Chư
vị đồng học!
Chúng
tôi giảng tiếp đoạn nhỏ thứ tư Ngũ Căn và đoạn nhỏ
thứ năm Ngũ Lực trong phần “thuyết pháp trang nghiêm”.
Ngũ Căn và Ngũ Lực có thể cùng gộp lại để giảng, đó
là Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ.
Căn
có nghĩa là giống như thực vật có rễ. Rễ có thể sanh
và trì. Trì là “bảo trì” (gìn giữ), Sanh là có thể sanh
trưởng, chữ Căn có nghĩa như vậy. Căn gồm năm thứ nên
gọi là Ngũ Căn, tức Tín Căn, Tấn Căn, Niệm Căn, Định
Căn, Huệ Căn. Nói đến đây, chúng ta phải nhớ kỹ: Trong
phần trên là ba khoa, tổng cộng là mười hai phương pháp
tu học, tức là Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc.
Mười hai khoa mục này hết sức quan trọng, thông cả thế
pháp lẫn xuất thế pháp.
Tứ
Niệm Xứ dạy chúng ta thấy thấu suốt, nhận thức, hiểu
rõ chân tướng nhân sanh vũ trụ, chẳng mê hoặc; bởi thế
chúng thuộc về trí huệ. Chúng tôi nói Tứ Chánh Cần là
học tập tích công lũy đức; đoạn ác tu thiện phải căn
cứ vào những chuẩn tắc này. Ba mươi bảy Đạo Phẩm là
ba mươi bảy công khóa siêu việt thời gian, siêu việt không
gian, cũng siêu việt hết thảy pháp thế gian, xuất thế gian.
Chúng là nguyên tắc, nguyên lý, giống như công thức trong
Số Học; ứng dụng triển khai của chúng đúng là vô lượng
vô biên, không một pháp nào chẳng dựa theo nguyên lý, nguyên
tắc này để đạt đến thành tựu viên mãn cả.
Hôm
nay, chúng tôi giảng đến Ngũ Căn, Ngũ Lực, kinh Di Đà chỉ
nói bắt đầu từ những pháp này. Vì sao vậy? Giảng về
đại pháp xuất thế. Phần trên là những pháp chung cho cả
thế gian lẫn xuất thế gian; nay phải giảng đại pháp xuất
thế. Chúng ta cầu điều gì? Cầu Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác, Phật quả viên mãn rốt ráo. Căn là gì ta phải
hiểu rõ! Căn là tự tánh của đương nhân, đương nhân là
chính mình, chính bản thân mình, tự tánh của chính mình;
chân tâm, bản tánh chính là Căn. Trong Phật pháp thường nói
hết thảy chúng sanh vốn sẵn là Phật, vốn sẵn là Phật
chính là Căn. Trong Khởi Tín Luận, Mã Minh Bồ Tát nói: “Bản
Giác vốn có”, Bản Giác là Căn. “Vốn sẵn thành Phật”
và “Bản Giác vốn có”, hai câu này cùng một ý nghĩa, cùng
nói về một sự. Kẻ học Nho nói: “Nhân chi sơ tánh bản
thiện” (Con người lúc đầu vốn là lành), “bản thiện”
chính là Căn.
Trong
Hệ Niệm Pháp Sự, Trung Phong đại sư nói: “Tâm chính là
Phật, Phật chính là tâm”. Tâm và Phật là một, chẳng phải
hai. Đó chính là Căn! Tất cả hết thảy thiện pháp thế
gian, xuất thế gian sanh từ Căn này. Người thế gian chẳng
tin trong thế giới này có người tốt, chúng tôi nghe rất
nhiều người nói: “Nhân tánh đều là thiện”, hay “nhân
tánh đều là ác”, “người như vậy không có căn!” Không
phải không có căn, kẻ ấy chỉ không tin mình có Căn, chẳng
tin tưởng hết thảy chúng sanh đều có Căn, nên phiền toái
rất lớn. Tất cả hết thảy ác niệm, ác pháp, ác nghiệp
đều sanh từ đó, nó là gốc của hết thảy tội ác, hết
thảy tai nạn. Kẻ ấy chẳng tin tưởng tánh con người vốn
lành, chẳng tin hết thảy chúng sanh vốn sẵn thành Phật,
chẳng tin “tâm này chính là Phật, Phật chính là tâm này”.
Chuyện này rắc rối lắm đây!
Kẻ
ấy chẳng tin tưởng, ta cũng chẳng thể trách móc được,
Nho và Phật giảng rất rõ ràng, rất minh bạch vì sao kẻ
ấy chẳng tin. Tam Tự Kinh nói: “Cẩu bất giáo, tánh nãi
thiên” (Nếu không dạy, tánh bèn đổi), “Tánh tương cận,
tập tương viễn” (Tánh vốn gần [điều thiện], nhưng do
hoàn cảnh, tập tánh bèn xa dần). Luận trên phương diện
“tánh người vốn lành” thì tất cả hết thảy chúng sanh
bản tánh đều lành, đều giống hệt như nhau, vì sao trở
thành khác biệt? Biến thành khác biệt là vì tập tánh, chứ
chẳng phải là bản tánh. Vì vậy, kẻ ấy hiểu lầm tập
tánh của hết thảy chúng sanh là bản tánh, hiểu sai lầm.
Cái sai lầm ấy đúng là sai chỉ hào ly, lầm đến ngàn dặm.
Chẳng dễ dàng đâu! “Nếu không dạy, tánh bèn đổi”:
Nếu chúng ta gặp được thầy tốt dạy dỗ, chúng ta sẽ
hiểu rõ, sẽ giác ngộ. Chúng ta khẳng định tự tánh của
chính mình vốn lành, tâm mình đích xác là Phật, khẳng định
mình có chân tâm. Tâm mình đích xác là chân thành, thanh tịnh,
bình đẳng, chánh giác, từ bi, không còn ngờ gì nữa; nay
vì sao tánh đức ấy chẳng có? Vì đối người, đối sự,
đối vật hư ngụy, nhiễm ô, bất bình đẳng, ngu si, tự
tư tự lợi. Vì đâu đến nỗi như thế? Do tập tánh, do không
có người dạy. Chẳng có vị thầy tốt dạy dỗ. Ngày nay
xã hội bất hảo, xã hội là một cái chum lớn dơ bẩn, trong
kinh Phật gọi là “ngũ trược ác thế”, Trược tức là
nhơ bẩn. “Kiếp trược”: Thời đại này bất hảo, là
đời loạn. Nói “kiếp trược” mọi người không hiểu
lắm, nói “đời loạn” mọi người hiểu dễ dàng. “Phiền
não trược”: Chúng sanh lăng xăng ai không có phiền não? Ai
nấy đều phiền não hết sức nghiêm trọng. “Kiến trược”
là nói đến phiền não nơi tư tưởng, kiến giải. Tư tưởng
hỗn loạn, kiến giải ngoắt ngoéo; đấy là gốc của Ngũ
Trược. Nếu đối với vũ trụ nhân sanh, đối với hết thảy
người, sự, vật, quý vị nhìn lầm lạc thì đó là Kiến
Trược. Suy nghĩ sai lầm là Phiền Não Trược. Một thứ trược
hết thảy đều trược, phiền não xảy ra liền.
Như
vậy, chúng ta hiện đang sống trong thời đại nào? Vì sao
lại có thứ thời đại như vậy? Thời đại này không có
bậc thánh hiền răn dạy, nên thành ra như thế. Mọi người
chẳng tin tưởng lời thánh hiền giáo huấn. Sách vở của
thánh nhân hết sức quý báu, nhưng quý vị đâu có tin! Dẫu
sách vở còn đó, quý vị chẳng buồn giở ra xem. Quý vị
cứ cho những thứ đó là đồ cũ rích, chẳng hợp thời nữa,
nên không có cách chi tìm được căn bản, không cách nào thấu
hiểu. Đấy là sai lầm, chẳng phải là thái độ của người
học vấn, tâm không chút cởi mở.
Người
thật sự có học vấn thì nếu người ta nói điều gì hay,
mình phải chú tâm tìm hiểu; ai nói thứ khác bất hảo, mình
cũng phải chú tâm quan sát. Ai cũng nói tốt thì ta phải biết
nó tốt tại chỗ nào! Ai cũng chê không tốt, ta phải biết
nó xấu tại chỗ nào. Đều phải nghiêm túc nghiên cứu, có
vậy mới thành học vấn chân chánh. Những lời trên do tiên
sinh Phương Đông Mỹ dạy cho tôi để làm cơ bản cho thái
độ học vấn, quyết chẳng đến nỗi thấy người ta bảo
tốt bèn mù quáng hùa theo, người ta chê xấu mình bèn cự
tuyệt. Nếu vậy là lầm lạc mất rồi. Nhất định phải
đích thân mình tiếp xúc, nghiên cứu. Rất nhiều khi mình
nghiên cứu mới phát hiện những cái người khác chê dở
thật sự lại là hay, thật sự là như vậy! Người ta nói
tốt, mình nghiên cứu kỹ thấy cả trăm điều tệ hại, chưa
chắc thật sự tốt. Người ta nói sao mình nghe vậy, sẽ thường
hay bị mắc lừa, bị người mà mắt.
Người
học vấn chân chánh vĩnh viễn khiêm hư, cung kính thì mới
có thể thành tựu đạo đức học vấn thật sự được.
Đạo lý này nói thật ra chẳng khó hiểu chi, chúng tôi cho
rằng: Trong thời cổ, dường như tất cả những ai đọc sách
đều biết đến đạo lý này; nay trong thế kỷ này, người
ta lại không biết. Những người trẻ tuổi, chúng tôi nói
“những người trẻ tuổi” thì đại khái là những ai vào
độ tuổi năm, sáu chục, cả đời chưa từng nghe đến chuyện
này, có đáng buồn bã chăng? Lũ chúng tôi đã gần tám mươi,
chỉ là thiểu số cỏn con, đúng là ít ỏi, sau này không
ai nói đến nữa. Nếu tôi không nói ra, quý vị làm thế nào
biết được? Sẽ chẳng nghe được những thanh âm này. Vì
thế, thiện tâm thiện ý phải phát sanh từ sự nhận biết
chánh xác, khẳng định hết thảy chúng sanh tánh vốn lành,
khẳng định hết thảy chúng sanh có Phật tánh, khẳng định
hết thảy vô tình có Pháp tánh, pháp tánh và Phật tánh chỉ
là một tánh.
Nếu
quý vị thâm nhập Đại Thừa, quý vị khẳng định tất cả
hết thảy pháp “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến” thì
đó là Căn, căn cội của vũ trụ vạn hữu! Chúng ta tin cái
căn này tương đồng, căn là bình đẳng, căn chẳng có hai.
Tôi và anh, tôi cùng người khác, mọi người chúng ta giống
nhau, đều thật sự là dòng dõi thổ dân Úc châu biến chất
đi. Vì sao biến? Mê! Mê mất căn bản. Mê mất căn bản sẽ
thành loại người xấu hơn, đáng thương thay! Suy nghĩ bậy
bạ, làm bậy làm càn, chuốc lấy rất nhiều tai nạn, tự
gây tự chịu. Cá nhân nào nhận biết Căn, hiểu rõ Căn, đối
với hết thảy sẽ chẳng quên căn bản, cuộc đời kẻ ấy
rất mỹ mãn, rất hạnh phúc, hoàn cảnh sống của người
ấy là Nhất Chân pháp giới, là thế giới Cực Lạc. Hễ
có Căn bèn có Lực. Đại học vấn thế gian hay xuất thế
gian đều đặt nền tảng trên đây.
Quý
vị thấy thế giới ngày nay phân tranh, người mắt sáng, Phật,
Bồ Tát, đại thiện tri thức trông thấy phải cảm thán!
Thật đúng như kinh Vô Lượng Thọ nói: “Tiên nhân vô tri”:
người đời trước coi thường, “bất thức đạo đức,
vô hữu ngữ giả” (không biết đạo đức, không có ai nói):
Bọn họ chẳng bảo chúng ta, chẳng dạy chúng ta, “thù vô
quái dã” (còn lạ nỗi gì) Ngày nay chúng ta tạo tác những
tội lỗi gì, chịu những khổ nạn quả báo gì, bậc thánh
hiền chẳng trách móc ta. Vì sao? Vì những kẻ này chưa từng
được dạy dỗ, sự lầm lạc của chúng phải truy từ sự
coi thường của người đời trước; đời trước đó của
đời trước cũng coi thường. Chúng tôi truy cứu tối thiểu
phải là hai trăm năm trước; từ hai trăm năm trước đã coi
thường sự răn dạy của thánh hiền. Lúc đó cũng có dạy,
nhưng chẳng tích cực, dạy trẻ con, dạy người trẻ tuổi
chẳng nghiêm khắc, chẳng nghiêm nhặt như thời cổ. Tam Tự
Kinh nói “giáo bất nghiêm, sư chi nọa” (dạy chẳng nghiêm
vì thầy lười), cha mẹ, sư trưởng chưa tận hết trách nhiệm.
Quý
vị phải hiểu rõ đạo lý này, hiểu rõ chân tướng sự
thật này thì quý vị mới biết căn nguyên lầm lỗi nằm
đâu! Căn nguyên nơi cha mẹ, sư trưởng; vì thế làm cha mẹ
chẳng đơn giản! “Dưỡng bất giáo, phụ chi quá; giáo bất
nghiêm, sư chi nọa” (Nuôi không dạy là lỗi cha, dạy không
nghiêm do thầy lười). Đời sau không đi theo chánh đạo, đi
theo đường tà, cha mẹ sư trưởng phải chịu nhân quả. Nhân
quả ấy lớn lắm. Từ chỗ này chúng ta mới có thể nhận
hiểu sâu xa, công đức bậc nhất, đại thiện bậc nhất
trong thế gian, xuất thế gian là gì? Dạy học, đem chánh pháp
truyền trao cho chúng sanh. Ở Trung Quốc thấy rõ nhất: Khổng
lão phu tử dạy học năm năm, năm năm chuyên tâm, tận hết
trách nhiệm nghiêm khắc dạy dỗ học trò, trở thành vị
Vạn Thế Sư Biểu. Vì sao? Có rất nhiều người suốt đời
theo đuổi công tác giáo dục, nhưng mười mấy năm vẫn âm
thầm không tiếng tăm. Vì sao Khổng lão phu tử chỉ dạy học
năm năm lại có thành tựu như vậy? Do tận tâm tận lực
dạy, thật sự hy vọng đời sau có nhân tài. Học sinh thật
sự giác ngộ, thật sự tu dưỡng đạo đức, đoạn ác tu
thiện, vì nhân dân, vì quốc gia, vì chúng sanh tạo phước,
đó là thành tựu của thầy! Thầy (dùng cách nói của nhà
Phật là “phổ độ chúng sanh”) phổ độ chúng sanh khiến
cho học sinh thật sự thực hiện được những điều đó,
nếu chẳng thể tận tụy dạy dỗ, học sinh chẳng thể thành
tựu, “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ” trở thành chuyện
hư dối.
