THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
 .....................................
Giảng Giải Kinh
....
Luận
 ..............................

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
PHÁT KHỞI BỒ TÁT THÙ THẮNG CHÍ NHẠO KINH LƯỢC GIẢNG 
(Nguyên văn: Phát Khởi Bồ Tát Thù Thắng Chí Nhạo Kinh Giảng Ký)
Chủ giảng: Hòa Thượng Thích Tịnh Không
Cư sĩ Truyền Tịnh chỉnh lý - Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Lược giảng 
kinh Phát Khởi Bồ Tát Thù Thắng Chí Nhạo, 
Phần 4


8.6. Sơ nghiệp Bồ Tát nên quán sát ngủ nghê có hai mươi lỗi lầm lớn 
 

Tiếp theo đây là một đoạn kinh nói ngủ nghê có hai mươi lỗi lầm lớn. 
 

      Chánh kinh:

Nhĩ thời, Di Lặc Bồ Tát nhi bạch Phật ngôn: 

- Thế Tôn! Vân hà danh vi thùy miên trung quá?

(Lúc bấy giờ, Di Lặc Bồ Tát bèn bạch Phật rằng: 

- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào gọi là lỗi lầm của ngủ nghê?) 

 

Ngủ nghê có những lỗi hại gì? 

 

Chánh kinh: 

Nhược quán sát thời, Bồ Tát ưng đương phát khởi tinh tấn, bất sanh nhiệt não. 

(Nếu lúc Bồ Tát quán sát sẽ phát khởi tinh tấn, chẳng sanh nhiệt não) 

 

Do đây biết rằng: những lỗi lầm được nói ở đây đều khiến chúng sanh sanh nhiệt não, khởi ngu si; bởi thế, trong đoạn này, đức Phật và Bồ Tát một người hỏi, một người đáp, nhằm mục đích cho chúng ta nghe ké xong sẽ giác ngộ, thức tỉnh, xa lìa những lỗi lầm đó. Tiếp theo là kinh văn: 

 

Chánh kinh: 

Phật ngôn: 

- Di Lặc! Sơ nghiệp Bồ Tát ưng đương quán sát thùy miên quá thất, hữu nhị thập chủng, nhược quán sát thời, năng linh Bồ Tát phát khởi tinh tấn, ý lạc vô quyện. 

(Phật nói: 

- Này Di Lặc! Sơ nghiệp Bồ Tát hãy nên quán sát ngủ nghê có hai mươi lỗi, nếu lúc quán sát sẽ khiến cho Bồ Tát phát khởi tinh tấn, thỏa ý không mệt) 

 

Chúng ta hãy coi hai câu cuối Phật nói: “Tinh tấn, thỏa ý không mệt”. Đấy thật chính là điều người học Phật chúng ta hướng đến, mong đạt được. Làm thế nào mới đạt được? Phải bỏ lìa ngủ nghê mới có thể đạt được! Chúng ta xem tiếp theo đây là hai mươi lỗi của ngủ nghê. 

 

Chánh kinh: 

Di Lặc! Vân hà danh vi nhạo ư thùy miên, nhị thập chủng quá? 

(Này Di Lặc! Thế nào gọi là hai mươi lỗi của ham thích ngủ nghỉ?) 

 

Người ham ngủ có hai mươi lầm lỗi. 

 

Chánh kinh: 

Nhất giả, giải đãi lãn nọa. 

(Một là lười nhác biếng trễ) 

 

Điều này là chuyện đương nhiên, ham ngủ ắt lười nhác, biếng trễ. 

 

Chánh kinh: 

Nhị giả, thân thể trầm trọng. 

(Hai là thân thể nặng nề) 

 

Đây cũng là sự thật, nhưng chúng ta thường phớt lờ. Người ngủ nhiều thân thể hiển nhiên thô nặng, nói cách khác là động tác chẳng nhanh nhẹn, chẳng linh hoạt. Chúng tôi đã từng gặp trong quá khứ có một vị đồng tu, hiện tại bà đã thay đổi nhiều. Bà từng kể với tôi: Trong quá khứ, lúc chưa học Phật rất ham ngủ, mỗi ngày gần như phải ngủ từ mười đến hai mươi tiếng; đại khái là hai mươi lỗi lầm bà đều có đủ cả, chẳng thiếu một điều nào, đích xác là nhiều thứ bệnh tật đều do đây mà sanh! 

 

Chánh kinh: 

Tam giả, nhan sắc tiều tụy. 

(Ba là vẻ mặt tiều tụy) 

 

Đích thị là khuôn mặt bệnh hoạn. 

 

Chánh kinh: 

Tứ giả, tăng chư bệnh tật. 

(Bốn là, tăng thêm các bệnh tật) 

 

Lúc có bệnh, nhất định bệnh nặng thêm; ngủ nhiều cũng gây ra lắm bệnh. 

 

Chánh kinh: 

Ngũ giả, hỏa giới luy nhược. 

(Năm là hỏa giới suy kém) 

 

“Hỏa giới” tức là thân nhiệt. Thân nhiệt chẳng bình thường, so với người khác thân nhiệt sai biệt nhiều, cho thấy thân thể rất yếu. 

 

Chánh kinh: 

Lục giả, thực bất tiêu hóa. 

(Sáu là ăn không tiêu) 

 

Lúc ngủ, nhân vì thân thể không cử động, nhu động của bao tử và ruột rất chậm chạp, quý vị ăn gì tiêu hóa cũng chẳng tốt. Nếu ăn nhiều, lại còn tham ăn thì phiền phức rất lớn. 

 

Chánh kinh: 

Thất giả, thể sanh sang pháo. 

