Chư
vị đồng học!
Trong
phần Y Báo giảng đến:
“Kỳ
quốc chúng sanh vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc. Cố
danh Cực Lạc”.
Loại
thứ nhất trong “chúng khổ” (các khổ) là Khổ Khổ. Trong
Khổ Khổ có tám thứ: Sanh, lão, bệnh, tử, cầu bất đắc,
ái biệt ly, oán tắng hội – bảy thứ này là quả báo của
Khổ; mối khổ cuối cùng là nói tổng quát, khổ rốt cuộc
từ đâu có? Đức Phật dạy: Ngũ Ấm Xí Thạnh Khổ. Ngũ
Ấm là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Sắc là vật chất,
thân thể của chúng ta là một bộ phận vật chất thuộc
về Sắc, Sắc pháp. Tưởng, Thọ, Hành, Thức, nay ta gọi là
“tinh thần”. Tất cả hết thảy động vật, chúng ta gọi
là “hữu tình chúng sanh”, đều là thân Ngũ Ấm. Nói cách
khác, sanh mạng là do tinh thần và vật chất tổ hợp thành.
Vật chất là nhục thể; vì thế phải gánh chịu sanh - lão
- bệnh - tử; nơi tinh thần thì những nỗi khổ cầu chẳng
được, thương yêu chia lìa, chán ghét gặp gỡ đều phải
hứng chịu.
Thọ
- Tưởng - Hành - Thức, Thức là thân nhân duyên (nhân duyên
gần) của hết thảy khổ. Phật pháp nói trong A Lại Da Thức
hàm tàng các chủng tử tập khí, những chủng tử ấy là
thân nhân duyên của hết thảy khổ, vui. Tưởng, Hành là Sở
Duyên Duyên, là Vô Gián Duyên (1). Thọ là quả báo, Thọ là
gì? Quý vị cảm thọ, thọ khổ, thọ vui. Quý vị gây tạo
nhân duyên thiện hay ác, bèn khổ hay vui. Nếu tạo tác ác
nhân, ác duyên, những gì quý vị cảm nhận là “khổ thọ”.
Toàn bộ tam giới chẳng ra khỏi định luật này. Nói thật
ra, bọn phàm phu chúng ta chẳng biết đến đạo lý này, nào
hiểu được trong thế gian có sự tình ấy; đức Phật xuất
hiện trong thế gian vì chúng ta nói ra chân tướng nhân sanh.
Thật
sự hiểu rõ chân tướng sự thật này, chúng ta mới hòng
được cứu, mới biết mình phải nên làm gì. Hết thảy chúng
sanh dù thọ sanh trong đường nào cũng đều có nhân duyên.
Cái dẫn ta đi đầu thai trong một đường nào, Phật pháp
gọi là “dẫn nghiệp”. Nghiệp lực làm chủ tể, tự mình
chẳng làm chủ được, nghiệp lực lôi ta đi. Nhất định
phải hiểu sự việc này. Phật, Bồ Tát chẳng thể làm chủ
cho chúng ta; Thượng Đế, vua Diêm La cũng chẳng thể làm chủ
cho ta. Ai làm chủ tể? Nghiệp lực làm chủ tể, nghiệp chướng
lôi ta đi!
Quý
vị sanh vào nhân đạo, rốt cuộc là do nghiệp lực gì? Phật
dạy chúng ta: Trong đời trước ta đã từng tu Ngũ Giới, Thập
Thiện. Nghiệp lực Ngũ Giới, Thập Thiện dẫn ta đầu thai
vào nhân đạo. Sanh vào thiên đạo là thượng phẩm Thập
Thiện, lại còn phải có Tứ Vô Lượng Tâm: Từ - Bi - Hỷ
- Xả; tu thượng phẩm Thập Thiện, nghiệp lực ấy lôi kéo
sanh vào Dục Giới thiên. Dưới đó là ba ác đạo. Tâm tham
không chán, nghiệp lực ấy dẫn sanh vào đường ngạ quỷ,
quỷ tham lam! Tâm sân khuể dẫn vào đường địa ngục, ngu
si dẫn vào đường súc sanh. Đó là dẫn nghiệp, dẫn quý
vị sanh vào một đường nào đó.
Sanh
vào một đường nào đó xong, hiện nay trên thế giới này
có gần bảy mươi ức người, những người ấy sanh vào địa
cầu này đều được mang thân người. Nói cách khác, trong
đời quá khứ họ từng đã tu Ngũ Giới, Thập Thiện, đời
này được thân người. Nhưng được thân người rồi, ngay
trong một đời này, có người hưởng thọ vinh hoa phú quý,
có người cả đời chịu khổ thọ nạn, bần cùng hèn hạ,
là do nguyên nhân gì? Phật gọi đó là “mãn nghiệp”. Nghiệp
có hai thứ:
1)
Một là dẫn nghiệp, dẫn quý vị sanh vào một con đường
nào đó.
2)
Mãn nghiệp là tình trạng cuộc sống của một đời trong
đường đó, tức cuộc sống tinh thần và cuộc sống vật
chất của quý vị. Đó là gì? Phật pháp bảo là do quý vị
tu phước tạo nghiệp trong quá khứ.
Điều
trọng yếu nhất trong việc tu phước là Bố Thí; bởi thế,
bố thí chẳng bị thiệt thòi. Trong đời quá khứ, quý vị
thường thích tu Tài Bố Thí, trong một đời này sẽ được
giàu có. Nói cách khác, cuộc sống vật chất nhất định
được hưởng rất tốt, nhưng chưa chắc quý vị thông minh,
trí huệ. Thật đấy! Chúng ta thấy trong thế gian này có rất
nhiều chủ xí nghiệp rất giàu có, thậm chí còn chưa học
đến trung học, chỉ học xong Tiểu Học, tốt nghiệp Sơ Trung,
nắm giữ gia tài ức vạn. Trong kinh, Phật giảng đó là do
trong quá khứ tu phước nhưng không tu huệ, tức là tu Tài
Bố Thí, chẳng biết tu Pháp Bố Thí. Có của cải, nhưng không
thông minh, trí huệ.
Loại
người thứ hai thông minh, trí huệ tót vời, chẳng có của
cải gì, đời sống vật chất khá gian nan. Tôi thấy rất
nhiều, các giáo sư đấy! Tiên sinh Phương Đông Mỹ, tiên
sinh Hồ Thu Vân đúng là thông minh tuyệt đỉnh, có đại trí
huệ, nhưng chẳng có của cải gì. Phần lớn, một bộ sách
họ không có tiền mua, phải sống nhờ dạy học, suốt đời
phải dạy học, mỗi tháng lãnh chút lương quèn, lãnh lương
giờ. Trong kinh Phật nói những vị ấy trong quá khứ chỉ
chú trọng Pháp Bố Thí, coi thường Tài Bố Thí. Bởi thế,
đức Phật dạy chúng ta phải nỗ lực tu tập cả hai thứ
bố thí, tu phước và tu huệ thì quả báo mới viên mãn.
Phước
huệ song tu, phước là Tài Bố Thí, huệ là Pháp Bố Thí;
đương nhiên trong ấy cũng bao gồm Vô Úy bố thí. Thương
xót chúng sanh khổ nạn, tùy thời giúp đỡ chúng sanh khổ
nạn, được quả báo mạnh khỏe sống lâu. Nếu từ kinh điển
quý vị tham thấu được đạo lý này, sau đó lắng lòng quan
sát những người chung quanh ta, quý vị sẽ thấy rất rành
rẽ, sẽ tự biết một đời này mình phải nên làm gì. Học
Phật, quý vị noi theo Phật, lúc chúng ta niệm Tam Quy Y: “Quy
y Phật, nhị túc tôn”. Nhị là hai sự việc, hai sự gì?
Phước và Huệ. Túc là trọn đủ, là viên mãn. Phật viên
mãn cả Phước lẫn Huệ. Tôn là tôn kính, tôn trọng, tôn
quý. So với hết thảy người xuất thế gian và thế gian,
Phật phước huệ bậc nhất, không ai hơn được Phật. Vì
thế, Phật là “phước huệ nhị túc tôn”. Từ vô lượng
kiếp, Phật tu phước, tu huệ. Thích Ca Mâu Ni Phật một đời
dạy học suốt bốn mươi chín năm. Dường như chúng ta chẳng
thấy trong kinh nói đức Phật Thích Ca Mâu Ni Phật bố thí
tài vật lớn lao chi cả! Thích Ca Mâu Ni Phật đã xuất gia,
toàn bộ tài sản chỉ là ba y một bát, tay chẳng cầm đến
tiền, mỗi ngày khất thực, người ta cúng dường chỉ một
bát cơm, chẳng cúng dường tài vật. “Phật không tu Tài
Bố Thí”, nếu quý vị thấy như vậy là thấy trật rồi!
Tài
có nội tài, có ngoại tài. Ngoại tài là vật ngoài thân,
tiền tài là vật ngoài thân, ngoại tài! Nay chúng tôi nói
đến Tài Bố Thí, mọi người đều nghĩ đến ngoại tài,
chẳng nghĩ đến nội tài. Nội tài là gì? Thân thể! Thân
thể là nội tài, nay chúng ta gọi là “nghĩa công” (làm
việc thiện nguyện - volunteer). Chúng ta phục vụ người khác
chẳng cần báo đáp, hoàn toàn là nghĩa vụ. Dùng gì? Dùng
chính thân ta để bố thí, dùng sức lực của mình, dùng thời
gian của mình, đó gọi là “nội tài”. So với ngoại tài,
bố thí nội tài còn lớn hơn nhiều. Ngoại tài: Quý vị có
tiền bố thí một chút, đúng là không đáng kể gì, không
phải nhọc lòng, chẳng phải tốn sức. Bởi thế lao tâm lao
lực thuộc về Nội Tài bố thí, Tài Bố Thí đấy!
Quý
vị thấy Thích Ca Mâu Ni Phật ngày ngày dạy học, dạy dỗ,
giảng kinh, thuyết pháp, nội dung là pháp, dùng thân thể biểu
diễn cho đại chúng xem, miệng vì đại chúng giải thích,
thuyết minh tường tận. Trong khi dạy học bố thí đủ cả
ba thứ. Tài bố thí (nội tài bố thí), nhất cử nhất động
Phật biểu diễn đều nhằm khải phát giác ngộ cho chúng
sanh, mỗi câu mỗi chữ trong ngôn ngữ hoàn toàn là Pháp Bố
Thí, khuyên mọi người đoạn ác tu thiện, khuyên mọi người
phá mê khai ngộ; đấy chính là vô úy bố thí.
Phật
suốt đời giáo hóa chúng sanh, chẳng lấy học phí của người
đời, chẳng yêu cầu người khác cúng dường, Ngài là tấm
gương tốt nhất cho chúng ta. Bởi vậy, tu phước, tu huệ,
tu trường thọ như thế đều trọn vẹn. Phàm phu chẳng biết
xả kỷ vì người khác, chẳng biết tu ba thứ bố thí. Vì
vậy, mạng vận khuyết tài, khuyết trí huệ, lại còn bị
quả báo đoản mạng. Quả báo đoản mạng là do đâu? Trong
kinh, đức Phật thường nói là do sát sanh hại mạng. Vì thế,
Ngũ Giới dạy rất rõ rệt: Chẳng sát sanh! Chẳng giết sẽ
được khỏe mạnh, sống lâu; quả báo là trường thọ, khỏe
mạnh; chẳng trộm được giàu có lớn; chẳng dâm được
đoan nghiêm, tướng mạo trang nghiêm; chẳng uống rượu được
trí huệ, không mê hoặc, không điên đảo; chẳng vọng ngữ
được tin cậy, lời nói được nhiều người tin tưởng,
học theo.
Mỗi
một khoa mục tu học đều có quả báo thù thắng. Phàm phu
chẳng hiểu đạo lý này, chẳng hiểu chân tướng sự thật,
cứ mê hoặc, điên đảo. Những chủng tử trong A Lại Da Thức,
chủng tử thiện chẳng hiện hành, chủng tử ác khởi hiện.
Vì sao? Do gặp duyên, nghĩ đến ý niệm chẳng thiện! Hành
vi chẳng lành, dễ hòng hưởng được vui ư? Tư tưởng chẳng
lành, hành vi chẳng lành, nhất định phải chịu khổ, chẳng
được vui. “Ngũ Ấm Xí Thạnh Khổ”: Phiền não nơi thân
tâm bức bách quý vị, hiện thời gọi là “bị áp lực”,
đó là Khổ Khổ.
Loại
lớn thứ hai là Hoại Khổ. Dùng sự kiện này đức Phật
cảnh cáo chúng ta: Dẫu cho mãn nghiệp của quý vị chẳng
tệ, trong đời quá khứ tu được chút thiện nghiệp, trong
một đời hiện tại này có địa vị, có quyền lực, có
quyền thế, có của cải, mãn nghiệp tốt, sung sướng nhỉ!
Nhưng quý vị có nghĩ cổ nhân nói: “Lạc cực sanh bi” hay
chăng? Vui cực khó gìn giữ, “chẳng tồn tại lâu”, “Lạc
là hoại khổ”. Sao thế? Vui đến mức cùng cực, bèn có
biến hóa, khổ bèn xảy ra. Chúng ta thường nói là “lạc
cực sanh bi”. Cổ nhân nói rất hay, nói cũng nhiều, nhưng
mọi người nghe qua rồi thôi, chẳng lưu tâm, thường hay không
chú ý, coi thường, lúc hưởng lạc bèn tạo ác nghiệp.
Đừng
nói gì khác, người đời coi những gì là vui? Nói chung, chẳng
ngoài tài, sắc, danh, ăn, ngủ; những điều này dễ khiến
tâm tham phát khởi nhất. Nhất là sắc dục và thực dục,
ham ăn ngon! Thích ăn ngon chẳng tránh khỏi sát sanh. Quý vị
sát hại chúng sanh, ăn thịt chúng, lúc đó cảm thấy rất
sướng, có nghĩ tương lai phải đền nợ hay không? Những
lời Phật nói trong kinh điển đều là sự thật. Người chết
thành dê, dê chết thành người, ăn nuốt lẫn nhau, oan oan
tương báo. Mang thân dê là do nghiệp chẳng lành, gặp phải
duyên không lành, đọa làm thân súc sanh. Hôm nay gặp phải
quý vị, nó chẳng cam tâm tình nguyện cho quý vị ăn thịt.
