Lược
giảng
kinh
Phát Khởi Bồ Tát Thù Thắng Chí Nhạo,
Phần
I
I.
GIẢNG
KINH DUYÊN KHỞI
Chư vị đại đức đồng tu! Ngày hôm nay nhân duyên thù thắng
phi thường: Nghi thức xuất gia của nhà Phật đều cử hành
vào giờ Ngọ. Sau khi nghi thức hoàn tất, theo thông lệ là
cúng Phật. Nghi thức chúng ta cử hành hôm nay vào thời khắc
này có ý nghĩa chẳng kém tầm thường, thật sự có quan hệ
mật thiết phi thường với bản kinh này. Đức Thế Tôn đã
giảng cho chúng ta một bộ kinh, nói theo ngôn ngữ hiện đại,
là từ ba ngàn năm trước Ngài đã biết trước thời hiện
tại, hàng tại gia, xuất gia dù tu học theo một pháp môn nào:
Hiển giáo, Mật giáo, Tông môn, Giáo hạ, cho đến Tịnh Độ
đều chẳng thể thành tựu.
Nguyên nhân rốt cuộc là do đâu?
Đức Di Lặc Bồ Tát từ bi phi thường, thay mặt chúng ta khải
thỉnh, mong Thế Tôn vì chúng ta chỉ dạy tường tận. Nếu
như chúng ta thật sự có thể y chiếu theo lời răn dạy trong
kinh này, chú tâm thể hội, phản tỉnh, sửa lỗi đổi mới,
quay đầu về bờ, được như thế thì pháp mình tu, hạnh
mình hành trong một đời quyết định được thành tựu. Đấy
chính là nhân duyên giảng kinh lần này của chúng tôi. Do thời
gian hữu hạn, nên trong lần này, chúng tôi chỉ chọn lấy
những điểm trọng yếu trong kinh văn để giới thiệu, xem
nhiều lần sẽ hiểu được, còn như những danh từ, thuật
ngữ thường được giảng tại giảng đường, chúng tôi đều
tỉnh lược cả.
II.
BẢO
TÍCH - PHÁP BẢO TÍCH TẬP
Trước khi giảng kinh, trước hết sẽ giới thiệu đơn giản
về bộ kinh này. Bản kinh này là một hội trong kinh Đại
Bảo Tích; vì thế, trước hết, tôi sẽ giới thiệu sơ lược
kinh Đại Bảo Tích.
Ngẫu Ích đại sư nói: “Bắt đầu từ Hoa Nghiêm, kết thúc
tại Đại Niết Bàn”. Câu nói này bao quát toàn bộ bốn
mươi chín năm giảng kinh thuyết pháp của đức Thích Ca Mâu
Ni Phật. “Hết thảy pháp tạng Bồ Tát đều gọi là Phương
Đẳng”. Thế nên phạm vi của Phương Đẳng rộng phi thường.
“Phương”
là phương tiện. Trong nhà Phật thường nói: “Từ bi là gốc,
phương tiện là cửa”. Hết thảy kinh pháp đức Phật nói
đều là pháp phương tiện, chứ chân thật thuyết pháp chẳng
thể nói ra. Luận về chân thật, thường nói: “Ngôn ngữ
đạo đoạn, tâm hành xứ diệt”. Bởi thế pháp gì nói ra
được đều là pháp phương tiện cả.
“Đẳng”
là bình đẳng, ý nghĩa giống với chữ “Bình Đẳng Giác”
trong đề mục kinh Vô Lượng Thọ. Sở dĩ Phương Đẳng đại
biểu toàn bộ Phật pháp là vì xưa kia, Tổ Sư đại đức
đem giáo pháp cả một đời của đức Thế Tôn chia thành
năm thời kỳ. Phương Đẳng thuộc thời kỳ thứ ba, điều
này có ý nghĩa đặc biệt.