(Bảy là thân thể sanh ghẻ chốc) 

 

Nói như bây giờ là rất dễ bị bịnh ngoài da. Nếu chẳng thường tắm rửa, chẳng thường thay giặt chiếu mền, lúc quý vị ngủ nhiều, xác thực là rất dễ bị bệnh ngoài da. 

 

Chánh kinh: 

Bát giả, bất cần tu tập. 

(Tám là chẳng siêng tu tập)

 

Phật dạy chúng ta tu học các pháp môn, nhưng nếu quý vị tham ngủ, ngủ hết sạch thời gian rồi, còn có thời gian đâu để tu tập nữa cơ chứ! 

 

Chánh kinh: 

Cửu giả, tăng trưởng ngu si. 

(Chín là tăng trưởng ngu si) 

 

Ngủ nghê là hôn trầm; người hôn trầm là ngu si, chẳng có trí huệ. 

 

Chánh kinh: 

Thập giả, trí huệ luy liệt. 

(Mười là trí huệ yếu hèn) 

 

Trí huệ kẻ ấy rất tệ, trí huệ rất kém. 

 

Chánh kinh: 

Thập nhất giả, bì phu ám trược. 

(Mười một là da dẻ tối dơ) 

 

Đây là như chúng ta thường nói: màu da không tốt, thoạt nhìn biết ngay kẻ ấy không khỏe, chẳng bình thường. 

 

Chánh kinh: 

Thập nhị giả, phi nhân bất kính. 

(Mười hai là phi nhân chẳng kính) 

 

“Phi nhân” chỉ quỷ thần, hộ pháp thần, đối với người ấy họ đều chẳng sanh lòng cung kính, họ chẳng hộ trì. 

 

Chánh kinh: 

Thập tam giả, vi hành ngu độn. 

(Mười ba là hành vi ngu độn) 

 

“Hành” có thể hiểu là hành động, mỗi một cử động của kẻ ấy đều rất trì độn, dù nhằm lúc tỉnh táo đi nữa cũng tựa hồ như đang hôn trầm, chúng ta nay thường nói là kẻ ấy tinh thần ủy mị chẳng phấn chấn. 

 

Chánh kinh: 

Thập tứ giả, phiền não triền phược. 

(Mười bốn là phiền não trói buộc) 

 

Lắm phiền não. 

 

Chánh kinh: 

Thập ngũ giả, tùy miên phú tâm. 

(Mười lăm là tùy miên che tâm) 

 

“Tùy miên” là thuật ngữ Phật học, có nghĩa là chủng tử phiền não. Tập khí, chủng tử phiền não trong A-lại-da thức gây chướng ngại tâm thanh tịnh của quý vị, chướng ngại trí huệ phát sanh, bởi thế, chúng được gọi là “tùy miên”. Tùy miên là chủng tử của tập khí. 

 

Chánh kinh: 

Thập lục giả, bất nhạo thiện pháp. 

(Mười sáu là chẳng ưa pháp lành) 

 

Đối với hết thảy pháp lành chẳng sanh lòng hoan hỷ, mà cũng có thể nói là kẻ ấy chẳng có tinh thần, chẳng nghĩ đến việc làm những pháp lành ấy nữa. 

 

Chánh kinh: 

Thập thất giả, bạch pháp giảm tổn. 

(Mười bảy là bạch pháp hao tổn) 

 

“Bạch pháp” là thiện pháp. Kẻ ấy điều thiện ngày một ít, làm ác ngày một nhiều. 

 

Chánh kinh: 

Thập bát giả, hành hạ liệt hạnh. 

(Mười tám là làm hạnh hèn kém) 

 

“Hạ liệt hạnh” là điều ác kẻ ấy làm ngày càng chồng chất, điều thiện ngày càng giảm ít. 

 

Chánh kinh: 

Thập cửu giả, tắng hiềm tinh tấn. 

(Mười chín là ghét hiềm tinh tấn) 

 

Kẻ ấy vẫn có tâm ganh tỵ. Thấy người khác ít ngủ nghỉ, dụng công nhiều, rất tinh tấn bèn ghen ghét, tỵ hiềm, giận dữ. 

 

Chánh kinh: 

Nhị thập giả, vị nhân khinh tiện. 

(Hai mươi là bị người khác khinh rẻ) 

 

Đừng nói là người tu hành, kể cả mọi người trong thế gian, ai nấy thấy hành vi kẻ ấy như thế thảy đều khinh rẻ, cũng chẳng nể nang kẻ ấy. 

 

Chánh kinh: 

Di Lặc! Thị vi Bồ Tát nhạo ư thùy miên nhị thập chủng quá. 

(Di Lặc! Đây là hai mươi lỗi của Bồ Tát ham thích ngủ nghỉ) 

 

Hai mươi lỗi này Phật đã nói ra, chúng ta phải suy nghĩ kỹ, phần lớn ta đều có thể hiểu được, nhưng nhất định phải hiểu ngủ nghê là hôn trầm, hôn trầm tăng trưởng vô minh, nên nó là một phiền não rất nặng đấy nhé! Những người khéo công phu trong thế gian đều chẳng cần ngủ nhiều. “Ngủ” là một trong năm dục vọng – tài, sắc, danh, thực, thùy. Trong tam giới, Dục Giới mới có ngủ nghê. Nếu lên đến trời Sắc Giới, năm thứ ấy đều chẳng có nữa. Người cõi trời Sắc Giới chẳng cần Tài, chúng ta tham của cải! Nếu quý vị bỏ được tánh tham của cải, quý vị sẽ có tư cách lên được trời Sắc Giới. Đoạn được Tài rồi, đoạn được Sắc rồi, Sắc tức là tình dục nam nữ, đoạn sạch rồi, không còn nữa. Danh, họ cũng chẳng cần. Thực (ăn uống): họ chẳng cần ăn thứ gì; họ cũng chẳng cần ngủ nữa. Người cõi trời Sắc Giới chẳng có ăn uống, chẳng có ngủ nghê. Quý vị nghĩ coi: Họ chẳng ăn uống thì cần dùng tiền để làm chi đây? Bởi thế, họ chẳng tham tài. 