Hiện tại, chúng tôi thường nghe có kẻ nói: “Mạnh ăn thịt
yếu là lẽ sanh tồn”. Hai câu này khiến hết thảy chúng
sanh lầm lạc. Ai thốt ra câu ấy phải chịu trách nhiệm nhân
quả. Hai câu ấy sai lầm. Nếu làm theo hai câu ấy, quý vị
phải hiểu là còn hai câu tiếp theo nữa, nhưng quý vị không
biết. Hai câu sau đó là gì? “Oan oan tương báo, chẳng lúc
nào xong”. Quý vị niệm cả bốn câu ấy, tâm tỉnh giác
sẽ được nâng cao; chứ lúc quả báo hiện tiền mới hối
thì chẳng kịp nữa.
Ấn
Quang đại sư lão nhân gia suốt đời giáo hóa chúng sanh, Ngài
hết sức coi trọng nhân quả báo ứng. Nói đến nhân quả
báo ứng, Ngài luôn nhắc đến An Sĩ Toàn Thư, [khen sách đó]
giảng nhân quả báo ứng rất thấu triệt, giảng rõ ràng
nhất. Kế tiếp, Ngài còn giới thiệu, khuyên người ta nhất
định phải đọc Cảm Ứng Thiên Vựng Biên. Đại sư khuyên
người đời đọc hai cuốn sách ấy. Sự tình nhân quả báo
ứng thiên chân vạn xác (ngàn phần đúng, vạn phần chính
xác), quý vị phải lắng lòng quan sát sẽ thấy nhân quả
báo ứng luôn hiển hiện sống động quanh chúng ta. Những
kẻ mê hoặc, điên đảo không nhận thấy, hết sức đáng
sợ, hết sức kinh hãi. Vì thế, người giác ngộ, người
hiểu rõ ràng, có đại phước báo, có đại quyền thế thì
có chịu hưởng chăng? Không hưởng gì!
Tiên sinh Phạm Trọng Yêm là người được Ấn Quang đại
sư bội phục nhất. Ông là người đời Tống, làm Tể Tướng,
từng làm Nguyên Soái, đúng là xuất tướng, nhập tướng,
đại phú, đại quý. Cuộc sống thường ngày trong nhà ông
hết sức đơn giản, chất phác. Ông đem tiền tài nuôi sống
những gia đình bần cùng khốn khổ, hơn ba trăm gia đình!
Nói như bây giờ là “sự nghiệp từ thiện”, ông làm việc
đó. Chúng ta thấy trong sách Liễu Phàm Tứ Huấn, tiên sinh
Liễu Phàm làm tri huyện Bảo Chi, thâu nhập khá dư giả, nhưng
cuộc sống cũng rất đơn giản, tiết kiệm, dùng tiền của
dư giúp người nghèo cùng.
Qua sách ấy, chúng ta thấy một điều: Trời mùa Đông, vợ
ông cho con mặc áo bông do chính tay bà may, chứ không thuê
người ngoài làm để đỡ tốn một chút. Thấy vợ dùng bông
vải (2) để may áo bông, tiên sinh Liễu Phàm hỏi: “Nhà mình
có bông sợi rất nhiều, sao không dùng bông sợi lại dùng
bông vải?” Bà vợ đáp: “Sợi bông bán hết rồi, sợi
bông quý, bông vải rẻ hơn. Tôi bán bông sợi, mua thêm được
mấy kiện bông vải nữa, con có áo mặc, lại còn có thể
may áo cho người nghèo mặc”. Quý vị thấy bà ta ôm tấm
lòng gì? Niệm niệm nghĩ đến người khổ trong thế gian rất
nhiều, niệm niệm nghĩ giúp đỡ những người đó. Tâm ấy
chẳng tầm thường. Giúp người khác chẳng cầu hồi báo;
quý vị giúp những người nghèo cùng, họ có báo đáp được
chăng? Không thể được! Chẳng cầu báo đáp, tích phước
đức lớn lao!
Thời thời khắc khắc, niệm niệm đều nghĩ đến người
khổ sở trong thế gian, xưa nay những ai đọc sách hiểu lý
giác ngộ không ai chẳng vậy. Bởi thế nhà họ Phạm, tiên
sinh Phạm Trọng Yêm một đời tích được phước đức lớn
lao, mãi cho đến hiện tại, con cháu gia đình ở Tô Châu đều
tốt lành. Suốt đời Ấn Quang đại sư tôn kính Khổng lão
phu tử nhất, kế đó là Phạm Trọng Yêm; khi giảng kinh, thuyết
pháp, Sư thường nhắc đến. Họ đều là những tấm gương,
là khuôn thước cho chúng ta.
Nay chúng ta hiểu rõ: Hưởng thụ lớn nhất trong đời người
là gì? Đọc sách. Thiện sự lớn nhất là giảng học. Đọc
sách thánh hiền, truyền cái đạo của thánh hiền, đấy là
sự nghiệp thế gian bậc nhất, không gì thù thắng hơn. Nhưng
không phải ai cũng có duyên ấy, chúng ta phải hiểu, phải
nhận thức rõ ràng. Thật sự hiểu biết rõ ràng, quý vị
sẽ nỗ lực tích cực giống như cổ nhân, dũng mãnh tinh tấn,
chẳng buông lung.
Nghiêm túc đọc sách thì phải ghi bút ký, đó là gì? Là thành
tích mỗi ngày. Nội dung bút ký có thể chia thành hai bộ phận
lớn: Một bộ phận là trích yếu những câu kinh điển trọng
yếu. Kinh điển quá dài chẳng dễ gì nhớ, nhưng những câu
tối trọng yếu phải ghi vào bút ký để đọc cho nhuần.
Phần thứ hai là tâm đắc, cảm tưởng. Mỗi ngày quý vị
chỉ cần ghi hai loại này. Lâu ngày chầy tháng nghiêm túc
nỗ lực làm vậy, năm ba năm sẽ đổi khác, không giống như
cũ nữa. Giống như đi học trong trường, phải ghi bút ký,
phải viết báo cáo; trên đại học phải viết luận văn,
quý vị phải làm thật sự! Nếu chẳng làm theo cách này,
cứ hằng ngày nghe, nghe bao nhiêu năm nhưng cái gì cũng không
biết. Nghe tai này lọt qua tai khác; bởi thế lâu ngày chầy
tháng chẳng thâu thập được gì, chẳng bằng chất phác niệm
Phật! Quý vị nghĩ xem có đúng vậy không? Chẳng thật sự
đổ công học tập, nhưng quý vị chắc thật niệm Phật,
chuyên tu Tịnh nghiệp thì cũng thành tựu chẳng thể nghĩ
bàn.
Thế Tôn nêu lên Hoại Khổ, nhằm khiến chúng ta tỉnh giác
cao độ; đấy là chuyện kinh điển thường nói đến: “Thế
gian vô thường, cõi nước mong manh”, thường nghĩ đến Thành
- Trụ - Hoại - Không, người hiện thời gọi là “định
luật tự nhiên”.
Loại thứ ba là Hành Khổ. Hành là gì? Không khổ, không vui.
Không khổ không vui là chuyện tốt, sao lại bảo là Khổ?
Vì chẳng thể giữ được lâu, vì tánh nó đổi dời, chẳng
thể giữ được vĩnh viễn; đó là khổ! Dục Giới khổ nào
cũng có đủ. Nếu quý vị tu Thiền Định, tu Tứ Vô Lượng
Tâm, sanh vào Tứ Thiền Thiên của Sắc Giới. Tứ Thiền Thiên
không có Khổ Khổ, tức Sanh, Lão, Bệnh, Tử, Cầu Bất Đắc,
Ái Biệt Ly, Oán Tắng Hội, Ngũ Ấm Xí Thạnh đều không có;
họ đã đoạn dục chưa? Thưa cùng quý vị: Họ chưa đoạn!
Dục chưa đoạn, làm sao ly dục được? Công năng Thiền Định
của họ đã khuất phục được dục khiến nó không còn khởi
tác dụng nữa, công phu Thiền Định sâu! Chư thiên Sắc Giới
có sắc tướng, có thân thể, nhưng không cần ăn uống. Vì
thế, Sắc, Danh, Ăn Uống, Ngủ Nghỉ đều chẳng có. Họ chẳng
cần ngủ nghỉ, chẳng cần ăn uống, phước báo rất lớn.
Họ có cung điện, không có Khổ Khổ, nhưng sao? Có Hoại Khổ!
Lúc nào chịu Hoại Khổ? Đến khi thọ mạng quyết định
phải chấm dứt, thân thể bị biến đổi, lúc ấy họ cảm
thấy rất khổ. Thông thường, họ chẳng biết đến khổ,
thật sự vui. Người Sắc Giới hóa sanh, không bị Ái Biệt
Ly, không bị chán ghét phải gặp gỡ, vì sao vậy? Người
trong cảnh giới ấy đều tu định, đều có công phu Thiền
Định, đều có thiện hạnh, tu Từ - Bi - Hỷ - Xả. Chẳng
đủ những điều kiện ấy, chẳng thể sanh vào cảnh giới
ấy được. Vì vậy, đức Phật đã từng nói đến ba thứ
Thiền, đệ tam Thiền chính là thế giới Cực Lạc của thế
giới Sa Bà này, sung sướng lắm! Sướng như thế nào? Không
khổ, nhưng phải nhớ rõ, đến lúc hết thọ mạng, Hoại
Khổ bèn hiện tiền. Bởi vậy, họ có Hoại Khổ, có Hành
Khổ; trời Sắc Giới có hai mối Khổ sau, không có mối khổ
đầu tiên (Khổ Khổ).
Lên đến trời Vô Sắc Giới, Vô Sắc Giới thiên không có
thân thể. Không có thân thể, đương nhiên chẳng cần cung
điện lầu gác, không cần thiết! Vì thế, Hoại Khổ cũng
không có. Họ không có Khổ Khổ, Hoại Khổ cũng không, thì
có khổ gì? Có Hành Khổ. Hành Khổ tức là cảnh giới của
họ chẳng thể giữ vĩnh viễn, nó có thời gian tánh. Lên
tầng trời cao nhất là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng thiên, đức
Phật nói thọ mạng của họ là tám vạn đại kiếp. Đến
khi thọ mạng hết, vẫn phải đọa lạc. Hết lối đi lên
chỉ còn cách đọa xuống. Bởi đạt đến cảnh giới ấy,
họ đều lầm tưởng mình đã thành Phật, tưởng mình đã
chứng đắc Đại Bát Niết Bàn. Thọ mạng còn có lúc hết
là không được rồi! Cổ thánh tiên hiền, chư Phật, Bồ
Tát dạy “bát Niết Bàn là giả”, các Ngài nói bất sanh
bất diệt, vì sao mình còn có sanh diệt? Nguyên do như sau:
Vừa khởi lên ý niệm báng Phật, báng Pháp, báng Tăng, hủy
báng Tam Bảo; do tội nghiệp ấy đọa A Tỳ địa ngục, đó
gọi là “trèo cao ngã đau”. Bò lên tới đỉnh điểm, ngã
lăn xuống, rớt tõm vào A Tỳ địa ngục. Vì thế, đức Phật
ba cõi đều khổ. Kinh Pháp Hoa dùng tỷ dụ: “Tam giới hỏa
trạch” (ba cõi như nhà bốc lửa).
Trái lại, trong Tây Phương Cực Lạc thế giới những khổ
ấy đều chẳng có. Chúng ta phải hiểu như vậy. Từ Vân
đại sư từng nói (Ngài là người sống vào thời Càn Long
nhà Thanh): “Cõi này (tức thế giới Sa Bà) so với thế giới
Cực Lạc có mười thứ khó - dễ. Nơi thế giới chúng ta
có mười điều khó, Cực Lạc thế giới có mười điều
dễ”. Bọn họ chẳng có khổ, tức là “hưởng các sự
vui”.
Thứ nhất, không có nỗi khổ tội báo. Vãng sanh Tây Phương
Cực Lạc thế giới không có ác báo, vì sao không có ác báo?
Không có cơ hội hưởng thọ để tạo ác nghiệp; cũng như
nói người ở Tây Phương Cực Lạc thế giới nhất định
không có ác niệm, nhất định chẳng nói lời ác, nhất định
chẳng tạo ác nghiệp. Ba nghiệp thân - ngữ - ý thuần tịnh
thuần thiện, làm sao có khổ báo? Dẫu là đới nghiệp vãng
sanh, nhưng đó là mang theo chủng tử của ác nghiệp đời
quá khứ. Chúng ta biết chủng tử nếu chẳng gặp duyên sẽ
chẳng thể khởi hiện. Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng
có ác duyên, cho nên những chủng tử mang theo ấy vĩnh viễn
chẳng thể hiện hành được. Tức là trong hoàn cảnh Tây
Phương Cực Lạc thế giới, hết thảy người, sự, vật đều
thuần thiện thuần tịnh. Chúng ta mong mỏi vãng sanh Tây Phương
Cực Lạc thế giới, không thể không hiểu sự tình này. Phải
tu thuần thiện thuần tịnh ngay từ bây giờ, há còn đợi
đến lúc nào nữa đây?
Tâm thuần tịnh, tu tâm thanh tịnh, chân thành, thanh tịnh,
bình đẳng, từ bi, chẳng để mảy may bất tịnh xen tạp,
quyết định chẳng vướng ô nhiễm. Tu tâm thanh tịnh bằng
cách nào? Phải buông xuống vạn duyên. Trong thế gian này tùy
duyên cho qua ngày tháng, không tranh với người, không cầu
nơi sự, tâm quý vị mới thanh tịnh được. Nếu quý vị
phải tranh, phải cầu sẽ chẳng thể thanh tịnh. Có đồng
học hỏi: “Tôi tranh đấu với chính mình là đúng hay sai?”
Tranh đấu với chính mình tâm đã chẳng thanh tịnh, huống
hồ tranh cùng người khác? Tất nhiên phải buông bỏ vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước của chính mình, hết thảy
thuận theo sự dạy răn của đức Phật, tùy thuận những
giáo huấn trong kinh luận thì mới có thể thật sự thoát
ly biển khổ Sa Bà, chẳng tạo nghiệp nữa. Chẳng những không
tạo ác nghiệp, ngay cả thiện nghiệp cũng không tạo. Vậy
thì chúng ta có cần đoạn ác tu thiện không? Cần chứ! Đoạn
ác tu thiện chẳng phải là vừa tạo thiện nghiệp vừa đoạn
ác nghiệp hay sao? Đúng rồi, đó là Sự. Về mặt sự thì
phải làm như vậy, nhưng trong tâm chẳng chấp trước.