“Nay
trong pháp Đại Thừa, chọn riêng những pháp thích hợp với
đại cơ gọi là Hoa Nghiêm bộ”. Vì thế, đối tượng của
kinh Hoa Nghiêm là người căn tánh thượng thượng thừa, bốn
mươi mốt địa vị Pháp Thân Đại Sĩ nói trong kinh đó chính
là đương cơ của Hoa Nghiêm. Còn thì “dung thông Không - Hữu”,
Không - Hữu bất nhị, tánh tướng như một, những pháp nói
như thế thuộc về Bát Nhã bộ. Ấy là do trí tuệ chân thật
mới có thể thấu rõ chân tướng sự thật. “Khai Quyền
hiển Tích” là Pháp Hoa. “Hiện diệt bàn Thường, gọi là
Niết Bàn bộ”. Duyên giáo hóa của Phật Thích Ca Mâu Ni đã
hết, thị hiện nhập Niết Bàn, di giáo tối hậu cảnh tỉnh
chúng ta tu học phải hạ thủ chỗ nào. Những lời răn dạy
ấy xếp vào bộ Niết Bàn. Đó là bốn giai đoạn của pháp
Đại Thừa.
“Kỳ
dư, dù Hiển hay Mật, hoặc đối Tiểu hiển Đại” (trái
với Tiểu Thừa gọi là Đại Thừa) “hoặc dạy khắp nhân
quả, sự lý, hạnh vị, trí đoạn của chư Phật, Bồ Tát”
(Hạnh là tu hành, Vị là quả vị chứng đắc. Ví như năm
mươi mốt địa vị Bồ Tát: Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh,
Thập Hồi Hướng... đều thuộc vào Vị. “Trí đoạn”:
Trí là trí huệ, Đoạn là đoạn phiền não, đoạn vô minh.
Nói đến đoạn phiền não thì nhất định phải khai trí huệ;
Định chỉ có công năng khuất phục phiền não, chẳng thể
đoạn nổi phiền não) “đấy đều là bộ Phương Đẳng”
(do đó, có thể biết là nội dung của Phương Đẳng rộng
lớn phi thường), “chẳng giống như lời ngoa truyền trong
đời, nói [thời Phương Đẳng] chỉ gồm tám năm”. Đấy
là lời giảng thông thường về năm thời thuyết giáo, ý
nghĩa hạn hẹp phi thường.
Chữ
Phương Đẳng được giảng ở đây so ra chẳng giống với
ý nghĩa được giảng trong tông Thiên Thai, [tôi giảng] chữ
“Phương Đẳng” này bao quát hết thảy kinh giáo đức Thế
Tôn đã nói trong bốn mươi chín năm. Nhân vì kinh Đại Bảo
Tích thuộc bộ Phương Đẳng nên trước hết, tôi giới thiệu
sơ lược qua ý nghĩa của Phương Đẳng.
Kinh Đại Bảo Tích có bốn mươi chín hội, gồm bảy mươi
bảy phẩm. Mỗi một hội là một bộ kinh. Do đó có thể
biết là bộ kinh Đại Bảo Tích này giống hệt như tụ tập
các kinh tạo thành một bản hợp tuyển vậy. Nội dung kinh
rất phong phú, người phiên dịch bộ kinh này cũng chẳng phải
là một người, mà do nhiều người phiên dịch. Vì thế, các
sư có vị phiên dịch một hội, cũng có vị phiên dịch hai
hội, ba hội. Trước đời Đường, chưa có ai tập hợp các
kinh này lại, nên chúng được lưu hành từng bộ riêng rẽ.
Kinh Vô Lượng Thọ của Tịnh tông chúng ta cũng nằm trong
kinh Đại Bảo Tích, bản được phiên dịch vào thời Đường
là hội thứ năm của kinh Đại Bảo Tích [mang tên] “Vô Lượng
Thọ Hội”.
Ngài
Bồ Đề Lưu Chí đến Trung Quốc vào thời Võ Tắc Thiên nhà
Đường. Ngài thấy đại bộ phận kinh Đại Bảo Tích gần
như đã được phiên dịch ra nhưng chưa hoàn chỉnh. Vì thế,
một lần nữa Ngài lại đem những chỗ người khác chú thích
nhưng chưa phiên dịch, dịch toàn bộ ra, cho nên Ngài dịch
được ba mươi sáu hội, gồm ba mươi chín quyển. Sau đó,
đem các bản dịch của những vị pháp sư khác (gồm hai mươi
ba hội, tám mươi mốt quyển) gộp vào gạn lọc, tạo thành
một bộ kinh Đại Bảo Tích hoàn chỉnh. Tổng cộng bốn mươi
chín hội, một trăm hai mươi quyển, hiện tại chúng ta có
thể xem trong Đại Tạng Kinh, hình như ở Đài Loan kinh này
cũng có bản lưu hành riêng. Đấy là toàn bộ kinh Đại Bảo
Tích.
