Dẫn
Nhập
Lần
đầu tiên mạt nhân được biết đến Trung Phong Tam Thời
Hệ Niệm là vào năm 2001 trong kỳ Phật Thất mùa Đông tại
Tịnh Tông Học Hội Dallas. Do không biết tiếng Quan Thoại
nên chúng tôi không nghe ra các âm thanh tụng niệm để theo
kịp khóa niệm; nhờ đó, chúng tôi có dịp thong thả đọc
từng trang Tam Thời Hệ Niệm và nhận thấy đây là một tác
phẩm vô cùng quý giá cho Tịnh nghiệp hành nhân.
Thoạt
nhìn, dễ hiểu lầm đây chỉ là một thứ khóa tụng nhằm
hồi hướng cho các vong linh sau khi Phật thất viên mãn. Thế
nhưng, càng đọc kỹ càng thấy mỗi một lời khai thị trong
bản pháp sự khoa nghi này đúng là kim chỉ nam cho người tu
Tịnh Độ. Càng đọc, chúng tôi càng nhận thấy tư tưởng
của Trung Phong quốc sư qua những lời khai thị hoàn toàn nhất
quán với tư tưởng của lịch đại tổ sư Tịnh Tông. Dường
như, trong các trước tác, ngài Ngẫu Ích chịu ảnh hưởng
của ngài Trung Phong rất nhiều, nhưng do kiến văn thô lậu,
hữu hạn, chúng tôi không dám đoan chắc điều này. So với
tác phẩm Tịnh Độ Sám Nguyện của ngài Tuân Thức, ý nghĩa,
văn chương, khai thị, thứ tự tác pháp của Tam Thời Hệ
Niệm đều vượt trội. Nhất là trong pháp sự này, đối
tượng quy kính hoàn toàn chuyên nhất nơi Tây Phương Tam Thánh,
không lễ bái quá nhiều danh hiệu thập phương chư Phật,
Bồ Tát, Thanh Văn Tăng như trong Tịnh Độ Sám Nguyện, khiến
tư tưởng “nhất tâm chuyên niệm, hồi hướng phát nguyện
vãng sanh” của Tịnh Tông càng được củng cố mạnh mẽ,
người hành trì cũng dễ chú tâm hơn.
Đã
từ lâu mạt nhân mang tâm nguyện phiên âm, chuyển ngữ pháp
sự khoa nghi này, nhưng đành bó tay vì văn chương ngài Trung
Phong quá cô đọng, hầu như không cách nào gượng dịch được.
May mắn sao! Mùa Thu năm nay (2004), chúng tôi tìm được bản
Giảng Ký về khoa nghi pháp sự này của lão pháp sư Tịnh
Không trên trang nhà Hoa Tạng Phật Giáo Đồ Thư Quán. Xin trân
trọng diễn nôm, với tâm nguyện giúp cho những hành nhân
Tịnh tông có thêm tài liệu làm kim chỉ nam hòng củng cố
chí thú nhất tâm chuyên niệm, hồi hướng vãng sanh. Chúng
tôi hoàn toàn tâm đắc lời Hòa Thượng Tịnh Không khai thị:
Ngoài năm kinh một luận Tịnh Độ, mỗi hành nhân Tịnh Độ
nên thường đọc đi đọc lại pháp sự này, tùy văn nhập
quán để phần nào thể hội ý chỉ “tự tánh Di Đà, duy
tâm Tịnh Độ”; để từ đó, sự lý viên dung, sự sự vô
ngại, niệm niệm chẳng rời A Di Đà Phật.
Dưới
mỗi câu trong chánh văn trong pháp sự khoa nghi, chúng tôi tạm
dịch thành đôi dòng tiếng Việt để phô bày phần nào huyền
nghĩa của chánh văn. Vì sức học quá hạn hẹp, thiếu hẳn
văn tài, chúng tôi không dám gọi đây là bản dịch, mà chỉ
gọi là “bản chuyển ngữ”. Để người đọc tiện theo
dõi, chúng tôi tự tiện đánh số chia khoa mục và đặt tiểu
đề. Do nguyên cảo là một bản ghi chép trung thực lời Hòa
Thượng giảng trong nhiều ngày, nên có những đoạn được
Hòa Thượng nhắc đi nhắc lại đôi ba lần. Khi chuyển ngữ,
chúng tôi vẫn giữ nguyên như thế, không tỉnh lược, ngõ
hầu người đọc có thể tưởng tượng như đang trực tiếp
tham dự pháp hội giảng kinh của Hòa Thượng.
Nếu
việc làm liều lĩnh của chúng tôi có công đức nào thì xin
hồi hướng công đức ấy lên bổn sư thượng Giải hạ Thắng,
trụ trì chùa Bửu Quang quận 7, Sài Gòn, chư tổ sư hoằng
truyền Tịnh tông Việt Nam và Trung Hoa, lịch đại tổ tiên,
phụ mẫu, tông thân quyến thuộc. Nguyện do công đức này,
tất cả tịnh nghiệp hành nhân trong cõi Sa Bà này và mười
phương thế giới đều cùng được viên thành chí nguyện,
cùng hội ngộ nơi Tây Phương Cực Lạc; tất cả chúng sanh
trong mười phương nghiệp đạo đều thoát chốn u đồ, đồng
sanh Tịnh Độ.
Trọng
Đông năm 2004, Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa kính bạch
A.
Giới thiệu giản lược về tác giả
Chư vị đồng học!
Trong giai đoạn này, hằng tháng những Tịnh tông liên hữu
cứ mỗi tháng, vào mỗi Chủ Nhật lại cử hành pháp sự
Tam Thời Hệ Niệm một lần tại Tịnh Tông Học Viện của
chúng ta, có những đồng học rất vui mừng, nhưng có rất
nhiều chỗ trong những lời khai thị của Trung Phong Thiền
Sư họ chẳng hiểu được. Lẽ đương nhiên, họ chẳng thể
tùy văn nhập quán. Bởi thế, các đồng học đến tìm tôi,
hy vọng tôi sẽ giảng nghi thức này một lượt. Tôi nhớ
trong quá khứ đã từng giảng nghi thức này tại Tân Gia Ba,
giảng rất đơn giản. Tập sách này mỗi ngày tôi đều đọc
tụng. Lời Thiền Sư khai thị giản dị, ý nghĩa sâu sắc,
đúng như Phật pháp nói: Bất cứ một pháp nào cũng đều
có thể giúp chúng ta thành Vô Thượng Đạo, bởi pháp nào
cũng đều viên mãn. Nhưng vấn đề là phải hiểu, hiểu chẳng
phải là chuyện dễ. Quý vị yêu cầu, tôi cũng hoan hỷ. Chúng
tôi lợi dụng thời gian này để chúng ta cùng học kỹ tập
sách này.
Tựa đề là Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm Pháp Sự Toàn Tập;
trước hết, chúng tôi giới thiệu cùng quý vị hai chữ Trung
Phong. Trung Phong là tên người, Thiền Sư pháp danh là thượng
Minh hạ Bổn, Minh là quang minh, Bổn là bổn mạt (gốc ngọn).
Trung Phong là biệt danh của Ngài. Ngài là người huyện Tiền
Đường, Hàng Châu; đại khái là người ở Tiêu Sơn thuộc
Hàng Châu. Tiêu Sơn nằm bên bờ sông Tiền Đường. Ngài sanh
vào cuối thời nhà Tống, lớn lên dưới thời Nguyên, là
người thuộc giai đoạn Tống mạt Nguyên sơ. Ở đây, chúng
tôi cũng phải giới thiệu nhà Nguyên đơn giản như sau:
Ở Trung Quốc từ cổ đến nay, người thống trị quốc gia
là người Hán, Hán tộc. Trước kia, các dân tộc khác đều
sống tại ngoại quốc, nay hòa nhập thành dân tộc Trung Hoa.
Dân tộc Trung Hoa có năm sáu mươi sắc dân bất đồng, nhưng
Hán tộc lớn nhất, dân số đông nhất. Triều đại nhà Nguyên
do người Mông Cổ kiến lập, Thanh triều do người Mãn Châu
kiến lập, đều thuộc ngoại tộc. Khi chưa thống nhất thì
gọi họ là “ngoại tộc”, thống nhất rồi, họ bèn hòa
lẫn vào Trung Quốc thành một thể. Bởi thế, bản thân Trung
Quốc là dân tộc đa nguyên văn hóa, giống như một cái lò
luyện lớn, vừa có thể bao dung, vừa có thể đối xử hòa
thuận với nhau, đối đãi bình đẳng. Đấy chính là điều
cổ thánh tiên hiền Trung Quốc răn dạy, là thành tựu của
văn hóa Trung Hoa.
Lãnh tụ Mông Cổ thời ấy là Hốt Tất Liệt (Khubilai), là
hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn (Gengis Khan). Cuối đời vua
Lý Tông triều Tống, vào năm Cảnh Định thứ nhất đời
Tống Lý Tông - Cảnh Định là niên hiệu, tức là năm 1260
dương lịch, nói như vậy mọi người đều hiểu rõ; năm
nay là năm 2003. Nhà Nguyên của Mông Cổ lập quốc vào năm
1260, nhằm vào năm Cảnh Định thứ nhất thời Tống Lý Tông;
Hốt Tất Liệt trở thành Đại Hãn, tức vị tại Khai Bình.
Khai Bình nằm tại cực Bắc Nhiệt Hà, nay là địa khu Mông
Cổ, nằm ở phía chánh Bắc thành Bắc Kinh. Hốt Tất Liệt
lấy niên hiệu là Trung Thống, sau đổi sang niên hiệu khác;
ông ta tức là Thế Tổ Hoàng Đế nhà Nguyên, trong sử gọi
là Nguyên Thế Tổ.
Tính từ năm đầu Dân Quốc, triều Nguyên có trước Dân Quốc
652 năm. Năm nay là năm Dân Quốc 92, quý vị phải biết thời
đại này, đích xác là sáu trăm năm mươi hai năm cộng thêm
chín mươi hai năm nữa, hơn bảy trăm năm! Thời đại nhà
Nguyên cách nay đã hơn bảy trăm năm rồi. Chẳng bao lâu sau
(thời gian các hoàng đế cuối đời Tống tại vị rất ngắn),
vào niên hiệu Hàm Thuần thứ bảy đời Tống Độ Tông, tức
là năm 1271, Mông Cổ đổi quốc hiệu là Nguyên, năm thứ
nhất nhà Nguyên bắt đầu từ đó. Năm 1276, nhà Tống mất
nước, cũng là năm Mông Cổ thống nhất toàn bộ Trung Quốc.
Trung Quốc được thống nhất hoàn toàn vào năm 1277, đấy
chính là năm nhà Nguyên góp mặt vào lịch sử Trung Quốc.
Niên hiệu của Nguyên Thế Tổ khi đó là năm Chí Nguyên thứ
mười bốn (1277). Nếu tính từ thời kỳ Dân Quốc, năm ấy
cách thời Dân Quốc sáu trăm ba mươi lăm năm. Giới thiệu
đơn giản lịch sử nhà Nguyên Mông Cổ cùng quý vị như thế
đó.
Tiếp đến, chúng tôi xin giới thiệu người biên soạn Tam
Thời Hệ Niệm: Trung Phong Thiền Sư. Trung Phong Thiền Sư sanh
năm Quý Hợi, tức năm Cảnh Định thứ tư đời Tống Lý
Tông. Năm Cảnh Định thứ tư tức là năm 1263 Tây lịch. Ngài
sanh nhằm ngày mồng Hai tháng Mười Một năm 1263. Xem trong
truyện ký, Ngài họ Tôn, mẫu thân họ Lý. Bà mẹ Ngài nằm
mộng, mộng thấy “Vô Môn Khai đạo giả, trì đăng lung chí
kỳ gia, dực nhật toại sanh”: vị lão nhân Vô Môn Khai (1)
tay cầm lồng đèn đi vào nhà bà, ngày hôm sau bèn sanh. Do
đây biết rằng: Mẫu thân Ngài nằm mộng ngày mồng Một
tháng Mười Một; ngày mồng Hai tháng Mười Một bà bèn sanh
một bé trai, đứa bé trai ấy là Trung Phong thiền sư. Truyện
ký ghi lại chuyện này, nay chúng ta có thể tin tưởng được.
Vì sao vậy? Chúng ta nghe nói những chuyện như vậy rất nhiều,
đúng là có chuyện như vậy.
Đứa bé ấy trở lại làm người, quyết định chẳng phải
là người tầm thường; nó oai nghi đẹp đẽ chẳng giống
mọi đứa bé khác. Vừa mới biết đi, đứa bé ấy bèn biết
nói. Vừa mới biết đi, tức là “vừa mới khỏi phải địu”
(2), nó liền biết nói, vừa mới biết đi đã biết ngồi
xếp bằng tịnh tọa. Vừa mới biết nói đã biết xướng
phạm bái (3). Chơi với mấy bạn nhỏ khác, nếu quan sát kỹ,
trò chơi của chúng đều là Phật sự, giống như những việc
thuộc pháp hội nhà Phật. Nó thích chơi những trò như vậy.
Do đây, ta biết đời trước nó là người xuất gia, mang theo
tập khí đời quá khứ. Căn bản là chẳng có ai dạy, dẫu
thời ấy Phật pháp rất thạnh hành, nhưng một đứa bé nhỏ
xíu như thế không ai dạy, lại tự biết. Chẳng những đời
trước nó là người xuất gia, mà còn chẳng phải là người
xuất gia tầm thường; nếu là hạng tầm thường sẽ chẳng
thể thành tựu như thế.
Bổn tích nhân duyên của Ngài, chúng ta là phàm phu chẳng thể
biết Ngài có phải là Phật, Bồ Tát ứng hóa hay không, rất
khó nói được. Phần lớn cuộc đời Ngài trụ tại núi Thiên
Mục. Có mấy vị đồng học đã đến núi Thiên Mục rồi.