Đoạn ác chẳng phải là đoạn ác về mặt hình tướng, tu
thiện chẳng phải là tu thiện trên mặt hình tướng. Tâm
quý vị thanh tịnh; tâm tịnh cõi Phật tịnh, đấy là điều
kiện hết sức quan trọng để vãng sanh. Lục Tổ Đàn Kinh
nói: “Vốn chẳng có một vật, chỗ nào nhuốm bụi trần?”,
kinh Kim Cang nói: “Phàm những gì có tướng đều là hư vọng”.
Đâu đâu cũng đều cảnh tỉnh chúng ta, khởi tâm động niệm
là trật rồi. Chúng ta đoạn ác tu thiện, đoạn ác là tiêu
nghiệp chướng, tu thiện là vun đắp phước huệ, chẳng để
lại dấu tích là thù thắng. Để lại dấu tích thì sao? Chẳng
thể ra khỏi lục đạo; quý vị đoạn ác chẳng đọa ba đường
ác, tu thiện sanh vào ba thiện đạo, chẳng phải là chuyện
dễ! Vì thế, phải thông thuộc kinh giáo, phải hiểu thấu
tường tận thì chính mình mới là người hiểu rõ ràng, mới
thật sự có thể liễu sanh tử xuất tam giới. A! Bây giờ
đã đến giờ rồi.
*
Chư vị đồng học!
Chúng ta lại tiếp tục phần “thọ chư lạc” (hưởng các
sự vui). Ở trên đã nói sanh về Tây Phương Cực Lạc thế
giới, chẳng những không tạo ác nghiệp mà ngay đến ác niệm
cũng chẳng sanh. Đấy chính là hoàn cảnh tốt thuộc nơi ấy,
thánh hiền đông đảo, đều là thượng thiện nhân cùng họp
mặt một chỗ. “Thượng thiện” là Đẳng Giác Bồ Tát,
bậc Địa Thượng Bồ Tát rất nhiều. Những gì lục căn
quý vị tiếp xúc đều là thuần thiện thuần tịnh; vì thế
nhất định chẳng có ác duyên, những chủng tử tập khí
mang theo trong A Lại Da thức của quý vị không có gì để
dẫn khởi phát xuất cả. Ở nơi ấy, định lực dần dần
thành thục, mở mang trí huệ, phiền não tự nhiên chuyển
thành Bồ Đề, chuyển phiền não thành Bồ Đề!
Thứ hai, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng thoái
chuyển, dẫu người sanh trong Hạ Hạ phẩm thuộc Phàm Thánh
Đồng Cư độ cũng đều viên chứng ba thứ Bất Thoái, “không
thoái chuyển trong việc cầu Tịch Diệt, tu đạo không chướng
ngại”. Cầu Tịch Diệt: Tịch Diệt là Đại Bát Niết Bàn,
thanh tịnh tịch diệt, đấy là mức độ tu hành cao nhất.
Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới là thấp hơn mức
độ ấy một chút, vì sao? A Duy Việt Trí Bồ Tát là Vô Sanh
Pháp Nhẫn Bồ Tát. Trong bài kệ Hồi Hướng, ta thường niệm
“hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh”, đấy chính là A Duy Việt
Trí Bồ Tát. Cao hơn nữa là quả địa Như Lai, tức Tịch
Diệt Nhẫn. Bởi vậy, cầu Phật quả viên mãn rốt ráo, chỉ
có tiến chứ không lùi sụt, chẳng giống như những thế
giới khác, thế giới Sa Bà của chúng ta đây dĩ nhiên không
cần phải nói nữa, tiến thì ít, lui thì nhiều, chẳng thể
thành tựu dễ dàng!
Nói đến tu đạo, tu hành, chướng duyên rất nhiều. Bao nhiêu
người tu hành chúng ta vừa phát tâm, giống như người chạy
đua, nhớm chân từ mức xuất phát, có người vọt lên trước,
có người tụt lại đằng sau, có người bị loại. Do nguyên
nhân nào? Quá nhiều chướng duyên chướng ngại mình. Có người
chướng ngại ta, có sự chướng ngại ta, có vật chướng
ngại ta, lại còn oán thân trái chủ chướng ngại ta, hữu
hình, vô hình rất nhiều. Đó là chướng duyên. Ai có thể
vượt khỏi những chướng duyên ấy? Ai thành tựu được?
Chẳng có gì khác cả! Một dạ hướng về đạo! Ngày ngày
đọc kinh, ngày ngày nghiên cứu giáo pháp, không biếng nhác
một ngày nào, tất cả chướng duyên chẳng cần quan tâm đến,
cốt sao tâm ta nơi đạo, hạnh ta nơi đạo. Tự mình chú ý
quán sát, tư duy, nếu tâm hạnh mình chẳng rời khỏi đạo,
chẳng trái nghịch sự giáo huấn của Phật, tất cả hết
thảy chướng duyên chẳng quan tâm đến là được! Ngàn vạn
phần chẳng được dùng tinh thần, thời gian để nghiên cứu
cách đối phó chướng ngại. Nếu làm vậy, chướng ngại
càng lớn.
Chẳng hạn như người ta hủy báng mình, quý vị muốn tìm
cách trả đũa, chẳng phải tự mình chuốc phiền ư? Như thế
thì sao? Một khi có ý niệm ấy, tâm quý vị đã trái nghịch
đạo nghĩa, Phật chẳng dạy chúng ta trả đũa! Phật dạy
chúng ta phương pháp nào? Mặc Tẫn. Mặc Tẫn nghĩa là gì?
Hoàn toàn không đếm xỉa đến, anh hủy báng cứ việc hủy
báng, tôi đi đường tôi. Giống như anh đấm tôi, tôi không
phản kháng, cái đấm đó như không. Người ta hủy báng, mình
liền trả đũa. A! Vậy thì đôi bên đập lộn. Bị chửi
không trả miếng, bị đánh không đập lại, để tâm nơi
đạo, hạnh dốc nơi đạo, dũng mãnh tinh tấn, nói thật ra,
việc đó khó lắm! Người tầm thường chẳng nhẫn được.
Khó nhẫn mà nhẫn được, khó hành mà hành được thì mới
đi trên đường Bồ Đề được! Càng đến cửa ải quan trọng,
càng gặp nhiều chướng duyên nghiêm trọng, chúng ta phải
dùng những chướng duyên ấy để khảo nghiệm chính mình.
Hiện tại, chúng ta đã đạt đến mức độ công phu ấy thì
phải vượt được cuộc khảo thí ấy. Bởi vậy, chướng
duyên chẳng có gì là xấu. Trong kinh giáo, đức Phật thường
dạy chúng ta: Thế gian, xuất thế gian chẳng có gì là đúng
hay sai tuyệt đối cả. Cát - hung - họa - phước do đâu? Nói
thật ra, đều do một niệm của chính mình. Một niệm của
chính mình “chánh” sẽ hóa hung thành cát, chuyển họa thành
phước, có gì không tốt đâu? Công phu tu hành của quý vị
hữu dụng, khởi tác dụng. Nếu quý vị chẳng nhẫn được,
có một niệm sân hận, có một niệm báo thù, sẽ bị thoái
chuyển một mức rất lớn, quý vị bị đào thải khỏi đường
Bồ Đề. Người như vậy chẳng phải chỉ là 99% đâu nhé,
không phải vậy! Chỉ sợ là trong một ngàn người, trong một
vạn người, người thật sự có thể đột phá chỉ là một
phần vạn; nói thật ra còn chưa được một phần vạn nữa
cơ đấy!
Quý vị nghĩ xem: Người học Phật nếu thật sự là một
phần vạn [đột phá được] mà người học Phật chẳng ít,
có đến trăm vạn, ngàn vạn; nếu là một phần vạn, thì
người thật sự có thành tựu cũng được vài trăm, cũng
có thể cả ngàn người, đâu được như vậy đâu! Do đó,
quý vị mới hiểu chuyện này rất khó, phải hàng phục phiền
não tập khí của chính mình. Chúng tôi hết sức may mắn,
nếu quý vị hỏi vì sao chúng tôi có thể hàng phục được
phiền não tập khí? Chẳng có gì khác cả, ngày ngày đọc
kinh, ngày ngày giảng kinh, ngày ngày nghiên cứu, toàn bộ tinh
thần tâm lực đều đặt nơi kinh giáo. Do vậy không có tinh
thần, không có thời gian để quan tâm đến gì khác, thật
sự là vậy. Chẳng những không có thời gian quan tâm đến
thứ gì khác mà cũng chẳng có tinh thần. Rất nhiều đồng
tu viết thư cho tôi, tôi không có thời gian đọc. Bởi thế,
tôi hay khuyên mọi người đừng gởi thư cho tôi, tôi thật
sự chẳng muốn xem.
Vô tình giở sách cũ thấy thư kẹp trong đó, bì thư chưa
xé, mở ra xem, đại khái là bảy tám năm trước, quên hết
sạch cả! Bởi vậy, tôi hy vọng mọi người đọc kinh, niệm
Phật. Nếu có vấn đề thì niệm Phật nhiều, đọc kinh nhiều
sẽ tự nhiên hiểu ra. Việc tốt bậc nhất trong pháp thế
gian lẫn xuất thế gian là đọc kinh, niệm Phật, vì người
khác diễn nói, trong kinh, đức Thế Tôn gọi là “đọc tụng
thọ trì, vì người diễn nói”. Đấy chính là việc tốt
lành bậc nhất, thiện hạnh bậc nhất trong các pháp thế
gian, xuất thế gian, thuần tịnh thuần thiện. Thế pháp, xuất
thế pháp đều chẳng nhiễm trước, đấy mới thật sự là
đại tự tại. Dẫu chẳng đạt được tự tại, nhất định
đạt được tiểu tự tại. Trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới, tu hành chẳng có chướng ngại, ở bên ấy không có
chướng duyên.
Do vậy, đức Thế Tôn mới giới thiệu cho chúng ta biết “chúng
sanh cõi ấy”, chúng sanh cõi ấy đều là những người sanh
về Tây Phương Cực Lạc thế giới, họ chẳng có các sự
khổ, “chỉ hưởng các sự vui”. Những niềm vui trong các
sự vui ấy rất nhiều, chỉ nêu lên hai điều: Một là chẳng
thoái chuyển, hai là không có chướng ngại, “nên gọi là
Cực Lạc”.
6.3.1.2.2.
Địa lợi chi lạc (sự vui nơi hoàn cảnh cư trú)
Xem tiếp đoạn thứ hai, đoạn thứ hai là “địa lợi chi
lạc”. Bốn câu trên là nói tổng quát, phần tiếp theo cho
biết: Rốt cuộc cõi ấy có những sự vui nào. “Địa lợi
chi lạc” là sự vui về mặt cư trú, sự vui nơi hoàn cảnh
cư trú. Chúng ta hãy đọc kinh văn:
“Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ, thất trùng lan
thuẫn, thất trùng la võng, thất trùng hàng thọ, giai thị
tứ bảo, châu táp vi nhiễu. Thị cố bỉ quốc danh vi Cực
Lạc”
(Lại này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc, bảy tầng lan
can, bảy tầng lưới mành, bảy tầng hàng cây, đều bằng
bốn báu, bao quanh trọn khắp. Vì thế, cõi ấy tên là Cực
Lạc)
Đoạn này nói đến địa lợi. “Chúng bảo lan thọ” (lan
can, cây cối bằng các thứ báu), sự vui về mặt địa lợi.
“Bảy tầng biểu thị bảy khoa đạo phẩm, còn biểu thị
ý nghĩa viên mãn. Tứ bảo biểu thị bốn đức Thường, Lạc,
Ngã, Tịnh”. Ý nghĩa biểu pháp trong đoạn kinh văn này, ta
nhất định phải hiểu. Đức Phật vì chúng ta giảng kinh,
thuyết pháp trọn chẳng ngoài những ý này. Bảy khoa Đạo
Phẩm chính là ba mươi bảy Đạo Phẩm. Ba mươi bảy Đạo
Phẩm chia thành bảy loại lớn, những môn này các đồng học
đã biết rồi: Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc,
Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Chánh Đạo. Khoa
là loại, nghĩa là ba mươi bảy Đạo Phẩm xếp thành bảy
loại. Những Đạo Phẩm này thông cả Đại Thừa lẫn Tiểu
Thừa, Hiển lẫn Mật, cả Tông lẫn Giáo, dùng ba mươi bảy
Đạo Phẩm này đại diện cho toàn bộ Phật pháp.
Do
đây biết rằng: Chẳng riêng mình đức Phật thuyết pháp,
mà sáu trần cũng đều thuyết pháp, biểu thị pháp! Biểu
thị ba mươi bảy Đạo Phẩm, có gì không thuyết pháp? Tình
và vô tình thảy đều thuyết pháp. Quý vị nghĩ thử xem,
trong hoàn cảnh ấy, quý vị có thoái chuyển được chăng?
Chẳng thể được! Không có chướng duyên! Ở bên chúng ta
đây, người, sự, hoàn cảnh vật chất thường xuyên gây
chướng ngại, Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng vậy!
Số Bảy biểu thị ý nghĩa viên mãn, bởi vậy, đọc kinh
này nhất định phải hiểu ý nghĩa. Có rất nhiều người
đọc đến đoạn kinh văn này, bảo tôi:
- Thưa
pháp sư! Thế giới Cực Lạc hay ở chỗ nào? Chỗ nào cũng
giống hệt nhau. Đâu đâu cũng là bảy tầng lan thuẫn, bảy
tầng lưới mành, chỗ nào cũng giống vậy, có đẹp mắt
gì đâu? Chẳng như thế giới chúng ta. Tới đâu cũng giống
hệt nhau, chẳng ra nghĩa lý gì! Xem một chỗ xong đâu còn
muốn đi coi chỗ khác!