Thích
Ca Mâu Ni Phật vì chúng ta thị hiện, vứt bỏ tất cả hết
thảy danh văn, lợi dưỡng thế gian, địa vị, quyền lực
đều vứt bỏ, theo đuổi công tác giáo dục xã hội, vì sao?
Thị hiện cho chúng ta thấy sự việc này là đại sự nghiệp
bậc nhất của thế gian lẫn xuất thế gian. Không có trí
huệ chân thật sẽ không thể làm được, chẳng bằng lòng
làm được. Trí huệ chân thật chính là sự nghiệp chân thật!
Xưa nay trong nước, ngoài nước biết bao là đế vương bao
đời, mấy ai biết đến? Nhưng người thật sự theo đuổi
giáo học trên thế gian thì không ai là không biết, không ai
chẳng kỷ niệm! Mỗi một vị sáng lập tôn giáo đều là
những nhà giáo dục xã hội đa nguyên văn hóa vĩ đại nhất,
ngàn năm vạn đời, bao người tôn kính, sùng bái, lại còn
học theo. Bởi thế, Căn hết sức trọng yếu. Quý vị phải
nhận biết gì là Căn, gì là Thiện Căn, gì là Ác Căn. Tùy
thuận tánh đức là thiện căn, trái nghịch tánh đức là
ác căn.
Tín,
Tấn, Niệm, Định, Huệ ai mà không có, nhưng vấn đề ở
chỗ cái Tín của quý vị là gì? Theo chú giải của cổ đức,
Tín có Chánh Đạo và Trợ Đạo. Thế nào là Chánh Đạo,
thế nào là Trợ Đạo, phải hiểu thật rõ, thật thấu suốt,
không thể hàm hồ! Chánh Đạo: Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác viên mãn rốt ráo mỗi chúng sanh đều có, vốn sẵn có,
nay ta mê mất. Thế nào là Trợ Đạo? Thích Ca Mâu Ni Phật
giảng cho chúng ta tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng pháp
môn là Trợ Đạo. Ở đây chúng ta phải chú tâm kiểm điểm
quan sát, pháp môn nào thích hợp với mình thì ta chọn lấy
pháp môn ấy, thâm nhập một môn thì pháp môn ấy biến thành
Chánh Đạo để ta tu học. Quý vị phải hiểu Chánh Đạo
và Trợ Đạo này. Trong Chánh Đạo lại có Chánh Đạo và
Trợ Đạo; trong Trợ Đạo cũng có Chánh Đạo và Trợ Đạo!
Nay chúng ta chọn lựa pháp môn Tịnh Độ, kinh điển để
pháp môn Tịnh tông y cứ là “năm kinh một luận”, đó là
Chánh Đạo của chúng ta. Các kinh luận khác, các vị tổ sư
đã chọn lựa cho chúng ta, khuyên chúng ta phải xem, phải tu
học để bổ trợ pháp môn Niệm Phật, đó là Trợ Đạo.
Chúng ta phải tin tưởng điều này.
Tin
Chánh Đạo và Trợ Đạo phải có Căn, Căn chẳng thể biến.
Lúc tin, lúc ngờ, lúc tin, lúc không tin là niềm tin của quý
vị không có Căn. Lòng tin có Căn, tức là lòng tin của quý
vị nơi Tịnh Độ tông có Căn thì trong ao bảy báu bên Tây
Phương Cực Lạc thế giới mọc lên một đóa sen, trên hoa
có tên quý vị. Lòng tin phải có Căn, nhất định chẳng được
ngờ vực. Hiện tại, nguyên bản và hội tập bản của kinh
Vô Lượng Thọ tổng cộng có chín bản, chớ có hủy báng,
chớ có ý kiến, quý vị thích bản nào thì chọn dùng bản
đó. Giống như ăn uống, khẩu vị mỗi người khác biệt:
chua, ngọt, đắng, cay, mặn; tôi thích ăn ngọt, chẳng thể
cưỡng mọi người đều ăn ngọt hết. Nếu không như vậy,
Thích Ca Mâu Ni Phật bất tất phải giảng nhiều kinh điển
đến thế! Cần gì phải nói nhiều pháp môn như vậy? Một
môn không đủ sao? Quý vị thấy Phật rất từ bi, Phật rất
tùy thuận nhân tình, quý vị thích điều gì Phật dạy điều
đó, chẳng mảy may miễn cưỡng. Đó là chỗ vĩ đại của
Phật, Phật đại đức đại trí, khiến cho hết thảy chúng
sanh tôn kính, ngưỡng mộ.
Chúng
ta mở xem chín bản ấy; trước kia, chúng tôi in chín bản
ấy thành một bộ, tức là với một bản Tịnh Độ Ngũ Kinh
Độc Bản quý vị đọc được toàn bộ. Trong chín bản ấy,
quý vị thích bản nào thì dùng bản đó, không có gì bất
tiện hết. Bởi lẽ, chúng đều giới thiệu Tây Phương Cực
Lạc thế giới, giống như sách thuyết minh, sách giới thiệu,
đều dạy cho quý vị phương pháp Trì Danh Niệm Phật. Kinh
chẳng nói sai một chút nào, “phát Bồ Đề tâm, một bề
chuyên niệm”. Cả chín bản đều nói như vậy. Người niệm
Phật tu điều gì? Quý vị phải biết nhé: Tu nhất tâm bất
loạn, tu tâm chẳng điên đảo! Nếu đối với hết thảy
pháp, quý vị có nghi hoặc, sao tâm quý vị định được?
Sao có thể thành tựu nhất tâm? Làm sao bất loạn được?
Bất loạn là trí huệ, nhất tâm là thiền định. [Tu nhất
tâm bất loạn] là tu Định - Huệ. Quý vị quá nhiều ý kiến,
chấp trước rất nặng là tự mình chướng ngại mình, không
ai chướng ngại quý vị cả!
Chính
mình tuyển chọn thì có một tiêu chuẩn rất đơn giản:
Thứ
nhất, lý luận, phương pháp, cảnh giới không sai lầm. Đối
với kinh điển Đại Thừa chúng ta có thể so sánh không sai
lạc: Kinh văn nào rõ ràng, không quá sâu, dễ đọc tụng,
dễ hiểu, thích hợp với trình độ người hiện thời thì
bản đó là bản tốt. Nay đem chín bản đó bày trước mặt,
quý vị đọc mỗi bản một lượt, bản nào đọc hay nhất?
Bản này đọc hay nhất. Bản của cụ Hạ không sai lầm, là
bản dễ đọc nhất trong chín bản, chẳng có câu nào khó
khăn, trúc trắc, vậy cụ hội tập có sai lầm hay không? Đem
năm bản dịch gốc đối chiếu tỉ mỉ thì tín tâm bèn trọn
đủ.
Xin
thưa cùng các đồng học: Tôi không bằng mọi người, tôi
chẳng bằng ai, mọi người tâm tư tế nhị, tôi không được
tế nhị như vậy; nhưng tôi có ưu điểm là tin tưởng thầy.
Thầy đem bản này giao cho tôi, tôi hoàn toàn chẳng đối chiếu
với năm bản dịch gốc, tôi chẳng làm chuyện đó; cho đến
tận bây giờ cũng không làm chuyện ấy. Tôi tin tưởng thầy,
thầy chẳng hại tôi. Thầy học suốt đời, trí huệ, đức
hạnh, giáo huấn của thầy rất đáng để tôi tôn kính, tôi
chẳng hoài nghi thầy chút nào. Vì thế, thầy dạy gì tôi
bèn tiếp nhận, tôi bèn y giáo phụng hành. Ai ở trước mặt
tôi nói ba điều bốn chuyện, tôi không tiếp nhận, cũng không
phản đối, vì sao? Tôi tuân thủ lời đức Phật răn dạy,
tôi tuân thủ lời tổ sư răn dạy. Phật dạy chúng ta đối
với những tri kiến bất đồng, kiến giải bất đồng –
trong Đàn Kinh, Lục Tổ Huệ Năng đại sư cũng dạy chúng
ta như thế – nên làm như thế nào? Dùng tâm thái gì? Chắp
tay hoan hỷ! Tôi chẳng biện bác cùng anh, chắp tay cung kính
anh; tôi vẫn đi đường cũ, tôi vẫn dùng phương pháp cũ
của tôi để tu hành, chẳng bị anh làm dao động. Tôi tôn
kính anh, tôi không phản bác anh một câu nào, Phật dạy chúng
tôi mặc tẫn. Nói thật ra, Nho Gia gọi mặc tẫn là “kính
nhi viễn chi”. Viễn không phải là tách rời ra xa, không có
nghĩa như vậy. “Viễn” nghĩa là cách nghĩ, cách làm của
anh tôi không bắt chước theo, tôi vẫn đi theo kinh luận. Nếu
tự tôi có năng lực tôi sẽ tuyển chọn kinh luận; nhưng
tôi không có năng lực, thầy giúp tôi chọn kinh luận. Những
kinh luận tôi học cả đời đều là do thầy giúp tôi chọn
lựa, đều là do thầy chỉ dạy.
Nói
thật ra, tôi vẫn chưa có năng lực chọn lựa kinh luận, tôi
thừa nhận mình thuộc căn tánh trung hạ, chẳng phải là thượng
căn. Người thượng căn phải có, chắc chắn có người thượng
thượng căn, tôi chưa từng gặp được. Chuyện ấy không
quan hệ, dẫu là hạ hạ căn gặp được thiện tri thức,
giống như người đồ đệ thợ nề của Đế Nhàn pháp sư,
ông ta là hạ hạ căn, gặp vị chân thiện tri thức là Đế
Nhàn pháp sư dạy một câu Nam mô A Di Đà Phật niệm mệt
cứ nghỉ, nghỉ khỏe lại niệm tiếp. Thật sự chẳng hoài
nghi, chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn, ông ta thật sự thành
công. Nếu ông ta hoài nghi hay xen tạp sẽ chẳng thể thành
công. Bí quyết thành công của ông ta là chẳng hoài nghi, chẳng
xen tạp, chẳng gián đoạn, nên thành công. Tín chẳng phải
là chuyện dễ, tín phải có Căn. Tín quyết định chẳng bị
dao động, cả đời chẳng biến đổi, người như vậy đạo
nghiệp quyết định thành công!
Thứ
hai là Tấn Căn. Tấn là đối với Chánh Đạo và Trợ Đạo,
tấn cầu chẳng ngơi, dũng mãnh, tinh tấn, quyết định chẳng
có một ngày nào buông lung, có chút khế nhập cảnh giới
bèn vui sướng chẳng mệt. “Học rồi thường tu tập, cũng
chẳng vui sao?”, đúng là vui sướng chẳng mệt.
Niệm
là hệ niệm nơi tâm, điều được hệ niệm nơi tâm là Chánh
Đạo và Trợ Đạo. Nay mục tiêu của người niệm Phật chúng
ta là cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, thân cận A
Di Đà Phật; đấy chính là Chánh Đạo và Trợ Đạo của
chúng ta trong giai đoạn này. Trợ Đạo là gì? Đoạn ác tu
thiện, tích công lũy đức, cổ đức thường dạy chúng ta:
“Đoạn hết thảy ác, tu hết thảy thiện”. Tự mình phải
hiểu rõ, phải minh bạch tiêu chuẩn thiện ác. Gì là ác?
Tự tư tự lợi là ác; đại công vô tư lợi ích xã hội,
lợi ích chúng sanh là thiện. Có người nghe nói thế chẳng
đồng ý, sao có lợi cho mình lại là ác được cơ chứ? Với
pháp thế gian nói như vậy thì được, chứ đối với pháp
xuất thế gian, nói như thế là sai lầm quá sức. Sai lầm
ở chỗ nào? Ngã Chấp không phá được! Cửa ải đầu tiên
của pháp xuất thế gian là phá Ngã Chấp. Có lợi cho mình
là tăng trưởng Ngã Chấp. Kinh Kim Cang nói ngã tướng, ngã
kiến niệm niệm đều là chấp trước kiên cố, tăng trưởng
ngã tướng, tăng trưởng ngã kiến; cái Ngã Chấp đó lúc
nào mới phá hết sạch được? Chẳng phá Ngã Chấp, chẳng
thoát khỏi lục đạo luân hồi. Vì thế, Phật đặt điều
này lên đầu.
Chúng
tôi khởi tâm động niệm đúng là vô ngã. Nói cụ thể, vô
ngã là nhất định không vì lợi ích của chính mình, bởi
thế phải triệt để buông tự tư tự lợi xuống. Phá Ngã
Chấp bằng cách nào? Bí quyết để phá Ngã Chấp là khởi
tâm động niệm làm hết thảy chuyện gì đều vì xã hội,
vì chúng sanh, vì để chánh pháp tồn tại lâu dài, nhất định
không có mảy may ý niệm nào làm lợi cho cá nhân mình, một
chút gì gây vướng mắc cho việc vãng sanh Tây Phương thế
giới cũng không có, ra đi rất tự tại. Thường xuyên nhớ
kỹ Phật dạy chúng ta phải sửa đổi uốn nắn cách nhìn
lầm lạc đối với vũ trụ, nhân sanh, hết thảy người,
sự, vật. Kinh Kim Cang nói rất khéo: “Phàm những gì có hình
tướng đều là hư vọng”. Vậy thì, khởi lên một niệm
rất ưa thích một cảnh giới đó chính là tâm tham luyến,
“phàm những gì có hình tướng đều là hư vọng”, một
chén nước lạnh ấy hắt vào, tâm ta bèn bình tịnh. Gặp
phải oan gia đối đầu rất trái mắt, gặp người, gặp sự,
gặp vật trong tâm rất chán chường, [tâm niệm] “phàm những
gì có hình tướng đều là hư vọng”, “hết thảy pháp
hữu vi như mộng, huyễn, bọt, bóng”, tâm lập tức bình
ngay, đề khởi một câu “A Di Đà Phật”, biết mình đến
thế giới này lữ du, hai ba ngày rồi sẽ đi, thế giới này
tốt cũng được, không tốt cũng xong, ăn nhằm gì đến mình?
Cớ chi phải nhọc lòng? Có duyên để khuyên thì khuyên người
ta, khuyên người ta làm lành; không duyên thì làm gương cho
người ta thấy, người ta hiểu thì họ có phước báo; họ
dẫu thấy nhưng không hiểu cũng đành thôi. Chẳng cần phải
so lường từng chút! Phật, Bồ Tát thị hiện trong thế gian,
khởi tâm động niệm, nói năng, tạo tác, từng điểm, từng
giọt đều nhằm giáo hóa chúng sanh, vì người khác diễn
nói từ trước đến nay chưa từng ngưng nghỉ.