Đương nhiên Phật sự Hệ Niệm cử hành tại núi Thiên Mục,
chúng tôi tin tưởng nhất định được Trung Phong thiền sư
gia trì. Bất quá ở mọi nơi trên thế giới, nếu chúng ta
quán tưởng núi Thiên Mục, quán tưởng Trung Phong thiền sư,
thì thời gian lẫn không gian chẳng chướng ngại, đều có
thể cảm ứng Tam Bảo, được oai thần của Phật, Bồ Tát
gia trì.
Năm Ngài lên chín tuổi, mẹ mất; bởi thế, cũng có thể
coi Ngài là một cô nhi. Năm mười lăm tuổi, Ngài có ý niệm
xuất gia, nhưng cha vẫn còn. Trung Phong thiền sư rất hiếu
thuận, dẫu có ý niệm xuất gia, nhưng cha không đồng ý,
bèn chẳng thể tùy tiện xuất gia. Dù tại gia, nhưng trong
nhà có Phật đường, Ngài ở nhà lễ Phật nhưng lại đốt
tay, “lễ Phật nhiên tý” – “nhiên tý” là đốt hương
trên cánh tay, tại gia cư sĩ thọ Bồ Tát giới đều đốt
hương trên cánh tay, người xuất gia đốt trên đầu – “thề
giữ ngũ giới”. Mỗi ngày niệm kinh Pháp Hoa, kinh Viên Giác,
kinh Kim Cang. Suốt mười mấy năm ngày đêm tinh tấn, tối
cũng chẳng nghỉ ngơi, “đêm thường đi kinh hành”. Hễ
mệt bèn dộng đầu vào cột để tự răn nhắc mình.
Chúng ta nghĩ thử xem, từ cổ đến nay, những người thật
sự biết dũng mãnh tinh tấn chẳng nhiều. Chúng ta thấy Trung
Phong thiền sư trước khi xuất gia, hành trì suốt mười mấy
năm như thế, chẳng phải là thị hiện cho chúng ta thấy hay
sao? Làm gương cho hàng hậu học, cho đại chúng đương thời.
Chúng tôi hay nói “học vi nhân sư, hạnh vi thế phạm” (học
làm thầy người, hạnh làm khuôn mẫu cho đời), Ngài làm
gương, làm khuôn mẫu cho đại chúng. Người học Phật chân
chánh phải giống như vậy. Nhà Ngài ở gần núi Linh Động,
Ngài thường lên đảnh núi tọa thiền. “Phủ quan” (đến
tuổi đội mũ) – tức là năm hai mươi tuổi – “duyệt
Truyền Đăng Lục” (là một bộ ngữ lục của Thiền Tông,
một ngàn bảy trăm đoạn công án Thiền Tông được chép
trong sách này). Sách này rất dày, toàn là những câu chuyện
về những sự tu hành, khai ngộ, chứng quả trong nhà Thiền.
Trong quá khứ đã từng có người viết thư, người này tham
thiền, [chuyện này có ghi trong] Ấn Quang Văn Sao thiên nào
tôi không nhớ. Khi tôi mới học Phật, lúc còn chưa xuất
gia, xem sách tại thảo am của Sám Vân Pháp Sư ở Phố Lý,
đọc Ấn Quang Văn Sao. Đấy là công khóa đầu tiên Sám Văn
pháp sư buộc tôi phải đọc. Tôi sống ở đó năm tháng rưỡi,
những sách tôi đọc là A Di Đà Kinh Sớ Sao, A Di Đà Kinh Viên
Trung Sao, A Di Đà Kinh Yếu Giải. Sám Vân Pháp Sư dạy tôi
phải nỗ lực đọc thật kỹ ba bộ sách ấy, đã thế lại
còn phải lập đồ biểu phân khoa những cuốn sách ấy (4).
Ngoài ra là xem Ấn Quang Văn Sao.
Tôi nhớ có người gởi thư cho Ấn Quang đại sư nói một
ngàn bảy trăm đoạn công án ấy, ông ta đều tham ngộ thấu
triệt phần lớn, nhưng vẫn còn có mấy điều ông ta chưa
hiểu. Ấn Quang đại sư viết thư trả lời rất khéo. Sư
nói: “Với một ngàn bảy trăm đoạn công án ấy, nếu hiểu
rõ được một điều, ông sẽ hiểu toàn bộ; nếu còn một
điều chưa hiểu rõ thì là ông chẳng hiểu toàn bộ”. Vị
nhân giả ấy sau khi nhận được thư của Ấn Quang đại sư,
giống như nước lạnh xối vào đầu, tỉnh ngay, bèn buông
bỏ chẳng tham thiền nữa, chắc thật niệm Phật. Quý vị
phải biết, từ xưa, các tổ sư đại đức thường dạy chúng
ta: “Một ngộ, hết thảy ngộ”. Vẫn còn một sự chưa
ngộ thì cái gì quý vị cũng chẳng ngộ cả! Ngàn vạn phần
chớ tự nghĩ mình khai ngộ, như thế đúng là lầm đấy!
Tổ Ấn Quang gõ gậy ngay vào đầu, chẳng đánh thức riêng
gì ông ta mà chúng ta đều phải đề cao cảnh giác. Chúng
ta khai ngộ rồi chưa? Chớ hề! Khai ngộ thật sự, cổ đức
đã nói rất rõ: “Thông một kinh, hết thảy kinh đều thông”.
Chúng ta đã thông một kinh hay chưa? Nếu thông rồi, hết thảy
kinh bày trước mặt chúng ta sẽ đều chẳng có chướng ngại
chi, vậy mới là thông! Hết thảy pháp thế gian bày trước
mặt quý vị chẳng chướng ngại gì. Pháp thế gian, xuất
thế gian hoàn toàn thông rồi, thế mới gọi là “đại triệt,
đại ngộ”, mới là đại khai viên giải, chẳng dễ dàng
đâu! Trước kia, lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ rất cảm khái
bảo tôi: “Từ thời Mạt Pháp trở đi, tức là nay trở đi,
chúng sanh không có khả năng”; cho nên chúng tôi kết luận
rằng: Chỉ có chắc thật niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ,
chỉ có con đường này là ổn thỏa, thích đáng nhất, đáng
tin cậy nhất. Ngài Trung Phong là thiền sư, đích thật là
bậc đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh trong Tông Môn.
Quý vị xem đó, Ngài dạy chúng ta niệm Phật, tam thời hệ
niệm.
Vào lúc ấy, có một vị xuất gia thấy Sư rất có thiên tư,
vị xuất gia ấy hiệu là Minh Sơn. Nhìn vào danh hiệu ấy,
chúng tôi cho rằng rất có thể Sư là đồ đệ của Cao Phong
hòa thượng, vì thuộc hàng chữ Minh. Minh Sơn đem ngài Trung
Phong đến núi Thiên Mục ra mắt thầy, vị thầy ấy là Cao
Phong Diệu thiền sư, trong lịch sử Thiền Tông, hòa thượng
Cao Phong cũng rất nổi tiếng, Ngài là quốc sư đời Nguyên.
Môn giám của Cao Phong thiền sư rất cao, thật sự là một
cao tăng hữu đạo (chúng tôi không nói “đắc đạo”, nói
“hữu đạo” là điều hết thảy mọi người đều khẳng
định), xem phẩm cách người khác rất giỏi. Vừa trông thấy
chàng trai trẻ, Hòa Thượng đặc biệt hoan hỷ, đặc biệt
hữu duyên, bèn ngay lập tức cho xuất gia. Trung Phong thiền
sư thưa: “Cha con chẳng cho phép, chẳng thể xuất gia”. Trong
tâm rất muốn xuất gia, nhưng cha vẫn còn, cha chẳng thuận
cho xuất gia. Cao Phong thiền sư bảo: “Ngươi quay về khéo
bàn bạc cùng cha, hy vọng cha ngươi đồng ý cho ngươi xuất
gia”. Đó là chuyện năm hai mươi tuổi mới lộ diện.
Sau khi gặp được Cao Phong thiền sư, Ngài bèn tiếp nhận
sự chỉ dạy của ngài Cao Phong. Bởi vậy, thành tựu của
một cá nhân dù là pháp thế gian hay xuất gia gian đều chẳng
ngoại lệ, thầy dạy rất quan trọng! Gặp được một vị
thầy thật sự cao minh chỉ dạy, quý vị tiến bộ rất nhanh!
Có một ngày, Ngài niệm kinh Kim Cang, niệm đến câu “gánh
vác Như Lai”, niệm đến đó “hoảng nhiên khai giải”,
thật sự là hoát nhiên đại ngộ, đại ngộ chứ chưa triệt
ngộ, nhưng có lợi cho Ngài rất nhiều. “Do vậy nội ngoại
điển tịch (5) đều nắm được nghĩa thú”, đó là ngộ
vậy. Nội điển là kinh Phật, ngoại điển là sách vở Nho
Gia, Đạo Gia, bách gia chư tử; những kinh sách như vậy đều
có thể thông đạt hết. Dẫu ngài Trung Phong đã ngộ nhập
cảnh giới, nhưng rất khiêm hư, chẳng nghĩ mình khai ngộ.
“Khi ấy, Ngài hai mươi bốn tuổi, đúng vào năm Bính Tuất
niên hiệu Chí Nguyên”, năm Bính Tuất niên hiệu Chí Nguyên
là năm 1286 Tây lịch. “Năm sau, bắt đầu xuất gia với Cao
Phong tại Sư Tử Viện”. Sư Tử Viện là tên đạo tràng,
chúng ta biết Ngài xuất gia năm 25 tuổi, năm tụng kinh Kim
Cang giác ngộ là năm hai mươi bốn tuổi, nội ngoại điển
tịch không còn gì chướng ngại nữa.
Trước kia, lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam dạy chúng tôi rằng “nội
ngoại điển tịch là pháp thế gian, xuất thế gian”. Pháp
xuất thế gian là kinh Phật, pháp thế gian là danh từ đương
thời để chỉ các tác phẩm Nho, Đạo, bách gia chư tử của
Trung Quốc. Ngài không gặp chướng ngại gì năm hai mươi bốn
tuổi, không phải là mê tín! Thật là có học vấn. Năm sau
xuất gia, lạy Cao Phong Diệu Thiền Sư làm thầy. Năm hai mươi
sáu tuổi thọ giới. Năm hai mươi bảy tuổi, truyện ký có
đoạn ghi “thấy suối chảy có tỉnh”, tỉnh đây là giác
ngộ. Phía Đông núi Thiên Mục rất nhiều suối, lại còn
có thác. Ngài nhìn thác nước, nước chảy xiết bèn giác
ngộ, cầu thầy ấn chứng. Cao Phong Diệu Thiền Sư là bậc
thật sự khai ngộ, minh tâm kiến tánh, Ngài đến dẫn dụ,
chỉ dạy, giúp đỡ học trò mình. Nói thật ra, ngài Trung
Phong còn trong giai đoạn sắp ngộ, chưa ngộ, chúng ta biết
khi ấy Sư hai mươi bảy tuổi.
Chính vào lúc ấy, “dân gian ngoa truyền” (ngoa truyền tức
là chẳng phải thật, là đồn thổi, nay ta gọi “ngoa truyền”
là đồn đại), đồn đại điều gì? “Quan lại phải tuyển
đồng nam, đồng nữ”, quan phủ phải tuyển bé trai, bé gái.
Việc ấy chẳng thật, chỉ là lời đồn. Trung Phong bèn đến
hỏi thầy, Ngài nói: “Nếu như chợt có người đến hỏi
Hòa Thượng đòi đồng nam, đồng nữ, thì sao?”: Thưa thầy,
bên ngoài họ đồn có người đến hỏi thầy bắt đồng
nam đồng nữ, thì thầy làm sao? Cao Phong Diệu Thiền Sư bèn
nói: “Ta chỉ cho người ấy cái trúc bề”. Tôi từng thấy
cái trúc bề, hiện thời rất hiếm thấy. Nó là cái lược
chải đầu bằng trúc, nhưng răng dày hơn lược thường, răng
rất khít, trước kia dùng để gỡ đầu. Vào thời Dân Quốc
kháng chiến, nó rất phổ biến tại nông thôn và những thành
phố nhỏ, bây giờ không thấy nữa. Hiện thời, phần lớn
lược làm bằng chất nhựa hóa học đúc, không thấy loại
trúc bề ấy nữa. Nó là vật dụng dùng để chải gỡ nam
nữ đều dùng, đàn bà dùng nhiều nhất.
Sư nói nếu có ai đến hỏi tôi đòi đồng nam, đồng nữ,
tôi bèn cho nó như thế. “Sư nghe nói xong, bèn rỗng rang”:
Trung Phong thiền sư nghe câu nói ấy, bèn hoát nhiên đại ngộ,
“thấu triệt nguồn đáy pháp”. Đó là đại triệt, đại
ngộ. Bây giờ chúng ta đọc đến đoạn này có ngộ chút
nào không? Đừng nói là đại ngộ, ngay đến tiểu ngộ cũng
không có, giống như câu hỏi không được đáp, đấy chính
là phương tiện thiện xảo dạy dỗ của thầy, người khác
nghe chẳng hiểu; có thể nói là “chạm đúng thiền cơ, đả
thông huyệt đạo”. Câu “thấu triệt nguồn đáy pháp”
này rất phi thường. Từ đây ta biết Sư khai ngộ năm hai
mươi bảy tuổi, khai ngộ rồi không ai biết, chỉ có thầy
Ngài biết, người khác không biết. Bởi thế, “chìm khuất
trong chúng, không ai biết”. Mọi người cùng chấp tác trong
đạo tràng ấy không ai biết Ngài khai ngộ.
Tiếp đấy, khi đó “Cao Phong viết bài tán trao cho Sư”,
Cao Phong thiền sư là thầy Ngài, viết cho Trung Phong mấy câu.
Bốn câu ấy cũng thuộc thiền cơ, nay chúng ta đọc cũng chẳng
hiểu. Ngài nói: “Ngã tướng bất tư nghị, Phật tổ mạc
năng thị, độc hứa bất tiếu nhi, kiến đắc bán biên tỵ”
(tạm dịch: “Ngã tướng chẳng nghĩ bàn, Phật, tổ chớ
coi thường, riêng cho đứa con tệ, được thấy nửa bên mũi”).