Họ
chẳng biết Bảy chẳng phải là con số, con số ấy biểu
thị pháp, tượng trưng cho viên mãn. Viên mãn? Thế nào là
viên mãn? Họ thích thấy như thế nào bèn biến hóa như thế
đó thì mới gọi là “viên mãn”! Thật đó, hoàn cảnh cư
trụ của Tây Phương Cực Lạc thế giới thuận theo lòng muốn,
quý vị nghĩ đến điều gì liền biến ra hệt như vậy. Y
phục cũng như vậy, thức ăn cũng như vậy, tuyệt đối chẳng
cần đến sức người lo liệu. Hoàn cảnh cư trụ chẳng cần
dùng đến sức người xây đắp, tạo dựng, mà được biến
hóa ra, tùy thuận lòng muốn nên gọi là “viên mãn”. Quý
vị thấy trong kinh có nói, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô
Lượng Thọ Phật đều có nói, quý vị thích nhà cửa to,
nhà cửa liền biến ra to. Quý vị thích nhà cửa hẹp, thích
ở trong phòng nhỏ, phòng bèn rất nhỏ. Quý vị thích nhà
ở trên mặt đất, liền ở trên mặt đất; thích nhà trên
không, nhà cửa liền bay lên không trung.
Thuận theo lòng muốn, đúng là tự tại như ý, đấy mới
là sung sướng thật sự, quyết định chẳng trở ngại người
khác, chẳng xung đột quyền lợi người khác, không hề có!
Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng có lợi hại, chẳng
có xung đột, chỉ có tôn trọng lẫn nhau, cùng nhau hợp tác.
Chẳng có phiền não, chẳng có vọng tưởng, chẳng có phân
biệt, chẳng có chấp trước, tốt như thế đó, hoàn cảnh
sanh hoạt thù thắng như thế đó! Bởi vậy, con số Bảy ấy
biểu thị viên mãn. Bảy có nghĩa là bốn phương, trên, dưới,
chính giữa; Bảy có nghĩa là như vậy. Đấy chính là viên
mãn, chẳng có chút nào khuyết hãm.
“Bốn báu” cũng là biểu pháp. Báu là gì? “Thường, Lạc,
Ngã, Tịnh” là báu. Thường: vĩnh hằng bất biến, chẳng
giống như thế giới chúng ta vô thường. Đây là chuyện mọi
người hiện tại đều biết. Lúc nhỏ, chúng tôi đọc sách
thấy nói “thương hải tang điền” (biển xanh ruộng dâu),
chẳng biết nghĩa là gì! Mấy năm gần đây thiên tai nhân
họa quá nhiều, một trận đại địa chấn (động đất),
không còn núi nữa, ruộng nương cũng không còn nữa, hồ ao
cũng không còn nữa, đến lúc ấy mới thật sự hiểu thế
nào là “thương hải tang điền”.
Thuở
bé, tôi sống ở nông thôn, thôn trang không lớn, thôn trang
nhỏ thôi, chỉ có mười mấy gia đình. Trước mặt thôn trang
là một cái hồ, lúc nhỏ chúng tôi thường chơi bên hồ,
nhặt vỏ ốc, bắt cá. Chúng tôi xa quê nhà năm mươi năm,
lúc trở về lần thứ nhất, vừa đúng năm mươi năm. Lúc
trở về, hồ không còn nữa, cạn khô rồi. Nay hồ đã biến
thành đất canh tác, biến đổi quá nhiều! Tôi ra đi năm hai
mươi tuổi, trong năm đó có trở về một lần, ở lại hai
tháng, không thấy thay đổi gì nhiều. Trở về lần này, hoàn
toàn khác hẳn, rất khác với những gì trong ký ức. Đấy
là vô thường! Thân thích, bè bạn chơi chung lúc nhỏ không
còn ai nữa. Thấy rồi vô hạn cảm khái, hơn bảy mươi năm
chỉ là một cái khảy ngón tay. Nghĩ đến chuyện thuở xưa
tợ hồ mới vừa hôm qua! Đời người há còn có bảy mươi
năm nữa ư? Chẳng thể! Vì vậy, trong kinh đức Phật dạy
chúng ta chân tướng sự thật: “Thế gian vô thường, cõi
nước mong manh”. Cõi nước còn mong manh, cái thân này thấm
vào đâu?
Quý
vị sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng giống như
vậy, Tây Phương Cực Lạc thế giới là chân thường, bất
biến! Nếu chúng ta hỏi vì sao cõi ấy bất biến, còn tại
sao cõi chúng ta lại biến ư? Nơi này bị biến đổi là do
ta có vọng niệm, ý niệm sanh diệt trong từng sát-na, niệm
niệm chẳng trụ. Hoàn cảnh biến đổi theo ý niệm; gần
đây chúng tôi càng thể hội ý niệm này sâu hơn qua thí nghiệm
kết tinh nước của một khoa học gia Nhật Bản. Nước là
một loại vật chất thuộc hoàn cảnh, biến hóa theo ý tưởng
của chúng ta, trong từng sát-na chẳng trụ. Nếu quý vị hỏi
vì sao hoàn cảnh của Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng
biến đổi ư? Tất cả cư dân trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới, trên từ A Di Đà Phật, dưới đến những ai vãng sanh
trong Hạ Hạ Phẩm thuộc Phàm Thánh Đồng Cư độ, đều chẳng
có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Lìa vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước, nên bất biến.
Vì vậy, kinh Hoa Nghiêm nói “duy tâm sở hiện”: Chỉ biến
hiện bởi tâm. Chín pháp giới chỉ do thức biến, Cực Lạc
do tâm hiện, chẳng phải do thức biến. Bởi thế, cõi ấy
thường hằng là hợp lý! Do đây biết rằng: Chỉ cần chúng
ta có ý niệm, khởi tâm động niệm sẽ chắc chắn phải
biến. Lúc biến chính là vô thường. Lúc nào không có vọng
niệm, không có vọng tưởng, hoàn cảnh bên ngoài sẽ chẳng
biến đổi. Đạo lý này chúng ta có thể hiểu được. Chúng
ta thấy Tây Phương Cực Lạc thế giới có ý niệm hay không?
Nói thật ra, do oai thần bổn nguyện của Phật A Di Đà gia
trì, chư thượng thiện nhân làm bạn đạo đồng tham của
chúng ta, chúng ta có muốn khởi tâm động niệm cũng không
được. Nhất Chân pháp giới mà!
“Ngã” có nghĩa là gì? Ngã nghĩa là chủ tể, tự mình làm
chủ được. Ngã có nghĩa là tự tại, tự mình được đại
tự tại, tự mình làm chủ. Chúng ta ở đây chẳng thể làm
chủ. Chẳng hạn như: Ta không muốn già, nhưng cứ già dần
đi, chẳng làm chủ được! Mình không muốn sanh bệnh, cứ
bệnh hoài, việc trái nghịch với tâm. Đến Tây Phương Cực
Lạc thế giới, mình làm chủ được. Thân thể muốn to liền
biến thành cao to, muốn nhỏ một chút liền nhỏ đi, làm chủ
được! Nhà cửa mình ở như tôi vừa mới nói, muốn to bèn
to, mong nhỏ bèn nhỏ, nghĩ thế nào biến ra thế nấy, thuận
theo lòng muốn, chính mình làm chủ được. Qua thế giới khác
lễ Phật, nhà cửa mình ở cũng tùy thân, chẳng cần ra khỏi
nhà, nhà cửa bay đi được, nhà cửa cũng là công cụ giao
thông. Đấy chỉ là nói về Phàm Thánh Đồng Cư độ! Đức
Thế Tôn giới thiệu cõi Tây Phương Cực Lạc thế giới cho
chúng ta, hầu như toàn là cảnh giới của Phàm Thánh Đồng
Cư độ, khiến cho quý vị thấy nó tốt đẹp đến thế đó.
Nếu sanh về Thật Báo độ, Thật Báo độ mỗi ngày đều
tham phỏng mười phương hết thảy chư Phật Như Lai, có cần
phải đi qua đó tham phỏng, đi qua rồi trở về hay không?
Chẳng cần. Vì sao? Đạt đến cảnh giới ấy, thời gian,
không gian không còn nữa. Chỉ cần muốn thấy một đức Phật
nào, đức Phật ấy liền ở ngay trước mặt. Ngài giảng
kinh, thuyết pháp trong thế giới kia, dường như ta đến trong
đạo tràng của Ngài, chứ thật ra, ta bất động! Không có
trước - sau, không xa - gần. Không trước - sau là thời gian
không có, quý vị có thể thưa hỏi quá khứ Phật, cũng có
thể thưa hỏi vị lai Phật. Tam thế chư Phật đều ở ngay
trước mặt, cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn. Đó là Ngã!
Tam Học Giới - Định - Huệ tăng thượng, mỗi ngày trên cầu
Phật đạo, dưới độ chúng sanh, khoái lạc khôn sánh! Đó
là Lạc. Người thế gian có lạc, nhưng chẳng thanh tịnh;
người trong Cực Lạc thế giới có lạc, đại lạc thanh tịnh.
Thanh tịnh như thế nào? Cõi lòng chẳng tơ hào nhiễm trước,
chân tịnh! Người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới có
vào trong lục đạo hay chăng? Vào chứ, thường vào để giúp
đỡ lục đạo chúng sanh, chiếu cố lục đạo chúng sanh,
giáo hóa lục đạo chúng sanh. Tâm địa thanh tịnh, quyết
định chẳng tiêm nhiễm. Trong thiên đường tuyệt đối chẳng
tham luyến, trong địa ngục quyết định chẳng phiền não.
Trong tâm họ, mười pháp giới bình đẳng. Người trong lục
đạo mười pháp giới có khổ vui, có thọ; Phật, Bồ Tát
đến giáo hóa chúng sanh không có khổ vui. Tuy không khổ vui,
nhưng có lúc làm bộ tợ hồ có khổ vui. Vì sao? Để an ủi
chúng sanh; chẳng muốn chúng sanh lấy làm lạ: “Sao Ngài khác
với mình?” Nếu vậy là chưa khéo dạy rồi!
Bởi Phật, Bồ Tát hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức,
nói chung là khiến cho hết thảy chúng sanh cảm thấy Phật,
Bồ Tát chẳng khác mình lắm, có vậy mới hòng kích phát
chí hướng của họ: “Họ thành tựu được, sao mình không
thể?” Kích phát đạo tâm kẻ đó. Do đây biết rằng: Không
gì chẳng nhằm giáo hóa chúng sanh, không gì chẳng nhằm giúp
đỡ chúng sanh. Thật ra, chẳng những mảy trần chẳng nhiễm,
mà còn chẳng đến, chẳng đi, cùng một lúc có thể phân
thân vô lượng vô biên, cùng một lúc có thể trụ trong vô
lượng vô biên pháp giới, chân lạc, chân tịnh. Bốn tịnh
đức Thường - Lạc - Ngã - Tịnh thế gian không có, thế gian
vô thường, ba cõi thế gian đều khổ, nào có vui chi? Khổ
Khổ, Hoại Khổ, Hành Khổ. Thế gian vô ngã, chỉ có giả
ngã, chẳng làm chủ, chẳng tự tại. Thế gian chẳng thanh
tịnh, khởi tâm động niệm đều nhiễm ô, tự tư tự lợi,
tham, sân, si, mạn. Đấy là chân tướng sự thật. Tiếp đó
là:
“Tự đức thâm, tha hiền biến”: đức của chính mình càng
ngày càng sâu, càng ngày càng rộng, đức sâu, trí rộng; đồng
học với mình đều là thánh hiền. “Thánh” là địa thượng
Bồ Tát. “Hiền” là Tam Hiền. Tất cả những ai quý vị
tiếp xúc đều là Tam Hiền Thập Thánh Bồ Tát. Tam Hiền Thập
Thánh? Thập Thánh chẳng cần phải nói nữa, ở Tây Phương
Cực Lạc thế giới, địa vị Tam Hiền đều là A Duy Việt
Trí Bồ Tát, đấy là oai thần bổn nguyện của Phật A Di
Đà gia trì, chẳng thể nghĩ bàn! Chúng ta nghĩ coi: Tìm đâu
ra hoàn cảnh sanh hoạt tu học như thế? Mười phương thế
giới, trong các thế giới của chư Phật có chứ không phải
là không có; nhưng vấn đề là quá nhiều điều kiện, quý
vị không đến đó được nổi!
Muốn
về Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng khó, các thế giới
khác quý vị phải đoạn Hoặc mới đến được. Nói cách
khác, Kiến Tư phiền não đoạn rồi mới có thể sanh về
Phương Tiện Hữu Dư độ của các đức Phật khác. Phương
Tiện Hữu Dư Độ là gì? Chúng ta thường nói đến Tứ Thánh
Lục Phàm, lục đạo là Phàm Thánh Đồng Cư độ, bốn thánh
pháp giới là Phương Tiện Hữu Dư độ, vượt khỏi mười
pháp giới. Vượt khỏi mười pháp giới là Nhất Chân pháp
giới. Nhất Chân pháp giới là Thật Báo Trang Nghiêm độ,
phải làm sao mới đến được? Phải đoạn Kiến Tư, phải
đoạn Trần Sa, Vô Minh, tối thiểu là phá được một phẩm
vô minh. Quý vị có đủ điều kiện ấy thì mới có thể
sanh vào Thật Báo độ của chư Phật trong các thế giới khác.
Tây
Phương Cực Lạc thế giới thù thắng ở chỗ nào? Phàm Thánh
Đồng Cư độ và Thật Báo Trang Nghiêm độ không hai không
khác, đức Thế Tôn nói mười phương thế giới chưa từng
nghe nói qua [điều ấy]. Trong hết thảy các cõi Phật, chỉ
có cõi Phật A Di Đà là đặc biệt, bốn cõi cùng hợp lại.
Các cõi Phật khác, bốn cõi đều phân biệt, chẳng hợp lại.
Thế giới Sa Bà này của Thích Ca Mâu Ni Phật có bốn cõi:
Phàm Thánh Đồng Cư độ, Phương Tiện Hữu Dư độ, Thật
Báo Trang Nghiêm độ, Thường Tịch Quang độ, có hết, nhưng
không ở cùng một chỗ! Cực Lạc thế giới chỉ ở cùng
một chỗ, chúng ta phải biết như vậy. Chúng ta lại xem tiếp
đoạn kế:
“Là
nhân duyên chân thật của Cực Lạc”. Câu này rất quan trọng,
đây là tổng kết. Nhân duyên thật sự của cõi Cực Lạc
được câu này nêu lên rất chánh xác, hiển thị điều gì?
