2.
Tỏ rõ tánh đức thù thắng của kinh: Mười đại nguyện
vương dẫn về Cực Lạc
Chánh kinh:
Thiện nam tử! Thị vi Bồ Tát Ma Ha Tát thập chủng đại nguyện,
cụ túc viên mãn. Nhược chư Bồ Tát ư thử đại nguyện,
tùy thuận thú nhập, tắc năng thành thục nhất thiết chúng
sanh, tắc năng tùy thuận A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề,
tắc năng thành mãn Phổ Hiền Bồ Tát chư hạnh nguyện hải.
Thị
cố thiện nam tử! Nhữ ư thử nghĩa, ưng như thị tri.
(Này
thiện nam tử! Đấy là mười đại nguyện đầy đủ viên
mãn của Bồ Tát Ma Ha Tát. Nếu các Bồ Tát đối với các
đại nguyện này mà có thể tùy thuận, thú nhập thì sẽ
có thể thành thục hết thảy chúng sanh, sẽ có thể tùy thuận
Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, sẽ có thể thành tựu
trọn vẹn biển các hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát.
Vì
thế, thiện nam tử! Đối với nghĩa này, ông nên biết như
thế)
Kinh
này là kinh Đại Thừa. Thiện nam tử, thiện nữ nhân được
nhắc đến trong Đại Thừa tiêu chuẩn rất cao. Phải làm
được tất cả mọi điều trong mười câu nói về ba thứ
phước của Quán kinh thì kinh Hoa Nghiêm mới gọi là thiện
nam tử, thiện nữ nhân.
Đại
ý của đoạn kinh văn này là: Những nguyện nói ở phần trên
chính là mười đại nguyện của hàng đại Bồ Tát, cũng
chính là các hạnh của Bồ Tát được quy nạp thành mười
loại lớn (số Mười tượng trưng cho ý nghĩa viên mãn). Bồ
Tát tích cực tu học mười nguyện thì sẽ có thể thành thục
hết thảy chúng sanh. Thành thục hết thảy chúng sanh tức
là có thể phổ độ trọn hết thảy chúng sanh. Phổ độ
chưa chắc là độ thoát viên mãn, còn “thành thục” thì
có thể nói là độ thoát gần như viên mãn.
Việc
quy kết về Tây Phương Cực Lạc thế giới được biểu lộ
qua ý nghĩa của hai chữ “thành thục”, tức là chân thật
viên mãn. Nếu như chẳng dùng đến pháp môn này, rất khó
thể thành thục. Thành thục là ngay trong một đời này, quý
vị sẽ thành Phật. Trong một đời này chẳng thành Phật
thì chẳng được gọi là “thành thục”. Như chúng ta bây
giờ có thể thành Phật được chăng? Niệm Phật có thể
thành Phật! Niệm Phật là nhân, thành Phật là quả; vấn
đề là chúng ta có chịu niệm hay không, tâm chúng ta cầu
vãng sanh có chân thành hay chăng? Nếu lúc có lúc không, dù
niệm Phật lâu ngày cũng chẳng cảm ứng!
Đồng
thời, có thể tùy thuận Bồ Đề. Đây chính là nói “một
đời thành Phật”. Người niệm Phật đúng là thành tựu
ngay trong một đời; chưa tắt hơi đã thấy Phật đến tiếp
dẫn, bảo với quý vị: “Phật đến rồi, ta theo Ngài đi
thôi!”,
liền tiêu sái ra đi. Đấy là theo Phật ngay khi còn sống,
thân thể hệt như một bộ y phục rách, vất đi chẳng màng.
Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, một đời thành Phật.
Bởi thế pháp môn này gọi là pháp môn “thành tựu ngay trong
một đời”.
Ở
đây, Phổ Hiền Bồ Tát nói chẳng sai, đến Tây Phương Cực
Lạc thế giới mới có thể thật sự tu viên mãn mười nguyện
Phổ Hiền. Bởi lẽ, được bổn nguyện công đức của Phật
A Di Đà gia trì, oai thần lực của Phổ Hiền Bồ Tát gia trì,
về Tây Phương thì quý vị mới được tự tại tu mười
đại nguyện vương.
Chánh
kinh:
Nhược
hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, dĩ mãn thập phương vô
lượng vô biên bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát,
cực vi trần số nhất thiết thế giới, thượng diệu thất
bảo, cập chư nhân thiên tối thắng an lạc, bố thí nhĩ sở
nhất thiết thế giới sở hữu chúng sanh, cúng dường nhĩ
sở nhất thiết thế giới chư Phật, Bồ Tát, kinh nhĩ sở
Phật sát cực vi trần số kiếp, tương tục bất đoạn, sở
đắc công đức; nhược phục hữu nhân, văn thử nguyện vương,
nhất kinh ư nhĩ, sở hữu công đức tỷ tiền công đức,
bách phận bất cập nhất, thiên phận bất cập nhất, nãi
chí ưu-ba-ni-sa-đà phần, diệc bất cập nhất.
(Nếu
có thiện nam tử, thiện nữ nhân đem bảy báu thượng diệu
(1) và các sự an lạc tối thắng của trời người đầy khắp
hết thảy thế giới nhiều như số cực vi trần của mười
phương vô lượng vô biên bất khả thuyết bất khả thuyết
cõi Phật để bố thí cho tất cả chúng sanh trong ngần ấy
hết thảy các thế giới, cúng dường chư Phật, Bồ Tát trong
ngần ấy hết thảy thế giới, trải các kiếp nhiều như
số cực vi trần của ngần ấy những cõi Phật, liên tục
chẳng ngớt, đạt được công đức. Nếu lại có người
nghe nguyện vương này một phen thoảng qua tai, thì công đức
của người trước đạt được so với công đức người
sau đạt được chẳng bằng một phần trăm, chẳng bằng một
phần ngàn, cho đến một phần ưu-ba-ni-sa-đà cũng chẳng bằng
được)
Ví
như có người (ý nói người bình thường) lúc nghe pháp sư
giảng kinh, nghe được mười đại nguyện vương, nghe thật
rõ ràng, thật minh bạch, cũng hiểu được ý nghĩa, in dấu
trong tám thức điền thì công đức ấy thật to lớn. Công
đức ấy là công đức chân thật, bởi lẽ một phen thoảng
qua tai, vĩnh viễn trở thành hạt giống đạo. Huống hồ là
pháp môn đệ nhất, kinh bậc nhất của Phật đã nói, hạt
giống ấy gieo vào A Lại Da Thức, tương lai gặp duyên, nhất
định thành thục. Bởi vậy, công đức chẳng thể nghĩ bàn.
Chánh
kinh:
Hoặc
phục hữu nhân, dĩ thâm tín tâm, ư thử đại nguyện, thọ
trì, độc tụng, nãi chí thư tả nhất tứ cú kệ, tốc năng
trừ diệt Ngũ Vô Gián nghiệp, sở hữu thế gian thân tâm
đẳng bệnh, chủng chủng khổ não, nãi chí Phật sát cực
vi trần số nhất thiết ác nghiệp, giai đắc tiêu trừ. Nhất
thiết ma quân, Dạ Xoa, La Sát, nhược Cưu Bàn Trà, nhược
Tỳ Xá Xà, nhược Bộ Đa đẳng, ẩm huyết, đạm nhục, chư
ác quỷ thần, giai tất viễn ly, hoặc thời phát tâm, thân
cận thủ hộ.
(Nếu
lại có người, do tâm tin tưởng sâu xa, đối với những
đại nguyện này, thọ trì, đọc tụng (2), cho đến biên chép
một bài kệ bốn câu, mau trừ diệt được nghiệp Ngũ Vô
Gián (3); tất cả các thân bệnh, tâm bệnh trong thế gian,
các thứ khổ não, cho đến hết thảy ác nghiệp nhiều như
số cực vi trần của một cõi Phật, đều được tiêu trừ.
Hết thảy ma quân, Dạ Xoa, La Sát, hoặc Cưu Bàn Trà, hoặc
Tỳ Xá Xà, hoặc Bộ Đa (4) v.v… các loại quỷ thần uống
máu ăn thịt, thảy đều tránh xa, hoặc có lúc phát tâm, thân
cận, thủ hộ)
Tu
hạnh nguyện Phổ Hiền lợi ích thù thắng như sau:
Thứ
nhất là tiêu nghiệp chướng. Chúng ta tạo rất nhiều ác
nghiệp, thân lẫn tâm đều có bệnh, phiền não nặng nề,
lắm khổ não, làm sao tiêu trừ đây? Ba chữ “thâm tín tâm”
là mấu chốt. Chúng ta mỗi ngày thọ trì, đọc tụng, biên
chép (lưu thông) mười đại nguyện vương thì có thể tiêu
trừ được nghiệp chướng hay chăng? Có thể làm cho bệnh
khổ được lành hay chăng? Được chứ! Chỉ cốt sao chúng
ta tín tâm sâu xa, tin sâu chẳng nghi sẽ được cảm ứng.
Kinh Kim Cang dạy: “Tín tâm thanh tịnh thời sanh Thật Tướng”.
Sanh Thật Tướng là minh tâm kiến tánh, là Lý Nhất Tâm Bất
Loạn của người niệm Phật. Nói cách khác, quý vị thành
đại Bồ Tát, tội nghiệp nhất định phải tiêu trừ.
Tâm
thâm tín rất trọng yếu, tâm thâm tín là một mảy ngờ vực
cũng chẳng có. Bộ kinh mười đại nguyện vương này mỗi
chữ đều là lời dạy răn chân thành của Như Lai; một câu
nói sai trái, một câu giả dối cũng chẳng có, thật đáng
tin tưởng, y giáo phụng hành. Tín tâm kiên định, tín tâm
thanh tịnh như thế y chiếu phương pháp trong kinh điển mà
hành, sẽ đạt được hiệu quả.
Hiệu
quả thứ nhất là tiêu nghiệp chướng. Thứ hai là tất cả
hết thảy bệnh khổ đều khỏi hẳn. Thứ ba, tất cả ma
chướng, yêu ma, quỷ quái chẳng dám gần quý vị. Do đây
biết rằng: Người gặp phải ma quái đều là vì tâm chẳng
thanh tịnh, có tham, sân, si, mạn. Tâm chẳng thanh tịnh bèn
cảm ứng ma, tâm thanh tịnh ma tự nhiên chạy mất. Tỷ như
niệm danh hiệu Phật, danh hiệu Bồ Tát, niệm kinh điển,
bái sám hữu hiệu, tất cả hết thảy kinh pháp đuổi ma đều
nhằm giúp quý vị khôi phục cái tâm thanh tịnh, chẳng khôi
phục được cái tâm thanh tịnh thì chẳng đuổi ma được.
Người tin được bèn có phước, người không tin bèn đánh
mất lợi ích thù thắng của việc tu học hạnh nguyện Phổ
Hiền.
Chánh
kinh:
Thị
cố nhược nhân tụng thử nguyện giả, hành ư thế gian vô
hữu chướng ngại, như không trung nguyệt, xuất ư vân ế.
Chư Phật, Bồ Tát chi sở xưng tán, nhất thiết nhân thiên
giai ưng lễ kính, nhất thiết chúng sanh tất ưng cúng dường.
Thử thiện nam tử, thiện đắc nhân thân, viên mãn Phổ Hiền
sở hữu công đức, bất cửu đương như Phổ Hiền Bồ Tát,
tốc đắc thành tựu vi diệu sắc thân, cụ tam thập nhị
đại trượng phu tướng. Nhược sanh nhân thiên, sở tại chi
xứ, thường cư thắng tộc, tất năng phá hoại nhất thiết
ác thú, tất năng viễn ly nhất thiết ác hữu, tất năng chế
phục nhất thiết ngoại đạo, tất năng giải thoát nhất
thiết phiền não, như sư tử vương tồi phục quần thú, kham
thọ nhất thiết chúng sanh cúng dường.
(Vì
thế, nếu ai tụng nguyện này đi trong thế gian chẳng bị
chướng ngại, như vầng trăng trên không ra khỏi mây phủ,
được chư Phật, Bồ Tát khen ngợi, hết thảy trời người
đều nên lễ kính, hết thảy chúng sanh thảy nên cúng dường.
