6.3.
Chánh Tông Phần
Chư
vị đồng học!
Xin
xem tiếp đoạn lớn thứ hai của kinh A Di Đà trong Hệ Niệm
Pháp Sự. Đoạn này là một đại bộ phận trọng yếu nhất
của kinh A Di Đà; được chia thành ba đoạn:
1)
Đoạn thứ nhất là “quảng trần bỉ độ y chánh diệu quả
dĩ khải tín” (trình bày rộng rãi về diệu quả y báo, chánh
báo của cõi kia để khơi gợi lòng tin).
2)
Đoạn thứ hai là “Đặc khuyến chúng sanh ưng cầu vãng sanh
dĩ phát nguyện” (đặc biệt khuyên chúng sanh nên phát nguyện
cầu vãng sanh).
3)
Đoạn thứ ba là “Chánh thị hành giả chấp trì danh hiệu
dĩ lập hạnh” (dạy hành giả chấp trì danh hiệu để lập
hạnh).
Phần
Chánh Tông cũng là ba đoạn tương ứng Tín, Nguyện, Hạnh.
Cả ba đoạn này đều khá dài; nay chúng ta học tập một
đoạn.
6.3.1.
Rộng bày diệu quả y báo, chánh báo để khởi tín
Xin
hãy xem kinh văn từ:
“Xá
Lợi Phất! Bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc?”
Đấy
là đoạn bắt đầu cho đến:
“Chư
Bồ Tát chúng diệc phục như thị.
Xá
Lợi Phất! Bỉ Phật quốc độ thành tựu như thị công đức
trang nghiêm”.
Chúng ta lại phải chia thành những tiểu đoạn để nghiên
cứu, học tập.
6.3.1.1.
Minh định tông chỉ: Tín nguyện trì danh
Tiểu
đoạn thứ nhất là “Tín nguyện trì danh, nhất kinh yếu
chỉ, tín nguyện vi Huệ hạnh, trì danh vi Phước hạnh” (Tín
nguyện trì danh là yếu chỉ của kinh, tín nguyện là hạnh
thuộc về Huệ, trì danh là hạnh thuộc về Phước). Học
tập kinh này, trước hết phải nhận biết chánh xác mới
hòng nhận thức chánh xác, hiểu rõ ràng. Ở phần trên, tôi
đã báo cáo cùng quý vị sự thù thắng của bản kinh này,
mười phương chư Phật cùng tán thán! “Tuyệt đối viên
dung, siêu tình ly kiến, chẳng thể nghĩ bàn”. Tông chỉ trọng
yếu của bản kinh này là giềng mối để ta học tập, trong
nhà Phật nói: Cương lãnh tu hành, tổng nguyên tắc tu hành
chính là “tín nguyện trì danh” hay Tín - Nguyện - Hạnh.
Tín - Nguyện là Huệ, tức là thiện căn như đã nói ở phần
trên. Trì Danh là phước! Người chịu niệm Phật là có phước.
Không thể niệm Phật là vì sao? Vì bạc phước! Đúng là
có không ít người dạy họ niệm một câu Phật hiệu sáu
chữ “nam mô A Di Đà Phật”, thậm chí đơn giản hơn là
bốn chữ A Di Đà Phật, họ cũng chẳng niệm được. Nếu
chẳng nghiên cứu, thảo luận kinh điển thì chúng tôi chẳng
nói; nhưng nếu nghiên cứu, thảo luận kinh điển, tự bản
thân chúng ta phải hiểu rõ, phải biết rõ tình trạng đó
là tướng trạng bạc phước; ta thường nói là “không có
phước báo”. Trong mười hai thời, chấp trì danh hiệu; đó
là phước báo thù thắng khôn sánh, phước báo hiếm có trong
thế gian. Chúng ta thấy có rất nhiều người cùng khổ, suốt
ngày miệng chẳng lìa A Di Đà Phật, tay chẳng lìa xâu chuỗi,
một ngày niệm mười vạn tiếng. Niệm rất siêng lẹ! Tôi
nghe nói trước khi vãng sanh độ hai, ba tháng, lão cư sĩ Hoàng
Niệm Tổ mỗi ngày niệm Phật mười sáu vạn câu. Ngài là
một vị Kim Cang Thượng Sư bên Mật Tông, lúc lâm chung nhất
tâm niệm Phật, nêu khuôn phép, làm gương cho chúng ta, chúng
ta phải biết như thế. Đấy là Ngài đại từ đại bi thị
hiện.
Các
vị chú tâm suy nghĩ, có phước báo thế gian, xuất thế gian
nào lớn hơn phước báo niệm Phật chăng? Quý vị tìm không
ra. Ai là người có phước báo? Nếu chú tâm quan sát, đó
là người “tay chẳng lìa xâu chuỗi, miệng chẳng lìa Phật
hiệu”. Người như vậy phước báo lớn nhất. Vì sao biết?
Người ấy trong một đời sanh về thế giới Cực Lạc làm
Phật, ai bằng người ấy được? Đừng nói là thế gian không
ai sánh bằng, Đại Phạm Thiên Vương, Ma Hê Thủ La Thiên Vương
trên trời cũng không cách gì sánh bằng được! Đại Phạm
Thiên Vương, Ma Hê Thủ La Thiên Vương còn là phàm phu trong
sáu đường, chưa ra khỏi lục đạo, chẳng niệm Phật! Người
ấy chịu niệm Phật, vãng sanh ngay trong một đời này; thật
sự hiểu rõ, thật sự minh bạch, thật sự giác ngộ, quyết
định tu tập pháp này. Trong thế gian này dù có cho họ vinh
hoa, cho họ hưởng thọ thế nào, người ấy đều chẳng thích
thú. Hứng thú, chí hướng của người ấy là sống qua ngày
tháng, chắc thật niệm Phật! Đấy phải là người chân chánh
giác ngộ, triệt để giác ngộ mới có thể làm được như
vậy!
Thế
gian đã loạn quá, cụ Lý Bỉnh Nam nói rất hay: “Dù Phật,
Bồ Tát, thần tiên đến cũng cứu không được!” Dù chúng
ta có tâm đại từ bi, nói trắng ra là tâm có thừa nhưng
sức chẳng đủ, trong tình huống ấy, biết làm sao đây? Toàn
tâm trì danh niệm Phật, quyết định vãng sanh bất thoái thành
Phật! Bởi thế, trong thế gian này thọ mạng dài ngắn không
cần đếm xỉa tới, hết thảy đều tùy duyên. Buông xuống
vạn duyên, nhất tâm niệm Phật, tự độ, độ người. Chính
mình đã thành tựu, người khác trông thấy, học tập theo,
mình bèn hóa độ người khác. Bây giờ đối với pháp môn
này, chúng ta có tín nguyện kiên định như thế; chẳng phải
là từ xưa đến nay có rất nhiều người niệm Phật thành
tựu, nêu gương cho ta thấy, đó gọi là “chứng truyền”.
Họ chứng minh, chứng minh sự việc này là thật, chẳng giả.
Chúng ta thấy rõ ràng, nghe minh bạch, mới bèn kiên định
tín nguyện, mới hòng buông xuống vạn duyên, chuyên tu, chuyên
hoằng. Chuyên tu và chuyên hoằng chỉ là một việc, chẳng
phải hai; chuyên tu là chuyên hoằng, chuyên hoằng chính là
chuyên tu. Phải nhớ kỹ, phải hiểu rõ cương lãnh này. Tiếp
đây, tôi trích lục mấy câu hết sức trọng yếu, đều là
những câu trích từ sách Yếu Giải.
“Được
vãng sanh hay không, toàn là do tín nguyện có hay không? Phẩm
vị cao hay thấp, toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Có được
vãng sanh hay không do tín nguyện quyết định, tín nguyện có
nghĩa rất sâu. Quý vị thật sự tin tưởng, thật sự phát
nguyện, tự nhiên quý vị rất lãnh đạm đối với thế gian
này. Thấy thế gian này như thế nào? Coi như một cuộc lữ
du, nơi này như lữ điếm, như lữ quán. Tốt cũng được,
không tốt cũng xong, ở đôi ba ngày rồi đi. Chỗ này chẳng
mảy may liên quan gì đến ta, nó có chủ nhân, ta là khách
đi đến. Tự nhiên quý vị có ý tưởng ấy; bởi thế đối
với hết thảy mọi sự trong thế gian này, quý vị tuyệt
đối chẳng để tâm.
Thế
nhân có rất nhiều người niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ,
suốt đời niệm Phật rốt cuộc chẳng thể vãng sanh, là
vì nguyên nhân nào? Quý vị nói họ chẳng tin ư? Họ rất
tin tưởng, tin rất kiền thành. Quý vị nói họ chẳng có
nguyện ư? Suốt ngày miệng cầu sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới; vì sao chẳng đến được? Vì xen tạp! Xen tạp
thế duyên chẳng buông xuống được! Trong tâm kẻ ấy vướng
mắc, đến lúc lâm chung vướng mắc chẳng dứt, bị chúng
lôi lại! Duyên do là như vậy. Khi xưa thầy Lý rất cảm khái
nói: “Vạn người niệm Phật, thật sự được vãng sanh
chỉ có hai, ba người mà thôi!” Trong một vạn người chỉ
có hai, ba người, chín ngàn chín trăm chín mươi bảy người
kia chẳng được vãng sanh.
Chúng
ta phải hiểu nguyên nhân vì sao chẳng được vãng sanh, đó
là vì tâm có vướng mắc. Vì sao tâm họ có vướng mắc?
Chẳng thật sự tin, nguyện chẳng chân, hành chẳng hết sức,
luống uổng một đời, chỉ tăng cường được chủng tử
tịnh nghiệp trong A Lại Da Thức, đến khi nào lại gặp được
duyên phận để tiếp nhận tu tập thật rất khó nói! Chắc
chắn là có lần sau, nhưng lần sau ấy thời gian dài hay ngắn,
khó nói lắm. Có kẻ lui sụt bèn lui sụt mấy đời, có kẻ
lui sụt bèn lui sụt cả mấy kiếp, đáng sợ lắm! Nếu quý
vị hỏi là do nguyên nhân gì ư? Thiện Đạo đại sư nói
rất rõ: “Gặp duyên bất đồng”. Phải biết: Được thân
người, nghe Phật pháp, gặp được pháp môn Tịnh Độ, đúng
là trăm ngàn vạn kiếp khó gặp gỡ, là một ngày khó gặp
gỡ từ vô lượng kiếp đến nay.
Mọi
người chúng ta cũng là một ngày khó gặp trong vô lượng
kiếp, ngày hôm nay chúng ta được gặp. Gặp được mà chẳng
biết quý tiếc, chẳng biết nghiêm túc nỗ lực tu tập, đáng
tiếc lắm! Cơ hội, người thế gian thường nói là “bỏ
lỡ là rồi”, chẳng biết năm nào, tháng nào, ngày nào mới
gặp lại. Phàm những người có thành tựu thế gian hay xuất
thế gian, người thành công, chẳng có bí quyết mầu nhiệm
chi khác, chỉ là nhận biết cơ hội, chụp lấy cơ hội bèn
thành tựu. Người chẳng nhận biết cơ hội, hoặc nhận biết
cơ hội nhưng không chịu chụp lấy, đều thất bại! Chẳng
thể buông thế duyên xuống được! Buông xuống không có nghĩa
là mặc kệ, chẳng quan tâm tới. Quý vị thấy điều gì phải
quan tâm cứ quan tâm, nhưng đồng thời lại buông xuống, diệu
như thế đó! Đấy là gì? Là trí huệ. Người thế gian nếu
đã quan tâm bèn bận lòng, chẳng buông xuống được. Vì nguyên
nhân nào? Vì tình chấp, họ có tình chấp.
Sao
Phật, Bồ Tát vừa quan tâm, vừa chiếu cố, lại buông xuống
được? Các Ngài có trí huệ, trí huệ chân thật, hoàn toàn
chuyển tình chấp thành trí huệ, ta thường nói là “trí
huệ viên mãn rốt ráo”. Phương tiện thiện xảo thù thắng
diệu tuyệt, nói như người hiện tại là thủ đoạn khéo
léo cao độ. Trong nhà Phật gọi thủ đoạn khéo léo cao độ
là “phương tiện thiện xảo”. Trong tâm chẳng vướng mắc
mảy may gọi là “buông xuống”. Lại đại từ đại bi phổ
độ chúng sanh, dù phổ độ chúng sanh nhưng tâm chẳng có
mảy may nhiễm trước, đấy là diệu dụng của tánh đức.
Đức
Phật thường dạy chúng ta: Loại diệu dụng trí huệ ấy
chẳng phải chỉ riêng một cá nhân nào có, mà hết thảy
chúng sanh ai nấy đều sẵn có. Trọn chẳng phải chỉ mình
Phật, Bồ Tát mới có, không phải vậy! Vì sao nay các Ngài
có, chúng ta không có? Các Ngài giác, ta còn mê. Giác chẳng
có chướng ngại, lý sự vô ngại, sự sự vô ngại. Mê thì
nơi nào cũng thành chướng, chốn chốn đều là chướng ngại.
Chúng ta cam bề chịu mê, mê mất tự tánh. Chân tướng sự
thật ấy chúng ta chẳng thể không biết. Nay Phật, Bồ Tát
giúp chúng ta, giúp điều gì? Phá mê khai ngộ! Chư Phật Như
Lai, Pháp Thân Bồ Tát giúp hết thảy chúng sanh phá mê khai
ngộ là công đức bậc nhất, không gì có thể thù thắng
hơn được, không gì tốt hơn được nữa. Đó là lợi ích
chân thật rốt ráo viên mãn, là sư đạo.
Trong
kinh Phật dạy “ơn thầy vượt trỗi ơn cha mẹ”, vị thầy
vừa nói đó chẳng phải là những thầy giáo thông thường
trong thế gian. Những vị thầy thế gian, trong tâm tưởng người
Trung Quốc chúng ta thường xem như cha mẹ. Ân đức thầy lớn
như ân đức cha mẹ, tương đương, bằng với ân cha mẹ.