Vậy họ duy trì sanh mạng bằng cách nào? Lấy Thiền Duyệt làm thức ăn. Đây là điều phàm phu chúng ta không cách chi tưởng tượng được, tự nhiên tinh thần họ no đủ, thọ mạng dài lâu, thanh xuân mãi mãi, chẳng già cả chi! Người cõi trời Sắc Giới đắc Thiền Định, Thiền Định là tâm thanh tịnh. Do đây biết rằng, quý vị chưa lìa bỏ năm thứ dục ấy sẽ quyết định ở trong Dục Giới, chẳng thể ở Sắc Giới. 

Do đó biết rằng, đừng nói gì là Phật, Bồ Tát, A La Hán bỏ sạch được những dục ấy, ngay cả phàm phu bậc cao trong thế gian (người cõi trời Sắc Giới và Vô Sắc Giới) cũng đều bỏ sạch được. Bởi thế, đức Phật dạy người tu đạo chúng ta càng ít năm món dục ấy càng hay, biết chúng là phiền não, chẳng phải là những điều tốt. 

Phải ít ngủ, ít ăn: Ăn ít thân thể quý vị mới khỏe mạnh đấy nhé! Ngàn vạn phần chớ nên mê hoặc, cứ tưởng nhất định phải ăn những đồ ngon, uống những thuốc bổ thì thân thể mới khỏe, lầm quá rồi! Chẳng hề có đạo lý ấy đâu! Quý vị giở xem lịch sử, những đế vương, đại thần, hào môn, quý tộc Trung Quốc thời cổ, ngày ngày đều dùng các đồ bổ tốt nhất, nhưng thọ mạng chẳng dài, chẳng phải là những thí dụ rõ rệt đấy ư? Quý vị hãy quan sát kỹ, đừng có bị dối gạt nữa! 

      Những điều Phật dạy chúng ta là thật, chẳng phải giả đâu. Chất dinh dưỡng tốt nhất là tâm thanh tịnh. Chất bổ tốt nhất là ít dục vọng, càng ít càng tốt. Ăn uống, mỗi ngày ăn một bữa là được rồi, quý vị coi có phải là bớt việc hay không? Ăn một bữa được không? Tuyệt đối là được. Hiện tại vì sao quý vị chưa làm được? Vì quý vị nghĩ là không được, nên không có cách chi [làm được]. Trong Phật pháp thường nói “hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh”, trong tâm tưởng quý vị, mỗi ngày nhất định phải ăn ba bữa, một bữa không ăn sẽ đói. Nếu quý vị nghĩ: ta mỗi ngày chỉ ăn một bữa, chẳng cần phải ăn ba. Ui cha! Quý vị ăn một bữa, hôm ấy chẳng đói. Đây là vấn đề quan niệm, chuyển được ý niệm sẽ đoạn được việc ấy! 

Tôi thường giảng kinh ở ngoại quốc, người ta trông thấy hỏi: “Pháp sư! Thật ra thầy dùng thuốc bổ gì vậy? Tôi thấy thân thể ngài khỏe mạnh, dung mạo tươi tốt quá” Tôi nói: “Tôi thật sự có thuốc bổ -- là nước máy từ công ty nước Đài Loan đấy!” Nếu có ai pha trà, tôi uống trà, không ai pha trà, tôi chẳng tự mình nấu trà. Vì sao vậy? Phiền phức quá! Một chén nước sôi giải khát được rồi, ít phiền, bớt việc. 

Có nhiều người cứ tưởng tôi rất sành trà, kỳ thật tôi chẳng sành trà. Trà dở, trà ngon, tôi chẳng phân biệt được. Bởi thế, quý vị cúng dường tôi thứ ngon lành gì rất uổng! Thật ra, tôi chẳng biết! Lơ mơ thôi! Chẳng qua, tôi chỉ biết trà người ta tặng tôi đều là trà ngon cả, tôi đem quà ấy tặng cho người khác. Bởi thế, chỉ cần tâm quý vị thanh tịnh, chẳng phân biệt, chẳng nhiễm trước, ắt sẽ mạnh khỏe, sống lâu. Ăn uống càng đơn giản càng tốt. Thầy Lý thường dặn tôi: “Đừng vào quán ăn thứ gì, hàng quán thiếu vệ sinh, anh chưa vô nhà bếp coi họ làm, anh sẽ hiểu họ làm như thế nào”. Bởi thế, có ai mời tôi ra tiệm ăn thứ gì, về nhà tôi phải uống thuốc giải độc. Tốt nhất là đừng ăn ở ngoài, càng đơn giản càng khỏe mạnh, càng đơn giản càng sống lâu. 

 

7.2. Trùng tụng 

 

Tiếp theo đây, chúng ta thấy có hai mươi bài kệ tụng. 

 

Chánh kinh: 

Nhĩ thời, Thế Tôn trùng thuyết kệ ngôn: 

Thân trọng, vô nghi kiểm, 

Giải đãi, thiểu kham nhậm, 

Nhan sắc vô quang trạch, 

Thị nhạo thùy miên quá. 

(Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại nói kệ rằng: 

- Thân nặng, thiếu oai nghi, 

Biếng nhác, thiếu năng lực, 

Dung mạo chẳng tươi tắn, 

Là lỗi thích ngủ nghê) 

 

Ham thích ngủ thân thể nặng nề. “Nghi” là oai nghi, đương nhiên chẳng có oai nghi, chẳng cần phải bàn đến nữa. “Kiểm” là tự mình kiểm điểm, kẻ ấy chẳng kiểm điểm, cho nên “biếng nhác, thiếu oai nghi”. “Kham nhiệm” là năng lực đảm nhiệm công tác, họ mất hết, chẳng có năng lực làm nổi việc gì, đương nhiên kể cả việc tu đạo, chẳng có năng lực tu đạo. Câu “dung mạo chẳng tươi tắn” là nói đến thể chất người đó.

 

Chánh kinh: 

Bỉ nhân thường bệnh não. 

(Kẻ ấy thường bệnh khổ) 

 

Lắm bệnh, lắm phiền não. 

 

Chánh kinh: 

Phong hoàng đa tích tập. 

(Phong hoàng chất chứa nhiều) 

 

Có nghĩa là thân thể chẳng mạnh khỏe. 

 

Chánh kinh: 

Tứ đại hỗ vi phản. 

(Tứ đại trái nghịch nhau) 

 

“Tứ đại” là địa, thủy, hỏa, phong; tứ đại chẳng điều hòa sẽ thường sanh bệnh, đây đều là do ngủ nhiều gây ra. 

 

Chánh kinh: 

Ẩm thực bất tiêu hóa, 

Thân thể vô quang nhuận, 

Thanh tê, bất thanh triệt, 

Thị nhạo thùy miên quá. 

(Ăn uống chẳng tiêu hóa, 

Thân thể chẳng tươi nhuận, 

Tiếng rè, chẳng rõ ràng, 

Là lỗi thích ngủ nhiều) 

 

“Thanh tê” là âm thanh rè đục, nói năng chẳng rõ ràng. Đấy là lỗi hại của việc ngủ nhiều. 

 

Chánh kinh: 

Kỳ thân sanh sang pháo, 

Trú dạ thường hôn thùy, 

Chư trùng sanh cơ quan, 

Thị nhạo thùy miên quá. 

(Thân mình sanh ghẻ chốc, 

Ngày đêm thường mê mờ, 

Trùng lắm dịp sanh trưởng, 

Là lỗi thích ngủ nghỉ) 

 

“Trùng” bây giờ ta thường gọi là vi sinh vật và ký sinh trùng. Xác thực là người ngủ nhiều, trong nội tạng có nhiều ký sinh trùng, có những ký sinh trùng chẳng hại gì đến thân thể, nhưng cũng có ký sinh trùng có hại; những loại thông thường này ai cũng có. “Cơ quan” nói theo cách bây giờ là cơ hội, tạo nhiều cơ hội cho ký sinh trùng sanh trưởng. 

 

Chánh kinh: 

Thoái thất ư tinh tấn, 

Phạp thiểu chư tài bảo, 

Đa mộng, vô giác ngộ, 

Thị nhạo thùy miên quá. 

(Tinh tấn bị lui sụt, 

Thiếu thốn các của báu, 

Lắm mộng, không giác ngộ, 

Là lỗi thích ngủ nghỉ) 

 

Người ngủ nhiều đương nhiên tinh tấn chẳng cần bàn đến nữa. Ưa ngủ nghê, năng lực công tác kém hẳn người khác, bởi thế tiền tài chẳng nhiều nhặn gì, đó là nguyên nhân “thiếu thốn các của báu”. Người hôn trầm nhiều là “đa mộng”, đa mộng bèn chẳng giác ngộ. Bởi thế người ngủ ngon, người tâm địa thanh tịnh, rất ít mộng! Những mộng cảnh người phàm mộng thấy, nếu quý vị lưu ý sẽ có thể dùng những mộng cảnh ấy để khảo nghiệm công phu chính mình: Ta học Phật nhiều năm có tiến bộ hay không? Đại khái là trước khi học Phật thường gặp ác mộng, cảnh mộng hỗn loạn phi thường. Sau khi học Phật, vọng niệm ít đi, tâm dần dần thanh tịnh, dù có nằm mộng, ác mộng ít hẳn; thậm chí không còn ác mộng nữa, ấy là công phu của quý vị đã tiến lên một nấc. 

Nếu từ mộng ít, tiến đến không mộng, công phu của quý vị bèn lại tăng thêm một nấc nữa. Đến lúc chẳng có mộng cảnh, sẽ như đức Phật đã nói “ngủ bốn giờ”, tinh thần quý vị nhất định khôi phục rất sung mãn. Thường nằm mộng là giấc ngủ chẳng ổn, thân thể dù ngơi nghỉ, tinh thần chẳng ngơi nghỉ, nên lúc quý vị thức dậy, vẫn cảm thấy rất thiếu ngủ, rất mệt mỏi, đạo lý là đây! Mọi người chúng ta ngủ không sâu, ngủ không ngon, là do mộng nhiều quá. 

 

Chánh kinh: 

Si võng thường tăng trưởng. 

(Lưới si thường tăng trưởng) 

 

“Võng” ngụ ý tỷ dụ nhiều, rất phức tạp. Ngu si tăng trưởng. 

 

Chánh kinh: 

Nhạo trước ư chư kiến. 

(Vui chấp vào các kiến) 

 

“Kiến” nói theo cách bây giờ là cách nghĩ, cách nhìn rất nhiều. Toàn là suy bậy nghĩ bạ. 

 

Chánh kinh: 

Xí thạnh nan liệu trị. 