Đây là lời thầy Ngài viết, khen ngợi chỗ ngộ của Ngài,
Ngài ngộ gì chúng ta không biết. Chúng tôi đọc bốn câu
kệ này của sư Cao Phong, chúng tôi cũng không cách gì hiểu
được. Đúng là rốt cuộc quý vị ngộ nhưng vẫn chẳng
ngộ. Nếu lúc ngộ thì từng câu từng chữ hiểu rành rẽ,
nói với người chưa ngộ cũng vô dụng. Bài kệ trên hoàn
toàn giống với một ngàn bảy trăm đoạn công án. Sau này
có những người tham học đến thỉnh giáo ngài Cao Phong, Cao
Phong thiền sư bảo bọn họ: “Các ông có câu hỏi gì cứ
đi hỏi ổng. Ông ta pháp hiệu là Minh Bổn, các ông qua mà
hỏi ổng”. Cứ như thế, dần dần mọi người biết Trung
Phong thiền sư thật sự có năng lực chỉ dạy đại chúng.
Chúng ta biết chắc chắn Sư mới hai mươi bảy tuổi, tuổi
tác chẳng lớn lắm. Đương thời có vị xuất gia, “Hoài
tăng Tử Chứng”, Hoài là tên đất, Tăng là người xuất
gia, Tử Chứng là pháp hiệu, “thường nghe nói về các đệ
tử giỏi dở của Cao Phong”. Chúng tôi cho rằng vị này là
người ngang vai vế với ngài Cao Phong Diệu Thiền Sư. Có một
lần vị này hỏi Hòa Thượng: “Trong đám đệ tử ông có
ai ưu tú, thật sự khế nhập cảnh giới, có kiến địa chăng?”
Ngài Cao Phong nói: “Trước hết kể từ hàng viện chủ”,
ý nói toàn bộ đại chúng trong chùa, “biết một phần, hiểu
một nửa, chẳng thể nói là hoàn toàn không có”, số người
biết một phần hiểu một nửa khá nhiều, Sư nêu tên mấy
vị, rồi mới nhắc đến Minh Bổn, “chỉ có thầy Duy Na
Bổn”, đại khái khi ấy, ngài Trung Phong giữ chức Duy Na
trong chùa, [nên gọi là] thầy Duy Na Bổn.
Giữ chức Duy Na rất hợp lý, vì chúng ta thấy trong phần
trước của truyện ký có kể Sư vừa biết đi bèn biết nói,
biết xướng phạm bại, chúng tôi cho rằng đời trước Sư
rất thông thạo phạm bái, nhất định xướng rất hay; bởi
thế, trong chùa thỉnh Sư giữ chức Duy Na. Thầy Duy Na Bổn,
Bổn tức là Minh Bổn, “là bụi trúc mới nổi giữa rừng
tre”, dùng cách ví von này rất hay! Vì núi Thiên Mục khắp
nơi đều là trúc. Tôi từng đến chỗ ấy, e rằng hơn một
trăm dặm, hai trăm dặm toàn là trúc. “Ngày sau thành tài
chẳng dễ lường nổi”: Người ấy tiền đồ tương lai
vô lượng! Đặc biệt tán thán Sư; trong tất cả đệ tử,
Sư được thầy đặc biệt coi trọng.
Đến đời Nguyên Thành Tông, tức là hoàng đế thứ hai của
nhà Nguyên, là con của Hốt Tất Liệt, tên là Thiết Mục
Nhĩ (Temur). Ông ta làm hoàng đế, đặt niên hiệu là Nguyên
Trinh, tức vị vào năm Nguyên Trinh nguyên niên, tức năm 1295,
tháng Mười Một năm ấy, thầy Ngài viên tịch. [Truyện ký
chép] “tương thiên hóa” nghĩa là viên tịch; “đem Đại
Giác phó chúc cho Sư”. Đại Giác là tên chùa, đem đạo tràng
ủy thác Trung Phong Thiền Sư, “Sư thoái thác, cử vị thượng
tọa đứng đầu là Tổ Ung làm chủ”; Ngài thoái nhượng,
chẳng làm trụ trì. Đến niên hiệu Đại Đức, 1297, Sư đến
Kim Lăng (Nam Kinh), tham học khắp một giải An Huy. Năm Mậu
Tuất (1298), Sư trụ tại thảo am ở Lô Châu. Trong thời gian
đó, nếu nói như bấy giờ là tiếng tăm của Sư ngày càng
cao. Do trí huệ, đạo đức, biện tài, tài giáo hóa chúng
sanh của Sư, người đến tìm Sư cầu đạo ngày càng đông.
Thiền Sư thích thanh tịnh, thích tấn tu. Xem trong hành trạng
một đời Ngài, thời gian Ngài trụ tại một địa phương
nào chẳng lâu, đều là tham học các nơi, ở trong thảo am,
cuộc sống rất đơn giản, rất thô phác, quý vị có thể
đọc trong sách ghi về hành trạng của Ngài. Năm Quý Sửu
(1313), trong năm ấy có nhân duyên. Chúng ta biết lúc lão nhân
gia trụ thế, nhằm lúc người Mông Cổ làm chủ Trung Quốc;
quan cao, yếu nhân hiển hách đều là người Mông Cổ. Từ
hoàng đế đến các quan đứng đầu địa phương hết sức
tôn kính Sư. Nếu chẳng phải là bậc đạo đức chân chánh
dễ gì được. A! Bây giờ đã hết thời gian rồi.
*
Chư vị đồng học!
Chúng ta tiếp tục xem hành trạng một đời của ngài Trung
Phong Thiền Sư. Ngài sanh vào cuối đời Tống, Sư sống qua
năm đời hoàng đế triều Nguyên. Đầu tiên là Hốt Tất
Liệt, Nguyên Thế Tổ. Thứ hai là Thành Tông Thiết Mục Nhĩ,
thứ ba là Võ Tông, thứ tư là Nhân Tông, thứ năm là Anh Tông,
sống suốt năm đời hoàng đế.
Năm 1313 nhằm thời đại Nguyên Nhân Tông, là đời hoàng đế
thứ tư của nhà Nguyên. Năm ấy, Thừa Tướng lễ thỉnh pháp
sư đến tư dinh, ta thường gọi là Tướng Phủ, khẩn khoản
thỉnh Trung Phong Thiền Sư trụ trì Linh Ẩn Thiền Tự. Ngôi
chùa này rất nổi tiếng tại Hàng Châu. Quý vị đều biết
đời Tống có một vị hòa thường rất lừng danh là trưởng
lão Tế Công, Tế Công trưởng lão trụ tại chùa Linh Ẩn.
Nơi đây còn giữ rất nhiều di tích về Ngài, có thể nói
là đạo tràng bậc nhất của Hàng Châu. Thừa Tướng khẩn
khoản thỉnh Sư về làm trụ trì. Trung Phong thiền sư từ
tạ. Trong Tướng Phủ có một số quan lớn hiện diện, lại
lễ thỉnh, mọi người đều thỉnh, tợ hồ đương thời
không có ai có đạo đức, được mọi người ngưỡng vọng
hơn Ngài cả!
Họ lại thỉnh cầu Ngài thuận theo nguyện vọng của đại
chúng, mong Ngài sẽ làm trụ trì, khôi phục lại đạo tràng
này, xin Ngài đừng thoái thác. Lão nhân gia bèn nói một câu
hết sức quan trọng. Ngài nói “phàm trụ trì thì cần phải
có đủ ba lực, mới khỏi hỏng việc”. Nói như bây giờ,
làm trụ trì phải có ba điều kiện thì quý vị mới trở
thành vị trụ trì giỏi, hộ trì chánh pháp, giáo hóa chúng
sanh. Ba điều kiện gì? Thứ nhất là đạo lực, thứ hai là
duyên lực, thứ ba là trí lực. Ba điều kiện ấy rất trọng
yếu. “Đạo là Thể, Duyên và Trí là Dụng”. Phải thật
sự có Đạo! Thế nào là Đạo? Minh tâm kiến tánh là Đạo.
Nói thật ra, lão nhân gia thật có đạo, ba điều kiện đều
có đủ, vì sao Ngài lại phải làm như vậy? Để nhằm giáo
hóa đệ tử đời sau. Ở đây, Ngài diễn tuồng, biểu diễn,
khiêm hư nói mình thiếu đạo, chẳng có trí, chẳng thể nói
là không duyên. Pháp duyên của Ngài rất thạnh.
Đạo là Thể, gì là đạo? Trong các chú sớ khác đã giảng
rất nhiều. Đạo là thật sự thông đạt, hiểu rõ Thật
Tướng của các pháp. Trong thế gian này, bất cứ hoàn cảnh
nào, thuận cảnh, nghịch cảnh, thuận duyên, ác duyên, thật
sự chẳng nhiễm mảy trần. Kinh Kim Cang nói: “Phàm những
gì có tướng đều là hư vọng… Hết thảy pháp hữu vi như
mộng, huyễn, bọt, bóng”, toàn là nói về sự thật. Chẳng
những pháp thế gian chẳng nhiễm trước, mà Phật pháp cũng
chẳng nhiễm trước, đấy là chân chánh hữu đạo! Như trong
kinh luận thường hay nói “tùy duyên nhưng chẳng phan duyên”,
tùy duyên nhưng chẳng chấp vào tướng tùy duyên. Đấy là
điều kiện đầu tiên. Nếu vẫn còn có một mảy vọng tưởng,
chấp trước chưa thể buông xuống thì là không được! Làm
sao anh có thể lãnh chúng? Tự mình vẫn chưa có thành tựu
thì dẫn mọi người đi về đâu đây? Chẳng cáng đáng nổi
địa vị ấy, trách nhiệm rất nặng!
Duyên, quan trọng nhất là pháp duyên, nhân duyên. Pháp duyên,
nhân duyên tốt, làm việc dễ dàng, có người giúp đỡ, ít
nhọc lòng. Nói như bây giờ là nhân lực, tài lực, vật lực
thảy đều là duyên. Quý vị trụ trì một đạo tràng lớn
nào, trong đạo tràng có nhiều người cùng tu một chỗ, nếu
nhân lực, vật lực, tài lực khó khăn, tu hành ắt gặp chướng
ngại. Nhà Phật thường nói: “Pháp luân vị chuyển, thực
luân tiên” (bánh xe pháp chưa chuyển, bánh xe ăn đã lăn trước).
Nếu quý vị ăn chẳng no, tu đạo rất nhọc nhằn. Cuộc sống
khổ sở một chút không quan trọng lắm, nói chung là cốt
sao ăn no, mặc ấm. Áo cũ rách một chút cũng không sao, miễn
sao chống được lạnh. Trà thô, cơm nhạt miễn sao no dạ,
tâm yên, đạo thạnh. Thân tâm bất an chắc chắc tu hành có
trở ngại, nhất là khi tiếp dẫn kẻ sơ cơ, duyên rất trọng
yếu. Xử sự, tiếp người, đãi vật phải có trí huệ; không
có trí huệ sẽ chẳng thể viên dung.
Quý vị thấy lão nhân gia nói làm trụ trì phải có đủ ba
điều kiện như thế, trọng yếu nhất là đạo. Đạo là
Thể, duyên và trí là Dụng. “Có Thể mà thiếu Dụng, vẫn
có thể được”: Có đạo, duyên và trí chẳng đủ, vẫn
ổn. Khuyết điểm là “hóa quyền chẳng trọn, sự nghi chẳng
đủ”, giáo hóa chúng sanh chẳng viên mãn lắm, chẳng thành
công lắm, trật tự lo liệu mọi việc chẳng hoàn bị. Vì
sao vậy? Do chẳng đủ trí, thường hay bị sơ sót, vẫn cứ
phải cho qua, làm miễn cưỡng! “Nếu đạo thể đã khuyết,
thì chẳng tính đến nữa, cũng như không. Dù có duyên và
trí cũng chẳng làm gì được!” Đây là lời cảm thán, nếu
đạo thể chẳng có, chưa kiến đạo, chưa ngộ đạo thì
cũng chẳng đáng tính đến. Chẳng tính đến, coi như không.
Tính là tính toán. Dù có chút duyên và trí, vẫn là vô dụng,
chẳng cách nào bổ cứu được!
Nói cách khác, hoằng pháp lợi sanh, nối tiếp huệ mạng Phật,
việc ấy anh làm chẳng được. Nếu “Thể, Dụng cùng khuyết,
cứ mạo muội nhận lãnh, nói nhân, nói quả”: Đây là trách
nhiệm phải gánh lấy nhân quả. Quý vị có sợ nhân quả
hay không? Chẳng có Thể cũng chẳng có Dụng, duyên chẳng
đủ, duyên chẳng đủ sẽ thành gì? Thành ra phan duyên! Ngày
ngày tại gia vắt óc, tà tri tà kiến, nghĩ mọi phương pháp
phan duyên, thật là lầm lạc quá sức, khởi tâm động niệm
không gì chẳng phải tội!
Pháp duyên do đời trước, đời này kết thành, tự nhiên
xảy đến. Nếu khởi tâm động niệm toan đi ra ngoài hóa
duyên (kêu gọi quyên góp) là lầm mất rồi, chẳng có đạo
gì cả! Chúng ta hãy lắng lòng quan sát tổ sư đại đức
Trung Quốc trong các đời, các Ngài kiến lập đạo tràng giáo
hóa chúng sanh, duyên đều tự động đưa đến, đã thế còn
sao nữa? [Các Ngài] có muốn cự tuyệt cũng cự chẳng được.
Người ta thành tâm thành ý đến chỗ Ngài tu bố thí cúng
dường, họ đến tu phước, tuyệt đối chẳng cần chèo kéo
họ. Với danh vọng, hễ thật tu bèn được tiếng, chẳng
phải như hiện tại dùng đủ mọi phương pháp để được
nổi danh, chẳng phải vậy! Người tu đạo phải làm như thế
nào? Nhất định chẳng được phan duyên. Hoàng đế triệu
kiến Trung Phong thiền sư mấy lượt, Ngài chẳng đến chầu!