Y báo chuyển theo chánh báo. Tự quý vị không có phiền não,
lại có đạo đức, có trí huệ, những người khác đều
là hiền thánh, thì nói cách khác, chính quý vị cũng là hiền
thánh. Đối với hoàn cảnh cư trú của hiền thánh, ắt quý
vị biết hoàn cảnh ấy sẽ biến thành như thế nào? Thành
cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn! Chúng ta xem tiếp đoạn dưới:
“Những
trang nghiêm như vậy, cõi Đồng Cư là do thiện nghiệp tăng
thượng cảm ứng” - thiện nghiệp tăng thượng ở đây là
niệm Phật, “cũng do Viên Ngũ Phẩm Quán cảm thành”. Viên
là Viên Giáo, Viên Ngũ Phẩm Quán là Ngũ Phẩm Quán của Viên
Giáo. Ngũ Phẩm Quán sẽ giảng ở phần dưới, bao gồm “tùy
hỷ, đọc tụng, giải nói, kiêm hành lục độ, chánh hành
lục độ”, đều là tu hành cả. Nếu chúng ta thắc mắc:
Kẻ Hạ Hạ Căn vãng sanh, những trường hợp như vậy rất
nhiều, thời cổ cũng có, hiện tại cũng có, họ không biết
chữ, chưa từng đọc sách, cũng chưa từng nghe kinh, làm sao
có thể hiểu được những điều trên? Thế nhưng, bản thân
người ấy biết được nhân sanh rất khổ, có người dạy
họ niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới sẽ lìa khổ được vui, họ tin là thật, như được
của báu, chết lòng trọn ý niệm một câu A Di Đà Phật.
Họ thành công, thật sự vãng sanh. Vì sao vậy? Đó là như
phần trên đã nói: “Do thiện nghiệp tăng thượng cảm thành”.
Quý
vị phải hiểu thế nào là thiện nghiệp tăng thượng? Niệm
A Di Đà Phật là thiện nghiệp tăng thượng. Quý vị nghĩ
xem: Người nhất tâm niệm A Di Đà Phật, Thập Thiện, Ngũ
Giới đều trọn đủ, họ có còn ý niệm hại người hay
chăng? Chẳng có ý niệm hại người, há còn sát sanh ư? Chẳng
thể nào! Họ cũng chẳng trộm cắp, cũng chẳng dâm dục,
cũng chẳng nói dối, họ giữ được hết những giới ấy.
Họ hoàn toàn buông thế giới này xuống, không tham, không
sân, không si. Không si là niệm một câu Phật hiệu suốt ngày
từ sáng đến tối, họ chẳng ngu si đâu, thiện nghiệp tăng
thượng đấy!
Người
căn tánh trung thượng như Trí Giả đại sư đã thị hiện
cho chúng ta thấy, Ngài là tổ sư tông Thiên Thai, thị hiện
cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Ngài là pháp sư
vừa giảng kinh thuyết pháp, lại còn lãnh đạo đồ chúng,
lúc mất đồ đệ hỏi: “Sư phụ vãng sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới, đạt phẩm vị nào nơi đó?” Ngài bảo cùng
đại chúng: “Vì ta lãnh chúng, lãnh chúng phải quản sự,
bận tâm, chẳng thể chuyên tinh; vì thế chỉ vãng sanh trong
Ngũ Phẩm Vị”. Ngài thị hiện vãng sanh trong Ngũ Phẩm Vị.
Ngũ Phẩm Vị là địa vị gì? Là Phàm Thánh Đồng Cư độ.
Chúng ta biết Trí Giả đại sư là Thích Ca Mâu Ni Phật tái
lai, chẳng phải là phàm nhân! Ở Nhật Bản cũng nói như vậy.
Năm ngoái, tôi sang thăm Nhật Bản, thấy người Nhật vẫn
thờ tượng Trí Giả đại sư. Lúc tôi tham bái, tôi bảo những
pháp sư Nhật: “Theo truyền thuyết Trung Quốc, Trí Giả đại
sư là Thích Ca Mâu Ni Phật hóa thân”. Họ bảo người Nhật
cũng nói như thế. Thị hiện cho chúng ta xem! Vì sao? Phương
pháp tu hành cao không làm được, cũng không sao! Tùy hỷ quý
vị có làm được chăng? Chẳng khó đâu, tùy hỷ công đức!
Thông
thường, “tùy hỷ” để đối trị một món phiền não rất
nghiêm trọng của chúng ta, món gì vậy? Ganh ghét. Nếu quý
vị ganh ghét sẽ không tùy hỷ được. Lúc tùy hỷ tâm ganh
ghét không có. Ganh ghét phát xuất từ sân khuể. Ai không có
tâm ganh ghét, chắc chắn tâm sân khuể rất mỏng yếu dù
chưa đoạn hết, tâm ấy rất yếu ớt. “Đọc tụng” là
ngày ngày chẳng lìa Phật. Vậy thì người ấy có thể tùy
hỷ, có thể đọc tụng. “Giải nói” là vì người khác
diễn nói. “Kiêm hành lục độ” là tùy hỷ bố thí, trì
giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, Bát Nhã. “Chánh
hành lục độ” là kiêm hạnh lẫn chánh hạnh đều có. “Chánh
hạnh” là nhất tâm nhất ý vì chúng sanh, “kiêm hạnh”
là tùy duyên, gặp việc gì bèn tùy hỷ làm, tùy duyên làm,
chánh hạnh là chủ động làm.
Chẳng
hạn như tu Bố Thí, trông thấy người ta làm những việc
bố thí gì, chúng ta cũng tùy hỷ một chút, đó là Kiêm Hành.
Nếu tự mình phát khởi làm chuyện gì tốt cho xã hội, chủ
động làm, đấy là Chánh Hành. Kiêm tu, chánh hành đều phải
làm. Chẳng hạn như chính quyền thành phố Đồ Văn Ba (Toowoomba),
ông thị trưởng muốn xướng xuất lập trung tâm chống nghiện
ngập cho thanh thiếu niên, đó là chuyện tốt, chúng ta tùy
hỷ bố thí. Đấy là kiêm tu Lục Độ. Nếu chúng ta thấy
trong xã hội có nhiều thanh thiếu niên lầm lạc như thế,
chúng ta phải phát động xây dựng một trung tâm cai nghiện,
thì là chánh tu. Kiêm và Chánh có nghĩa là như vậy. Bây giờ
hết giờ rồi!
*
Chư
vị đồng học!
“Nhân
dân biểu thị nhân duyên sanh pháp, Thanh Văn tức là Không,
Bồ Tát tức là Giả, Phật tức là Trung; viên dung vô ngại
vậy!” Đoạn này rất trọng yếu. Trong cảnh giới Như Lai,
chẳng những chúng sanh bình đẳng, không những hữu tình chúng
sanh mà vô tình báo độ cũng là bình đẳng. Vì thế, gọi
chung là “Nhất Chân pháp giới”. Trong Nhất Chân pháp giới
không có Phật, có Bồ Tát, có chúng sanh hay chăng? Không có!
Nếu vẫn còn phân biệt, chấp trước như vậy thì đâu phải
là Nhất Chân! Trong Nhất Chân có tịnh độ, uế độ hay chăng?
Có bốn cõi, ba bậc, chín phẩm hay chăng? Thảy đều chẳng
có thì mới gọi là Nhất Chân! Đấy mới là chân tướng
sự thật. Tâm hiện, thức biến, phải chú tâm thể hội,
quán sát lý này thì quý vị mới hiểu được chân tướng.
Hoa
Tạng thế giới, Cực Lạc thế giới, trong kinh đức Phật
thường nói “chỉ mình đức Phật ở Tịnh Độ”. “Chỉ
một mình đức Phật” không có nghĩa là chỉ có một người,
đừng hiểu lầm như vậy. Người đạt đến Phật quả viên
mãn rốt ráo rất nhiều, chỗ của những vị Phật quả viên
mãn rốt ráo ở gọi là Nhất Chân pháp giới. Chỗ Đẳng
Giác Bồ Tát ở là Tương Tự Nhất Chân pháp giới, không
phải là chân thật. Vì sao? Họ vẫn còn một phẩm sanh tướng
vô minh chưa đoạn sạch, đạo lý là đây. Bốn mươi mốt
địa vị Pháp Thân đại sĩ trong Hoa Tạng thế giới, bốn
mươi mốt đẳng cấp ấy do đâu mà có? Quý vị nghĩ đi:
Vô minh phiền não chưa đoạn hết. Bốn mươi mốt phẩm vô
minh, cứ phá một phẩm liền thăng lên một cấp, duyên do
là vậy! Nhưng quý vị phải hiểu, Vô Minh, Trần Sa, Kiến
Tư phiền não tánh không, trong Chân Như tự tánh vốn không
có!
Khởi
Tín Luận nói rất hay: “Bổn giác vốn có, bất giác vốn
không”. Vô minh là bất giác, phân biệt, chấp trước đều
là bất giác, bất giác vốn không! Trong ấy há có giai cấp?
Trong ấy nào có Phật, nào có chúng sanh? Trong cảnh giới ấy,
không có Phật, không có chúng sanh, đó là Đệ Nhất Nghĩa.
Phải rơi vào Đệ Nhị Nghĩa mới có Phật, có chúng sanh;
trong Đệ Nhất Nghĩa không có. Trong Đệ Nhị Nghĩa có Thường
Tịch Quang, có Thật Báo Độ, có Đồng Cư độ; trong Đệ
Nhất Nghĩa không có. Đấy mới là chân tướng, thật tướng
của các pháp. Nếu có những vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước như vậy thì đều là tướng vọng tưởng, kinh Kim
Cang dạy: “Phàm những gì có tướng đều là hư vọng”.
Nghĩa là sao? Chín pháp giới chúng sanh kể cả Đẳng Giác
Bồ Tát, trong những cảnh giới của họ hễ có tướng thì
đều là hư vọng.
Nơi
Thật Tế Lý địa của Như Lai, phàm những gì có tướng đều
là thật tướng, diệu thay! Diệu ở chỗ thật tướng và
vọng tướng dung hợp thành một, chẳng thể phân ra. Vọng
tướng không còn, thật tướng cũng không còn. Thật tướng
giống như thân người, vọng tướng giống như bóng người
khi ánh nắng chiếu vào thân. Quý vị nghĩ xem bóng và thân
có tách rời nhau được chăng? Không tách rời được! Có
trở ngại nhau chăng? Không trở ngại. Thân ta chẳng trở ngại
bóng, bóng chẳng trở ngại thân, lý sự vô ngại, sự sự
vô ngại. Quý vị phải giác! Nếu bất giác thì bất giác
là bậy rồi, là coi cái bóng như chính mình, đánh mất chính
mình. Đó là gì? Chúng sanh trong chín pháp giới cùng mắc căn
bệnh này. Chân thân của chúng ta là thanh tịnh pháp thân,
tứ thánh, lục phàm, y báo, chánh báo trang nghiêm đều là
bóng; kinh Kim Cang đã chẳng nói rất hay đó ư? Như mộng,
huyễn, bọt, bóng.
Y báo,
chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới là mộng, huyễn,
bọt, bóng, là tương tự thật tướng trong Nhất Chân pháp
giới, phải trên quả vị Như Lai mới là chân tướng thật
sự. Phải hiểu đạo lý này. Nếu quý vị chẳng hiểu, học
tập tu hành sẽ không có phương hướng, chẳng có mục tiêu,
rốt cuộc chẳng có kết quả. Nếu quý vị hiểu được,
thấy rõ thì ta có phương hướng, ta có mục tiêu, tương lai
ta sẽ chứng nhập cảnh giới ấy, đó là cảnh giới Phật.
Chẳng cần biết quý vị chứng đắc cảnh giới ấy sâu hay
cạn, chứng đắc rộng, chứng đắc hẹp, tương lai cầu sanh
Tây Phương Cực Lạc thế giới sẽ giúp ích rất lớn trong
việc nâng cao phẩm vị. Bởi thế, nhất định phải hiểu
y báo, chánh báo trang nghiêm là mộng, huyễn, bọt, bóng, do
đâu mà có? Do vọng tưởng của chúng ta biến hiện ra! Ở
đây, nói chúng sanh là pháp nhân duyên sanh, pháp nhân duyên
sanh là gì? Nói cách khác mọi người sẽ dễ hiểu hơn: Chúng
sanh là nhân quả báo ứng, điều này mọi người hiểu được.
Pháp nhân duyên sanh là nhân quả báo ứng, không gì chẳng
từ tâm tưởng sanh. Tâm quý vị nghĩ điều lành, được quả
báo lành, y báo, chánh báo trang nghiêm đều lành. Tâm quý vị
nghĩ chuyện chẳng lành, y báo, chánh báo đều bất thiện.
Chẳng phải ai khác tạo ra cho mình gánh chịu, tự mình tạo
tự mình chịu. Không hiểu lẽ “tự làm tự chịu”, đổ
thừa người khác, oán trời trách người: “Lão trời già
không công bằng, khiến tôi phải khổ đến thế này, đối
đãi tốt với người khác, xử tệ với tôi!” Chẳng hiểu
người khác tốt lành là do thiện tâm, thiện nghiệp của
người ấy biến ra, những điều xấu của mình do tâm bất
thiện, nghiệp bất thiện của mình biến ra, chẳng liên can
đến ai cả! Bởi thế, người thật sự giác ngộ, thấu hiểu,
sẽ sửa đổi quan niệm lầm lạc ấy, chẳng oán trời, chẳng
trách người, biết chuyện đó chẳng ăn nhập đến ai, đúng
là tự làm tự chịu. Đó là chân tướng sự thật.
Thế
giới Cực Lạc có nhân dân, nhân dân là những người đới
nghiệp vãng sanh trong Phàm Thánh Đồng Cư độ, sanh vào Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Thật ra, họ vẫn thuộc trong
cảnh giới nhân thiên, thù thắng ở chỗ nào? Thật sự thù
thắng chẳng thể nghĩ bàn là được bổn nguyện oai thần
của Phật A Di Đà gia trì. Được trí huệ phước báo của
Phật A Di Đà gia trì, nâng cao lên, chẳng do chính họ tu chứng.
Cái tối thù thắng của Tây Phương Cực Lạc thế giới chính
là đây.