Vì
người diễn nói, “diễn” là biểu diễn, làm cho người
ta thấy, “nói” là thuyết minh cho người ta; chẳng hề có
chút mảy may danh lợi nào xen vào đó, chẳng xen tạp một
mảy nào. Vì thế, các Ngài làm nhưng không làm, không làm
mà làm, rất tự tại. Xen tạp chính mình vào đó sẽ phiền
lắm, vì sao? Quý vị có lợi - hại, được - mất trong ấy;
chỉ cần có lợi - hại, được - mất xen vào, hễ quý vị
vừa khởi tâm động niệm bèn nghĩ ngay đến lợi ích của
chính mình, sẽ thường mắc sai lầm. Người hoàn toàn không
có lợi - hại, được - mất mới có thể thật sự buông
xuống được, hết thảy thân tâm, thế gian đều buông xuống,
tâm được giải thoát, mở mang trí huệ. Trừ điều này ra,
không được xen tạp niệm gì, bất luận niệm gì xen tạp
trong đó cũng không được. Đúng là chẳng dung một hào, một
phân bất tịnh nào xen tạp cả, chẳng dung một hào, một
phân bất thiện nào xen tạp, tâm phải thuần tịnh, thuần
thiện.
Định
là nhiếp tâm, thâu tâm. Mạnh phu tử nói rất hay: “Đạo
học vấn không có gì khác, cốt sao tâm được thư thả mà
thôi”. Đó là công phu định lực. Tâm ta chẳng còn phan duyên
nữa, chẳng những không phan duyên pháp thế gian, mà Phật
pháp cũng chẳng phan duyên thì tâm quý vị thật sự định!
Ấn Quang đại sư cả đời dạy chúng ta phương pháp này,
chính là như trong kinh Đại Tập đức Thế Tôn đã gọi Trì
Danh Niệm Phật là “vô thượng thâm diệu Thiền”. Vô thượng
thâm diệu thiền định là Niệm Phật! Nhiếp tâm nơi Phật
hiệu, trừ một câu Phật hiệu ra, niệm gì trong tâm cũng
không có. Đó là Định Căn. Định ấy là Niệm Phật Tam Muội,
Niệm Phật Tam Muội có Căn vậy! Trừ điều này ra, cái gì
cũng không có. Niệm niệm tương ứng với A Di Đà Phật, niệm
niệm tương ứng với kinh giáo Tịnh Tông. Đó chính là “nhất
niệm tương ứng nhất niệm Phật, niệm niệm tương ứng
niệm niệm Phật”.
Huệ
Căn: Trí huệ quán chiếu, soi thấy chân tướng của hết thảy
pháp thế gian, xuất thế gian. Quý vị có Huệ Căn, có căn
thì không sai. Quý vị chẳng bị dao động, tự mình chân bước
vững vàng, như như bất động, thực hiện xong việc tự độ,
lại còn nghĩ giúp cho người khác được đắc lực, Ngũ Căn
tăng trưởng bèn đắc lực. Nói về Lực thì thật ra chính
mình phải có Căn càng sâu thì mới có thể giúp người khác
phá trừ nghi hoặc, giúp người khác kiến lập Ngũ Căn. Nay
đã hết giờ rồi!
*
Chư
vị đồng học!
Xin
tiếp về phần Ngũ Lực. Lực là đoạn nghi, thành đức. Danh
tướng của Ngũ Lực hoàn toàn giống với Ngũ Căn: Tín, Tấn,
Niệm, Định, Huệ. Ngũ Lực là sự tăng trưởng của Ngũ
Căn. Đạo lý này chúng ta không hiểu. Cái được Huệ Căn
tăng trưởng quan trọng nhất là trí huệ, Huệ Căn sau khi
tăng trưởng sẽ có sức mạnh; giống như thực vật, nó có
rễ rồi, từ rễ dần dần tăng trưởng trở thành mầm cây.
Mầm cây lại dần dần tăng trưởng trở thành cây lớn, nó
có sức như vậy, chịu đựng được gió thổi, mưa dập vì
đã trưởng thành rồi.
Tín
Căn tăng trưởng bèn phá được nghi hoặc; đối với chánh
pháp, chánh tri kiến quyết định chẳng nghi hoặc. Bởi thế
nó có thể phá được nghi, phân biệt tà tri tà kiến, có
năng lực như thế, tất nhiên có thể làm cho phiền não nhẹ
đi. Chúng sanh trong thế gian phiền não tập khí nặng nề,
chẳng tin tưởng chánh pháp, chẳng tin thánh hiền răn dạy.
Nếu như chúng ta có lòng tin sâu xa chẳng nghi nơi chánh pháp,
đạo đức, tánh đức và giáo huấn của hiền thánh thì phiền
não đã giảm quá nửa! Điều tốt nhất đối với chính mình,
như tôi thường hay nói, là con người chẳng thể không già,
nhưng người tín tâm kiên định lão hóa khá chậm chạp, đấy
là đạo lý nhất định. Vì sao? Đời sống kẻ ấy sung sướng,
có phương hướng, có mục tiêu, chẳng mê hoặc chút nào,
mỗi ngày có tiến bộ, thường sanh tâm hoan hỷ! Cuộc đời
người ấy rất sung mãn, rất khoái lạc, đều là do từ trong
tâm phát sanh. Tín tâm có sức mạnh như vậy.
Tinh
Tấn có sức mạnh, chẳng lười nhác. Quý vị phải biết
lười nhác chính là phiền não nghiêm trọng; trong Lục Ba La
Mật của Bồ Tát, Tinh Tấn đối trị giải đãi. Nếu một
con người chẳng giải đãi, bất luận làm chuyện gì, dù
pháp thế gian hay xuất thế gian đều thành tựu. Vì sao chẳng
thành tựu? Vì sao thất bại? Là vì giải đãi. Lúc vừa mới
làm tinh thần đầy đủ trăm phần; làm được ít lâu bèn
giải đãi, chẳng thể duy trì được, chẳng có tâm thường
hằng. Đấy là nguyên nhân thứ nhất tại sao rất nhiều sự
nghiệp thế gian, hay xuất thế gian chẳng thể thành tựu,
không có cách gì gìn giữ được! Học Phật cũng chẳng phải
là ngoại lệ, cổ đức chẳng thường nói: “Học Phật nhất
niên, Phật tại nhãn tiền” (Học Phật một năm, Phật ngay
trước mặt) đó ư? Vừa mới học Phật, bèn nhiệt tâm, bèn
chân thành như thế, quý vị phải gìn giữ, cổ nhân nói “thành
Phật hữu dư”, người gìn giữ được cái tâm ban đầu
thành Phật cả đống. “Học Phật lưỡng niên, Phật tại
thiên biên” (Học Phật hai năm, Phật ở trên trời), cái
tâm kiền thành, cái tâm tinh tấn đã suy thoái rồi. “Học
Phật tam niên, Phật hóa vân yên” (Học Phật ba năm, Phật
hóa thành mây khói), không còn nữa! Học Phật bèn biến thành
một con cáo già, vậy thì sao vẫn phải học Phật? Học Phật
có lợi cho chính mình, chẳng nghĩ đến Phật, chẳng nghĩ
đến chúng sanh, chỉ nghĩ đến mình, vì có lợi cho mình,
giương chiêu bài Phật, lợi dụng chiêu bài Phật để lừa
bịp, mưu cầu danh văn, lợi dưỡng cho chính mình, hòng hưởng
thọ ngũ dục, lục trần, vì những thứ đó mà thôi! Những
lợi dưỡng họ đạt được, nói trắng ra, chỉ là vì trong
mạng họ có, nhưng tâm ấy là tâm chẳng lành, hành vi ấy
chẳng phải là thiện hạnh, khiến cho phước báo trong mạng
họ bị tổn thất lớn lao. Chúng tôi thường nói: Phước
báo 100% trong mạng rất có thể bị tổn hoại chỉ còn có
10%, 20% mà thôi! Tổn thất với một mức độ lớn, tâm hạnh
chẳng lành! Người thành công, tu hành chứng quả, chẳng có
bí quyết chi khác, chỉ là giữ được cái tâm ban đầu, tinh
tấn chẳng lùi bèn thành công, có bí quyết gì đặc biệt
đâu!
Mỗi
đồng học chúng ta bất luận tại gia hay xuất gia, hãy nghĩ
tâm ban đầu của mình như thế nào, tâm hiện nay như thế
nào? Quý vị có thấy rõ vì sao mình không tiến bộ hay không?
Vì sao học nhiều năm như vậy mà đối với việc vãng sanh
Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng có một chút nào nắm
chắc cả? Vì vẫn cứ nửa tin nửa ngờ, biết làm sao được!
Bởi thế, trong kinh luận Phật thường nói thế pháp thiện
căn (thiện căn trong lục đạo, thiện căn nơi thế gian pháp)
là ba thiện căn, không ngoài “chẳng Tham, chẳng Sân, chẳng
Si”. Ba thiện căn thành tựu hết thảy thiện pháp. Nay chúng
ta muốn thành một người lành trong thế gian thì quý vị phải
nhớ kỹ lời Phật giáo huấn: Đối với hết thảy pháp thế
gian, xuất thế gian chẳng tham, chẳng sân, chẳng si. Thiện
căn xuất thế gian chỉ có một: Tinh Tấn! Tinh Tấn là thiện
căn duy nhất của Bồ Tát! Bồ Tát chứng được Vô Thượng
Bồ Đề chẳng có gì khác cả, vĩnh viễn giữ được cái
tâm ban đầu chẳng biến đổi đó thôi!
Chúng
ta phải hiểu đạo lý này, ứng dụng vào pháp xuất thế
gian sẽ thành Vô Thượng đạo, ứng dụng vào pháp thế gian
sẽ thành đại nhân đại đức. Chúng ta giao thiệp cùng hết
thảy chúng sanh, lúc mới tiếp xúc đầu tiên đều hết sức
khiêm hư, hết sức khách khí, hết sức hữu hảo, quý vị
có giữ mãi được như vậy hay không? Nếu quý vị giữ được
như vậy thì chính là đại nhân đại đức. Thánh nhân chẳng
có gì khác cả, giao tiếp cùng hết thảy chúng sanh dẫu lâu
ngày vẫn không thay đổi, không lui sụt. Vì sao? Các Ngài dùng
cái tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm chánh
giác, tâm từ bi, vĩnh viễn chẳng biến đổi! Đối phương
biến đổi là chuyện của đối phương, chẳng phải là chuyện
của mình. Ta chỉ có thể bảo đảm chính mình, chứ không
bảo đảm được người khác, ta thành tựu đức hạnh của
chính mình.
Chư
Phật, Như Lai cũng chẳng thể thành tựu đức hạnh cho người
khác. Nếu có năng lực thành tựu đức hạnh cho người khác
thì hết thảy chúng sanh không cần phải tu hành nữa, Phật,
Bồ Tát đại từ đại bi chẳng làm cho mọi chúng sanh đều
thành Phật hay sao? Làm không được! Chúng ta phải hiểu kỹ
điều này. Thành tựu đức hạnh của chính mình để giúp
đỡ người khác, làm cho người khác thấy, người ta thấy
mình cũng là phàm phu, mình thành tựu được thì họ cũng
có thể thành tựu được. Đó là biểu diễn, biểu diễn
cho người khác xem. Nếu ta cả đời giữ vững chân thành,
thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi bất biến, trong
thuận cảnh chẳng có tâm tham luyến, trong nghịch cảnh cũng
chẳng có tâm sân khuể. Nhất định phải giữ vững, nhất
định phải làm được, vĩnh hằng bất thoái, đó là thanh
tịnh. Tinh tấn có thể hoàn thành hết thảy mọi sự thế
gian, xuất thế gian.
Niệm
Căn tăng trưởng, tà niệm chẳng sanh, từ bản thân mình thì
nói là “tà niệm chẳng sanh”, từ hoàn cảnh thì nói “tà
niệm chẳng nhập”. Chúng ta biết những tà tri tà kiến trong
xã hội hiện thời có thể nói là tràn ngập cả thế gian,
quý vị mỗi ngày hai mươi bốn giờ đều tiếp xúc với những
tà tri tà kiến được truyền bá trong thế gian. Nếu Niệm
Căn của quý vị hữu lực thì tà tri tà kiến chẳng ảnh
hưởng được; dù quý vị có mắt thấy, tai nghe, tiếp xúc
cũng không một chút gì ảnh hưởng được. Giống như các
đại đức trong Tông Môn thường nói: “Bách hoa tùng trung
quá, phiến diệp bất triêm thân” (Qua rừng trăm hoa nở,
mảnh lá chẳng dính thân). Vì sao vậy? Vì Niệm hữu lực!
Có thể thành tựu hết thảy công đức chánh niệm thế gian
và xuất thế gian.
Định
Căn tăng trưởng, trong tâm có chủ tể, quyết định chẳng
bị dao động. Nhìn trên mặt hình tướng, tối thiểu là như
tiên sinh Liễu Phàm và Vân Cốc hòa thượng cùng ở trong Thiền
Đường không khác gì nhau, ba ngày ba đêm không có vọng niệm.
Người niệm Phật định lực hiện tiền, tối thiểu là công
phu thành phiến, công phu thành phiến là Niệm Phật Tam Muội,
đã đạt được Niệm Phật Tam Muội. Niệm Phật tam muội
là gì? Trong hết thảy thời, hết thảy nơi, trong tâm niệm
đều là A Di Đà Phật; ngoại trừ A Di Đà Phật ra, quyết
định chẳng có tạp niệm gì, đó là Niệm Phật tam-muội!
Ngoại trừ một câu A Di Đà Phật ra, nếu vẫn còn ý niệm
nào khác thì công phu chưa thành phiến. Bởi thế, nhất định
phải nhớ kỹ, phải chịu thừa nhận mình là kẻ sơ học.
Con người quý nhất là tự biết rõ mình, quý nhất là tự
mình hiểu mình, tự mình hiểu bản thân là hạng người nào:
Ta là phàm phu, chẳng phải là thánh nhân, ta là sơ học, chẳng
phải tu thuần thục.
Phàm
phu sơ học thì quan trọng nhất là thâm nhập một môn, trường
thời huân tu. Tam Tự Kinh nói: “Giáo chi đạo, quý dĩ chuyên”
(đạo dạy dỗ, quý nơi chuyên tinh). Thế nào là chuyên? Một
môn thâm nhập, trường thời huân tu là chuyên đấy! Chẳng
được tham quá nhiều, chẳng được quá tạp! Quá tạp, quá
nhiều là tạp tu, loạn tu; ta đã là phàm phu lại còn sơ học,
làm sao thành tựu được? Bởi thế, nếu quý vị chú tâm
suy nghĩ [sẽ thấy] bao nhiêu năm qua, mình đã lãng phí đến
đâu, thật đáng tiếc quá! Nếu chịu chuyên tu, chịu buông
xuống vạn duyên, dẫu trong nhà Phật có kinh giáo nào đi nữa
cũng đều chẳng động tâm. Ba năm khéo công phu sẽ đắc
nhất tâm bất loạn; kém hơn một chút là công phu thành phiến,
công phu thành phiến thì sẽ có năng lực sanh vào Phàm Thánh
Đồng Cư độ, muốn đi lúc nào là đi, rất tự tại vậy!