Thiện nam tử ấy khéo được thân người, viên mãn tất cả
công đức của Phổ Hiền, chẳng bao lâu sẽ như Phổ Hiền
Bồ Tát, mau được thành tựu sắc thân vi diệu, đủ ba mươi
hai tướng đại trượng phu. Nếu sanh trong trời người, ở
bất cứ đâu, thường sanh trong dòng họ cao quý, thảy có
thể phá hoại hết thảy đường ác, đều có thể xa lìa
hết thảy bạn ác, đều có thể chế phục hết thảy ngoại
đạo, đều có thể giải thoát hết thảy phiền não, như
sư tử chúa lấn áp muôn thú, đáng nhận sự cúng dường
của hết thảy chúng sanh)
Toàn
văn Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm gồm bốn mươi quyển, mười
đại nguyện vương thuộc cuốn cuối cùng, chỉ chiếm 1/40
của phẩm này. Hoằng Nhất đại sư lấy Phổ Hiền Hạnh
Nguyện Phẩm làm khóa lễ sáng tối. Nếu ai có thể đọc
tụng mười đại nguyện vương đây, tu hành theo đúng phương
pháp trong bộ kinh này, thì trong thế gian này, người đó làm
bất cứ việc gì chẳng bị chướng ngại; bởi lẽ trí huệ,
phước đức viên mãn của người ấy thường lộ rõ trong
sanh hoạt thường nhật. Đã thế, người ấy “được hết
thảy chư Phật, Bồ Tát khen ngợi, hết thảy trời người
đều nên lễ kính”. Phật, Bồ Tát xưng dương khen ngợi
quý vị, trời người tất nhiên cũng tôn kính người có đạo
đức, học vấn. Đối với quý vị, họ tỏ ra lễ độ bởi
quý vị là một đệ tử Phật tu học hạnh nguyện Phổ Hiền.
Không
những thế, trong lục đạo, quý vị “thường sanh trong dòng
họ cao quý”. Những chỗ quý vị sanh sống qua lại nhất
định đều thuộc chủng tộc thù thắng, “có thể phá hoại
hết thảy đường ác, xa lìa hết thảy bạn ác, chế phục
hết thảy ngoại đạo, giải thoát hết thảy phiền não, đáng
nhận sự cúng dường của hết thảy chúng sanh”. Lợi ích
thật thù thắng! Tâm quý vị, sự tu trì của quý vị đều
thuộc Bồ Đề chánh đạo, tự nhiên phá được hết thảy
đường ác, xa lìa hết thảy bạn ác, bởi chí thú của họ
khác với quý vị, nhất định chẳng thể cùng quý vị qua
lại, nên chẳng bị họ gây chướng ngại. Quý vị có đạo
đức, học vấn, biện tài, nhất định sẽ khuất phục được
hết thảy ngoại đạo, đủ sức giải thoát hết thảy phiền
não.
Bởi
vậy, vị Bồ Tát như thế sống trong thế gian có thể tiếp
nhận hết thảy chúng sanh cúng dường, bởi lẽ Ngài là phước
điền của hết thảy chúng sanh. Chúng sanh chẳng cúng dường,
Ngài bèn chẳng trụ thế, Ngài qua xứ khác, sanh tử tự tại.
Không gian sanh hoạt của Ngài chẳng giống với chúng ta. Không
gian sanh hoạt của chúng ta rất nhỏ, chỉ là một quả địa
cầu mà thôi, không cách nào ra ngoài địa cầu được. Không
gian hoạt động của chư Phật, Bồ Tát là tột cùng hư không,
trọn pháp giới, không cách gì tưởng tượng được.
Gặp
hạng người như vậy, nếu ta chẳng cúng dường, cung kính,
khéo học theo, họ sẽ đi mất, chẳng ở lại chốn này. Cúng
dường là cúng dường bằng cách tu hành đúng theo lời dạy,
nhất định phải tiếp nhận sự răn dạy, chỉ dẫn của
họ, đó là điều trọng yếu nhất. Nếu không tu hành đúng
như lời dạy, dù có cúng dường vật chất nồng hậu, họ
cũng chẳng chịu ở lại nơi đây, bởi họ chẳng mong cầu
hưởng thụ. Chỉ có một lý do khiến họ ở lại nơi đây:
Tại chỗ này có rất nhiều người thật sự học theo họ,
nên họ nhất định phải ở lại đây.
Chánh
kinh:
Hựu
phục thị nhân, lâm mạng chung thời, tối hậu sát-na, nhất
thiết chư căn tất giai tán hoại, nhất thiết thân thuộc
tất giai xả ly, nhất thiết oai thế tất giai thoái thất,
phụ tướng, đại thần, cung thành nội ngoại, tượng, mã,
xa thặng, trân bảo, phục tạng, như thị nhất thiết vô phục
tương tùy. Duy thử nguyện vương, bất tương xả ly, ư nhất
thiết thời, dẫn đạo kỳ tiền, nhất sát-na trung, tức đắc
vãng sanh Cực Lạc thế giới. Đáo dĩ, tức kiến A Di Đà
Phật, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Quán Tự
Tại Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát đẳng, thử chư Bồ Tát sắc
tướng đoan nghiêm, công đức cụ túc, sở cộng vi nhiễu.
Kỳ nhân tự kiến sanh liên hoa trung, mông Phật thọ ký.
Đắc
thọ ký dĩ, kinh ư vô số bách thiên vạn ức na-do-tha kiếp,
phổ ư thập phương bất khả thuyết bất khả thuyết thế
giới, dĩ trí huệ lực, tùy chúng sanh tâm, nhi vi lợi ích.
Bất cửu đương tọa Bồ Đề đạo tràng, hàng phục ma quân,
thành Đẳng Chánh Giác, chuyển diệu pháp luân, năng linh Phật
sát cực vi trần số thế giới chúng sanh, phát Bồ Đề tâm,
tùy kỳ căn tánh giáo hóa thành thục, nãi chí tận ư vị
lai kiếp hải, quảng năng lợi ích nhất thiết chúng sanh.
(Lại
khi người ấy lâm chung, vào sát-na tối hậu, hết thảy các
căn thảy đều tan hoại, hết thảy thân thuộc thảy đều
bỏ lìa, hết thảy oai thế thảy đều lui mất, phụ tướng
(5), đại thần, cung điện, thành quách trong ngoài, voi, ngựa,
xe cộ, trân bảo, kho đụn, hết thảy những thứ như thế
không gì theo mình nữa. Chỉ có mỗi nguyện vương này chẳng
bỏ lìa, trong hết thảy thời nó thường dẫn đường đằng
trước, trong một sát-na liền được vãng sanh thế giới Cực
Lạc. Đến nơi rồi, liền thấy A Di Đà Phật, Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Quán Tự Tại Bồ Tát, Di
Lặc Bồ Tát v.v… Các đại Bồ Tát ấy sắc tướng đoan
nghiêm, công đức trọn đủ, cùng chung vây quanh. Người ấy
tự thấy sanh trong hoa sen, được Phật thọ ký.
Được
thọ ký rồi, trải qua vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha kiếp,
khắp trong mười phương bất khả thuyết bất khả thuyết
thế giới, dùng sức trí huệ, tùy tâm chúng sanh để làm
lợi ích. Chẳng bao lâu sẽ ngồi nơi Bồ Đề Đạo Tràng
(6), hàng phục ma quân, thành Đẳng Chánh Giác, chuyển pháp
luân mầu nhiệm, có thể làm cho chúng sanh trong các thế giới
nhiều như số cực vi trần trong một cõi Phật phát tâm Bồ
Đề, tùy theo căn tánh mà giáo hóa thành thục, cho đến tột
cùng biển vị lai kiếp, có thể rộng lợi ích hết thảy
chúng sanh).
Phổ
Hiền Bồ Tát lại dạy chúng ta một việc rất trọng yếu.
Cổ đức chú giải kinh văn thường trích dẫn đoạn kinh này.
Do đó biết đoạn kinh văn này rất trọng yếu. Đối với
người niệm Phật cầu vãng sanh, nó lại càng trọng yếu
hơn nữa. Sát-na tối hậu khi lâm chung (tức vào lúc hơi thở
cuối cùng) là lúc quan trọng nhất của lúc sanh tử, thần
thức ly khai thân thể (nói theo thế tục là “linh hồn lìa
khỏi nhục thân”), nhục thân bị hủy hoại, hư nát. Điều
này cho thấy thân thể vô cùng mỏng manh.
Người
nhà, quyến thuộc ân ái sâu nặng cách mấy đến lúc này
cũng chẳng thể không chia lìa, một phen xa nhau vĩnh viễn,
đời sau chẳng gặp lại được nữa. Dẫu đời sau có gặp
lại nhau, cả mình lẫn người đều đã thay đầu đổi mặt,
có gặp cũng chẳng nhận ra. Bởi thế, duyên thế gian phải
nhạt dần, chớ quá chấp trước; thế nhưng phải săn sóc
hết thảy chúng sanh chu đáo, đấy là Bồ Tát hạnh, tâm địa
thanh tịnh chẳng bị nhiễm.
Lúc
còn sống, anh hùng, hảo hán, oai phong lẫm lẫm, chết đi,
thứ gì cũng chẳng còn, chỉ vừa vùi xuống đất, hết thảy
oai thế mất sạch. Tại thế gian làm đế vương, chết đi,
đại thần cũng chẳng thể đi theo. Ở trong cung điện, phương
tiện di chuyển là voi, ngựa, xe cộ, chẳng mang theo được
thứ gì. Lúc còn sống thâu chứa bao nhiêu của cải quý báu,
cũng chẳng mang theo được gì. Thân thể còn phải mục nát,
huống hồ những thứ ngoài thân!
Thấy
thấu suốt những sự tình đó, sẽ chẳng lưu luyến hết
thảy pháp thế gian. Chẳng còn tham ái, tâm quý vị sẽ thanh
tịnh rất nhiều. Tâm thanh tịnh bèn sanh trí huệ, bèn hiểu
trong thế gian nên làm người như thế nào, nên làm những
chuyện gì, tự nhiên giống như Phật, Bồ Tát: Trong thế gian
này chẳng vì chính mình, mà vì chúng sanh. Sanh ra chẳng mang
theo cái gì đến, chết đi chẳng mang được cái gì đi, chỉ
trần trụi một thân, cho nên chẳng vì chính mình. Công đức
chân thật chỉ là lợi ích chúng sanh.
“Chỉ
có nguyện vương này chẳng hề bỏ lìa”: Có thể mang theo
công đức chính mình đã tu hành, chẳng hề lìa bỏ. Bởi
lẽ, công đức do chân tâm tu, chẳng phải do tình ý hư dối
tu tập. Vì sao chẳng thể mang theo tình người thế gian được?
Là vì tình ý hư dối, chẳng phải chân tâm. Từ Quyền Giáo
Bồ Tát trở xuống thảy đều vận dụng tình ý hư dối,
chẳng hề dụng tâm chân thật. Bốn mươi mốt địa vị Pháp
Thân đại sĩ trong hội Hoa Nghiêm đều dùng chân tâm. Chân
tâm vĩnh viễn chẳng biến đổi, vọng tâm biến đổi theo
từng sát-na. Bất cứ thứ gì trong thế gian cũng chẳng mang
theo được, bởi lẽ chúng do tình ý hư dối tạo ra.
Quý
vị giúp đỡ hết thảy chúng sanh, thành tâm thành ý mà làm
thì công đức, phước đức đều mang theo được. Tục ngữ
có câu: “Vạn thứ đều bỏ sạch, chỉ mỗi nghiệp theo
thân”. Mang theo thiện nghiệp vào ba đường lành (trời, người,
A Tu La) hưởng quả báo, mang ác nghiệp vào ba đường ác (địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh) chịu quả báo. Bồ Tát thiện nghiệp
lẫn ác nghiệp đều chẳng có, dẫu đoạn hết thảy ác nhưng
chẳng chấp tướng đoạn ác; dẫu tu hết thảy thiện nhưng
chẳng chấp tướng tu thiện, tam luân thể không. Ngày ngày
làm lành, ngày ngày vì mọi người, nhưng trọn chẳng chấp
tướng. Bởi thế, họ mang mười đại nguyện vương đã tu
hành theo được.
Chẳng
những mang theo mà còn trong “hết thảy thời”, nguyện vương
vĩnh viễn theo họ, chẳng hề tách rời, dẫn đường cho họ
“trong một sát-na, liền được vãng sanh thế giới Cực Lạc”.
Mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Đến thế giới
Cực Lạc, lập tức thấy A Di Đà Phật. Bởi thế, mười
đại nguyện vương là pháp tối thượng thừa để Bồ Tát
tu hành. Nói cách khác, nó là hạnh viên mãn của hết thảy
Bồ Tát Lục Độ. Trong mười nguyện, nguyện nào cũng viên
mãn, gồm trọn Lục Độ, là hạnh viên mãn của Bồ Tát.