Rốt cuộc, Thiền Sư vẫn từ khước trụ trì chùa Linh Ẩn.
Lời Ngài vừa nói đó đáng để cho chúng ta ngày nay phản
tỉnh. Nếu chúng ta kiến lập một đạo tràng, quý vị phải
dùng tiêu chuẩn của Ngài để cân nhắc: Rốt cuộc, đối
với Phật pháp, đối với xã hội, đối với chúng sanh, chúng
ta có công hay có tội vậy?
Đời Nguyên Nhân Tông, tức đời hoàng đế thứ tư, năm Mậu
Ngọ, tức năm 1318, tháng Chín năm ấy, Nhân Tông hoàng đế
phán cùng các đại thần thân cận, nói vua từng nghe đến
đạo hạnh của hòa thượng Trung Phong núi Thiên Mục, đã
nghe tiếng từ lâu, “lũy dục chiếu nhi lai” (nhiều lượt
muốn xuống chiếu vời đến), “lũy” là nhiều lần, chẳng
phải chỉ một lần. Nhiều lần nghĩ ban chiếu buộc Sư tiến
kinh. Các đại thần đều nói Sư không khỏe, “liêu mỗi
vị kỳ hữu tật” (các quan mỗi vị đều nói Sư bị bệnh),
thân thể không khỏe, không cách nào phụng chiếu được.
Quý vị xem đấy, nếu người khác gặp như vậy, há còn phải
đợi hoàng đế hạ chỉ? Nghĩ đủ cách để gặp mặt hoàng
đế! Sư chẳng cần làm vậy, hoàng đế càng thêm tôn trọng
đức hạnh của Sư. “Tứ hiệu” (ban hiệu), tức là phong
hiệu, “Phật Từ Viên Chiếu Quảng Huệ thiền sư”. Bởi
vậy nay chúng ta thấy trên tựa đề sách có ghi: “Nguyên
cố Thiên Mục Sơn Phật Từ Viên Chiếu Quảng Huệ thiền
sư Trung Phong hòa thượng”, đó là hiệu do hoàng đế phong.
Lại ban tặng Sư ca-sa, lễ vật; đã phong hiệu, lại còn ban
một phần lễ vật, đặc biệt ra lệnh cho Hàng Châu Lộ (theo
chế độ nhà Nguyên, gọi là Lộ, đến đời Minh và Thanh,
đổi thành Tỉnh. Theo chế độ nhà Nguyên, khu vực hành chính
địa phương đều gọi là Lộ. Ở đây, Lộ người đứng
đầu địa phương, tương đương với tỉnh trưởng bây giờ.
Ở châu Úc chúng ta là châu trưởng). Hoàng đế chỉ thị
“ưu lễ ngoại hộ”: sai quan viên địa phương hộ pháp,
để thiền sư an tâm tu đạo trên núi.
Chuyện
về Ngài rất nhiều, được khắp trong triều ngoài nội tôn
kính, ngưỡng mộ, đến thỉnh giáo, đến cầu học. Câu nào
ghi trong truyện ký cũng là lời chân thật, Sư được đế
vương, đại thần biết đến, chẳng ai sánh bằng. Nói đại
sư thường dạy dỗ người học, dạy hàng hậu học “chỉ
thượng thông ngôn, bất cầu thật ngộ” (chỉ cốt sao nói
cho lưu loát, chẳng cầu thật sự chứng ngộ) là chuyện thật.
Căn bệnh này hiện tại rất phổ biến. Sư sống cách chúng
ta hơn bảy trăm năm; bảy trăm năm trước Phật pháp đã suy
rồi, người thật sự tu hành chẳng nhiều. Bởi thế, lão
nhân gia phi thường cảm khái nói bất luận tại gia hay xuất
gia, học để làm gì? Học một chút lời lẽ thông đạt Phật
pháp, thông cái gì? Thông thạo ngôn từ. Quý vị nghe cho nhiều,
học cho nhiều, quý vị giảng được, chẳng cần phải thật
sự chứng ngộ.
“Thường
nói: “Nay tham thiền chẳng linh nghiệm”, trong thời đó,
người tham thiền khi ấy đã chẳng linh, vì sao chẳng linh?
Ngài nói có ba điều, thứ nhất là “không có chí khí chân
thật như cổ nhân”. Trong thời Trung Phong thiền sư, người
học Phật rất nhiều, nhưng không thật sự giống như cổ
nhân. Cổ nhân thật sự tu tập, nhưng bất luận người tại
gia hay xuất gia trong thời của Trung Phong thiền sư, nếu đem
so với chúng ta hiện thời, họ còn cao minh hơn chúng ta nhiều
lắm. Ta làm sao so sánh với họ được? Từ đây thấy rõ:
Đúng là cứ mỗi một đời lại kém hơn đời trước. Lão
tổ tông của chúng ta là Thích Ca Mâu Ni Phật, chúng ta học
Phật nhất định phải mong bằng được Phật Thích Ca Mâu
Ni. “Giữ pháp tột bậc, cẩn thận đúng mực”, quý vị
mới có chút thành tựu. Nếu quý vị “giữ pháp thấp thỏi”,
làm sao thành tựu được? Nay lão nhân gia nói vấn đề thứ
nhất là “chí khí chân thật”, quý vị đang tu thật hay
tu giả? Đấy là mấu chốt để được linh nghiệm hay không
linh nghiệm, thành tựu hay không thành tựu!
Thứ
hai, “chẳng coi sanh tử vô thường là một đại sự”. Thật
vậy, ngày nay học Phật, có ai vì sanh tử vô thường tu hành
cơ chứ? Cổ nhân thật sự vì điều đó. Xuất gia tu đạo
vì lẽ gì? Vì đại sự sanh tử vô thường. Người hiện
thời quên sạch sự kiện này, thật đáng khiến chúng ta phản
tỉnh sâu xa. Nếu mục đích học Phật của chúng ta là muốn
danh văn, lợi dưỡng, nhắm vào ngũ dục, lục trần, thì đúng
là như cổ nhân đã nói: “Đời này chẳng liễu đạo, mang
lông, đội sừng đền”. Mang lông đội sừng đền vào đời
sau ư? Không phải vậy, đời sau là tam đồ địa ngục. Chịu
tội địa ngục mãn rồi mới mang lông, đội sừng. Nếu quý
vị hỏi có tội gì ư? Phá hoại hình ảnh Phật giáo, đó
là đại tội! Nói như kiểu buôn bán trong thế gian, quý vị
giương chiêu bài để làm bậy, quý vị khiến xã hội mất
lòng tin nơi Phật pháp!
Trong
quá khứ, chúng tôi đã từng giảng một phần kinh Đại Bảo
Tích, tức là kinh Phát Khởi Bồ Tát Thù Thắng Chí Nhạo,
còn gọi là kinh Di Lặc Sở Vấn. Tôi nhớ đã giảng cả ba
lượt, từng giảng một lần tại Hoa Tạng Đồ Thư Quán ở
Đài Bắc. Bại hoại hình ảnh Phật giáo, chướng ngại chánh
pháp, quý vị thấy quả báo nói trong kinh chẳng phải là giả
đâu, chẳng phải là dọa dẫm người đời, là sự thật
đấy! Nhưng hiện thời lắm kẻ lớn mật làm càn, chẳng
biết nhân quả đáng sợ, cứ bịa chuyện, đặt chuyện, rốt
cuộc còn lại cái tâm gì? Thánh hiền giáo dục, Phật, Bồ
Tát giáo dục chỉ là từ bi. Nhà Phật thường nói: “Từ
bi làm gốc, phương tiện là cửa”.
Trưa hôm qua, tôi và hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trường
đại học khoa học Côn Sĩ Lan (Quensland) cùng dùng cơm, bàn
luận: Môn giáo dục quan trọng nhất đối với hiện thời
là giáo dục luân lý và đạo đức. Giáo dục luân lý đạo
đức là gì? Dạy con người biết yêu con người, biết yêu
hoàn cảnh, biết yêu hết thảy chúng sanh; sự giáo dục của
thánh nhân là dạy yêu con người. Chính mình phải biết hy
sinh, dâng hiến, vì hết thảy chúng sanh, vì xã hội phục
vụ. Đấy là điều thiếu sót nhất trong nền giáo dục hiện
tại, chúng ta phải nỗ lực làm theo phương hướng ấy. Ông
hiệu trưởng và phó hiệu trưởng đều rất tán đồng, họ
mời chúng tôi đến trường tham quan. Trường họ có hơn ba
vạn sinh viên. Người học Phật, không học Phật chẳng biết
liễu sanh tử, xuất tam giới. Người học Phật phải lấy
việc này làm việc lớn nhất, cả một đời chúng ta chỉ
vì việc này.
Điều thứ ba là: “Vứt bỏ những thói quen, những điều
mình coi trọng từ bao kiếp đến nay chưa được”. Câu này
chúng tôi diễn tả cách khác cho mọi người dễ hiểu: Từ
vô thỉ kiếp đến nay, những tập khí bất thiện quý vị
chưa buông xuống được!
Đấy
chính là ba nguyên nhân khiến cho quý vị tham thiền chẳng
linh nghiệm, niệm Phật chẳng thể đạt Nhất Tâm, tu bất
cứ pháp môn nào cũng chẳng thể thành tựu. Tiếp đó, Sư
lại nói: “Lại chẳng đủ thân tâm bất thoái chuyển lâu
dài”. “Đủ” là trọn đủ. Quý vị chẳng đầy đủ,
chẳng có! Chẳng có điều gì? Chẳng có tâm dài lâu, chẳng
có tâm bất thoái chuyển. Tâm bất thoái chuyển dài lâu ấy
là tâm dũng mãnh, tinh tấn, quý vị không có, bởi thế chẳng
thể thành tựu. Căn bệnh là đây.
Tiếp
đó, Sư lại nói, nói rất hay! “Rốt cuộc là bệnh ở đâu,
kỳ thật là chẳng biết cội rễ sanh tử vậy!” Đúng là
thiền sư nói một lời vạch trần hết cả; quý vị chẳng
hiểu rõ cội rễ sanh tử, nên từ trước đến nay quý vị
chưa từng nỗ lực thật sự học tập. Cội rễ sanh tử là
gì? Trong những lời khai thị nơi tác phẩm Tam Thời Hệ Niệm
Pháp Sự của lão nhân gia có nói; trong phần khai thị của
thiên thứ nhất, Sư giảng rất rõ ràng, trong truyện ký cũng
có nói. Chúng tôi đem đoạn văn đó đối chiếu phần khai
thị trong Hệ Niệm Pháp Sự, thấy đúng là khẩu khí của
lão nhân gia, những khai thị ấy do chính Ngài soạn, chứ không
phải do người khác viết.
Chúng ta cũng nên đọc qua một lượt đoạn văn ấy: “Phàm
là căn bản, tánh chân viên minh, vốn chẳng có tướng sanh
diệt, qua lại”, nói thật ra, chẳng dễ hiểu chi lắm. Đấy
là cảnh giới của Pháp Thân Bồ Tát, minh tâm kiến tánh là
Pháp Thân Bồ Tát, chẳng phải là cảnh giới của người
tầm thường. Thế nào là căn bản? Căn bản là tâm tánh,
minh tâm kiến tánh là căn bản, tánh chân viên minh, vốn không
sanh diệt. Cái tướng sanh diệt đến đi ấy chẳng hề có!
Bất sanh bất diệt, chẳng đến chẳng đi. Đến, đi (khứ,
lai) là quá khứ, vị lai; chẳng những không có thời gian mà
cũng chẳng có không gian. Hiện thời khoa học mới chậm chạp
phát hiện điều này, cư sĩ Chung Mậu Lâm từng diễn giảng
tại đây cho chúng ta nghe rồi, các vị đồng học đều đã
nghe những gì khoa học phát hiện rồi đó.
“Do vì bất giác, thoạt khởi vọng tâm, mê mất cội nguồn,
luống chịu luân hồi”, đây là lời giảng vì sao phàm phu
cứ luân lạc mãi cho đến nay như thế. Nhất niệm bất giác
sanh khởi vô minh. Vọng tâm là vô minh, mê mất cội nguồn
(tức bản tánh), mê mất bản tánh, hóa thành luân hồi lục
đạo, tự làm tự chịu. Bởi vậy, nói “mê thì sanh tử
bắt đầu”. Sanh tử bắt đầu tức là có sanh tử; ngộ
thì luân hồi bèn dứt. Chân tướng của sanh tử luân hồi
nói gọn trong một câu: “Là do mê căn, lầm bản”. Về cơ
bản, mê nơi căn, do mê nơi căn bản khiến tâm tánh biến
thành vọng thức.
Kế đó là mấy câu cũng rất quan trọng: “Phải biết sơn
hà đại địa, sáng, tối, Sắc, Không, Ngũ Ấm, Tứ Đại,
cho đến pháp động hay bất động, đều là cội gốc sanh
tử”. Ai biết được điều này? Chẳng phải người chân
tu thật chứng sẽ chẳng thể biết được. Sự tình này ở
ngay trước mắt, một ngày từ sáng đến tối chẳng hề tách
rời, nhưng phần lớn chúng ta cứ sống trong mê hoặc điên
đảo. Mê nơi tướng là gì? Là khởi tâm động niệm, phân
biệt, chấp trước. Mấy lời đại sư nói chúng ta phải hiểu
rõ, sơn hà đại địa, sáng, tối, sắc, không, ngũ ấm, tứ
đại, pháp động và bất động, trong kinh Lăng Nghiêm đức
Phật giảng rất thấu triệt, hễ ngộ bèn thành cảnh giới
Hoa Nghiêm, lý sự vô ngại, sự sự vô ngại; mê thì đều
là căn bản sanh tử.