(Lừng lẫy khó chữa trị) 

 

Quý vị vọng tưởng, chấp trước rất nhiều, thật chẳng dễ đối trị. Vì sao chẳng dễ đối trị? Quý vị ngủ nhiều quá. 

 

Chánh kinh: 

Tổn giảm ư trí huệ, 

Tăng trưởng ư ngu si, 

(Trí huệ bị tổn giảm, 

Ngu si càng tăng trưởng) 

 

Trí huệ giảm ít, ngu si tăng trưởng. 

 

Chánh kinh: 

Chí ý thường hạ liệt, 

Thị nhạo thùy miên quá. 

(Chí ý thường kém hèn, 

Là lỗi thích ngủ nghỉ) 

 

Người ấy chẳng có chí hướng cao thượng. 

 

Chánh kinh: 

Bỉ trụ a-lan-nhã, 

Thường hoài giải đãi tâm, 

Phi nhân đắc kỳ tiện, 

Thị nhạo thùy miên quá. 

(Kẻ ấy trụ lan-nhã, 

Thường ôm lòng giải đãi, 

Phi nhân thừa dịp hại, 

Là lỗi thích ngủ nghỉ) 

 

Người tham ngủ, biếng nhác, lười trễ như thế nếu ở nơi A-lan-nhã lại càng thuận tiện: không ai quấy nhiễu, ngủ càng lâu. Có chuyện đó hay không? Có hạng người như thế đấy! Tôi từng gặp hai vị bế quan, bế quan làm gì? Bế quan để ngủ! Sau khi bế quan ra, các tín đồ tôn trọng, cúng dường, thật phi thường: bế quan mà! Nhưng là bế cái quan nào đâu ai biết! Bế quan để ngủ, trong quan phòng (1) ngủ đẫy giấc. 

Tuổi vị pháp sư ấy không chênh lệch tuổi tôi nhiều lắm, đã qua đời lâu rồi. Lúc ông ta bế quan, hỏi mượn tôi kinh sách, tôi thu thập rất nhiều bản kinh sách hay, ông ta hỏi mượn để dụng công trong quan phòng, tôi cũng rất hoan hỷ. Ông ta mượn tôi bộ Trung Quán Luận Sớ, in mộc bản, sách đóng gáy bằng chỉ khâu, gồm mười hai quyển. Đến năm thứ hai – ông ta bế quan đã được một năm rồi – tôi đến thăm ông. Ông kể cho tôi nghe những chuyện trong giới Phật giáo: tình hình của vị pháp sư chùa này nọ, kể lể rất tường tận, tôi chẳng biết gì cả. Ông ta ở trong quan phòng mà chuyện gì cũng biết, tôi hằng ngày ở ngoài mà chẳng biết chi cả. 

Tôi lại hỏi ông ta: “Thầy xem bộ Trung Quán Luận Sớ xong chưa?” Ông ta bảo tôi: “Mười hai cuốn mới xem được nửa cuốn, cuốn thứ nhất vẫn chưa xem xong!” Chẳng phải là bế quan để ngủ hay sao? Chẳng những là ngủ đẫy giấc, đại khái là hằng ngày thường gặp gỡ người khác, lại còn săn tin, cho nên chuyện gì bên ngoài cũng biết cả. Thế là ý nghĩa bế quan đã mất rồi! “Bế quan” là tìm một nơi thanh tịnh để chân chánh dụng công; dũng mãnh tinh tấn, lìa bỏ hết thảy những sự việc tạp nhạp của thế gian. 

Tôi từng gặp qua hai người như vậy. Đó là “trụ a-lan-nhã, thường ôm lòng giải đãi, phi nhân thừa dịp hại”. “Phi nhân thừa dịp hại” là dễ bị ma dựa, yêu ma quỷ quái thấy biết tâm tư, ý niệm, hành vi của kẻ ấy nên dễ dàng thao túng, khống chế, ta gọi là “ma dựa”. Sau khi bị ma dựa, kẻ ấy bị ma lợi dụng. Đó là lỗi của ngủ nghê. 

 

Chánh kinh: 

Mông hội thất chánh niệm 

(Mờ mịt mất chánh niệm) 

 

“Mông hội” nói theo cách bây giờ là hồ đồ, ngu si, hồ đồ đánh mất chánh niệm. 

 

Chánh kinh: 

Phúng tụng bất thông lợi. 

(Đọc tụng chẳng thông suốt) 

 

Nghĩa là đọc kinh nhưng chẳng hiểu ý nghĩa kinh, thường quên mất kinh văn. 

 

Chánh kinh: 

Thuyết pháp đa phế vong, 

Thị nhạo thùy miên quá. 

(Thuyết pháp thường quên mất, 

Là lỗi thích ngủ nghỉ) 

 

Lúc giảng kinh thuyết pháp, cũng thường hiểu lầm ý Phật, hiểu lệch lạc, quên mất nghĩa chân thật. 

 

Chánh kinh: 

Do si khởi mê hoặc, 

Trụ ư phiền não trung, 

Kỳ tâm bất an lạc, 

Thị nhạo thùy miên quá. 