Đến Cực Lạc, đồng thời cũng thấy Văn Thù Sư Lợi Bồ
Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Quán Tự Tại Bồ Tát, Di Lặc Bồ
Tát v.v… Những vị Bồ Tát ấy sắc tướng đoan nghiêm, công
đức trọn đủ.
Người
tu mười đại nguyện vương sanh về thế giới Cực Lạc,
hoa lập tức nở, đó là vãng sanh bậc thượng. Nhân vì tu
hạnh nguyện Phổ Hiền, tâm lượng giống như hư không pháp
giới, mỗi một nguyện đều nói: “Hư không giới tận, chúng
sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não
tận, sự tu hành này của tôi chẳng có cùng tận”. Tâm lượng
chúng ta quá nhỏ nên phải học Phổ Hiền hạnh để tâm lượng
lớn ra. “Tâm trùm thái hư, lượng khắp các cõi nhiều như
cát”, không một pháp nào chẳng gồm chứa. Tâm lượng to
lớn như thế, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ thì lẽ đương
nhiên phải là Thượng Phẩm Vãng Sanh.
Bởi
thế, sanh về đó, hoa sen hóa sanh, hoa nở thấy Phật, được
Phật thọ ký. Sau khi được Phật thọ ký, ở Tây Phương
Cực Lạc thế giới nỗ lực tinh tấn cầu học, đạo sư
là A Di Đà Phật, giáo thọ là mười phương chư Phật Như
Lai và các vị đại Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền… Bạn
đồng học là các thượng thiện nhân. Bởi thế, về đó
cầu học mau chóng phi thường, chẳng lui sụt, một đời viên
mãn thành tựu. Dù khi chưa tốt nghiệp, nghĩ muốn thả bè
từ thì A Di Đà Phật dùng bổn nguyện lực công đức oai
thần gia trì, quý vị bèn có thể nương theo ý nguyện trở
về độ sanh mà chẳng bị lui sụt, chẳng đọa vào ác đạo.
Đến mười phương thế giới độ chúng sanh, năng lực giống
như Quán Âm Bồ Tát, tùy lòng chúng sanh, biết rõ nên dùng
thân nào để độ bèn tự hiện thân ấy để độ. Nên dùng
thân Phật để độ thì chính mình cũng có thể thị hiện
tám tướng thành đạo giống như Thích Ca Mâu Ni Phật thị
hiện thành Phật trong thế gian này. Chỉ cần sanh về thế
giới Cực Lạc, được gặp gỡ Phật A Di Đà bèn có năng
lực ấy. Năng lực ấy là do Phật gia trì, bởi chúng ta thật
sự là học trò của Phật A Di Đà, hết thảy chư Phật, Bồ
Tát đều giúp đỡ quý vị. Long thiên hộ pháp thần cũng
đều hộ trì quý vị.
Nếu
chẳng nghiêm túc nỗ lực tu học thì chẳng thể buông xuống
vạn duyên, đối với pháp môn này vẫn nửa tin nửa ngờ,
chẳng hoàn toàn tin tưởng. Nếu hiểu rõ chân tướng sự
thật, nghi tình sẽ đoạn, tín tâm kiến lập. Pháp môn này
chẳng khó tu. Đến lúc ấy mới là chân chánh báo ân Phật,
báo ân cha mẹ, báo ân chúng sanh vì quý vị có năng lực lợi
ích hết thảy chúng sanh.
3.
Khuyến chúc thọ trì
Chánh
kinh:
Thiện nam tử! Bỉ chư chúng sanh nhược văn, nhược tín thử
đại nguyện vương, thọ trì, độc tụng, quảng vị nhân
thuyết, sở hữu công đức trừ Phật Thế Tôn, dư vô tri
giả. Thị cố nhữ đẳng văn thử nguyện vương, mạc sanh
nghi niệm, ưng đương đế thọ. Thọ dĩ năng độc, độc
dĩ năng tụng, tụng dĩ năng trì, nãi chí thư tả, quảng vị
nhân thuyết. Thị chư nhân đẳng ư nhất niệm trung, sở hữu
hạnh nguyện giai đắc thành tựu, sở hoạch phước tụ vô
lượng vô biên; năng ư phiền não đại khổ hải trung, bạt
tế chúng sanh, linh kỳ xuất ly, giai đắc vãng sanh A Di Đà
Phật Cực Lạc thế giới.
(Này
thiện nam tử! Các chúng sanh đó nếu nghe hoặc tin đại nguyện
vương này, thọ trì, đọc tụng, rộng nói cho người, có
được công đức trừ Phật Thế Tôn ra, không ai biết được!
Vì thế các ông nghe nguyện vương này chớ sanh lòng ngờ,
phải nên chân thật nhận lấy, nhận rồi nên đọc, đọc
rồi nên tụng, tụng rồi nên trì, cho đến biên chép, rộng
nói cho người. Những người ấy trong một niệm, tất cả
hạnh nguyện đều được thành tựu, đạt được khối phước
vô lượng vô biên, có thể ở trong biển khổ phiền não lớn
cứu vớt chúng sanh khiến họ được xuất ly, đều được
vãng sanh thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà).
Đoạn
kinh này rất trọng yếu, cổ vũ chúng ta rất lớn. Ở đây,
Bồ Tát nói: Nếu chúng ta nghe được pháp môn này, nghe xong
bèn có thể tin tưởng, có thể tiếp nhận, thọ trì, đọc
tụng, rộng nói cho người khác, thì đạt được công đức
lớn lao không gì sánh ví được, chỉ mình đức Phật biết
nổi thôi. Thọ trì: Thọ là tiếp nhận, Trì là làm theo. Như
với “lễ kính chư Phật” bèn làm theo, dù chẳng thể thực
hiện viên mãn, vẫn nỗ lực làm, nỗ lực học theo. Đối
với người khác, ta đều dùng cái tâm cung kính, tâm chân
thành; đối với sự, bất luận chuyện lớn, việc nhỏ, ta
đều nỗ lực chịu trách nhiệm thực hiện, hoàn thành sự
việc ấy thật tốt đẹp. Đối với vật, lau chùi bàn ghế
sạch sẽ, sắp xếp ngay ngắn, đó là cung kính đối với
vật. Như thế mới là chân chánh thọ trì Phổ Hiền hạnh.
“Xưng
tán Như Lai”: Ai có chuyện gì lợi ích cho chúng sanh, ta phải
khen ngợi, ai làm chuyện gì không tốt, ta đừng nói, [ấy
là] “ẩn điều ác, nêu điều lành”. Người xấu làm chuyện
xấu có tâm hổ thẹn, cảm thấy khó chịu; họ làm chút việc
tốt nào, mọi người khen ngợi; làm việc xấu, mọi người
tha thứ, đều không nhắc đến, trong tâm họ bèn hổ thẹn;
lâu ngày chầy tháng sẽ sửa đổi lỗi lầm, biến thành người
tốt. Ác nhân tự có ác báo, chẳng phiền chúng ta phải tuyên
dương. Đoạn kinh này dạy chúng ta phải tin tưởng, thọ trì,
đọc tụng, đó là tự tu, tự hành. Ngoài ra, lại còn phải
tuyên truyền, rộng nói cho người khác, kinh điển phải lưu
thông, ấn hành với số lượng lớn, in cho thật đẹp đẽ,
gởi các nơi tặng cho người khác.
Khuyên
người học Phật, đem tinh nghĩa, tinh thần, giáo huấn, lợi
ích của Phật pháp tùy thời, tùy chỗ nói cho người khác
nghe. Đối phương nghe cũng tốt, không nghe cũng được (tối
thiểu là nghe lọt mấy câu vào A Lại Da Thức). Khi nhận điện
thoại, cầm điện thoại lên, trước hết niệm Nam Mô A Di
Đà Phật, khiến A Di Đà Phật rót vào tai đối phương, đó
là độ chúng sanh, rộng vì người khác nói. Khuyên người
niệm Phật ít nói chuyện nhảm nhí. Công đức tự hành hóa
tha ngoại trừ chư Phật Như Lai ra, không ai hiểu nổi công
đức quý vị lớn lao đến mức độ nào đâu!
“Vì
thế các ông nghe nguyện vương này, chớ sanh lòng ngờ”:
Chữ “các ông” chỉ mọi người chúng ta. Nghe phẩm Phổ
Hiền Hạnh Nguyện này, chẳng phải ngẫu nhiên, mà là trong
đời quá khứ, vô lượng kiếp trước, quý vị đã gieo thiện
căn sâu dầy, nhân duyên đại phước đức, ngày nay trọn
đủ, mới có cơ hội được nghe kinh này. Phước báo chẳng
đủ, chẳng được nghe; bởi thế chớ tự coi thường mình.
Nghe xong, phải tin sâu chẳng nghi. Biết Phổ Hiền Bồ Tát,
Tỳ Lô Giá Na Như Lai giảng trong kinh điển, câu nào cũng là
lời chân thật. Chúng ta “phải nên đế thọ” (chân thật
nhận lấy). “Đế” là tường tận, cẩn thận, kỹ càng,
thảy đều minh bạch, rõ ràng, hiểu rõ, tiếp nhận hoàn toàn.
Sau
khi tiếp nhận, bước công phu thứ nhất là đọc kinh, đọc
rồi phải tụng thuộc, tụng thuộc rồi phải thực hiện.
Đọc thuộc, nhớ kỹ rồi, trong sanh hoạt thường nhật, khởi
tâm động niệm, hết thảy hành vi đều phải suy nghĩ. Chẳng
hạn như, lau cái bàn nghĩ mình đang lễ kính chư Phật. Cái
bàn là Phật, chúng ta phải lau cho thật sạch sẽ, rất cung
kính nghiêm túc làm công việc ấy. Bất luận làm việc gì
đều phải thành tâm, thành ý. Có tâm cung kính, có ý chân
thành, việc gì mà chẳng làm tốt được? Chẳng thể tụng
thuộc thì tu hành chẳng có tiêu chuẩn, chẳng có nguyên tắc;
bởi thế, nhất định phải tụng thuộc kinh điển, sau đó
đem những điều ấy thực hiện.
Làm
được rồi, chính mình sẽ được thật sự thọ dụng lợi
ích chân thật. Lợi ích ấy là phiền não nhẹ đi, trí huệ
tăng trưởng, một ngày từ sáng đến tối khoái lạc khôn
sánh. Tự mình có thể cảm nhận mình là người sung sướng
hạnh phúc mỹ mãn bậc nhất trên thế giới, pháp hỷ sung
mãn. Trong thế giới này, đã đầy đủ chân thiện mỹ huệ
thì sanh mạng, cuộc sống của quý vị thật sự sung mãn.
Chỉ những ai thật sự có công phu tu trì trong Phật pháp mới
được sung mãn. “Cho đến biên chép, rộng nói cho người”
là khuyên người. Phải lưu thông Phật pháp, tuyên truyền
Phật pháp, đó là trách nhiệm của người đệ tử Phật.
Chiếu theo pháp môn này mà tự hành, hóa tha, tận tâm tận
lực thực hiện. Phải tự mình tận tâm tận lực tu hành
và cũng phải tận tâm tận lực lưu thông, tuyên truyền.
Người
như vậy, trong một niệm, tất cả hạnh nguyện đều được
thành tựu. Đó là sự thật, kinh Đại Thừa từng nói đến:
“Một tức là hết thảy, hết thảy tức là một”. Bởi
tâm lượng quý vị viên mãn, bất cứ một hạnh nào cũng
đều từ chân tâm, viên mãn tâm mà phát khởi. Một niệm
phát khởi từ cái tâm viên mãn, há lẽ chẳng có đạo lý
viên mãn? Há lẽ chẳng có đạo lý trọn khắp? Đấy là cảnh
giới Hoa Nghiêm, rất khó lãnh hội, rất khó hiểu, là sự
thật chân chánh. Phước báo quý vị đạt được vô lượng
vô biên. Cầu vô biên phước thù thắng từ nơi đây.
Nếu
dùng các thứ vàng bạc, của cải để bố thí cầu phước,
sẽ cầu được phước báo nhỏ nhoi, chẳng phải là tu đại
phước rốt ráo viên mãn. Đại phước rốt ráo viên mãn phải
nhờ vào Phổ Hiền hạnh mới đạt được, mới có thể viên
mãn thành tựu. Đối với hết thảy chúng sanh trong biển khổ
phiền não, quý vị cũng có năng lực giống như chư Phật,
Bồ Tát, giúp đỡ họ xử lý, dẫn dắt họ niệm Phật cầu
sanh Tịnh Độ thì Phổ Hiền hạnh nguyện mới đạt đến
viên mãn.
II.