Nếu đắc Sự nhất tâm bất loạn sẽ sanh vào Phương Tiện
Hữu Dư độ. Công phu thành phiến đã sanh tử tự tại thì
Sự nhất tâm bất loạn bất tất phải nói nữa!
Vì
sao chúng ta chẳng đạt được mức độ ấy? Là vì cái gì
cũng muốn học, cái gì cũng thích hết, rốt cuộc cái gì
cũng chẳng thành tựu. Sai lầm rồi, lầm quá đỗi rồi! Phàm
những ai thành công nơi pháp thế gian, xuất thế gian chẳng
có bí quyết nào khác cả, chỉ chuyên nhất mà thôi! Toàn
bộ tinh thần, ý chí, thời gian đều tập trung sẽ thành tựu
được việc ấy. Quý vị thấy rất nhiều các chủ nhân đại
xí nghiệp, dẫu các hạng mục trong xí nghiệp của họ rất
nhiều, nhưng nếu hỏi họ, sẽ thấy thoạt đầu chỉ là
một dạng, một thứ, chuyên môn kinh doanh một thứ. Thành
công rồi, sau khi thành công mới có tài lực, có thừa lực
lượng bèn kinh doanh thêm thứ khác, dần dần mới có thể
phát triển đến mười mấy thứ. Sanh từ một căn bản, chẳng
phải là vừa thoạt đầu đã có được bao nhiêu thứ như
thế. Có nhiều thứ như thế chắc chắn thất bại, chúng
ta phải thấy rõ như vậy!
Có
người không hiểu, toan tính đổ tiền vốn vào nhiều ngành
để kiếm lời, chẳng được mấy năm công ty phải đóng
cửa. Do nguyên nhân nào? Chẳng có căn bản. Rất nhiều người
chẳng hiểu được đạo lý này. Quý vị cứ chú ý quan sát
một đại xí nghiệp gia chân chánh, một tay công thương nghiệp
lão luyện, quý vị sẽ thấy họ rất có căn bản. Nếu chúng
ta chú tâm quan sát về mặt xuất thế pháp, chư Phật, Bồ
Tát học rộng nghe nhiều điều gì cũng thông đạt là vì
có cơ sở, tuyệt đối chẳng phải là vừa mới học đã
học quá nhiều thứ. Chẳng phải vậy, họ có căn bản. Sau
đấy học rộng nghe nhiều, vẫn là từ trên căn bản ấy.
Dẫu căn bản khác nhau, mỗi cá nhân học một pháp môn bất
đồng, nhưng không hề chi, pháp môn bình đẳng, không có cao
thấp, quý vị phải hiểu đạo lý này.
Biết
đạo lý này thì cái tâm tham luyến, cái tâm hâm mộ sẽ chẳng
sanh khởi. Nếu chúng ta không chuyên học một môn, cứ mãi
mãi hâm mộ rất nhiều pháp môn, kết quả cuối cùng là môn
gì cũng chẳng thành. Phải chết chặt một môn! Chết lòng
trọn ý! Sau khi thành một môn rồi, một môn thông hết thảy
môn thông. Một kinh thông hết thảy kinh đều thông! Một pháp
môn thông, tất cả hết thảy pháp môn đều thông. Tiêu chuẩn
của thông là gì? Là minh tâm kiến tánh. Mỗi một pháp môn
đều có thể giúp quý vị minh tâm kiến tánh, bởi vậy, pháp
môn bình đẳng, không có cao thấp. Quý vị phải thâm nhập,
không thâm nhập sẽ không kiến tánh. Cổ nhân cầu học cũng
tốt, tu đạo cũng tốt, chưa thấy được cảnh giới thì
chẳng lạm tu pháp môn thứ hai, quý vị phải liên tục nỗ
lực, không ngừng ra sức.
Trong
phương diện Trợ Đạo, thầy dạy, đồng học, hoàn cảnh
tu học đều là duyên trợ đạo. Đức Phật giảng rất rõ
bốn thứ duyên: thân nhân duyên, sở duyên duyên, vô gián duyên,
tăng thượng duyên. Trợ Đạo là tăng thượng duyên. Tăng
thượng duyên cũng rất quan trọng, quý vị phải tin tưởng
thầy dạy, phải tin vào đồng tham đạo hữu, trong nhà Phật
gọi chung là “hộ pháp”, đều là trợ đạo. Những vị
hộ pháp dùng tài lực, vật lực giúp đỡ quý vị, khiến
cho quý vị sống an định, thân tâm an ổn. Trong kinh Phật
thường nói: “Pháp luân chưa chuyển, bánh xe ăn đã chuyển
trước”. Nếu cuộc sống quý vị chẳng an định, làm sao
quý vị có lòng tu tập đạo? Giúp cho quý vị thân tâm an
định, đó là hộ pháp. Hộ pháp có đại ân, nội hộ có
đại đức, khiến quý vị thân tâm an ổn, vô ưu vô lự,
một lòng tu đạo dễ dàng thành tựu.
Điều
cuối cùng là Huệ Lực, Huệ Căn tăng trưởng, trí huệ hiện
tiền, có năng lực phân biệt chân - vọng, có năng lực phân
biệt thị - phi, thiện - ác, lợi - hại, bày ra trước mắt
rõ ràng, rành rẽ, minh bạch, không mê hoặc chút nào. Tư tưởng
kiến giải thuần chánh, ngôn ngữ, hành vi thuần chánh, đoạn
nghi thành đức, thành tựu đại đức đại năng của chính
mình, toàn là nhờ vào trí huệ. Trong kinh điển, đức Thế
Tôn khởi sự nói từ Ngũ Căn, Ngũ Lực, ba khoa trước lược
đi. Trong chú sớ, chú giải của Ngẫu Ích đại sư và Liên
Trì đại sư, dẫu đức Phật không nói, nhưng các Ngài đều
nói thêm vào, có lợi rất lớn cho bọn sơ học chúng ta.
Kế
đó là tiểu đoạn thứ sáu: “Thất Bồ Đề phần”. Bồ
Đề là tiếng Phạn, phiên dịch sang nghĩa tiếng Tàu là Giác.
Bồ Đề có nghĩa là giác ngộ, bởi thế “còn gọi là Thất
Giác Phần”. Giác chứ không mê, “khéo có thể hiểu hết
thảy các pháp”, đấy là công phu! Với những khoa mục lớn
chúng tôi đều dùng phương pháp giới thiệu đơn giản cùng
quý vị: Tứ Niệm Xứ là thấy thấu suốt, trước tiên phải
thấy thấu suốt. Tứ Như Ý Túc là buông xuống, quý vị phải
buông xuống được. Khi tôi vào cửa Phật, thân cận vị xuất
gia thứ nhất, vị thứ nhất ấy dạy tôi “thấy cho thấu,
buông xuống được!” Thất Bồ Đề Phần là công phu chân
chánh, bảy thứ này đều là giác ngộ chân chánh, “do Huệ
lực phát sanh, là chánh trí vô lậu”. Ngũ Căn, Ngũ Lực do
đâu có? Do Huệ lực mà có; Thất Bồ Đề Phần cũng là do
Huệ lực mà có. Nếu Huệ Quán vô lực, nhờ đâu mà giác
được?
Tiếp
đây sẽ giảng bảy hạng mục, cả bảy hạng mục này đều
là giác ngộ, trong Phật pháp gọi là Bồ Đề.
Thứ
nhất là trạch pháp; Trạch Pháp Giác Phần. Trạch pháp là
“thiện biệt” (khéo phân biệt), biệt là phân biệt. Quý
vị khéo có thể phân biệt chân vọng, tà chánh, thị phi,
thiện ác, chẳng lấy pháp hư ngụy. Đó gọi là Trạch Pháp
Giác Chi (ở đây gọi là Giác Phần). Người học Phật hoặc
cầu học trong thế gian, tu đạo - đạo có thế gian đạo,
có xuất thế đạo, thế gian đạo có thiên đạo, tiên đạo;
xuất thế gian đạo có Thanh Văn đạo, Duyên Giác đạo, Bồ
Tát đạo, quý vị phải chọn lựa. Tiêu chuẩn chọn lựa
phải dựa vào lý, tức chánh lý. Lại phải dựa vào sự,
sự là gì? Sự là những điều kiện mình sẵn có. Chánh pháp
không chỉ có một loại, trong Đại Thừa Phật pháp thường
nói là vô lượng pháp môn, trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện nói
“pháp môn vô lượng thệ nguyện học”, vô lượng pháp
môn đều là chánh pháp. Với những điều kiện sẵn có của
chúng ta thì trong vô lượng pháp môn, hoặc nói là tám vạn
bốn ngàn pháp môn, ta có thể học được pháp nào? Tôi đã
thưa cùng quý vị đồng tu rất nhiều lần, trong những buổi
giảng cũng nói rất nhiều. Tôi thích học kinh giáo, tôi thích
thâm nhập một môn, tôi có nguyện vọng học đòi tổ sư
đại đức; tôi nhớ khá rõ Đạo Xước đại sư một đời
giảng Quán kinh hơn hai trăm lần. Ngài không giảng kinh nào
khác, chỉ giảng một loại, cũng giống như những vị thiện
tri thức trong năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng
tử: “Pháp môn vô lượng vô biên, tôi chỉ hiểu một môn,
anh đến đây thì tôi có thể nói cho anh nghe. Giảng xong, nếu
anh muốn nghe pháp khác thì đến vị thiện tri thức khác,
những vị đó biết nhiều hơn tôi, tôi chẳng bằng các vị
đó. Thành tựu một môn thôi!”
Năm
mươi ba lần tham học, năm mươi ba vị thiện tri thức, mỗi
cá nhân đều là một môn thâm nhập, đều không có pháp môn
thứ hai. Vì thế, Thiện Tài tham học: “Anh đến đây, tôi
đem pháp mình tu bảo cho anh biết. Nếu anh muốn học rộng
nghe nhiều, tôi giới thiệu anh đến chỗ khác”. Tự mình
khiêm hư, tán thán người khác. Đấy đều là thị hiện để
dạy chúng ta! Căn bệnh lớn của chúng ta là khen mình chê
người, tự cho mình là phi phàm, coi rẻ người khác. Sai rồi,
sai lầm quá đỗi rồi! Chẳng biết hết thảy chúng sanh vốn
sẵn là Phật, hết thảy chúng sanh là cha mẹ trong quá khứ,
là chư Phật trong vị lai, chẳng biết gì cả! Cuồng vọng
tự đại. Bởi thế, trên con đường Bồ Đề, quý vị đi
rất khổ sở, đi chẳng thành công. Lắm kẻ nửa đường
ngã lòng, thất bại hoàn toàn, chẳng phải là không có nguyên
nhân: Tâm thái tu học của quý vị đã sai rồi!
Nói
thật ra, cội rễ là do chẳng hiếu thuận cha mẹ, chẳng biết
tôn kính sư trưởng, căn bản đã hư rồi! Đạo Nho của Trung
Quốc và đạo Phật đều kiến lập trên cơ sở Hiếu đạo,
Hiếu đạo là gốc! Sư đạo (đạo thầy trò) kiến lập trên
cơ sở hiếu đạo. Nho là sư đạo, Phật cũng là sư đạo.
Tôn sư trọng đạo kiến lập trên cơ sở Hiếu đạo. Nếu
ai chẳng hiếu thuận cha mẹ, chẳng hiểu đạo Hiếu, sao kẻ
ấy tôn trọng sư trưởng cho được? Bởi vậy, học tập
không có căn bản, giống như cất nhà, xây lầu không có nền
móng, sao thành công được? Trong Ngũ Căn, Ngũ Lực đã giảng
ở phần trên, tôi đặc biệt đề xuất Tín Căn, hết sức
trọng yếu! Một bề tu dần dần cho tăng trưởng, trí huệ
bèn mở ra, có năng lực chọn lựa pháp môn; lúc mình chưa
có năng lực thì thầy thay thế mình chọn lựa.
Pháp
môn thầy đã chọn, mình có được thay đổi hay không? Được
chứ! Quý vị tu học đến một giai đoạn nào đó, nhận thấy
mình còn có thể tu một pháp môn khác, tự mình đã có năng
lực chọn pháp. Nếu mình không có năng lực ấy, thì cứ
ngoan ngoãn tuân thủ lời thầy chỉ dạy là an toàn, là bảo
đảm! Nếu quý vị thật sự thấy rõ các pháp bình đẳng,
không có cao thấp, pháp nào thầy chọn rất thích hợp với
căn tánh, lại phù hợp với trình độ của mình, cũng thích
hợp với hoàn cảnh sanh hoạt của mình thì đó là chọn lựa
tốt! Chết chặt một lòng thâm nhập một môn, có gì chẳng
thành tựu? Đến khi mình thật sự thành tựu, mới cảm ân
mộ đức thầy. Nếu thầy không răn dạy, nếu thầy không
thay mình chọn lựa, làm sao ta có thể thành tựu được?
Phương
hướng chung, mục tiêu chung của cả đời tôi là học Phật.
Chương Gia đại sư thay tôi chọn lựa, Ngài dạy tôi bỏ đi
các hạnh nghiệp khác, đi theo con đường xuất gia hoằng pháp,
Chương Gia đại sư dạy tôi như vậy đó. Tôi suy nghĩ rất
lâu, Ngài nói: “Bất cứ sự nghiệp nào khác đều chẳng
tốt bằng; sự nghiệp này đối với chính mình, đối với
chúng sanh trăm điều lợi không một điều tệ”. Tôi nghe
dạy xong, suy nghĩ rất lâu, quyết định tiếp nhận lời thầy
dạy. Lúc ấy tôi vẫn đang đi làm, tôi từng hỏi Chương
Gia đại sư: “Nếu con xuất gia thì phải tu pháp nào?” Đại
sư bảo tôi: “Ông phát tâm ấy, ông không cần phải tìm
pháp sư”. Ngài dạy rất hay: “Nếu ông cần tìm người
thế độ cho ông, vị ấy không đáp ứng, ông có sanh phiền
não hay chăng?” Tôi thưa có. Chẳng cần tìm thầy, cũng chẳng
cần tìm đạo tràng. Tôi hỏi làm thế nào đây? “Cầu Phật,
Bồ Tát gia trì!”
Rồi
Ngài dạy tôi: “Nếu tâm ông phát là chân tâm, nguyện là
chân nguyện, Phật, Bồ Tát sẽ thay ông an bài cả một đời,
ông không cần phải lo lắng chi cả, đến khi duyên thành thục,
ông sẽ biết ngay!” Đấy là chuyện tốt, tôi cảm ơn thầy.