(Do si khởi mê hoặc, 

Trụ ở trong phiền não, 

Tâm gã chẳng yên vui, 

Là lỗi thích ngủ nghỉ) 

 

Đó là hiện tượng tất nhiên. Nhân vì ngu si, do ngu si nên khởi mê hoặc, đối với thế pháp lẫn Phật pháp đều chẳng thông đạt, hiểu rõ, nhất định nghi hoặc trùng trùng, đương nhiên là sanh phiền não, chẳng thể được khinh an! Tâm được yên vui là lợi ích đầu tiên người học Phật chúng ta phải đạt được. Học Phật có gì hay? Cái hay đầu tiên là thân tâm yên vui. Nếu chẳng đạt được điều này, quý vị phải nghiêm túc kiểm điểm, phản tỉnh, nhất định quý vị đã học Phật sai lệch, lầm lạc; nếu không, nhất định phải đạt được lợi ích này. Đây chỉ là công phu nông cạn, chưa phải là công phu rất sâu. Phải đạt được công phu nông cạn nhất, phải đạt lợi ích tối thiểu. Sở dĩ, chưa học Phật ít phiền não, càng học càng nhiều phiền não, càng học áp lực càng nặng, thì lầm mất rồi, quý vị đi vào ma đạo mất rồi! 

 Ma là gì? Là bẻ gãy, mài mòn quý vị. Quý vị chịu sức ép, quý vị bị đau khổ là quý vị học ma chứ phải đâu là học Phật! Học Phật nhất định phải được yên vui. Kẻ kia chẳng đạt được an lạc đó là do đã phạm phải lỗi lầm: tham ngủ nghê đó mà! 

 

Chánh kinh: 

Công đức giai tổn giảm, 

Thường sanh ưu hối tâm, 

Tăng trưởng chư phiền não, 

Thị nhạo thùy miên quá. 

(Công đức đều tổn giảm, 

Thường sanh lòng buồn hối, 

Các phiền não tăng trưởng, 

Là lỗi thích ngủ nghỉ) 

 

Đây cũng là lỗi lầm của chuyện ham ngủ. “Công đức” khác với phước đức, quý vị phải nhớ cho rõ ràng, rành rẽ. “Công” là công phu, một phần công phu đạt một phần thâu hoạch, điều ấy gọi là “đức”. Ví như trì giới hữu công, thiền định là đức. Tu Định hữu công, khai trí huệ là đức. Giả sử quý vị trì giới chẳng đắc định thì giới là phước đức, chẳng phải là công đức, bởi lẽ rốt ráo chẳng có đức. Trì giới phải đắc định. 

Có nhiều người trì giới rất giỏi, giới luật rất tinh nghiêm, nhưng chẳng đắc định. Vì sao chẳng thể đắc định? Tâm kẻ ấy tán loạn, tự mình trì giới giỏi hơn người khác, trông thấy người khác cảm thấy đáng nên kiêu ngạo, kiêu ngạo như thế sẽ chẳng có định, vì lầm lẫn rồi. Bởi vậy, trong kinh này, câu đầu tiên Phật dạy chúng ta là “chẳng cầu lỗi người khác, chẳng cử tội người khác” rất có đạo lý đó nghe! Lục Tổ từng nói: “Nếu người thật tu đạo, chẳng thấy lỗi thế gian”. 

Quý vị trì giới rất giỏi, chẳng thấy lỗi người khác, quý vị bèn đắc Định, tâm thanh tịnh bèn hiện tiền. Tự mình giới luật rất tinh nghiêm, thấy người này chẳng trì giới, người khác phá giới, kẻ nọ phạm tội, là xong rồi, làm sao quý vị đắc định cơ chứ? Dù trì giới rất giỏi, vẫn chỉ là một chút si phước trong lục đạo đó thôi, sao gọi là công đức cho được, chẳng có công đức gì. Người tham ngủ chẳng thể thành tựu công đức đâu! “Thường sanh lòng buồn hối, tăng trưởng các phiền não”. 

 

Chánh kinh: 

Viễn ly chư thiện hữu, 

Diệc bất cầu chánh pháp, 

Thường hành phi pháp trung, 

Thị nhạo thùy miên quá. 

(Xa lìa các bạn lành, 

Cũng chẳng cầu chánh pháp, 

Thường làm chuyện phi pháp, 

Là lỗi thích ngủ nghỉ) 

 

“Thiện hữu” quá nửa là người tinh tấn, dũng mãnh, quý vị tham ngủ làm sao hợp với họ cho được? Chẳng phải là đồng loại mà! Bạn lành tự nhiên xa lánh quý vị, quý vị tự xa lánh bạn lành, quý vị cũng khó cầu chánh pháp, hành động như thế tất nhiên trái nghịch lời Phật răn dạy, nên gọi là “phi pháp”. 

 

Chánh kinh: 

Bất hân cầu pháp lạc, 

Tổn giảm chư công đức. 

Viễn ly ư bạch pháp, 

Thị nhạo thùy miên quá. 

(Chẳng vui cầu pháp lạc, 

Tổn giảm các công đức, 

Xa lìa các pháp lành, 

Là lỗi thích ngủ nghỉ) 

 

Chẳng thể vui thích học Phật, chẳng thể vui thích cầu pháp, nên pháp lạc, pháp hỷ cũng chẳng thể đạt được. Bởi đó, hết thảy những điều kẻ ấy tu học đều chẳng có công đức. Nói theo cách bây giờ, “không có công đức” là chẳng có hiệu quả, chẳng có thành tích. “Công đức” nói theo cách bây giờ là hiệu quả, là thành tích. Dù học Phật nhưng chẳng gây được thành tích, quý vị học chẳng đạt đến được mục tiêu dự định. Ví như công đức của người niệm Phật chúng ta là gì? Chẳng phải nói mỗi ngày tôi niệm mười vạn câu Phật hiệu, mỗi ngày tôi tụng mười bộ kinh Vô Lượng Thọ là công đức đâu nhé! Chẳng phải vậy, mà là quý vị ra sức công phu rồi cuối cùng có đạt được gì hay không? Nếu có đạt được thì quý vị tu mới có công đức, [công đức là] sau khi dụng công đạt được ấy mà! 