Trùng Tụng
Chánh kinh:
Nhĩ thời, Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát dục trùng tuyên thử
nghĩa, phổ quán thập phương, nhi thuyết kệ ngôn:
(Lúc
bấy giờ, Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát muốn trùng tuyên nghĩa
này, nhìn khắp mười phương, bèn nói kệ (7) rằng)
Kệ
tụng giống như thi ca của Trung Quốc. Ở đây là loại kệ
tụng bảy chữ, mỗi câu có bảy chữ, cứ bốn câu là một
kệ. Tổng cộng có sáu mươi hai bài. Phần đầu là Trùng
Tụng đem hết thảy mười đại nguyện vương nhắc lại một
lượt. Trong nhà Phật, thể lệ này rất nhiều, có hai dụng
ý:
1)
Phật giảng kinh, thính chúng tự do tham gia, có kẻ đến trước,
người đến sau. Người đến sau cùng chưa nghe được những
điều đã giảng mấy hôm trước, Phật rất từ bi, dùng kệ
tụng để đơn giản nhắc lại những điều trọng yếu một
lần nữa.
2)
Kinh văn phải tụng thuộc, sợ kẻ độn căn khó thuộc nổi
phần Trường Hàng, kệ tụng có thể dùng để xướng tụng,
dễ ghi nhớ.
1.
Tụng mười đại nguyện vương
1.1.
Kệ tụng lễ kính chư Phật
Chánh
kinh:
Sở
hữu thập phương thế giới trung,
Tam
thế nhất thiết Nhân Sư Tử,
Ngã
dĩ thanh tịnh thân ngữ ý,
Nhất
thiết biến lễ tận vô dư,
Phổ
Hiền hạnh nguyện oai thần lực,
Phổ
hiện nhất thiết Như Lai tiền,
Nhất
thân phục hiện sát trần thân,
Nhất
nhất biến lễ sát trần Phật.
(Trong
tất cả mười phương thế giới,
Ba
đời hết thảy Nhân Sư Tử,
Tôi
dùng thân - ngữ - ý thanh tịnh,
Lễ
khắp hết thảy chẳng còn sót,
Sức
oai thần hạnh nguyện Phổ Hiền,
Hiện
trước khắp hết thảy Như Lai,
Mỗi
thân lại hiện sát trần (8) thân,
Mỗi
mỗi lễ khắp sát trần Phật)
Bài
tụng thứ nhất là “lễ kính chư Phật”. “Mười phương
thế giới” là vô lượng vô biên các cõi Phật. Chúng ta
lễ kính ai? Lễ kính “ba đời hết thảy Nhân Sư Tử”.
Ba đời: đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai. Nhân
Sư Tử là Phật. Trong kinh Phật thường dùng chữ “nhân trung
sư tử” (sư tử trong loài người) để ví đức Phật. Mười
phương tam thế hết thảy Phật đều là đối tượng để
chúng ta lễ kính. Phật dạy: “Hết thảy chúng sanh vốn sẵn
là Phật”. Phàm những hiện tượng do các duyên hòa hợp
mà sanh khởi đều gọi là “chúng sanh”. Hữu tình chúng
sanh do các duyên Tứ Đại, Ngũ Uẩn hòa hợp; vô tình chúng
sanh (thực vật, khoáng vật) cũng do các duyên hòa hợp, bởi
thế cũng là chúng sanh. Kinh Hoa Nghiêm chép: “Tình và vô tình
cùng viên mãn Chủng Trí”.
Vì
sao nói “chúng sanh vốn đã là Phật”? Điều này thuộc
về mối quan hệ giữa Tánh và Tướng. Phàm mọi Tướng đều
do Tánh biến hiện. Phật là Tâm. Hết thảy hiện tượng chỉ
do Tâm hiện, do Thức biến. Tâm chính là Phật, Phật chính
là Tâm. Hữu tình chúng sanh có Phật tánh, vô tình chúng sanh
có pháp tánh. Pháp tánh và Phật tánh cùng một tánh, chỉ
là danh từ bất đồng.
Chúng
ta đối với người, đối với sự, đối với vật đều
phải thường tu cung kính, phải hoàn toàn cung kính giống hệt
như cung kính đức Phật. Ở nhà phải hiếu kính cha mẹ, ở
trường phải lễ kính sư trưởng, dần dần mở rộng lòng
lễ kính đến thân thích, quyến thuộc, cho đến hết thảy
chúng sanh. Chẳng những mở rộng sự lễ kính đến hết thảy
chúng sanh hữu tình mà còn phải mở rộng đến hết thảy
chúng sanh vô tình. Trong con mắt người tu hành, giá nến, lư
hương, bàn ghế, mọi thứ đều là Phật cả, đều phải
cung kính. Bàn ghế lau chùi sạch sẽ, sắp xếp chỉnh tề,
là tỏ lòng cung kính đối với chúng nó. Sách đặt trên bàn
phải thứ tự chỉnh tề; nếu quăng vứt lung tung là bất
kính vậy. Phật pháp kiến lập trên cơ sở tâm cung kính,
phải cung kính với hết thảy, bình đẳng cung kính, thanh tịnh
cung kính. Dầu cung kính đối với hết thảy, nhưng tâm địa
thanh tịnh, chẳng nhiễm mảy trần.
“Tôi
dùng thân ngữ ý thanh tịnh” để biểu đạt lòng cung kính.
Ba nghiệp thân - ngữ - ý thanh tịnh là cung kính chân chánh.
“Lễ
khắp hết thảy chẳng còn sót”: đối với tam thế chư Phật,
quý vị lễ một vị tức là lễ toàn bộ hết thảy. Vì sao
vậy? Bởi tâm thanh tịnh chẳng có giới hạn. Tâm thanh tịnh
là chân tâm, chân tâm tột cùng hư không, trọn khắp pháp
giới, chẳng có giới hạn. Bởi thế lễ một đức Phật
là lễ hết thảy Phật, cung kính một đức Phật là cung kính
hết thảy Phật. Ba nghiệp thân - ngữ - ý thanh tịnh, niệm
niệm đều là lễ kính, chẳng phải là lễ Phật một cách
hình thức.
Lễ
Phật hình thức là mới học, đặc biệt là kẻ nghiệp chướng
nặng nề, một ngày lễ ba ngàn lạy để tu thân - ngữ - ý
thanh tịnh. Lễ Phật cũng là sám hối, để sám trừ tội
nghiệp bất kính đối với hết thảy Phật, Bồ Tát và chúng
sanh trong quá khứ. Lúc lễ Phật, tâm phải thanh tịnh, tâm
phải không, chớ nên ôm đồm lắm nỗi, tâm phải một niệm
chẳng sanh (“bổn lai vô nhất vật”), thân phải chiếu theo
nghi thức mà làm. Lạy Phật là vận động, cũng là một phương
pháp dưỡng sanh tốt nhất.
Trong
sách Ảnh Trần Hồi Ức Lục có chép mẫu chuyện sau: Năm
Dân Quốc thứ nhất (1911), thầy Hương Đăng chùa A Dục Vương
là người rất chất phác. Thầy Hương Đăng trông nom đèn
đuốc, thắp hương. Mùa Hạ, khí trời nóng bức, người khác
nói đùa:
- Thầy
Hương Đăng! Người ta phơi sách, phơi y phục, thầy cũng nên
đem nến ra phơi đi, nếu không chẳng giữ được lâu đâu!
Thầy
đem nến ra phơi thật, nến chảy tan hết. Lão hòa thượng
dặn thầy một ngày lễ Phật ba ngàn lạy để tu tâm thanh
tịnh. Thầy lễ ba năm bèn ngộ.
“Sức
oai thần hạnh nguyện Phổ Hiền”: Chỉ cần chiếu theo phương
pháp lý luận trong kinh này mà tu hành, quý vị sẽ là Phổ
Hiền Bồ Tát, là Phổ Hiền Bồ Tát tối sơ phát tâm. Trong
thế giới Hoa Nghiêm có vị Đẳng Giác Phổ Hiền Bồ Tát,
nhưng vị Phổ Hiền ấy cũng đã ở Tây Phương Cực Lạc
thế giới. Quý vị tu theo pháp môn này, tương ứng với Ngài,
trong vô hình thần lực của Ngài sẽ gia trì quý vị, đạt
được cảm ứng đạo giao. Sức lực ấy chẳng thể nghĩ
bàn, là chỗ dựa cho chúng ta tu hành.
“Hiện
trước khắp hết thảy Như Lai”: Mười phương ba đời vô
lượng vô biên thế giới, vô lượng vô biên chư Phật, trước
mỗi đức Phật đều có thân tướng chúng ta hiện diện lễ
Phật.
“Mỗi
thân lại hiện sát trần thân, mỗi mỗi lễ khắp sát trần
Phật”: Mỗi một thân đều lễ vô lượng vô biên đức
Phật, vô lượng vô biên thân, mỗi thân lại lễ vô lượng
vô biên Phật. Đấy toàn là cảnh giới Hoa Nghiêm, trùng trùng
vô tận, tuyệt đối chẳng phải là thần thoại, mà đều
là sự thật. Nguyên lý là tâm hiện, thức biến, công năng
của tâm thức chẳng thể nghĩ bàn, vô lượng vô biên, bởi
thế có thể hiện các tướng như vậy. Hiểu theo một tầng
ý nghĩa sâu rộng hơn thì do tâm thanh tịnh, chúng ta sẽ cùng
thế giới này, mười phương ba đời hữu tình, vô tình, thế
gian, xuất thế gian hòa nhập thành một thể.
Trong
mười đại nguyện vương, nguyện thứ nhất là căn bản.
Không có lễ kính sẽ chẳng có xưng tán. Chẳng có tâm cung
kính, người xưng tán chỉ là miệng nói một đàng, tâm đi
một nẻo. Toàn bộ kinh Hoa Nghiêm chỉ là học lễ kính đó
thôi! Chỉ cần thực hiện được lễ kính thì chín điều
sau thảy đều viên mãn. Một lời mình nói ra nhất định
là khen ngợi, đãi người tiếp vật nhất định là cúng dường.
Bởi thế, chúng ta học Phật là học lễ kính. Lễ kính là
tánh đức, là cái chúng ta vốn sẵn có. Hiện tại, ta mê
hoặc điên đảo, khởi lòng kiêu căng ngã mạn, đánh mất
tánh đức. Học Phật chẳng qua là khôi phục tánh đức mà
thôi.
1.2.
Kệ tụng xưng tán Như Lai
Chánh
kinh:
Ư
nhất trần trung trần số Phật,
Các
xử Bồ Tát chúng hội trung,
Vô
tận pháp giới trần diệc nhiên,
Thâm
tín chư Phật giai sung mãn,
Các
dĩ nhất thiết âm thanh hải,
Phổ
xuất vô tận diệu ngôn từ,
Tận
ư vị lai nhất thiết kiếp,
Tán
Phật thậm thâm công đức hải.
(Nơi
trần số Phật trong một trần,
Đều
ở giữa chúng hội Bồ Tát,
Pháp
giới vô tận trần cũng thế,
Tin
sâu chư Phật thảy sung mãn,
Đều
dùng hết thảy biển âm thanh,
Thốt
trọn vô tận lời nói hay,
Tột
cùng hết thảy kiếp vị lai,
Khen
biển công đức Phật sâu thẳm)
Bài
tụng thứ hai xưng tán Như Lai. Bài kệ thứ nhất nói lên
đối tượng để xưng tán. Đối tượng ấy rộng lớn, giống
như phần trên đã nói chẳng khác gì, ngôn từ bất đồng
cho thấy văn chương bóng bảy.
“Ư
nhất trần trung trần số Phật”: Trần đây là vi trần.
Vi trần được nói trong kinh Phật, mắt thịt không thấy được;
kinh Phật dùng rất nhiều ví dụ để giảng chữ “trần”.
Trước hết là “ngưu mao trần”, lông bò khá thô, trên đầu
sợi lông có một hạt bụi có thể dính vào đó mà không
bị rớt mất [thì hạt bụi đó gọi là “ngưu mao trần”].
Chia hạt bụi đó thành bảy phần, mỗi một phần là “dương
mao trần”, lông dê so ra nhuyễn hơn lông bò rất nhiều. Lại
chia dương mao trần thành bảy phần, mỗi một phần là “thố
mao trần” (bụi trên đầu sợi lông con thỏ). Thố mao trần
lại chia thành bảy phần, thì mỗi một phần gọi là “thủy
trần”, có thể xuyên qua nước không trở ngại gì. Nước
có mật độ, nhưng giữa các phân tử nước vẫn có khoảng
trống, hạt thủy trần có thể trôi qua những khoảng trống
ấy. Lại chia thủy trần thành bảy phần, mỗi một phần
là “kim trần”. Mật độ (density) của kim loại rất lớn,
nhìn dưới kính hiển vi vẫn có khoảng trống, kim trần có
thể vượt qua những khoảng trống ấy không bị chướng ngại.