Nhưng những vị thầy được nói trong Phật pháp chính là
chư Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát, ân đức các Ngài vượt
trỗi ân đức cha mẹ; vì sao? Ân đức cha mẹ đối với chúng
ta là ân đức một đời; nhưng chư Phật Như Lai, Pháp Thân
Bồ Tát đối với chúng ta có ân đức vĩnh hằng, đời đời
kiếp kiếp vĩnh viễn chiếu cố, vĩnh viễn quan tâm. Chỉ
cần ta có một điểm giác ngộ, các Ngài chẳng lìa bỏ, liền
nhanh chóng đến giúp đỡ, mong mỏi một điểm giác ngộ ấy
được khuếch đại, trở thành sâu hơn. Ân đức ấy cả
thế gian lẫn xuất thế gian không gì sánh bằng được!
Do
đây biết rằng: Nói trên mặt hiện thực, công đức lợi
ích thù thắng bậc nhất là gì? Là giúp cho chúng ta TIN pháp
môn này, nguyện sanh Tịnh Độ. Đấy là đức bậc nhất,
là đại sự bậc nhất của hết thảy Như Lai độ chúng sanh.
Chúng sanh căn tánh chưa chín muồi thì không có cách nào hết.
Chưa thành thục thì Phật, Bồ Tát chưa giới thiệu pháp môn
này. Quý vị phải biết: Giới thiệu cho quý vị các pháp
môn khác là chuyện bất đắc dĩ! Bởi vậy, Thiện Đạo đại
sư nói một câu mà chúng tôi cho khắc thành ấn chương. Ngài
nói: “Sở dĩ Như Lai xuất hiện trong thế gian chỉ nhằm
để nói biển bổn nguyện Di Đà”. Câu nói này thật hay.
Hết thảy chư Phật Như Lai, hết thảy Pháp Thân Bồ Tát thị
hiện trong chín pháp giới của hết thảy cõi nước trọn
khắp pháp giới hư không là vì lẽ nào? Vì thành thật nói
cùng quý vị, vì giúp cho quý vị tin có Tây Phương Cực Lạc
thế giới, tin có A Di Đà Phật tiếp dẫn chúng sanh, tin chính
mình có duyên vãng sanh cõi Phật. Giúp cho quý vị tin tưởng
sự việc ấy, giúp cho quý vị phát nguyện, giúp cho quý vị
niệm Phật!
Do đây biết rằng: Chư Phật Như Lai hóa độ chúng sanh chỉ
có một môn là pháp môn Tịnh Độ, một môn như vậy. Nếu
với một môn này quý vị có chướng ngại, chẳng thể tiếp
nhận, có nghi hoặc, có hứng thú khác thì Phật luôn hằng
thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức, Phật tuyệt đối chẳng
miễn cưỡng. Thiện căn, phước đức, nhân duyên của quý
vị chưa thành thục, miễn cưỡng cũng vô ích! Chẳng những
miễn cưỡng vô tác dụng, mà phải nói thật là: Miễn cưỡng
còn tạo thành chướng ngại bất lợi. Chẳng miễn cưỡng,
quý vị thích học điều gì bèn dạy cho học điều đó. Thích
Thiền dạy Thiền, thích Mật dạy Mật, thích Giáo dạy Giáo,
thích Giới Luật bèn dạy Giới Luật, thích môn gì dạy môn
đó. Do đây biết rằng: Tất cả hết thảy pháp môn, tám
vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng pháp môn là phụ; pháp
môn cốt lõi của hết thảy pháp môn, pháp môn chủ chốt
là niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ.
Bởi thế, quý vị thấy trong kinh Vô Lượng Thọ, Thích Ca
Mâu Ni Phật tán thán A Di Đà Phật. Thích Ca Mâu Ni tán thán
là thay mặt cho mười phương ba đời hết thảy chư Phật
Như Lai tán thán, tán thán A Di Đà Phật “tôn quý nhất trong
các quang minh, là vua của các Phật”, tán thán đến cùng
cực. Chúng ta nghe hết thảy chư Phật tán thán A Di Đà Phật
như thế mà vẫn còn nghi hoặc, chẳng thể hạ quyết tâm,
vẫn chẳng thể buông xuống muôn duyên, đấy chẳng phải
là nghiệp chướng sâu nặng thì là gì vậy? Nghiệp chướng
sâu nặng đấy!
Kinh Bát Nhã giảng thế gian rất rõ ràng: “Phàm tất cả
hình tướng đều là hư vọng”, “hết thảy pháp hữu vi,
như mộng, huyễn, bọt, bóng”. Người thông minh, người có
trí huệ phải lắng tịnh, phải chú tâm quán sát, nhìn thấu
suốt thế giới. Vì sao nói là hư vọng, là mộng, huyễn,
bọt, bóng? Lời Phật nói là đúng, Phật giảng cho chúng ta
chân tướng vũ trụ. Trong kinh điển Đại Thừa chúng ta thường
đọc thấy trong cảnh giới của Như Lai, của Pháp Thân Bồ
Tát, các Ngài thấy mười phương các cõi Phật như ở ngay
trước mắt. Mười phương các cõi Phật ở tại đâu? Ở
ngay trước mắt, chẳng xa cách gì.
Chẳng phải như nay ta đối trước màn ảnh máy truyền hình,
lúc chúng ta đối trước màn ảnh máy truyền hình, họ chẳng
nghe thấy chúng ta nói, chúng ta có câu hỏi gì cũng không hỏi
họ được. Trong cảnh giới của các Ngài, ta thấy mười
phương chư Phật, mười phương chư Phật không đến đây,
ta cũng không đi qua đó, nhưng ở ngay trước mặt là điều
chắc chắn! Có thể nắm tay! Có thể trò chuyện! Điều đó
nói lên điều gì? Cho thấy trong Nhất Chân pháp giới không
có không gian, ta muốn thấy Phật quá khứ, chư Phật cũng
như đang ở ngay trước mặt; chúng ta muốn thấy Phật vị
lai, vẫn là như ở ngay trước mặt. Trong cảnh giới ấy,
chẳng có không gian, chẳng có thời gian, nên gọi là Nhất
Chân. Nếu có quá khứ, hiện tại, vị lai thì là ba chẳng
phải một; có xa - gần thì là hai chẳng phải một. Chẳng
có hai, ba, nên gọi là Nhất Chân Pháp Giới.
Hiện tại, các nhà khoa học dùng số học suy tính bèn nhận
thấy “chẳng có thời gian, chẳng có không gian” là điều
hoàn toàn có khả năng. Trong một điều kiện nào đó, thời
gian và không gian hoàn toàn tiêu mất, đấy chính là điều
kinh Phật thường nói, thường gọi là “chân tướng sự
thật”. Ngoài ra, họ còn phát hiện Hữu là từ Vô biến
hiện ra, trong Vô sanh Hữu. Thật ra, đạo lý này kinh Bát Nhã
đã giảng quá nhiều rồi: “Sắc tức là Không, Không tức
là Sắc, Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc”. Sắc
là Hữu, Không là Vô, Hữu do đâu mà có? Từ Vô sanh Hữu.
Bởi thế, cái Vô ấy chẳng thể nói là cái gì cũng đều
không có! Cái gì nó cũng có, lại còn hết sức viên mãn.
Đó là gì vậy? Là tự tánh! Kinh Phật gọi là “pháp nhĩ
như thị” (pháp vốn là như vậy), đó là đức năng của
tự tánh, chúng ta thường nói “tự tánh vạn đức vạn năng”.
Kỳ thật, ai cũng biết nói “vạn đức vạn năng”, nhưng
không ai thật sự hiểu được ý nghĩa. Thế nào là vạn đức
vạn năng? Vốn chẳng có, cái gì cũng không có, lại có thể
biến hiện hư không, biến hiện thế giới, biến hiện vạn
vật, đó là vạn đức vạn năng. Cái có khả năng, có khả
năng hiện được kinh Hoa Nghiêm gọi là “duy tâm sở hiện,
duy thức sở biến”. Thức vẫn là tự tánh. Bởi thế, Chân
Như bản tánh là vạn đức vạn năng, có khả năng hiện,
có khả năng biến. Chân Như bản tánh cái gì cũng không có,
nhưng có thể hiện ra vạn pháp, biến hiện toàn thể vũ trụ.
Hiện tại các nhà khoa học cũng khẳng định, họ nói toàn
thể vũ trụ lúc chưa biến hiện thì giống như thế nào?
Toàn thể vũ trụ co rút, đậm đặc, cô đặc lại thành một
lạp tử (lepton) rất bé. Bé đến mức độ nào? Các nhà khoa
học nói bé đến mức nhổ một sợi tóc, đem sợi tóc đó
cắt ngang; nơi mặt cắt ngang đó, ta có thể xếp khít những
lạp tử bé tí. Mỗi lạp tử bé tí ấy là vũ trụ co rút
lại. Nơi mặt cắt ngang của một sợi tóc ấy, có thể xếp
được bao nhiêu hạt nhỏ ấy? Họ nói sau con số một trăm
vạn, phải thêm ba chữ Ức, tức là một trăm vạn ức ức
ức; hết sức nhỏ bé! Mỗi một lạp tử ấy có thể biến
thành đại thế giới. Phương pháp tính toán của họ là dùng
số thập phân. Sau dấu phẩy có ba mươi ba con số zero, lạp
tử nhỏ bé như vậy đó lại biến hiện thành thế giới
lớn như thế đó.
Trong kinh đức Phật dạy tự tánh không lớn nhỏ; phát hiện
khoa học nói trên đã chứng minh kinh Hoa Nghiêm. Ở phần trên
tôi đã nói qua, trong vi trần có thế giới, Phổ Hiền Bồ
Tát có thể vào được. Vi trần ấy nhỏ đến đâu ta chẳng
có cách gì tưởng tượng được, kính hiển vi hiện thời
chưa thấy được. Mặt cắt ngang của sợi tóc chứa được
một trăm vạn ức ức ức lạp tử bé xíu như thế, xếp
theo hàng ngang, xếp kín mặt cắt ngang của một sợi tóc.
Các nhà khoa học nói những thứ ấy sau một cơn bùng nổ
lớn (Big Bang) sẽ biến thành thế giới.
Thế giới này, tức thế giới chúng ta đang cảm nhận đây,
biến hiện ra như thế nào? Hiện thời khoa học gia cũng phát
hiện thế giới này chẳng phải là tiến hóa (phát triển
từ từ), họ gọi là “nhất thời đốn hiện”, đột nhiên
hiện ra. Cách giải thích ấy rất giống với kinh Hoa Nghiêm.
Rất giống! Hãy nhớ những gì đức Phật thường hay bảo
chúng ta, bốn câu kệ trong kinh Kim Cang là:
Hết thảy pháp hữu vi,
Như
mộng, huyễn, bọt, bóng,
Như
sương cũng như chớp,
Phải
thường quán như vậy!
Chúng
ta thấy những điều các nhà khoa học nói giống như kinh Hoa
Nghiêm đã nói, đúng là nhất thời đốn hiện. Cái nhất
thời ấy là lúc nào? Nhất thời đó là “đương hạ” (ngay
trong lúc ấy). Chẳng phải là quá khứ. Không có quá khứ
cũng không có vị lai; ấy chính là “đương hạ”. Việc
này rất khó hiểu. Trước hết, chúng tôi dùng huyễn đăng
phiến (1) [để tỷ dụ]. Trong quá khứ, ở Hoa Tạng Đồ Thư
Quán hình như có ba cái máy chiếu huyễn đăng phiến (projector).
Lúc ấy, chúng tôi có khoảng chừng sáu, bảy ngàn tờ, rất
có thể có đến cả vạn tờ huyễn đăng phiến; rất nhiều
lúc chúng tôi dùng chúng trong giảng dạy. Huyễn đăng phiến
là một tấm màng trong suốt, chúng tôi bỏ vào máy, liền
thấy hiện hình toàn bộ trên màn chiếu, nhất thời đốn
hiện! Chẳng có trước - sau, chẳng có xa - gần, thời gian,
không gian đều chẳng có, nhất thời đốn hiện một trang.
Trang thứ hai đặt lên rồi, trang đầu tiên biến mất ngay,
trang thứ hai lại nhất thời đốn hiện! Quý vị hãy nghĩ
kỹ lời tôi vừa nói đó, hãy nghĩ đến cảnh giới ấy.
Máy chiếu huyễn đăng phiến chạy bằng điện, quý vị ấn
nút một cái bèn đổi được một trang, trang thứ ba đưa
lên thì trang thứ hai bèn mất. Trang thứ ba nhất thời đốn
hiện, mỗi trang đều nhất thời đốn hiện. Hiện tượng
ấy, chúng ta nghĩ kỹ xem, có phải là như đức Phật đã
nói trong kinh Lăng Nghiêm: “Đương xứ xuất sanh, tùy xứ
diệt tận” (Ngay nơi đây sanh ra, cũng từ nơi đây diệt
mất) chăng? Huyễn đăng phiến chiếu nhanh chậm tùy ý chúng
ta. Nếu ta thấy ảnh đó nhìn rất đẹp, xem hai ba phút mới
qua trang khác; không đẹp, chừng mấy giây liền đổi qua trang
khác, đều là nhất thời đốn hiện.
Sau đó, chúng ta lại tăng tốc độ nhanh hơn, quý vị thấy
đó là điện ảnh. Trong quá khứ ở Hoa Tạng, chúng tôi có
một cái máy chiếu phim tám ly (mm); hình như có một máy chiếu
phim, hai máy quay phim, ra rửa ảnh bên ngoài rồi đem về chiếu
lại. Toàn bộ thiết bị chúng tôi đều có. Lúc đó, chúng
tôi tự chiếu, tự mình cắt ghép phim rồi chiếu cho mọi
người xem. Máy chiếu phim tám ly có hai tốc độ: Tốc độ
chậm một giây chiếu được mười tám tấm ảnh; tốc độ
nhanh một giây chiếu được hai mươi bốn tấm. Quý vị tưởng
tượng xem: Những hình ảnh hiện trên màn bạc, mỗi một
tấm (vì tốc độ chiếu nhanh) lọt vào ống kính, bèn nhất
thời đốn hiện, lập tức hiện hình, rồi biến mất. Chiếu
qua tấm thứ hai có phải là tấm thứ nhất “tùy xứ diệt
tận” hay không? Đương xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận,
chẳng phải là hiện tượng đó hay sao? Đấy là chân tướng
vũ trụ. Bởi thế, nhất thời đốn hiện là hiện tiền,
chẳng phải là quá khứ, cũng chẳng phải là vị lai.