Một đời chịu ân huệ thầy, đúng là chuyện gì cũng chẳng
bận lòng, một đời tùy duyên chẳng phan duyên. Độ mấy
năm sau, quả nhiên có vị sư phụ xuất gia đến tìm tôi,
mời tôi xuất gia. Thọ giới cũng như thế. Khai giới rồi,
tôi rất muốn đến thọ giới, nhưng không có duyên phận.
Lúc đó lại có người đến mời tôi đi thọ giới. Lúc đó
thọ giới phải có lệ phí, khi tôi mới xuất gia đâu có
được cúng dường, khoản tiền chi phí ấy rất lớn kiếm
chẳng ra. Có người đã chuẩn bị đầy đủ mọi khoản lệ
phí thọ giới đưa cho tôi bảo đi thọ giới, duyên thành
thục vậy! Cả đời bị động chưa hề chủ động, bất
luận đến địa phương nào cũng đều là bị động, tùy
duyên chẳng phan duyên, không có vọng tưởng, cuộc sống quá
sướng. Rất là khoái lạc, rất tự tại, thầy dạy như vậy
đó!
Nếu
quý vị chẳng tin tưởng thầy thì không có cách nào hết!
Tự mình ngày ngày khởi vọng tưởng, cuộc sống ấy chắc
chắn chẳng sung sướng, tự tại như tôi đang được hưởng.
Vì thế, tôi thường rất cảm thán nói: “Người thế gian
hiện thời chẳng nghe lời người xưa chịu đựng thiệt thòi
trước mắt”. Tôi được hưởng tiện nghi là nhờ tin tưởng
thầy, tôi rất nghe lời. Những vị thầy tôi được thân
cận đúng là chân thiện tri thức, thật sự có đức hạnh,
có trí huệ, có học vấn, có tu dưỡng. Cả đời tôi có
ba vị thầy, mọi người đều biết cả, vị tại gia là tiên
sinh Phương Đông Mỹ, những vị dạy tôi Phật pháp thì thứ
nhất là Chương Gia đại sư, vị thứ hai là lão cư sĩ Lý
Bỉnh Nam. Tôi học với Chương Gia đại sư ba năm, học với
Lý lão cư sĩ mười năm. Cả đời chẳng trái nghịch lời
thầy dạy dỗ, những gì thầy dạy tôi đều tốt lành, đều
có đạo lý, quyết định chẳng phải là ác pháp, hoàn toàn
đúng với kinh giáo. Bởi thế chọn pháp (trạch pháp) tự
bản thân chúng tôi không có năng lực, thầy vì tôi chọn
lựa pháp môn Tịnh Độ.
Sau
này, tôi đọc đến kinh Đại Tập, thấy Thích Ca Mâu Ni Phật
khuyên dạy chúng sanh đời Mạt Pháp chọn lựa pháp môn này.
Phật dạy trong thời kỳ Chánh Pháp, giới luật thành tựu;
thời kỳ Tượng Pháp, thiền định thành tựu; thời kỳ Mạt
Pháp Tịnh Độ thành tựu. Chúng ta chọn lựa pháp môn này
đúng với ý Phật, rất khế hợp căn tánh của chính mình.
Tôi tự chọn Di Đà Kinh Yếu Giải vì nó khế hợp căn tánh
của mình nhất. Trước kia, ở Dallas có một vị đồng học
hỏi tôi:
- Đại
Tạng kinh nhiều như vậy, nếu chỉ cho phép thầy chọn một
môn, thầy chọn môn nào?
- Tôi
chọn A Di Đà kinh, nhưng trong những chú giải kinh A Di Đà,
tôi chọn sách Yếu Giải.
Tôi
nhớ đã giảng Yếu Giải một lần ở Gia Châu (California),
cư sĩ Lưu Thừa Phù ghi thành sách “Di Đà Yếu Giải Thân
Văn Ký”. Lúc ấy tuổi cụ đã rất cao, cụ sống ở Tây
Nhã Đồ (Seattle). Những đồng học ở bên tôi thật hiếm
có, họ đem băng giảng mỗi ngày gởi qua đó, từ băng giảng
cụ Lưu chép ra thành sách.
Có
rất nhiều kinh luận được giảng chẳng phải là chủ ý
của tôi. Vì nguyên nhân gì? Trong thời đại này, pháp sư
giảng kinh rất ít. Có nhiều vị đồng học đến khải thỉnh,
bất đắc dĩ phải phân tâm giảng những kinh luận ấy! Nếu
pháp sư giảng kinh nhiều, mỗi một tông phái đều có pháp
sư giảng kinh thì quý vị biết đó: Cả đời tôi chỉ nhất
định học đòi bậc cổ đại đức, một đời chuyên giảng
A Di Đà Yếu Giải, trở thành chuyên gia, chứ không làm bậc
thông gia. Hiện tại thế giới to lớn đến thế này, đến
mỗi thành phố giảng một lần, giảng cả ba trăm năm cũng
chưa giảng xong, có phải rất tự tại hay chăng?
Tôi
đã thưa cùng thầy Lý chuyện này, thầy cười cười: “Ông
rất tự tại, nhưng những lời sau đây rất khó nghe: Ông
chẳng thể độ chúng sanh”. Tôi hỏi vì sao? Thầy dạy: “Ông
có thấy lúc nào chúng sanh nhờ nghe một bộ kinh mà khai ngộ,
chứng quả hay chăng?” Thật sự chẳng có! Vì thế, lão nhân
gia dạy thật chánh xác, đúng là phải giúp đỡ chúng sanh,
thành tựu chúng sanh, phải ở một nơi, chẳng đi cùng khắp
mọi nơi được. Đấy là những điều thầy dạy tôi. A! Nay
đã đến giờ rồi, chúng tôi giảng đến đây thôi!
*
Chư
vị đồng học!
Chúng
ta lại xem đến phần Thất Bồ Đề Phần trong kinh.
Trong
Thất Bồ Đề phần, phần thứ nhất là Trạch Pháp: Trạch
Pháp Giác Phần. “Khéo phân biệt chân - vọng, tà - chánh,
đúng - sai, thiện - ác, chẳng lấy pháp hư ngụy”. Trong điều
này, quan trọng nhất vẫn là dạy chúng ta phải khéo chọn
lựa pháp môn. Trên thực tế, chuyện này chẳng dễ dàng đâu!
Giống như thầy lang trị bệnh, kê toa nhất định phải phù
hợp căn bệnh. Toa hoàn toàn tương ứng với bệnh thì thuốc
sẽ trị lành được bệnh. Muốn hiểu rất rõ căn tánh của
hết thảy chúng sanh, muốn nắm rất chắc thì so với thầy
lang đoán gốc bệnh càng khó khăn hơn rất nhiều. Bởi vậy,
sự việc này đúng là chỉ có Phật với Phật mới có thể
rốt ráo; nếu chúng sanh mong mỏi Phật giống như một vị
thầy thuốc tốt lành như thế thì không có vấn đề gì,
trong kinh thường gọi Phật là Đại Y Vương. Ngài có trí
huệ viên mãn, thần thông viên mãn, đức năng viên mãn, Phật
thấy đời đời kiếp kiếp trong quá khứ của mỗi cá nhân,
Ngài làm được chuyện này rất tốt!
Bởi
thế, khi đức Phật vì chúng sanh thuyết pháp, trong kinh chúng
ta thường thấy, khi một bộ kinh chưa giảng xong, đã có khá
nhiều thính chúng khai ngộ, chứng quả rồi. Vì sao nay chúng
ta dù nghe nhưng lại không được như vậy? Phật nắm rõ chuẩn
xác căn bệnh của chúng ta, thuyết pháp đối cơ. Nói trắng
ra, sau khi Phật nhập diệt, đúng là hàng đệ tử đời sau
kém hẳn đời trước. Vì sao chư Phật, Bồ Tát chẳng đến
ứng hóa trong thế gian? Nói đúng ra, chư Phật Bồ Tát, đúng
là vẫn ứng hóa trong thế gian, nhưng chúng sanh căn tánh bất
đồng, chẳng được như trước. Trước kia, chúng sanh căn
tánh sâu dầy, dù đối với sự, với người hay với vật
đều có lòng thành kính, hiện thời chẳng được vậy. Ấn
Quang đại sư nói rất hay: “Một phần thành kính được
một phần lợi ích; mười phần thành kính được mười phần
lợi ích”. Nay chẳng có thành kính, dẫu cho Phật, Bồ Tát
ứng hóa, chúng ta vẫn không được lợi ích là vì không có
tâm cung kính. Bởi vậy, trách nhiệm hoàn toàn chính nơi bản
thân chúng ta, chứ chẳng phải là Phật, Bồ Tát!
Đối
với Trạch Pháp, trong thời đại này chúng ta chẳng thể không
lưu ý. Tự mình nhất định phải biết trình độ bản thân,
biết căn tánh của chính mình, biết hoàn cảnh sanh hoạt của
mình. Chúng ta tu tập pháp môn này, chúng ta chiếu theo đó
tu hành, trong hiện tại sẽ giảm thiểu chướng ngại đến
mức tối thiểu, mong rằng thành tựu tu học của chúng ta
càng ngày càng lớn. Chẳng được nói pháp môn này hay, pháp
môn nọ hay; pháp môn nào cũng hay cả, chẳng có pháp môn nào
không hay! Vấn đề là có thích hợp với việc tu học, thích
hợp với hoàn cảnh sanh hoạt hiện tại của chúng ta hay không,
chuyện đó mới quan trọng!
Tự
chúng ta không có năng lực tuyển chọn, Phật, Bồ Tát, tổ
sư đại đức ban cho chúng ta rất nhiều tài liệu tham khảo.
Thích Ca Mâu Ni Phật dạy chúng ta chọn lấy pháp môn Tịnh
Độ trong thời kỳ Mạt Pháp; chúng ta hiện đang sống trong
thời kỳ Mạt Pháp. Kinh luận Tịnh Độ ít nhất, kể cả
những kinh do các tổ sư cận đại thêm vào, tổng cộng chỉ
có năm kinh một luận. Năm kinh một luận ấy thứ nào hợp
với chúng ta, chỉ chọn lấy một loại là đủ. Tu học một
thứ có thành tựu là đạt được pháp ích. Nếu vẫn còn
có sức thì lại học thêm một thứ, hai thứ nữa, chẳng
được lan man quá nhiều. Lan man quá nhiều thì tinh thần, tâm
lực của chúng ta phân tán, rất khó thể thành tựu.
Ở
đây, câu cuối cùng rất trọng yếu: “Chẳng lấy pháp hư
ngụy”. Trong những pháp hư ngụy, đặc biệt là tà tri trà
kiến, chẳng phải là chánh pháp. Điều này chúng ta phải
phân biệt rõ ràng. Trong pháp môn Tịnh Độ hai năm gần đây
có rất nhiều người phản đối bản hội tập, chê bản
hội tập là ngụy kinh, những lời ấy đúng là khiến những
vị thông hiểu phải phì cười. Thế nào là ngụy kinh? Ngụy
kinh là kinh do tự mình bịa đặt ra, ngụy tạo! Bản hội
tập này không ngụy tạo, từng chữ từng câu đều có căn
cứ, đều do chính Phật nói, sao gọi là ngụy kinh được?
Nếu bảo những bản hội tập đều là ngụy tạo thì ngụy
kinh quá nhiều. Hiện tại những sám nghi trong tất cả đạo
tràng, cho đến khóa bản để tụng trong khóa sáng đều là
những bản hội tập, vậy thì toàn bộ đều ngụy kinh. Vậy
thì những gì Phật pháp thực hành trong hơn hai ngàn năm đều
là tầm bậy ư? Có đạo lý ấy hay chăng? Chẳng thể nói
tùy tiện như vậy được! Nói năng là cả một môn học lớn.
Trong
nền giáo dục của Khổng lão phu tử, ngôn ngữ là khoa thứ
hai, đức hạnh là khoa thứ nhất. Do đây biết rằng: Ngôn
ngữ được coi là rất quan trọng. Cát - hung, họa - phước,
ngôn ngữ chiếm quá nửa. Thiện ngôn, thiện hạnh công đức
vô lượng. Nếu như vọng ngữ, nói đôi chiều, tội lỗi
vô biên, chẳng thể không cẩn thận, chẳng thể không biết.
Nếu nói bản hội tập là ngụy kinh, chính là nhục mạ toàn
bộ tổ sư đại đức trong quá khứ. Bản hội tập kinh Vô
Lượng Thọ của ông Vương Long Thư được xếp vào Càn Long
Đại Tạng Kinh. Trong quá khứ, những kinh điển được xếp
vào Kinh Tạng, phải được tất cả cao tăng đại đức đương
thời thẩm tra, xem xét, công nhận là đúng, không sai mới
được nhập vào Kinh Tạng. Những ý kiến thẩm sát được
gởi lên hoàng đế, hoàng đế phê chuẩn nhập tạng. Bởi
thế, “được nhập tạng” (được đưa vào Đại Tạng
Kinh) là tiêu chuẩn tuyệt đối, ngụy kinh làm sao đưa vào
Tạng được?
Nói
đây là ngụy kinh, không phải là nhục mạ toàn bộ cao tăng
đại đức [đã tham gia] thẩm sát hay sao? Đúng là một mẻ
lưới bao trùm hết. Giống như cho rằng hiểu Phật pháp chỉ
có một mình anh thôi, ngoại trừ anh ra, tổ sư đại đức
đều mù hết. Quý vị phải biết tội đó rất nghiêm trọng!
Chẳng biết nhân quả đáng sợ; Phật, Bồ Tát tha thứ cho
quý vị, nhưng nhân quả chẳng tha đâu! Phật, Bồ Tát từ
bi, “người đời trước không biết, chẳng biết đạo đức,
chưa từng nói đến, chẳng có lạ gì”. Người thật sự
có học vấn, có đức hạnh nghe đến những lời đó, trông
thấy chuyện như vậy chỉ cảm thán mà thôi. Đáng tiếc anh
chưa được thân cận thiện tri thức chân chánh, không ai dạy
cho anh, đúng là tự mình nhìn lầm, chứ người khác không
lầm. Chuyện này rốt cuộc ai đúng ai sai, tự có người đời
sau phân biệt, chẳng phải trong đương thời mà lịch sử
sẽ phán xét.
Điều
thứ hai trong Thất Bồ Đề Phần là: “Tinh tấn, thường
siêng năng chân chánh, chẳng giữ lấy khổ hạnh vô ích”.
Cả bảy điều đều dựa trên Huệ Căn, Huệ Lực trong Ngũ
Căn, Ngũ Lực, trí huệ hiện tiền. Nhưng quý vị phải hiểu
Ngũ Căn, Ngũ Lực dựa vào đâu? Dựa vào Tứ Niệm Xứ, Tứ
Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc ở trước đó. Ba mươi bảy Đạo
Phẩm có thứ tự, nếu không có cái trước chắc chắn chẳng
có cái sau. Nay chúng ta không có năng lực chọn lựa, vì sao?