Kim trần lại chia thành bảy phần thì mỗi một phần gọi
là “vi trần”. Thiên nhãn của A La Hán mới thấy được
vi trần. Vi trần chưa phải là nhỏ nhất, lại chia thành bảy
phần nữa thì gọi là “sắc tụ vi”; lại chia thành bảy
phần nữa thì gọi là “cực vi vi”, không thể chia nhỏ
hơn được nữa. Phật nhãn thấy được cực vi vi.
Trần
số: đem tam thiên đại thiên thế giới (Ngân Hà hệ) nghiền
thành vi trần, số đến vô lượng vô biên, trong mỗi một
trần lại có vi trần số chư Phật.
“Đều
ở giữa chúng hội Bồ Tát”: Mỗi một đức Phật lại có
hải hội Bồ Tát vây quanh, Bồ Tát rất nhiều.
“Pháp
giới vô tận trần cũng thế”: Vô tận pháp giới, trong mỗi
một vi trần đều có số lượng các thế giới như thế,
đấy là cảnh giới đích thân Phật chứng nhập. Cảnh giới
ấy chẳng thể nghĩ bàn, còn gọi là Nhất Chân Pháp Giới,
tức là Thật Báo Trang Nghiêm Tịnh Độ của A Di Đà Phật.
“Tin
sâu chư Phật thảy sung mãn”: Chẳng phải là cảnh giới
chúng ta, dựa vào đâu để tin chẳng nghi ngờ đây? Căn cứ
vào nhân cách của Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật chẳng nói dối.
Cảnh giới đúng thật như thế, kinh Kim Cang gọi cảnh giới
ấy là “chư pháp Thật Tướng”, chỉ có Phật và các đại
Bồ Tát mới chứng được.
“Đều
dùng hết thảy biển âm thanh, thốt trọn vô tận lời nói
hay”: Tán thán đương nhiên phải sử dụng ngôn từ, dùng
âm thanh. Chúng ta chỉ nghĩ dùng âm thanh để ca xướng, dùng
ngôn từ khen ngợi Phật; tướng nói như thế thật ra rất
thô, có vậy hàng sơ học mới có thể lãnh hội được. Nếu
nói sâu hơn, chúng ta không cách chi hiểu được.
Nói
đúng ra, mọi âm thanh trong thế giới đều là khen Phật, hết
thảy ngôn từ không chi chẳng diệu, kể cả tiếng người
chửi nhau, cãi cọ cũng thế, chúng ta không cách gì hiểu được.
Có tâm đắc phẩm Quán Thế Âm Nhĩ Căn Viên Thông của kinh
Lăng Nghiêm mới hòng lãnh hội được! Hiện tại, chúng ta
nghe có âm thanh đẹp dạ, có âm thanh thô tháo đáng chán ghét
là vì chúng ta dùng cái tâm phân biệt để nghe, dùng Ý Thức
để nghe, chúng ta chỉ nghe Thanh Trần. Bồ Tát lìa tâm ý thức
mà nghe, nên trong hết thảy biển âm thanh, hết thảy biển
ngôn từ, Ngài chẳng có tâm phân biệt, chẳng có tâm chấp
trước, chẳng có tâm vọng tưởng, hoàn toàn dùng tâm thanh
tịnh. Tâm thanh tịnh nơi Nhĩ Căn gọi là Tánh Nghe. Cái được
nghe bởi Tánh Nghe là Thanh Tánh, chẳng phải là Thanh Trần.
Đó gọi là chân chánh tán thán đấy!
Bởi
vậy, chửi người, cãi cọ cũng là tán thán, điều này kỳ
diệu chẳng thể diễn tả nổi, chúng ta phải tu điều này.
Tu xưng tán phải tu từ đây thì chúng ta mới có thể nhập
cảnh giới giải thoát chẳng thể nghĩ bàn. Nếu không, suốt
ngày từ sáng đến tối ca xướng, tán thán Phật, Bồ Tát,
nhưng Phật, Bồ Tát vẫn là Phật, Bồ Tát, phàm phu vẫn là
phàm phu. Tán thán rồi quý vị cũng biến thành Phật, Bồ
Tát, như thế mới là đúng! Bởi thế, Ngài đối với thanh
âm chẳng hề chọn lựa, chẳng có phân biệt, đối với ngôn
từ cũng chẳng có chọn lựa. Vì thế mới là diệu ngôn,
hễ có chọn lựa thì chẳng còn diệu nữa! Hết thảy âm
thanh ngôn từ đều lưu xuất từ pháp tánh, lại quy vào pháp
tánh. Người bình phàm vừa nghe liền khai ngộ kiến tánh là
vì họ dùng cái Tánh Nghe để nghe Thanh Tánh, dùng Tánh Thấy
để thấy Sắc Tánh.
Dù
nói đến sáu tánh nơi sáu căn, cũng như sáu tánh nơi sáu
trần; thật ra, tánh chỉ là một, nhất định chẳng có hai
tánh thì mới gọi là tu cái nguyện “xưng tán”. Xưng tán
là đào luyện tâm thanh tịnh từ nơi âm thanh, lễ kính là
luyện tâm thanh tịnh từ nơi hết thảy người, vật, sự
tướng. Lễ kính là thanh tịnh, tán thán cũng là thanh tịnh.
Mỗi một đại nguyện điều nào cũng nói đến thanh tịnh,
tu tâm thanh tịnh từ những điều đó nên pháp môn này gọi
là Đại Bất Tư Nghị Pháp Môn. Chỗ nào cũng dạy chúng ta
minh tâm kiến tánh, chỗ nào cũng dạy chúng ta nhất tâm bất
loạn.
“Tột
cùng hết thảy kiếp vị lai”: Thời gian tu hành chẳng gián
đoạn, trong quá trình tu hành chẳng có kỳ hạn, sau khi tu
hành viên mãn mới có kỳ hạn. Vì thế, Phật, Bồ Tát mới
chứng viên mãn ba thứ Bất Thoái. Có kỳ hạn là có lúc kết
thúc, pháp môn này vô thỉ cũng vô chung. Chư vị nghĩ kỹ
xem: Tu tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh có đầu có cuối chăng?
Tâm thanh tịnh chẳng có đầu lẫn cuối!
Duy
Thức nói: “Phương phần, thời phần, đều là hành pháp
bất tương ưng”. Phương phần là không gian, Đông, Tây, Nam,
Bắc, bốn phương bàng, trên, dưới. Thời phần là thời gian,
quá khứ, hiện tại, vị lai. Có những sự tình đó, dẫu
là có, nhưng chỉ là khái niệm trừu tượng, chẳng phải
là sự thật cụ thể, nhưng đối với khái niệm trừu tượng
chúng ta thường lầm lẫn, coi chúng là thật, tựa hồ thật
sự có những sự tình đó; kỳ thật, chúng nào có. Phá được
cái ải đó, tức là phá được cả không gian lẫn thời gian,
thì mới là giải thoát rốt ráo. Tâm thanh tịnh chẳng có
mười phương, chẳng có ba đời, cho nên mới nói: “Tột
cùng vị lai hết thảy kiếp”. Cách nói như vậy, đối với
người sơ học thật không gì cổ vũ lớn hơn nữa, chúng
ta phải hiểu rõ sự thật này, phải tinh tấn nỗ lực không
ngừng, chẳng nên giải đãi, chẳng được thoái chuyển.
“Khen
biển công đức Phật sâu thẳm”: công đức Phật vô lượng
vô biên, tán thán chẳng thể cùng tận. Nói trên mặt Sự,
lễ kính bao gồm hết thảy chúng sanh, chúng sanh đều có Phật
tánh, hết thảy chúng sanh vốn là Phật. Bởi thế phải lễ
kính hết, chẳng được phân biệt, chấp trước, phải dùng
cái tâm thanh tịnh, bình đẳng để tu. Xưng tán thì phải
coi là xứng tánh hay không xứng tánh, cũng phải xét là thiện
hay ác. Chư vị phải biết thiện - ác là bình đẳng, chân
- vọng, tà - chánh cũng là bình đẳng, chẳng có pháp nào
không bình đẳng. Vì sao xưng tán phải phân biệt? Đối với
Pháp Thân đại sĩ mà nói thì là bình đẳng, nhưng đối với
phàm phu chúng ta bèn có sai biệt.
Trong
phần Trường Hàng nói “xưng tán Như Lai”, nhưng phần kệ
tụng nói “xưng tán Phật” chứ không xưng tán Như Lai. Ở
đây là cảnh giới Bồ Tát, là bình đẳng, gọi là Nhất
Chân Pháp Giới. Phần Trường Hàng có phân biệt là vì nói
với chúng ta. Tâm chúng ta bất bình đẳng, có chân - vọng,
tà - chánh, thị - phi, thiện - ác; chúng ta chẳng tán thán
ác pháp, tán thán thiện pháp. Trong Kệ Tụng là pháp bình
đẳng, phần Trường Hàng là pháp sai biệt, là nhân quả sai
biệt. Phật thuyết pháp thật xảo diệu thay!
1.3.
Kệ Tụng Quảng Tu Cúng Dường
Chánh
kinh:
Dĩ
chư tối thắng diệu hoa man,
Kỹ
nhạc, đồ hương, cập tán cái,
Như
thị tối thắng trang nghiêm cụ,
Ngã
dĩ cúng dường chư Như Lai,
Tối
thắng y phục, tối thắng hương,
Mạt
hương, thiêu hương, dữ đăng, chúc,
Nhất
nhất giai như Diệu Cao tụ,
Ngã
tất cúng dường chư Như Lai,
Ngã
dĩ quảng đại thắng giải tâm,
Thâm
tín nhất thiết tam thế Phật,
Tất
dĩ Phổ Hiền hạnh nguyện lực,
Phổ
biến cúng dường chư Như Lai.
(Dùng
các tràng hoa đẹp tối thắng,
Âm
nhạc, hương bôi, và tàn, lọng,
Đồ
trang nghiêm tối thắng như thế,
Tôi
dùng cúng dường các Như Lai.
Y phục
tối thắng, hương tối thắng,
Hương
bột, hương đốt, và đèn đuốc,
Mỗi
thứ chất như núi Tu Di,
Tôi
đều cúng dường các Như Lai.
Tôi
dùng tâm thắng giải rộng lớn,
Tin
sâu hết thảy ba đời Phật,
Đều
dùng sức hạnh nguyện Phổ Hiền,
Cúng
dường trọn khắp các Như Lai)
Bài
Tụng thứ ba là Quảng Tu Cúng Dường. Cúng dường là bố
thí, bố thí là dạy chúng ta tu Xả, dạy chúng ta buông xuống.
Nhất định phải tu cúng dường, buông hết thảy thân tâm
thế giới xuống. Cúng dường chư Phật, cúng dường chúng
sanh, cúng dường pháp giới, hết thảy đều cúng dường.
Đem trí huệ, sức lực, của cải, kỹ năng của mình cống
hiến cho xã hội, vì hết thảy chúng sanh phục vụ, chẳng
cần báo đáp. Công đức của cúng dường bố thí là đoạn
trừ phiền não; tâm keo tiếc tham ái, tâm ưu lự, tâm vướng
mắc đều chẳng còn nữa, rất tự tại! Hiện thời quý vị
có tiền nhưng chẳng tự tại, có địa vị nhưng chẳng tự
tại, là do trong tâm quý vị còn vướng mắc, ưu lự, phiền
não. Đức Phật dạy chúng ta bố thí tức là dạy cho chúng
ta cách đạt đại tự tại.
Đại
tự tại là chân khoái lạc, chân hạnh phúc. Có lẽ có người
sợ rằng hết thảy thân tâm thế giới đều buông bỏ hết,
thì còn được cái gì nữa? Làm sao sống nữa đây? Đúng
vậy! Đời người chẳng cần phải sống nữa, đời sống
lục đạo chẳng cần trải qua nữa, mà là sống đời của
Phật, của Bồ Tát. Sống đời của Phật, của Bồ Tát thì
như người trong thế giới Cực Lạc nghĩ đến ăn món gì,
vừa mới nghĩ thì thứ mình nghĩ tưởng đã hiện ra trước
mắt, chẳng cần phải nấu nướng, muốn mặc y phục gì,
chẳng cần phải may vá, trong tâm vừa tưởng, y phục liền
khoác trên thân, đó là cuộc sống của Phật, Bồ Tát. Nghĩ
muốn ở trong nhà cửa theo cách thức nào, mình đã ở trong
nhà như thế rồi. Muốn nhà lớn thêm một chút, nhà liền
lớn thêm một chút. Nghĩ muốn nhỏ đi chút, nó liền nhỏ
lại. Không điều gì chẳng vừa ý người. Vì sao cuộc sống
được tự tại như thế? Là vì họ chẳng có ưu lự, vướng
mắc, phiền não. Tin tưởng nhân duyên quả báo, tu bố thí
cúng dường, trong một đời này sẽ được phước báo vô
lượng, có thể tu đến mức hữu cầu tất ứng, ngay cả
thọ mạng còn có thể kéo dài, huống chi là bệnh khổ?