Thế giới được cảm nhận bởi sáu căn của chúng ta trong
hiện tại cũng giống như các nhà khoa học nói, nhưng dùng
phim gì? Tấm phim rất nhỏ, trong mặt cắt ngang của một sợi
tóc có thể xếp kín một trăm vạn ức ức ức, tốc độ
chiếu rất nhanh, đại khái là một ức vạn phần của một
giây, chẳng phải là một phần hai mươi bốn giây, mà là
một phần vạn ức giây, thế giới hiện tiền của chúng
ta là như vậy đó! Đương xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận.
Bởi thế, kinh Kim Cang nói: “Như lộ diệc như điển” (như
sương cũng như chớp), điển là “thiểm điển” (ánh chớp),
ví cho cái gì rất nhanh (chứ thật ra, tốc độ của chớp
còn chậm nhiều lắm). Rất nhanh, làm sao phàm phu chúng ta biết
được? Đức Phật nói: Phải là Bát Địa Bồ Tát mới thấy
được chân tướng của những hiện tượng ấy !
Các nhà khoa học hiện thời chẳng thể thấy được, chỉ
từ số học mà tính toán ra, chứ không thấy. Nếu thấy được
phải là Bát Địa Bồ Tát. Cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn,
nếu quý vị thật sự thấu hiểu chân tướng của sự thật,
há còn tham luyến thế giới này chăng? Há còn khởi tâm động
niệm nơi thế giới này chăng? Thật đấy! Vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước thảy đều đoạn hết. Vì sao thế giới
này biến hóa nhiều như thế? Những biến hóa ấy đó là
do vọng tưởng, chấp trước, phân biệt thúc đẩy; những
thứ đó khiến cho tất cả hết thảy hiện tượng phát sanh
phản ứng. Biến hóa là do đạo lý ấy. Trong Nhất Chân pháp
giới vì sao chẳng có những phản ứng đó? Trong Nhất Chân
Pháp Giới, chư Phật, Bồ Tát đều đã giác ngộ, thảy đều
không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Vì thế, cảnh
giới của họ vĩnh hằng bất biến, chân thật viên mãn, chẳng
có một chút khuyết hãm nào; đạo lý là đây!
Chúng ta hy vọng khoa học không ngừng phát triển, sẽ chứng
thực hết thảy mọi điều kinh Phật đã nói. Họ chứng thực
được, nhưng họ chẳng nhập cảnh giới. Vì sao chẳng nhập
cảnh giới? Do chẳng đoạn vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước. Đoạn được vọng tưởng, phân biệt, chấp trước
rồi, họ liền khế nhập cảnh giới, mới thấy được chân
tướng sự thật. Bởi vậy, kiến lập tín tâm không dễ,
tín tâm kiến lập, nguyện tâm kiến lập, hành tâm kiến lập,
triệt để liễu giải chân tướng sự thật, sẽ giải quyết
được vấn đề. Nếu quý vị chẳng triệt để liễu giải
chân tướng sự thật ấy, vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước chẳng đoạn được, sẽ bèn có chướng ngại. A! Nay
đã đến giờ rồi.
*
Chư vị đồng học!
Chúng ta coi tiếp tiểu tiết thứ nhất trong đoạn lớn thứ
nhất của phần Chánh Tông. Chúng ta đọc qua một lượt, tiểu
đoạn thứ nhất là: “Tín nguyện trì danh là yếu chỉ kinh
này, tín nguyện là Huệ hạnh, trì danh là phước hạnh. Được
vãng sanh hay không, hoàn toàn do có tín nguyện hay không”.
Lần trước, chúng tôi đã giảng đến chỗ này, hãy xem tiếp
đoạn dưới đây:
“Phẩm vị cao hay thấp, hoàn toàn do trì danh sâu hay cạn.
Tín nguyện để dẫn đường, trì danh là chánh tu”. Chúng
tôi sẽ giảng đoạn này. Tín - Nguyện - Hạnh có thứ tự,
đặc biệt là đối với hàng Sơ Học. Trước hết, chúng
ta phải phát khởi được tín tâm, tín tâm thật sự chẳng
dễ dàng. Ở trên, chúng tôi đã nói khá nhiều, không điều
nào chẳng nhằm khiến cho chúng ta phát khởi tín tâm đối
với Phật pháp, liễu giải chân tướng nhân sanh vũ trụ.
Hiện nay đã chứng thực khoa học thật sự hết sức hữu
hạn. Đối với sự tướng, lý luận ở một mức độ sâu
hơn, khoa học chẳng có cách nào để giải thích được cả.
Ví như nói đến sự trang nghiêm nơi y báo, chánh báo của
mười pháp giới, khoa học không có cách nào giải thích được.
Các nhà khoa học biết trong vũ trụ này tồn tại những chiều
không gian khác biệt; sự trang nghiêm nơi y báo, chánh báo của
mười pháp giới chính là tình trạng thuộc về những chiều
không gian khác biệt, khoa học không có cách nào hiểu được.
Thù thắng hơn cảnh giới của chúng ta là thiên đạo. Trong
thiên đạo có cõi trời Dục Giới, có Sắc Giới thiên, có
Vô Sắc Giới thiên. Ngoài lục đạo lại còn có Thanh Văn,
Duyên Giác, Bồ Tát, Phật; dưới đó lại có ngạ quỷ, súc
sanh, địa ngục. Trong súc sanh lại phức tạp hơn nữa! Hiểu
biết của chúng ta hết sức hữu hạn! Bởi thế, theo nhận
định của Phật pháp, tri thức khoa học nói trắng ra, thật
hết sức hữu hạn, thật chẳng đáng để nói tới!
Một nhà khoa học chân chánh có thái độ rất rõ ràng, điều
gì ông ta chứng thực được bèn tin tưởng, điều gì chẳng
thể chứng thực, chẳng dám nói là không có. Vì sao? Khoa học
kỹ thuật vẫn còn đang tiến bộ không ngừng. Trong quá khứ,
có những nhà khoa học tưởng những gì mình phát hiện là
chân lý; chẳng ngờ không lâu sau, các nhà khoa học lớp sau
lại có những phát hiện mới, phải thay đổi những định
luật. Tình trạng như thế rất nhiều. Bởi vậy, nhà khoa
học thông minh trong hiện tại luôn nói những chân lý được
phát hiện chỉ là tạm thời, nói như vậy rất thông minh.
Sau này lại có những phát hiện mới, những phát hiện mới
vượt trỗi hơn. Những điều áo diệu trong vũ trụ không
có giới hạn, sâu không đáy, rộng vô biên, còn đợi con
người từ từ phát hiện ra. Dùng kỹ thuật khoa học, phương
pháp cơ giới thì những gì quý vị nghiên cứu được vẫn
là hữu hạn. Kinh Phật dùng “nhất thời” để nghiên cứu,
hiện tại đều chẳng tách rời “nhất thời”, đạt đến
cực hạn.
“Nhất thời” được nói trong Phật pháp chỉ có thể duyên
A Lại Da Thức, chứ không thể duyên Chân Như tự tánh. Bởi
vậy, đối với Chân Như tự tánh đức Phật chỉ nói gọn
một câu “chẳng thể nghĩ bàn”. Chẳng thể nghĩ là chẳng
thể dùng cái tâm ý thức để hiểu rõ nó; chẳng thể bàn
là chẳng thể dùng ngôn ngữ để trình bày rõ rệt được.
Đối với chân tướng sự thật, ngôn ngữ chỉ có năng lực
hữu hạn, không diễn tả được nổi. Năng lực tư duy cũng
hữu hạn, quý vị tư duy, suy nghĩ cũng có mức giới hạn
tột cùng. Cái giới hạn tột cùng nằm trong A Lại Da Thức.
Chân Như bản tánh chẳng phải là A Lại Da thức, quý vị
duyên không được. Bởi vậy, trong lúc ấy, tất cả hết
thảy phương pháp khoa học vô tác dụng.
Điều này do tiên sinh Phương Đông Mỹ bảo tôi. Nhân vì trước
kia tôi ở Đài Loan, Đạo An pháp sư chủ trì Phật Giáo Hội.
Trung Quốc Phật Giáo Hội Đại Chuyên Giảng Tòa mời tôi
đảm nhiệm vai trò tổng chủ giảng. Tôi rất mong mở được
lớp Nhân Minh trong phân ban của chúng tôi. Nhân Minh là la-tập
(logic), thuộc biện chứng pháp, cũng thuộc vào phương pháp
khoa học. Chúng tôi rất hy vọng mời được tiên sinh Phương
Đông Mỹ đến giảng môn học này. Tôi đến tìm cụ, Phương
tiên sinh nói: “Phật pháp giảng đến một mức độ cao thì
môn này vô dụng. Nhân Minh, biện chứng pháp, la-tập thảy
đều vô ích”. Không sai! Cụ nói chẳng sai chút nào. Trong
Phật pháp ở trình độ cao, đúng là chúng vô dụng. Giảng
những môn đó cho ai? Cho hàng sơ học. Với sơ cấp, trung cấp
còn có ích, chứ với cao cấp thành vô dụng. Họ vượt khỏi
rồi, những môn ấy đều thuộc về phương pháp luận của
khoa học. Vì thế, sau này chúng tôi không mở lớp đó.
Phật pháp cao cấp dùng gì? Dùng Thiền Định, dùng tâm thanh
tịnh. Thiền có nghĩa là “tịnh lự”, Tịnh là Chỉ, Lự
là Quán. Bởi vậy, Thiền còn gọi là Chỉ Quán. Chỉ là buông
xuống, Quán là thấy thấu suốt. Buông bỏ vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước, quý vị sẽ thấy được chân tướng
sự thật. Tất cả phương pháp luận thế gian hay xuất thế
gian đều chẳng lìa khỏi ý thức. Nguyên nhân thật sự vì
sao bản chú giải Lăng Nghiêm Chánh Mạch của Giao Quang đại
sư có mặt cũng là vì đạo lý này. Kinh Lăng Nghiêm do tôn
giả Bát Lạt Mật Đế truyền sang Trung Quốc vào cuối đời
Võ Tắc Thiên. Kinh Lăng Nghiêm phiên dịch xong nhằm thời vua
Đường Trung Tông. Kinh được phiên dịch xong, tất cả chú
sớ, giảng giải đều dùng nguyên lý, nguyên tắc Tam Chỉ
Tam Quán của tông Thiên Thai để giải thích.
Giao Quang đại sư là người đời Minh, đồng thời với Liên
Trì đại sư. Ngài cho rằng cách suy nghĩ trên (tức là cách
dùng Tam Chỉ Tam Quán để giải thích kinh Lăng Nghiêm) chẳng
phải là chỉ thú của kinh Lăng Nghiêm ; bởi lẽ, Tam Chỉ
Tam Quán là dùng Ý thức, chẳng lìa khỏi tâm ý thức. Bởi
vậy, lão nhân gia chủ trương ứng dụng giáo nghĩa “xả
Thức dùng Căn” của bản thân kinh Lăng Nghiêm, chẳng dùng
đến thức thứ sáu là Ý Thức. Dùng gì? Dùng căn tánh của
lục căn. Cách thuyết pháp này chánh xác, chứng minh được.
Giao Quang cũng là người niệm Phật, cầu sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới. Đại khái, thọ mạng Ngài đã hết, A Di Đà
Phật đến tiếp dẫn, Ngài thấy A Di Đà Phật, thưa cùng
A Di Đà Phật: “Kinh Lăng Nghiêm là một bộ kinh trọng yếu
trong Đại Thừa Phật pháp, điều hết sức đáng tiếc là
từ cổ đến nay, rất nhiều người chú giải bộ kinh này,
đều chẳng thật sự nắm được chỉ thú”. Ngài muốn viết
một bộ chú giải mới, “xin A Di Đà Phật cho phép con nay
tạm thời chẳng đi, đợi khi con chú giải bộ kinh này xong
xuôi, sẽ lại vãng sanh Cực Lạc thế giới”. A Di Đà Phật
chấp thuận, Phật liền đi. Câu chuyện này được ghi trong
Lời Tựa của sách Lăng Nghiêm Chánh Mạch, chúng tôi tin tưởng
Giao Quang đại sư chẳng dối người, chẳng bịa ra câu chuyện
ấy.
Xả Thức dùng Căn, nói thật chẳng sai, nhưng khó quá, không
ai có thể tu được! Dùng phương pháp Tam Chỉ Tam Quán, người
căn tánh trung hay thượng làm được, vẫn còn có thể tu học
được. Nếu bỏ Thức dùng Căn thì giống như Thiền Tông,
người thượng thượng căn mới hành được; chẳng phải
thượng thượng căn chẳng có phần. Kinh Lăng Nghiêm giảng
chân tướng nhân sanh vũ trụ; bởi vậy, nó là một bộ kinh
rất nổi danh trong Phật môn. Từ cổ, tổ sư đại đức nói:
“Kinh Lăng Nghiêm khai trí huệ bậc nhất, thành Phật là kinh
Pháp Hoa”, hai câu nói ấy, mọi người học Phật đều biết.
Kinh Lăng Nghiêm khai trí huệ, vì sao nói thành Phật là kinh
Pháp Hoa?
Bởi lẽ, trong quá khứ, trong rất nhiều kinh, đức Phật đều
nói Nhất Xiển Đề chẳng thể thành Phật. Nhất Xiển Đề
là gì? Nhất Xiển Đề dịch nghĩa sang tiếng Tàu là “người
không có thiện căn”, hoặc dịch là “người đoạn thiện
căn”. Không có thiện căn làm sao thành Phật được? Đấy
là điều đức Phật thường nói. Nhưng trong hội Pháp Hoa,
Phật lại nói Nhất Xiển Đề cũng có Phật tánh, Nhất Xiển
Đề cũng có thể thành Phật, tức là “không một ai chẳng
thể thành Phật”. Ý nghĩa này tương ứng với câu kinh Hoa
Nghiêm: “Tình và vô tình đều viên mãn Chủng Trí”. Kẻ
ngũ nghịch thập ác, tạo tội ác cùng cực trong thế gian
đều có Phật tánh, chẳng thể nói kẻ ấy tội ác lớn cùng
cực, chẳng thể thành Phật được! Chẳng có đạo lý ấy!
Kẻ ấy có Phật tánh, nếu kẻ ấy gặp duyên cũng thành Phật.