“Thanh
Văn tức là Không”: Thanh Văn là Phương Tiện Hữu Dư độ,
cảnh giới cao, biết vạn pháp đều không: “Hết thảy pháp
vô sở hữu, rốt ráo không, bất khả đắc”. Bởi thế,
tâm họ định. Dẫu có định, công phu định vẫn chưa đủ,
vì sao? Chưa khai trí huệ. Vì thế, đức Phật bảo họ trụ
vào Thiên Chân Niết Bàn, Chân là Chân Không. Trụ Thiên Chân
Niết Bàn chỉ có tự thọ dụng, không có tha thọ dụng. Tự
thọ dụng là chẳng được tự tại, chẳng viên mãn nơi thanh
tịnh tịch diệt. Trong kinh, đức Phật dạy: A La Hán trụ
Thiên Chân Niết Bàn lâu nhất là hai vạn đại kiếp, nghĩa
là họ ở trong cảnh giới ấy lâu đến như thế bèn hồi
đầu, bèn giác ngộ, giác ngộ hồi đầu. Bích Chi Phật thông
minh hơn họ, Bích Chi Phật cũng trụ Thiên Chân Niết Bàn,
thời hạn dài nhất là một vạn đại kiếp, một vạn kiếp
bèn hồi đầu, Thanh Văn tối đa hai vạn kiếp mới hồi đầu.
Chúng ta thường gọi “hồi đầu” là “hồi Tiểu hướng
Đại”; họ không còn mong nghỉ ngơi nữa, thời gian nghỉ
ngơi đã đủ rồi, lại phải nỗ lực cầu học. Thiên Chân
Niết Bàn của Thanh Văn giống như lúc ta tạm nghỉ học. Ví
như đi học đến lúc tốt nghiệp Trung Học, tốt nghiệp rồi
không học nữa, tạm ngừng học. Ngừng học độ mấy năm,
biết là chưa được, vẫn phải học, lại thi vào Đại Học.
Đại Học giống như Đại Thừa.
“Bồ
Tát tức là Giả”, chữ “tức” ở đây có nghĩa là “hết
thảy”, một thứ không hết thảy không, một thứ giả thì
hết thảy đều giả. Bồ Tát biết y báo, chánh báo trang nghiêm
trong mười pháp giới là giả tướng; giả tướng ấy chẳng
trở ngại chân không. Vì thế, tâm trụ vào chân không, trong
giả tướng, Bồ Tát có thể giáo hóa chúng sanh, giáo hóa
không chướng ngại. Chúng ta hiện đang là phàm phu, nếu chúng
ta giáo hóa chúng sanh sẽ gây ra chướng ngại cho tâm thanh
tịnh của chính mình, tâm chẳng được thanh tịnh. Nếu là
Bồ Tát thì chẳng có chướng ngại; suốt ngày từ sáng đến
tối bận bịu phục vụ chúng sanh, nhưng quyết định chẳng
chướng ngại cái tâm thanh tịnh của chính mình, quyết định
chẳng chướng ngại công phu tu hành. Bồ Tát tu lục độ vạn
hạnh. Người niệm Phật chúng ta tu nhất tâm bất loạn, tâm
chẳng điên đảo, đó là Niệm Phật tam-muội, bất luận
làm việc gì, bất luận bận bịu đến thế nào, tâm chẳng
điên đảo, nhất tâm bất loạn. Bồ Tát tâm vĩnh viễn định,
chẳng bị cảnh giới bên ngoài xoay chuyển. “Bị cảnh giới
bên ngoài xoay chuyển” là gặp phải cảnh giới bèn lập
tức sanh khởi phản ứng, chẳng có công năng Thiền Định.
Vì thế, có thể nói là từ lúc sanh ra cho đến hiện tại,
ý niệm ngày đêm không hề gián đoạn, niệm trước vừa
diệt, niệm sau liền sanh, tốc độ rất nhanh, quyết định
chẳng có hai niệm nào giống nhau. Ý niệm nhanh hơn thời gian,
thời gian tính bằng phút bằng giây; theo như kinh Phật nói,
ý niệm của chúng ta khởi lên, diệt mất trong một phần
vạn giây. Nói cách khác, trong khoảng thời gian chừng một
giây, ý niệm của chúng ta đã một vạn lần sanh diệt.
Những
điều như trong kinh Nhân Vương giảng, tôi đã thưa cùng các
vị đồng học rồi, đấy chưa phải là chân thật, chỉ là
Phật phương tiện nói. Phương tiện nói mà đã phi thường
lắm rồi! Vì sao? Theo kinh Nhân Vương, có bao nhiêu ý niệm
sanh diệt trong một giây? Hai mươi mốt vạn sáu ngàn niệm,
hai mươi mốt vạn sáu ngàn niệm sanh diệt đấy nhé, chính
ta không tự biết, điều không biết đó được gọi là “thô
tâm đại ý”. Một niệm sanh khởi chính là hiện ra tướng
trạng giống như chúng ta xem phim: Tấm ảnh vừa lọt vào ống
kính của máy chiếu phim thì tấm ảnh đó bèn được rọi
lên màn bạc. Màn bạc là hư không, thế mà thế giới, chúng
sanh sanh trong đó thoáng một cái rồi diệt mất. Diệt rồi
lại lập tức sanh: Tấm ảnh thứ hai hiện ra, tốc độ rất
nhanh, chúng ta thấy tợ hồ là thật, chứ thật ra là từng
tấm từng tấm riêng rẽ, hình ảnh trong mỗi tấm lại khác
nhau, tuyệt đối chẳng có hai tấm ảnh nào giống nhau, đó
là tướng “tương tục” (tiếp nối).
Kinh
Kim Cang nói: “Như lộ diệc như điển”, Lộ là sương móc.
Lộ ví như tướng tương tục, Điển (chớp) ví cho chân tướng.
Mỗi một tấm hình được chiếu lên là chân tướng, bao nhiêu
tấm tiếp nối nhau là tướng tương tục. Vì sao hình ảnh
trong mỗi tấm không giống nhau? Các niệm của chúng ta không
giống nhau. Kinh Phật giảng ý niệm là “thức”, chỉ là
do thức biến hiện. Mỗi niệm khác nhau biến hiện tướng
trạng cảnh giới khác nhau. Bồ Tát giác ngộ! Ngài có thể
hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức. Công đức là gì?
Công đức là bất biến, chẳng chuyển theo cảnh giới bên
ngoài. Đó là công đức. Chuyển theo cảnh giới bên ngoài
chẳng có công đức, mà là phiền não, vì quý vị lệ thuộc
vào cảnh giới bên ngoài. Người học Phật nói đến “công
phu”, vậy công phu là gì? Là chẳng chuyển theo cảnh giới
bên ngoài, ấy là Định; hiểu rõ rệt rành rẽ cảnh giới
bên ngoài, hiểu thấu suốt thì là Huệ. Định Huệ cùng học,
Định Huệ cân bằng, chẳng thể nghĩ bàn. Cảnh giới ấy
sâu lắm.
Vì
sao Bồ Tát luôn độ chúng sanh, Tiểu Thừa trụ Niết Bàn
rất tự tại, sao Bồ Tát chẳng trụ Niết Bàn? Bồ Tát trụ
trong Niết Bàn, nhưng Niết Bàn ấy chẳng trở ngại việc
độ chúng sanh, tuyệt diệu! Niết Bàn là như như bất động,
thanh tịnh tịch diệt. Bởi vậy, Niết Bàn chứng bởi Đại
Thừa Bồ Tát gọi là Vô Trụ Niết Bàn, nơi quả địa Như
Lai cũng như vậy. Thế nào là Vô Trụ Niết Bàn? Chẳng trụ
vào sanh tử, chẳng trụ vào hai bên. Nói cách khác, chẳng
trụ vào Niết Bàn bèn có sanh tử, chẳng trụ sanh tử chính
là Niết Bàn. Nếu nói cả Niết Bàn lẫn sanh tử hai bên đều
trụ cả, đều chiếu cố cả hai thì hai bên không xung đột,
hai bên không mâu thuẫn, hai bên viên dung, hai bên tự tại,
viên dung vô ngại! Bởi thế, đạt đến địa vị Bồ Tát
thì thực hiện được điều đó, bởi Không - Giả - Trung
hoàn toàn hợp nhất, tức Không, tức Giả, tức Trung. Nhân
vì trong cảnh giới phàm phu, vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước hết sức nghiêm trọng, Không - Giả - Trung chẳng thể
viên dung, Không chẳng phải là Giả, Giả chẳng phải là Trung.
Trí huệ chân chánh hiện tiền, biết chúng là một, một mà
ba, ba nhưng một; giống như cái nắp của chén trà, chúng ta
hãy quan sát như sau: Nếu lật ngửa lên nó bị lõm xuống;
lật ngược lại, nó bèn lồi lên. Chẳng liễu giải chân
tướng sự thật, chỉ đứng tại một bên ắt sẽ đôi co.
Kẻ nói: “Tôi thấy nó lõm xuống”, người bảo: “Tôi
thấy nó lồi lên”. Hai người cãi cọ, tri kiến khác nhau,
chẳng thấy chân tướng sự thật. Nếu lật nó lại thì mới
hoảng nhiên đại ngộ: Lõm vốn là lồi, lồi vốn là lõm,
là một, chứ không phải hai.
Phật,
Bồ Tát thông minh ở chỗ nào? Mặt nào cũng thấy cả. Phàm
phu và Tiểu Thừa chỉ thấy được một bên, vì thế có chấp
trước. Vì chỉ thấy một bên nên nếu quý vị nói cái này
lõm xuống, họ chẳng tin: “Rõ ràng là nó lồi lên, sao anh
lại nói lõm xuống?” Tranh luận chẳng thôi. Họ không thấy
mọi mặt, thấy mọi mặt là trí huệ viên mãn. Phật dạy
chúng ta đối với pháp giới, hư không, thế giới, chúng sanh,
vi trần phải nhìn mọi mặt, có thế mới viên dung vô ngại.
6.3.1.2.3.
Bảo trì đức thủy (nước tám công đức trong ao báu)
Lại xem tiếp đoạn kế là “bảo trì đức thủy” (nước
tám công đức trong ao báu), chúng ta đọc kinh văn một lượt.
Trong đoạn này không trích đoạn sách Yếu Giải.
“Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ, hữu thất bảo
trì, bát công đức thủy sung mãn kỳ trung. Trì để thuần
dĩ kim sa bố địa, tứ biên giai đạo, kim, ngân, lưu ly, pha
lê hiệp thành”.
(Lại này Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có ao bảy báu,
nước tám công đức đầy ắp trong ấy. Đáy ao thuần cát
vàng trải đất. Bốn phía là bậc lên, lối đi, dùng vàng,
bạc, lưu ly, pha lê hợp thành)
Trong đoạn này, vàng là một thứ, bạc là một thứ, lưu
ly là một thứ, pha lê là một thứ, ở đây nói đến bốn
thứ. Nay chúng ta gọi Lưu Ly là Phỉ Thúy, tức một thứ ngọc
màu xanh lá cây; Pha Lê nay gọi là thủy tinh. Trước kia, chưa
chế ra pha lê (crystal), pha lê được cổ nhân nói đến cũng
như pha lê trong kinh Phật, đều là thủy tinh, là một chất
tìm thấy trong thiên nhiên, hoàn toàn trong suốt. Hiện tại,
chúng ta biết thủy tinh được chế thành rất nhiều thứ,
thường thấy nhất là tròng mắt kiếng. Mắt kiếng thủy
tinh bảo vệ tròng mắt. Lại xem tiếp đoạn dưới:
“Thượng hữu lâu các”
(Phía trên có lầu gác)
Ý nói phía trên bờ ao bảy báu, “lại có lầu gác”, những
lầu gác ấy…
“Diệc dĩ kim, ngân, lưu ly, pha lê”
(Cũng dùng vàng, bạc, lưu ly, pha lê)
Lại còn thêm:
“Xa cừ, xích châu, mã não nhi nghiêm sức chi”
(Xa cừ, xích châu, mã não để trang hoàng).
Đấy là bảy báu, nói đến bảy báu là chỉ những thứ đó.
“Trì trung liên hoa”
(hoa sen trong ao)
Trong ao sen báu ấy lại có hoa sen.
“Đại như xa luân, thanh sắc thanh quang, hoàng sắc hoàng quang,
xích sắc xích quang, bạch sắc bạch quang, vi diệu hương khiết”
(To như bánh xe, màu xanh ánh sáng xanh, màu vành ánh sáng vàng,
màu đỏ ánh sáng đỏ, màu trắng ánh sáng trắng, vi diệu
thơm sạch)
Đến đây là một đoạn. Chúng ta nói đến nước tám công
đức trong ao báu, đã đọc qua kinh văn rồi. Nghĩa thú trọng
yếu trong đoạn này là “không có cái khổ lão - tử”. Dưới
đây, chúng tôi chia thành hai tiểu đoạn “đoạn trên nói
về trụ xứ, tiết này nói về sanh xứ”. Các cây báu, lan
can báu được nói trong phần trên chính là “địa lợi chi
lạc”, tức là hoàn cảnh cư trú, hàng cây bảy báu. Còn
ao báu, nước tám công đức là nói đến “sanh xứ” (chỗ
hóa sanh) của chúng ta khi vãng sanh thế giới Cực Lạc. Thế
giới Cực Lạc chẳng giống với thế gian chúng ta. Trong thế
giới chúng ta là thai sanh, thai sanh rất khổ. Tây Phương Cực
Lạc thế giới là hóa sanh, hóa sanh là biến hóa.
“Đồng Cư trong cõi này là do Hoặc nghiệp hữu lậu cảm
vời”. “Cõi này” tức là thế gian, là quả địa cầu
của chúng ta, địa cầu này là Phàm Thánh Đồng Cư độ.
Cõi này do đâu mà có? Trong kinh, đức Phật dạy “do Hoặc
nghiệp hữu lậu”. Lậu là tên khác của phiền não. Hữu
Lậu là có phiền não, có tập khí. Chỉ cần quý vị có phiền
não tập khí, quý vị không cách chi thoát khỏi luân hồi lục
đạo được. Lục đạo luân hồi do Hoặc nghiệp hữu lậu
cảm thành. Chúng ta thấy trong kinh luận, Phật giảng như thế
rất nhiều lần, đúng là vô số lần, ngàn kinh muôn luận
đều giảng cho chúng ta chân tướng sự thật này.