Thưa cùng quý vị, pháp chẳng có mê hay ngộ. Như nhà khoa
học Giang Bổn Thắng của Nhật Bản đã làm những thí nghiệm
với nước, nước không có mê ngộ. Các pháp sơn hà đại
địa, sáng, tối, sắc, không, ngũ ấm v.v… chẳng có mê hay
ngộ. Thiện ý, năng lượng tốt của chúng ta tác dụng vào
chúng, khiến chúng bèn lập tức có phản ứng, có phản ứng
tốt đẹp vô cùng. Nếu chúng ta dùng ác ý, ác niệm tác động
lên chúng, chúng phản ứng xấu tệ vô cùng. Chúng chẳng hề
phân biệt, chấp trước, do đâu mà như thế? Pháp tánh! Pháp
tánh là chân tánh, lầm lạc là do chính ta tự mê, mê rồi
thì hết thảy vạn sự, vạn vật đều biến thành căn bản
sanh tử.
Bởi thế, thiền sư nói: “Nếu chẳng từng hướng đến
pháp chân thật để giải thoát, siêu ngộ”. Câu này rất
quan trọng: Phải từ pháp chân thật, Thoát là giải thoát,
Siêu là siêu việt, thì quý vị mới thật sự ngộ. “Lại
tìm riêng cách sanh nhai ngoài Ngộ, chẳng phải là vẫn giữ
nguyên nếp sai lầm cũ ư?” Đây là Pháp Thân Bồ Tát, là
Nhất Chân Pháp Giới. Nhưng ở đây phải lưu ý, nếu quý
vị chưa đoạn sạch phiền não tập khí thì trong cảnh giới
nào quý vị cũng sẽ lại khởi tâm động niệm. Như trong
kinh Lăng Nghiêm, đức Thế Tôn “với thấy biết coi là biết,
bèn là gốc vô minh”, quý vị vẫn chẳng thể siêu việt.
Có như vậy quý vị mới thể hội vì sao ngộ nhập Chân Cảnh
Giới khó khăn đến thế! Chúng tôi thường nói thuần tịnh,
thuần thiện, trong ấy chẳng được lẫn mảy may bất tịnh
bất thiện gì, hễ có mảy may bất thiện bất tịnh là trật
rồi.
Vì thế, ở đây đại sư khuyên dạy chúng ta: “Chỉ nên
đau đáu lấy đại sự sanh tử làm trách nhiệm nặng nề
của chính mình, chết sạch cái tâm qua quít thì mới hòng
cập bến. Nếu như còn mảy tóc cái thấy thiện, ác, lấy,
bỏ, yêu, ghét, dứt, nối, thì cành lá lại sanh, khá cẩn
thận vậy!” Câu này hết sức trọng yếu. “Còn mảy tóc”
tức là còn một chút xíu, trong tâm quý vị vẫn còn tí tẹo
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Chẳng hạn như: Làm
lành chớ chấp vào lành, có lầm lỗi, tự mình lầm lỗi,
hoặc thấy người khác lầm lỗi đều chớ vướng bận nơi
lòng. Vì sao vậy? Trong chân tánh chẳng có thiện ác, chẳng
có thị phi, chẳng có tà chánh, chẳng có sanh diệt, chẳng
có đến đi, chẳng có trước sau. “Vốn chẳng có một vật,
chỗ nào nhuốm bụi trần”. Bụi bặm là tỷ dụ, mảy may
bất tịnh bất thiện cũng không có!
Nói thiện hay nói ác đều là phương tiện thiện xảo nhằm
giúp chúng sanh quay đầu; bởi lẽ nếu nói sự thật với
họ, họ không hiểu, họ mê càng sâu hơn. Vậy thì, với kẻ
mê nói theo chuyện mê, đó là tùy thuận Tục Đế, lời khai
thị của đại sư ở đây là tùy thuận Chân Đế. Chân Đế
là thanh tịnh tịch diệt, trong Tục Đế mới có thị phi,
thiện ác. Vì sao? Vì quý vị chẳng lìa phân biệt, chấp trước.
Chẳng lìa phân biệt, chấp trước thì phải nói lời phân
biệt, chấp trước với quý vị; nếu lìa phân biệt, chấp
trước thì nói lời chân thật cùng quý vị.
Năm Quý Hợi (1323) đời vua Anh Tông, vừa tròn đúng một Giáp
Tý, tức năm sáu mươi mốt tuổi, Sư vãng sanh nhằm ngày mười
bốn tháng Tám. Ngài ngồi viên tịch, lúc Ngài muốn viết
chữ, ngồi bên bàn bèn mất, hy hữu thay! Nếu quý vị muốn
hiểu tường tận xin đọc Thiên Mục Trung Phong Hòa Thượng
Quảng Lục, quyển cuối cùng. Thiên cuối cùng là truyện ký
về Ngài, pháp đệ đồng học của Ngài là thiền sư Tổ
Thuận viết thiên ấy, quý vị có thể tự xem.
Trong hai tiếng đồng hồ vừa qua, chúng tôi đem lược truyện
của Trung Phong Thiền Sư giới thiệu đơn giản với quý vị.
Buổi học sau, chúng ta sẽ chánh thức bước vào Hệ Niệm
Toàn Tập.
B.
Giải thích đề mục
Chư vị đồng học!
Xin hãy xem đề mục Hệ Niệm Pháp Sự. Đề mục tổng cộng
mười chữ: “Trung Phong Hệ Niệm Pháp Sự Tam Thời Toàn Tập”.
Bản tôi dùng ở đây là bản in của Hoa Tạng Đồ Thư Quán,
tục ấn (6) năm Dân Quốc 79 (1990). Tôi dựa theo những hạng
mục của bản in này, có những bản in khác có hạng mục
hơi khác, bất quá đại khái cũng tương đồng.
Trung Phong là pháp hiệu của thiền sư Minh Bổn đời Nguyên,
ở trên tôi đã giới thiệu cùng quý vị rồi. Ngài là một
vị đại đức rất phi thường, hữu tu, hữu chứng, hữu
đức, hữu học. Qua truyện ký, chúng ta đã thấy sự tích
cả một đời của lão nhân gia, đúng là khiến người ta
cảm thấy năm vóc gieo sát đất. Tác phẩm Hệ Niệm Pháp
Sự do vị đại đức nhà Thiền này soạn ra, ý nghĩa rất
sâu. Thưa cùng quý vị! Phật pháp đến tối hậu vẫn phải
là cầu sanh Tịnh Độ, điều này Ngài khai thị rất rõ rệt!
Do đây có thể thấy được sự thù thắng của pháp môn Tịnh
Độ. Huống chi kinh Hoa Nghiêm, là một bộ kinh được lịch
đại cao tăng đại đức Trung Quốc công nhận là bản kinh
đệ nhất của nhà Phật, pháp luân viên mãn, tối hậu, mười
đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát dẫn về Cực Lạc.
Tông môn tối hậu cầu vãng sanh, quý vị chỉ cần đọc Thiền
Môn Nhật Tụng sẽ thấy rành rành. Phương pháp tu hành này
hiển thị rõ trí huệ tối cao.
Bản Hệ Niệm Pháp Sự Tam Thời Toàn Tập này lợi ích kẻ
âm lẫn người dương. Nếu coi [việc tụng niệm] bản [nghi
thức] này như chuyện kinh sám Phật sự, miệng có tâm không,
thì trật rồi! Chúng ta phải coi nó như là khóa tụng.
“Hệ niệm”: Khi đại sư La Thập dịch Phật Thuyết A Di
Đà Kinh, đã dùng ý để giải thích chữ này; bởi thế, trong
kinh văn có những câu như “nhất tâm bất loạn, tâm chẳng
điên đảo”. Trong quá khứ, tôi cũng đã từng nghe có người
nói: “Nhất tâm bất loạn, bọn phàm phu chúng ta chẳng thể
làm được, bởi thế, đối với pháp môn này bèn nẩy sanh
ngờ vực, chẳng dám đảm đương”. Nhưng kinh A Di Đà còn
có bản dịch của đại sư Huyền Trang, Huyền Trang đại sư
dịch thẳng, chiếu theo bản tiếng Phạn mà dịch thẳng ra.
Trong bản Phạn ngữ có mười phương Phật, bản của đại
sư La Thập chỉ có sáu phương Phật, cho thấy đại sư La
Thập dịch rút gọn. Trong bản Huyền Trang, “nhất tâm bất
loạn” được dịch là “nhất tâm hệ niệm”. Nếu nói
“nhất tâm hệ niệm” thì phàm phu có thể làm được, mức
độ nhất tâm bất loạn cao quá.
Chúng ta phải hỏi: Đại sư La Thập có dịch sai nghĩa chăng?
Thưa cùng quý vị, chẳng bao giờ sai! Phàm người vãng sanh
nhất định phải niệm đến nhất tâm hệ niệm, lúc lâm
chung, A Di Đà Phật đến tiếp dẫn, lúc tiếp dẫn quý vị
nhất định Phật phải phóng quang. A Di Đà Phật phóng quang,
Phật quang chiếu gội; Phật quang vừa chiếu, công phu của
quý vị được nâng cao, từ Nhất Tâm Hệ Niệm đạt đến
Nhất Tâm Bất Loạn. Vì thế, đại sư La Thập chẳng hề
dịch lầm. Đích thực là đại sư thấy vấn đề này rất
rõ ràng, rất minh bạch!
Chữ “niệm” trong văn tự Trung Quốc thuộc loại hội ý.
Quý vị thấy ở trên là chữ Kim, dưới là chữ Tâm; nghĩa
là trong cái tâm hiện tại có Phật. Trong tâm phải có thì
mới gọi là Niệm. Chẳng phải là quá khứ có, chẳng phải
là vị lai có, mà là “kim” (nay), hiện tại có, đó gọi
là Niệm. Hệ niệm là niệm niệm chẳng bỏ.
“Tam thời”: Trong pháp sự có đệ nhất thời, đệ nhị
thời, đệ tam thời. Ở Ấn Độ thời cổ, một ngày đêm
được chia thành ngày ba thời, đêm ba thời. Do đây biết
rằng, phải hiểu nghĩa chữ “tam thời” theo nghĩa rộng,
tức là ngày đêm chẳng biếng nhác.
“Pháp”
là phương pháp, Sự là chuyên cầu vãng sanh Tịnh Độ. Hiện
tại mọi người tu pháp sự này, dùng chữ “tam thời” theo
nghĩa hẹp. Ở Trung Quốc, chia ngày đêm thành mười hai thời
thần: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu,
Tuất, Hợi. Một thời thần bằng hai giờ hiện thời. Nếu
để giúp người khác, như các vong linh được nhắc đến
trong bản này, thì cả hai nghĩa rộng và hẹp đều dùng được,
hoàn toàn phụ thuộc vào thời tiết, nhân duyên.
“Pháp”:
Trung Phong quốc sư vì chúng ta chế định pháp bản này, chiếu
theo pháp bản này để tu pháp sự cầu vãng sanh, pháp sự
ở đây là cầu vãng sanh. Bản này ba thời hoàn chỉnh nên
gọi là “toàn tập”. Quý vị hãy xem chữ “tập”; Tập
nói như bây giờ là bản hội tập. Pháp sự này do Trung Phong
quốc sư hội tập. Quý vị thấy đó, nội dung gồm tán tụng,
có Hương Tán, có kệ Tán Phật. Có tán Phật, có tụng kinh,
có kinh A Di Đà, có niệm chú, có chú Vãng Sanh, có lễ bái,
có sám hối, có hồi hướng. Tu pháp rất viên mãn, ý nghĩa
tương đồng với Vãng Sanh Luận của Thiên Thân Bồ Tát. Trong
Vãng Sanh Luận, Thiên Thân Bồ Tát nói đến Ngũ Niệm pháp
môn, bản Hệ Niệm này cũng là ngũ niệm pháp môn. Tu hành
Tịnh Độ là phương pháp tốt, trong ấy có khai thị. Chúng
tôi đề xướng bản này đã mấy năm, mọi người đều rất
thông thuộc. Trong nghi quỹ có phần chúng tôi tỉnh lược
(*), và trong Tam Thời có phần nào trùng lập, chúng tôi chỉ
giảng một lần là đủ, làm như vậy tiết kiệm được thời
gian.
C.
Chánh thức giảng vào kinh văn
1.
Hương Tán
Giới định chân hương,
Phần khởi xung thiên thượng,
Đệ tử kiền thành,
Nhiệt tại kim lư phóng,
Khoảnh khắc nhân uân,
Tức biến mãn thập phương.
Tích nhật Da Du,
Miễn
nạn tiêu tai chướng.
Nam
mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát.
(Giới
định chân hương,
Đốt
xông tận trời thẳm,
Đệ
tử dốc lòng thành,
Thắp
đặt trong lư vàng,
Khoảnh
khắc khói bốc cuồn cuộn,
Tỏa
khắp mười phương,
Xưa
bà Da Du,
Thoát
nạn tiêu tai chướng.
Nam
mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát)
Đoạn thứ nhất là Hương Tán. Ở đây, đại sư vì chúng
ta kết tập bài “Giới Định Chân Hương”, dùng bài Hương
Tán này. Vì sao chẳng dùng bài “Lư Hương Tán”? Bài Lư
Hương Tán phổ biến nhất; vì sao dùng bài Giới Định Chân
Hương? Cả đời đại sư dạy người chú trọng đức hạnh.
Ngài sống cách chúng ta hơn bảy trăm năm, hơn bảy trăm năm,
Sư thâm cảm phong hóa thế gian ngày một suy đồi, hàng đệ
tử Phật môn (chỉ người xuất gia tu hành) chân tu đã ít
ỏi lắm rồi. Sáng hôm nay, tôi đã giới thiệu ngắn gọn,
đơn giản về Ngài rồi, quý vị đã nghe qua. Vì đâu tham
thiền chẳng được lợi ích, Sư giảng vì đâu tham thiền
chẳng linh? Vì sao chẳng bằng cổ nhân? Có nguyên nhân cả,
ta phải tìm cho ra nguyên nhân. Bởi thế, trong phần Hương
Tán, chúng ta đừng nghĩ Ngài tùy tiện dùng bài Giới Định
Chân Hương đấy nhé, dụng ý rất sâu đấy!
