khuẩn mang độc
thì người Trung Quốc nói “giải độc”, tức hóa giải!
Còn người Tây Dương nói sao? Tiêu độc! Tiêu là tiêu diệt,
ý niệm khác hẳn nhau!
Bệnh
truyền nhiễm này đã phát sanh, đối địch con người, nếu
gây chiến với nó thì rắc rối nằm ở chỗ đối lập, đối
lập rất phiền phức. Làm thế nào để hóa giải? Đối với
đạo lý này, người học Phật chúng ta hiểu rõ lắm: Những
bệnh khuẩn (virus) này cũng sanh từ tâm tưởng, cũng là “duy
tâm sở hiện, duy thức sở biến”, làm sao có thể vượt
ra ngoài tâm tánh cho được? Duy tâm sở hiện, duy thức sở
biến đều là tốt cả. Nói cách khác, nó cũng có quyền sanh
tồn, nay chúng ta gọi là “nhân quyền”, vi khuẩn có khuẩn
quyền, chúng ta phải hiểu điều ấy. Chúng ta phải yêu thương,
che chở chúng, chúng ta phải chăm sóc chúng, sanh mạng của
chúng không dài, chúng ta biết thời gian sanh tồn của vi khuẩn
chẳng thể lâu hơn mười ngày, sao lại phải hận thù đến
vậy? Bởi thế, muốn hóa giải thì phải dùng thiện ý để
khen ngợi sẽ hóa giải, không tổn thương con người nữa.
Điều này đúng là có đạo lý! Quyết chẳng thể dùng ác
ý, quyết chẳng thể đối địch cùng chúng.
Như
vậy, từ cách đối đãi với những vi khuẩn tí ti, chúng
ta mở rộng ra đối với hết thảy người, hết thảy thế
gian phải nhẫn nhục như thế nào? Căn bản nhất vẫn là
phải giảm diệt tham, sân, si. Tham, sân, si được gọi là
ba độc, điều này tôi đã nói từ lâu. Có người hỏi tôi:
“Bệnh độc SARS từ đâu có?” Tôi bảo người ấy: “Từ
ba độc mà có”. Những vi khuẩn ấy vốn không độc, vì
sao thành độc? Là vì tham, sân, si của chúng ta truyền qua
chúng, chúng cảm nhận cái độc nên biến thành độc. Chúng
ta biến chúng thành độc, chúng lại truyền cái độc ấy
cho chúng ta, hai bên cùng bị độc. Hiểu được đạo lý này
rồi thì chúng ta hóa giải bằng cách nào? Phương pháp hóa
giải thì trước hết là phải hóa giải tham - sân - si, cảnh
giới bên ngoài không còn tham - sân - si nữa, ba độc không
còn nữa.
Như