Không có trí huệ! Vì sao không có trí huệ? Không tu Ngũ Căn,
Ngũ Lực. Vì sao chẳng thể tu thành công Ngũ Căn, Ngũ Lực?
Đều vì chẳng hạ công phu nơi Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần,
Tứ Như Ý Túc ở phần trên; chúng là cơ sở của những cơ
sở. Học nhân thời cổ, bất luận tại gia hay xuất gia, gặp
được chân thiện tri thức, thầy tốt, thật sự dốc sức
dạy dỗ mình, bồi dưỡng mình, thành tựu mình. Trí huệ
mình chưa mở, thầy giúp mình; đến khi nào chính mình đã
mở mang trí huệ, mình sẽ có năng lực quyết định chọn
lựa pháp môn. Lúc ấy bèn tinh tấn, siêng năng chân chánh.
Trong Tịnh tông chân chánh là một câu Phật hiệu; chư Phật
Như Lai, cổ thánh tiên hiền dạy chúng ta phương pháp này
là pháp Trì Danh Niệm Phật trong bốn cách niệm Phật. Cận
đại, Ấn Quang pháp sư cực lực đề xướng, hoằng dương,
khuyên dạy chúng ta niệm Phật.
Đế
Nhàn lão pháp sư dạy ông thợ nề đừng khổ hạnh vô ích,
phương pháp của Ngài rất hay! Một câu A Di Đà Phật ấy
niệm đến khi mệt bèn nghỉ ngơi, nghỉ khỏe rồi lại niệm
tiếp, khiến cho thân thể, tinh thần của quý vị chẳng hề
có mảy may áp lực nào, nhưng cần phải buông xuống vạn
duyên. Ta đến trong thế gian này, chuyện gì đã qua cho qua
luôn, nhất định không truy cầu nữa, sau này ta còn có thể
sống thêm được mấy năm nữa? Thời gian quý báu hơn bất
cứ gì khác, phải thật sự giác ngộ! Thân, tâm, thế giới,
hết thảy buông xuống hết, bất cứ sự gì dù thế gian hay
xuất thế gian chẳng ăn nhằm gì đến ta, ta nhất tâm niệm
Phật, sống được một ngày niệm một ngày, nhất định
thành công!
Niệm
Phật chẳng thể vãng sanh là vì nguyên nhân nào? Vị chỉ
dạy đầu tiên hết là Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Thế
Chí dạy chúng ta phương pháp “nhiếp trọn sáu căn, tịnh
niệm tiếp nối”. Nhiếp trọn sáu tâm là gom cái tâm lại.
Đó là buông xuống vạn duyên! Thâu hồi con mắt từ nơi Sắc
Trần lại, thâu hồi cái tai từ nơi Thanh Trần lại, sáu căn
chớ đeo đuổi bên ngoài, thâu hồi lại, nhất tâm chuyên
niệm. Đại Thế Chí gọi đó là “nhiếp trọn sáu căn”,
tức là như Mạnh tử nói: “Đạo học vấn không có gì khác,
cốt sao thong thả cái tâm mà thôi”. Đó là học vấn thật
sự, thâu hồi sáu căn lại, chẳng phan duyên nơi cảnh giới
lục trần là đúng. Đó gọi là nhất tâm chuyên niệm, nhất
hướng chuyên niệm, chỉ một phương hướng, chỉ một mục
tiêu chẳng xen tạp. “Không hoài nghi, không xen tạp, không
gián đoạn” là tịnh niệm tiếp nối. Tịnh là không xen
tạp, tiếp nối chẳng gián đoạn.
Chín
chữ của Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát nói có cùng một ý
nghĩa với lời dạy của Đại Thế Chí Bồ Tát. Trong tập
sách nhỏ Tây Phương Xác Chỉ, Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát
nói: “Không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn” rất
dễ hiểu, bí quyết niệm Phật là đây. Nếu thật sự làm
được như thế thì gọi là chân tinh tấn, vạn người tu
vạn người đến. Chớ có suy nghĩ bậy bạ! Một nghi vấn
lớn nhất mà chúng tôi thường thấy các đồng tu đến hỏi
là nghiệp chướng sâu nặng, nhưng nghiệp chướng sâu nặng
nhất là gì? Nghiệp chướng là như thế này đây: lo ngờ
nhiều quá sức, chẳng chắc thật, tâm không định được!
Nếu công phu đắc lực, chẳng hoài nghi, chẳng xen tạp, chẳng
gián đoạn, người ta tuyệt đối chẳng tìm mình. Vì sao chẳng
tìm mình? Mình chẳng bằng họ, họ tìm mình làm gì? Người
ta muốn thành Phật ngay lập tức, mình ở đằng sau họ, họ
tìm những gì ở trước chứ tìm đằng sau làm gì? Họ nhất
định tìm những gì cao minh hơn, chẳng tìm kẻ kém họ.
Quý
vị phải biết giảng kinh không bằng Niệm Phật! Niệm Phật
công phu đắc lực đúng như Đế Nhàn lão hòa thượng nói
(Đế Nhàn lão hòa thượng là pháp sư giảng kinh), Ngài thấy
người đồ đệ thợ nề của mình vãng sanh, Ngài cảm thán.
Ngài nói gì? “Thành tựu của ông cao hơn phương trượng
trụ trì các tùng lâm trong thiên hạ nhiều lắm, những thiện
tri thức hoằng Tông nghiên Giáo trong thiên hạ, những pháp
sư ấy chẳng bằng được ông!” Đúng vậy, nói không sai,
kể cả chính bản thân Ngài. Người thợ nề duyên tốt, thật
sự làm được! Duyên của Đế Nhàn pháp sư chưa được,
Ngài muốn niệm Phật, người ta đến thỉnh giáo, người
ta thỉnh mình đi giảng kinh, mình làm cách nào đây? Người
thợ nề không ai biết cả, chắc chắn không ai tìm cả. Ông
ta không biết chữ, đó là duyên thù thắng. Do đây, chúng
ta không thể không hiểu rõ: Nổi danh, tiếng tăm lớn có tốt
hay chăng? Không tốt đâu!
Lúc
càng nổi danh chướng ngại càng nhiều! Người tìm đến mình
nhiều quá, bị người ta tìm thì bận rộn, khiến cho công
phu của mình bị gián đoạn, khiến mình bị xen tạp, công
phu chẳng thuần. Dù có vãng sanh, phẩm vị cũng không cao.
Nếu như quý vị thật sự hiểu được đạo lý này, quý
vị có còn muốn tranh danh hay chăng? Tranh danh, tranh lợi chỉ
tự mình chuốc phiền, những điều này đều phải có trí
huệ chân thật mới hiểu rõ nổi, không có trí huệ chân
thật là không xong! Người thế gian cho danh lợi là tốt, đối
với người tu đạo, danh lợi là chướng ngại, đại chướng
ngại, chướng ngại quý vị tinh tấn. Vì thế, phương pháp
ấy của Đế Nhàn lão hòa thượng hết sức đáng tuân thủ.
Trước
kia, tôi ở rất nhiều đạo tràng tại Mỹ quốc, tôi đều
khuyên mọi người dùng phương pháp sau đây, họ bảo tôi
phương pháp này hết sức hay. Cùng tu một chỗ, dẫu cùng
tu chung một chỗ vẫn là mỗi người mỗi tu, chỉ có âm thanh
niệm Phật, âm điệu thống nhất. Ngoài ra, đều tùy thuộc
vào sự thuận tiện cho chính mình. Một Niệm Phật Đường
chia thành ba khu vực: Trong đó một bộ phận đối trước
tượng Phật lễ Phật, đó là khu vực lễ Phật. Hai bên Phật
đường, dựa sát tường là khu vực tịnh tọa. Giữa khu vực
tịnh tọa và lễ Phật là khu vực nhiễu Phật. Anh thích nhiễu
Phật thì đi nhiễu Phật theo đường đó. Anh nhiễu Phật
mệt, muốn ngồi xuống nghỉ một chút, chỉ tịnh nhìn vách,
đi đến bên tường anh bèn ngồi xuống. Niệm Phật ra tiếng
chỉ có người nhiễu Phật, người tịnh tọa không niệm
ra tiếng, chỉ mặc niệm hoặc Kim Cang trì: miệng động nhưng
không vang ra tiếng, dưỡng thần, khôi phục thể lực. Lễ
Phật chẳng niệm ra tiếng, nghe âm thanh Phật hiệu, hoặc
là cứ một câu Phật hiệu lễ một lạy, hoặc hai câu lễ
một lạy. Lễ Phật nhanh hay chậm miễn sao tiện cho mình.
Phương
pháp này tốt hơn bất cứ phương pháp nào khác, đúng là
già trẻ đều thích hợp. Người già cả thể lực yếu, tốc
độ lễ Phật rất chậm, người trẻ tuổi lễ Phật rất
mau. Nếu quý vị muốn gõ dẫn khánh, cùng lúc lạy xuống,
cùng lúc đứng lên; có lúc người cao tuổi theo không kịp
ắt sanh phiền não. Bởi vậy, chúng tôi không dùng dẫn khánh,
mỗi người tự lễ, hoàn toàn không có áp lực, hoan hỷ!
Hết sức thích hợp cho xã hội hiện thời, cốt ý chẳng
giữ những khổ hạnh vô ích. Những khổ hạnh ấy đối với
chúng ta nói thật ra vô ích, chúng tôi không dùng.
Hỷ
Giác Phần: “Trụ vào chân pháp hỷ, chẳng nương vào pháp
điên đảo mà vui”. Chân pháp hỷ thì công phu tu học đắc
lực, sự hỷ duyệt ấy từ nội tâm lưu xuất; “vui nơi
pháp điên đảo” nghĩa là gì? Chính là những gì khích động
bên ngoài, người thế gian ham thích ngũ dục, lục trần, chỗ
vui chơi, dạ hội thế gian. Lúc tôi ước chừng hai mươi tuổi,
lúc đó vừa mới ra trường, đã ở Thượng Hải hơn bốn
tháng. Tối đến bè bạn thường cùng nhau đi chơi đêm, những
cuộc chơi đêm đó là những trường hợp “vui nơi pháp điên
đảo”. Những nơi ca vũ, những nơi hý kịch đều là “vui
do nương vào pháp điên đảo”.
Trụ
chân pháp hỷ, nương vào giáo huấn của thánh hiền để tu
hành; trong tu hành có pháp hỷ, công phu đắc lực có pháp
hỷ, đắc định, khai huệ. Nghiên cứu kinh giáo cũng có pháp
hỷ, khế nhập cảnh giới, pháp hỷ sung mãn. Thánh hiền thế
gian đọc sách của thánh hiền thế gian khế nhập cảnh giới,
Phu Tử nói cũng chẳng vui ư: “Học rồi thường thực hành
cũng chẳng vui ư?” Đó là nương theo chánh pháp sanh lòng
hoan hỷ. Hỷ trong Thất Giác Chi chẳng phải là sự vui mừng
thông thường, không có nghĩa như vậy. Hỷ lạc như vậy chẳng
gọi là Giác Chi, chẳng ăn nhập, chẳng tương ứng gì với
Bồ Đề cả. Nhất định phải tương ứng với Giới - Định
- Huệ thì mới là Pháp Hỷ.
Thứ
tư là Trừ Giác Chi, Trừ là đoạn trừ. “Đoạn trừ các
kiến phiền não, chẳng tổn hại thiện căn chân chánh”,
phải hiểu điều này! Vừa đoạn trừ phiền não vừa chẳng
tổn hoại thiện căn chân chánh bằng cách nào đây? Chỗ này
quý vị nhất định phải hiểu. Trong kinh luận Phật nói rất
nhiều, chúng ta nghe cũng đã quen tai: “Phiền não tức Bồ
Đề”. Quý vị thấy phiền não chính là Bồ Đề; phiền
não phải đoạn trừ, chẳng phải là Bồ Đề cũng cần phải
đoạn ư? Thiện căn bị tổn thất rồi! “Đoạn các kiến
phiền não”, các kiến ở đây là tà kiến, lại còn “chẳng
tổn thiện căn chân chánh”, nghĩa là sao? Chuyển phiền não
thành Bồ Đề thì phiền não không có nữa, phiền não biến
thành Bồ Đề, duyên do là như thế.
Chuyển
ra làm sao? Ở đây là giác và mê, lúc mê là phiền não, sau
khi giác ngộ là Bồ Đề. Chúng tôi nêu thí dụ dễ hiểu
nhất, dường như trong đời mỗi một đồng học đều gặp
phải, người khác hữu ý, vô ý hủy báng mình, quý vị nghe
xong rất tức giận; đó là sanh phiền não. Người ta hủy
báng quý vị, quý vị tiếp nhận. Trong tâm quý vị sanh sân
hận, lại còn nghĩ cách báo thù, ấy là sanh phiền não. Nếu
quý vị giác ngộ, quý vị chẳng thèm để ý. Càng hủy báng
nghiêm trọng, quý vị càng niệm A Di Đà Phật, tôi thường
nói quý vị phải cảm tạ người đó. Vì sao? Người ta tiêu
nghiệp chướng thay cho quý vị! Quý vị thấy đó: Phiền não
chẳng có thì Bồ Đề bèn sanh khởi! Những thí dụ như vậy
đó: Một niệm giác hay mê; một niệm giác thì phiền não
bèn chuyển thành Bồ Đề!
Tai
nạn nghiêm trọng nhất là như trong kinh Phật nói: Nhẫn Nhục
tiên nhân gặp phải vua Ca Lợi cắt chặt thân thể. Đó là
tai nạn nghiêm trọng. Đúng là oan uổng! Nhẫn Nhục tiên nhân
chẳng có chút lầm lỗi gì cớ sao vua Ca Lợi lại nổi nóng?
Vì sao lại phát sanh sân tâm lớn như thế, xử tử Nhẫn Nhục
tiên nhân? Câu chuyện này được chép tường tận trong kinh
Đại Bát Niết Bàn, kinh Kim Cang chỉ nhắc tới chứ không
nói kỹ. Vua Ca Lợi dẫn theo rất nhiều đại thần văn võ,
quyến thuộc trong cung đi săn, cũng đáng là chuyện rất cao
hứng, rất hưng phấn. Những cung nữ được vua mang theo gặp
Nhẫn Nhục tiên nhân, trông thấy một vị tu đạo khổ hạnh
trong núi, cảm thấy rất lạ bèn hỏi han tiên nhân. Nhẫn
Nhục tiên nhân thuyết pháp cho họ, họ nghe pháp hết sức
hoan hỷ. Vua Ca Lợi thấy vậy, đương nhiên cũng là oan gia
đối đầu, bảo gã này giả tu hành chứ không phải thật
tu, gạt gẫm cung nữ. Vua Ca Lợi hết sức nóng giận, truyền
xử tử hình, lăng trì tiên nhân đến chết. Oan uổng rất
lớn, sỉ nhục rất lớn, Nhẫn Nhục tiên nhân giác chứ không
mê, chẳng những không hận vua, không oán hận một chút nào,
Nhẫn Nhục Ba La Mật viên mãn, chẳng hề có mảy may tâm báo
thù, Trì Giới Ba La Mật viên mãn, lại còn cảm tạ vua Ca
Lợi, phát nguyện tương lai tôi thành Phật, người thứ nhất
tôi sẽ độ chính là nhà vua. Đó chẳng phải là “đoạn
các kiến phiền não, thành tựu Vô Thượng Bồ Đề” ư?