Thiện Đạo đại sư nói tuyệt diệu: “Đều do gặp duyên
bất đồng”. Kẻ ấy chưa gặp duyên bèn tạo tội nghiệp,
phải chịu quả báo, quả báo cũng có ngày xong. Khi nào xong
hết quả báo? Không nhất định, nghĩa là sao? Nếu kẻ ấy
giác ngộ thì tội báo đó tiêu diệt; nếu kẻ ấy chẳng
giác ngộ thì vẫn còn tội báo phải thọ. Giống hệt như
nằm mộng, gặp ác mộng khổ ghê lắm, nhưng nếu tỉnh giấc,
mộng ấy không còn nữa. Khi nào kẻ ấy tỉnh mộng? Tỉnh
mộng rất nhanh thì thọ tội rất ngắn, lìa khổ rất nhanh.
Nếu tỉnh mộng chậm, thọ tội lâu dài.
Bởi vậy, người tội đại cực ác đọa A Tỳ địa ngục,
lúc nào sẽ thoát ra không nhất định! Tùy thuộc lúc nào
người ấy giác ngộ, lúc nào sám hối, hồi đầu, tự thật
sự biết mình lầm. Do một niệm sám hối ấy, Phật tánh
bột khởi. Vì thế, trong kinh giáo, Phật thường chỉ dạy
chúng ta đừng coi thường kẻ ác, vì sao? Rất có thể kẻ
ấy thành Phật trước chúng ta, ta phải làm đệ tử kẻ ấy,
rất có khả năng! Sức sám hối chẳng thể nghĩ bàn! Thật
sự biết sai, thật sự hồi đầu, ngạn ngữ Trung Quốc có
câu: “Lãng tử hồi đầu kim bất hoán” (lãng tử quay đầu,
vàng chẳng đổi). Bởi vậy, tín nguyện trọng yếu hơn bất
cứ điều gì.
Chúng tôi hết sức kính ngưỡng Giao Quang đại sư, tán thán
Ngài là một vị đại thiện tri thức. Viên Anh pháp sư suốt
đời nghiên cứu kinh Lăng Nghiêm. Qua truyện ký viết về Ngài,
chúng tôi thấy năm hai mươi lăm tuổi, Ngài hết sức thích
thú kinh Lăng Nghiêm, lập chí chuyên công, đến bảy mươi
lăm tuổi, hoàn thành Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa, nay rất
phổ biến. Chúng tôi xem kỹ bản ấy, hơn sáu phần mười
lý luận trong ấy dựa theo sách Lăng Nghiêm Chánh Mạch, cho
thấy Ngài chịu ảnh hưởng sách Lăng Nghiêm Chánh Mạch rất
sâu. Nay chúng tôi học Lăng Nghiêm, học theo sách Giảng Nghĩa
của Viên Anh pháp sư. Tốt! Ngài là người cận đại, văn
tự khá đơn giản, rõ ràng; Giao Quang đại sư là người đời
Minh, văn tự đúng là sâu hơn. Nhất là trong thời hiện tại,
chúng ta coi thường văn học cổ Trung Quốc, không có căn bản
Hán học, đọc những tác phẩm của cổ nhân khá khó khăn.
Học kinh Lăng Nghiêm phải bắt đầu từ sách Giảng Nghĩa
của pháp sư Viên Anh, sau đấy mới đọc chú giải của cổ
nhân. Quý vị phải có cơ sở trước rồi quý vị đọc chú
giải của ngài Giao Quang, ngài Trường Thủy. Kinh Lăng Nghiêm
chú giải rất nhiều, những chú giải trứ danh có hai mươi,
ba mươi loại. Kinh Lăng Nghiêm khai trí huệ! Nhưng những vị
đại gia, thiện tri thức ấy tối hậu đều cầu sanh Tịnh
Độ. Giao Quang đại sư vãng sanh Tịnh Độ. Quý vị thấy
Tam Cầu Đường của Viên Anh Pháp Sư: “Cầu phước, cầu
huệ, cầu sanh Tịnh Độ”. Bậc thật sự có trí huệ, có
kiến địa, chẳng một ai không cầu sanh Tịnh Độ.
Vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, trong kinh Vô Lượng
Thọ chúng ta đọc được rất nhiều về Tây Phương Cực
Lạc thế giới. Trong quá khứ, chúng tôi đã giảng mười
lần bản hội tập của lão cư sĩ Hạ Liên Cư. Lần này giảng
ở Tân Gia Ba là lần thứ mười một, vẫn chưa giảng xong.
Cứ cách một, hai tháng, chúng tôi lại phải qua Tân Gia Ba
giảng tiếp. Lần này, chúng tôi chẳng bị hạn chế thời
gian, có thể nói tường tận, các đồng tu bên ấy thích nghe,
nghe giảng Đại kinh khoảng chừng một hai ngàn người. Kinh
Vô Lượng Thọ cho chúng ta biết bốn cõi, ba bậc, chín phẩm,
phẩm vị trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Do đâu hình
thành phẩm vị cao thấp? Ngẫu Ích đại sư nói: “Hoàn toàn
do trì danh sâu hay cạn”. Ngài nói vậy có lý chăng? Có đạo
lý! Còn như bốn cõi, ba bậc, chín phẩm, Thiện Đạo đại
sư bảo là “đều do gặp duyên bất đồng”, Ngẫu Ích đại
sư bảo “hoàn toàn do trì danh sâu hay cạn”. Lời hai vị
đại sư nói chẳng hề mâu thuẫn, mà có thể bổ túc lẫn
nhau. Trì danh sâu hay cạn cũng chính là nói quý vị có niệm
Phật được hay không? Đúng là gặp duyên bất đồng. Vì
sao? Nếu quý vị gặp được thiện tri thức chân chánh, dạy
cho quý vị phương pháp chẳng giống nhau. Duyên trọng yếu
nhất là thầy! Quý vị học với ai? Công phu tu hành của người
đó như thế nào? Kế đó là đồng học. Đồng học cũng
là duyên hết sức trọng yếu. Bạn đạo đồng tham khích
lệ lẫn nhau, thiết tha dùi mài. Kế đến là hoàn cảnh học
tập. Đó đều là gặp duyên bất đồng.
Trong hoàn cảnh, đại hoàn cảnh là quả địa cầu chúng ta
đang sống, hoàn cảnh kế đó là khu vực chúng ta đang sanh
sống, hoàn cảnh nhỏ hơn nữa là đạo tràng. Thiện duyên
giúp ích cho chúng ta tu học. Duyên bất thiện thường dẫn
dụ, phát khởi những tập khí phiền não trong A Lại Da Thức
của chúng ta, những duyên ấy là bất thiện! Thiện duyên
là gì? Những gì có thể hóa giải phiền não tập khí, tăng
trưởng đạo tâm, tăng trưởng Tín - Nguyện - Hạnh, đó là
duyên thù thắng. Bởi vậy, hết thảy duyên đều thù thắng,
hết thảy đều đạt được chẳng phải là một chuyện dễ.
Chúng tôi thấy rất nhiều người lúc mới học rất giỏi,
học chừng đâu mười năm, thậm chí hai mươi năm sau, ba mươi
năm sau, gặp phải chướng duyên, bèn buông bỏ, chẳng còn
học pháp môn này nữa, xoay sang pháp môn khác. Những người
như vậy rất nhiều, tại trong nước lẫn ngoài nước thấy
rất nhiều, há chẳng phải là gặp duyên bất đồng ư?
Hoàn cảnh tối căn bản là sư thừa, anh không có sư thừa,
hoặc chẳng gặp được thầy giỏi, chẳng có lòng tin đối
với thầy, trí huệ chẳng khai, làm việc theo cảm tính, chẳng
chống đỡ nổi dụ dẫn, mê hoặc, nhà Phật gọi những điều
đó là “ma chướng”, anh gặp phải ma chướng. Nhìn từ
nhân quả, chúng ta hiểu rõ ma chướng có nghĩa là trong đời
đời kiếp kiếp quá khứ có lầm lỗi, toàn là mình chướng
ngại người ta, đời này mình tu đạo, lại gặp phải người
ta đến chướng ngại mình, oan oan tương báo mãi không xong!
Vì vậy, thiện căn chân chánh dù là pháp thế gian hay xuất
thế gian đều kiến lập trên cơ sở hiếu đạo. Thiện căn
chân chánh là hiếu đạo. Việc này khó lắm! Một đời chúng
tôi gặp rất nhiều chướng ngại, thử thách rất nhiều,
bị đả kích rất nhiều, vẫn có tín tâm, vẫn có nguyện
tâm, vẫn chẳng lui sụt, vẫn có thể tinh tấn nỗ lực, là
do nguyên nhân nào? Do thật sự lúc nhỏ có chút cơ sở. Cơ
sở ấy chẳng phải là khi học tiểu học, mà là khi học
ở trường tư, lúc nào? Lúc sáu, bảy tuổi, trong khoảng thời
gian đó, thầy dạy học trò hiếu thuận cha mẹ, cha mẹ dạy
con cái tôn sư trọng đạo, có căn cơ từ đó. Nếu bây giờ
chúng tôi chẳng tôn kính thầy, chẳng xem trọng đạo nghiệp,
chúng tôi biết mình có lỗi đối với cha mẹ, chẳng dám!
Đấy là như cổ nhân Trung Quốc thường nói: “Thiếu thành
nhược thiên tánh, tập quán thành tự nhiên” (Lúc nhỏ tập
thành thiên tánh, theo thói quen trở thành tự nhiên): Giáo dục
lúc nhỏ ảnh hưởng cả một đời! Một đời tôi được
một chút thành tựu đều là do lúc nhỏ, lúc đó học đâu
chừng hai năm, còn sống ở quê nhà. Sau này học ở trường,
sự giáo dục trong trường dạy những điều này rất ít!
Bởi thế Ấn Quang đại sư nói rất hay: “Có thành tựu hay
không là do thành kính”. Chân thành, cung kính, “một phần
thành kính được một phần lợi ích, mười phần thành kính
được mười phần lợi ích”. Nếu chẳng thành chẳng kính,
chẳng đáng bàn tới nữa! Nói cách khác, chẳng thành tựu
gì! Bởi thế, chúng tôi có thể chịu đựng được đả kích,
chịu đựng được thử thách; người khác tranh, chúng tôi
nhường, người khác chửi chúng tôi, sỉ nhục chúng tôi,
chúng tôi quyết chẳng đáp trả. Người khác đánh chúng tôi,
chúng tôi nhất định không đánh trả. Kinh luận dạy chúng
ta: “Chẳng những không có tâm oán hận mà còn phải có tâm
cảm ơn”. Cảm cái ơn gì? Ơn tiêu nghiệp chướng. Họ hủy
báng tôi, nhục mạ tôi, vì sao họ chẳng hủy báng người
khác, chẳng nhục mạ người khác, chỉ tìm tôi? Nếu tôi
có thần thông, tôi sẽ biết chuyện trong đời quá khứ, rất
có thể trong quá khứ tôi đã đối xử với kẻ ấy như vậy,
ngày nay họ đối với tôi như vậy là đền trả. Lần lượt
đền trả, người hiểu biết cứ tiếp nhận sẽ hóa giải
được. Đời sau, đời kế gặp nhau nữa bèn thành bạn tốt,
báo xong rồi!
Chẳng nên tranh, chẳng nên có tâm oán hận. Có một chút tâm
oán hận, oan kết ấy vĩnh viễn tồn tại, sẽ biến thành
gì? Oan oan tương báo chẳng xong, vậy là không được rồi!
Đời đời cả hai bên đều đau khổ, đó là sai lầm vô cùng.
Người giác ngộ, người hiểu biết chẳng tạo chuyện tồi
tệ ấy. Vì vậy, giữ gìn cõi lòng mình thanh tịnh, quyết
định chẳng mê, quyết định chẳng loạn, quyết định chẳng
điên đảo, vĩnh viễn trong tình trạng trong lặng, tỉnh thức,
chúng ta chịu đựng quả báo. Chịu đựng quả báo, nghiệp
chướng bèn tiêu! Nghiệp chướng tiêu rồi, trí huệ liền
hiện tiền. Pháp thế gian hay xuất thế gian chẳng ra ngoài
lệ đó. Bởi vậy, công phu trì danh sâu hay cạn vẫn cần
phải có trí huệ, vẫn cần có thiện tri thức chỉ dạy.
Trong đây, để có thể tránh được hết thảy chướng nạn
thì điều trọng yếu nhất là phải nhờ vào trí huệ, phải
nhờ vào công phu định lực, phải nhờ vào nhẫn nhục. Thật
sự học theo người tu đạo thời cổ, làm một người có
học vấn, vĩnh viễn tuân giữ “không tranh cùng người, không
cầu nơi sự”.
Vì thế, Ấn Quang pháp sư dạy con người hiện tại chúng
ta: Nếu các đồng học chí đồng đạo hợp cùng tu một chỗ,
số người chẳng được quá hai mươi người, đạo tràng
quy mô nhỏ. Tại Trung Quốc, trước kia chúng tôi nói ở am
tranh rất tốt. Cuộc sống rất đơn giản, ít người! Chẳng
cần hóa duyên, chẳng phải lôi kéo tín đồ, chẳng cần phải
làm pháp hội, không làm kinh sám Phật sự, Phật thất suốt
năm, đả Phật thất theo cách thông thường, Phật thất suốt
năm! Nỗ lực tu! Nếu thật sự có thể tu học theo đúng phương
pháp ấy của Ấn Quang Đại Sư, tôi tin tưởng sâu xa rằng
trong vòng từ ba năm đến năm năm, hai mươi người ấy thảy
đều vãng sanh.
Nếu quý vị nghe lời đó mà run sợ là không được rồi!
Trong vòng từ ba năm đến năm năm phải chết ư? Thôi đi!
Không tu nữa! Vậy là không có cách gì hết! Vì sao? Mục đích
của quý vị chẳng phải là cầu vãng sanh ư? Thế giới Cực
Lạc tốt như vậy, ở đây khổ nạn quá chừng, bên kia không
khổ nạn. Do đây biết rằng: Quý vị chỉ nói cái miệng
là vãng sanh; chứ thật ra, tâm quý vị tham sống sợ chết,
chẳng thể thành tựu nổi! Cụ Lý nói một vạn người tu,
thật sự chỉ có hai ba người vãng sanh rất có lý. Hai ba
người đó thật sự muốn đi, còn đại đa số miệng nói
muốn vãng sanh, nhưng mong sống ở đây đến trăm tuổi, hai
trăm tuổi, họ không muốn đi, không còn cách nào nữa cả!