Hai
bài kệ này nói về các thứ để cúng dường. “Tối thắng”
nghĩa là tốt đẹp nhất. “Man” là tràng hoa. “Diệu hoa”:
chẳng phải loại hoa tầm thường mà còn hàm chứa pháp nghĩa
trong ấy, đấy là diệu. Tu hành giống như nở hoa, tương
lai nhất định chứng quả. Trông thấy hoa bèn nghĩ ta phải
tu hành. Hoa tượng trưng Lục Độ Vạn Hạnh; trong kinh này
Hoa tượng trưng cho mười Ba La Mật, mười đại nguyện vương.
Trông thấy hoa, phải nghĩ tu mười độ, hạnh nguyện Phổ
Hiền. Diệu hoa nghĩa là từ nơi hoa ấy, quý vị bèn khởi
giác quán.
“Kỹ
nhạc” là âm nhạc ca vũ. Người Tiểu Thừa phiền não nặng
nên pháp Tiểu Thừa cấm ngặt âm nhạc ca múa; pháp Đại
Thừa xướng ca, nhảy múa cúng dường Phật. Tuy dùng kỹ nhạc
cúng dường, tâm Phật, Bồ Tát quyết định thanh tịnh. Dùng
tâm thanh tịnh để diễn tấu, để lắng nghe, không gì chẳng
phải là minh tâm kiến tánh. “Đồ hương” (hương bôi):
hương bôi trên thân, giống như nước hoa. “Tán cái” (tàn
lọng): Tán để che mát, lọng để ngăn bụi. Tâm địa phải
thanh lương, phải chẳng nhiễm mảy trần, tàn lọng thể hiện
ý nghĩa đó.
“Đồ
trang nghiêm tối thắng như thế, tôi dùng cúng dường các
Như Lai”: Các vật cúng dường như trên vừa nói, số lượng
thật rất nhiều. Những vật cúng dường ấy, Phật chớ hề
cần đến. Ở đây dùng chữ “Như Lai” chứ không dùng chữ
“Phật”. Nói Phật là từ sự tướng, nói Như Lai là từ
Tánh (bản tánh) mà nói. Tôi cúng dường Như Lai tức là cúng
dường Chân Như Bản Tánh của chính mình.
Vì
sao cúng dường tự tánh chính là cúng dường Như Lai? Kinh
dạy: “Mười phương ba đời Phật, cùng chung một Pháp Thân”.
Như Lai là Pháp Thân. Trong tâm thanh tịnh chẳng hề có cách
ngăn, chẳng có chướng ngại, tột cùng pháp giới khắp hư
không giới đều là một Như Lai, Chân Như Bản Tánh mà thôi!
Xứng tánh lẽ đâu chẳng cúng trọn khắp?
“Y
phục tối thắng, hương tối thắng”: Y phục che đậy, biểu
thị Nhẫn Nhục Ba La Mật. Khi có lễ lạc thì mặc lễ phục,
nên y phục cũng biểu thị cho lễ. “Tối thắng hương”:
hương biểu thị tánh hương, hương biểu thị Giới Định.
Hương có rất nhiều chủng loại, “mạt hương” là hương
bột, “thiêu hương” là hương đốt. “Đèn đuốc” tượng
trưng cho quang minh, trí huệ. Ánh sáng mặt trời, mặt trăng,
tinh tú, ánh sáng đèn đều biểu thị Bát Nhã quang minh của
tự tánh. Trông thấy quang minh, cảnh tỉnh mình phải tu cho
tâm địa quang minh, thanh tịnh, hợp nhất cùng ánh sáng của
mặt trời, mặt trăng, đèn đuốc.
“Mỗi
thứ chất như núi Tu Di”: những thứ vật cúng dường chất
cao như núi Diệu Cao (Tu Di sơn), tôi đều dùng để cúng dường
Như Lai.
Chúng
ta cần phải hiểu ý nghĩa về mặt pháp của vật cúng dường.
Quy nạp lại mà nói, “hạnh nguyện” là năng cúng dường,
Pháp là sở cúng dường. Nhất định phải hiểu được ý
nghĩa thù thắng nơi kinh thì sau đấy chính mình mới có thể
tương ứng với cảnh giới được, mới hòng tu được công
đức lợi ích chân thật nơi mười đại nguyện vương.
1.4.
Kệ tụng sám hối nghiệp chướng
Chánh kinh:
Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp,
Giai
do vô thỉ tham sân si,
Tùng
thân ngữ ý chi sở sanh,
Nhất
thiết ngã kim giai sám hối.
(Tôi
xưa trót tạo các ác nghiệp,
Đều
do vô thỉ tham - sân - si,
Từ
thân ngữ ý phát sanh ra,
Hết
thảy tôi nay đều sám hối)
Bài
tụng thứ tư: sám hối nghiệp chướng.
“Ngã
tích sở tạo chư ác nghiệp” (Tôi xưa trót tạo các ác nghiệp):
“Tích” là quá khứ, từ vô thỉ kiếp đến nay đời đời
kiếp kiếp tạo tác ác nghiệp vô lượng vô biên. Đời người
khổ rất nhiều, chướng ngại nhiều, mười chuyện hết tám
chín chuyện chẳng như ý; chuyện xứng tâm vừa ý rất khó
gặp được. Những chướng ngại như vậy là hậu quả của
những ác nghiệp đã tạo trong đời quá khứ, chỉ mình đức
Phật mới sám trừ sạch được hết thảy nghiệp chướng.
Đẳng Giác Bồ Tát vẫn còn một phần sanh tướng vô minh
chưa phá, đó là ác nghiệp của họ. Phàm phu chúng ta gây
nghiệp chướng giết, trộm, dâm, dối, tham, sân, si, mạn rất
nặng. Những nghiệp chướng ấy chướng tâm thanh tịnh của
ta; nghiệp chướng nếu chẳng tiêu trừ, không cách chi tu học
thành tựu.
Chưa
ra khỏi tam giới thì thiện nghiệp vẫn là một thứ ác nghiệp;
nhà Phật gọi là “tam thế oán”. Đời thứ nhất làm được
rất nhiều việc tốt, đời thứ hai hưởng thiện quả, hưởng
thọ đại phước báo trong trời người, trong xã hội có địa
vị rất cao, làm quan to, trở thành giàu có lớn. Nhưng trong
lúc hưởng thụ quả báo một đời, quên mất tu thiện, dẫu
có tu thiện cũng chẳng làm được mấy. Vì thế, quả báo
lành hưởng hết, đời thứ ba do thiện ít ác nhiều, ác nghiệp
hiện tiền, vào trong tam đồ. Ví như: người giàu ngày ngày
ăn cá, ăn thịt, cả mấy mươi năm tạo biết bao sát nghiệp?
Người có thế lực lắm phen lầm lỡ, gây rất nhiều bất
lợi cho người khác!
Thế
nào là sự lành chân chánh? Ngoại trừ niệm Phật ra, những
thứ khác đều chẳng phải là sự lành chân chánh. Sự lành
chân chánh phải là ngay trong một đời này quyết định vượt
thoát luân hồi lục đạo. Tu các pháp môn khác, không pháp
nào có thể khiến quý vị ngay trong một đời vượt thoát
tam giới, vẫn ở trong luân hồi, nên chúng chẳng phải là
thiện nghiệp.
A Di
Đà Phật đại từ đại bi, giúp cho bọn chúng sanh nghiệp
chướng sâu nặng chúng ta, mở cho chúng ta một con đường
lớn để thành Phật. Chúng ta tin được, nguyện được, hành
được thì thành tựu ngay trong một đời, đới nghiệp vãng
sanh. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, nghiệp chướng
từ vô thỉ kiếp đến nay của chúng ta tiêu trừ hết. Công
đức niệm Phật rất lớn, tiêu trừ được hết thảy nghiệp.
“Đều
do vô thỉ tham - sân - si”: Câu này nêu lên cái nhân tạo
nghiệp. Ác nghiệp sanh khởi từ tham - sân - si. Người tu hành
phải tu từ căn bản, phải trực tiếp đoạn tham - sân - si.
Chẳng
những hết thảy pháp thế gian, ngũ dục, lục trần đều
buông xuống, chẳng được tham, mà thậm chí hết thảy Phật
pháp xuất thế gian, Bồ Đề, Niết Bàn cũng chẳng được
tham. Chỉ cần có một ý niệm tham liền tạo ác nghiệp. Lục
đạo chúng sanh tham ngũ dục, lục trần, hàng Nhị Thừa tham
thiên chân Niết Bàn, tham Thiền Định, Đại Thừa Bồ Tát
tham độ chúng sanh, đều là tâm tham. Chẳng tham mới có thể
thành tựu. Sân là sân khuể, chướng ngại đạo nghiệp, chướng
ngại tâm tánh, chướng ngại tâm thanh tịnh, nên phải đoạn
trừ. Ngu si: chân - vọng, tà - chánh, thị - phi, thiện - ác,
lợi - hại chẳng thể phân biệt, cứ điên đảo thì gọi
là ngu si. Chẳng hạn như: Chẳng thể phân biệt những loại
giả danh Phật giáo chỉ mang hình thức Phật giáo bên ngoài
là ngu si, chẳng biết chọn lựa pháp môn thích hợp hoàn cảnh
tu học và trình độ của chính mình thì cũng là ngu si.
Tâm
tham nặng đọa trong đường ngạ quỷ, tâm sân nặng đọa
trong đường địa ngục, ngu si đọa trong đường súc sanh.
Không tham, không sân, không si là ba thiện căn, thế gian, trời,
người, hết thảy pháp lành do đấy mà sanh. Chúng ta muốn
được phước báo trời người thì tối khẩn là phải chuyển
tham - sân - si (ba độc phiền não) thành ba thiện căn, đấy
mới là chân chánh sám hối. Sám hối là sửa lỗi đổi mới
vậy!
“Từ
thân - ngữ - ý phát sanh ra”: Câu này nói đến công cụ tạo
nghiệp. Thân là thân thể tạo giết, trộm, dâm; ngữ là ngữ
ngôn, tạo khẩu nghiệp: nói dối, nói đôi chiều, nói ác,
thêu dệt; ý là ý niệm, khởi tham - sân - si, chẳng tin lời
Phật, Bồ Tát giáo huấn, chẳng thể tu hành đúng như lời
dạy. Thân ngữ ý nghiệp ngày ngày bất tri bất giác tạo
nghiệp, đóng vai trò chủ chốt tạo nghiệp là tham - sân -
si. Đa số người đời chẳng biết căn bệnh, lầm lỗi của
chính mình, nhưng thấy rõ lỗi lầm, tật xấu của người
khác. Biết lỗi lầm của chính mình bèn giác ngộ. Sau khi
giác ngộ, liền có thể sửa đổi tật xấu, tập khí của
chính mình. Đó là tu hành, là chân chánh sám hối.
“Hết
thảy tôi nay đều sám hối”: Sám hối là đổi lỗi tự
sửa, về sau chẳng tái phạm, chứ chẳng phải là đem tội
lỗi của chính mình đối trước Phật đọc một lượt, dập
đầu mấy lượt, cầu Phật, Bồ Tát tha thứ. Phật, Bồ Tát
chẳng quan tâm đến chuyện của quý vị, sám hối là chuyện
của quý vị. Phật, Bồ Tát chỉ cảnh tỉnh chúng ta, chỉ
dạy chúng ta. Chân chánh sám hối là hiểu được lỗi lầm
của chính mình, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, một câu A Di
Đà Phật niệm đến cùng cực, liền có thể sám trừ tội
nghiệp của chính mình, hết thảy tội lỗi trước đây chẳng
nghĩ đến nữa, chỉ nghĩ đến A Di Đà Phật, chỉ niệm A
Di Đà Phật, tội nghiệp của quý vị sẽ sám trừ sạch.
1.5.