Chẳng những không bị tổn, còn thành Vô Thượng Bồ Đề!
Chúng ta phải nhớ kỹ, nghịch cảnh ác duyên thường gặp
phải, khi gặp rồi, quý vị hãy nghĩ Phật, Bồ Tát thị hiện,
dạy chúng ta phải xử sự trong nghịch cảnh, đối xử với
ác duyên như thế nào, phải học theo trí huệ cao độ của
Phật, Bồ Tát, chuyển phiền não thành Bồ Đề.
Tiếp
đến là Xả Giác Chi. “Bỏ chấp trước vào những cảnh
trông thấy, nghĩ đến, vĩnh viễn chẳng nhớ lại”. Giữa
Xả và Trừ thì Trừ là đối nội, bên trong ta có sân khuể,
báo thù thì đó là phiền não bên trong. Xả là đối với
cảnh giới bên ngoài, ngũ dục, cảnh giới lục trần bên
ngoài thường dụ dỗ, mê hoặc ta, ta trông thấy, nghe thấy
chẳng chấp vào tướng. Với những cảnh giới ấy, quý vị
chẳng chấp tướng, cảnh nào đã qua vĩnh viễn chẳng cần
phải hoài niệm. Cứ mỗi lần quý vị hoài niệm là lại
gieo một chủng tử vào A Lại Da Thức, đó là tạo nghiệp!
Khẩu không tạo, thân cũng không tạo, nhưng ý tạo nghiệp.
Phải thường nhớ rằng: “Phàm những gì có hình tướng
đều là hư vọng”, “hết thảy pháp hữu vi, như mộng,
huyễn, bọt, bóng”; Phật giảng chân tướng sự thật như
thế. Phàm phu rất khó giác ngộ, rất khó liễu giải. Thích
Ca Mâu Ni Phật bốn mươi chín năm giảng kinh, thuyết pháp,
đúng là thiên ngôn vạn ngữ, quan trọng nhất là chẳng ngừng
lập đi lập lại, chúng ta nghe quen tai, nhưng chẳng thể thọ
dụng, hễ cảnh giới hiện tiền bèn mê lập tức. Sao biết
là mê? Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước sanh khởi, vô
dụng!
Các
nhà khoa học hiện tại cũng rất cần cù, họ dùng phương
pháp khoa học, dùng cách suy đoán cao sâu của số học để
dần dần làm sáng tỏ đôi chút Thật Tướng của các pháp
đã được nói trong kinh Phật. Ví dụ như Phật nói “phàm
những gì có hình tướng đều là hư vọng”, “hết thảy
pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt, bóng”. Những điều này
mọi người nghe quá quen rồi, kinh Kim Cang nói vậy. Hiện tại
khoa học gia phát hiện (cư sĩ Chung Mậu Lâm hồi trước đã
từng giảng diễn về chuyện này ở đây) rằng dưới một
điều kiện nào đó, thời gian và không gian bằng không. Kinh
Đại Thừa thường nói thời gian dài vô lượng kiếp, một
sát-na là thời gian ngắn ngủi. Vô lượng kiếp có thể rút
ngắn thành một sát-na, một sát-na có thể triển khai thành
vô lượng kiếp. Thời gian không còn nữa!
Cõi
Phật phương khác khoảng cách xa xôi, như kinh Di Đà đã nói:
Sa Bà cách Cực Lạc mười vạn ức cõi Phật. Trong cảnh giới
nào đó, chúng ta ngồi ở đây, A Di Đà Phật ở đâu? Ở
ngay trước mặt. Phật A Di Đà không đến, ta cũng không đi,
ở ngay trước mặt nhau, vậy là xa gần không còn nữa, không
gian không còn nữa. Hiện tại, do suy luận số học, các khoa
học gia thấy dưới một điều kiện nào đó, không có không
gian, không có xa gần, không có quá khứ, hiện tại, vị lai,
không có thời gian. Kinh Phật nói như vậy, khoa học gia gật
đầu: “Tin tưởng được!” Nói đến khởi nguyên của vũ
trụ, các nhà khoa học cũng dần dần phát hiện giống như
kinh Phật dạy: nhất thời đốn hiện, sát-na chẳng trụ,
dần dần khoa học cũng chứng minh được những chuyện này.
Dẫu
họ chứng minh được, chứng minh trên mặt lý luận không
có vấn đề gì: “Có khả năng có những chuyện như vậy!”,
nhưng họ chẳng thể khế nhập cảnh giới ấy. Những cảnh
giới kinh luận dạy cho chúng ta biết đều thuộc về định
lực rất sâu. Định lực rất sâu làm cho vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước của chúng ta đều đoạn trừ hết, chân
tướng vũ trụ rõ ràng. Trong kinh điển Đại Thừa, đức
Phật thường gọi chân tướng sự thật là “cảnh giới
giải thoát chẳng thể nghĩ bàn”. Sự giải thoát ấy là
đại tự tại, đại tự tại chẳng thể nghĩ bàn, chẳng
có xa - gần, chẳng có quá khứ, hiện tại, vị lai, chẳng
có sanh - diệt; tức là bất sanh, bất diệt, bất lai, bất
khứ, bất thường, bất đoạn, bất nhất, bất dị (không
sanh, không diệt, không đến, không đi, không thường, không
đoạn, không một, không khác); Trung Quán Luận gọi là “bát
bất”. Cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn là cảnh giới của
Pháp Thân Bồ Tát, là cảnh giới Nhất Chân pháp giới. Nhất
Chân pháp giới và mười pháp giới là một chứ không phải
hai, lạ lùng lắm! Một niệm giác thì thế giới này đúng
là Nhất Chân pháp giới; một niệm mê, thế giới này là
ngũ trược ác thế. Thế giới không có giác hay mê, giác hay
mê, nhiễm hay tịnh là do chính mình.
Bởi
vậy, như chúng tôi thường nói Xả là buông xuống, buông
xuống vạn duyên, buông thân tâm thế giới xuống, quan trọng
nhất là buông xuống vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.
Vì sao? Cảnh giới bên ngoài không chướng ngại, lý sự vô
ngại, sự sự vô ngại, chướng ngại là do vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước phát sanh. Do đây biết rằng: Chướng
ngại chẳng do cảnh giới bên ngoài, cảnh giới bên ngoài
không chướng ngại. Phàm phu chúng ta lầm lạc, cứ tưởng
chướng ngại ở bên ngoài; Phật dạy chúng ta cảnh giới
bên ngoài không gây chướng ngại.
Thứ
sáu là Định Giác Phần: “Trong các cảnh giới thiền định,
chẳng sanh ái kiến vọng tưởng”. Câu sau hết sức quan trọng.
Cảnh giới thiền định hết sức khoái lạc, Thiền Duyệt
làm thức ăn mà! Bởi thế, lắm người đắc Thiền Định
chẳng thể nâng công phu lên một mức cao hơn là vì chấp
vào cảnh giới thiền định. Tứ Thiền Bát Định là như
vậy, họ chẳng thể ra khỏi luân hồi, đắm say mùi vị Thiền
Định, vị ấy là pháp vị. Chấp vào đó, chấp không chịu
bỏ, trong Phật pháp thường gọi là “chấp tướng”. Chấp
tướng thì sanh khởi tham ái, tham ái vẫn là vọng tưởng.
Bởi thế, phải đặc biệt cảnh tỉnh chính mình, quý vị
có trí huệ cao độ thì trong Thiền Định bất luận cảnh
giới nào quý vị cũng có thể hưởng thọ, nhưng không được
chấp trước; vậy mới là đúng, chẳng nẩy sanh chút tác
dụng phụ nào. Cảnh giới hiện tiền của chúng ta cũng như
vậy, chúng ta có thể hưởng thọ cảnh giới ấy, nhưng chẳng
được chấp trước. Nếu quý vị sanh khởi phân biệt, chấp
trước là lầm mất rồi, rắc rối xảy ra liền.
Cuối
cùng là Niệm Giác Chi. Niệm Giác Chi là “Định Huệ cân
bằng”. Nếu Định vượt quá Huệ bèn hôn trầm; Huệ vượt
quá Định bèn lao chao. Lao chao là trong tâm vọng niệm tơi
bời. Có hiện tượng vọng niệm tơi bời là Huệ nhiều Định
ít. Vì thế phải luôn giữ cho Định Huệ quân bình, đều
là thuộc về trí huệ. A! Bây giờ đã đến giờ rồi!
*
Chư
vị đồng học!
Phần
trên chúng tôi đã giới thiệu Thất Bồ Đề Phần; bình thường
dụng công học bất luận một pháp môn nào thì Thất Bồ
Đề Phần luôn là nguyên lý nguyên tắc. Trong cuộc sống thường
nhật, xử sự đãi người tiếp vật, quan trọng là phải
biết sử dụng [những nguyên tắc đó], biết tu luyện trong
sanh hoạt thường nhật, dùng sự để luyện tâm! Trong năm
mươi ba lần tham học, Thiện Tài đồng tử nói thật ra đã
thực hiện công phu ấy rất thuần thục, đấy là điều chúng
ta cũng phải học tập.
Đoạn
cuối cùng, “Bát Thánh Đạo phần”. “Bát Thánh Đạo, còn
gọi là Bát Chánh Đạo, tu học thành tựu, chánh trí hiện
tiền, giác chứ không mê”. Bất luận tu học pháp môn nào,
nhất định quý vị phải dựa vào Căn và Lực; để có thể
điều tiết thân tâm qua việc tu tập trong sanh hoạt thường
nhật thì nhất định phải có Thất Bồ Đề phần; chúng
giúp quý vị biến chuyển cảnh giới, thành tựu công phu chân
thật. Bát Chánh Đạo là “chánh trí hiện tiền”, quý vị
mới có thể thật sự đạt đến giác chứ không mê, chánh
chứ không tà, tịnh chứ chẳng nhiễm. Giác - Chánh - Tịnh
đạt được một điều thì hai điều kia đồng thời đều
đạt được. Người giác chứ không mê nhất định chẳng
tà tri tà kiến, nhất định chánh chứ không tà, tâm địa
nhất định thanh tịnh, tịnh chứ không nhiễm. Nếu tâm địa
người ấy nhiễm ô là không giác, nếu kiến giải bất chánh
thì người ấy cũng không giác. Vì thế một mà ba, ba nhưng
một, đạt được một điều bèn đạt được hết.
Trước
hết, chúng ta xem điều thứ nhất trong Bát Chánh Đạo: “Chánh
Kiến: Tu vô lậu hạnh, quán kiến Tứ Đế phân minh”. Lậu
là tên khác của phiền não. Thế nào là Vô Lậu? Nói đơn
giản nhất, dễ hiểu nhất thì Lậu là tên gọi khác của
phiền não. Kinh Hoa Nghiêm nói: Trong vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước thì chấp trước là Kiến Tư phiền não, phân
biệt là Trần Sa phiền não, vọng tưởng là Vô Minh phiền
não. Như vậy, nếu nói theo kinh Hoa Nghiêm thì mọi người
sẽ dễ hiểu: Lậu là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.
Vô Lậu là không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.
Quý vị quan sát vũ trụ, nhân sanh, hết thảy sự, hết thảy
người, hết thảy vật trong sanh hoạt thường nhật trọn
chẳng xen tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Đó
là “Tu Vô Lậu Quán”.
Kiến
giải chánh xác, chánh tri chánh kiến, quý vị “thấy Tứ
Đế phân minh”. Tứ Đế là hai thứ nhân quả. “Khổ, Tập”
là nhân quả thế gian; “Diệt, Đạo” là nhân quả xuất
thế gian. Chúng tôi thường nói: Tánh - tướng, sự - lý, nhân
- quả trong vũ trụ rõ ràng, rành mạch, phân minh; đó là Chánh
Kiến. Nói như người hiện thời là có Vũ Trụ Quan, Nhân
Sanh Quan chánh xác. Nói đúng ra, người thế gian không hề
có Vũ Trụ Quan, Nhân Sanh Quan chân chánh. Vì sao không có? Vì
bị vọng tưởng, phân biệt, chấp trước xen tạp vào đó,
chẳng thấy rõ rệt chân tướng. Phật đúng là siêu phàm!
Phật dạy chúng ta trừ bỏ chướng ngại, quan sát chánh xác
thì mới thật sự thấy được chân tướng. Đó là Chánh
Kiến.
Thứ
hai là Chánh Tư, cũng còn gọi là Chánh Tư Duy. “Bát Nhã vô
tri nhưng không gì không biết, là Tư”. Trong Yếu Giải, Ngẫu
Ích đại sư giảng là “dùng vô lậu tâm tướng để tư
duy, khởi lên sự nhận biết tính toán ngõ hầu tăng trưởng,
nhập đại Niết Bàn”. Đó là Chánh Tư Duy. Chúng tôi giải
thích đơn giản hơn, dễ hiểu hơn, nhưng không trái nghịch
ý nghĩa. Tôi dùng kinh Bát Nhã để nói: “Bát Nhã vô tri”.
Vô Tri là Căn Bản Trí, Vô Tri là thậm thâm thiền định,
chứ không phải là chẳng biết gì cả, nó biết chứ! Nhưng
nó không khởi tác dụng, tác dụng ấy là Tự Thọ Dụng,
chưa phải là Tha Thọ Dụng. Hiểu rõ hết thảy nhưng lại
như như bất động, trong kinh Đại Thừa chúng ta thường đọc
thấy: “Tịch mà thường chiếu, chiếu nhưng thường tịch”.
Bát Nhã vô tri như vậy đấy.
Tịch
là một niệm chẳng sanh, Chiếu là rành rẽ rõ rệt, minh bạch
tỏ tường. Giống như gì? Giống như nước, gió im sóng lặng,
nước thanh tịnh chẳng ô nhiễm mảy may, giống hệt như một
tấm kính thường chiếu, thường tịch! Nước chẳng lay động
một chút nào, chúng ta nghĩ xem trong cảnh giới ấy, nước
giống như gì? Như tâm! Lúc tâm tịch tĩnh bất động bèn
chiếu, chẳng phải là không chiếu, tự nhiên chiếu, chẳng
phải hữu ý chiếu, cũng chẳng phải vô ý, hữu ý lẫn vô
ý đều không có, nó vốn sẵn là như vậy. Bởi thế, trong
Phật pháp thường nói: “Pháp nhĩ như thị” (pháp vốn là
như thế). “Pháp nhĩ như thị” nghĩa là tự nhiên, vốn
sẵn là như thế. Một tấm gương chiếu rất rõ ràng rành
rẽ, cảnh giới ấy thuộc về quả địa của chư Phật Như
Lai.