Nói tóm lại, những chuyện như thế vẫn là gặp duyên bất
đồng, chẳng gặp được thiện tri thức chân chánh, chẳng
gặp được sự chỉ dạy chân chánh, tự mình vẫn mê chứ
không giác, đối với duyên thế gian vẫn tham luyến rất sâu,
nên công phu niệm Phật chẳng đắc lực! Bởi thế, người
chân chánh tu hành trong hiện tại, chí đồng đạo hợp, đồng
tham đạo hữu tìm được hai ba người, nói thật ra là rất
khó! Tìm đâu được hai mươi người? Tìm không ra! Nói thật
đó!
Thích Ca Mâu Ni Phật đầu tiên độ năm vị tỳ-kheo tại vườn
Lộc Dã, kể cả chính Ngài là sáu người. Sáu người đồng
tâm đồng đức có thể lập giáo, chí đồng đạo hợp. Bởi
thế, trong quá khứ tôi đã từng nói: Vào thập niên 70, Tẩy
Trần pháp sư ở Hương Cảng đến Đài Loan tìm tôi, cùng
tôi thảo luận cách nào hưng vượng Phật giáo. Tôi bảo pháp
sư: “Muốn hưng vượng Phật giáo thì phải có người chân
chánh phát tâm, chân tâm cầu đạo”. Tôi nói: Bao nhiêu người?
Năm người là được rồi! Thích Ca Mâu Ni Phật năm người
lập giáo. Nay có được năm người thì có thể hưng giáo;
nhưng năm người ấy hành trì nhất định phải học theo Thích
Ca Mâu Ni Phật, phải thực hành chế độ khất thực. Ngày
nay ngủ dưới gốc cây, chúng ta chẳng cần phải cất đạo
tràng nào; tôi nói năm người đó du hóa nhân gian. Lúc ấy
tôi đề nghị: “Chúng ta ở trong một cái lều tranh nhỏ,
mỗi một người sống một lều, năm người thôi!”
Những cái lều hiện tại, quý vị thấy lều của lộ doanh
đồng tử quân hết sức gọn nhẹ, mỗi một cái lều (tôi
đã hỏi rồi) dùng được ba năm. Năm người sống vây quanh
dưới gốc cây, là một Tăng đoàn nhỏ. Ngày ăn một bữa,
đi khất thực. Chúng tôi làm như vậy, nhất định có thể
xin được một bát cơm. Mỗi ngày một bát cơm là được
rồi, trở về năm người chúng ta cùng nghiên cứu kinh giáo,
niệm Phật. Tăng đoàn như thế nhất định có thể hưng vượng
Phật giáo. Lúc ấy, pháp sư rất có hứng thú, tôi nói: “Thầy
về Hương Cảng trù bị. Lúc nào trù bị sẵn sàng, tìm được
năm người, tôi nhất định đến tham gia”. Sư trở về bên
đó, dần dần bặt tin tức, tìm đâu ra năm người chịu ăn
uống khổ sở, thật sự có thể buông xuống được? Chẳng
dễ đâu!
Bởi thế, hiện thời chúng tôi có một đạo tràng nhỏ như
thế này, đạo tràng nhỏ này cũng là gặp duyên bất đồng.
Hàn quán trưởng sáng lập Hoa Tạng Đồ Thư Quán, cả một
đời tôi chẳng có ý niệm tạo dựng đạo tràng. Hoa Tạng
Đồ Thư Quán do bà ta lập, chúng xuất gia ở Đồ Thư Quán
cũng do bà tuyển chọn. Thâu được nhiều vị xuất gia như
thế xong, bà bèn tịch. Bà tịch rồi, tôi chẳng thể không
coi sóc. Nếu tôi chẳng coi sóc là có lỗi với bà. Thành tựu
của tôi chính là thành tựu của bà, tôi thất bại chính
là bà thất bại; mọi người đều hiểu như vậy. Bà hộ
trì tôi suốt ba mươi năm, tôi mới có thành tựu như ngày
nay, mở được một chút trí huệ, có nhận biết đôi chút
đối với Phật pháp. Chúng tôi cảm cái ơn của bà, nay ở
đây kiến lập được đạo tràng thế này, đạo tràng được
to lớn như thế này cũng là quá vượt phận. Nhưng so với
đạo tràng của bà, đạo tràng chúng tôi vẫn là đạo tràng
nhỏ. Bởi thế, hết thảy kiến thiết làm đến đây là thôi,
chúng tôi hạ quyết tâm nghiên cứu kinh, niệm Phật!
Kinh Vô Lượng Thọ và Di Đà Yếu Giải là nguyên tắc chỉ
đạo tối trọng yếu của chúng ta. Vì thế, hai câu tiếp
đó: “Tín nguyện để dẫn đường, trì danh là chánh tu”.
Chánh tu không phải là giảng kinh, chánh tu là niệm Phật.
Giảng kinh giúp cho chúng ta tin sâu nguyện thiết, khiến cho
chúng ta có nhận thức chánh xác đối với y báo, chánh báo
trang nghiêm của Tây Phương Cực Lạc thế giới, của thế
giới Sa Bà đang sống và của mười pháp giới khắp hư không
pháp giới. Tuyển chọn ổn thỏa nhất là tuyển chọn Tây
Phương Tịnh Độ. Nếu quý vị chẳng thể nhận biết, trong
tâm có nghi hoặc: Còn có pháp môn nào tốt hơn pháp môn này,
còn có thế giới nào lý tưởng hơn thế giới Cực Lạc,
tâm sẽ chẳng thể buông xuống được! Quý vị phải hiểu
rõ, phải minh bạch, chết lòng trọn ý tu hành pháp môn này.
Tiếp đó là: “Lúc trì danh, tâm như Phật, nguyện như Phật,
giải như Phật, hành như Phật, thì một niệm tương ứng
một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”.
Đó gọi là Niệm Phật, đó gọi là Trì Danh. Trì Danh tuyệt
đối chẳng phải là miệng có tâm không, tâm quý vị có phải
là tâm Phật hay chăng? Phật là tâm gì? Mười năm trước,
chúng tôi đã nêu rõ: “Chân thành tâm, thanh tịnh tâm, bình
đẳng tâm, chánh giác tâm, từ bi tâm”. Chúng ta có những
tâm ấy hay không? Những tâm ấy là tâm Phật. Tuy những thứ
đó là tâm Phật, nhưng tâm A Di Đà Phật còn thù thắng hơn
nữa. Thù thắng ở chỗ nào? Thù thắng tại bốn mươi tám
nguyện. Bốn mươi tám nguyện tổng kết: Niệm niệm vì cứu
độ hết thảy chúng sanh. Cứu độ bằng cách nào? Niệm niệm
giúp cho hết thảy chúng sanh cầu sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, đấy là tâm A Di Đà Phật.
“Chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi”
là tâm hết thảy chư Phật, chúng ta có hay không? Nếu chẳng
có cái tâm ấy, niệm Phật chẳng tương ứng! Bởi thế quý
vị công phu chẳng đắc lực, suốt ngày vẫn suy nghĩ bậy
bạ, tâm chẳng thanh tịnh, ngu si, chẳng có trí huệ, tự tư
tự lợi, chẳng từ bi, cái ải đầu tiên không vượt qua
được. Niệm Phật như thế chỉ là một loại thiện căn,
chẳng thể dễ dàng vãng sanh trong một đời. Bởi vậy, đầu
tiên là “tâm phải như Phật”. Nay đã hết giờ rồi, buổi
học hôm nay giảng đến đây thôi!
*
Chư vị đồng học!
Xin xem tiếp đoạn Tín Nguyện Trì Danh trong cuốn A Di Đà Kinh
Nghiên Tập Báo Cáo, chúng tôi giảng đến: “Lúc trì danh,
tâm như Phật, nguyện như Phật, giải như Phật, hành như
Phật, thì một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm
tương ứng niệm niệm Phật”. Ở trên, tôi đã thưa cùng
quý vị, tâm chúng ta vốn là tâm Phật, đáng buồn là chính
ta tự mê mất nên mới luân lạc phàm phu, luân lạc lục đạo
bao kiếp chẳng thể xuất ly, càng mê càng lún sâu, càng hãm
càng khổ trong ấy. Nếu trong một đời này chúng ta chẳng
nghe đến Phật pháp, làm sao hiểu được chuyện ấy? Chẳng
biết chân tướng sự thật ấy, sao có thể quay đầu? Đấy
là một vận hên lớn nhất trong đời này, là duyên phận
thù thắng khôn sánh, nghe được Phật pháp, nghe được pháp
môn Tịnh Độ, đấy chẳng phải là chuyện dễ dàng gì!
Không ít Bồ Tát, Thanh Văn trong thế gian này muốn nghe được
pháp môn này nhưng chẳng có cơ hội. Chính như đức Thế
Tôn đã nói trong kinh Vô Lượng Thọ, mỗi một vị đồng
học chúng ta trong vô lượng kiếp đến nay đã kết pháp duyên
rất sâu dầy với A Di Đà Phật, nên trong một đời này mới
có cơ hội gặp gỡ. Kết pháp duyên rất sâu, nhưng vì sao
vẫn chẳng thể vãng sanh? Pháp duyên dù sâu vẫn chưa đủ,
trong kinh, đức Thế Tôn đã dạy chúng ta: “Chẳng thể dùng
chút thiện căn, phước đức, nhân duyên để sanh về cõi
ấy”. Chữ “ít” thông cả ba câu, tức là chẳng thể ít
thiện căn, ít phước đức, ít nhân duyên. Nói cách khác,
thiện căn phải nhiều, phước đức phải nhiều, nhân duyên
phải nhiều thì một đời này nhất định được vãng sanh.
Ba điều kiện ấy thiếu một điều không được, đều thành
chướng ngại!
Làm thế nào để đầy đủ cả ba điều kiện trên trong một
đời này? Câu hỏi này rất hợp lý. Thật ra, có đủ ba điều
kiện ấy hay không, tự mình biết, thiện tri thức biết, thậm
chí quỷ thần cũng biết. Nói chung, quỷ thần có Ngũ Thông,
họ thấy được. Chuyện đó không quan trọng, quan trọng nhất
là chính mình. Chính mình làm sao biết? Tổ sư đại đức
thường nói: Quý vị có chân tín hay không? Chân tín thì tư
tưởng, kiến giải, hành vi tự nhiên khác rất nhiều với
lúc chưa gặp Phật pháp! Lòng tin chân thành!
Quý vị có thật sự nguyện được sanh về thế giới Cực
Lạc hay không? Nếu thật sự nguyện sanh thế giới Cực Lạc,
hết thảy người, sự, vật trong thế gian này quý vị tự
nhiên buông xuống hết. Nếu quý vị không buông được, chỉ
cần một sự chưa buông được, cái nguyện của quý vị chẳng
chân. Có chân tín, chân nguyện, lại phải coi quý vị có chân
hạnh hay không! Nếu quý vị thật sự niệm Phật, coi niệm
Phật là chuyện quan trọng nhất trong một đời này, biến
niệm Phật thành chuyện quan trọng nhất trong suốt một ngày
từ sáng đến tối. Việc xảy đến phải làm, đành để
Phật hiệu xuống, chuyên tâm làm việc. Lúc xong việc, buông
công việc xuống, Phật hiệu lại đề khởi, thật sự niệm!
Tịnh Tông Học Viện chúng ta đề xướng kinh giáo; kinh giáo
là chuyện chúng tôi phụ thêm, chẳng phải là quy tắc chánh,
chỉ là phụ thuộc! Phải phân định chủ - khách rõ ràng;
bởi lẽ kinh giáo không phải là chuyện ai cũng có thể học
được, chính mình phải hiểu rõ điều này, muôn vàn chẳng
được điên đảo! Vãng sanh là chuyện lớn! Chúng ta học
kinh giáo ở đây là chính mình có đủ thiện căn, phước
đức, nhân duyên kinh giáo nên quý vị học được. Chẳng
hoài nghi kinh giáo, hiểu được kinh giáo thì có hai điều
kiện trọng yếu: Một là ký ức, hai là giải ngộ. Quý vị
thật sự nhớ được kinh giáo là trí nhớ tốt. Trước kia,
thầy Lý bảo chúng tôi: “Nghe pháp sư giảng kinh, nghe xong,
anh nhắc lại một lần, anh có khả năng giảng được tối
thiểu sáu phần. Anh có năng lực ấy thì có thể học kinh
giáo được. Không có năng lực ấy thì tùy hỷ. Vì sao? Không
có năng lực đừng miễn cưỡng quá phận, học chẳng thành
công!”
Khi xưa, lúc tôi cầu học ở Đài Trung, tôi quen biết pháp
sư Huệ Nhẫn là một người rất thông minh. Nếu vị này
thật sự khéo học, trong tương lai sẽ thành một nhân tài
giảng kinh hoằng pháp. Tôi giới thiệu ông ta đến Đài Trung,
thầy Lý gặp mặt cũng rất hoan hỷ. Ông ta lớn hơn tôi chừng
năm tuổi, cùng tuổi với Hàn Quán Trưởng, xuất gia từ nhỏ,
chưa từng học kinh giáo, nghe tôi giảng kinh hết sức hoan
hỷ. Tôi nói: “Chúng ta cùng đến học với nhau”. Đến
Đài Trung, tôi học Lăng Nghiêm với thầy Lý, khi đó thầy
Lý đang giảng kinh Lăng Nghiêm. Chúng tôi học từ đầu, còn
ông ta thầy dạy được một nửa mới đến học, tôi khuyên
ông học một bộ kinh nhỏ, đừng học Lăng Nghiêm. Lăng Nghiêm
lớn quá! Tôi bảo ông ta: “Tôi đã nghe thầy Lý giảng hơn
ba mươi bộ kinh nhỏ”. Nói cách khác, tôi đã có hơn ba mươi
bộ kinh nhỏ làm cơ sở, hễ nghe qua bộ nào một lần tôi
đều có thể giảng được.
