Chư
vị đồng học!
Xin
xem tiếp Hệ Niệm Pháp Sự, phần A Di Đà Kinh. Lần trước
đã giảng đến vị thứ tư trong mười sáu vị tôn giả,
nay bắt đầu từ vị thứ năm:
“Ma Ha Câu Hy La”.
Vị
này là cậu ngài Xá Lợi Phất. Trước kia, Ngài cũng là một
nhân vật nổi tiếng trong xã hội, cũng khá là tự phụ, thích
cùng người khác biện luận. Trước kia, biện luận cùng chị
Ngài luôn chiếm thế thượng phong, từ khi bà chị mang thai,
mỗi lần tranh luận đều thua. Ngài nghĩ: “Không đúng rồi!
Thật ra chị mình chẳng có năng lực ấy, không cãi hơn được
mình, chắc là đứa bé đang nằm trong bụng phải là một
đứa trẻ có trí huệ. Đứa trẻ này sanh ra, nó là cháu ruột
mình, mình là cậu nó. Nếu ta biện luận thua nó, còn mặt
mũi gì làm cậu nữa!” Bởi thế bèn đi học đạo, đến
các nơi cầu thầy hỏi bạn, trong nhà Phật gọi là “tham
học”. Dũng mãnh tinh tấn, ngay cả thời gian để cắt móng
tay cũng không có; vì thế Ngài để móng tay rất dài. Người
được mọi người kêu là Trường Trảo Phạm Chí chính là
Ngài vậy.
Sau
này, Xá Lợi Phật sanh ra, quả nhiên trí huệ phi phàm. Sau
đấy, Xá Lợi Phất theo học với Thích Ca Mâu Ni Phật, Câu
Hy La bất phục, tìm Thích Ca Mâu Ni Phật toan tranh luận. Cuối
cùng, Ngài chẳng thể không bội phục, cũng phát nguyện xuất
gia, làm đệ tử thường tùy của Phật. Ngài là bậc “vấn
đáp đệ nhất”, bác học đa tài, học rộng nghe nhiều.
Từ điểm này, ta thấy Tăng đoàn của Thích Ca Mâu Ni Phật
đúng là có đủ mặt những đại biểu thuộc tầng lớp văn
hóa tối cao đương thời. Trong phần trên, Ngẫu Ích đại
sư đã hé lộ sự thật: Các vị ấy đều là cổ Phật, hoặc
Pháp Thân Bồ Tát tái lai, thị hiện đủ cách, hòng báo cho
đại chúng trong xã hội biết Phật pháp chẳng thể nghĩ bàn,
đấy thật sự là một pháp môn khó tin. Nếu quý vị có thể
tin được, học được, hiểu được thì lợi ích vô lượng
vô biên, đúng là chẳng thể kể được hết. Vị thứ sáu
là:
“Ly Bà Đa”
Những
vị này đều thuộc loại “đức huệ tài năng”. Ngài là
bậc “vô đảo loạn bậc nhất”. Ly Bà Đa dịch sang tiếng
Tàu là Tinh Tú. Trong kinh Di Đà, chúng ta niệm đến những
câu “nhất tâm bất loạn, tâm bất điên đảo”, ngài Ly
Bà Đa đúng là đại diện cho những cảnh giới ấy. Cảnh
giới ấy ta cũng thường gọi là “chánh giác chẳng mê”.
Ngài thực hiện viên mãn Tam Quy Y, thật sự thực hiện giác
chứ không mê, chánh chứ không tà, tịnh chứ không nhiễm.
Đồng
học các nơi thường có người đến hỏi: “Đạo tâm chẳng
dễ giữ gìn, thường bị thoái chuyển”. Với những vị
đồng học ấy, tôi đều nói lời thành thật sau: “Đúng
là rất dễ bị thoái chuyển, làm thế nào giữ cho không thoái
chuyển? Quý vị phải tự nghĩ biện pháp!” Vì sao tôi phải
nói như vậy? Mỗi cá nhân căn tánh bất đồng, nghiệp duyên
bất đồng. Bởi thế không có cách nhất định nào để nói
cả! Nếu có một phương pháp, Thích Ca Mâu Ni Phật hà tất
phải giảng tám vạn bốn ngàn pháp môn, phải nói vô lượng
pháp môn? Nói một môn là đủ rồi! Căn tánh chẳng tương
đồng, cơ duyên chẳng giống nhau vậy!
Về
phương pháp mỗi người sử dụng cũng phải thường biến
hóa. Ví như chúng ta đi đường thấy phía trước không thông,
bị chướng ngại vật ngăn trở, làm cách nào đây? Chẳng
thể tiến thẳng được, thì phải đi vòng, đi quanh, thông
quyền đạt biến! Bản thân mỗi cá nhân có rất nhiều chướng
ngại, mình phải có trí huệ, phải có phương tiện, phương
tiện là phương pháp ổn thỏa nhất để đột phá chướng
ngại, thì mình mới thành tựu được. Theo kinh nghiệm của
chính tôi, làm thế nào để chẳng bị thoái chuyển? Lên đài
giảng kinh! Cả một đời tôi dùng phương pháp này.
Bởi
thế có người nói tôi rất thích giảng, kẻ ấy không thấy
rõ, kẻ ấy không hiểu vì sao tôi phải giảng kinh? Giảng
kinh là dạy chính mình chẳng thoái chuyển. Trong giai đoạn
mới học, tôi đã thưa cùng quý vị rồi, vừa mới ra học
giảng kinh, giảng một tiếng đồng hồ phải mất bốn mươi
tiếng chuẩn bị, toàn tâm toàn lực chuẩn bị cho công tác
lên tòa giảng, không có thời gian, cũng chẳng có tinh thần
khởi vọng tưởng. Đấy là một phương pháp rất tốt, tự
mình phải dùng phương pháp hữu hiệu để bức bách mình
thì quý vị mới có thể thành tựu, quyết định chẳng được
buông lung, lười nhác.
Tôi
ở Mỹ quốc chẳng có cơ duyên giảng kinh hằng ngày: Không
có thính chúng! Tôi làm cách nào? Tôi mua một cái máy thâu
hình nhỏ, loại máy thâu hình nhỏ thời đó bây giờ rất
nhiều, tôi để trong phòng, mỗi ngày đối trước nó giảng
chừng hai tiếng đồng hồ. Giảng xong mở lại cho mình coi,
lại lấy chính mình làm thính chúng. Nếu không học như thế
làm sao học cho thông được. Phương pháp ấy tôi dùng ở
Mỹ quốc từng bị một đồng học phát hiện, vốn là ông
ta làm việc trong phòng đó. Nếu chẳng giảng kinh nhất định
bị thoái chuyển. Từ phương pháp ấy, tôi tạo thành một
thói quen, mỗi ngày đều phải đọc kinh, mỗi ngày đều phải
tìm cơ hội giảng pháp, giữ cho mình không bị thoái chuyển.
Bởi thế, phải dựa vào đó, chẳng thể dựa vào người
khác, chẳng thể dựa vào đạo tràng. Nói thật ra, trong kinh
đức Phật dạy chúng ta: “Thế gian vô thường, quốc độ
mỏng manh”. Phật xưng là Vô Y Đạo Nhân (ông đạo không
nương tựa ai), lời răn dạy ấy chúng ta phải thường ghi
trong lòng, người nương dựa duy nhất là chính mình, nương
dựa vào sự tỉnh giác cao độ của chính mình.
Ở
trên chúng tôi đã thưa cùng quý vị, chúng Thanh Văn đây chẳng
tách rời Phật, thường theo Phật, tôi nói chúng ta cũng phải
là Thường Tùy Chúng của Phật. Phật ở tại đâu? Ở trong
kinh điển, kinh điển là trụ xứ của chư Phật. Chúng ta
phải nương nhờ kinh điển, kinh điển là Phật, đáng nương
cậy nhất, vĩnh viễn chẳng bị biến đổi. Nhân tình thế
sự thiên biến vạn hóa, tâm chẳng thể chạy theo bên ngoài,
đuổi theo bên ngoài phiền não rất nhiều. Quý vị nói học
theo các pháp sư giảng kinh ư? Trước kia tôi ở Đài Trung
học kinh giáo, học giảng kinh, thầy Lý rất nhiều lần bảo
tôi: “Tương lai ông giảng kinh không hay, mọi người chê
cười ông, vẫn không sao! Nếu giảng hay, ông không còn đường
nào đi đâu!” Vì sao giảng kinh hay sẽ không còn đường
nào để đi? Cổ nhân Trung Quốc có một câu rất có lý: “Đồng
hành tương kỵ” (người đi cùng đường ghét nhau), ghen ghét
ấy mà! Trong đạo tràng này, nếu quý vị giảng hay hơn người
khác, tất cả mọi người ghen ghét mình, nhất định quý
vị phải ra đi, bị dồn vào đường cùng!
Lời
thầy nói, tôi có ấn tượng sâu đậm, nhưng dẫu vậy vẫn
không lưu tâm, chưa hề nghĩ sau này thật sự bị dồn vào
đường cùng. Nếu chẳng phải là bà Hàn Quán Trưởng phát
tâm từ bi, đón tôi về ở nhà bà, ở suốt cả mười bảy
năm, mãi cho đến khi tôi có được một cái Đồ Thư Quán,
tôi mới có thể rời khỏi nhà bà Hàn Quán Trưởng, sống
trong Phật Đà Giáo Dục Cơ Kim Hội, sống trong Hoa Tạng Đồ
Thư Quán. Lời thầy Lý nói đã thành sự thật! Người có
học vấn, học vấn chân chánh, nhất định phải hiểu được
thế nào là thật sự thâm tàng bất lộ, mới hòng bảo toàn
chính mình. Bởi thế phải biết khiêm hư, nhường nhịn, chỗ
nào cũng chẳng dám hơn người, thì mình mới tự bảo toàn
được, cả một đời nhất định chẳng nghĩ chuyện vượt
trỗi người khác, điểm này rất trọng yếu!
Ta
học xong để tương lai hoằng pháp lợi sanh ư? Lầm rồi,
phải đợi cơ duyên, chẳng thể gấp gáp. Quý vị có thành
tựu, Phật, Bồ Tát sẽ an bài cho quý vị, tự mình chẳng
phải nhọc lòng. Nếu ta vội vàng gấp gáp, luôn luôn mong
mỏi, thường chẳng ngờ khó khăn hiện tiền! Đúng là muốn
nhanh chẳng được, hoằng pháp lợi sanh chắc chắn chẳng
đơn thuần, phải có đủ rất nhiều điều kiện; duyên thành
thục rồi thì chư Phật, Bồ Tát, thiên long thiện thần ủng
hộ quý vị. Nếu thời tiết nhân duyên chưa thành thục, ngàn
vạn phần mình chẳng nên khinh thường vọng động.
Đương
nhiên đặc biệt đối với kẻ sơ học, có thầy ở bên cạnh
chiếu cố thì tốt rồi. Gặp phải nghi hoặc gì bèn thỉnh
giáo thầy, thầy cho ý kiến để tham khảo. Thế nhưng giờ
đây, địa cầu đã thu nhỏ lại, có người bảo nay nên gọi
địa cầu là “địa cầu thôn”, tôi cảm thấy địa cầu
so với một thôn vẫn còn nhỏ hơn, phải nói là một đại
gia đình. Nhất là trong lúc kỹ thuật thông tin phát đạt,
ở bất cứ góc nào trên toàn thế giới vừa phát sanh một
sự kiện nhỏ nhặt gì, toàn thế giới đều biết cả; từ
mạng Internet, từ vệ tinh, truyền hình, lập tức truyền đi.
Bởi
thế, nay ta ở trong thế gian này, có thể nói là chẳng bị
khoảng cách nào ngăn trở. Thầy của chúng ta, bạn đạo đồng
tham, thiện tri thức chẳng cần biết ở nơi nào, chúng ta
cứ bấm điện thoại liền có thể tiếp cận. Quý vị thấy
những máy điện thoại cầm tay có hình rất thuận tiện;
có nghi hoặc gì bèn lập tức thỉnh giáo. Loại điện thoại
tối tân có màn hình, năm ngoái tôi đã từng thấy ở Nhật
Bản. Điện thoại cho đối phương, vẻ mặt của đối phương
bèn hiện hình; trên máy điện thoại có một màn huỳnh quang
nhỏ, trông thấy mặt người đối diện rất rõ rệt; cho
thấy khoảng cách không còn nữa, không gian chẳng còn nữa.
Chúng ta có còn phải như thời Thích Ca Mâu Ni Phật, suốt
ngày phải theo chân thầy nữa chăng? Chẳng cần nữa! Quẩn
bên chân thầy thì có rất nhiều việc chúng ta không thể
làm được.
Tôi
tin là khoảng sau ba năm nữa, đại khái, có lẽ máy điện
thoại cầm tay thấy được hình đối phương chắc chắn rất
phổ biến, giống như năm ngoái tôi đã từng nói, mạng lưới
quốc tế phát triển không ngừng, Tôi tin chẳng đến mấy
năm nữa, mạng lưới quốc tế và máy điện thoại cầm tay
rất có khả năng thay thế cho hệ thống phát hình và vệ
tinh hiện thời. Là vì sao? Thật sự chúng không thuận tiện
lắm, nhất định sẽ phát triển theo phương hướng trên.
Chúng ta học tập, mọi đồng học ở cùng một chỗ học
tập Phật pháp, cần phải lợi dụng khoa học kỹ thuật cao
để tạo rất nhiều sự thuận tiện cho chúng ta. Chúng ta
có thể đối diện đàm thoại qua màn huỳnh quang “như đang
ở ngay trước mặt”, khoa học kỹ thuật đã giúp cho chúng
ta như vậy.
Trong
đoạn này, tôn giả Ly Bà Đa là một vị đức huệ tài năng.
Vị thứ bảy là:
“Châu
Lợi Bàn Đà Già”
Vị
này hoàn toàn tương phản với những vị vừa kể trên. Ngài
là kẻ ngu si độn căn, đây cũng là biểu thị nhân quả,
nhưng phương diện “hiển thị nhân quả” chưa được đề
cập đến, Ngài cũng là “tinh tấn phá chướng”. Rất nhiều
vị đồng học biết ngài Châu Lợi Bàn Đà Già, trong các
đệ tử của đức Thế Tôn, Ngài là người ngốc nhất, trí
nhớ tệ nhất. Phật dạy bài kệ bốn câu, niệm cả mấy
ngày vẫn niệm không xuông, niệm câu trên quên câu dưới,
dạy cho câu dưới, quên tuốt câu trên. Anh Ngài cũng xuất
gia, khuyên Ngài nên trở về nhà: “Ngươi không tu được,
người chẳng học pháp được, ngu đến thế thì thôi!”