* Vì sao gọi là Bảo Tích?
Có cách giải thích như sau:
“Pháp
bảo tích tập. Là pháp Đại Thừa thâm diệu nên gọi là
Bảo”. Bốn mươi hội trong kinh này là bốn mươi chín bộ
kinh, mỗi một bộ đều thâm diệu chẳng thể nghĩ bàn, vì
thế sánh ví với “Bảo”. “Vô lượng pháp môn gồm thâu
trong đây” cho nên gọi là “Tích”, Tích nghĩa là tụ tập.
“Bảo Tích Kinh Luận quyển một chép:”. Bảo Tích Kinh Luận
là sách chú giải kinh này, nhưng không còn toàn vẹn, chỉ
có bốn quyển, ai chú giải cũng không biết, đã thất truyền,
nhưng lời luận được lưu trong Đại Tạng Kinh, sách này
giải thích đơn giản đề mục kinh. Sách ấy viết: “Hết
thảy các pháp sai biệt trong pháp bảo Đại Thừa, kinh này
gom sạch, nên gọi là Bảo Tích”. Từ một câu này, chúng
ta có thể hiểu được đại khái ý nghĩa của đề mục kinh
này. Giới thiệu giản lược về Phương Đẳng và kinh Đại
Bảo Tích thuộc Phương Đẳng Bộ như thế.
III.
GIỚI
THIỆU SƠ LƯỢC DỊCH GIẢ: NGÀI BỒ ĐỀ LƯU CHÍ
Vừa rồi giới thiệu người phiên dịch kinh rất nhiều, chúng
tôi bất tất giới thiệu từng vị một, chúng tôi chỉ giới
thiệu riêng mình vị tập đại thành là ngài Bồ Đề Lưu
Chí. “Bồ Đề Lưu Chí” là dịch âm tiếng Phạn, “ở
đây nói là Giác Ái”: phiên dịch thành tiếng Trung Quốc
là Giác Ái. Bồ-Đề là Giác, Lưu Chí là Ái. “Người Nam
Thiên Trúc”: lúc ấy, Ấn Độ được gọi là Thiên Trúc,
Ngài là người Nam Ấn Độ. “Đến vào thời Đường Võ
Hậu”: Ngài đến Trung Quốc vào thời đại Võ Tắc Thiên.
“Dịch Tam Tạng kinh”: Ngài là pháp sư dịch kinh.
“Sách
Khai Nguyên Thích Giáo Lục quyển 9 ghi:” Thích Giáo Lục là
mục lục kinh điển Phật giáo, trong mục lục có lời giới
thiệu đơn giản cho mỗi kinh. “Sa-môn Bồ Đề Lưu Chí, vốn
tên là Đạt Ma Lưu Chi”: Tên Ngài vốn là Đạt Ma Lưu Chi,
Đạt-Ma là pháp, Lưu Chi nghĩa là “hy hữu”. Vì thế, Ngài
vốn có tên là Pháp Hy Hữu. “Thiên Hậu đổi tên Ngài thành
Bồ Đề Lưu Chí”: Thiên Hậu là Võ Tắc Thiên. Đại khái,
bà Võ Tắc Thiên cho rằng ý nghĩa cái tên của Ngài không
hay, nên dốc tâm huyết ra đổi tên cho Ngài, đổi thành Giác
Ái. “Tiếng Đường là Giác Ái, người Nam Ấn Độ”. Tống
Cao Tăng Lục quyển 3 ghi: ‘Thích Bồ Đề Lưu Chí, người
xứ Nam Thiên Trúc, thuộc dòng tịnh hạnh bà-la-môn, họ Ca-Diếp”.
Nếu các vị muốn biết rõ chi tiết, hãy xem Tống Cao Tăng
Truyện. Trong quyển 3 bộ Tống Cao Tăng Truyện có chép truyện
Ngài.
IV.
GIỚI
THIỆU ĐẠI LƯỢC BẢN KINH NÀY
Tiếp đây, tôi sẽ giảng về nội dung bản kinh, cũng chỉ
giới thiệu đại lược.