Tôi từng bảo các vị đồng học tôi có khả năng phúc giảng
lại chín mươi lăm phần trăm, tôi có khả năng ấy. Có trí
nhớ như vậy, cũng như có khả năng hiểu. Tôi khuyên ông
nên học dần dần từ những kinh nhỏ, theo học từng bộ;
ông ta chẳng vui lắm, nghĩ tôi coi thường ông ta: “Ông học
Lăng Nghiêm, sao tôi không học được?” Vậy là hết cách,
chịu thôi! Đương nhiên căn tánh mỗi người không giống
nhau, cũng có thể ông ta căn tánh cao hơn tôi, tôi chẳng bằng
được ổng. Tôi từ kinh nhỏ tiến lên dần dần, ổng vừa
bắt đầu đã học ngay kinh lớn, thật bất phàm!
Huệ Nhẫn pháp sư hết sức dụng công, ngày đêm chẳng gián
đoạn nghe thầy giảng kinh. Thấy chú giải của cổ nhân bèn
dùng làm tài liệu tham khảo, mỗi tối đều học đến hai,
ba giờ sáng. Tôi thấy ông ta thật dũng mãnh tinh tấn, được
khoảng mười tháng, thân thể suy sụp. Có một buổi tối
đang xem kinh, bỗng thấy tối đen, không thấy gì nữa cả.
Đến hôm sau, sư bảo tôi vì dụng công quá độ, không có
cách nào, đành phải rời Đài Trung lên Đài Bắc. Ông ta xuất
gia từ nhỏ, xướng niệm hết sức hay. Khi đó, trong số những
pháp sư trẻ tuổi giỏi xướng tụng, ông cũng là người
có hạng. Do giỏi dùng pháp khí, ông đi làm pháp hội, làm
kinh sám Phật sự. Làm độ hai năm, dành dụm được không
ít tiền, mua một ký nhi viện (nhà giữ trẻ) ở vùng Mộc
San thuộc Đài Bắc. Người ta muốn bán ký nhi viện ấy, ông
ta liền mua ngay, lập một tiểu đạo tràng, gọi là Pháp Tạng
liên xã. Đến Đài Trung bảo tôi: “Nay tôi có đạo tràng,
thỉnh thầy lên Đài Bắc giảng kinh”. Tôi nói: “Tốt lắm!
Chúng ta là bạn bè cũ mà!”
Lúc ấy, ông ta bảo tôi: “Tôi hối hận không nghe lời ông.
Nếu tôi bắt đầu từ những kinh nhỏ, học dần dần từng
bộ, há cũng chẳng thành công ư?” Đúng vậy! Khi đó, tôi
đã đề nghị, khuyên chỉ ông ta lời hay, tuyệt đối chẳng
coi thường ông ta. Học tập pháp thế gian hay xuất thế gian
đều có thứ tự, từ cạn đến sâu, từ bộ nhỏ sang bộ
lớn mới không mất sức vì dụng công quá độ. Vị pháp
sư ấy hình như mấy năm trước, độ chừng bốn năm năm
trước đã vãng sanh tại Hương Cảng. Về sau, ông ta qua Hương
Cảng, chúng tôi rất ít qua lại với nhau.
Bởi thế, học kinh giáo phải có điều kiện học kinh giáo.
Mục đích trọng yếu nhất của việc học kinh giáo là tự
mình đoạn nghi sanh tín. Tôi đề xuất “tâm, nguyện, giải,
hạnh”, vì sao chúng ta chẳng được như Phật? Chúng ta chẳng
thể lý giải thấu triệt. Nếu quả thật lý giải thấu triệt
tương đương, tức là đối với chân tướng của nhân sanh
vũ trụ, chân tướng của nghiệp nhân quả báo có trình độ
lý giải tương đương thì đoạn nghi hoặc rồi, chẳng còn
vấn đề gì nữa! Khi trước tôi thường nói: “Các đồng
học niệm Phật, quý vị gặp tôi nêu lên rất nhiều câu
hỏi, tôi dùng một câu chung để đáp, câu gì vậy? Chẳng
chắc thật!” Nếu quả thật quý vị niệm chắc thật, há
còn vấn đề gì nữa? Vấn đề gì cũng chẳng có! Đó là
lời thật. Vì sao chẳng chắc thật? Vọng tưởng quá nhiều,
phân biệt, chấp trước quá nhiều; bởi vậy, quý vị không
chắc thật. Vì sao vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nhiều
đến thế? Vì chưa hiểu rõ chân tướng sự thật.
Do vậy, chúng ta học kinh giáo nhằm mục đích gì? Mục đích
chủ yếu nhất là giúp chính mình đoạn nghi sanh tín, chân
chánh chắc thật niệm Phật, tự mình được thọ dụng, tự
mình có thành tựu! Tôi chẳng giúp chúng sanh sao? Quý vị đã
giúp, nhưng chính mình không hiểu. Tôi giúp như thế nào? Quý
vị đã là tấm gương niệm Phật tốt nhất cho người khác.
Người hữu duyên trông thấy hành vi, ngôn ngữ quý vị, kẻ
ấy sẽ cảm động, giác ngộ. Người vô duyên nhìn chẳng
ra, người hữu duyên nhìn ra: Đây là người chân chánh niệm
Phật!
Bởi vậy, tự hành chính là hóa tha, chúng tôi thường nói
bất luận tại gia hay xuất gia, đệ tử Phật môn niệm niệm,
thời thời, chốn chốn đều phải là gương tốt cho hết
thảy đại chúng trong xã hội. Làm người phải là một con
người tốt, làm gương tốt cho hết thảy mọi người. Những
đồng học tại gia, gia đình mình phải là gương tốt cho
mọi gia đình khác trong xã hội, là gia đình mô phạm. Trong
đạo tràng này, nhất định phải biến đạo tràng này thành
gương mẫu cho hết thảy đạo tràng. Chớ cầu ai hết, phải
cầu chính mình; người khác làm gì chẳng ăn nhập gì mình
cả, nhất là trong thời đại hiện tại, dân chủ, tự do,
cởi mở, mỗi cá nhân có tự do ngôn luận, được tự do
xuất bản. Bởi thế, phải dốc lòng nhớ kỹ giáo huấn của
các cổ đức, ta đối xử với người, quyết định chẳng
thể nói người khác là sai lầm. Nói người sai lầm, gây
thị phi, kết oan cừu, tự mình đã sai mất rồi!
Cổ đức dạy chúng ta: “Tịnh tọa thường nghĩ đến lỗi
mình”. Tự mình phản tỉnh, kiểm điểm, sám hối, sửa đổi
tốt hơn, “nhàm đàm chớ luận người sai đúng”, chẳng
những không nên nói mà hết thảy những điều bất thiện
của người khác đừng ghim vào lòng. Quý vị để tâm là
sai rồi. Tôi thường hay nói như vầy: “Để tâm đến hết
thảy những chuyện bất thiện của người khác, tâm quý vị
biến thành cái thùng rác!” Chuyên môn thâu thập những thứ
phế thải của người ta, tâm ta biến thành thùng rác, tâm
hỏng mất rồi, chẳng còn là tâm Phật nữa, tâm mình sao
biến thành tâm Phật được? Quý vị chuyên môn thâu thập
mọi ngôn luận, mọi đức hạnh của chư Phật Như Lai, tâm
không còn bày biện những thứ gì khác, chỉ toàn trang hoàng
bằng những thứ tốt đẹp của chư Phật Như Lai. Đọc tụng
kinh điển, tư duy ý nghĩa kinh, nghiên cứu làm sao để thực
hiện những gì giáo huấn trong kinh vào cuộc sống, áp dụng
vào công việc, áp dụng vào xử sự, đãi người, tiếp vật.
Đấy là tâm Phật.
Tâm giống Phật, nguyện như Phật, Phật nguyện gì? Nói chung,
các nguyện của mười phương tam thế hết thảy chư Phật,
quy nạp lại, không ngoài bốn nguyện lớn, đức Thế Tôn
gọi là Tứ Hoằng Thệ Nguyện; quy nạp lại chẳng ngoài bốn
nguyện lớn! Bốn mươi tám nguyện của Phật A Di Đà, nếu
quý vị quy nạp lại cũng chẳng ngoài bốn đại nguyện ấy.
Bốn đại nguyện ấy chúng tôi thường nói, thật sự chỉ
gồm một nguyện, chỉ có một điều thôi: “Chúng sanh vô
biên thệ nguyện độ”. Những chúng sanh nào? Chúng sanh trong
chín pháp giới, ai chưa chứng đắc Phật quả đều là chúng
sanh. Độ nghĩa là gì? Nói theo ngôn ngữ hiện tại, độ là
giúp đỡ, thành tựu cho người ấy. Chư Phật Như Lai chỉ
có một nguyện ấy, giúp đỡ hết thảy chúng sanh, chẳng
riêng gì loài người mà cả chúng sanh trong chín pháp giới.
Trong đó bao gồm ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục, bao gồm cả
yêu ma quỷ quái, họ đều là chúng sanh. Quý vị phải giúp
họ thành Phật. Vì sao họ lại biến thành ra như thế? Mê
mất tự tánh, do vậy mới biến thành ra như thế.
Phật đã giác ngộ, đã hoàn toàn hiểu rành hết thảy chân
tướng. Hết thảy chúng sanh có quan hệ gì với mình? Quan
hệ rất mật thiết! Trong kinh điển Đại Thừa chúng ta thường
đọc thấy “tự - tha bất nhị”. Tôi và anh về hình dáng
chẳng giống nhau, nhưng Phật tánh hệt như nhau, cùng một
Phật tánh. Bởi thế, trong kinh điển Đại Thừa đức Phật
nói bao nhiêu lần: “Mười phương tam thế Phật cùng chung
một pháp thân”. Mười phương tam thế Phật bao gồm cả
anh lẫn tôi, loài người chúng ta, thậm chí tất cả chúng
sanh trong lục đạo, ngạ quỷ, địa ngục, hết thảy chúng
sanh đều là vị lai Phật. Nói tam thế là quá khứ Phật,
hiện tại Phật, vị lai Phật; vị lai Phật là hết thảy
chúng sanh hiện tiền, cùng chung một Pháp Thân, “một tâm,
một trí huệ”. Chúng ta thường nói một tâm một đức,
chẳng sai chút nào.
Chúng sanh mê mất tự tánh, chẳng biết chân tướng sự thật,
khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước trong hết thảy
cảnh giới. Từ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước lại
khởi tham - sân - si - mạn. Mê mất tự tánh, càng đi càng
xa. Mê quá lâu, càng mê sâu hơn, chẳng biết quan hệ giữa
mình và chúng sanh, chẳng những ta cùng hết thảy hữu tình
là một thể, với vô tình chúng sanh (như cây cối, hoa cỏ,
sơn hà đại địa) toàn thể vũ trụ đều là Pháp Thân thanh
tịnh của chính mình. Ai biết? Pháp Thân Bồ Tát biết, họ
chứng đắc được. Chứng đắc là hiểu rõ, chẳng còn nghi
hoặc. Bởi thế, họ chủ động giúp hết thảy chúng sanh
vô điều kiện. Tự mình giúp chính mình, tự mình thành tựu
chính mình! Sự nhận biết ấy trong Phật pháp gọi là “đại
triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh”. Hiểu rõ ràng quan
hệ giữa hết thảy người, sự, và vật trong vũ trụ, hiểu
minh bạch; đến lúc đó, nguyện người ấy tự nhiên giống
hệt như nguyện của Phật.
Quý vị muốn độ chúng sanh thì độ bằng cách nào? Phải
biết chúng sanh đang mê, chính mình khai ngộ rồi, giác ngộ
rồi, làm thế nào khiến chúng sanh hồi đầu, giúp họ thành
tựu bằng cách nào? Ba điều nguyện sau chính là phương pháp:
“Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn”. Quý vị phải cho
họ thấy đoạn phiền não như thế nào, họ thấy sẽ giác
ngộ, sẽ minh bạch: Phải làm như thế nào! Bồ Tát sơ học
thì chư Phật Như Lai vì kẻ ấy thị hiện, có đức Phật
nào chẳng thị hiện trì giới trong chín pháp giới? Trì giới
để làm gì? Để đoạn phiền não! Trì giới là phương pháp,
đoạn phiền não là mục đích. Nhân Giới đắc Định, Định
khuất phục được phiền não. Nhân Định khai Huệ, Huệ chuyển
được phiền não, chuyển phiền não là Bồ Tát. Đấy là
công khóa tu hành thứ nhất, tức đức hạnh! Giáo học thế
gian lẫn xuất thế gian đều lấy đức hạnh làm đầu. Quý
vị muốn giúp đỡ hết thảy chúng sanh, bọn họ là chúng
sanh điên đảo mê hoặc, là chúng sanh mê mất tự tánh. Quý
vị muốn giúp đỡ họ, điều trước tiên là phải thành
tựu đức hạnh của chính mình. Nay chúng ta chẳng phải là
Phật, Bồ Tát tái lai; chúng ta xác thực là phàm phu. Phàm
phu thì càng phải làm! Vì sao? Độ chính mình, đoạn phiền
não là thành tựu đức hạnh của chính mình.
Điều này tôi phải học mất năm mươi năm, chẳng phải trong
thời gian ngắn. Thoạt đầu, Chương Gia đại sư dạy tôi,
quả thật lão nhân gia dùng trí huệ chân thật, thiện xảo
phương tiện khiến tôi thay đổi quan niệm, tiếp nhận Giới
học. Nguyên tôi nẩy sanh quan niệm sai lầm nghiêm trọng đối
với Giới học, hết sức ưa thích kinh luận, nhưng đối với
Giới Luật rất coi nhẹ, chẳng buồn để mắt đến. Chương
Gia đại sư lao tâm khổ tứ khiến tôi giác ngộ. Giới Luật
chẳng phải là những khuôn mẫu sanh hoạt thế gian như ta
thường tưởng; nó chính là ranh giới phân chia phàm - thánh,
là khuôn mẫu sanh sống của thánh nhân, chẳng phải của phàm
nhân. Vì vậy, nó vĩnh hằng bất biến, siêu việt không gian
lẫn thời gian. Chúng ta phải hiểu đạo lý này!