Ngài khóc lóc, gào khóc ầm ĩ; Phật trông thấy, Phật hỏi:
- Vì
sao lại khóc?
- Anh
con muốn con quay về nhà.
Phật
bảo Ngài:
- Không
sao cả, ông cứ ở đây chăm học, ta cho ông cây chổi, ngày
ngày quét đất, niệm “tảo chửu” (quét dọn).
Phật
dạy Ngài đừng nghĩ đến gì khác, tay cầm chổi liền quét
dọn, ngày ngày quét tước, tinh thần ý chí tập trung vào
việc quét dọn, Phật dạy Ngài phương pháp như vậy. Không
ít lâu sau, Ngài khai ngộ, chứng quả A La Hán. Bạn đồng
học đều lấy làm lạ: “Sao ổng lại khai ngộ, chứng quả
được?”
Thế
Tôn bèn bảo đại chúng:
- Đời
trước Châu Lợi Bàn Đà Già là một vị Tam Tạng pháp sư,
chẳng phải tầm thường, giảng kinh thuyết pháp cho đại
chúng, chỉ mắc phải một cái tật giấu bớt, tức tiếc
pháp! Sợ người khác học cao hơn mình, bởi thế dạy người
khác luôn giấu bớt, chẳng chịu dạy trọn vẹn cho người.
Phật
nói đời này ngu si là quả báo của tội tiếc pháp; đến
lúc ấy mọi người mới hiểu rõ sự việc. Trong kinh Phật
thường nói tiếc của bị quả báo bần cùng, tiếc pháp bị
quả báo ngu si, đều có nhân quả cả! Thích Ca Mâu Ni Phật
có đủ trí huệ viên mãn, thần thông, đạo lực, Ngài biết
gốc chứng bệnh ngu si của Châu Lợi Bàn Đà Già nằm tại
đâu; bởi thế có phương pháp đối trị giúp Châu Lợi khôi
phục. Mọi người chẳng có năng lực ấy, cho nên đành phải
bỏ mặc Ngài, chẳng dạy Ngài nữa. Ngài là bậc “trì nghĩa
đệ nhất, học hành khó khăn mà thành công”.
Bởi
vậy, có kẻ tự biết căn tánh mình rất tệ, chẳng có tư
chất, trí nhớ cũng dở, học Phật bằng cách nào đây? Ở
đây, ngài Châu Lợi Bàn Đà Già thị hiện cho chúng ta thấy,
căn tánh của mình, trí nhớ của mình so với ngài Châu Lợi
Bàn Đà Già thì như thế nào? Nghĩ ra, mình còn đỡ hơn Ngài
một chút, Ngài thành công được thì sao mình chẳng thể thành
công? Ngài cổ vũ kẻ Hạ Hạ căn rất lớn. Pháp môn này
độ trọn ba căn, thâu khắp lợi độn, những vị ấy thị
hiện khuôn mẫu. Quý vị nói mình có trí huệ ư? So với trí
huệ của ngài Xá Lợi Phất thì sao? Chẳng bằng! Xá Lợi
Phất cũng niệm A Di Đà Phật, quý vị có nên niệm chăng?
Vị thứ tám là:
“Nan
Đà”
Nan
Đà là em ruột Thích Ca Mâu Ni Phật. Anh em Thích Ca Mâu Ni Phật
gồm hai người, hai anh em ruột cùng xuất gia. “Nghi dung thanh
diệu đệ nhất” (đẹp đẽ, oai nghi, tiếng nói hay bậc
nhất). Tướng mạo đẹp đẽ, rất oai nghi, thanh âm cũng hay.
Thích Ca Mâu Ni Phật độ Ngài xuất gia, sau khi xuất gia theo
đuổi công tác giảng dạy trong xã hội đa nguyên văn hóa.
Thích Ca Mâu Ni Phật vứt bỏ ngôi vua, chỉ có hai anh em, cũng
đem em theo luôn! Nếu nói theo thông tục, chừng như cả tình
lẫn lý đều chẳng thông, mình xuất gia lẽ ra phải lưu lại
đời sau cho gia đình; con trai Thích Ca Mâu Ni Phật cũng cho
xuất gia luôn. Da Du Đà La là phi tử của Phật, sau cũng xuất
gia nốt. Nếu xuất gia chẳng phải là việc tốt, sao Thích
Ca Mâu Ni Phật lại làm như thế? Thật sự đạt được lợi
ích viên mãn rốt ráo, vĩnh viễn liễu thoát sanh tử. Vị
thứ chín là:
“A
Nan Đà”
Tức
là tôn giả A Nan, danh tiếng vị này rất lớn, ai nấy đều
biết cả. Chúng ta nói đến tôn giả A Nan chính là vị này
đây. Ngài là thị giả của Thích Ca Mâu Ni Phật, cũng là
em họ của Phật. Anh em họ của Thích Ca Mâu Ni Phật tổng
cộng tám người, trong các anh em họ, Thích Ca Mâu Ni Phật
lớn tuổi nhất, Ngài là “lão đại”, tôn giả A Nan trẻ
nhất, là em họ út. Ngài nhỏ hơn Thích Ca Mâu Ni Phật chừng
ba mươi tuổi. “Đa văn bậc nhất, nghe rộng, nhớ dai”.
Sở trường của ngài A Nan tương phản với ngài Châu Lợi
Bàn Đà Già một trăm tám mươi độ, tôn giả A Nan nghe Phật
giảng kinh, nghe một lần vĩnh viễn chẳng quên mất.
Vì
thế, sau khi Phật diệt độ, lúc kết tập kinh tạng, phải
để tôn giả A Nan đem những kinh đức Phật đã nói trong
cả một đời nhắc lại một lượt; đại chúng căn cứ vào
lời trùng tuyên của Ngài. Như vậy, Phật pháp hoằng truyền
cả mấy ngàn năm, học kinh giáo theo phương pháp nào? Thảy
đều là chọn lối “phúc giảng” (nhắc lại); trong nhà
Phật gọi là “phúc tiểu tòa”. Phương pháp này khởi đầu
từ ngài A Nan, là nguyên do đó. Sau này, Tổ Tổ truyền nhau
cũng đều dùng phương pháp này, nhất định chưa hề nói
quý vị phải tự lấy kinh luận mà nghiên cứu, phải tham
khảo tư liệu, phải viết bài giảng, chẳng phải vậy! Chỉ
có phương pháp này, nhất định chẳng thể biến đổi, phải
phúc giảng thì quý vị mới hòng tránh khỏi lầm lỗi! Tự
mình chẳng có chỗ ngộ, chắc chắn chẳng thể phát huy, nếu
phát huy sẽ lầm lạc.
Đời
Đường, thiền sư Bách Trượng độ con chồn, công án ấy
rất nhiều người biết: “Tích hạ nhất cá tự chuyển ngữ,
đọa ngũ bách thế dã hồ thân” (Trót nói lầm chuyển ngữ
một chữ, năm trăm đời đọa kiếp chồn hoang). Con chồn
ấy đời trước là pháp sư giảng kinh, có người hỏi ông
ta một câu, ông ta đáp sai, phải chịu trách nhiệm nhân quả,
vì ông ta dạy sai người khác. Bởi thế, vị pháp sư ấy
chết đi bèn đọa làm thân súc sanh, biến thành con chồn.
Đến đời Đường, con chồn ấy tu hành chẳng sai lầm, cũng
có thần thông, biết nghiệp chướng đời trước, nhưng không
có cách nào thoát thân chồn. Đúng ngay lúc đó, gặp được
thiền sư Bách Trượng là một vị Bồ Tát khai ngộ, là bậc
minh tâm kiến tánh. Bách Trượng giảng kinh thuyết pháp, chồn
đều đến nghe, hiện làm một vị lão cư sĩ râu tóc bạc
phơ thường đến nghe kinh, người trong đạo tràng đều biết
ông ta. Chỉ có Bách Trượng đại sư biết không phải là
người, mà là hồ ly tinh, mọi người không biết!
Có
một ngày, lão hồ ly đem đoạn công án trước kia của ông
ta thưa với pháp sư Bách Trượng, cầu Bách Trượng chỉ dạy.
Bách Trượng đại sư nói: “Ngày mai ông đến, ta thượng
đường thuyết pháp, ông đem câu hỏi trước kia người ta
hỏi ông, đem đúng câu ấy hỏi tôi” A! Hôm sau ông ta đến
thật. Trong quá khứ có người hỏi ông ta, lúc ông ta làm
pháp sư có người hỏi: “Bậc đại tu hành còn thuộc trong
nhân quả hay không?” Ông ta đáp như thế nào? “Bất lạc
nhân quả!” (chẳng thuộc trong nhân quả). Nói vậy là sai!
Ngày hôm sau, ông ta đem chuyện đó hỏi đại sư Bách Trượng,
đại sư Bách Trượng chỉ đổi một chữ: “Đại tu hành
nhân bất muội nhân quả” (Bậc đại tu hành chẳng lầm
nhân quả).
Quý
vị thấy đó một đằng là “bất lạc”, một đằng là
“bất muội”. Đổi một chữ thôi, ông ta bèn thoát thân
chồn. Ngày hôm sau con chồn già chết, Bách Trượng đại sư
mới dẫn vài người, mang cuốc, mang ky ra sau núi, bảo mọi
người: “Con chồn già sau núi đã chết rồi!” Đến nơi
quả nhiên thấy con chồn già đã chết rồi, Bách Trượng
chỉ vào chồn nói: “Con chồn già này hôm qua đến hỏi ta,
câu chuyện đó mọi người đều nghe”. Đại chúng nghe xong
lông tóc dựng ngược. Nếu anh giảng kinh thuyết pháp sai lầm,
dạy lầm chúng sanh, tội lỗi khôn tránh! Bởi thế, đời
đời tương truyền là phúc giảng, nhất định chẳng dám
xen tạp ý nghĩ riêng của mình vào đó, thì mới khỏi trái
nghịch nhân quả. Nếu giảng lầm là thầy mình giảng lầm
chứ ta không giảng lầm.
Bởi
thế, chúng tôi học giảng kinh, thầy dạy chúng tôi cách giảng
như thế nào? Mình chưa khai ngộ (đừng nói là đại ngộ,
tiểu ngộ cũng chưa có) thì nhắc lại lời thầy, nhắc lời
cổ nhân. Quý vị thấy tôi giảng kinh A Di Đà, tôi giảng
theo bản chú giải Sớ Sao của đại sư Liên Trì, tôi giảng
theo sách Yếu Giải của đại sư Ngẫu Ích. Với Yếu Giải
tôi cũng tham khảo hai bản, bản A Di Đà Kinh Yếu Giải Giảng
Nghĩa của pháp sư Viên Anh và bản A Di Đà Kinh Yếu Giải
Thân Văn Ký của pháp sư Bảo Tịnh, tôi giảng theo bản chú
giải của các Ngài. Các Ngài chú giải bằng văn ngôn, tôi
đem văn ngôn biến thành văn nói, biến thành văn bạch thoại
(*). Nếu có giảng sai là các vị đó chú giải sai, tôi chẳng
giảng sai.
Lúc
mới học giảng kinh, học theo thầy. Trước kia chúng tôi học
tập rất khổ sở, vì sao? Không có máy thâu âm, không có
máy thâu hình, thầy giảng kinh toàn phải chép tay, phải dựa
vào bút ký, khá là khó nhọc. Thường bị ghi sót, làm sao
ghi hoàn toàn được? Ghi sót thì làm sao? Hỏi bạn đồng học,
không có đồng học nào chẳng ghi sót một câu, bởi thế
mấy đồng học hợp lại chỉnh lý bút ký. Các đồng học
chúng tôi lúc mới đầu giảng kinh, thảy đều dựa theo lời
giảng của thầy Lý, phúc giảng, phúc tiểu tòa, đều xuất
thân từ phương pháp ấy.
Tôi
nhớ năm 1977, tôi đến Hương Cảng giảng kinh Lăng Nghiêm
lần thứ nhất, bản chú giải tôi dùng làm cơ sở là bản
Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa của pháp sư Viên Anh, tham khảo
bản Lăng Nghiêm Kinh Trực Giải của Tôn Trọng Hà. Trong thời
gian giảng kinh có một ngày gặp được pháp sư Diễn Bồi,
Ngài có không ít tín đồ tại Hương Cảng, thuê bao cả một
xe du lịch, đi ngắm phong cảnh Hương Cảng, kéo cả tôi cùng
đi. Suốt buổi ở trên xe, tôi kể chuyện giảng kinh, Ngài
rất cảm khái nói: “Chúng ta đều xuất thân từ giảng tiểu
tòa!” Ngài chỉ vào tôi bảo: “Tịnh Không! Ông cũng chẳng
ra ngoài lệ đó. Ông cũng xuất thân từ giảng tiểu tòa!”
Không sai chút nào! Học tăng được huấn luyện từ Phật
học viện chẳng thể thượng tòa thuyết pháp, người thật
sự có thể thăng tòa, giảng được đều xuất thân từ giảng
tiểu tòa.
Bởi
thế, giảng tiểu tòa do tôn giả A Nan là người thứ nhất
khởi đầu, kết tập kinh tạng, phúc giảng. Phương pháp này
truyền mãi đến ngày nay. Nay tôi dạy học trò, dạy học
viên thuộc Bồi Huấn Ban ở Tân Gia Ba đều dùng phương pháp
này. Hiện tại rất thuận tiện, nay có băng thâu hình, có
băng thâu âm, quý vị có thể nghe đi nghe lại không ngừng,
chép thành bài giảng. Thời chúng tôi rất nhọc nhằn, hết
sức nhọc nhằn, chẳng có thứ gì hỗ trợ cả, phải dựa
vào ký ức, phải dựa vào bút ký rất cực nhọc. A! Bây giờ
hết giờ rồi!
*
Chư
vị đồng học!