Đạt được cái gì? Mức thấp nhất là công phu thành phiến. Thế nào là “công phu thành phiến”? Quý vị công phu sao cho dẹp yên hết vọng tưởng, tạp niệm, phiền não, chẳng cho chúng khởi tác dụng, thì gọi là “công phu thành phiến”. Ta niệm Phật để làm gì? Dùng Phật để chèn ép tâm tham chẳng cho nó khởi tác dụng. Gặp chuyện chẳng vừa ý, tâm phiền não khởi lên, A Di Đà Phật bèn đè phiền não xuống, thật sự đè nén được, thật sự chẳng khởi tác dụng. Niệm đức Phật là Công, đè nén được gọi là Đức. Chẳng thể nói một mặt niệm Phật, một mặt khởi phiền não; như vậy chẳng có tác dụng chi hết. Niệm Phật như thế chẳng gọi là công đức; so ra chỉ tốt hơn nói bậy bạ, chửi người khác một chút thôi, chẳng có công đức! 

Công phu sâu hơn nữa là Sự Nhất Tâm Bất Loạn, công phu cao hơn nữa là Lý Nhất Tâm Bất Loạn, đó gọi là công đức. Chúng ta nhất định phải hiểu rõ, minh bạch điều này. Kẻ kia chẳng có tâm chân chánh cầu pháp, nên đương nhiên chẳng có thành tích, đương nhiên chẳng có hiệu quả? “Xa lìa các bạch pháp”: hết thảy thiện pháp đều chẳng sanh. 

 

Chánh kinh: 

Bỉ nhân tâm khiếp nhược, 

Hằng thiểu ư hoan hỷ, 

Chi phần đa luy sứu, 

Thị nhạo thùy miên quá. 

(Kẻ ấy tâm khiếp nhược, 

Luôn luôn ít vui mừng, 

Chi phần hay yếu gầy, 

Là lỗi thích ngủ nghỉ) 

 

Bài kệ này ý nói kẻ ngủ nhiều thân tâm chẳng khỏe mạnh, “tâm khiếp nhược” là trong tâm chẳng khang kiện, lắm nỗi ưu tư, ít vui vẻ. Câu “chi phần…” ý nói tứ chi, tay chân trên thân đều gầy yếu. Đó là thân thể chẳng khang kiện. 

 

Chánh kinh: 

Tự tri thân giải đãi, 

Tật đố tinh tấn giả, 

Nhạo thuyết kỳ quá ác, 

Thị nhạo thùy miên quá. 

(Tự biết mình giải đãi, 

Ganh ghét người tinh tấn, 

Thích nói lỗi kẻ ấy, 

Là lỗi thích ngủ nghỉ) 

 

Bản thân kẻ ấy chẳng tinh tấn, giải đãi, tham ngủ, kẻ ấy cũng tự biết, nhưng đối với người tinh tấn vẫn cứ ghen ghét, vẫn kể tật xấu của người ấy, vẫn kể lỗi lầm của người ấy. Tạo nghiệp đấy! Đấy thật là tội chồng thêm tội! 

 

Chánh kinh: 

Trí giả liễu kỳ quá, 

Thường ly ư thùy miên. 

(Kẻ trí rõ lỗi ấy, 

Thường rời thói ngủ nghỉ) 

 

Phật dùng hai câu này cảnh tỉnh chúng ta, người có trí huệ biết rõ lỗi hại của ngủ nghê, cho nên “thường rời thói ngủ nghỉ”, “rời thói ngủ nghỉ” là như đức Phật dạy ta ngủ vào lúc trung dạ. Sơ dạ là từ sáu giờ chiều đến mười giờ đêm, hậu dạ là từ hai giờ sáng đến sáu giờ sáng. Phật dạy chúng ta thời gian ngủ là bốn tiếng đồng hồ, mười giờ tối đi ngủ, hai giờ sáng thức dậy. Thật sự, hiện tại chúng ta làm không được, nghiệp chướng chúng ta sâu nặng, ngủ bốn tiếng thể lực không khôi phục được, bởi thế phải ngủ sáu tiếng. Ngủ sáu tiếng thì nếu như mười giờ đêm đi ngủ, bốn giờ sáng thức dậy, đại khái mọi đạo tràng hiện tại của chúng ta đều như vậy: bốn giờ sáng thức dậy tụng khóa sáng, đó là đã trừ hao rồi. 

 

Chánh kinh: 

Ngu nhân tăng kiến võng 

(Kẻ ngu tăng lưới kiến) 

 

“Tăng” là tăng trưởng, “kiến” là tà tri tà kiến. 

 

Chánh kinh: 

Vô lợi, tổn công đức, 

Trí giả thường tinh tấn, 

Cần tu thanh tịnh đạo. 

(Không lợi, tổn công đức, 

Bậc trí thường tinh tấn, 

Siêng tu đạo thanh tịnh) 

 

Một đằng là người ngu si, một đằng là người trí huệ giác ngộ, hành vi chẳng giống nhau. 

 

Chánh kinh: 

Ly khổ đắc an lạc, 

Chư Phật sở xưng thán. 

(Lìa khổ được yên vui, 

Được chư Phật khen ngợi) 

 

Ngủ nghỉ là khổ, chẳng phải là chuyện vui, huống gì là tham ngủ! Bởi lẽ có nhiều điều lỗi hại như vừa thuật ở trên. 

 

Chánh kinh: 

Thế gian chư kỹ nghệ, 

Cập xuất thế công xảo, 

Giai do tinh tấn lực, 

Trí giả ưng tu tập. 