Thông thường, Đại Thừa Phật pháp thường nói hai mươi
sáu món phiền não, tức hai mươi sáu loại. Phiền não vô
lượng vô biên; vì để dạy dỗ cho thuận tiện, đức Thế
Tôn quy nạp thành hai mươi sáu loại. Trong hai mươi sáu loại
này, lại chia thành hai loại lớn: thứ nhất là Căn Bản phiền
não, thứ hai là Tùy phiền não. Căn Bản phiền não sáu điều,
Tùy phiền não hai mươi điều. Trong Tùy phiền não lại chia
thành Đại Tùy phiền não, Trung Tùy phiền não và Tiểu Tùy
phiền não. Nếu đoạn được hai mươi sáu loại phiền não
này thì mọi phiền não đều đoạn sạch, khởi công từ đó.
Đặc biệt là căn bản phiền não; sáu điều căn bản phiền
não cũng là sáu loại lớn: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến.
Trong ác kiến lại chia thành năm loại lớn: thân kiến, biên
kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến, tà kiến. Bởi thế,
trong sáu món phiền não, ác kiến lại chia ra thành năm thứ,
trên thực tế thành ra mười điều. Mười điều đó chia
thành Kiến phiền não và Tư phiền não, gọi chung là Kiến
Tư phiền não.
Đức Phật bảo luân hồi lục đạo là do năm món tham, sân,
si, mạn, nghi trong Kiến Tư phiền não biến hiện. Nếu quý
vị thật sự đoạn được Kiến Tư phiền não, sẽ không
còn luân hồi lục đạo nữa. Kiến Tư phiền não chưa đoạn,
vĩnh viễn trong lục đạo luân hồi, lục đạo do đâu có?
Do Kiến Tư phiền não biến hiện thành. Quý vị nếu muốn
vượt thoát lục đạo, đức Phật dạy rất đơn giản: Quý
vị phải bỏ hết những thứ có khả năng biến hiện ra luân
hồi lục đạo thì lục đạo luân hồi sẽ chẳng còn nữa!
Ai làm được? A La Hán làm được. A La Hán đoạn Kiến Tư
phiền não, vượt thoát lục đạo luân hồi.
Trong Chứng Đạo Ca của Vĩnh Gia đại sư có mấy câu:
Mộng lý minh minh hữu lục thú,
Giác hậu không không vô đại thiên.
(Trong mộng rành rành phân sáu nẻo,
Giác rồi ba cõi rỗng toang hoang).
A La Hán giác ngộ rồi, vừa giác ngộ sáu nẻo không còn nữa,
sáu nẻo trống rỗng không còn tam thiên đại thiên thế giới.
Chúng tôi nói thế giới Sa Bà là một đại thiên thế giới,
tức là lục đạo luân hồi. Trong kinh giáo, Phật thường
giảng về tam thiên đại thiên thế giới rất rõ ràng. Tinh
cầu chúng ta đang sống đây trong kinh Phật gọi là Nam Thiệm
Bộ Châu. Tinh cầu này di chuyển trong hư không, xoay chuyển
quanh núi Tu Di. Núi Tu Di là trung tâm. Thái dương, mặt trăng,
rất nhiều tinh cầu đều xoay quanh eo (khoảng giữa) núi Tu
Di. Lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ giảng rất có lý. Quý vị thấy
đó: Chẳng phải là Thái Dương hệ chuyển động trong Ngân
Hà hệ đó ư?
Hoàng lão cư sĩ gọi trung tâm của Ngân Hà hệ là núi Tu Di.
Núi Tu Di chẳng ở trên địa cầu, cũng chẳng thuộc Thái
Dương hệ. Trung tâm của Ngân Hà hệ, thiên văn học cổ Trung
Quốc gọi là Hoàng Cực. Hoàng Cực là núi Tu Di. Chúng ta biết
Hoàng Đạo là quỹ đạo của chín đại hành tinh xoay quanh
mặt trời, chúng ta gọi quỹ đạo ấy là Hoàng Đạo. Trước
kia người ta không biết địa cầu xoay quanh mặt trời, cho
địa cầu là trung tâm, trông thấy các hành tinh (mặt trời,
mặt trăng, các ngôi sao) có quỹ đạo nên gọi là Hoàng Đạo.
Lúc các hành tinh xoay quanh địa cầu, họ phát hiện ra Nam
Cực và Bắc Cực, hoàn toàn lấy địa cầu làm bản vị.
Lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ bảo trên thực tế, Phật đã dạy
trong kinh, nếu quý vị chú tâm quan sát, tư duy, sẽ thấy núi
Tu Di chính là trung tâm của Ngân Hà hệ.
Hiện nay có người nói trung tâm của Ngân Hà hệ là lỗ đen
(black hole), có năng lượng rất lớn, ngay cả ánh sáng chiếu
đến lỗ đen cũng bị nuốt mất. Đến bên nó, chịu ảnh
hưởng bởi dẫn lực, ánh sáng đều bị co rút lại. Năng
lượng lớn như thế đó. Một Ngân Hà hệ như vậy là một
đơn vị thế giới, một ngàn đơn vị thế giới gọi là
một tiểu thiên thế giới. Ở ngay thiên đỉnh của một đơn
vị thế giới (Ngân Hà hệ) là Sơ Thiền Thiên; một Ngân
Hà hệ chỉ có một Sơ Thiền thiên. Như vậy, một ngàn đơn
vị thế giới, tức là một ngàn Ngân Hà hệ, là một tiểu
thiên thế giới. Ở ngay thiên đỉnh của một tiểu thiên
thế giới chính là Nhị Thiền thiên. Một tiểu thiên thế
giới chỉ có một Nhị Thiền Thiên. Tiếp đó, lấy tiểu
thiên thế giới làm đơn vị, hợp một ngàn tiểu thiên thế
giới thành một trung thiên thế giới, trên thiên đỉnh của
trung thiên thế giới là Tam Thiền Thiên. Rồi lại dùng trung
thiên thế giới làm đơn vị, gộp một ngàn trung thiên thế
giới lại, gọi là một đại thiên thế giới, một đại
thiên thế giới chỉ có một Tứ Thiền Thiên.
Vì vậy, lục đạo là thế giới Sa Bà, thế giới Sa Bà là
một tứ thiên hạ, một ngàn Tam Thiền Thiên, một ngàn nhân
một ngàn, thành một trăm vạn Nhị Thiền thiên, lại nhân
cho một ngàn, thành mười ức Sơ Thiền thiên. Vậy thì đơn
vị thế giới là Ngân Hà hệ, phạm vi rất lớn. Chúng ta
độ chúng sanh, tối thiểu phải phát nguyện độ một cõi
như vậy. Sa Bà thế giới là bổn quốc, quý vị phải có
tâm lượng lớn như thế. Quý vị phải dùng tâm lượng ấy
đối với hết thảy chúng sanh. Nếu ai đối với chúng sanh
thấy chẳng thuận mắt, tức là kẻ ấy có thành kiến, chẳng
phải là học Phật, chẳng đoạn được phiền não. Đoạn
phiền não bằng cách nào? Quý vị phải học pháp môn nào?
Nguyện chẳng phải là chuyện dễ! Nay đã hết giờ rồi!
*
Chư vị đồng học!
Chúng tôi lại giảng tiếp về “nguyện đồng Phật”, chẳng
thể giảng quá nhiều, chỉ đơn giản giảng Tứ Hoằng Thệ
Nguyện.
Phải hiểu chánh xác Tứ Hoằng Thệ Nguyện, phải phát nguyện,
phải thực hiện, phải làm được những nguyện đó. Bởi
lẽ, đoạn được Kiến Tư phiền não bèn vượt khỏi lục
đạo, thoát ly biển khổ Sa Bà. Niệm Phật là một pháp môn
nhanh chóng, ổn thỏa, thích đáng, dễ dàng đơn giản, lại
thành tựu thù thắng khôn sánh. Bởi vậy, trong kinh này, đức
Thế Tôn bốn lần khuyên chúng ta cầu sanh Tịnh Độ, một
rồi hai, hai rồi ba, ba rồi bốn lần khuyên, đau lòng rát
miệng như thế, tất cả chúng ta phải nhớ kỹ. Bởi vậy,
chẳng thể không đoạn phiền não, pháp môn chẳng thể không
học. Pháp môn vô lượng thệ nguyện học, nay chúng ta chỉ
học một môn, học để áp dụng, chuyên tu tịnh nghiệp. Ấn
Quang pháp sư thường dùng bốn chữ “chuyên tu tịnh nghiệp”
để khích lệ, khuyến tấn học nhân.
Đối với các kinh luận khác, tôi đã có nói rồi, quý vị
tu Tịnh nghiệp thì phải nắm cho chắc, có nghĩa là nắm chắc
vãng sanh. Nếu quý vị dư nhiều thời gian, nghiên cứu các
kinh giáo khác chẳng trở ngại gì, có thể học được. Nếu
chưa nắm chắc Tịnh nghiệp, quý vị hãy nghĩ xem có nên buông
xuống, chuyên tu hay không? Rất nhiều kinh luận mình chưa học
đến thì làm thế nào đây? Về Tây Phương Cực Lạc thế
giới sẽ học sau, còn trong thế gian này ta không quan tâm đến
chúng; vì sao vậy? Ta là hạng căn tánh trung hạ, ta không có
năng lực.
Nếu quý vị thật sự đủ sức, đủ điều kiện như vậy
thì được! Quý vị học những điều đó để làm gì? Để
giúp đỡ người khác. Trong thế gian này có những người
không thuộc căn cơ Tịnh Độ, họ chẳng thể tiếp nhận
kinh giáo Tịnh Độ. Giống như Thích Ca Mâu Ni Phật, trong một
đời Phật giảng rất nhiều kinh luận, rất phong phú! Bất
luận ai tìm đến, Phật đều có khả năng dạy hết, đúng
như vậy. Chúng ta không có năng lực như Phật, tốt nhất
là ngoan ngoãn nghe lời thâm nhập một môn. Thật sự thông
được một môn; thế nào là thông? Ngộ nhập môn ấy, khai
ngộ, đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh. Trong Tông
môn gọi là “minh tâm kiến tánh”, Giáo Hạ gọi là “đại
khai viên giải”, pháp môn Niệm Phật gọi là “nhất tâm
bất loạn”. Danh từ khác nhau nhưng cảnh giới hoàn toàn
tương đồng, đều là minh tâm kiến tánh, đều cùng một
cảnh giới. Đến lúc ấy cái gì cũng thông. Bởi thế nói:
“Một kinh thông, hết thảy kinh thông”. Quý vị thông suốt
toàn bộ, chẳng có gì quý vị chẳng thể giảng được!
Đến lúc đó, tôi có cần phải giảng hết thảy kinh nữa
hay không? Rất có thể. Hết thảy kinh là để tiếp dẫn các
căn cơ bất đồng, nhưng tự mình thì chuyên tu Tịnh Độ.
Quý vị chẳng tin tưởng ư? Quý vị nhìn vào Văn Thù Bồ
Tát, Phổ Hiền Bồ Tát đi. Văn Thù, Phổ Hiền giáo hóa hết
thảy chúng sanh, pháp môn gì cũng nói, nhưng như quý vị thấy
trong kinh Hoa Nghiêm đó, chính họ phát nguyện cầu sanh Tịnh
Độ, mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Tự mình
nêu gương cho chúng ta thấy, hòng bảo với đại chúng: “Bất
luận tu học pháp môn nào, tối hậu quay về Tịnh Độ là
bậc nhất; bất luận tu học pháp môn nào, phải đem công
đức tu học của mình hồi hướng cầu sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới thảy đều vãng sanh”.
Chúng ta thấy trong khoa phán của Vô Lượng Thọ Kinh, pháp
sư Từ Châu phán định đoạn cuối của phần Ba Bậc Vãng
Sanh là “nhất tâm tam bối”, nghĩa là đoạn kinh ấy nói
về những người tu các pháp môn Đại Thừa khác, chẳng phải
là chuyên tu Tịnh tông. Bất luận tu theo tông phái Đại Thừa
Phật pháp nào, Hiển giáo, Mật giáo, đến cuối cùng đem
công đức đã tu học hồi hướng cầu sanh Tịnh Độ, thì
đều được vãng sanh cả. Pháp môn rộng lớn thay! Trọn chẳng
nhắc tới A Di Đà Phật, chẳng tu pháp môn Tịnh Độ, quý
vị chẳng thể vãng sanh ư? Không phải vậy! Bất luận quý
vị tu học pháp môn nào, chỉ cần quý vị tu có thành tựu;
thành tựu điều gì? Đoạn được phiền não, mở mang trí
huệ, có đại nguyện độ chúng sanh, [Phật] đều nhất luật
hoan nghênh. Pháp môn rộng lớn thay! Nói rõ hơn, bản kinh ấy
giảng về bốn mươi tám đại nguyện của Phật A Di Đà.
Chúng tôi thành lập Tịnh Tông Học Hội, đặc biệt lấy
chương thứ sáu “Phát đại thệ nguyện” của kinh Vô Lượng
Thọ làm kinh văn để tụng khóa sáng, nhằm dụng ý gì? Nguyện
như Phật! Dụng ý là đây! Kinh văn để tụng vào khóa chiều
chọn từ phẩm ba mươi hai đến phẩm ba mươi bảy kinh Vô
Lượng Thọ nhằm dụng ý gì? Hành như Phật. Từ phẩm ba
mươi hai đến phẩm ba mươi bảy là Như Lai hạnh, nội dung
những phẩm ấy quý vị đều đã biết cả rồi: Ngũ Giới,
Thập Thiện, chẳng giảng quá cao, quá huyền, quá diệu, rất
chất phác, thành thật. Đấy là ưu điểm của kinh Vô Lượng
Thọ, đặc biệt là bản hội tập, càng đọc càng thích thú.
Lão cư sĩ Hạ Liên Cư là bậc tái lai, chẳng phải người
tầm thường! Không phải là tôi nói như vậy, vị có công
năng đặc dị ở Mại A Mật (Miami), Mỹ quốc, nói như thế
đó. Trong Phật pháp ta thường nói là có thần thông, người
Tàu gọi là “công năng đặc dị”. Vị ấy không phải là
người Tàu, mà là người Mỹ, chưa hề gặp mặt cụ Hạ,
trông thấy ảnh cụ Hạ, liền bảo với mọi người: “Vị
này thân thể trong suốt”. Chúng ta chỉ cần nghe nói “thân
thể trong suốt” thì hiểu có nghĩa là gì? Phiền não đoạn
sạch rồi. Phiền não thuộc về vô minh, chẳng trong suốt.