Chúng
ta tiếp tục xem vị thứ mười trong mười sáu vị tôn giả:
“La
Hầu La”
Tôn
giả La Hầu La “mật hạnh bậc nhất”, Ngài là nhà thực
hành, là con của Thích Ca Mâu Ni Phật. Danh tự này là tiếng
Phạn, dịch nghĩa sang tiếng Tàu là “Phú Chướng”, tên
nghe không hay, có chướng ngại! Ở phần trên, trong bài Hương
Tán có niệm câu “Tích nhật Da Du miễn nạn tiêu tai chướng”
(Xưa bà Da Du thoát nạn tiêu tai chướng), Da Du Đà La là mẹ
La Hầu La, Thích Ca Mâu Ni Phật là cha. Ngài mắc phải nạn
gì? Mẹ mang thai sáu năm mới sanh ra. Người thông thường
chỉ ở trong thai mười tháng, La Hầu La sáu năm. Do duyên cớ
gì? Quả báo! Đời trước gây nhân chẳng lành, đời này
phải chịu cái khổ thai ngục. So với người thông thường
Ngài phải chịu khổ nhiều gấp bội, người ta thông thường
mười tháng, Ngài phải chịu sáu năm, hơn bảy mươi tháng,
dài gấp bảy lần. Vì nguyên nhân gì? Trong kinh luận nêu nhiều
lẽ, trong Kinh Luật Dị Tướng và Pháp Uyển Châu Lâm đều
có ghi chép.
Theo
một thuyết, cũng là theo kinh nói, La Hầu La trong đời quá
khứ từng bít hang chuột, bít hang chuột sáu ngày, con chuột
không chui ra được. Hành vi ác dữ cảm lấy quả báo như
thế, ở trong bụng mẹ cũng chẳng ra được. Lên chín tuổi,
Thích Ca Mâu Ni Phật dạy Xá Lợi Phất và Mục Kiện Liên
độ cho La Hầu La xuất gia, Phật môn bắt đầu có sa-di, La
Hầu La là vị đầu tiên. Trẻ nít ham chơi, người khác thấy
La Hầu La hằng ngày chơi đùa, Thích Ca Mâu Ni Phật biết trong
chơi đùa có tu hành, “mật hạnh bậc nhất”. Ngài tu Giới
- Định - Huệ chẳng để lộ ra, người khác không thấy,
lần đầu tiên tôi nghe Chương Gia đại sư giảng như vậy.
Lần thứ hai, tại Tân Gia Ba gặp tổng thống Nạp Đan, ông
ta cũng nói như thế. Lúc ấy, tôi rất kinh ngạc, nói giống
hệt như Chương Gia đại sư. Phật giáo trọng thực chất
chứ không trọng hình tượng. Đúng là người tầm thường
chẳng thể nói được như vậy. Vị thứ mười một là:
“Kiều
Phạm Ba Đề”
Là
bậc “được trời cúng dường bậc nhất”, nay ta gọi là
nhà tôn giáo. Ngài cũng là “hiển thị nhân quả”, làm gương
cho chúng ta thấy. Kiều Phạm Ba Đề là tiếng Phạn, dịch
nghĩa sang tiếng Tàu là Ngưu Ty (trâu nhơi). Miệng Ngài suốt
ngày động, giống như trâu đang nhơi, Ngài mang tập khí ấy.
Rốt cuộc là vì nguyên nhân gì? Phật giảng rất rõ, trong
đời quá khứ, Ngài làm sa-di, trông thấy lão hòa thượng
niệm kinh, tuổi đã già lụn, răng cỏ rụng mất nhiều, niệm
chẳng rõ tiếng, chú sa-di đứng bên chê cười: “Lão hòa
thượng! Ông niệm kinh giống trâu nhơi quá!” Vị lão hòa
thượng ấy lập tức kêu chú sám hối, bảo: “Ta đã chứng
quả A La Hán, do khẩu nghiệp ấy, tương lai ngươi sẽ bị
đọa địa ngục”. Chú sa-di nghe vậy hết sức hoảng sợ,
kinh hoàng, lập tức sám hối. Dù sám hối, do dư báo vẫn
bị đọa vào súc sanh đạo, năm trăm đời làm thân trâu.
Vì vậy, tập khí rất nặng. Trước kia châm chích người
khác đâu có chuyện gì, nào biết là quả báo nghiêm trọng.
Phật, Bồ Tát thị hiện cho chúng ta thấy, đó là quả báo
của ác khẩu, chẳng phải là vọng ngữ, lưỡng thiệt, ỷ
ngữ. Quả báo ác khẩu như thế. Những nghiệp khác: vọng
ngữ là lừa dối người, lưỡng thiệt là khêu dậy thị
phi, đáng tội rồi! Còn ở đây bất quá là gì? Ôm lòng làm
khổ người khác, châm chích người khác, chẳng gây thương
hại lớn chi lắm mà đọa làm thân trâu năm trăm đời!
Đời
này tuy xuất gia tu học, chứng đắc quả A La Hán, nhưng tập
khí vẫn còn. Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Ngài phải hằng ngày
khất thực trên cõi trời, vì sao? Để người khác khỏi trông
thấy Ngài như thế, lại chê cười Ngài, lại mắc phải quả
báo đó, chẳng phải là hại người ư? Làm thế nào đây?
Lên trời, lên đó ứng cúng. Chư thiên có thần thông, biết
Ngài là đại A La Hán, tôn kính Ngài, chẳng dám chê cười
Ngài. Bởi thế, mỗi ngày Ngài lên trời khất thực, chẳng
ở trong nhân gian, được trời cúng dường bậc nhất. Sau
tên Ngài, tôi viết “nhà tôn giáo” vì Ngài chẳng phải
là kẻ tầm thường.
Vị
thứ mười hai là:
“Tân
Đầu Lô Phả La Đọa”
Tôn
giả Tân Đầu Lô Phả La Đọa, danh hiệu Ngài dịch thành
Bất Động. Tân Đầu Lô Phả La Đọa cũng có nhân duyên đặc
biệt. Sau khi đức Phật nhập diệt, chúng ta biết rất nhiều
vị đệ tử cũng trước sau nhập Niết Bàn. Chỉ có vị tôn
giả này tuân lời Thích Ca Mâu Ni Phật dạy, chẳng thể nhập
Niết Bàn. Bởi thế, vị tôn giả này vẫn còn hiện hữu
trên thế gian. Phật giữ Ngài lại trong thế gian là ý gì?
Dạy Ngài làm phước điền cho chúng sanh thời Mạt Pháp, “ứng
mạt thế cúng, vi nhân thiên phước điền” (nhận đời mạt
cúng dường, làm ruộng phước cho trời người).
Vị
tôn giả này sống lâu trong thế gian, chúng ta muốn cúng dường
Tam Bảo, cũng học đòi cổ nhân làm đại hội Vô Già. Vô
Già đại hội là thuật ngữ chuyên dụng trong Phật học,
tức là bình đẳng cúng dường cho người xuất gia, hay “trai
tăng”. Nhà Phật thường nói cúng Trai Tăng ngàn vị, ngày
nay chúng ta mời một ngàn người đến ăn cơm, cúng dường
cơm chay, vật cúng dường hoàn toàn bình đẳng, đó là Vô
Già đại hội. Nhất định có thánh hiền đến thọ cúng,
người cúng cơm có phước, thật sự trồng phước điền.
Tôn giả Tân Đầu Lô thường đến ứng cúng, ở đâu có
người tu phước, Ngài bèn đến ứng cúng. Ngài dùng thân
biến hóa mà đến, quý vị nhìn không ra đâu, chẳng khác
gì người xuất gia thông thường. Trai chủ cúng cơm trong tâm
thành kính, thành kính là Cảm, tôn giả bèn Ứng, cảm ứng
đạo giao. Nếu cúng Trai Tăng chẳng có thành ý, Ngài chẳng
đến. Tu phước, ta cúng Trai Tăng là vì cầu phước báo, cầu
trí huệ, mong cầu chư Phật, Bồ Tát âm thầm gia trì. Vị
thứ mười ba là:
“Ca
Lưu Đà Di”
“Giáo
hóa bậc nhất”, nay ta gọi là nhà giáo dục. Ca Lưu Đà Di
dịch là Hắc Quang. Ngài còn là sứ giả của Thích Ca Mâu
Ni Phật, có trí huệ, có phương tiện thiện xảo, đầy đủ
những điều kiện ấy mới có năng lực giáo hóa chúng sanh.
Giáo hóa chúng sanh tối trọng yếu là lấy thân mình làm gương,
ngôn hạnh, oai nghi thảy đều có thể cảm hóa chúng sanh.
Công tác quan trọng nhất của đệ tử nhà Phật là gì? Rất
nhiều người đã từng nghe nói qua, là lấy hoằng pháp làm
gia vụ, sự việc lớn nhất của nhà Phật là giáo hóa chúng
sanh. Thích Ca Mâu Ni Phật làm gương cho chúng ta, giảng kinh
hơn ba trăm hội, hoằng pháp bốn mươi chín năm cho chúng ta
thấy. Lúc nào mới ra giảng kinh? Trước hết phải tu đức
hạnh, lại phải thành tựu học vấn. Cổ nhân Trung Quốc
thường nói là “phẩm học kiêm ưu” (đạo đức lẫn học
vấn đều cao), Phẩm là đức hạnh, có đạo đức, có học
vấn thì mới có thể tự hành dạy người. Tôn giả nêu tấm
gương tốt cho chúng ta. Tiếp đó là vị thứ mười bốn:
“Ma
Ha Kiếp Tân Na”
Danh
hiệu này dịch nghĩa sang tiếng Tàu là Phòng Tú hay Tinh Tú.
Tôn giả là bậc “tri tinh tú đệ nhất”, nói như bây giờ
Ngài là nhà thiên văn học, cũng là một loại khoa học gia.
“Bạc
Câu La”
Tôn
giả Bạc Câu La, Bạc Câu La dịch nghĩa sang tiếng Tàu là
Thiện Dung. Thiện Dung là tướng mạo đẹp đẽ, tướng mạo
Ngài tốt đẹp phi thường, vẻ mặt khiến người thoạt thấy
sanh tâm vui thích, “thọ mạng đệ nhất”, nhân lành quả
lành. Trong kinh luận Đại Thừa, Tiểu Thừa Phật giáo thường
dạy chúng ta: Sở cầu của hết thảy chúng sanh rất nhiều,
nhưng quy nạp lại không ngoài ba loại lớn, thứ nhất là
giàu có, thứ hai là thông minh trí huệ, thứ ba là mạnh khỏe
sống lâu. Quý vị xem có ai không mong cầu ba thứ này? Ba thứ
này đều là quả báo. Quả ắt có nhân, nhân quả phải tương
ứng. Ngạn ngữ thường nói: “Trong nhà Phật, có cầu ắt
ứng”. Chúng ta nghĩ xem trong nhà Phật vì sao có cầu ắt
ứng? Cầu chỗ khác không được, cầu trong nhà Phật bèn
được. Vì sao? Phật biết nhân quả, nhân nào được quả
đó, Phật hiểu rõ.
Nói
chung, nhân là tu Bố Thí. Phật dạy người phước huệ song
tu. Trong phước huệ song tu, đặt phước lên đầu. Nhà Phật
thường nói: “Tu huệ chẳng tu phước, La Hán ôm bát rỗng”.
Anh tu Huệ, chứng đắc quả A La Hán, chẳng tu phước, đi
khất thực chẳng được ai cúng dường, ngày ngày đói meo.
Trái lại là “tu Phước chẳng tu Huệ, voi to đeo anh lạc”.
Phước báo rất lớn, chẳng có trí huệ, đời sau đọa trong
đường súc sanh, đầu thai làm thân voi lớn. Con voi lớn ấy
có phước báo, được vua nuôi. Quốc vương muốn ra ngoài,
cưỡi voi lớn đó, khắp thân voi phủ đầy anh lạc, châu
báu, châu báu chói lòa, có phước nhưng không trí huệ! Bởi
thế, đức Phật dạy người phải phước huệ song tu thì
quả báo của quý vị là vừa có trí huệ vừa có phước
báo. Nếu cả hai thứ chẳng tu, người ấy tất nhiên đời
đời kiếp kiếp bần cùng hạ tiện. Chúng ta phải tin tưởng
lời Phật, lời Ngài trọng yếu hơn bất cứ gì khác.
Nay
rất nhiều trường đại học, viện nghiên cứu đang nghiên
cứu khám phá cách làm giàu. Chúng tôi trông thấy cảm khái
vạn phần, chú ý quan sát họ dạy, họ học những gì? Toàn
là đổ công nơi duyên, chẳng có nhân! Ví như quản lý công
thương, mọi kỹ thuật cho đến các mối quan hệ, họ lấy
thống kê làm cơ sở tính toán. Trên thế giới có bao nhiêu
đại tài chủ, họ khởi đầu từ đâu? Quản lý làm sao?
Làm sao kiếm được nhiều tiền như thế? Nghiên cứu những
thứ đó, muốn học đòi, muốn bắt chước theo. Chuyên gia,
giáo sư giảng rành rẽ từng điều, nhưng chúng ta đứng bên
xem kỹ, bản thân họ chẳng phát tài, thậm chí cuộc sống
của họ còn khá khó khăn. Cả đời dạy học trong trường,
lúc về hưu (dạy không dở thì được phong hiệu Giáo Sư),
được các công ty mời làm cố vấn, chẳng làm tài chủ!
Anh hiểu được con đường làm giàu như thế, sao anh không
phát tài? Bởi thế, chúng ta đứng ngoài thấy rất rõ, những
điều họ học, họ dạy toàn là duyên, chẳng có nhân gì
cả!
Giống
như thế nào? Giống như chúng ta canh tác chăn nuôi. Đối với
kỹ thuật trồng trọt, có thể nói họ nghiên cứu rất kỹ,
phân tích đất đai, thành phần nước, phân bón, khí hậu,
ánh nắng, không khí, với những điều ấy họ đều nghiên
cứu rất kỹ lưỡng, căn bệnh của họ là gì? Họ không
có hạt giống. Là những nhà thực hành trong văn phòng. Không
có chủng tử, không trồng được gì hết! Chủng tử là gì?
Trong mạng của quý vị phải có của cải. Mạng quý vị chẳng
có của cải, dù kỹ thuật, phương pháp hay đến đâu cũng
chẳng thể phát tài! Mạng thật sự có của, chẳng cần hiểu
phương pháp gì, bất luận làm cách nào, tài nguyên ồ ạt
đổ tới.
Sự
thật ấy chỉ có Phật biết rõ, Phật giảng rất minh bạch.