Kệ tụng tùy hỷ công đức
Chánh kinh:
Thập phương nhất thiết chư chúng sanh,
Nhị
thừa hữu học cập vô học,
Nhất
thiết Như Lai dữ Bồ Tát,
Sở
hữu công đức giai tùy hỷ.
(Mười
phương hết thảy các chúng sanh,
Nhị
Thừa hữu học và vô học,
Hết
thảy Như Lai và Bồ Tát,
Bao
nhiêu công đức đều tùy hỷ)
Bài
tụng thứ năm là tùy hỷ công đức. Công là công phu. Công
phu như thế nào được quả báo như thế ấy, đó gọi là
công đức. Công đức do tự mình tu, người khác chẳng đoạt
được, quý vị cũng chẳng có cách nào đem cho người khác
được. Phước đức do tự mình tu có thể đem cho người
khác được; người khác tu có thể cho chúng ta được. Phước
báo của họ lớn, ta cũng hưởng ké, hưởng được chút phước.
Chúng ta phước báo lớn, thích giúp đỡ người khác, người
khác được hưởng phước báo của ta. Phước báo có thể
dời chuyển, công đức chẳng thể dời chuyển được. Công
đức do mình tự tu tự được, người khác không cách gì
làm thay được.
Ở
đây, tùy hỷ công đức lấy công đức làm chủ, phước đức
được tính gộp trong ấy. Trong công đức nhất định phải
có phước đức, trong phước đức không nhất định có công
đức. Công đức là Định - Huệ, Giới là phước đức. Trì
giới đắc Định thì Giới cũng biến thành công đức.
Cảnh
giới nói trong bài kệ rất lớn. “Mười phương hết thảy
các chúng sanh”, chữ “chúng sanh” chỉ lục đạo chúng
sanh (phàm phu). Lục đạo chúng sanh ác nhiều, thiện ít. Nếu
những chúng sanh ấy khởi thiện niệm, làm được thiện hành
(việc lợi ích cho chúng sanh), chúng ta đều tận tâm tận
lực giúp đỡ họ, thành toàn cho họ trong việc tạo phước
cho hết thảy chúng sanh. Công đức tùy hỷ của chúng ta cũng
to như công đức của họ vậy.
“Nhị
Thừa hữu học và vô học”: Nhị Thừa chỉ Thanh Văn, Duyên
Giác, là Tiểu Thừa. Thanh Văn có tứ quả: Sơ Quả, Nhị Quả,
Tam Quả đều gọi là “hữu học”. Tứ Quả A La Hán là
Vô Học. Người tu học pháp Tiểu Thừa từ Sơ Học cho đến
chứng quả, chúng ta đều phải tùy hỷ, tán thán cả.
Có
lẽ có đồng tu hỏi: “Chúng ta hiện tại tu pháp môn Niệm
Phật, sao có thể tùy hỷ người tu học Tiểu Thừa cho được,
chẳng phải là xen tạp đó ư?” Đúng, chẳng sai! Pháp môn
Niệm Phật bao gồm hết thảy pháp môn. Ở đây, Phổ Hiền
Bồ Tát nói với bậc Pháp Thân đại sĩ thuộc thế giới
Hoa Tạng, đương nhiên họ phải tùy hỷ Tiểu Thừa. Chẳng
hạn như Tiểu Thừa tu Tứ Niệm Xứ: quán thân bất tịnh,
quán Thọ là khổ, quán pháp vô ngã, quán tâm vô thường.
Nếu thường quán như vậy sẽ giúp cho tâm địa chúng ta thanh
tịnh. Ba mươi bảy đạo phẩm có thể giúp chúng ta công phu
thành phiến, nhất tâm bất loạn. Những gì Tiểu Thừa tu
học đều là những phương pháp để đối trị một chứng
bệnh. Nếu chúng ta mắc bệnh giống như thế thì có thể
dùng phương pháp ấy để đối trị, để trợ tu, niệm Phật
là chủ tu. Như Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc,
Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Chánh Đạo đều
có thể chọn dùng. Nếu tâm địa thanh tịnh, chắc thật niệm
Phật, ắt chẳng cần đến những phương pháp đó, những
phương pháp đó gộp trong một câu Phật hiệu, một câu Phật
hiệu công đức vô lượng vô biên.
“Hết
thảy Như Lai và Bồ Tát”: Đây là Đại Thừa. Bồ Tát viên
mãn năm mươi mốt địa vị từ địa vị Sơ Tín cho đến
Đẳng Giác bèn thành Phật. Bồ Tát từ sơ phát tâm cho đến
khi tu hành chứng quả, ta cũng phải học tập theo gương ấy,
ta cũng phải nghiêm túc nỗ lực học theo quý Ngài.
“Tất
cả công đức đều tùy hỷ”: Ở đây, tùy hỷ đặt nặng
vấn đề học tập theo họ, tận tâm tận lực giúp đỡ họ.
Đa số người niệm mười đại nguyện vương, miệng niệm
tùy hỷ, nhưng chẳng thật sự tùy hỷ. Rất thích một bộ
kinh thì phải tùy hỷ. Phát tâm y giáo tu hành, phát tâm giảng
bộ kinh đó, khiến nó được hoằng dương quang đại, đấy
mới là tùy hỷ. Cứ nghĩ mình chẳng có năng lực, chẳng
có biện tài thì quý vị tự xem nhẹ mình quá đấy! Cứ chân
chánh phát tâm, Tam Bảo bèn gia trì.
Đại
sư Vĩnh Minh Diên Thọ đời Tống, lúc chưa xuất gia làm một
chức quan nhỏ, làm quan coi kho, thường lấy tiền trong kho
mua các loài thủy tộc: tôm, cá v.v… để phóng sanh. Vì thế,
mắc phải tội danh trộm đạo của công, theo pháp phải chịu
tử hình. Ngô Việt Vương tín ngưỡng Phật pháp, biết Sư
trộm dùng tiền kho toàn là để phóng sanh, truyền giám trảm
quan chú ý thái độ của Sư trước lúc thọ hình. Trước
lúc bị xử chém, Sư cười khúc khích, vui vẻ mừng rỡ, chẳng
chút sợ hãi gì. Giám trảm quan hỏi:
- Sao
ông không sợ chết?
Sư
đáp:
- Tôi
chỉ có một cái mạng, cứu được ngàn ngàn vạn vạn cái
mạng, rất đáng giá!
Về
sau, quốc vương chẳng giết Sư, thả Sư đi, Sư bèn xuất
gia. Sư không có tài ăn nói, mộng thấy Quán Âm Bồ Tát dùng
cam lộ nhỏ vào họng Sư, ngày hôm sau biện tài vô ngại.
Sư phát tâm lên đài giảng kinh, hoằng dương Phật pháp lợi
ích chúng sanh. Chẳng hề có mảy may ý niệm tự tư, tự lợi,
Tam Bảo nhất định gia trì, cảm ứng đạo giao, đó gọi
là “chân chánh tùy hỷ”.
1.6.
Kệ tụng thỉnh chuyển pháp luân
Chánh kinh:
Thập phương sở hữu Thế Gian Đăng,
Tối
sơ thành tựu Bồ Đề giả,
Ngã
kim nhất thiết giai khuyến thỉnh,
Chuyển
ư vô thượng diệu pháp luân.
(Mười
phương tất cả Thế Gian Đăng,
Lúc
mới thành tựu quả Bồ Đề,
Nay
tôi đều khuyến thỉnh hết thảy,
Chuyển
pháp luân vi diệu vô thượng)
Bài
tụng thứ sáu là “thỉnh chuyển pháp luân”. Chuyển pháp
luân là hoằng pháp lợi sanh, đem Phật pháp giới thiệu với
người khác.
“Mười
phương tất cả Thế Gian Đăng”: Đăng (đèn) tượng trưng
cho trí huệ, quang minh. Thế Gian Đăng là cách nói ví von: Nếu
thế gian không có Phật pháp bèn là thời đại tối tăm, giáo
học của Phật pháp là dạy hết thảy chúng sanh phá mê khai
ngộ, khai ngộ là phóng quang minh. Phật pháp giúp cho tự tánh
của chúng ta phóng quang, đấy chính là quang minh giáo học.
Bởi thế Phật là Thế Gian Đăng (đèn soi thế gian).
“Lúc
mới thành tựu quả Bồ Đề”: Câu này sử dụng thể loại
song quan: Một là lúc mới thành Chánh Giác, thị hiện mới
thành Phật đạo; hai là bậc Bồ Tát Sơ Trụ thuộc Viên Giáo.
Trong Thiền Tông, “đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh,
kiến tánh thành Phật” chỉ bậc Bồ Tát từ Sơ Trụ trở
lên. Trong Tịnh Độ Tông, niệm Phật niệm đến Lý Nhất
Tâm Bất Loạn cũng là “mới thành tựu Bồ Đề”.
Hai
câu trên có thể hiểu là: Trên từ Phật Như Lai, dưới đến
bậc đại thiện tri thức chân chánh hữu tu hữu chứng, thảy
đều bao gồm hết, “nay tôi đều khuyến thỉnh hết thảy,
chuyển pháp luân vi diệu vô thượng”: dùng tâm chân thành
cầu học, lễ thỉnh thiện tri thức hoằng pháp lợi sanh.
1.7.
Kệ tụng thỉnh Phật trụ thế
Chánh
kinh:
Chư
Phật nhược dục thị Niết Bàn,
Ngã
tất chí thành nhi khuyến thỉnh,
Duy
nguyện cửu trụ sát trần kiếp,
Lợi
lạc nhất thiết chư chúng sanh.
(Nếu
chư Phật toan hiện nhập diệt,
Tôi
đều chí thành mà khuyên mời:
Kính
mong ở lâu sát trần kiếp,
Lợi
lạc hết thảy các chúng sanh)
Bài
tụng thứ bảy là “thỉnh chuyển pháp luân”. Hiện tại,
dù Phật chẳng tại thế, vẫn có thiện tri thức (người
sanh tử tự tại) hiện hữu, chúng ta phải khuyên họ chớ
nhập diệt; khuyên họ thường trụ thế gian, đấy là nguyện
vọng của chúng ta. Chư Phật, Bồ Tát trụ thế liên quan đến
pháp duyên, hữu duyên các Ngài bèn xuất hiện; duyên hết,
các Ngài bèn đi. Chân chánh học theo quý Ngài, một trăm phần
trăm y giáo phụng hành mới lưu các Ngài trụ thế được.
Nếu chẳng thành tâm thành ý học theo các Ngài, các Ngài bèn
tùy duyên. Người khải thỉnh thiện tri thức giảng kinh, phước
báo vô cùng lớn, thật sự là rộng lợi chúng sanh.
Chánh
kinh:
Sở
hữu lễ tán, cúng dường phước,
Thỉnh
Phật trụ thế chuyển pháp luân,
Tùy
hỷ, sám hối, chư thiện căn,
Hồi
hướng chúng sanh cập Phật đạo.
(Bao
nhiêu phước lễ, tán, cúng dường,
Thỉnh
Phật ở đời chuyển pháp luân,
Các
thiện căn tùy hỷ, sám hối,
Hồi
hướng chúng sanh và Phật đạo)
Bài
kệ này hợp tụng ba nguyện: thường tùy Phật học, hằng
thuận chúng sanh và phổ giai hồi hướng. Ba nguyện này đều
thuộc về hồi hướng. Bài kệ này nói chung; ba câu đầu
lược nói bảy nguyện trước, đem hết thảy công đức đã
tu ở trên hồi hướng cho chúng sanh và Phật đạo. Hồi hướng
chúng sanh: Nếu chịu vì hết thảy chúng sanh khổ nạn mà
tu học, ắt quý vị dũng mãnh, tinh tấn, chẳng biếng nhác.
Hồi hướng Phật đạo tức là hồi hướng Bồ Đề, chúng
ta tu học chẳng cầu giác ngộ, mà là vì hết thảy chúng
sanh cầu sự viên mãn giác ngộ nơi chính mình.
1.8.
Kệ tụng thường tùy Phật học
Chánh kinh:
Ngã tùy nhất thiết Như Lai học,
Tu tập Phổ Hiền viên mãn hạnh,
Cúng dường quá khứ chư Như Lai,
Cập dữ hiện tại thập phương Phật.
Vị lai nhất thiết Thiên Nhân Sư,
Nhất thiết ý nhạo giai viên mãn,
Ngã nguyện phổ tùy tam thế học,
Tốc đắc thành tựu đại Bồ Đề.
(Tôi
học theo hết thảy Như Lai,
Tu
thập hạnh Phổ Hiền viên mãn,
Cúng
dường quá khứ chư Như Lai,
Và
cúng hiện tại mười phương Phật.