Thân thể trong suốt, tức phiền não đoạn sạch. Phiền não
đoạn sạch há phải người tầm thường ư? A La Hán Kiến
Tư phiền não đoạn sạch, Trần Sa, Vô Minh chưa đoạn. Nói
cách khác, thân A La Hán trong suốt một phần, chẳng trong suốt
hoàn toàn. Mức độ trong suốt của Bồ Tát phải cao hơn A
La Hán, đạt đến quả địa Như Lai sẽ hoàn toàn trong suốt,
chúng ta hay nói là giống như thủy tinh, như lưu ly.
Hội
tập chẳng phải là việc dễ dàng gì, cụ hội tập khéo
như thế. Cư sĩ Vương Long Thư đời Tống là người thứ
nhất soạn hội tập, cư sĩ Ngụy Mặc Thâm là người thứ
hai, các bản ấy vẫn còn! Quý vị mở ba bản hội tập ra
so sánh, quý vị mới thấy bản hội tập của cụ Hạ rất
tuyệt, đúng là khiến người đời phải khen là quán chỉ
(2). Lão cư sĩ Mai Quang Hy tán thán khẳng định: “Trong kinh,
Phật từng thọ ký, đến lúc Phật pháp diệt, tất cả hết
thảy kinh giáo thảy đều diệt mất, kinh Vô Lượng Thọ còn
lưu lại trong thế gian này hơn một trăm năm nữa. Bản diệt
sau cùng chắc chắn là bản hội tập của lão cư sĩ Hạ Liên
Cư”.
Chúng tôi tin tưởng! Nếu quý vị hỏi vì sao tôi tin tưởng?
Tôi có số liệu thống kê để làm căn cứ. Trong mười mấy
năm qua, bất luận quốc nội hay quốc ngoại, chưa có ai chẳng
yêu thích bản kinh này, cho thấy bản này rất khế cơ! Khế
lý, khế cơ, bản này đương nhiên trường tồn trong thế
gian, đó là đạo lý! Bởi thế, chúng tôi hữu duyên được
giảng kỹ càng bản này một lần lưu lại cho hậu học tham
khảo. Vì vậy, chúng tôi dùng bốn mươi tám nguyện làm khóa
sáng, dùng một đoạn kinh lớn Phật giảng rất tường tận
về Ngũ Giới, Thập Thiện làm khóa tối. Khóa sáng là cảnh
tỉnh chính mình: Ngày hôm nay tâm nguyện chúng ta phải giống
như Phật. Khóa tối là để phản tỉnh, phải sám hối, những
gì Phật dạy ta làm, ta có làm được không? Những gì Phật
dạy chúng ta đừng làm, ta có vi phạm hay không? Phải phản
tỉnh, phải kiểm điểm, sửa lỗi đổi mới.
Trước
khi Hành, nhất định phải Giải, chữ Giải ở đây hiểu
theo nghĩa rộng, tức là liễu giải chân tướng nhân sanh vũ
trụ, liễu giải hết thảy người, sự, vật, giống như trí
huệ của Phật, hiểu rõ mọi thứ, thấu hiểu mọi thứ,
đối với mọi thứ chẳng mê hoặc; xử sự, đãi người,
tiếp vật chẳng sai lầm. Có vậy mới có thể thật sự diễn
nói cho người khác. Chúng ta thường nghe cổ đức nói: “Nhất
niệm tương ứng nhất niệm Phật; niệm niệm tương ứng
niệm niệm Phật”. Một niệm ấy tương ứng với gì? Tương
ứng tâm, nguyện, giải, hạnh của Phật. Nếu quý vị chẳng
biết rõ, chẳng hiểu rõ tâm, nguyện, giải, hạnh của Phật
thì
làm sao tương ứng được? Muốn hiểu rõ, muốn thấu hiểu
thì phải nương vào lời dạy. Bởi thế, khi Thích Ca Mâu Ni
Phật còn tại thế, Ngài theo đuổi việc dạy học suốt bốn
mươi chín năm. Dạy điều gì? Vẫn dạy chẳng ngoài những
điều “tâm như tâm Phật, nguyện như nguyện Phật, giải
như Phật giải, hành như Phật hành”, dạy những điều như
thế. Chớ lấy tri kiến của mình làm tiêu chuẩn, chớ lấy
cách nghĩ, cách làm, cách nhìn của mình làm tiêu chuẩn. Vì
sao? Chúng ta là phàm phu, thành kiến sai lầm; tư tưởng, kiến
giải chẳng chánh xác. Những điều Phật dạy trong kinh thật
ra cũng là phương tiện nói, vẫn chưa phải là chân thật
nói. Phật nói đến khi nào quý vị chứng đắc quả A La Hán
rồi, tức là khi Kiến Tư phiền não đoạn rồi, quý vị mới
có thể tin vào ý nghĩ, vào cách nhìn của chính mình, Phật
phương tiện nói như thế. Bây giờ đừng nói chi quả A La
Hán, ngay Sơ Quả Tu Đà Hoàn ta cũng chẳng có phần, vì sao?
Tu Đà Hoàn đã đoạn hết Kiến phiền não, thân kiến, biên
kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến, tà kiến thật sự
đoạn sạch. Kiến giải như Phật, nhưng suy tưởng vẫn chưa
giống hệt Phật, kiến giải như Phật, chứng Tiểu Thừa
Sơ Quả, trong kinh Hoa Nghiêm của Đại Thừa gọi là Sơ Tín
Vị Bồ Tát. Ngay địa vị ấy chúng ta còn chưa đạt được,
sao có thể tin vào chính mình được đây?
Tu
Đà Hoàn, Tư Đà Hoàn, A Na Hàm, A La Hán là bốn quả Tiểu
Thừa, quý vị thấy với ba quả đầu, đức Phật chẳng nói:
“Các ngươi có thể tin vào suy nghĩ của chính mình!” Phật
chẳng nói như vậy. Nói cách khác, đều chưa thể tin vào
suy nghĩ của chính mình. Tôi thường hay nói: “Phải buông
xuống thành kiến, vứt bỏ cách nghĩ, cách nhìn, cách nói,
cách làm của chính mình, tùy thuận sự giáo huấn của đức
Phật”. Trong cách nghĩ, cách nhìn đối với vũ trụ, cách
nghĩ, cách nhìn đối với hết thảy con người, sự vật,
chúng ta phải coi đức Phật nghĩ như thế nào thì học theo
như thế đó. Phật thấy như thế nào ta phải học theo thế
ấy. Dù đã chứng quả A La Hán, Tiểu Thừa, thoát khỏi lục
đạo, nhưng chưa ra khỏi mười pháp giới; dẫu mình là chánh
giác, nhưng còn kém Bồ Tát rất xa, Bồ Tát là chánh đẳng
chánh giác. Bởi vậy, tốt nhất vẫn là tiếp tục không ngừng
tùy thuận lời Phật răn dạy, sẽ chẳng sai, chúng ta sẽ
sớm có một ngày thành Vô Thượng Đạo.
Lời
giáo huấn chân thật của chư Phật Như Lai là khuyên chúng
ta niệm Phật cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ; như Thiện Đạo
đại sư đã nói: “Sở dĩ Như Lai xuất hiện trong thế gian
chỉ nhằm nói ra biển Di Đà bổn nguyện”. Chúng ta phải
nhớ kỹ, đấy mới là giáo huấn chân thật bậc nhất. Tùy
thuận lời giáo huấn của đức Phật là tương ứng, đấy
mới là “một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm
tương ứng niệm niệm Phật”.
“Bởi
thế, kinh dạy: Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền, tương
lai, nhất định thấy Phật”. Mười hai chữ ấy nằm trong
kinh văn chương Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông
của kinh Lăng Nghiêm. Nhớ gì nơi Phật? Niệm gì nơi Phật?
Phải biết điều này. Nhớ tâm - nguyện - giải - hạnh của
Phật, niệm tâm - nguyện - giải - hạnh của Phật. Đó gọi
là “thật sự niệm Phật”, chẳng phải là nghĩ đến tướng
hảo hay danh hiệu Phật. Tướng hảo, danh hiệu là phương
tiện. Chẳng thể buông bỏ phương tiện, do phương tiện mà
nhập chân thật, chân thật là tâm - nguyện - giải - hạnh.
Chúng
ta nghĩ đến tướng hảo của Phật, trông thấy tượng Phật
ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp, trông thấy tượng
Phật bèn nghĩ đến tâm - nguyện - giải - hạnh của Phật.
Niệm một câu danh hiệu A Di Đà Phật phải nghĩ đến thực
chất của danh hiệu Phật. Thực chất của danh hiệu Phật
là gì? Phật tâm, Phật nguyện, Phật giải, Phật hạnh! Ta
tự mình niệm một câu Phật hiệu, hoặc nghe người khác
niệm một câu Phật hiệu, lập tức nhắc nhở, đánh thức
chính mình, phải giữ tâm mình sao cho giống hệt tâm Phật,
nguyện giống hệt như Phật, giải giống hệt như Phật (giải
là trí huệ), hạnh giống hệt như Phật (hạnh là đức hạnh).
Một câu Phật hiệu chứa đựng thật viên mãn tâm - nguyện
- giải - hạnh của Phật, không thiếu sót chút nào.
Chúng
ta lại phải hỏi: “Tâm - nguyện - giải - hạnh của Phật
có tài liệu tham khảo nào để ta học tập hay không?” Có
chứ, đơn giản nhất là kinh A Di Đà. Đó là tâm - nguyện
- giải - hạnh của Phật. Tỉ mỉ hơn chút nữa là kinh Vô
Lượng Thọ, tỉ mỉ hơn chút nữa là Đại Phương Quảng
Phật Hoa Nghiêm kinh. Cổ đức nói Đại Phương Quảng Phật
Hoa Nghiêm kinh là đại bổn của kinh A Di Đà; nay chúng ta niệm
kinh A Di Đà chính là niệm tiểu bổn kinh Hoa Nghiêm. Vô Lượng
Thọ kinh là trung bổn. Ba kinh này giảng những điều rộng
lược khác nhau. Kinh A Di Đà nói lược, nói rất đơn giản,
rất thiết yếu, nói lược. Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm
kinh nói rộng, nói rất chi tiết. Toàn kinh giảng điều gì?
Giảng Phật tâm, Phật nguyện, Phật giải, Phật hạnh. Quý
vị nghĩ có phải vậy không? Hiểu được đạo lý này, quý
vị sẽ hiểu vì sao chúng tôi đối với việc nghiên cứu
kinh giáo, nghiên cứu giáo lý coi trọng đến thế! Chẳng có
gì khác cả, chúng ta học Phật tâm, Phật nguyện, Phật giải,
Phật hạnh. Đó là niệm Phật, đó là nhớ Phật.
Sau
câu “nhớ Phật, niệm Phật” là Quả: “Hiện tiền, tương
lai, nhất định thấy Phật”. Hiện tiền là hiện tại, tương
lai là sau khi vãng sanh; hiện tiền là lúc ta chưa vãng sanh.
“Nhất định”: Chúng ta thấy ngữ khí câu này rất khẳng
định, người ấy lâm chung thấy Phật đến tiếp dẫn, nói
với người bên cạnh: “Tôi thấy A Di Đà Phật rồi!” Đó
là hiện tiền thấy Phật. Kẻ ấy được thấy, chúng ta cùng
ở trong phòng bệnh, chẳng ai thấy cả mà kẻ ấy thấy được.
Chuyện này chẳng phải giả, là thật đấy!
Vào
lúc ấy, người bình thường trông thấy người nhà thân quyến,
bảo mọi người chung quanh: “Tôi thấy ông X. đến, ổng
đứng ngoài cửa”. Những người được nhắc đến ấy đều
là người nhà, thân quyến của kẻ ấy, đều đã chết rồi,
lúc ấy kẻ sắp chết trông thấy. Đó có phải là người
nhà, thân quyến của kẻ ấy chăng? Kinh Địa Tạng Bồ Tát
Bổn Nguyện giảng rõ sự tình này: Chẳng phải là người
nhà, quyến thuộc của kẻ ấy. Là ai vậy? Là oán thân trái
chủ. Oán thân trái chủ biến hiện ra hình dạng người nhà,
quyến thuộc đến làm gì? Đến kéo kẻ ấy đi, kéo kẻ ấy
đi tính sổ, trong kinh Địa Tạng đức Phật dạy như vậy.
Người
niệm Phật phải đặc biệt cẩn thận, người lâm chung nói
những câu ấy, phải đặc biệt cảnh tỉnh kẻ ấy: “Đừng
quan tâm đến! Bất luận thấy ai cũng đừng quan tâm đến,
cứ nhất tâm niệm Phật. Ông (bà) thấy A Di Đà Phật đến
tiếp dẫn thì ông (bà) có thể theo Ngài; ngoại trừ A Di Đà
Phật ra, Phật, Bồ Tát nào khác đến cũng chẳng được theo.
Trong số đó chỉ có Quán Âm, Thế Chí, A Di Đà Phật, đó
là Tây Phương Tam Thánh; còn tất cả Phật, Bồ Tát khác,
ông (bà) trông thấy đều chẳng được theo. Vì sao? Có thể
là ma giả mạo đấy!”
Ma
giả mạo Phật, Bồ Tát, giả mạo người nhà, quyến thuộc
đều chẳng phạm pháp, nhưng nó chẳng thể giả mạo Bổn
Tôn. Chúng ta tu Tịnh Độ, Tây Phương Tam Thánh là Bổn Tôn.
Yêu ma quỷ quái chẳng thể giả mạo Bổn Tôn, giả mạo Bổn
Tôn, thần Hộ Pháp bèn trừng phạt nó, nó chẳng dám làm
vậy. Nó giả mạo Phật, Bồ Tát khác, hộ pháp thần chẳng
can thiệp, nhất định chẳng được giả mạo Bổn Tôn. Bởi
thế, mọi người đừng sợ hãi: Lúc lâm chung gặp A Di Đà
Phật, Quán Âm, Thế Chí, cứ an tâm đi theo, đó là thật,
chẳng giả đâu! “Hiện tiền, tương lai, nhất định thấy
Phật”.
6.3.1.2.
Y Báo diệu nghiêm&nb