Mạng quý vị có của, tôi đoán mạng quý vị có của cải,
của cải ấy từ đâu có? Do bố thí mà có! Trong quá khứ
quý vị tu Tài Bố Thí rất nhiều, nên mạng quý vị của
cải phong phú, rất lớn. Bất luận làm nghề gì cũng đều
phát tài. Trong quá khứ tiếc của chẳng chịu bố thí, trong
đời này kho đụn trống rỗng, học nghề khéo gì vẫn chẳng
thể phát tài. Tối đa là học xong khóa học, tốt nghiệp
rồi vào công ty người ta giúp việc kiếm tiền, làm nhân
viên cho người ta, chứ mình chẳng phải là nhà doanh nghiệp.
Thông
minh trí huệ thì bố thí pháp, khỏe mạnh sống lâu thì bố
thí vô úy. Tôn giả Bạc Câu La thọ mạng bậc nhất, chúng
ta thấy thế biết là trong quá khứ tôn giả đời đời kiếp
kiếp bố thí vô úy rất nhiều. Ngài là thiện nhân, đại
từ đại bi cứu khổ cứu nạn, trông thấy hết thảy chúng
sanh mắc phải tai nạn, Ngài vui vẻ ra tay giúp đỡ, bởi thế
được quả báo trường thọ. Vị cuối cùng là:
“A
Nậu Lâu Đà”
Danh
hiệu này dịch thành Vô Bần, đây cũng là hiển thị nhân
quả. A Nậu Lâu Đà cũng là trong đời kiếp quá khứ lâu
xa về trước, từng bố thí cúng dường một vị Bích Chi
Phật. Bích Chi Phật đi khất thực, Ngài cung kính cúng dường.
Ngài được phước báo dài bao kiếp (chẳng thể tính nổi
năm, phải dùng số kiếp để tính). Bao kiếp chẳng chịu
quả báo bần cùng. Duyên phận tốt, gặp Bích Chi Phật, tự
mình có thể cung kính cúng dường, được phước báo ấy.
Ngài cũng là em họ của Thích Ca Mâu Ni Phật, lúc nghe kinh
pháp thường ngủ gật, tinh thần chẳng tỉnh táo, bị Thích
Ca Mâu Ni Phật quở trách. Phật mắng Ngài giống như loài
ốc, loài nghêu, ngủ một giấc là ngủ ngàn năm, chẳng nghe
được danh hiệu Phật.
A Nậu
Lâu Đà rất buồn bực, sau khi bị Phật quở, thật dũng mãnh
tinh tấn, bảy ngày bảy đêm không ngủ, bị mù mắt vì dụng
công quá độ. Thích Ca Mâu Ni Phật thương xót, dạy Ngài tu
một pháp môn, Ngài tu thành. Tu thành rồi mở được Thiên
Nhãn, trong Tăng đoàn được xưng là “bán đầu thiên nhãn”.
Ngài nhìn chẳng cần tròng mắt, nửa đầu đều là mắt,
đều thấy được, thấy phía trên, thấy khắp bốn phía,
thấy cả đằng sau, “bán đầu thiên nhãn”. Trong các A La
Hán, Ngài là bậc “thiên nhãn bậc nhất, phước đức, nhọc
nhằn học hành”.
Trong
kinh Phật dạy chúng ta, Thiên Nhãn của Tiểu Thừa A La Hán
thấy được một tiểu thiên thế giới, thông thường mọi
A La Hán có thể thấy được một tiểu thiên thế giới. Tiểu
thiên thế giới bao lớn? Nếu nói như cư sĩ Hoàng Niệm Tổ,
chúng ta biết một thế giới là một Ngân Hà Hệ, A La Hán
thấy được một ngàn Ngân Hà Hệ chẳng cần dùng đến máy
móc. Tất cả hết thảy tinh cầu trong một ngàn Ngân Hà Hệ
đó, muôn hình muôn sắc, Ngài đều thấy rõ ràng rành mạch;
nhưng thiên nhãn của A Nậu Lâu Đà tu thành có năng lực thù
thắng, thấy được một đại thiên thế giới, tức tam thiên
đại thiên thế giới. Thế giới Sa Bà này của đức Thích
Ca Mâu Ni Phật đối với Ngài cũng chẳng có vấn đề, toàn
thể thế giới Sa Bà, trên đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ
Thiên, dưới đến A Tỳ địa ngục, Ngài đều thấy rất
rõ, đều hiểu rõ, “thiên nhãn đệ nhất”.
Sau đó, chúng ta tổng kết phần nói về những vị ấy, “thử
đẳng đại chúng” (các đại chúng này) tức là chỉ tất
cả những chúng thường tùy của Thế Tôn, một ngàn hai trăm
năm mươi lăm người, “bổn thị Pháp Thân đại sĩ” (vốn
là Pháp Thân đại sĩ). Phần trên chúng tôi đã nói, những
vị ấy là “đại A La Hán, mọi người hay biết”, đại
A La Hán là tôn hiệu của Pháp Vân Địa Bồ Tát, chẳng phải
là danh hiệu của người tầm thường. Thất Địa Bồ Tát,
Bát Địa Bồ Tát, Cửu Địa Bồ Tát đều chẳng thể xưng.
Pháp Vân Địa Bồ Tát là Pháp Thân đại sĩ! Huống hồ trong
số đó lại có không ít vị cổ Phật tái lai, “thị hiện
làm Thanh Văn”, họ đến nơi này để thị hiện, chẳng thật
sự là Tiểu Thừa A La Hán, Thanh Văn là Tiểu Thừa!
Giống như diễn tuồng trên sân khấu, Ngài được phân diễn
vai Tiểu Thừa A La Hán, chứ trên thực tế đã sớm thành
Phật. Nay trên sân khấu đóng vai Tiểu Thừa A La Hán, hoặc
là quốc vương, đại thần, hoặc là trưởng giả, cư sĩ;
thế gian này là một sân khấu lớn. Diễn xuất nhằm mục
đích “chứng thực pháp chẳng thể nghĩ bàn này”, chứng
minh cho đại chúng! Trong câu “pháp chẳng thể nghĩ bàn này”,
chữ “này” chỉ kinh A Di Đà. Kinh A Di Đà thật sự là pháp
môn chẳng thể nghĩ bàn, chỉ dạy hết thảy chúng sanh đới
nghiệp vãng sanh, thân cận Di Đà, một đời viên thành Phật
đạo, chẳng cần đợi đến kiếp sau, một đời bèn viên
mãn. Cũng chẳng cần phải nói ba đại A Tăng Kỳ kiếp, vô
lượng kiếp gì cả, không cần đến đâu! Một đời thành
tựu, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới vô lượng thọ.
Đến thế giới Cực Lạc thành Phật, thành vị Phật viên
mãn rốt ráo, chẳng mất một thời gian rất dài. Kinh Quán
Vô Lượng Thọ cho biết: Vãng sanh Hạ Hạ Phẩm trong Phàm
Thánh Đồng Cư Độ, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới
chứng đắc quả Phật viên mãn, cũng chỉ mất mười hai kiếp
thôi. Quý vị nghĩ so với ba A Tăng Kỳ kiếp, vô lượng A
Tăng Kỳ kiếp thì mười hai kiếp chẳng phải là quá ngắn
hay sao? Mà đó là gì vậy? Vãng sanh Hạ Hạ Phẩm! Nếu Thượng
Thượng Phẩm vãng sanh trong Thật Báo Trang Nghiêm Độ, vừa
về đó bèn “hoa khai kiến Phật ngộ Vô Sanh”, lập tức
thành tựu, thành Vô Sanh Nhẫn Bồ Tát. Vô Sanh Nhẫn Bồ Tát
là Thất Địa, Bát Địa, Cửu Địa, thật sự chứng đắc.
Trước khi chứng đắc thì sao? Khi chưa chứng đắc thì thọ
dụng, thần thông, đạo lực của quý vị cũng chẳng kém
Thất Địa, Bát Địa Bồ Tát chi mấy. Khi đức Phật giới
thiệu cùng chúng ta bốn mươi tám nguyện của Phật A Di Đà
đã nhắc đến: “Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới
đều là A Duy Việt Trí Bồ Tát”. A Duy Việt Trí Bồ Tát
là Thất Địa Bồ Tát, từ Thất Địa trở lên; bởi thế
pháp môn này chẳng thể nghĩ bàn. Các vị ấy đến chứng
minh cho Thích Ca Mâu Ni Phật, những gì Phật dạy họ đều
thị hiện, đều biến thành sự thật.
“Tùng Phật chuyển luân quảng lợi nhân thiên” (theo Phật
chuyển pháp luân lợi ích rộng khắp trời người). “Chuyển
luân” là giáo hóa chúng sanh, giúp Phật giáo dục trong xã
hội đa nguyên văn hóa. “Quảng lợi” là lợi ích rộng
lớn, bố thí cúng dường đại chúng trời người. Chúng ta
tu bố thí, cúng dường chư Phật Như Lai, chư đại Bồ Tát
cũng tu bố thí cúng dường tại đây. Phước trí như biển
trọn khắp pháp giới, hư không giới. Trong kinh nói “quảng
lợi nhân thiên”, tức là đem pháp môn Trì Danh Niệm Phật
này giới thiệu cùng đại chúng trời người, người thiện
căn thành thục trong một đời này sẽ thành tựu. Họ hiểu
rõ, họ giác ngộ, buông xuống vạn duyên, nhất tâm chuyên
niệm A Di Đà Phật.
“Nay nghe công đức nhiếp thọ của Tịnh Độ”, nghĩa là
đối với bộ kinh này “tin nhận phụng hành, thật sự lấy
bản thân làm gương, khuyên chúng ta tin tưởng sâu xa không
nghi ngờ”. Ở đây, mười sáu vị tôn giả khuyên dạy chúng
ta, vì đại chúng thực nghiệm. Chớ cậy mình rất thông minh
chẳng cần phải học pháp môn này, ta có thể học pháp môn
khác cao sâu hơn pháp môn này. Quý vị có thông minh, trí huệ
bằng được Xá Lợi Phất hay không? Thần thông, năng lực
có sánh bằng Mục Kiện Liên hay không? Xá Lợi Phất, Mục
Kiện Liên đều chắc thật niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ,
quý vị hãy suy nghĩ kỹ đi!
Nếu quý vị nói mình không có thiện căn, tôi tội nghiệp
sâu nặng, tôi chẳng có năng lực, hãy xem ngài Châu Lợi Bàn
Đà Già, so với Ngài thì sao? Ta thấy ngài Châu Lợi Bàn Đà
Già đâu được như mình, thế mà Châu Lợi Bàn Đà Già niệm
A Di Đà Phật bèn thành công; sao quý vị chẳng thể làm? Mười
sáu vị tôn giả, ai nấy đều có sở trường, giáo hóa các
căn tánh bất đồng trong thế gian này, làm gương mẫu rất
khéo cho mọi người. Chỉ cần quý vị tin được, tiếp nhận
được, quý vị y giáo phụng hành được, chẳng có ai không
thành công cả. Pháp môn này gọi là “vạn người tu vạn
người đi”, chẳng sót một ai hết!
Hiện tại vì sao niệm Phật chẳng dễ dàng? Giống như thầy
Lý thường hay nói: “Một vạn người niệm Phật, thật sự
vãng sanh chẳng qua hai ba người mà thôi!” Nguyên nhân nào?
Hai ba người đó tin nhận phụng hành, còn những người niệm
Phật kia, hơn chín ngàn chín trăm chín mươi kia chẳng chịu
tin nhận phụng hành. Họ chỉ niệm Phật miệng có tâm không,
đối với phiền não tập khí thế gian buông xuống không được,
đối với danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần thế
gian vẫn tham ái, vẫn lưu luyến, vậy thì không có cách chi
hết! Trong Phật pháp thường nói Phật chẳng thể độ kẻ
vô duyên, bọn họ là người vô duyên, vậy thì không có cách
chi hết! Thật sự tin tưởng, thật sự tiếp nhận, thật
sự phụng hành thì buông xuống vạn duyên, buông thân tâm
thế giới xuống, nhất tâm nhất ý chuyên cầu Tịnh Độ,
chẳng một ai không được vãng sanh! A! Nay đã hết giờ rồi!
*
6.2.1.6.4.
Giảng rõ về Bồ Tát chúng
Chư vị đồng học!
Xin xem Hệ Niệm Pháp Sự, phần Bồ Tát chúng trong Tự Phần
của A Di Đà Kinh:
“Tinh chư Bồ Tát Ma Ha Tát, Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử,
A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn
Bồ Tát, dữ như thị đẳng chư đại Bồ Tát”.
(Và các Bồ Tát Ma Ha Tát: Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử,
A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn
Bồ Tát, và các đại Bồ Tát như thế)
6.2.1.6.4.1.
Quảng thích Bồ Tát chúng
Đoạn này là Bồ Tát chúng. Trong phần trên đã giới thiệu
chúng Thanh Văn gồm mười sáu vị A La Hán, chủ yếu là tượng
trưng cho Tín. Bồ Tát chúng chỉ nêu bốn vị: Văn Thù, Di
Lặc là khuyên nên nguyện, Càn Đà Ha Đề và Thường Tinh
Tấn là khuyên nên hành, cùng với mười sáu vị tôn giả
ở phần trên là khuyên nên tin. “Tín, Hạnh, Nguyện” là
ba điều kiện trọng yếu nhất của việc niệm Phật vãng
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, ba điều kiện ấy thiếu
một chẳng được, nhất định phải có đủ. Bởi thế, toàn
bộ kinh, bất luận Tự Phần, Chánh Tông Phần hay Lưu Thông
Phần, chúng ta đều thấy khuyên tin, khuyên nguyện, khuyên
hành. Tuy kinh văn không dài, nhưng kết cấu chương pháp, hệ
thống tư tưởng hết sức tinh mật, viên mãn, trọn đủ,
chúng ta phải tích cực học tập kinh này.
Bồ Tát tiếng Phạn là Bồ Đề Tát Đỏa, người Trung Quốc
thích nói gọn, chữ Bồ Đề tỉnh lược âm cuối, chữ Tát
Đỏa cũng tỉnh lược âm cuối, nên ta gọi Bồ Đề Tát Đỏa
là Bồ Tát. Ma Ha Tát là Đại Bồ Tát, Ma Ha là Đại, vị
Bồ Tát lớn trong chúng Bồ Tát. Chữ Đại Bồ Tát thường
chỉ bậc Bồ Tát địa thượng, tức mười một địa vị
từ Sơ Địa cho đến Đẳng Giác xưng là Đại Bồ Tát, xưng
là Ma Ha Tát. Trước đó có ba mươi địa vị, nếu thêm Tín
Vị vào thành ra bốn mươi địa vị, tức Thập Tín, Thập
Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, bốn mươi địa vị này
đều xưng là Bồ Tát. Bồ Tát Ma Ha Tát bao gồm từ địa
vị Sơ Tín cho đến Đẳng Giác Bồ Tát.