Lục
đạo do Kiến Tư phiền não biến hiện. Bởi thế, đức Phật
nói chỉ cần buông Kiến Tư phiền não xuống được thì lục
đạo luân hồi chẳng còn nữa. Trong Chứng Đạo Ca, Vĩnh Gia
đại sư có viết một câu rất hay: “Mộng lý minh minh hữu
lục thú” (Trong mộng rành rành phân sáu nẻo), lục thú chính
là lục đạo. “Giác hậu không không vô đại thiên” (tỉnh
rồi, ba cõi rỗng toang hoang). Lục đạo luân hồi chẳng thật,
nó là mộng cảnh giới do mê hoặc điên đảo biến hiện,
nhưng quý vị chẳng biết đấy là mộng, nên phải chịu đựng
trong giấc mộng đó. Bởi thế, quý vị tạo thiện nghiệp
sẽ hưởng phước trong mộng, có lạc thọ; tạo ác nghiệp
thì thọ tội trong mộng, có khổ thọ. Quý vị chẳng tỉnh
giấc mộng ấy. Đến lúc nào mới tỉnh? Khi nào đoạn được
nghiệp nhân lục đạo, sẽ không còn quả nữa. Nghiệp nhân
chính là Kiến Tư phiền não.
Trong
Kiến Tư phiền não có một thứ là Thân Kiến: Chấp trước
thân này là Ta. Quý vị suy nghĩ xem: Lục đạo chúng sanh có
ai không vì chính thân mình hay không? Hành thiện cũng vì cái
thân này, tạo ác cũng vì cái thân này, tưởng thân này là
Ta, đó là sự lầm lạc thứ nhất. Bởi vậy, tôi thường
khuyên lơn các đồng học: Chúng ta mong được thật sự giác
ngộ, mong được thấu hiểu, thấu suốt, thì phải dụng công
nơi đâu? Đầu tiên là phải bỏ được ý niệm tự tư tự
lợi mới hòng vào được cửa. Quan niệm tự tư tự lợi
sai lầm, hành vi sai lầm ấy nếu chẳng thể triệt để buông
xuống được, dù quý vị có duyên phận tốt, quý vị cũng
chẳng thể vào được cửa nhà Phật. “Cửa nhà Phật”
nghĩa là gì? Chẳng thể tiến nhập cảnh giới Phật được!
Lục
đạo phàm phu đáng thương! Từ vô lượng kiếp đến nay lăn
lóc trong luân hồi, thời gian trong ba đường thiện ngắn ngủi,
thời gian trong ba đường ác dài lâu. Quý vị nói xem vì duyên
cớ nào vậy? Vì tự tư tự lợi. Tự tư tự lợi làm hại
quý vị khiến đời đời kiếp kiếp phải chịu khổ trong
ba đường ác. Phật đúng là từ bi đến cùng cực, đem toàn
bộ chân tướng sự thật, nhân quả trước sau giảng rõ ràng,
minh bạch cho chúng ta, cớ sao chẳng ngộ? Thế nào là ngộ?
Buông tự tư tự lợi xuống thì người ấy liền giác ngộ!
Buông tự tư tự lợi xuống không được, không thể giác
ngộ. Nghiêm trang như tượng, nói đến nỗi hoa trời rơi lả
tả, nhưng không buông tự tư tự lợi xuống được, vẫn
chưa thật sự giác ngộ! Kinh giáo gọi kẻ đó là “thế
trí biện thông”, chẳng phải chân trí huệ. Kẻ chân trí
huệ thay đổi quan niệm, đó là tu hành! Sửa đổi quan niệm
lầm lạc, khởi tâm động niệm là tâm gì? Tâm chân thành,
tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm chánh giác, tâm từ bi;
khởi tâm động niệm trong cuộc sống thường nhật toàn là
những tâm ấy.
Trong
những tâm ấy không có tự tư tự lợi, trông thấy chúng
sanh khổ bèn muốn giúp họ, toàn tâm toàn lực xả kỷ vì
người. Quý vị thấy Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng phải giống
như thế hay sao? Vứt bỏ cuộc sống an vui, giàu có của chính
mình, vứt bỏ địa vị xã hội, vứt bỏ hết thảy quyền
thế, dùng thân thể này, dùng trí huệ để giúp hết thảy
chúng sanh giác ngộ, giúp hết thảy chúng sanh đoạn ác tu
thiện, giúp hết thảy chúng sanh lìa khổ được vui, giúp
hết thảy chúng sanh chuyển phàm thành thánh. Những việc Ngài
thị hiện suốt ngày từ sáng đến tối là vì người khác
diễn nói, hy sinh, phụng hiến, không có chút nào tự tư tự
lợi. Hành vi đều lợi ích xã hội, lợi ích hết thảy chúng
sanh. Có vậy Phật mới có thể nhập cảnh giới Phật. Cảnh
giới Phật chính là cảnh giới của tánh đức chính mình,
minh tâm kiến tánh.
Sở
dĩ phàm phu, Quyền Tiểu tu hành bao kiếp chẳng thể khế nhập,
nguyên nhân vì đâu? Chưa buông tự tư tự lợi xuống được.
Đấy chẳng phải chuyện dễ! Nói chung, chúng ta căn tánh hạ
liệt rất sâu, phiền não tập khí quá nặng, há dễ dàng
buông xuống được! Phật gặp những chúng sanh như vậy thì
làm sao? Không khuyên kẻ ấy buông xuống, vì sao? Không có
cách chi hết, không thực hiện được! Khuyên họ làm gì?
Khuyên họ tạo thiện nghiệp, chớ tạo ác nghiệp, Phật giáo
hóa chúng sanh tu Ngũ Giới, Thập Thiện, mục đích chẳng nhằm
dạy họ thoát luân hồi, mục đích là ngăn ngừa khỏi bị
đọa ba ác đạo. Do tư tưởng, ngôn ngữ, hành vi quý vị
chẳng lành; chẳng lành thì quý vị sẽ chiêu cảm khổ báo
tam đồ, rất đáng thương, rất thê thảm! Quý vị có thể
đoạn ác tu thiện, quý vị trì Ngũ Giới, tu Thập Thiện thì
đời sau hưởng phước báo trời - người. Quý vị chẳng
buông tự tư tự lợi xuống được, quý vị thoát chẳng khỏi
lục đạo luân hồi, [nên đành] giúp cho quý vị hưởng phước
báo trời - người. Đức Phật giáo hóa chúng sanh đúng là
ứng cơ thuyết pháp, căn cơ quý vị như thế nào, nguyện
vọng như thế nào, Phật đều thỏa mãn quý vị. Đấy là
nói [về những điểm mà] thế giới Sa Bà của chúng ta khác
với Tây Phương Cực Lạc thế giới.
“Cõi
kia do tịnh nghiệp vô lậu cảm thành, lại được trang nghiêm
bằng nguyện hạnh của A Di Đà Phật ”. Câu “được trang
nghiêm” có nghĩa là gia trì. Bốn mươi tám nguyện của Phật
A Di Đà, công đức tu hành trong vô lượng kiếp của Phật
A Di Đà gia trì chúng ta. Quý vị muốn tu vô lậu tịnh nghiệp
thì quý vị phải cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới,
không thể không hiểu đạo lý này. Lại thưa cùng quý vị:
Trong tâm quý vị còn oán hận kẻ nào đó, vẫn còn có kẻ
nào mình thấy gai mắt, sẽ chẳng đến được thế giới
Cực Lạc. Vì sao? Tâm thái ấy chính là Lậu nghiêm trọng,
chưa phải là Vô Lậu, mà là Hữu Lậu. Hữu lậu tu Tịnh
nghiệp thì nghiệp ấy cũng chẳng tịnh, cũng biến thành Hoặc
nghiệp. Bởi thế, muốn sanh về Tây Phương Cực Lạc thế
giới, sao không nhìn vào những bà cụ già niệm Phật, lúc
đi vãng sanh rất tự tại dường ấy? Quý vị phải chú tâm
quan sát họ, lúc họ còn sống có oán hận ai chăng? Không
có! Vì sao? Đều một nét bút sổ toẹt cả rồi! Tôi muốn
sanh về thế giới Cực Lạc; đợi khi tôi thành Phật, tôi
sẽ trở về độ mấy người. Đó là một điều kiện hết
sức quan trọng để được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới.
Tu
hành trọng yếu nhất là phải sửa đổi những hành vi lầm
lạc. Còn có một ai chẳng vừa ý, có chuyện gì chẳng khoan
khoái thì đều là những thứ chướng ngại vãng sanh, tâm
mình chưa thanh tịnh. Điều ấy giải thích vì sao vãng sanh
khó, một vạn người niệm Phật chỉ có một, hai người
được vãng sanh; đạo lý là đây. Nếu quý vị chưa chuyển
được phiền não thì dùng một câu A Di Đà Phật đè xuống,
đè chặt cho nó khỏi khởi tác dụng, đừng trông vào vận
may. Nếu lúc lâm chung, trong hơi thở cuối cùng, không đè
giữ được phiền não, nó bộc phát ra; bộc phát rồi bèn
đọa tam đồ.
Vì
vậy, bình thời phải dùng công phu để chuyển biến nó, ta
không oán hận nữa, càng tăng thêm từ bi. Người ta đem tâm
oán hận mình, mình dùng tâm từ bi đối đãi họ, ta dùng
tâm cảm ơn đối xử với họ. Nếu quý vị hỏi: Kẻ ấy
đối với ta có ân gì vậy? Thành tựu Nhẫn Nhục Ba La Mật
cho ta, đó là ân. Thành tựu Trì Giới Ba La Mật cho ta. Vì
sao nói thành tựu Trì Giới? Ta đối với kẻ ấy chẳng báo
thù, đó là Trì Giới, giới chẳng sát sanh, chẳng có ý niệm
báo thù. Chẳng có ý niệm sân khuể là Nhẫn Nhục. Chẳng
có ý niệm báo thù là không sát sanh, chẳng sát là Trì Giới.
Thành tựu sáu Ba La Mật cho mình, đấy chẳng phải là ân
huệ thì là gì? Phiền não tập khí từ vô thỉ kiếp đến
nay từ đây hóa giải, như vậy chẳng chướng ngại niệm
Phật vãng sanh. Đấy mới thật sự cảm được A Di Đà Phật
tiếp dẫn lúc lâm chung. Bởi thế, nếu có một chuyện trong
thế gian nào mình không buông xuống được thì đều là phiền
phức cả!
Nếu
quả thật thân tâm, thế giới, hết thảy đều buông xuống
được, phiền não tập khí chẳng khởi hiện hành, người
ấy niệm Phật vãng sanh hết sức bình an, hết sức ổn thỏa,
thích đáng, lúc lâm chung Phật đến tiếp dẫn. Vì thế, thế
giới Cực Lạc hoàn toàn do vô lậu tịnh nghiệp tạo thành.
Vô lậu là chuyển biến được phiền não tập khí, câu này
rất trọng yếu. Đới nghiệp vãng sanh chỉ có thể mang theo
những chủng tử tập khí trong A Lại Da thức, chứ chẳng
thể mang theo những nghiệp hiện hành. Hiện hành là gì? Trong
hiện tại vẫn thường phát tác, đó gọi là “hiện hành”,
những nghiệp ấy không mang theo được. Chúng ta mỗi ngày
từ sáng đến tối sanh sống, làm việc, xử sự, đãi người,
tiếp vật đều là tu hành, sửa đổi hết những chứng bệnh,
tập khí từ trước. Trước kia ta hận người, nay ta yêu thương
người; trước kia mình chán ghét người, nay mình có thể
giúp đỡ họ. Bây giờ đã đến giờ rồi.
*
Chư
vị đồng học!
Chúng
ta xem tiếp đoạn dưới. Phần thứ năm:
“Hoa
sen bốn màu, không có nỗi khổ thai sanh, không có nỗi khổ
ái biệt ly”: Trong thế gian này, chúng ta là thai sanh, thai
sanh có nỗi khổ mười tháng thai ngục. Thai sanh có duyên rất
sâu với cha mẹ nên có cái khổ ân ái biệt ly. Đấy là điều
hết thảy chúng sanh thai sanh chẳng thể tránh khỏi được,
trong ấy có ân tình. Tây Phương thế giới không vậy, hóa
sanh trong hoa sen. Vì thế, chắc chắn không có mười tháng
thai ngục, không có hiện tượng ấy. Sanh về thế giới Cực
Lạc hóa sanh trong hoa sen, nên không có các hiện tượng ân
tình, ân ái; hiện tượng tình chấp cũng không có. Thế giới
Cực Lạc chẳng giống thế giới của chúng ta. Chúng ta lại
xem tiếp đoạn dưới nói gì.
“Hoa
sen lớn nhỏ, ánh sáng, màu sắc bất đồng. Kinh nói: ‘Chúng
sanh phát tâm tín nguyện trì danh, trong ao liền sanh một búp
sen, đề tên người ấy. Nếu tinh tấn niệm Phật, hoa càng
ngày càng to, ánh sáng, màu sắc ngày càng tươi tắn. Nếu
giữa chừng ngã lòng, hoặc đổi sang tu pháp môn khác, hoa
ấy dần dần tàn khô”. Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới
đúng là không thấy có hiện tượng sanh - lão - bệnh - tử,
chẳng trông thấy hiện tượng sanh - trụ - dị - diệt. Chẳng
hạn như nói người vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới,
sanh vào Tây Phương Cực Lạc thế giới đều là hóa sanh,
chứ không sanh làm đứa bé con trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới dần dần lớn lên. Nếu không, sẽ thành ra có sanh -
lão - bệnh - tử. Sanh vào thế giới ấy sắc thân không khác
gì Phật A Di Đà, chứ không phải hiện làm một đứa bé
con dần dần lớn lên, chẳng phải vậy! Vì thế, họ không
có sanh trưởng. Sắc thân được hiện không khác gì với
bốn mươi tám nguyện, đều là thân vàng ròng tía giồi mài,
đầy đủ tướng hảo, quang minh viên mãn. Đó là do bổn nguyện
oai thần của Phật A Di Đà gia trì, chẳng phải chỉ có ba
mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp phụ, mà thân còn có
vô lượng tướng, mỗi tướng có vô lượng hảo, nhưng tất
cả chúng sanh đều như nhau. Thế giới Cực Lạc là thế giới
bình đẳng, thật chẳng thể nghĩ bàn!