Chẳng
những Phật đã nhập cảnh giới ấy, chúng tôi nói mọi hàng
Bồ Tát Tịch Diệt Nhẫn cũng nhập cảnh giới ấy. Tịch
Diệt Nhẫn là Pháp Vân Địa Bồ Tát, những Đẳng Giác Bồ
Tát đều thuộc cảnh giới ấy, cao hơn cảnh giới Vô Sanh
Pháp Nhẫn. Nếu đem Vô Sanh Pháp Nhẫn so với Tịch Diệt Nhẫn
thì Tịch Diệt Nhẫn giống như nước hoàn toàn lặng yên,
chẳng động chút nào; còn Vô Sanh Pháp Nhẫn vẫn còn chút
lay động nhẹ. Quý vị phải rất chú tâm mới có thể hiểu
nổi, nếu không chú tâm thì về căn bản quý vị chẳng biết
tâm mình đang động. Dù sóng gợn rất nhẹ vẫn có thể chiếu
được cảnh giới bên ngoài rất rõ ràng. Chúng ta thấy mặt
hồ lặng yên khi im gió, mặt hồ phản chiếu bóng núi soi
ngược xuống, cảnh ấy hết sức đẹp. Nếu quý vị nhìn
kỹ vẫn thấy mặt hồ gợn sóng lăn tăn, dẫu chẳng phải
là sóng lớn, nhưng chưa phải là hoàn toàn bình lặng, điều
đó giống như cảnh giới của Vô Sanh Pháp Nhẫn Bồ Tát.
Cảnh giới Tịch Diệt Nhẫn dẫu chỉ một chút ba động cũng
không có. Bát Nhã vô tri giống như thế đó, “không gì chẳng
biết” là khởi tác dụng. Quý vị đồng học nhất định
phải hiểu: Đối với chư Phật, Bồ Tát, đừng nói đến
những Bồ Tát nào khác, hễ là Vô Sanh Pháp Nhẫn Bồ Tát
thì phải từ Thất Địa Bồ Tát trở lên.
Tịch
Diệt Nhẫn của Phật, Bồ Tát đúng là trọn pháp giới khắp
hư không giới, hễ nơi nào có chúng sanh Cảm (tức là có
duyên, có cảm đối với Phật, Bồ Tát), Phật, Bồ Tát lập
tức hiện thân nơi đó thuyết pháp. Hiện thân là Ứng Hóa
Thân. Đáng dùng thân nào để độ bèn hiện thân đó, tuyệt
đối chẳng nghĩ ta phải hiện thân nào! Không hề có ý tưởng
như vậy, hoàn toàn tự nhiên! Nếu quý vị phải nghĩ “ta
muốn hiện thân nào?” thì quý vị là phàm phu, chẳng phải
là Bồ Tát. Chúng ta nghĩ không ra nên gọi là “chẳng thể
nghĩ bàn”. Hiện thân hữu tình, hiện thân vô tình. Ba mươi
ba ứng thân của Quán Thế Âm Bồ Tát thật sự chẳng hề
khởi tâm, chẳng hề động niệm, tức là Ngài vĩnh viễn
trụ trong cảnh giới tịch tĩnh. Ngài đến ứng hóa bên chúng
ta, Thích Ca Mâu Ni Phật đến thế gian này thị hiện tám tướng
thành đạo, Ngài thật sự có động niệm hay chăng? Không
hề có! Nếu Ngài thật sự động niệm là bị thoái chuyển
mất rồi, thoái chuyển một mức độ rất lớn. Thật sự
chẳng khởi tâm, chẳng động niệm, Ngài vĩnh viễn trụ trong
Tịch Diệt Nhẫn, trong thanh tịnh tịch diệt, tự nhiên hiện
thân. Hiện thân, khởi tác dụng là “không gì chẳng biết”.
“Không gì chẳng biết” do đâu mà có? Không đâu chẳng
biết là do “vô tri” mà có. Bởi đâu Phật có trí huệ
lớn lao đến thế? Bất luận ai, bất luận nghi nan tạp chứng
nào, cứ đến thỉnh giáo Phật, Phật lập tức giải đáp,
chưa hề nghĩ ngợi gì, không hề có. Hễ quý vị hỏi là
Phật đáp liền ngay lập tức; tại sao vậy? Tịch Diệt Nhẫn
giống như chúng tôi vừa mới nói: Nước hồ bình tịnh, không
có chút sóng nào, chiếu rất rõ ràng. Nếu quý vị hỏi Phật,
Phật có biết chăng? Đương nhiên biết rất rõ.
Còn quý vị vì sao không rõ? Vì tâm chẳng thanh tịnh, chúng
sanh và Phật cùng một tâm, tâm Phật thanh tịnh chẳng khởi
sóng mòi, tâm chúng sanh nổi ba đào vô minh. Ba đào không nhỏ
đâu, bốn mươi mốt phẩm vô minh chẳng phải là ba đào nhỏ
nhặt, phân biệt là sóng gió lớn, chấp trước là ba đào
đáng kinh hãi. Quý vị thấy mình có vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước thật phiền quá. Do vậy, cái gì cũng chẳng rõ,
Phật, Bồ Tát có đến dạy ta, ta nghe cũng chẳng rõ. Các
Ngài vì ta thị hiện, ta cũng chẳng thấy rõ. Vì nguyên nhân
nào? Tâm thủy của ta ba đào cuồn cuộn, sóng to gió lớn.
Gió là gì? Là gió cảnh giới thổi động, chẳng kháng cự
được sự dẫn dụ, mê hoặc của cảnh giới bên ngoài. Mắt
thấy sắc, tai nghe tiếng lập tức khởi tâm động niệm,
một chút công phu định lực cũng chẳng có. Không có công
phu định lực thì trí huệ cũng chẳng thể có.
Huệ do đâu có? Huệ từ Định có, chúng ta nhất định phải
hiểu đạo lý này. Bởi thế, đức Phật có Chánh Tư Duy,
Pháp Thân Bồ Tát có Chánh Tư Duy, minh tâm kiến tánh. Các
Ngài có Chánh Tư Duy nghĩa là các Ngài suy nghĩ đúng đắn,
như phần trên đã nói đến Chánh Kiến (kiến giải đúng
đắn), tư duy như vậy là chánh tri. Trong nhà Phật thường
nói “chánh tri chánh kiến”, chánh tri là Chánh Tư Duy, chánh
kiến chính là Chánh Kiến trong Bát Chánh Đạo. Cách nghĩ,
cách nhìn của quý vị không sai lầm, hoàn toàn là trí huệ.
Tôi nói như vậy chắc quý vị dễ hiểu.
Thứ
ba là Chánh Ngữ: “Trừ bốn thứ tà mạng, nhiếp các khẩu
nghiệp gọi là Chánh Ngữ”. Thế nào là bốn thứ Tà Mạng?
Trong Chú Giải có giải thích, trong Phật Học Đại Từ Điển
và Giáo Thừa Pháp Số cũng có nói. Bốn thứ này quá nửa
nói về người xuất gia, nhưng hiện thời kẻ tại gia cũng
phạm bốn bệnh này.
1)
Thứ nhất là Phương Khẩu Thực:
Trong
cuộc sống thường nhật, chúng ta thích bợ đỡ kẻ quyền
quý, giống như thời cổ gọi là “thuyết khách”, du thuyết
tứ phương để hưởng danh văn, lợi dưỡng. Ở đây phải
đặc biệt chú ý một điều: Vì làm lợi cho chính mình, vì
đạt danh văn, lợi dưỡng cho chính mình. Mục đích là như
vậy, từ đây mà khởi tâm thì gọi là Tà Mạng. Nếu chánh
tri chánh kiến, tuyệt đối chẳng vì bản thân mình, mà vì
an toàn xã hội, nhằm lợi ích cho chúng sanh, thì lại là cứu
khổ cứu nạn, đại từ đại bi. Đó là Chánh Ngữ.
Phương
Khẩu Thực như trong thời cổ có Tô Tần, Trương Nghi, bọn
họ hoàn toàn vì bản thân, vì công danh phú quý của bản
thân, nên du thuyết nơi chư hầu, nơi quý nhân hiển đạt,
mưu cầu địa vị cao sang bất ngờ, chẳng phải vì quốc
gia, dân tộc, chẳng vì lợi ích của chúng sanh, mà vì lợi
ích cá nhân. Vì thế, họ chẳng phải là thánh nhân, mà là
phàm phu. Đó là một loại. Chúng ta phải hiểu (chỉ sợ quý
vị hiểu lầm): Nếu người ta thật sự cần quý vị, nếu
quý vị có trí huệ, có duyên phận, vì an toàn xã hội, vì
lợi ích của chúng sanh có thể làm chút việc gì đó, nhưng
quý vị không làm thì trật mất rồi! Bởi vậy, ở đây một
đằng là vì bản thân, một đằng là vì người khác. Vì
người khác là Chánh Ngữ; vì bản thân là Tà Mạng.
2)
Loại thứ hai là Duy Khẩu Thực:
Thật
ra chữ Thực ở đây nếu nói như bây giờ thì chính là “cách
kiếm sống”. Duy Khẩu Thực là dùng chú thuật, xủ quẻ,
đoán mạng, xem tướng, xem phong thủy. Dùng những phương cách
kiếm sống ấy để được chúng sanh cung phụng thì gọi là
Duy Khẩu Thực.
3)
Loại thứ ba là Ngưỡng Khẩu Thực:
Ngưỡng
Khẩu Thực bây giờ gọi là dự ngôn. Ngửa trông tinh tú tiên
đoán tốt - xấu, họa - phước, cũng nhằm để được người
ta cung phụng, nuôi nấng. Từ xưa đến nay, xưa nay trong ngoài
đều có [những hạng người này]. Nói chung, chúng sanh đều
mong “xu cát tỵ hung” (theo lành tránh dữ); bởi thế đối
với những dự ngôn cũng rất quan tâm, xem trọng. Trước mỗi
năm đầu tiên của một thế kỷ, xưa nay trong nước ngoài
nước luôn có những dự ngôn tiên đoán lúc đó ắt có tai
nạn lớn, thậm chí những kinh điển viết về ngày tận thế:
Vào những lúc ấy có rất nhiều tai nạn! Những kiểu như
vậy thuộc loại Ngưỡng Khẩu Thực.
4)
Loại thứ tư là Hạ Khẩu Thực:
Hạ
Khẩu Thực là tự mình trồng trọt. Phật quy định đệ tử
xuất gia phải khất thực, tự mình chẳng gieo trồng. Vì sao?
Gieo trồng ắt có thâu hoạch, ắt có sản phẩm, dễ khởi
tâm tham. Phật chế định như vậy đều nhằm đoạn trừ
tham - sân - si - mạn. Mỗi ngày đi khất thực, người ta cho
gì ăn nấy, chẳng có tâm tham, chẳng có phân biệt, kiêu căng
ngạo mạn chắc chắn không khởi lên được. Tự mình trồng
trọt sản xuất, ta có thâu hoạch, khởi tâm tham, khởi ngạo
mạn: “Năm nay ta trúng mùa nhiều, các ngươi coi ta thâu hoạch
hơn bọn ngươi nhiều lắm” nên dẫn khởi phiền não. Phật
chẳng hứa khả, chỉ chấp nhận cho ta khất thực, những
phương thức sanh sống khác Phật đều không cho. Đó là bốn
thứ Tà Mạng.
Vì
những phương thức sanh sống này đều liên quan đến khẩu
nghiệp, chúng ta gọi là ỷ ngữ (nói thêu dệt), hoa ngôn xảo
ngữ, trong ấy chẳng thể tránh khỏi vọng ngữ, lưỡng thiệt.
Ỷ ngữ nhằm đánh động tâm người khác, hy vọng người
khác cung phụng, châu cấp, đó đều là Tà Mạng, đều là
sai trái. Do đây chúng ta cũng thấy được chỗ dụng tâm của
đức Thế Tôn nhằm làm cho chúng ta chẳng khởi phiền não,
thường sanh chánh niệm. “Nhiếp các khẩu nghiệp”: Khẩu
nghiệp là vọng ngữ, lưỡng thiệt, ỷ ngữ, ác khẩu, quyết
định chẳng có, không vọng ngữ, không lưỡng thiệt, không
ỷ ngữ, không ác khẩu. Đó là Chánh Ngữ.
Thứ
tư là Chánh Nghiệp: “Trừ hết thảy tà nghiệp nơi thân”.
Nghiệp là tạo tác, chính đang trong lúc tạo tác thì gọi
là Sự. Quý vị làm chuyện gì, đang trong lúc tạo tác thì
gọi là Sự, làm xong việc thì kết quả của nó gọi là Nghiệp.
Bởi thế, người thế gian thường nói gom lại là “sự nghiệp”.
Sự là đang trong lúc tạo tác, Nghiệp là kết quả của tạo
tác. Hết thảy những nghiệp nào trái nghịch trí huệ chân
thật thì chẳng phải là Chánh Nghiệp. Nói cách khác cho mọi
người dễ hiểu hơn: Quý vị theo đuổi một sự nghiệp nào,
kể cả việc học Phật, tu hành, nếu trong đó xen tạp vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước thì những nghiệp ấy đều
là tà nghiệp, chẳng phải là chánh nghiệp! Chánh nghiệp chẳng
xen tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì mới là
Chánh Nghiệp.
Nói
“trụ thanh tịnh chánh thân nghiệp” cũng là nói quý vị
theo đuổi bất cứ việc gì, hạnh nghiệp tốt đẹp đến
đâu thì dù là xuất gia hay tại gia đều như nhau, quý vị
nhất định phải tương ứng với chân thành, thanh tịnh, bình
đẳng, chánh giác, từ bi thì mới là Chánh Nghiệp! Chẳng
tương ứng với những điều trên thì là tà nghiệp. Hàng
xuất gia giảng kinh, thuyết pháp, mục đích giảng kinh thuyết
pháp là gì? Mục đích nhằm nâng cao danh tiếng, hy vọng mọi
người tôn kính mình, hy vọng mọi người cúng dường mình,
đó là tà nghiệp, chẳng phải chánh nghiệp. Giảng kinh thuyết
pháp nhằm tiếp nối Phật huệ mạng, vì hoằng pháp lợi
sanh, vì giúp chúng sanh phá mê khai ngộ, chuyển phàm thành
thánh, chuyển ác thành lành, tuyệt đối chẳng có xen tạp
mảy may lợi ích cho bản thân, đó là Chánh Nghiệp. Nói cách
khác, có chút xíu vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nào
xen tạp vào đó thì ch