Tiếng Phạn Bồ Đề Tát Đỏa, lúc dịch sang tiếng Hán thì
thời cổ dịch là Đại Đạo Tâm Chúng Sanh. Ngẫu Ích đại
sư khi chú giải vẫn theo lối cổ dịch “đại đạo tâm
thành tựu hữu tình”. Bồ Tát vẫn là hữu tình, chẳng giống
Phật, Phật hoàn toàn biến tình thành trí huệ. Trước kia,
lúc tôi mới học Phật, tôi còn nhớ từng thỉnh giáo Chương
Gia đại sư: “Bồ Tát khác với Phật như thế nào?” Chương
Gia đại sư cho tôi một tỷ dụ: Lúc đó, trong khách sảnh
có treo một cái đồng hồ, vẫn phải lên dây thiều, chưa
dùng điện, vẫn phải vặn dây thiều. Chúng ta đều biết
– đây là kiến thức thông thường – dây thiều là một
sợi dây thép cuộn lại, có tính đàn hồi, cuộn chặt nó
lại, nó sẽ dần dần bung ra, sức bung ấy sẽ thúc đẩy
đồng hồ chạy. Lúc nó bung ra hết, lại phải cuộn nó lại
(lên dây thiều), nó chẳng hoàn toàn thẳng đơ. Chương Gia
đại sư dùng chuyện đó làm tỷ dụ, Bồ Tát như sợi dây
thiều, dù đã thong dong bung ra, nhưng vẫn còn một chút cuộn
lại, chẳng phải bằng phẳng hết. Dây thiều của Phật đã
tháo bung ra hết, thẳng đơ rồi, Ngài đem tỷ dụ ấy nói
với tôi, ngụ ý: Bồ Tát chưa một trăm phần trăm biến tình
thành trí huệ.
Ví như Đẳng Giác Bồ Tát, chín mươi chín phần là Trí, vẫn
còn một phần Tình. Nhìn đâu cũng dường như đã bình rồi,
nhưng nhìn kỹ vẫn còn một chút Tình, chẳng như Như Lai một
trăm phần trăm chuyển biến thành Trí. Bởi thế, Trí và Tình
cùng là một sự, chẳng phải hai; lúc giác thì gọi là Trí,
lúc mê thì gọi là Tình. Tình là mê tình, Trí là giác trí.
Đẳng Giác Bồ Tát còn một phẩm sanh tướng vô minh tối
hậu còn chưa phá, đó vẫn là Tình. Phải phá sạch một phẩm
vô minh ấy, thì trí huệ mới rốt ráo viên mãn.
Bởi thế, Bồ Tát dịch là “đại đạo tâm thành tựu hữu
tình”. Sau này, ngài Huyền Trang chẳng dùng chữ “đại đạo
tâm” để dịch, Ngài dịch là Giác Hữu Tình. Nếu gộp cả
hai lối tân và cựu dịch lại để hiểu, ý nghĩa càng sáng
tỏ. Thế nào là đại đạo tâm? Giác ngộ là đại đạo
tâm. Giác tâm là đại đạo tâm, giác chứ không mê. Huyền
Trang đại sư dịch Bồ Đề Tát Đỏa thành “chúng sanh hữu
tình giác ngộ”, thời cổ dịch là “đại đạo tâm thành
tựu hữu tình”, hợp hai cách nói này lại, chúng ta càng
hiểu rõ ý nghĩa.
Bồ Tát địa vị càng cao, trí huệ càng lớn, tình chấp càng
ít. Phàm phu hoàn toàn bất giác. Phàm phu có giác ngộ, thông
minh, có trí huệ, thì trong Phật pháp gọi cái giác ấy là
“tương tự giác”, tức chẳng phải giác ngộ thật, chẳng
phải là chánh giác. Tiêu chuẩn của Chánh Giác là gì? Đoạn
sạch Kiến Tư phiền não mới gọi là Chánh Giác, bởi thế
lục đạo phàm phu Kiến Tư phiền não chưa đoạn, dùng kinh
Kim Cang để nói, dùng tiêu chuẩn đó để nói thì lục đạo
chúng sanh có “ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng,
thọ giả tướng”. Chỉ cần có đủ bốn tướng ấy thì
chưa giác. Dù rất thông minh, rất có trí huệ, trong nhà Phật
chỉ gọi là Tương Tự Giác, chẳng phải là Chánh Giác, chỉ
hơi giống thôi.
Chánh Giác phải phá được bốn tướng, phá Tứ Kiến rồi,
tâm địa người ấy chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh
giác, từ bi, không có ngã tướng, không nhân tướng, không
chúng sanh tướng, không thọ giả tướng, thì mới gọi là
Bồ Tát. Vì sao chẳng thể gọi lục đạo chúng sanh là Chánh
Giác? Chỉ vì lục đạo chúng sanh có Ngã, có Ngã tức là
có tư niệm, có lòng mong lợi ích riêng tư. Nói cách khác,
khởi tâm động niệm có vấn đề, nghĩ tưởng đến “lợi
ích của riêng mình”. Chỉ bận lòng đến lợi ích của chính
mình, chẳng đoái hoài lợi ích của người khác, bởi thế
khởi tâm động niệm đều là tổn người lợi mình.
Nói thật ra, người tốt kẻ xấu đều chỉ là mức độ
khác biệt. Người tốt là ý niệm và hành vi tổn người
lợi mình nhẹ một chút, ít một chút; kẻ bất thiện ý niệm
tổn người lợi mình rất nặng, gây thành nhiều việc, nên
sai khác đến thế ấy. Chẳng như Bồ Tát, Bồ Tát hoàn toàn
chẳng tự tư tự lợi; Ngài đến trong thế gian này để làm
gì? Đến trong thế gian này để độ chúng sanh. Thế nào là
độ chúng sanh? Giúp cho hết thảy chúng sanh giác ngộ. Giúp
hết thảy chúng sanh giác ngộ mà nếu còn có chút tự tư
tự lợi, làm sao giúp chúng sanh giác ngộ cho được? Phải
hiểu đạo lý ấy! Thế gian và xuất thế gian khác biệt ở
chỗ này, một niệm khác biệt vậy.
Thế nào là xuất thế gian? Vô tư, vô ngã vì hết thảy chúng
sanh phục vụ, chẳng cần biết anh là thân phận gì, già,
trẻ, nam, nữ, hễ có hạnh nghiệp như vậy bèn là Bồ Tát.
Nếu vẫn còn có một ý niệm tự tư tự lợi, vẫn có một
niệm vị kỷ, dù quý vị có ở trong chùa miếu, có sống
trong núi thẳm, sống trong chùa quý (bảo sát), quý vị vẫn
là thế gian, chẳng phải xuất thế gian. Chúng ta phải hiểu
đạo lý này! So với Thanh Văn ở trên, Bồ Tát cao hơn nhiều
lắm! Thanh Văn là “tướng” xuất thế gian, “tâm” chẳng
thấy được xuất thế gian. Quý vị thấy rất nhiều người
xuất gia (cổ nhân thường gọi là “cổ tròn tay thụng”.
Nay dùng chữ “cổ tròn tay thụng” để chỉ người xuất
gia), “thân xuất chứ tâm không xuất”. Trong tâm vẫn là
nhân ngã thị phi, vẫn là tham - sân - si -mạn, niệm niệm
quan tâm lợi ích của chính mình, “tâm” chẳng hề xuất!
Thân tợ hồ là người xuất gia, nhưng tâm chẳng xuất.
Quá nửa Bồ Tát thị hiện tại gia, đấy là “tâm xuất
thân chẳng xuất”, cao hơn Thanh Văn nhiều! Thấy họ là hạng
tại gia, có vợ con, họ có công ăn việc làm, chẳng khác
gì người thế gian cả. Họ không Ngã tướng, không nhân tướng,
không chúng sanh tướng, không thọ giả tướng, họ chẳng
tự tư tự lợi. Họ buôn bán, họ là thương nhân, họ là
thương nhân Bồ Tát. Họ là công nhân, họ là công nhân Bồ
Tát. Nếu họ làm công chức, làm quan, làm quan lớn thì họ
là tể quan Bồ Tát. Bất luận làm nghề gì, đều là Bồ
Tát hết!
Bởi thế, quý vị thấy ở Trung Quốc tạo tượng Bồ Tát,
nổi tiếng nhất là bốn vị Bồ Tát ở bốn đại danh sơn.
Quý vị xem kỹ tượng bốn vị Bồ Tát, chỉ có tượng Địa
Tạng Vương thị hiện tướng xuất gia, Quán Âm Bồ Tát là
tướng tại gia, Văn Thù Bồ Tát cũng là tướng tại gia, Phổ
Hiền Bồ Tát cũng là tướng tại gia luôn. Ấn Độ tạo tượng
Bồ Tát Di Lặc cũng là tướng tại gia. Người Trung Quốc
tạo tượng Di Lặc Bồ Tát đều là hình dạng của Bố Đại
Hòa Thượng, là tướng xuất gia. Vì sao tạo tượng Bố Đại
hòa thượng? Bố Đại hòa thượng là người thời Nam Tống,
cùng một thời đại với Nhạc Phi. Ngài xuất hiện trong một
giải Triết Giang - Phụng Hóa, là một người xuất gia, chẳng
ai biết tên Ngài là gì. Mỗi ngày, Ngài quảy một cái túi
vải lớn, ai cúng dường đều bỏ vào trong túi. Bởi thế,
mọi người gọi Ngài là Bố Đại hòa thượng, bèn thành
tên Bố Đại Hòa Thượng. Nhắc đến Bố Đại hòa thượng
ai nấy đều biết. Ngày ngày du hóa bên ngoài, có ai hỏi về
Phật pháp, Ngài cười hì hì buông cái túi xuống đất, bỏ
thõng hai tay. Quý vị hỏi Ngài thế nào là Phật pháp? Ngài
làm như vậy, người khác thấy: "Buông xuống!" Phật pháp
là buông xuống. Buông xuống rồi làm sao? Quảy túi vải lên,
khoác trên vai đi. Ngài dạy điều gì? Trước hết, Phật pháp
dạy quý vị buông xuống, buông xuống hết thảy, buông xuống
xong rồi bèn giúp đỡ hết thảy chúng sanh, quý vị phải
khởi lên ý niệm đó. Bởi thế mới nói buông xuống được,
đưa lên được, đó là Bồ Tát. Một câu chẳng nói, ý nghĩa
rất sâu, mọi vấn đề của anh đều giải quyết hết!
Lúc Ngài vãng sanh, Ngài chẳng sanh bệnh, nói đi là đi; bảo
với mọi người ta là Di Lặc Bồ Tát phát tâm tái lai, nói
xong là đi. Ngài chẳng dối người. Lúc lâm chung đem bản
lai diện mục nói ra; bởi thế người Tàu tạo tượng Di Lặc
Bồ Tát bèn tạo giống hình tượng Ngài, duyên do là như vậy.
Các quốc gia khác trên toàn thế giới chẳng tạo tượng Di
Lặc Bồ Tát giống vậy. Tại Ung Hòa Cung ở Bắc Kinh có thờ
một tượng Di Lặc Bồ Tát rất cao. Lúc chúng tôi đến tham
quan, tượng Di Lặc Bồ Tát ấy đem từ Ấn Độ qua, tạc
bằng cả một cây gỗ; một cây gỗ rất to lớn, đại khái
cao chừng sáu bảy tầng lầu. Lúc chúng tôi ngắm tượng,
vị phương trượng (họ gọi là Lạt-ma) bảo tôi tượng này
chìm dưới đất tám thước nữa.
Bất luận Bồ Tát thị hiện tại gia hay xuất gia, nếu chú
tâm quán sát, nhất định cho thấy Ngài học Định lẫn Huệ
đều bình đẳng, bi trí song vận, tự lợi, lợi tha. Tự lợi
chính là lợi tha, chính mình thời thời khắc khắc, nơi nơi
chốn chốn làm tấm gương tốt cho đại chúng trong xã hội,
đó là “đến trong thế gian này giáo hóa chúng sanh”. Bất
luận thân phận nào, đều là theo đuổi công tác giáo dục,
giáo dục xã hội, nay chúng ta gọi là giáo dục xã hội đa
nguyên văn hóa.
6.2.1.6.4.2.
Nêu tên các vị thượng thủ trong Bồ Tát chúng
“Văn Thù Sư Lợi” gọi là Pháp Vương Tử, vì Phật là
Pháp Vương, Bồ Tát kế thừa sự nghiệp của Như Lai, hoằng
pháp lợi sanh, bởi thế gọi là Pháp Vương Tử. Văn Thù Sư
Lợi là tiếng Phạn, dịch nghĩa sang tiếng Hán thì trong Bát
Thập Hoa Nghiêm dịch là Diệu Đức, hoặc Diệu Cát Tường.
Ở Trung Quốc, Ngũ Đài Sơn là đạo tràng của Văn Thù Bồ
Tát; trong chúng Bồ Tát, Ngài đại biểu cho trí huệ đệ
nhất, giống như Xá Lợi Phất đại biểu cho trí huệ đệ
nhất trong chúng Thanh Văn. Trong kinh, tên vị Thượng Thủ biểu
trưng cho pháp, chúng ta nhất định phải hiểu đạo lý này.
Đại biểu cho một bộ kinh, pháp môn này, phương pháp lý
luận tu học này là trí huệ đệ nhất. Trong chúng Thanh Văn,
chúng Bồ Tát đều nêu tên bậc trí huệ đệ nhất ngay đầu
tiên, dụng ý rất sâu sa.
Trong Yếu Giải, đại sư Ngẫu Ích giảng: “Phi dũng mãnh
thật trí, bất năng chứng giải Tịnh Độ pháp môn”. Câu
nói này rất hay, chẳng phải là trí huệ dũng mãnh, chân thật,
sẽ chẳng thể thật sự chứng nhập, hiểu rõ được pháp
môn này; bởi thế phải lấy Văn Thù Bồ Tát để chứng minh.