Hết
thảy Thầy Trời Người tương lai,
Hết
thảy ưa thích đều viên mãn,
Tôi
nguyện học khắp cả ba đời,
Mau
được thành tựu đại Bồ Đề)
Trùng
tụng nguyện thứ tám “thường tùy Phật học”. Phải học
theo tam thế chư Phật: quá khứ Phật, hiện tại Phật, vị
lai Phật. Trong kinh văn đặc biệt nói “tu tập hạnh Phổ
Hiền viên mãn”. Phổ Hiền hạnh: toàn bộ đạo lý được
nói trong kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm đều là hạnh
Phổ Hiền cả. Mở đầu kinh, ta đã gặp ngay Phổ Hiền Bồ
Tát, đến khi viên mãn tối hậu cũng là Phổ Hiền Bồ Tát.
Phổ Hiền đại biểu cho viên mãn, kinh này có lý luận viên
mãn, có phương pháp tu hành viên mãn, cũng như cảnh giới
tối viên mãn. Chiếu theo kinh này tu hành đều là người đại
căn tánh viên đốn cả.
“Cúng
dường quá khứ chư Như Lai, và cúng hiện tại mười phương
Phật”: Cúng dường tối trọng yếu là cúng dường bằng
cách tu hành. Chiếu theo phương pháp mà tu hành, chính là cúng
dường chân chánh. Nếu có thể tuyên dương, lưu thông kinh
này thì chính là cúng dường thù thắng.
“Hết
thảy Thầy Trời Người tương lai”: Thiên Nhân Sư là Phật,
câu này nói đến các vị Phật tương lai. Phật tương lai
chính là hết thảy chúng sanh. Hết thảy chúng sanh đều có
Phật tánh, đều sẽ thành Phật. Học theo các đức Phật
tương lai như thế nào? Hết thảy chúng sanh hễ có chút điểm
lành nhỏ nhoi nào, chúng ta đều phải tùy hỷ, học theo, huống
hồ là phát tâm Bồ Đề, tu Bồ Tát đạo! Người khéo học
thì bất luận cảnh giới nào cũng đều có thể tạo thành
tựu cho chính mình. Mặt thiện của hết thảy chúng sanh chúng
ta phải học theo, nếu là mặt ác, chúng ta nghe thấy, trông
thấy phải phản tỉnh sâu xa, tự mình chẳng làm ác, đó
là “tùy học” vậy. Nói cách khác, thuận hay nghịch đều
là tăng thượng duyên. Người học Phật trong hết thảy hoàn
cảnh đều tu thành kính, bình đẳng, thanh tịnh, từ bi, đó
là Phổ Hiền hạnh.
“Hết
thảy ưa thích đều viên mãn”: Hạnh có xứng tánh thì mới
gọi là hạnh viên mãn. Nếu đánh mất cái tâm thành kính
thì dù có tu hạnh gì đi nữa, cũng chẳng thể coi là xứng
tánh được!
“Tôi
nguyện học khắp cả ba đời, mau được thành tựu đại
Bồ Đề”: Câu cuối cùng chính là quả báo, mà cũng là mục
tiêu của việc tùy học. Tác phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện
Phẩm Biệt Hành Sớ Sao ghi: “Trong các chúng sanh, chỉ có
trời và người là có thể phát tâm Bồ Đề”. Tam ác đạo
mê rất nặng, nghiệp chướng quá nặng, chẳng dễ phát tâm
Bồ Đề. Chỉ có hai đường trời và người là có thể phát
tâm Bồ Đề, có thể tu hành mười thiện nghiệp, có thể
đắc Tứ Quả, có thể đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác. Phương pháp để đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác là mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Bởi
thế, Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác nhất định phải
hoàn thành nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới. Ý nghĩa thù
thắng của kinh này nằm ở đây.
1.9.
Kệ tụng hằng thuận chúng sanh
Chánh kinh:
Sở hữu thập phương nhất thiết sát,
Quảng
đại thanh tịnh diệu trang nghiêm,
Chúng
hội vi nhiễu chư Như Lai,
Tất
tại Bồ Đề thọ vương hạ,
Thập
phương sở hữu chư chúng sanh,
Nguyện
ly ưu hoạn thường an lạc,
Hoạch
đắc thậm thâm chánh pháp lợi,
Diệt
trừ phiền não tận vô dư.
(Tất
cả cõi nước khắp mười phương,
Rộng
lớn thanh tịnh, trang nghiêm đẹp,
Chúng
hội vây quanh các Như Lai,
Đều
ở dưới cội cây Bồ Đề,
Mười
phương tất cả các chúng sanh,
Nguyện
lìa buồn khổ thường an lạc,
Đạt
lợi rất sâu nơi chánh pháp,
Diệt
trừ phiền não chẳng còn sót)
Bài
tụng thứ chín là nguyện “hằng thuận chúng sanh”.
“Tất
cả cõi nước khắp mười phương” ý nói cõi nước để
nương vào (thế giới) rất lớn. Tất cả các chúng sanh trong
mười phương hết thảy cõi Phật, chúng ta phải tùy thuận.
“Rộng
lớn thanh tịnh, trang nghiêm đẹp”: Phàm có tu học pháp môn
Phổ Hiền thì mới có thể thật sự thấy các cõi Phật thanh
tịnh trang nghiêm vi diệu trong mười phương, vì tâm Phổ Hiền
là tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh thì thân thanh tịnh. Thân
lẫn tâm thanh tịnh thì cảnh giới bên ngoài không gì chẳng
thanh tịnh. Tất cả những cảnh giới Thiện Tài đồng tử
đã trải qua, toàn là những tịnh độ thanh tịnh trang nghiêm
vi diệu của chư Phật, không một chỗ nào chẳng phải là
tịnh độ. Chúng ta thấy có thiện, có ác, chứ Thiện Tài
chỉ thấy thuần thiện không ác; cách thấy, cách cảm nhận
của Ngài khác với chúng ta. Chúng ta trông thấy hết thảy
cảnh giới đâm ra phiền não, sanh lòng mừng, giận, buồn,
vui. Thiện Tài đồng tử tiếp xúc cảnh giới bên ngoài chẳng
sanh phiền não, mà sanh trí huệ, sanh tâm thanh tịnh. Bởi thế,
trong tầm mắt Ngài toàn là cõi nước thanh tịnh vi diệu trang
nghiêm. Chúng ta niệm Phật đến mức Nhất Tâm Bất Loạn
sẽ chứng nhập cảnh giới đó, cảnh giới ấy chính là cảnh
giới của Lý Nhất Tâm Bất Loạn.
“Chúng
hội vây quanh các Như Lai, đều ở dưới cội cây Bồ Đề”:
Chúng hội chính là các nơi đại chúng tụ hội, ở đây chỉ
các đại Bồ Tát chúng, Bồ Tát vây quanh đức Phật, chúng
ta phải tùy thuận Bồ Tát.
Bài
kệ thứ hai nói đến việc tùy thuận chúng sanh. “Mười
phương tất cả các chúng sanh”: phạm vi rộng lớn, Thanh
Văn, Duyên Giác, lục đạo chúng sanh.
“Nguyện
lìa buồn khổ thường an lạc”: câu này nói lên ý nguyện
tu học của Bồ Tát. Vì sao chúng ta học Phật? Là vì có thể
lìa khổ được vui. Nói cách khác: Chúng ta tu hành đừng chỉ
vì mình, đó là hạnh Phổ Hiền. Ta tu học vì đại chúng,
chính mình phải chịu nhiều phần khổ sở, đại chúng chịu
ít phần khổ sở, thay thế chúng sanh chịu khổ mà! Dẫu chúng
sanh ai nấy đều có nghiệp báo, chúng ta chẳng chịu thay được,
nhưng tâm chúng ta viên mãn, thật sự có lòng muốn chịu khổ
thay cho họ thì niệm niệm viên mãn công đức. Nhờ đó, trong
quá trình tu học, đối với hết thảy khổ nạn phải chịu
đựng, bản thân mình cũng có thể chịu đựng được. Tự
mình chẳng oán trời trách người, vì đó [cũng như là] chịu
khổ thay cho hết thảy chúng sanh, đó là ý nguyện của Bồ
Tát, là ý nguyện của chính mình.
“Đạt
lợi rất sâu nơi chánh pháp”: Lợi là ích lợi. Chỉ có
tín nguyện viên mãn thì mới hòng đạt lợi ích chân thật
nơi Phật pháp. Hiện thời, muốn đạt được chánh pháp rất
sâu rất khó. Trong đời Mạt Pháp, tà sư thuyết pháp như
cát sông Hằng, tà và chánh rất khó phân biệt. Đi theo đường
tà, lầm tưởng là chánh, tu trì một đời chẳng những mất
trắng, còn e chuốc lấy rất nhiều tội nghiệp, rất nhiều
quả báo chẳng như ý. Trong lúc chúng ta chẳng có năng lực
phân biệt tà chánh thì phải thường đọc tụng kinh điển
Đại Thừa, đãi người tiếp vật lấy kinh điển làm tiêu
chuẩn, dùng tiêu chuẩn đó để tiếp cận chánh pháp, lấy
tiêu chuẩn đó để ngoảnh mặt cùng tà pháp. Tham cầu danh
văn lợi dưỡng là tà pháp, lợi ích hết thảy chúng sanh
là chánh pháp; trong quá trình phát nguyện tu học, ắt có thể
đạt được lợi ích nơi chánh pháp rất sâu. Chánh pháp rất
sâu chính là thành kính, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi.
“Diệt
trừ phiền não chẳng còn sót”: tham, sân, si, mạn, thân kiến,
biên kiến, kiến thủ kiến, giới thủ kiến, thành kiến rất
sâu, đều là cội nguồn phiền não. Chỉ cần đạt được
chánh pháp, tâm địa thanh tịnh, bình đẳng, từ bi thì mới
dẹp trừ được tất cả phiền não từ cội rễ.
Học
tập hằng thuận giúp ta phá được chấp trước. Nếu phá
được Ngã Chấp, niệm Phật sẽ đạt Sự Nhất Tâm Bất
Loạn. Niệm niệm đều vì lợi ích chúng sanh; niệm niệm
đều nhằm tạo phước cho xã hội, đấy chính là hạnh Bồ
Tát.
1.10.
Kệ tụng phổ giai hồi hướng
Dưới
đây là hai mươi lăm bài kệ tụng về nguyện thứ mười
“phổ giai hồi hướng”. Trong nguyện thứ mười có phần
phát đại nguyện, tổng cộng là mười mục nhỏ: nguyện
thọ trì, nguyện tu hành được hai thứ lợi ích, nguyện thành
thục chúng sanh, nguyện chẳng lìa, nguyện cúng dường, nguyện
lợi ích, nguyện chuyển pháp luân, nguyện Tịnh Độ, nguyện
thừa sự, nguyện thành Chánh Giác. Mười mục nhỏ này đều
được triển khai từ một đại nguyện “phổ giai hồi hướng”
của Bồ Tát Phổ Hiền, dùng thể tài kệ tụng khiến cho
ý nghĩa “phổ giai hồi hướng” được viên mãn hoàn bị.
1.10.1.
Nguyện thọ trì
Chánh kinh:
Ngã vị Bồ Đề tu hành thời,
Nhất
thiết thú trung thành Túc Mạng,
Thường
đắc xuất gia tu tịnh giới,
Vô
cấu, vô phá, vô xuyên lậu,
Thiên,
Long, Dạ-xoa, Cưu Bàn Trà,
Nãi
chí nhân dữ phi nhân đẳng,
Sở
hữu nhất thiết chúng sanh ngữ,
Tất
giai chư âm nhi thuyết pháp.
(Lúc
tôi vì Bồ Đề tu hành,
Trong
hết thảy loài đắc Túc Mạng,
Thường
được xuất gia, tu tịnh giới,
Không
nhơ, không phá, không rò rỉ,
Trời,
Rồng, Dạ Xoa, Cưu Bàn Trà,
Cho
đến nhân cùng phi nhân thảy,
Tất
cả hết thảy tiếng chúng sanh,
Đều
dùng các âm để thuyết pháp)
“Lúc
tôi vì Bồ Đề tu hành, trong hết thảy loài đắc Túc Mạng”:
Tu hành nhằm để chính mình thật sự giác ngộ. Người giác
ngộ biết “phàm những gì có hình tướng đều là hư vọng”.
Thân là hư vọng, có sanh, có diệt; linh tánh là chân, bất
sanh bất diệt. Chúng ta phải nhờ vào giả để tu chân, thân
là giả, nhờ vào cái thân thể hư giả để tu tánh linh của
chính mình, tu