Pháp sám hối xuyên suốt toàn bộ sự tu hành trong Phật pháp,
bất luận là Tông Môn, Giáo Hạ, Đại Thừa, Tiểu Thừa,
Hiển Giáo, Mật Giáo, không một hạnh môn nào chẳng phải
là pháp sám hối! Sám hối phải có thành ý, phải có hành
động, chẳng phải là miệng nói suông, miệng nói xoen xoét
chẳng ích gì. Vậy, rốt cuộc phải sám hối theo cách nào?
Phải y giáo phụng hành, quý vị tích cực nỗ lực làm theo
mọi điều Phật, Bồ Tát dạy dỗ, đó là chân sám hối!
Chúng tôi thường nhắc mọi đồng học phải cùng gắng sức
dốc công gạt bỏ tập khí vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước, triệt để buông xuống, chẳng để mảy may xen tạp,
nhất tâm nhất ý cầu sanh Tịnh Độ. Đó là đại sự sanh
tử! Vô lượng kiếp đến nay, chúng ta luân hồi trong lục
đạo chẳng thể giải quyết được vấn đề, chúng ta phải
giác ngộ, phải hiểu rõ.
Thật chẳng dễ dàng gì! Nhà Phật thường nói: “Trăm ngàn
vạn kiếp khó gặp gỡ”, một đời này gặp được Phật
pháp; gặp được Phật pháp là gặp cơ hội để liễu sanh
tử, xuất tam giới. Gặp được cơ hội chớ coi thường,
bỏ lỡ, nhất định phải ghì chắc lấy, trong một đời
này quyết định thành tựu, chẳng bị luân hồi nữa. Tùy
thuận tập khí phiền não là tạo luân hồi, vẫn luân hồi
trong sáu nẻo y như cũ. Đấy là điều Quốc Sư trông thấy,
rất mực cảm thán; đấy là một nhân tố quan trọng khiến
công phu tu hành chẳng đắc lực. Trong suốt cuộc đời dạy
dỗ của lão nhân gia, Ngài thường cảnh tỉnh “sanh tử sự
đại”. Phải biến sự việc này thành một sự lớn lao nhất
mà chúng ta phải thực hiện trong một đời này thì chúng
ta mới được cứu. Bởi thế, mở đầu Ngài chọn bài Giới
Định Chân Hương.
Quý vị hãy xem danh tự, thế nào là Chân Hương? Giới và
Định là Chân Hương, nói thật đấy, chẳng phải giả đâu!
Ngay trong thời đại chúng ta đây, những năm trước đây,
không lâu mấy; sự việc trong nửa thế kỷ trước, chúng
tôi không được thấy, nhưng có rất nhiều người thấy,
chúng tôi nghe đích thân họ kể lại. Hư Vân lão hòa thượng
tu Giới, tu Định, chân tu. Lão hòa thượng cả năm tắm một
lần, cạo tóc một lần; bởi vậy, chúng ta thấy rất nhiều
ảnh chụp tóc Ngài rất dài. Quý vị xem tóc Ngài dài như
thế mà một năm cạo tóc một lần, tắm một lần, cổ áo
Ngài ghét (hờm) đóng dày cộp, đen thui, nhưng thơm tho, không
hề khó ngửi chút nào. Đấy là Giới Định Chân Hương, thân
tỏa mùi thơm.
Ngoài ra còn có vị Kim Sơn Hoạt Phật (Phật sống chùa Kim
Sơn), Ngài sống suốt hai mươi mấy năm Dân Quốc, rất tiếc
chúng ta chẳng biết rõ tuổi thọ Ngài là bao nhiêu. Suốt
đời, Kim Sơn Hoạt Phật không rửa ráy, tắm gội. Trên thân
khoác một bộ quần áo, bộ quần áo ấy chưa hề được
giặt giũ. Suốt đời chưa từng giặt quần áo, Ngài cũng
chưa từng tắm gội, trên thân tỏa mùi thơm, đó là Giới
Định Chân Hương.
Chúng ta thắp một cây nhang, phải tưởng đó là Giới, phải
tưởng đó là Định. Hương tượng trưng cho Pháp. Đệ tử
Phật, bất luận tại gia hay xuất gia, cúng Phật nhất định
phải thắp nhang, phải đốt đèn, phải dâng nước. Đó là
ba thứ vật cúng đơn giản nhất để cúng Phật, Bồ Tát;
bớt đi những thứ khác không ăn nhằm gì, nhưng những thứ
trên không thể bớt được! Hương tượng trưng cho gì? Hương
tượng trưng cho Giới, Định; thấy hương, nghe mùi hương,
phải tưởng Giới Định. Chư Phật, Bồ Tát tu Giới, tu Định
thành tựu. Giờ đây, các Ngài cũng dạy chúng ta như thế.
Đăng (đèn) tượng trưng cho ánh sáng trí huệ, ngụ ý đốt
mình soi sáng người khác. Trí huệ chẳng phải là Tự Thọ
Dụng, mà là Tha Thọ Dụng. Trí huệ do đâu có? Trí huệ phát
xuất từ Giới, Định. Nhân Giới sanh Định, nhân Định khai
Huệ.
Nước tượng trưng cho tâm tánh. Tất cả hết thảy vật cúng
khác đều chẳng cần thiết lắm, bởi lẽ hiện tại cuộc
sống con người bước vào thời đại công nghiệp, nhà cửa
(đặc biệt là tại đô thị) quá nửa sống trong chung cư
(apartment). Một tòa nhà lớn cả mười gia đình sống, có
tòa nhà cả trăm gia đình sống. Nhà càng dựng về sau càng
thấp lè tè. Vì sao vậy? Để tiết kiệm năng lượng. Mùa
Đông mở máy ấm, mùa Hè mở máy lạnh, bởi thế trần nhà
càng thấp, phòng ốc cũng hẹp hơn để tiết kiệm năng lượng.
Gian phòng thấp như thế, chúng ta vói tay là đụng trần nhà
rồi. Bởi thế, muốn thờ Phật ở nhà, nói chung phải thờ
tượng Phật nhỏ, đương nhiên đốt nhang chẳng thích hợp.
Hương đốt, đèn dầu, nến đều chẳng thích hợp, vì sao
vậy? Chúng có chất muội (bồ hóng), muội dầu làm đen nhà.
Nhà cửa hẹp quá, chẳng như tự viện điện đường rất
lớn, không khí lưu thông, nhà cao, nên chẳng có vấn đề
gì. Bởi thế, hiện tại ở chung cư [cúng hương, đèn] chẳng
thích hợp lắm, tốt nhất là cúng nước. Nước rất quan
trọng, nó tượng trưng cho thanh tịnh bình đẳng. Tâm ta trong
sạch như nước, bình đẳng hệt như nước. Nước biểu thị
những ý nghĩa đó. Trong hết thảy thời, hết thảy chỗ,
phải luôn giữ được thanh tịnh -bình đẳng - giác,
chỉ cần tâm thanh tịnh tự nhiên sẽ có trí huệ, Giác là
trí huệ.
Vật cúng nhằm biểu thị pháp, nước chẳng phải để cho
Phật, Bồ Tát uống; phải hiểu ý nghĩa này. Chén cúng tốt
nhất là dùng thứ trong suốt, biểu thị ý nghĩa vô cùng sáng
rõ. Ngoài chén có thể nhìn thấy nước trong sạch đựng bên
trong. Chẳng được cúng trà, trà có màu, chẳng trong sạch,
phải cúng bằng nước. Bởi thế, hiểu được ý nghĩa biểu
thị pháp thì mỗi khi trông thấy chén nước cúng, liền nghĩ
tâm ta phải thanh tịnh, phải bình đẳng. Từ việc cúng nước
phải dẫn đến ý nghĩa biểu pháp. Bất luận nơi đâu, hễ
trông thấy nước, như lúc quý vị đang khát, uống một chén
nước, thấy nước bèn nghĩ đến “thanh tịnh - bình đẳng
- giác”. Giáo học Phật pháp dùng phương pháp này để thời
thời khắc khắc cảnh tỉnh chúng ta, vừa trang nghiêm lại
vừa đẹp mắt, lại bao hàm ý nghĩa thật phong phú.
“Giới định chân hương”: Đây là lúc thắp hương.
“Phần khởi xung thiên thượng”: Hương vừa thắp lên, khói
hương bốc tận trời. “Xung thiên thượng” (xông lên trời)
là mong cầu cảm ứng. Chư Phật, Bồ Tát, thiên thần đều
ở phía trên chúng ta. Phía dưới có chăng? Có! Phía dưới
là hạ phương thế giới. Vì thế, đối với chữ “thiên
thượng” ở đây, chúng ta phải hiểu không chỉ có nghĩa
là phương trên, mà còn có nghĩa là pháp giới. Như trong kinh
Hoa Nghiêm, Thiện Tài năm mươi ba lần tham học, thiện tri
thức đều ở phương Nam là có đạo lý đấy! Chúng ta sống
tại Bắc bán cầu, phương Nam của Bắc bán cầu thuộc Hỏa,
phương Nam là gì? Là xích đạo, là nhiệt đới. Phương Bắc
là hàn đới. Phương Bắc là nước, phương Nam là lửa. Lửa
tượng trưng cho quang minh. Bởi thế phương Nam chẳng phải
là phương vị, mà có nghĩa là quang minh. Phàm những nơi thiện
tri thức cư ngụ đều gọi là phương Nam, ở bất cứ phương
hướng nào cũng đều gọi là phương Nam cả. Phàm thành đô
nào có thiện tri thức cư ngụ đều gọi là Phước Thành
cả. Vì sao vậy? Vì có thiện tri thức. Có thiện tri thức
thì địa phương ấy có phước, nên gọi là Phước Thành
nhằm biểu thị ý nghĩa pháp.
Bởi thế, chốn “thiên thượng” ở đây không có nghĩa
là phương trên, chẳng biểu thị phương vị phía trên, chẳng
ngụ ý như thế, mà có nghĩa là thượng phương tôn kính,
phương trên tôn kính nhất của chúng ta. Ở phương thượng
đó, chư Phật, Bồ Tát đang ở. Chúng ta đọc kinh A Di Đà,
Đông, Nam, Tây, Bắc, trên, dưới, đâu đâu đều có Phật,
Bồ Tát. Dùng chữ “thiên thượng” để biểu thị ý tôn
kính của chúng ta. “Phần khởi xung thiên thượng” là mong
cầu cảm ứng.
“Đệ tử kiền thành”: Người tu hành theo Hệ Niệm Pháp
Sự, chúng ta đối với Phật, Bồ Tát xưng là “đệ tử”;
Phật, Bồ Tát là thầy, là thiện tri thức của chúng ta. Đạo
thầy trò cốt ở “kiền thành”. Ấn Quang đại sư giảng
rất hay: “Một phần kiền thành là một phần cảm ứng,
mười phần kiền thành được mười phần cảm ứng”. Khi
xưa, thầy Lý dạy tôi như vậy. Chúng ta dùng tâm thái nào
học tập mới đạt được lợi ích chân chánh? Chúng ta kém
cổ nhân rất xa, đừng nói đến thời cổ, chỉ sánh với
Trung Phong quốc sư, chúng ta làm sao sánh bằng Ngài được?
Ngài chỉ mười lăm tuổi, chẳng những có chí học, lại
còn dốc chí vào đạo, so với học lại cao hơn một tầng.
Quý vị xem trong truyện ký thì thấy, pháp thế gian, xuất
thế gian, đêm ngày Ngài siêng gắng. Đúng là dũng mãnh tinh
tấn như kinh điển đã nói, đêm ngày chẳng ngưng nghỉ. Kinh
điển sách vở Nho - Thích - Đạo ba tông, Ngài đều xem cả,
căn bản rất sâu dày.
Năm hai mươi bốn tuổi Ngài khai ngộ. Tuy chưa phải là triệt
ngộ, chúng tôi nói đến tiểu ngộ, đại ngộ; thế nào là
đại ngộ? Kinh điển, sách vở thế gian, xuất thế gian Ngài
đều có thể dung hội, quán thông, chân chánh khai ngộ. Cao
Phong Diệu thiền sư ấn chứng cho Ngài vào năm hai mươi bảy
tuổi, Ngài xuất gia năm hai mươi lăm tuổi. Chúng ta không
cách chi sánh bằng Ngài được! Tự mình phải biết hổ thẹn,
phải biết gắng sức. Trung Phong quốc sư chỉ cho chúng ta
biết chứng bệnh tu hành chẳng đắc lực là vì đâu? Ngài
nói rất hay, nhưng trong đó trọng yếu nhất là “chẳng biết
sanh tử là việc lớn”. Trong các nhân tố, nó trọng yếu
nhất, nhưng ta lại coi thường nó! Bởi thế, chẳng có tấm
lòng chân thành học đạo như cổ nhân. Ấn Quang bảo người
như vậy là không có thành ý, làm sao thành tựu được? Không
có thành ý, không biết sanh tử là việc lớn, đã thế lại
chẳng chịu buông bỏ tập khí phiền não từ vô thỉ kiếp
đến nay, đó là đại chướng ngại!
Tôi thường khuyên lơn các đồng học, mỗi một người chúng
ta, đặc biệt là người hiện thời, tự tư, tự lợi, danh
văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, tham, sân, si, mạn,
tôi nói mười sáu chữ này quý vị phải thật sự buông xuống.
Trung Phong quốc sư nói rất hay, chẳng những phải thật sự
buông xuống, mà còn phải buông sạch sành sanh, mảy may nào
cũng chẳng giữ lại, tiêu chuẩn của lão nhân gia là như
vậy. Chỉ cần có chút mảy may nào, quý vị khó lòng thành
tựu. Triệt để buông xuống thì chúng ta mới có chút tiến
bộ nơi Bồ Đề đạo. Những thứ căn bản chướng đạo
ấy nếu quý vị chẳng dẹp trừ, vĩnh viễn bị loại ra ngoài
cửa Phật, chẳng bước vào cửa được!