Trong kinh Hoa Nghiêm, ta thấy chính bản thân ngài Văn Thù Bồ
Tát phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, vì chúng ta hiển thị
thật sự chẳng thể nghĩ bàn. Trong cuốn Nghiên Tập Báo Cáo
của chúng tôi, Văn Thù “tượng trưng cho Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác”, pháp môn A Di Đà Kinh này, pháp môn Tịnh
Độ là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Vị thứ hai là A Dật Đa Bồ Tát, “A Dật Đa” là Di Lặc
Bồ Tát. Có người nói Di Lặc là họ của Bồ Tát, A Dật
Đa là tên. Cũng có người nói A Dật Đa là tên, Di Lặc là
họ. Thật ra cái nào là tên, cái nào là họ không quan trọng,
chúng ta bất tất phân biệt chấp trước. Ở Trung Quốc, ta
quen gọi Ngài là Di Lặc Bồ Tát, đương thời ở Ấn Độ
thường gọi là A Dật Đa, gọi Ngài bằng danh hiệu ấy. A
Dật Đa là tiếng Phạn, dịch nghĩa sang tiếng Tàu là Vô Năng
Thắng, ý nói từ bi không ai hơn được. Lòng từ bi của Ngài
là từ bi chân thành, là từ bi thanh tịnh, là từ bi bình đẳng.
Tâm từ bi quả thật trọn pháp giới hư không; bởi thế Trung
Quốc còn gọi Ngài là Từ Thị Bồ Tát, từ bi bậc nhất.
Đối với hình tượng Bố Đại hòa thượng, cổ đức có
mấy câu tán thán như sau: “Sanh bình đẳng tâm, thành hỷ
duyệt tướng”. Hai câu này rất hay, hai câu này dạy chúng
ta: Ta đối với hết thảy chúng sanh phải sanh tâm bình đẳng,
đối với hết thảy chúng sanh phải sanh tâm hoan hỷ, “hỷ
duyệt tướng” nay gọi là tâm yêu thương, vui thích. Trong
Đại Thừa Phật pháp thường nói từ bi, từ bi là hỷ ái.
Nhưng hỷ ái ấy chẳng phải là cảm tình, bởi thế Phật
pháp chẳng dùng chữ “hỷ ái” mà dùng chữ “từ bi”,
sợ người đời thấy danh từ “hỷ ái” bèn hiểu lầm.
Lòng hỷ ái ấy chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, là trí
huệ. Lòng hỷ ái ấy nhà Phật gọi là Từ Bi. Do đây biết
rằng: Người thế gian hỷ ái chẳng toàn vẹn chân thành,
chẳng đủ thanh tịnh, bình đẳng, trí huệ, chẳng có đủ
những điều ấy. Bởi thế lòng hỷ ái của họ chẳng vĩnh
hằng, lòng hỷ ái của họ thường bị biến chuyển. Đối
với hết thảy chúng sanh, Phật, Bồ Tát hỷ ái vĩnh hằng
bất biến, nếu quý vị hỏi vì sao ư? Vì các ngài không tự
tư, không tự lợi, không vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.
Lòng hỷ ái ấy xuất phát từ tự tánh, tương ứng chân thành,
thanh tịnh, bình đẳng, trí huệ. Nói cách khác, chân thành,
thanh tịnh, bình đẳng, trí huệ biến thành hiện thực. Nếu
không có từ bi sao gọi là “chân thành, thanh tịnh, bình đẳng
giác”? Đều thành danh từ trừu tượng cả! Từ “sanh bình
đẳng tâm, thành hỷ duyệt tướng” trở thành hiện thực,
phải hiểu điều này, phải nhận rõ điều này!
Ở đây, Bồ Tát thể hiện ý nghĩa rất sâu, Di Lặc “tượng
trưng cho Nhất Sanh Bổ Xứ”, điều này rất trọng yếu.
Di Lặc Bồ Tát là vị Phật thứ năm trong thế giới Sa Bà
của chúng ta, hiện tại Ngài là vị Phật hậu bổ của Thích
Ca Mâu Ni Phật, trụ trong Đâu Suất nội viện. Trong những
buổi giảng tôi thường nhắc tới chuyện thành Phật; đầy
đủ những điều kiện nào mới thành Phật? Tri túc! Người
tri túc bèn thành Phật. Bởi thế, Bổ Xứ Bồ Tát cũng chẳng
ở nơi nào khác, Ngài nhất định phải trụ tại Đâu Suất.
Đâu Suất là tiếng Phạn, dịch nghĩa sang tiếng Tàu là “Tri
Túc”. Đâu Suất thiên là Tri Túc thiên. Có tri túc mới có
thể thành Phật; không tri túc chẳng thể thành Phật. Người
tri túc chẳng mong cầu, người không tri túc bèn tham cầu.
Quý vị thấy Di Lặc Bồ Tát tượng trưng cho ý nghĩa này
rất khéo! Ở đây, Di Lặc Bồ Tát tượng trưng cho pháp gì?
Tượng trưng cho pháp môn này, người tu học pháp môn này
giống như Bổ Xứ Bồ Tát không sai chạy! Thật sự là pháp
khó tin, nhưng sự thật đúng như thế đó. Bởi lẽ, quý vị
tu pháp môn này, một đời thành Phật, đó chẳng gọi là
Bổ Xứ, thì gọi là gì đây?
Nay Di Lặc Bồ Tát đang ở trời Đâu Suất, tương lai hạ
sanh thế gian này thị hiện thành Phật. Chúng ta tu học pháp
môn này vãng sanh thế giới Cực Lạc, trong Cực Lạc thế
giới theo học với A Di Đà Phật, cũng là một đời viên
mãn thành Phật, chẳng cần đợi đến đời thứ hai. Bởi
thế, Thích Ca Mâu Ni Phật dạy cho ta biết Tây Phương Cực
Lạc thế giới, thế giới này là “các thượng thiện nhân
cùng họp một chỗ”, “thượng thiện” là Đẳng Giác Bồ
Tát. Phàm ai vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, ta đều
có thể gọi họ là Đẳng Giác Bồ Tát. Tương lai, người
ấy đến đâu thành Phật? Chẳng phải ở thế giới Cực
Lạc, mà là ở các nơi khắp hư không pháp giới, chỗ nào
có duyên bèn đến đó thành Phật. Bởi thế tổ sư đại
đức thường chỉ dạy chúng ta rộng kết pháp duyên, rất
trọng yếu! Pháp duyên của quý vị thù thắng, nơi thành Phật
của quý vị trong tương lai rất nhiều! Vì sao? Kinh luận thường
nói: “Phật chẳng độ kẻ vô duyên”, quý vị muốn độ
người hữu duyên thì quý vị phải rộng kết pháp duyên đối
với hết thảy chúng sanh, không kết duyên không được.
Dưới
đây, lại mở ngoặc: “Trung Quốc tạo tượng bình đẳng
hỷ duyệt - Cực Lạc chi ý” (Trung Quốc tạo tượng vui sướng
bình đẳng, [thể hiện] ý Cực Lạc). Tôi vừa mới thưa cùng
quý vị, cổ đức tán thán tượng Ngài là “sanh bình đẳng
tâm, thành hỷ duyệt tướng”, thành tựu tướng hỷ duyệt.
Người tu Tịnh Độ chúng ta phải giống như Di Lặc Bồ Tát,
bất luận ở đâu, bất luận gặp ai, đều chắp tay cười
hì hì: “A Di Đà Phật”. Người tu Tịnh Độ ấy chẳng
cần phải phân biệt người khác nói năng lành hay chẳng lành,
đều chẳng ăn nhằm gì hết! Họ nói lời lành, ta A Di Đà
Phật; họ nói lời chẳng lành, ta cũng A Di Đà Phật. Hết
thảy thị phi thiện ác đến chỗ ta thảy đều hóa thành
A Di Đà Phật, đại từ đại bi!
Hết
thảy pháp thế gian, xuất thế gian đều quy về A Di Đà Phật,
vạn pháp quy nhất, nhất quy Tịnh Độ. Nhà Thiền hỏi: “Vạn
pháp quy nhất, nhất quy hà xứ?” (Vạn pháp quy nhất, cái
nhất đó quy về đâu?) Chúng ta có câu trả lời: “Vạn pháp
quy nhất, nhất quy Tịnh Độ”. Cái quy nhất ấy là quy về
một câu danh hiệu, danh hiệu công đức chẳng thể nghĩ bàn;
chúng ta chấp trì danh hiệu quy tâm Tịnh Độ.
Bởi
thế, hai vị Bồ Tát này khuyên nên nguyện, khuyên chúng ta
phát nguyện, nhất định phải khẳng định, nhận biết pháp
môn này là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Pháp môn này
“sanh bình đẳng tâm, thành hỷ duyệt tướng”, là pháp
môn Nhất Sanh Bổ Xứ, quý vị phải cầu lấy. Bởi lẽ, vãng
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới đều là A Duy Việt Trí,
A Duy Việt Trí là viên chứng ba thứ Bất Thoái! Chứng ba thứ
Bất Thoái là chứng đắc của Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo,
chứng được nhưng chưa viên mãn. Viên chứng ba thứ Bất
Thoái là hạng Bồ Tát nào? Tổ sư đại đức bảo từ Thất
Địa trở lên, chẳng phải là hạng Bồ Tát bình thường,
mà là Vô Sanh Nhẫn Bồ Tát, là A Duy Việt Trí. Trong A Duy Việt
Trí cũng chia thành ba phẩm thượng, trung, hạ. Hạ phẩm là
Thất Địa, trung phẩm là Bát Địa, thượng phẩm là Cửu
Địa; trên nữa là Như Lai quả địa. Quý vị thấy pháp môn
này thù thắng vậy đó, chẳng cần phải trải qua A Tăng Kỳ
kiếp, ba đại A Tăng Kỳ kiếp, chẳng cần! Một đời thành
tựu, bất tất phải trải qua năm mươi mốt địa vị, không
cần! Pháp môn này là pháp môn viên đốn, pháp môn hy hữu
khôn sánh!
Vị
Bồ Tát thứ ba là Càn Đà Ha Đề. Càn Đà Ha Đề là tiếng
Phạn, dịch sang nghĩa Trung Quốc là Bất Hưu Tức (chẳng ngơi
nghỉ) dũng mãnh tinh tấn.
Vị
Bồ Tát thứ tư là Thường Tinh Tấn. Quý vị thấy “Bất
Hưu Tức, Thường Tinh Tấn” hai vị Bồ Tát này tượng trưng
cho hạnh môn, khuyên nên hành. “Như Thiện Tài tham học, một
đời tu chứng Tịch Quang tịnh độ”. Trong kinh Hoa Nghiêm,
Thiện Tài đồng tử tham học năm mươi ba lần, thị hiện
cho ta thấy chẳng ngơi nghỉ, luôn tinh tấn. Thiện Tài nêu
gương ấy cho ta thấy, một đời viên mãn thành tựu.
Với
bốn vị Bồ Tát này, Ngẫu Ích đại sư bảo Văn Thù là cổ
Phật tái lai, điều này ai nấy đều biết. Quá khứ Ngài
là thầy của bảy đức Phật. Nói cách khác, bảy người
học trò của Ngài nay đã đều thành Phật, Ngài là thầy
của bảy vị Phật. Nay Ngài đến đây vì chúng ta chứng minh:
Pháp môn này trí huệ đệ nhất, thù thắng khôn sánh, Ngài
có tư cách để chứng minh điều ấy cho chúng ta.
Di
Lặc Bồ Tát là Đẳng Giác hậu bổ Phật; Bất Hưu Tức,
Thường Tinh Tấn đều là Bồ Tát địa vị cao, địa vị
cao tức là Pháp Vân Địa hoặc Đẳng Giác, vì chúng ta thị
hiện, khuyên lơn, chỉ bảo chúng ta pháp môn này chẳng dễ
gì gặp được. Bài Khai Kinh Kệ có câu: “Trăm ngàn vạn
ức khó gặp gỡ”. Cư sĩ Bành Tế Thanh đầu đời Thanh viết:
“Vô lượng kiếp lai, hy hữu nan phùng chi nhất nhật” (Từ
vô lượng kiếp đến nay, hiếm có, khó gặp được một ngày).
Nay chúng ta gặp được, trong ngàn vạn kiếp hy hữu khó gặp,
mà chúng ta gặp được; người ta thường nói quý vị rất
hên! Gặp được rồi thì sao? Phải tin tưởng, phải phát
nguyện cầu sanh Tịnh Độ, phải dũng mãnh tinh tấn, chẳng
thể phụ bạc một đời, phải khéo niệm Phật! Phải biến
việc này thành việc quan trọng bậc nhất trong cuộc đời
này, làm sao thực hiện cho tốt? Phải nhớ lời Ấn Quang đại
sư.
Ấn
Quang đại sư xuất hiện trong thời cận đại, rất nhiều
đồng học biết Ngài là Đại Thế Chí Bồ Tát tái lai. Trong
thời đại hiện tại, đạo tràng như thế nào thích hợp
nhất để tu hành, tập đạo, bảo đảm quý vị vãng sanh
Tây Phương Cực Lạc thế giới? Ngài dạy chúng ta nguyên tắc:
Đạo tràng quy mô nhỏ, người cùng tu chẳng quá hai mươi
người. Đạo tràng ít người, cuộc sống dễ duy trì, chẳng
cần hóa duyên, chẳng phải làm pháp hội, chẳng phải làm
Phật sự siêu độ, cũng chẳng truyền giới, cũng chẳng giảng
kinh, công khóa mỗi ngày giống như Phật thất, Phật thất
suốt năm. Phật thất là bảy ngày, ở đây chúng tôi đề
xướng mười Phật thất, tức bảy mươi ngày, còn thường
niên Phật thất tức là suốt cả năm đều giống như công
khóa lúc đả Phật thất. Buông xuống vạn duyên, nhất tâm
cầu Tịnh Độ.
Đồng
tham đạo hữu như thế chẳng dễ cầu. Đạo tràng của chúng
tôi chẳng thể hoàn toàn tuân theo chỉ thị của Ấn Quang
đại sư, vì ở đây chúng tôi thêm một buổi giảng kinh.
Vì sao phải giảng kinh? Nếu chẳng hiểu rõ đạo lý Tịnh
tông, chẳng nhận rõ cảnh giới, sẽ nhiều phen tâm lui sụt.