(Các kỹ nghệ thế gian, 

      Cùng tài khéo xuất thế, 

      Đều do sức tinh tấn, 

      Bậc trí nên tu tập!) 

 

      Các thứ kỹ thuật, kỹ năng thế gian cho đến các tài khéo xuất thế gian đều sanh từ tinh tấn, tuyệt đối chẳng phải là kẻ biếng nhác có thể đạt được! Hiện tại trong thế giới này, do giao thông thuận tiện, nhanh chóng, thông tin phát triển, người ngoại quốc đã nhìn người Trung Quốc chúng ta bằng con mắt khác. Trong quá khứ họ xem thường người Trung Quốc, chẳng để người Trung Quốc vào mắt, chỉ nghe nói thôi: Người Trung Quốc rất ngu si, rất vụng về, cho nên họ xem thường. 

Khi xưa, người Tàu ra ngoại quốc (chẳng hạn như Mỹ quốc) đều làm cu- ly (coolie), chẳng phải là nghề nghiệp cao quý gì. Hiện tại giao thông thuận tiện, nhanh chóng, thông tin phát đại, chúng ta đi ra ngoài nhiều, người ngoại quốc hiểu biết, họ nói theo lương tâm: Nếu đem so từng người một trên thế giới với nhau, người Trung Quốc hạng nhất. Trí huệ, tài nghệ người Trung Quốc không ai sánh bằng, họ hết sức bội phục. So sánh từng hai người một, người Do Thái bậc nhất. So sánh từng ba người một, người Nhật Bổn bậc nhất. Điều này cho thấy người Trung Quốc tuy ưu tú, thông minh phi thường, nhưng chẳng đoàn kết chi cả! Mạnh ai nấy làm, không hợp tác. 

Tôi đến Nữu Ước hoằng pháp lần thứ nhất vào năm 1983, gặp người ngoại quốc nói với tôi như thế. Rốt cục, vẫn là chẳng coi trọng, vẫn là xem nhẹ người Trung Quốc, vẫn coi thường. Nói với tôi điều ấy xong, cuối cùng, ông ta hỏi tôi: 

- Người Trung Quốc các ông vì sao không đoàn kết? 

      Câu hỏi này thật hay! Tôi thấy người ngoại quốc toàn là giáo đồ Cơ Đốc, bèn bảo người ấy: 

- Đấy là do Thượng Đế an bài. 

      Ông ta kinh ngạc, nói: 

- Vì sao do Thượng Đế an bài? 

      Tôi nói: 

- Nếu người Trung Quốc đoàn kết lại, các ông chẳng còn cơm ăn đâu! 

      Mọi người cười rần xong chuyện. Người Trung Quốc đoàn kết, người trên thế giới không có cơm ăn đâu, toàn thế giới này là người Tàu hết! May là người Tàu không đoàn kết, nên họ vẫn có cơm ăn. Nay trong cách nhìn của người ngoại quốc, chẳng dám xem thường người Tàu nữa. Bởi thế, bất cứ dân tộc, quốc gia nào trên toàn thế giới đều sợ Trung Quốc đoàn kết, đấy là điều họ hoảng sợ nhất. Hiện tại chúng ta nói chuyện thống nhất, chuyện đoàn kết, họ sợ chết khiếp, tôi nói thật đấy! 

 

      Chánh kinh: 

Nhược nhân thú Bồ Đề, 

Liễu tri thùy miên quá, 

An trụ tinh tấn lực, 

Giác ngộ sanh tàm quý, 

Thị cố chư trí giả,

Thường sanh tinh tấn tâm, 

Xả ly ư thùy miên, 

Thủ hộ Bồ Đề chủng.

(Nếu ai hướng Bồ Đề, 

Biết rõ lỗi ngủ nghỉ, 

An trụ sức tinh tấn, 

Giác ngộ sanh hổ thẹn, 

Vì thế, những bậc trí, 

Thường sanh lòng tinh tấn, 

Bỏ lìa thói ngủ nghỉ, 

Thủ hộ giống Bồ Đề) 

 

Hai bài kệ cuối cùng là đức Thế Tôn phó chúc chúng ta: Nếu chúng ta có chí hướng liễu sanh tử, xuất tam giới, nhất là niệm Phật vãng sanh bất thoái thành Phật, tức là hướng đến Đại Bồ Đề, thì nhất định phải biết những lỗi lầm của ngủ nghê, phải biết bớt ngủ, phải nỗ lực tinh tấn, chúng ta mới hòng thành tựu. 

 

Chánh kinh: 

Nhĩ thời, Di Lặc Bồ Tát nhi bạch Phật ngôn: 

- Hy hữu Thế Tôn! Nhạo trước thùy miên nãi hữu như thị vô lượng quá thất. Nhược hữu văn giả, bất sanh ưu hối, yểm ly chi tâm, phát khởi tinh tấn, đương tri thị nhân, thậm đại ngu si. 

(Lúc bấy giờ, Di Lặc Bồ Tát bèn bạch Phật rằng: 

- Hy hữu thay đức Thế Tôn! Tham đắm ngủ nghỉ bèn có vô lượng lỗi lầm như thế. Nếu kẻ nào nghe thấy, chẳng sanh tâm buồn hối, chán lìa, phát khởi tinh tấn, nên biết kẻ ấy hết sức ngu si) 

 

Đoạn cuối cùng là Di Lặc Bồ Tát từ bi vô cùng, Ngài nghe đức Phật răn dạy xong, bèn vì chúng ta tổng kết. Mỗi chữ, mỗi câu trong đoạn này đều là lời khuyến khích, cảnh tỉnh chúng ta, chúng ta phải thể hội. Đúng như