Chúng ta phải thường tự suy nghĩ, ngày ngày phản tỉnh vì
sao chẳng buông xuống được? Phải chiếu theo lời Trung Phong
quốc sư thuyết pháp! Nói cách khác là tham sống sợ chết.
Tham sống, chẳng sống hoài được; sợ chết, chẳng thể
tránh khỏi được. Thật sự chịu buông xuống thì cả sống
lẫn chết đều xong, sau đấy mới dần dần cầu thông đạt
Phật pháp. Bởi thế, hai chữ “kiền thành” này hết sức
trọng yếu: Quý vị phải có thành ý. Trong lúc quý vị cắm
vào lư hương, hương cháy trong lư: “Nhiệt tại kim lư phóng”.
“Khoảnh khắc”: rất nhanh chóng.
“Nhân uân”: diễn tả khói hương bốc cuồn cuộn, sau khi
đốt hương xong, đàn hương này – toàn là nói đàn hương
– khói hương xông mù mịt.
“Tức biến mãn thập phương” (liền trọn khắp mười phương):
Ở trên đã nói là “phần khởi xung thiên thượng”, “thiên
thượng” là “biến mãn thập phương”. Phương ở đây
chỉ mười phương chư Phật, Bồ Tát. “Thiên thượng” có
nghĩa như thế đấy. Tiếp đó, bài kệ nêu lên một công
án:
“Tích nhật Da Du, miễn nạn tiêu tai chướng”: Bà Da Du Đà
La là phi tử của Phật Thích Ca Mâu Ni. Vì sao lại nêu tên
bà? Vì Giới Định. Thích Ca Mâu Ni Phật quyết định muốn
xuất gia, phụ vương bảo: “Ngươi muốn xuất gia thì phải
có con để lại rồi mới được xuất gia. Ngươi xuất gia
rồi, gia tộc ta bị đứt dòng ư?” Ngay lúc đó, Thích Ca
Mâu Ni Phật bèn chỉ vào phi tử Da Du Đà La, nói: “Nàng đã
mang thai!” Da Du Đà La nghe lời ấy rùng mình một cái, quả
thật bà đã hoài thai; sáu năm sau mới sanh La Hầu La. Bởi
thế, đương thời rất nhiều người hoài nghi La Hầu La chẳng
phải là con Thích Ca Mâu Ni Phật. Chồng bà Da Du Đà La đã
bỏ đi cả sáu năm rồi, sao bây giờ mới sanh đứa bé này?
Bởi thế, họ hủy báng, phê bình, đơm đặt đủ chuyện
hết sức khó chịu. Bà Da Du Đà La bèn bồng đứa bé, phát
thệ: “Nếu quả thật đứa bé này là con Thích Ca Mâu Ni
Phật, hai mẹ con chúng tôi nhảy vào hầm lửa sẽ chẳng bị
lửa thiêu!” Bà làm như thế, quả nhiên cả hai mẹ con an
nhiên vô sự trong lửa hừng. Khi đó mọi người đều tin,
mọi lời đồn nhảm cũng chấm dứt. Giới Định Chân Hương
đấy! Bởi thế “miễn nạn tiêu tai chướng!” Phụ vương
cha bà cũng tin tưởng, trong là gia tộc, tức vương tộc, ngoài
là nhân dân, toàn quốc thấy sự kiện ấy, mọi người chẳng
dị nghị nữa! Đấy là một mẫu chuyện về cuộc đời của
tôn giả La Hầu La. Đấy là sự cảm ứng của Giới Định.
Tiếp đó, xưng ba lần:
“Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát”.
Nam-mô
là tiếng Phạn, nghĩa là quy y, quy mạng. Hương Vân Cái là
tỷ dụ khói hương kết thành lọng báu trên không trung. Bồ
Tát là Giác Hữu Tình, Ma Ha Tát là đại Bồ Tát. Hương Vân
tượng trưng cho Giới Định, Giới Định giác ngộ hết thảy
hữu tình chúng sanh, Hương Vân mang ý nghĩa như vậy.
Hương
Vân Cái chẳng phải là Bồ Tát ư? Hương Vân Cái đúng là
Bồ Tát. Chỉ cần chân chánh giác ngộ chúng sanh, chúng sanh
do người ấy được khai ngộ thì người ấy là Bồ Tát.
Bồ Tát chẳng có hình tướng nhất định, Như Lai cũng chẳng
có hình tướng nhất định, hóa thân trong hữu tình chúng
sanh, hóa thân trong vô tình chúng sanh, cảnh giới chẳng thể
nghĩ bàn. Đó là đại ý bài Hương Tán. Bây giờ đã hết
giờ rồi.
2.
Kệ Giác Hải
Chư
vị đồng học!
Xin xem tiếp bốn câu kệ:
Giác hải hư không khởi,
Sa Bà nghiệp lãng lưu,
Nhược nhân đăng bỉ ngạn,
Cực Lạc hữu quy châu.
(Biển giác khởi hư không,
Sa Bà sóng nghiệp trào,
Ai muốn lên bến giác,
Cực Lạc sẵn thuyền về)
Nội dung bốn câu kệ này hết sức phong phú. Hai câu đầu
thuyết minh khởi nguyên của vũ trụ và sanh mạng; đó là
hiện tượng do mê mà có. Hai câu sau dạy chúng ta phương pháp
“quay đầu là bờ” (hồi đầu thị ngạn).
Vì
sao chúng ta mê mất tự tánh? Vì “giác hải hư không khởi!”
Biển
Giác vốn chẳng có hư không, biển Giác là tánh hải, trong
kinh luận thường gọi là “tâm tánh”. Tâm tánh là biển
Giác. Vì vậy, quý vị phải nhớ kỹ chỗ này, tâm tánh bản
giác. Trong Khởi Tín Luận, Mã Minh Bồ Tát dạy chúng ta: “Bản
giác vốn có, bất giác vốn không!” Bản giác là tự tánh,
tự tánh là bản giác; nó vốn là giác, cũng chưa hề bị
mê hoặc. Nay chúng ta nói “mê mất tự tánh” chỉ là tùy
thuận phàm phu mà nói, kỳ thật tự tánh là chân tánh, chân
tánh sao mê được? Nếu mê sao gọi là chân?
Trong Hệ Niệm Pháp Sự, Trung Phong đại sư khai thị điều
này rất minh bạch. Tuy lời khai thị không nhiều, nhưng nói
rất rõ, chỉ là mê và ngộ. Mê và ngộ cũng chẳng phải
là chân, càng nói càng u huyền. “Hư không”: trước hết
phải có hư không rồi mới có thế giới. Có thế giới rồi
mới có chúng sanh. Nói có trước sau, nhưng trên thực tế,
chỉ do tâm hiện, hiện khởi hết sức nhanh!
Hiện tại, các nhà khoa học cũng nói như thế. “Nhất thời
đốn hiện” (nhanh chóng hiện cùng lúc), chẳng có thứ tự
trước sau. Thật ra, quý vị không có cách nào để nói thứ
tự trước sau được cả, tốc độ của nó phải là một
phần ức vạn phần của một giây, làm sao quý vị phát hiện
thứ tự trước sau cho được? Bởi thế, kinh Đại Thừa thường
nói là “nhất thời đốn hiện”. Trong hội Lăng Nghiêm,
đức Phật cũng nói đến việc này: “Đương xứ xuất sanh,
tùy xứ diệt tận” (do ngay nơi đó mà hiện ra, cũng từ
nơi đó mà diệt hết). “Đương xứ” là gì? Là hiện tiền,
chẳng có xa gần. Không có xa gần là không có không gian, không
có trước sau là không có thời gian. Thời gian, không gian đều
là tình chấp của phàm phu, chẳng phải là sự thật! Rốt
cuộc, thế nào là sự thật? Là mê ngộ! Ở đây nói đến
giác, là giác mê. Mê là mê cái gì? Mê chân vậy! Trong kinh
Phật hình dung rất ý vị, nhất niệm bất giác là mê; thời
gian một niệm rất ngắn.
Phật giảng trong kinh Nhân Vương, rất nhiều các đồng học
đã từng niệm kinh Nhân Vương rồi! Trong quá khứ, chúng tôi
ở Đài Loan, dường như năm nào Đài Loan cũng đều mở pháp
hội Nhân Vương để cầu phước cho quốc gia. Trong kinh Nhân
Vương, đức Phật giảng một cái khảy tay là sáu mươi sát-na,
tức là sát-na bằng 1/60 của khoảng thời gian khảy ngón tay.
Mỗi một sát-na có chín trăm lần sanh diệt, mỗi một lần
sanh diệt là một niệm. Nếu tính theo giây, thì một lần
khảy ngón tay rất nhanh, một giây khảy được bốn lần,
4 x 60 x 900 ước chừng hai mươi vạn tám ngàn, tức là trong
một giây có hai mươi mốt vạn sáu ngàn lần sanh diệt. Trong
một giây có hai mươi mốt vạn sáu ngàn lần sanh diệt, quý
vị có nhận biết được chăng? Nhất niệm bất giác thì
một niệm ấy là hai mươi mốt vạn sáu ngàn lần sanh diệt
trong một giây. Điều tôi vừa thưa cùng quý vị ấy chỉ
là Như Lai phương tiện nói, chẳng phải là chân thật nói.
Đó là nói phương tiện, chứ quý vị không cách gì nhận
biết tốc độ quá nhanh như thế; nói thật ra, còn nhanh hơn
tốc độ vừa nói đó nữa!
Đừng nói chi khác, hiện tại chúng ta biết tốc độ ánh
sáng nhanh nhất, tốc độ sóng điện từ chẳng kém tốc độ
ánh sáng mấy, một giây đi được ba mươi vạn km. Ánh sáng
đi một km chỉ mất một phần ba mươi vạn giây; trong một
phần ba mươi vạn giây, ánh sáng đi được một cây số.
Nếu chúng ta [lần lượt tính thời gian] ánh sáng đi được
một mét, đi được một centimetre, một milimetre, thì trong
một phần ức vạn của một giây, trong tình huống như thế,
ánh sáng bất động. Do đấy, chúng ta mới thể hội được
điều kinh Phật đã nói “thanh tịnh tịch diệt tướng”,
là cảnh giới sở chứng của bậc Bát Địa trở lên. Quý
vị nghĩ xem công phu định lực ấy thật sâu! Trong đại định
ấy, chẳng có ánh sáng nữa; ánh sáng bất động. Đấy là
biển Giác. Nếu động một cái, hễ động là rắc rối liền:
không gian xa - gần, thời gian trước - sau liền từ đó sanh
khởi. Đó gọi là thế giới; Thế là thời gian, Giới là
không gian, thời gian và không gian cùng phát sanh. Thế nhưng
quý vị phải hiểu đó là huyễn tướng, kinh Kim Cang giảng
rất hay: “Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt,
bóng, như sương, cũng như chớp, hãy nên quán như thế”.
Quý vị phải thật sự thấy rõ ràng, thấy minh bạch, nhìn
ra chân tướng sự thật.
Những gì ta thấy trong hiện tại là huyễn tướng, là tướng
tiếp nối liên tục hư huyễn. Cho rằng tướng tiếp nối
hư huyễn là chân thật, khởi lên vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước. A! Đó là “Sa Bà nghiệp lãng lưu”. “Nghiệp
lãng lưu” (sóng nghiệp trào dâng) là gì? Là lục đạo luân
hồi! Hãy xem hoàn cảnh chúng ta đang sống: Thế giới Sa Bà,
tam đồ lục đạo là cảnh giới biến hiện từ vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước. Huyễn tướng hệt như mộng, thế
nhưng giấc mộng ấy là ác mộng, đã ác mộng lại còn chẳng
tỉnh, cứ tiếp diễn hoài, khổ quá! Ngày ngày gặp ác mộng,
niệm niệm trong ác mộng, vô lượng kiếp đến nay vẫn chẳng
tỉnh ra, càng mê sâu hơn, càng hãm trong cái khổ!
Phải nói thật, nếu nói theo ngôn ngữ bây giờ, người thời
cổ thiện căn so với chúng ta sâu dầy hơn nhiều. Vì sao vậy?
Vọng tưởng chẳng nhiều bằng người hiện tại, dễ dạy
hơn! Phật, Bồ Tát ứng hóa trong thế giới này giáo hóa dễ
dàng, vừa thị hiện, thật sự có không ít người hồi đầu.
Hiện tại, Phật, Bồ Tát ứng hiện trong thế gian này có
nhiều chăng? Hết sức nhiều. Chúng sanh dễ độ chăng? Chẳng
dễ độ! Họ chẳng thể hồi đầu! Xác thực là họ chẳng
thể hiểu rõ chân tướng sự thật. Họ cứ tưởng những
gì họ nghĩ, họ thấy đều tuyệt đối chánh xác, cho những
gì Phật nói đều là mê tín, lẽ đâu có đạo lý ấy, lẽ
đâu có những chuyện ấy! Họ nói Phật mê tín, bảo Phật
giáo chẳng phù hợp hiện thực.
Kính thưa cùng quý vị dăm câu: Bọn họ theo chủ nghĩa lý
tưởng, chẳng thiết thực. Họ nói những lời lẽ ấy nghe
dễ sao, chứ thật ra khó lắm, chẳng dễ dàng đâu! Hãy hồi
đầu kẻo lầm, Phật giảng tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô
lượng pháp môn. “Các pháp bình đẳng, chẳng có cao thấp”,
Phật nói như thế đấy; nhưng với căn tánh con người hiện
tại, ngoại trừ Tịnh Độ ra, không pháp nào thành tựu được
cả! Đừng nói tu hành chứng quả phải hiểu rõ chân tướng
sự thật, quý vị nghiên cứu kinh giáo mà không hiểu rõ chân
tướng sự thật thì cũng vô ích, không chuyển cảnh giới
được!