Nghe kinh nhiều, hiểu rõ đạo lý, giúp quý vị buông xuống,
giúp quý vị đoạn nghi sanh tín, kiên định tín nguyện, đảm
bảo quý vị một đời thành tựu, đạo lý là đây. Mọi
chuyện khác chúng tôi không làm, đạo tràng này là giảng
kinh, niệm Phật, tâm vĩnh viễn định. Bây giờ hết giờ
rồi!
*
Chư vị đồng học!
Xin hãy xem đoạn thứ ba của phần Thông Tự.
6.2.1.6.5.
Quảng thích ngoại hộ chúng
“Cập Thích Đề Hoàn Nhân đẳng, vô lượng chư thiên đại
chúng câu”.
(Và Thích Đề Hoàn Nhân v.v… Vô lượng chư thiên đại chúng
cùng nhóm họp)
“Thích Đề Hoàn Nhân” là tiếng Phạn, có nghĩa là Năng
Thiên Chúa. Trí huệ, đức hạnh của ông ta đều trọn đủ
để lãnh đạo chúng sanh, tên ông ta có nghĩa như vậy. Ông
ta là chúa trời Đao Lợi, ta gọi là Đao Lợi thiên vương.
Vị được dân gian Trung Quốc gọi là Ngọc Hoàng Thượng
Đế chính là ông ta.
“Đẳng, vô lượng chư thiên đại chúng câu”: “Đẳng”
là vân vân, phía dưới ông ta là bốn vị thiên vương, trên
là các trời Dạ Ma, Đâu Suất, Tha Hóa Tự Tại, lên trên
nữa lại có Sắc Giới, Vô Sắc Giới “vô lượng chư thiên”,
lấy ông ta làm đại biểu. Chư thiên nhiều như thế, vì sao
lại chỉ lấy ông ta làm đại biểu. Điều này cũng có đạo
lý.
Thứ nhất là ông ta cách loài người chúng ta không xa lắm.
Nếu nói những tầng trời cao hơn, như Dạ Ma, Đâu Suất,
Hóa Lạc, Tha Hóa Tự Tại, Sắc Giới, Vô Sắc Giới, trong
thế gian này rất nhiều người không biết, họ cách xa chúng
ta quá, chẳng hiểu được! Mọi người đều biết Đao Lợi
thiên chúa, đều rất ngưỡng mộ Đao Lợi thiên chúa. Mức
độ danh tiếng của Đao Lợi thiên chúa rất cao, duyên rất
thù thắng. Bởi thế lấy ông ta làm đại biểu, đó là một
ý nghĩa.
Thứ hai, ông ta là hộ pháp rất đắc lực của đức Thế
Tôn. Đương nhiên chư thiên đều là hộ pháp, Phật pháp cũng
chẳng lìa nhân tình, chúng ta phải hiểu đạo lý này. Phổ
Hiền Bồ Tát dạy chúng ta hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ
công đức; người thế gian đều tôn kính Đao Lợi thiên chúa,
đều phụng thờ Ngọc Hoàng thượng đế, Thích Ca Mâu Ni Phật
hằng thuận chúng sanh, lấy Đế Thích làm đại biểu. “Biểu
thị hết thảy những người thuộc hết thảy tôn giáo đều
nên tu”. Ở đây, Đế Thích biểu thị pháp: Mục tiêu giáo
học của tất cả hết thảy tôn giáo là Thiên Đường; nay
Thích Đề Hoàn Nhân cũng tham dự pháp hội này, tiếp nhận
Thích Ca Mâu Ni Phật răn dạy, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ.
Quý vị muốn đến Thiên Đường, nhưng Thiên Chúa của quý
vị nay đang niệm Phật, quý vị cũng phải cầu sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới.
Bởi
thế, năm xưa khi tôi mới học Phật, trong số bạn bè có
không ít tín đồ Cơ Đốc, chúng tôi đều là bạn bè rất
thân. Sau khi tôi học Phật, tôi khuyên họ nỗ lực chiếu
theo kinh điển Cơ Đốc để tu học cho tốt; tôi chẳng khuyên
họ học Phật. Bởi thế, có rất nhiều người ngạc nhiên:
“Sao ông lại dạy như vậy?” Tôi nói: “Đao Lợi thiên
chúa thường lễ thỉnh Phật, Bồ Tát giảng kinh thuyết pháp
trên thiên cung. Người kia chẳng có duyên với Phật, tôi có
khuyên ông ta cũng chẳng tin. Khi ông ta sanh lên trời rồi,
ông ta gặp được Thiên Chúa, rất nhiều thiên chúng nghe kinh
nghe pháp!” Đi đường vòng như thế chẳng hề gì! Bởi thế
tôi chẳng khuyên những người đó học Phật, làm vậy không
hay, không hợp lý. Khi khuyên họ học Phật là phản giáo,
điều ấy có ảnh hưởng không tốt đối với xã hội. Khuyên
họ tích cực tu học, thật sự sanh lên trời, Phật cũng đang
giảng kinh thuyết pháp trên thiên đường!
Nếu
chúng ta thật sự vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới,
trong thiên cung có rất nhiều bằng hữu, chúng ta có thể tùy
thời đến tụ hội với họ. Họ chẳng tự tại, chúng ta
tự tại. Giống như trong thế gian hiện tại này, có rất
nhiều người ra ngoại quốc chẳng dễ dàng, có kẻ không
có hộ chiếu (passport), có kẻ có hộ chiếu nhưng không được
chấp thuận. Chúng tôi có rất nhiều hộ chiếu, xin phép rất
thuận tiện, đến đâu cũng được; ai không đến đây gặp
tôi được, tôi bèn đến đó gặp họ. Chúng ta về Tây Phương
Cực Lạc thế giới, chư thiên đến thế giới Cực Lạc chẳng
dễ dàng, nhưng người của thế giới Cực Lạc đến bất
cứ tầng trời nào đều rất thuận lợi. Chúng ta có thể
thường chiếu cố kẻ ấy, thường xuyên gặp họ, giãi bày
chuyện cũ, thật là sung sướng.
Thứ
ba là “đại chúng: biểu thị hết thảy chúng sanh muốn lìa
khổ được sự vui rốt ráo thì phải nên tu”. Phạm vi của
đại chúng rất rộng, chẳng những là hết thảy loài người,
mà trong ấy còn gồm cả loài súc sanh, loài ngạ quỷ, loài
địa ngục, thảy đều gộp cả trong ấy, hết thảy chúng
sanh trong lục đạo. Nếu quý vị thật sự muốn lìa khổ
được vui rốt ráo, trừ pháp môn này ra, các pháp môn khác
chẳng thể thành công dễ dàng. Pháp môn này thật sự giúp
quý vị một đời thành tựu. Bởi thế đoạn này là “phàm
chúng khuyến tu”, hoằng hộ (hoằng truyền, gìn giữ), “hoằng
hộ kinh này, thỏa bản hoài của Phật”.
Việc
hoằng hộ này bất luận người tại gia hay xuất gia ai nấy
đều nên làm. Sao gọi là Hoằng? Tự mình y giáo tu hành là
Hoằng, tôi làm như vậy cho anh coi, bởi thế Hoằng và Hộ
không thể tách rời nhau. Thiên chức của bọn đệ tử Phật
chúng ta là hoằng hộ chánh pháp, trong thời kỳ Mạt Pháp
hoằng hộ pháp môn Tịnh Độ. Đấy là thiên chức của chúng
ta. Nói đến “hoằng hộ” lại khiến tôi liên tưởng đến
người Trung Quốc, thiên chức của quý vị phải là hoằng
hộ truyền thống đạo đức, văn hóa của dân tộc; đó là
thiên chức của quý vị.
Quý
vị là người quốc gia nào, là người thuộc dân tộc nào,
hoặc tín ngưỡng một tôn giáo nào đó, thiên chức của quý
vị là phải thực hiện sứ mạng hoằng hộ dân tộc, quốc
gia, tôn giáo đó. Nếu quý vị chẳng thể làm trọn sứ mạng
hoằng hộ, thì truyền thống đạo đức, văn hóa sẽ bị
suy vong! Suy đến cùng cực bèn diệt vong! Sao quý vị chẳng
có lỗi với tổ tông? Sao chẳng mắc lỗi với tiền bối?
Trong kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm khẳng định pháp
nào cũng bình đẳng, không có cao thấp. Văn hóa mỗi quốc
gia đều hay, truyền thống của mỗi một dân tộc đều hay,
mỗi một tôn giáo đều hay, đều cần có người phát dương
quang đại.
Nay
ở Trung Quốc rất bất hạnh phát sanh cơn bệnh dịch SARS,
rốt cuộc là Trung y giỏi hay Tây y giỏi? Lời ông Đặng Tiểu
Bình nói rất có lý: “Chẳng cần biết là mèo trắng hay
mèo đen, mèo nào bắt được chuột là mèo giỏi”. Dùng câu
đó để nói, chẳng cần biết Trung Y hay Tây Y, thứ y học
nào chữa được bệnh nhân thì nền y học đó giỏi. Sao lại
tranh cãi lôi thôi trong lúc này? Tranh cãi lôi thôi là sai lầm,
bao người chết oan uổng! Đối với những người chết oan
uổng ấy, quý vị không phải gánh trách nhiệm nhân quả ư?
Đối với thế gian, quý vị chẳng chịu trách nhiệm pháp
luật, nhưng quý vị có trách nhiệm nhân quả. Quý vị có
cảm thấy lương tâm cắn rứt hay không? Nếu quả thật quý
vị không có lương tâm, đương nhiên chẳng cảm thấy lương
tâm cắn rứt, không có lương tâm mà! Nhưng quý vị chẳng
thoát khỏi nhân quả báo ứng đâu!
Lúc
này chớ tranh chấp, cứu người khẩn yếu hơn! Cứu một
mạng người hơn tạo phù-đồ bảy tầng, công đức ấy chẳng
thể nghĩ bàn. Nếu quý vị không cẩn thận, lơ đãng, hại
một mạng người, tương lai phải đền mạng. Người Trung
Quốc tin tưởng nhân quả, tin vào luân hồi quả báo. Nay người
Tây Phương cũng dần dần giác ngộ, có không ít người rất
tích cực nghiên cứu sự việc này.
Nếu
như bây giờ nói hết thảy đều lấy khoa học làm căn cứ,
chẳng hợp khoa học bèn chẳng tin, khoa học đến nay được
bao nhiêu năm lịch sử? Tính cho cùng thì không quá ba trăm
năm, ba trăm năm trước đó người ta sống ra sao? Chưa có
khoa học họ sống làm sao? Ba trăm năm trước kia có ôn dịch,
chẳng phải là không có ôn dịch, trong lịch sử Trung Quốc
có ghi chép. Y dược, phương pháp cứu người thời đó đều
chẳng có căn cứ khoa học.
Chúng
tôi hoàn toàn chẳng phản đối khoa học, chúng tôi tôn trọng
khoa học; nhưng vẫn còn có rất nhiều điều mà khoa học
hiện tại không thấu suốt, chưa phát hiện được. Y dược
Trung Quốc được phát minh rất sớm, tối thiểu có lịch
sử năm ngàn năm, chỉ riêng năm ngàn năm kinh nghiệm đã chẳng
thể coi thường. Khoa học có thể thay thế được chăng? Nếu
như khoa học đem mọi thứ vốn sẵn có như những thứ truyền
thống ưu tú nhất của mỗi quốc gia dân tộc đều tiêu diệt,
hủy sạch, khoa học vạn năng, thì kết quả tối hậu của
khoa học là gì? Nhà khoa học sẽ tự nói “thế giới đến
ngày tàn!”
Người
Trung Quốc đáng thương! Vô cùng đáng thương! Trước kia,
tôi cùng tiên sinh Hồ Thu Vân trò chuyện, hết sức cảm khái.
Từ cuối đời nhà Thanh trở đi, người Trung Quốc chôn vùi
lòng tự tin dân tộc, Trung Quốc có tai nạn vì đâu? Là vì
lý do đó. Hiện tại ôn dịch gây chết người, rất nhiều
người bị chết. Nguyên nhân vì đâu? Chẳng tin tưởng vào
y dược Trung Quốc; vì nguyên nhân nào? Chôn vùi lòng tự tin
dân tộc, chẳng tin tưởng vào bất cứ thứ gì tổ tông đã
truyền lại. Nếu nói theo nhân quả, họ đáng phải nhận
lãnh kết quả ấy. Đó là đại bất hiếu! Tổ tông nào chẳng
yêu thương con cháu, truyền lại những thứ tốt nhất cho
đời sau, anh không tin tưởng thì không còn cách nào hết!
Anh cứ muốn vứt sạch, cứ muốn tiêu diệt đi, tội ấy
nặng lắm!
Bởi
vậy, nói đến rốt ráo là vấn đề giáo dục của Trung Quốc.
Trong thiên Học Ký có hai câu rất hay: “Kiến quốc quân dân,
giáo học vi tiên” (xây dựng đất nước, cai trị dân chúng,
đều lấy giáo dục làm đầu). Giáo dục triết học Trung
Quốc, quan niệm giáo dục từ thời Hán Vũ Đế chế định
chính sách giáo dục cho đến đời Mãn Thanh chẳng cải biến.
Trước kia, chúng tôi đọc lịch sử, đối với việc này
chúng tôi cảm thấy rất lạ lùng. Mỗi một triều đại đều
có những chuyện hưng khởi, thay đổi, cớ sao giáo dục vẫn
chẳng biến động? Người Mông Cổ vào làm chủ Trung Quốc
chẳng biến cải, người Mãn Thanh vào làm chủ Trung Quốc
cũng không thay đổi. Chúng ta chú ý xem kỹ, cổ thánh tiên
hiền Trung Quốc, đặc biệt là Nho gia, trong bách gia chư tử,
Hán Võ Đế chọn giáo học Nho gia làm giáo dục truyền thống
của quốc gia. Nho dạy chúng ta điều gì? Châu phu tử, tức
Châu Hy đời Tống lập ra trường học tư, bản yết thị
ở thư viện hang Bạch Lộc là cương lãnh, tổng cương lãnh,
tổng nguyên tắc giảng dạy của Nho gia, đơn giản dễ hiểu.