Chỉ
mình hoa sen trong ao là thấy có tướng sanh diệt. Hoa sen từ
đâu có? Đúng như trong Đại Thừa Phật giáo thường nói:
“Từ tâm tưởng mà sanh”. Mười phương ba đời hết thảy
chúng sanh, chẳng hạn như bản thân chúng ta, trong tâm muốn
sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới thân cận A Di Đà
Phật, trong ao thất bảo nơi thế giới Cực Lạc bèn mọc
lên một búp sen, nhưng trên búp sen ấy có ghi tên tuổi mình.
Quý vị niệm Phật rất tinh tấn, tinh tấn niệm Phật, hoa
sen ấy sẽ dần dần ngày càng to, tinh tấn niệm Phật hoa
bèn to ra. Màu sắc, quang minh của hoa hoàn toàn tương ứng
với độ lớn của hoa. Ánh sáng, màu sắc tươi sáng. Đấy
là nói niệm Phật rất tinh tấn. Nếu quý vị niệm một khoảng
thời gian, về sau không niệm nữa, do nhân duyên nào khác chướng
ngại quý vị, quý vị bị ảnh hưởng đổi sang học môn
khác, chẳng tu Tịnh Độ đổi sang học pháp môn khác, đóa
sen ấy của quý vị dần dần bị héo khô, không còn nữa.
Vì vậy, trong thế giới Cực Lạc chỉ có thể thấy hiện
tượng sanh diệt nơi hoa sen trong ao sen. Chuyện hoa sen mỗi
ngày lớn lên lại vừa to vừa đẹp là có; mỗi ngày cũng
đều có rất nhiều hoa bị khô héo đi. Nay ta hãy tưởng tượng:
Chắc chắn là trong số các hoa sen, búp sen rất nhiều, nhưng
những hoa thật sự nở hoa kết quả trong tương lai chẳng
nhiều; rất nhiều búp sen bị héo khô đi. Giống như thầy
Lý đã nói: “Một vạn người niệm Phật, chỉ có hai ba
người được vãng sanh”. Đấy chẳng phải là nói một vạn
búp sen, chỉ có hai ba búp tương lai nở hoa, còn hơn chín ngàn
chín trăm búp kia đều bị héo khô! Nhưng quý vị phải hiểu
đấy là hiện tượng hiện tại trong thế giới Sa Bà của
chúng ta, thế giới phương khác không nhất định phải giống
như vậy.
Trong
kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy có rất nhiều thế giới thuần
tịnh, người trong những nơi ấy rất khá, rất có thể một
vạn người niệm Phật, một vạn người vãng sanh. Tổ sư
đại đức nói “vạn người tu, vạn người đến”, chẳng
sót một ai. Chỉ trong thế giới này của chúng ta rất tệ,
các đồng học niệm Phật không chịu đựng nổi khảo nghiệm.
Nhất là trong thời kỳ Mạt Pháp hiện tại, tà tri tà kiến
rất nhiều, người chánh tri chánh kiến hiếm hoi. Người tà
tri tà kiến rất nhiều, trong xã hội nhất định nẩy sanh
hiện tượng “sai lầm chất chứa lâu ngày trở thành đúng”.
Ai nấy đều tà kiến, tà kiến trở thành chánh kiến, người
chánh kiến hiếm hoi, chánh kiến biến thành tà kiến. Đó
là khảo nghiệm nghiêm trọng đối với người niệm Phật
cầu sanh Tịnh Độ.
Muốn
đảm bảo chẳng bị tà tri tà kiến ảnh hưởng, chỉ có
một phương pháp: Ngày ngày đọc kinh, ngày ngày nghiên cứu
giáo pháp, giống như đạo tràng của chúng ta đang duy trì.
Nếu quý vị hỏi vì sao có thể duy trì? Mỗi ngày giảng kinh,
mỗi ngày đều học tập, không cần biết bạn tích cực hay
không tích cực, không tích cực cũng không ăn nhằm gì, cốt
sao mỗi ngày bạn thực hành, hành lâu ngày, giả cũng biến
thành chân. Dần dần, từ từ, mỗi ngày hiểu một chút, mỗi
ngày hiểu một tí, dần dần! Quý vị tích lũy mười năm,
hai mươi năm, chẳng biến thành chân hay sao? Vì thế, công
phu chẳng được gián đoạn. Chúng ta sanh trong thời đại
này - trong thời đại của Ấn Quang đại sư không có vấn
đề, thời đại Ngài thiện căn vẫn rất sâu dầy, vì sao?
Hết thảy người đọc sách không ai chẳng đọc sách cổ,
không ai chẳng hiểu văn ngôn, người niệm Phật đều có
căn bản kha khá. Vì thế, lão nhân gia chủ trương chân chánh
tu hành cầu sanh Tịnh Độ, đạo tràng chẳng được lớn,
đạo tràng nhỏ thôi; đồng học chẳng được nhiều, chẳng
được quá hai mươi người. Thật sự ra, Ngài dạy như vậy
đều là vì nghĩ đến chúng ta hiện tại.
Nay
theo đường lối dân chủ tự do cởi mở, tự viện không
có hằng sản, thâu nhập chẳng ổn định. Đạo tràng lớn,
người đông, chi tiêu nhiều, chẳng dễ duy trì, quý vị phải
nhọc lòng. Nếu nhọc lòng sẽ chẳng thể vãng sanh, vì tâm
chẳng thanh tịnh. Vì thế, người ít, đạo tràng nhỏ, chi
phí duy trì tiêu xài ít, dễ dàng duy trì, chắc chắn không
cần hóa duyên, chắc chắn không phải quyên góp, trong đạo
tràng chẳng làm pháp hội, không có kinh sám Phật sự,
không truyền giới, không giảng kinh, chỉ có niệm Phật. Ngày
ngày đả Phật thất, Phật thất suốt năm, công khóa thường
nhật chiếu theo nghi thức Phật thất phổ thông, chiếu theo
cách thức Phật thất núi Linh Nham ở Tô Châu. Nếu thật sự
có thể tuân theo lời lão pháp sư khai thị, không ai chẳng
thành tựu. Trong số hai mươi người ấy, hai mươi người
sẽ vãng sanh trong tương lai. Chánh xác, hết sức chánh xác,
chẳng cầu lấy náo nhiệt! Cầu lấy náo nhiệt thì đạo
tâm, tâm thanh tịnh của ta ắt bị chướng ngại; đúng là
dạy chúng ta thân cận A Di Đà Phật.
Nhưng
hiện tại có khó khăn, khó khăn ở chỗ nào? Chúng ta biết
kinh giáo quá ít, thiện căn chẳng sâu dầy như người đời
trước. Đấy là nói so với những người thuộc năm đầu
Dân Quốc, người hơn một Giáp Tý (sáu mươi năm), chúng ta
không bằng họ, căn bản họ sâu dầy hơn chúng ta. Vì thế,
người hiện tại nếu hiểu rõ Tịnh tông được mấy phần
thì sẽ hữu ích rất lớn cho tín tâm, nguyện tâm của quý
vị. Vì thế, chúng tôi tuân thủ mỗi điều tổ Ấn Quang
răn dạy, ngoại trừ điều răn “không giảng kinh”, chúng
tôi đổi thành “nhất định phải giảng kinh”, Giải lẫn
Hạnh cùng coi trọng.
Chúng
ta niệm Phật ở đây phải thật sự đảm bảo có trí huệ,
có định lực mới hòng phòng chống tà tri tà kiến. Mỗi
ngày tối thiểu giảng kinh hai tiếng, thì quý vị mới được
che chở, chẳng bị dao động bởi tà tri tà kiến. Đương
nhiên, mỗi ngày có thể giảng bốn tiếng là quyết định
an toàn. Đạo tràng lý tưởng của tôi là mỗi ngày giảng
kinh bốn tiếng, hai mươi giờ kia niệm Phật, một ngày hai
mươi bốn tiếng Niệm Phật Đường không để gián đoạn.
Con người cần phải nghỉ ngơi thì thay phiên nhau nghỉ ngơi;
luân lưu không cần quy định. Hễ quy định bèn có áp lực,
phải làm sao? Phải làm như cách lão hòa thượng Đế Nhàn
dạy người đồ đệ thợ nề: Mệt cứ nghỉ, nghỉ khỏe
rồi lại vào Niệm Phật Đường niệm tiếp. Chẳng có mảy
may áp lực nào, thật sự tinh tấn.
Người
niệm Phật chân chánh niệm Phật trong Niệm Phật Đường,
lúc mệt bèn nghỉ, tôi nói chẳng cởi áo hải thanh. Chúng
ta đắp y, lúc nghỉ ngơi, phải cởi y, nhưng không cởi áo
hải thanh. Lúc nghỉ khỏe lại đắp y, lập tức lên Niệm
Phật Đường, có như vậy mới hòng thành tựu. Phần đầu
kinh A Di Đà có nhắc đến Bất Hưu Tức Bồ Tát, Thường
Tinh Tấn Bồ Tát để làm gương mẫu về mặt Hạnh môn cho
chúng ta. Giải môn nhằm giúp tín tâm, nguyện tâm của ta sâu
thêm, tăng trưởng định huệ. Chúng ta có định, có huệ,
có tín, có nguyện thì hết thảy tà tri tà kiến chẳng thể
xâm nhập tâm ta, chẳng thể lọt tai chúng ta, khiến chúng
ta giữ gìn được sự thuần tịnh thuần thiện. Hết thảy
chuyện bên ngoài chẳng ăn nhập gì đến ta, chúng ta không
hỏi tới. Bởi vậy, truyền hình, tạp chí, radio, nhật báo
bất tất phải xem, nghe, ngày ngày thiên hạ thái bình, ngày
ngày chẳng có việc gì, tâm định, tâm tịnh. Chỗ như vậy
mới gọi là “đạo tràng”, tịnh nghiệp đạo tràng. Những
người đến đạo tràng, chúng ta phải khuyên họ buông xuống
vạn duyên, cùng chúng ta niệm Phật, cùng nghe kinh. Hết thảy
mọi sự thế gian rối ren tạp nhạp trong xã hội chẳng cần
bàn đến ở nơi đây thì nơi đây là tịnh độ, nơi đây
thiên hạ vốn vô sự. Chúng tôi tin hoa sen trong ao bảy báu
của những người phát nguyện cầu vãng sanh trong đạo tràng
nhỏ ấy nhất định mỗi ngày tăng trưởng, quang minh, màu
sắc đẹp đẽ. Lại xem tiếp đoạn kế:
“Tín
tâm kiên cố, một đời chẳng đổi, đến lúc lâm chung, Phật
cầm hoa ấy, tiếp dẫn vãng sanh, liền sanh trong hoa ấy, gọi
là ‘thác chất liên thai’ (gởi thân trong hoa sen), thanh tịnh
thọ sanh, hoa nở thấy Phật”. Tín Tâm Kiên Cố, bốn chữ
này trọng yếu hơn hết, một đời chẳng đổi. Thầy Lý
truyền bản hội tập kinh Vô Lượng Thọ cho chúng tôi, đó
là sự truyền pháp trong Tịnh tông chúng ta. Tôi tiếp nhận
rồi, trong mười mấy năm hoằng dương toàn thế giới. Theo
con số dè dặt nhất mà chúng tôi có được, thì tối thiểu
bản hội tập này được lưu thông phải hơn hai trăm vạn
cuốn trên toàn thế giới, phải từ hai trăm vạn cuốn đến
ba trăm vạn cuốn đang lưu thông trên toàn thế giới, rất
nhiều người đọc tụng, thọ trì, hưởng lợi ích chân thật.
Hai
năm gần đây, kể từ tháng 10, tháng 11 năm 2000 trở đi, chúng
tôi mới bắt đầu nghe thấy những tiếng hủy báng, phản
đối, công kích bằng lời lẽ, công kích bằng văn tự, công
kích đích danh rất nhiều, đều nhắm vào tôi. Tôi có ngã
lòng không? Nếu tôi tín tâm chẳng kiên cố, nếu tôi thoái
chuyển, đổi sang học tập bản khác, quý vị nghĩ xem làm
sao tôi xứng đáng với thầy? Như vậy “tri ân, báo ân”
chẳng trở thành chuyện dối người hay sao? Thầy truyền bản
ấy cho tôi, phó thác pháp môn ấy cho mình, lúc mình nghe người
ta hủy báng, liền lập tức thay đổi, còn ra thể thống gì?
Bởi thế, tôi đã từng nói với các đồng học: “Dù người
toàn thế giới phản đối, tôi vẫn cứ kiên trì, tôi quyết
định không thay đổi!” Tôi không phụ lòng thầy, thầy chẳng
nhìn lầm tôi!
Nếu
như tôi biến đổi, tín tâm dao động, thầy đã nhìn lầm
người rồi, tôi chẳng xứng đáng. Tất cả những ai hủy
báng, tôi đều cảm tạ. Cảm tạ chuyện gì? Họ khảo nghiệm
tín tâm tôi có đủ kiên cố hay chăng? Tôi chịu đựng được
thử thách, dùng đó dạy hàng hậu học: Chỉ cần ai có tín
tâm kiên định, bất luận tu học một pháp môn nào, nhất
định thành tựu. Bởi thế tám chữ sau đây rất trọng yếu:
“Tín tâm kiên định, một đời chẳng đổi”. Không có
áp lực lớn lao như vậy, không bị đả kích nghiêm trọng
như vậy thì sự kiên định, tín nguyện, định huệ của
quý vị sẽ do đâu được biểu hiện? Làm sao biết tín nguyện
định huệ của mình đạt đến mức độ nào? Từ đây vỡ
lẽ ra: Càng bị đả kích nghiêm trọng, khảo nghiệm nghiêm
trọng thì cảnh giới của mình càng thật sự được nâng
cao.
Bởi
thế, thuận cảnh, nghịch cảnh, thuận duyên, ác duyên, thuận
nghịch thiện ác không có tiêu chuẩn, hoàn toàn do định huệ
của chính quý vị. Nếu quý vị có định, có huệ thì ác
duyên biến thành thiện duyên, nghịch cảnh chuyển thành thuận
cảnh, tự mình đối với pháp môn này càng thêm kiên định,
hạnh nguyện càng khẩn thiết, đó là chuyện tốt chứ không
phải xấu. Nếu chúng ta cứ phải chống đỡ, phải biện
bạch là sai mất rồi. Quý vị mắc lỡm to rồi, đã tự trái
nghịch lời Thích Ca Mâu Ni Phật răn dạy. Thích Ca Mâu Ni Phật
răn dạy