Đó là lời chân thật, cũng chính là lời Trung Phong quốc
sư đã giảng, vọng tưởng, tập khí, phiền não từ vô thỉ
kiếp đến nay quý vị chưa buông xuống được. Đây là lời
thành thật: Nếu quý vị buông xuống được thì chẳng thành
vấn đề, pháp môn nào cũng tu thành tựu cả! Nếu không buông
xuống được, sẽ chẳng thể thành tựu. Tám vạn bốn ngàn
pháp môn, vô lượng pháp môn không pháp nào đới nghiệp thành
tựu, chỉ có tiêu nghiệp mới thành tựu. Quý vị xem trong
kinh luận Đại, Tiểu Thừa thường nói đó: Kiến, Tư phiền
não tiêu rồi bèn chứng quả A La Hán; Trần Sa phiền não tiêu
bèn chứng quả vị Bồ Tát. Vô minh phiền não cũng tiêu sẽ
thành Phật, chẳng có đới nghiệp. Bây giờ quý vị hãy xem
kỹ nhé, tôi thường nói: Đừng nói là Kiến Tư phiền não,
Kiến phiền não trong Kiến Tư phiền não là thô nhất, đức
Phật nói nó gồm tám mươi tám phẩm, có năng lực tiêu trừ
được nó thì mới chứng Tu Đà Hoàn, là Sơ Quả của Tiểu
Thừa. Quý vị cứ nghĩ thử xem! Do thế, trong thời kỳ Mạt
Pháp, rất khó vậy!
Một ngàn năm thứ nhất sau khi đức Phật diệt độ là thời
kỳ Chánh Pháp, Phật tử nghiêm trì giới luật, dùng phương
pháp Trì Giới chứng được Tứ Quả, Tứ Hướng Tiểu Thừa.
Hết một ngàn năm ấy, tiến vào thời kỳ Tượng Pháp, trì
giới chẳng thể chứng quả, căn tánh con người chẳng được
như trước. Phật giáo hóa chúng sanh phải thay đổi phương
pháp, tu Định. Thiền Định thành tựu trong thời Tượng Pháp,
Tượng Pháp dài một ngàn năm. Sau một ngàn năm ấy, căn tánh
của chúng sanh tệ hơn thời Tượng Pháp rất nhiều. Nói cách
khác, tu Định chẳng thể khai ngộ, gần đây nhất là như
đại sư Đàm Hư thường nói. Sách Ảnh Trần Hồi Ức Lục
là tự truyện của Ngài, tôi đã đọc qua. Tôi chẳng có duyên
phận với cụ Đàm, chưa từng được gặp mặt. Năm 1977,
giảng kinh tại Hương Cảng, trụ nơi đạo tràng của Ngài,
Trung Hoa Phật Giáo Đồ Thư Quán ở đường Giới Hạn thuộc
khu Cửu Long do lão nhân gia sáng lập. Trong Đồ Thư Quán ấy,
Ngài có một căn phòng nhỏ, lúc tôi giảng kinh ở đó, ngụ
tại căn phòng của lão nhân gia. Tôi giảng kinh ở Đồ Thư
Quán ấy không ít lần, coi như rất có duyên phận.
Lão nhân gia từng nói: “Trong thời kỳ Mạt Pháp, người
tham thiền khai ngộ chưa từng thấy được một người”.
Chẳng những chưa từng thấy mà cũng chưa từng nghe nói đến
nữa. Đó là lời lão hòa thượng nói. Ngài từng gặp người
tham Thiền đắc định, nghe nói lại càng nhiều hơn, tham Thiền
đắc Định nhưng chưa khai ngộ. Nghe lời này chúng ta phải
hiểu rõ: Tham Thiền đắc Định chưa khai ngộ thì chưa thoát
khỏi lục đạo luân hồi, tương lai sẽ đi về đâu? Người
đắc Thiền Định sanh thiên. Tùy theo công phu Thiền Định
sâu hay cạn! Định lực cạn chẳng thoát được Dục Giới.
Chúng ta biết từ tầng trời thứ ba của Dục Giới trở lên,
Dạ Ma, Đâu Suất, Hóa Lạc, Tha Hóa Tự Tại, bốn tầng trời
này đều phải tu Thiền Định. Công phu Thiền Định sâu cạn
bất đồng, quý vị sanh trong tầng trời nào? Nói thật ra,
ngay mức Thiền Định đó còn chưa có ai thành tựu cả. Chân
chánh thành tựu Thiền Định chẳng sanh trong Dục Giới, mà
sanh vào Sắc Giới. Tứ Thiền, bát Định sanh Sắc Giới, Vô
Sắc Giới, vẫn chưa thoát luân hồi lục đạo!
Thiền Định nhất định phải đại triệt đại ngộ, minh
tâm kiến tánh, mới siêu thoát luân hồi; cụ Đàm nói (Ngài
vãng sanh lúc chín mươi tuổi dư) suốt một đời Ngài chưa
từng gặp được một ai. Quý vị thấy đó, khó khăn quá!
Bởi thế, thời Mạt Pháp chỉ có Tịnh Độ thành tựu. Trong
kinh Đại Tập, đức Phật dạy: “Thời kỳ Mạt Pháp, Tịnh
Độ thành tựu”. Niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, đới nghiệp vãng sanh, nhưng cổ đức giảng rất
nhiều về đới nghiệp: Đới nghiệp là mang theo chủng tử
của nghiệp, chẳng phải mang theo tập khí. Câu nói này hết
sức trọng yếu! Đới nghiệp là mang theo nghiệp cũ, chứ
không phải vác theo nghiệp mới. Điều này rất phiền phức
đấy nhé! Chúng ta ngày ngày tạo nghiệp nên niệm Phật chẳng
bảo đảm vãng sanh. Ai đảm bảo vãng sanh? Người chẳng tạo
nghiệp mới! Người chẳng tạo nghiệp mới, chưa đoạn chủng
tử của nghiệp và tập khí, nhưng làm thế nào chẳng tạo
nghiệp?
Trong đề mục pháp sự này, Trung Phong quốc sư đã chỉ rõ
“hệ niệm”, nhất tâm hệ niệm A Di Đà Phật. Trong ý niệm
chúng ta từ sáng đến tối, ngày đêm bất đoạn, chỉ có
một niệm A Di Đà Phật, ngoài trừ cái niệm A Di Đà Phật
ra, niệm gì cũng chẳng có. Đấy nào phải là chuyện dễ!
Thành Phật lẽ đâu dễ dàng? Như vậy là dễ dàng nhất rồi!
So với tám vạn bốn ngàn pháp môn, pháp môn này dễ dàng
nhất. Phương pháp này có nghĩa là bất luận niệm nào, đều
gọi là vọng niệm cả. Bất luận ý niệm gì, hễ ý niệm
khởi lên bèn quy về A Di Đà Phật hết. Đó là điều cổ
nhân thường nói: “Chẳng sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”.
Niệm là mê, niệm gì cũng là mê, đều là vọng tưởng cả!
Quý vị phải chuyển cho nhanh, chẳng để cho vọng niệm tiếp
nối; niệm vừa mới khởi lên thì niệm thứ nhất vừa khởi,
niệm thứ hai bèn là A Di Đà Phật. Cốt sao quý vị vừa phát
hiện thì ngay lập tức chuyển niệm đó thành A Di Đà Phật.
Hệ niệm giống như dùng dây cột chặt, cột chặt vào A Di
Đà Phật. Nếu quý vị thật sự làm được điều này, thì
xin chúc mừng quý vị, quý vị sanh về thế giới Cực Lạc
làm Phật ngay trong một đời này.
Quý vị hãy nghĩ đến câu chuyện pháp sư Đàm Hư thường
kể: Thầy Ngài là pháp sư Đế Nhàn, người đệ tử thợ
nề của pháp sư chẳng phải là nhất tâm hệ niệm đó ư?
Lão hòa thượng dạy ông ta một phương pháp, ông ta thật
sự làm theo! Lão hòa thượng dạy ông ta một phương pháp
chẳng khó, khó là trì cho bền, thật sự làm! Chỉ đơn giản
như thế này: “Một câu Nam Mô A Di Đà Phật niệm mệt bèn
nghỉ, nghỉ xong lại tiếp tục niệm”. Thực sự làm như
vậy chẳng hoài nghi, chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn. Niệm
thấy mệt chẳng hề gì, cứ nghỉ ngơi cho khỏe xong, tinh
thần sung túc lại tiếp tục niệm. Thân, tâm, thế giới hết
thảy buông xuống hết, không nghĩ đến cái gì hết. Ông ta
niệm ba năm hơn, bèn đứng mà tịch. Đế Nhàn pháp sư tán
thán, bội phục ông ta thật sự thành công. Sư khen ngợi:
“Phương trượng trụ trì các đạo tràng tùng lâm trong thiên
hạ chẳng bằng được ông ta, những pháp sư thuyết giáo
giảng kinh cũng chẳng bằng được ông ta!” Vì sao thành công?
Ông ta thật sự làm được hệ niệm pháp sự!
Hai câu tiếp đó là “Nhược nhân đăng bỉ ngạn, Cực Lạc
hữu quy châu” (Ai muốn lên bến giác, Cực Lạc sẵn thuyền
về). Trong thời đại Mạt Pháp chỉ có một biện pháp, đức
Phật dạy chúng ta, ngoài biện pháp ấy ra, chẳng có biện
pháp thứ hai. Bởi thế, Ấn Quang đại sư xuất hiện trong
thế gian dạy những người tu hành chúng ta liễu sanh tử,
thoát tam giới. Lão nhân gia dạy chúng ta ở chùa nhỏ, những
đồng học cùng tu không quá hai mươi người, có được một
cái Niệm Phật Đường nho nhỏ là đủ rồi. Trong Niệm Phật
Đường chẳng cần phải trần thiết tráng lệ, không cần
thiết làm thế! Chỉ cần thờ một bức tượng A Di Đà Phật,
hoặc thờ Tây Phương Tam Thánh cũng được, sạch sẽ, thanh
tịnh, vì sao? Nhất tâm hệ niệm. Thấy Phật, Bồ Tát quá
nhiều sẽ phân tâm. Tất cả hết thảy chư Phật Như Lai đều
được đại diện bằng A Di Đà Phật, dùng Quán Thế Âm,
Đại Thế Chí đại diện cho hết thảy Bồ Tát Ma Ha Tát.
Toàn bộ đều được niệm đến, mười phương ba đời chẳng
sót vị nào. Tâm định, chẳng tán loạn, tập trung ý chí
tinh thần, chẳng lãng phí chút thời gian nào.
“Bỉ ngạn” (bờ kia) là bờ Giác. Hiện chúng ta đang ở
bến mê, chư Phật, Bồ Tát ở bến Giác. Giờ đây chúng ta
muốn phá mê khai ngộ, muốn phản mê quy giác thì thế giới
Cực Lạc có biện pháp. “Châu” (thuyền) là công cụ chuyên
chở. “Quy châu”, Quy là hồi đầu, Cực Lạc có chiếc thuyền
đưa chúng ta quay đầu. “Quy châu” chính là pháp sự này,
quý vị nương theo pháp sự này giống như có chiếc thuyền
để nương về vậy. Quý vị ngồi vững vàng, chắc chắn
trên chiếc thuyền ấy sẽ phản vọng quy chân, phản mê quy
ngộ, trở vào trong Giác Hải. “Cực Lạc hữu quy châu”
[nghĩa là như vậy đó!]
Bởi thế, bốn câu kệ này chỉ có hai mươi chữ, nhưng ý
nghĩa rộng sâu vô tận. Chỉ có “phản vọng quy chân, phá
mê khai giác” là chân. Đó gọi là Phật pháp, Phật pháp
chân chánh. Bốn câu kệ này phơi bày toàn bộ tông chỉ của
Tam Thời Hệ Niệm. Vì sao chúng ta phải nương theo pháp sự
này mà tu hành? Đã nói rồi, phương pháp này là phương pháp
để một đời bất thoái thành Phật.
3.
Kỳ đảo văn
Tiếp đó, chúng ta thấy có một đoạn văn. Đoạn văn này
có thể gọi là văn kỳ đảo, mở đầu là bốn câu kệ:
Pháp vương lợi vật,
Bi trí hồng thâm,
Phổ biến thập phương.
Minh dương mị cách.
(Pháp vương lợi vật,
Bi trí rộng sâu,
Trọn khắp mười phương,
Âm, dương chẳng cách)
“Pháp vương” là Như Lai, ở đây chỉ A Di Đà Phật, Tỳ
Lô Giá Na Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật. Sao nói là ba vị Phật?
Tỳ Lô Giá Na là Pháp Thân Phật, A Di Đà Phật là Báo Thân
Phật, Thích Ca Mâu Ni là Ứng Thân Phật. Pháp, Báo, Ứng ba
thân một mà ba, ba nhưng một, toàn là Tự Tánh Phật.
“Lợi vật”: Chữ “vật” chỉ chín pháp giới chúng sanh.
Đại Sư chẳng nói “lợi nhân”, nếu “lợi người” thì
chỉ nói đến loài người, chẳng bao gồm các đường khác;
bởi thế nói là “lợi vật”. Chữ “vật” có ý nghĩa
như “chúng sanh”, phạm vi hết sức rộng lớn. Chúng sanh
là các hiện tượng do các hòa hợp mà sanh khởi. Bởi thế,
chữ “chúng sanh” bao quát; như nay ta nói bao gồm động vật,
thực vật, khoáng vật, bao gồm tất cả hết thảy hiện tượng
tự nhiên. Vì sao vậy? Chúng đều là do các duyên hòa hợp
mà sanh khởi. Vì sao ở đây chẳng nói “pháp vương lợi
ích chúng sanh”? Bởi mỗi câu chỉ có năm chữ, dùng chữ
“vật” hợp cách hơn. Chư Phật Như Lai lợi ích hết thảy
chúng sanh, Vật là hết thảy chúng sanh, bao gồm cả hữu tình
lẫn vô tình.
“Bi trí hồng thâm”: Chư Phật Như Lai dùng gì để lợi
ích chúng sanh? Đại bi đại trí. “Hồng” là lớn, chúng
ta thường nói bi trí rộng sâu không ngằn mé. Hồng là rộ