Giáo dục Trung Quốc mấy ngàn năm chẳng lìa khỏi chuẩn mực
sau đây:
a)
“Cha con thương yêu nhau”. Điều ấy có sai lầm chăng? Nay
chẳng còn nữa, cha chẳng từ, con chẳng hiếu. Trước kia
tiếp thọ giáo dục Nho gia, cha từ con hiếu, gia đình hòa
thuận, yên vui.
b)
“Vua tôi có nghĩa”, nay vua hoài nghi bầy tôi, bầy tôi chẳng
trung với vua. “Vua” là người lãnh đạo một đoàn thể,
“bầy tôi” là người được lãnh đạo, bằng mặt không
bằng lòng, tốt gì đâu?
c)
“Chồng vợ có sai khác, lớn nhỏ có tôn ty trật tự, bạn
bè giữ chữ Tín”, nguyên tắc ấy có gì không tốt?
Đấy
là năm điều dạy người ở Trung Quốc từ cổ đến nay,
có thể nói là bắt nguồn thời Nghiêu Thuấn, bắt nguồn
từ thời Nghiêu Thuấn thì trong lịch sử Trung Quốc, phỏng
chừng hơn bốn ngàn năm trước, giáo dục Trung Quốc dạy
như vậy đó. Dạy chúng ta phương pháp tư duy thông thường:
“Học rộng, hỏi kỹ, suy nghĩ cẩn thận, làm sáng tỏ, dốc
sức thực hành”. Phương pháp này có thích hợp cho hiện
tại hay không? Xử sự đãi người tiếp vật, cương lãnh
đều rất đơn giản, “lời lẽ trung tín, việc làm dốc
lòng thành”, quý vị nghĩ có tốt hay không? Ngôn ngữ phải
chân thành, người hiện tại hay bịp người. Toàn là nói
dối, nói đâm thọc, ác khẩu, nói thêu dệt. Đại khái, giáo
học Trung Quốc từ cổ đến nay chẳng phù hợp khoa học,
hiếu - đễ - trung - tín chẳng phù hợp khoa học, người với
người tôn trọng nhau, kính yêu nhau chẳng hợp khoa học. Khoa
học hoàn toàn chống trái những điều đó thì thế giới
này biến thành thế giới gì? “Xử sự, phải đúng nghĩa,
chẳng mưu lợi”, điều này chắc chắn chẳng hợp khoa học;
khoa học nói lợi hại, Nho gia nói đạo nghĩa, cốt sao hợp
đạo nghĩa, chẳng cần biết đến lợi hại.
Bởi
thế, cổ thánh tiên hiền có thể bỏ mình vì người, đối
đãi người “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều
gì mình không muốn, chớ làm cho người khác). Giáo huấn như
vậy có sai lầm chăng? Phải nên làm gì? Đúng là khoa học
dạy chúng ta phải cạnh tranh, đấu tranh, chiến tranh, vĩnh
viễn tranh đấu, luôn luôn đấu tranh, đến chết vẫn tranh
giành chẳng thôi, sống trong đau khổ. Giáo dục của Nho, Phật,
thánh hiền dạy ta sống trong hoan lạc, sống trong an ninh. Nhưng
bây giờ nói đến an ninh chẳng ai hiểu được, vì sao? Từ
trước đến giờ chưa từng sống an ninh, từ trước đến
giờ chưa biết thế nào là niềm vui thiên luân, chưa hề có,
chưa hề thấy qua, chưa hề nghe đến. Họ toàn thấy, nghe
tranh giành, đấu tranh, chiến tranh, vĩnh viễn phải chiến
thắng hết thảy, không chiến thắng là thất bại, biết sao
được!
Bởi
thế nay chúng tôi nói đến hộ pháp thật chẳng phải dễ,
trong thời đại này, giáo huấn của thánh hiền, truyền thống
đạo đức văn hóa của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều
bị băng hoại toàn bộ. Bởi thế rất nhiều vị cổ lão
Tây Phương tiên đoán, trong Thánh Kinh cũng có nói, ngay cả
Cổ Lan Kinh (Koran: Thánh kinh của đạo Hồi) cũng nói đến
ngày tận thế. Kinh Cổ Lan lại còn dạy tín đồ phải tin
vào một vị Chúa thật, phải tin vào ngày tận thế.
Trong
thời đại này, chúng ta phải hướng về đâu? Quý vị phải
chân chánh giác ngộ, phải nhớ kỹ những giáo huấn của
Ấn Quang đại sư, Ngài chỉ cho chúng ta một sanh lộ: Đạo
tràng quy mô nhỏ, ít người cùng tu, chẳng phan duyên, nhất
tâm niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ. Nếu có cơ duyên bèn
dạy mấy học trò, truyền lại đạo thánh hiền. Không cần
nhiều học trò, có được một người là được rồi, có
thể truyền được rồi. Quý vị hãy nghĩ lúc Thiền Tông
vừa truyền đến Trung Quốc, Đạt Ma Tổ Sư đến Trung Quốc,
truyền cho một mình Huệ Khả. Sau đó Đạo Tín, Tăng Xán
đều là đời đời đơn truyền, đến Lục Tổ Huệ Năng
đại sư, duyên thành thục, chúng sanh phước báo hiện tiền,
bởi thế Thiền Tông mới hưng vượng mạnh mẽ. Chỉ cần
ngọn lửa đèn ấy chẳng tắt, chỉ cần một tia ánh sáng,
duy trì mối đạo chẳng để suy đọa, sau này nhất định
có ngày phát dương quang đại. Đấy là chuyện chúng ta phải
làm trong hiện tại.
Nhưng
với công tác ấy, tự mình nhất định phải hiểu có chủ
và khách. Chủ là gì? Chủ là tự cầu sanh Tịnh Độ. Truyền
đạo, truyền pháp phải theo duyên phận, chẳng có duyên phận
có muốn làm cũng chẳng thành công. Phải có duyên phận, chúng
sanh có phước báo, chư Phật oai thần gia trì, tự mình thành
tâm thành ý chẳng có một điểm tư tâm, đấy chẳng phải
là chuyện dễ dàng. Nhưng bất luận như thế nào, trước
hết phải thành tựu chính mình, đấy là điều kiện tiên
quyết bậc nhất.
Trong
thời kỳ Mạt Pháp chướng duyên rất nhiều, bởi thế đạo
tràng nhỏ ít người, chướng ngại bèn ít. Đạo tràng của
chúng ta, sau khi dựng xong giảng đường, tôi bảo cùng mọi
người: “Làm đến đây là thôi!” Chúng tôi hy vọng làm
được điều Ấn Quang đại sư giáo huấn, chúng tôi y giáo
phụng hành. Mười người, hai mươi người ngày ngày chắc
thật niệm Phật, học kinh giáo, giải hạnh tương ứng. Chúng
ta có Học Hội ở Bố Lý Tư Bản (Brisbane), Học Hội chúng
ta cũng phải làm gương, tuân thủ lời Ấn Quang pháp sư giáo
huấn, mong rằng chúng thường trụ chẳng quá hai mươi người.
Chúng ta có thể tổ chức Phật thất, giúp đỡ những người
ngoài đạo tràng chân chánh phát tâm đến tu học. Vẫn chiếu
theo phương pháp trước kia, một năm tổ chức bốn lần hoạt
động là Phật thất. Hoạt động Phật thất của chúng ta
kể cả người trong nhà không quá bốn mươi tám người, bốn
mươi tám người ứng với bốn mươi tám nguyện của Phật
A Di Đà, gồm cả người trong nhà. Nếu trong nhà có hai mươi
người, chúng ta chỉ tiếp nhận hai mươi tám người bên ngoài.
Nếu trong nhà có ba mươi người, chúng tôi chỉ có thể tiếp
nhận mười tám người ngoài, nỗ lực tu tập!
Trong
giới nhiếp ảnh, chúng tôi không ngừng mời mọc những vị
thầy giỏi dạy cho chúng ta một vài lớp. Những lớp ấy
chúng ta không bắt buộc phải học, vì sao lại học? Sau khi
chúng ta thâu hình bèn phát lên mạng Internet, lưu thông trên
đài truyền hình vệ tinh, thực hiện hoạt động giáo dục
xã hội. Đó là chúng ta hoằng hộ chánh pháp, hoằng hộ mối
đạo của Nho, Phật, thánh hiền giáo huấn, chúng ta làm công
tác ấy, hy vọng mình đã đặt quyết tâm nơi đây, sẽ thật
sự thành tựu. Chúng tôi dùng đó để báo ân Phật, báo ân
cha mẹ, báo ân tổ tông, báo ân hết thảy chúng sanh, phải
thực hiện bằng hành động, phải có thành tích mới được,
chứ chẳng phải là miệng nói xuông. Miệng nói xuông là giả,
nào phải là thật. Bởi thế, hôm nay trông thấy hai chữ Hoằng
Hộ, tôi vô cùng cảm xúc sâu xa!
Trong
đoạn cuối cùng này có một điều “vô vấn tự thuyết”
(không ai hỏi tự nói). “Từ mẫn thâm thiết, cấp độ chúng
cố, nghĩa lý huyền bí nan tín, vô nhân khải thỉnh” (lòng
từ mẫn sâu đậm, thiết tha, vì gấp độ chúng sanh, nghĩa
lý u huyền, kín mật, không người khải thỉnh). Bộ kinh này
không ai hỏi, tự đức Thích Ca Mâu Ni Phật nói ra. Tình hình
này không nhiều, đức Thế Tôn giảng kinh hơn quá nửa là
vì có người nêu câu hỏi, ở đây đức Phật tự nói. Nói
thật ra, pháp môn này không có ai có khả năng để hỏi cả.
Phật thấy trong đại chúng khi ấy có rất nhiều người căn
cơ chín muồi, chín muồi là có thể tin được, có thể tiếp
nhận được, họ sẽ được lợi ích. Trong pháp Đại Thừa
thường nói: “Phật chẳng độ kẻ vô duyên”.
Như
trong cơn dịch SARS lần này, có rất nhiều vị thầy lang rất
giỏi, tâm rất từ bi, muốn giúp đỡ, nhưng người ta không
tin, ấy là vô duyên. Trông thấy người bệnh chết, mà không
cách chi cứu được. Hữu duyên là gì? Tin tưởng, mong mỏi
hợp tác với mình, để cho mình cứu. Tôi nghe nói ở Bắc
Kinh có ông đạo diễn họ Tạ, tên là Tạ Phi, bị mắc bệnh
SARS. Thầy lang họ Lưu ở Bắc Kinh bốc thuốc cho ông Tạ,
hết mười tám đồng nhân dân tệ, ông Tạ lành bệnh, được
xuất viện. Đưa vào bệnh viện cũng là lúc gặp hồi nguy
ngập, chữa theo Tây y phải gắn ống này nọ, rất phiền
phức. Người đắc lực cũng là một bạn đồng hành của
ông ta, cũng là một Phật giáo đồ chúng ta, cư sĩ Lăng Tư
van nài bệnh viện, xin bệnh viện cho ông Tạ thử dùng thuốc
Bắc trong thời gian ba ngày. Tính không sai, vị thầy lang trong
bệnh viện đó thật đại từ đại bi đáp ứng. Ông Tạ
bèn uống thuốc Bắc, ba ngày sau kiểm tra lại, đã khỏe,
đã bình thường, bèn cho về, chỉ mười tám đồng nhân dân
tệ thôi!
Chuyện
đó nhà Phật gọi là hữu duyên, Phật độ người hữu duyên.
Nếu quý vị chẳng tin tưởng, chẳng hợp tác, không cách
gì hết! Đối với hết thảy chúng sanh, đức Phật cũng thế.
Sở dĩ Thích Ca Mâu Ni Phật trông thấy học trò Ngài trong
thế gian này có người tin tưởng được, có người hiểu
được, có người hành được, chẳng đợi người khác hỏi,
bèn tự mình nói ra! “Lòng từ mẫn sâu đậm, thiết tha,
gấp độ chúng sanh”. Pháp môn này dạy quý vị một đời
thành Phật, khó tin nhất. Chẳng những người bình thường
không tin, Tiểu Thừa Thanh Văn, Duyên Giác, Quyền Giáo Bồ
Tát rất nhiều vị chẳng tin tưởng pháp môn này. Vậy cũng
tốt thôi! Quý vị cứ từ từ đi con đường dài xa, quý vị
mất vô lượng kiếp, ba đại A Tăng Kỳ kiếp, cứ từ từ
mà đi. Pháp môn này một đời viên mãn, hữu hiệu phi thường.
Phương pháp đơn giản, dễ dàng, “nghĩa lý u huyền, kín
mật, khó tin”, đạo lý, lý luận rất sâu, rất huyền! Nếu
chờ Phật đem những sự việc này giảng thật rõ cho quý
vị thì quý vị mới tin nổi, quý vị chẳng có thọ mạng
dài như thế đâu!
Trong
kinh Phật có một bộ kinh nhỏ tên là Tiễn Dụ Kinh (kinh thí
dụ mũi tên) để tỷ dụ việc này. Một người trúng phải
tên độc, thời cổ ở khoảng cách xa người ta dùng cung tên,
ông ta trúng phải tên độc, độc ngấm rất sâu. Nay có thầy
thuốc cho uống thuốc giải sẽ ngay lập tức lành mạnh, nhưng
ông ta chẳng tin tưởng, cứ muốn biết chất độc ấy là
gì? Dùng thuốc giải gì? Nếu đến lúc hiểu rõ những lý
luận ấy thì chất độc đã phát tác mất rồi, mạng còn
đâu nữa? Bởi thế, lúc ấy cái gì cũng không buồn hỏi,
cứ tin là dùng ngay bèn hữu hiệu, bèn được lành. Quý vị
khỏe rồi mới lại nghiên cứu thì được vì quý vị có
thời gian. Còn trong lúc đó, lúc tánh mạng nguy cấp, vẫn
đòi nghiên cứu chẳng phải là tự kiếm cái chết ư?
Ở
đây, Phật dạy chúng ta tin vào thiện tri thức, đối với
họ ta phải có tín tâm. Quý vị không tin tưởng họ, dù họ
có đại trí huệ, có đại năng lực cũng giúp không nổi!
Đức Phật có trí huệ rốt ráo viên mãn, đức năng viên
mãn, chúng ta tin tưởng hay không? Chẳng tin tưởng thì không
có cách gì hết! Ai có thể tin được? Những người thiện
căn sâu dày. Trong đời quá khứ gieo thiện căn sẽ tin tưởng
được, hiểu được. Nói thật ra, tín tâm của chúng ta đối
với Phật pháp cũng phụ thuộc vào thời gian tu học trưởng
dưỡng mà có. Lúc tố