Kinh này thuộc quyển chín mươi mốt và chín mươi hai của
kinh Đại Bảo Tích. Vì thế, kinh văn có hai quyển Thượng
và Hạ, quyển Thượng là quyển chín mươi mốt, quyển Hạ
là quyển chín mươi hai. [Trong kinh Đại Bảo Tích ghi là] “Phát
Thắng Chí Nhạo Hội đệ nhị thập ngũ, Tam Tạng Pháp Sư
Bồ Đề Lưu Chí phụng chiếu dịch”. Trong đó, chữ “chiếu”
chỉ thánh chỉ của Võ Tắc Thiên, Sư tuân mạng lệnh của
Hoàng Đế mà phiên dịch. “Sách Duyệt Tạng Tri Tân đem nội
dung toàn kinh chia ra làm mười lăm đoạn”: Duyệt Tạng Tri
Tân là tác phẩm của đại sư Ngẫu Ích. Ngẫu Ích đại sư
đem toàn bộ kinh này chia thành 15 đoạn, nội dung mỗi đoạn
được giới thiệu như dưới đây.
Đoạn thứ nhất, “Phật ở tại Lộc Uyển, cùng một ngàn
tỳ kheo, năm trăm Bồ Tát cùng nhóm”. Đoạn trên đây thuộc
về Tự Phần đi trước Chánh Tông Phần. Phần này trong Duyệt
Tạng Tri Tân không nhắc đến, ở đây nhân vì giảng bộ
kinh này, để tiện theo dõi, chúng tôi thêm vào, lại chia kinh
thành ba phần lớn. Đoạn thứ nhất và đoạn thứ hai thuộc
Tự Phần.
Đoạn
thứ nhất là Thông Tự, đoạn thứ hai là Phát Khởi Tự.
Trong đoạn thứ hai: “Có các Bồ Tát nghiệp chướng sâu
nặng, nghi hoặc thoái chuyển. Di Lặc Bồ Tát an ủi khiến
họ vui mừng”. Vì thế, đây là đầu mối để hiểu được
bộ kinh này sẽ nói những gì, đoạn này đối với người
học Phật hiện thời của chúng ta trọng yếu phi thường.
Chúng ta đích thực là các Bồ Tát ngu si nghiệp chướng sâu
nặng đấy! Tất cả mọi người đã thọ Bồ Tát giới đều
là Bồ Tát, dẫu đã thọ Bồ Tát giới nhưng vẫn rất ngu
si! Đó chính là điều kinh này nhắc đến.
Đoạn thứ ba thuộc về Chánh Tông Phần. “Có mười sáu
người theo lời khuyên đến chỗ Phật”: thuận theo lời
khuyên bảo của Bồ Tát Di Lặc, mười sáu người theo chân
Di Lặc Bồ Tát đến gặp đức Phật Thích Ca Mâu Ni, sau khi
thấy được Phật họ rất hổ thẹn, thiện căn phát khởi,
“gieo mình xuống đất buồn khóc”. Phật an ủi họ, bảo
họ đứng dậy, thuật lại ác nghiệp phỉ báng pháp sư xưa
kia của họ nên họ nhiều đời nhiều kiếp chịu khổ, tương
lai khi nghiệp báo đó tận, nhất định sẽ sanh về Tây Phương
Cực Lạc thế giới. Do đấy có thể biết là bọn họ trong
nhiều đời nhiều kiếp trước đã từng học qua pháp môn
Tịnh Độ, đều niệm đức Phật A Di Đà, chỉ vì nghiệp
chướng quá nặng nên chẳng thể vãng sanh, ở trong lục đạo
chịu hết nỗi khổ.
Đoạn thứ tư: “Khi ấy, các Bồ Tát liền phát mười ba
hoằng thệ, Phật khen ngợi ấn khả”: Mười sáu vị Bồ
Tát ấy thật là hy hữu, ít người được vậy, bọn họ
nghe Phật chỉ dạy bèn chân chánh sám hối, hồi đầu sửa
lỗi đổi mới, phát mười ba hoằng thệ. Đức Phật nghe
xong rất khen ngợi họ.
Đoạn thứ năm: “Nhân đấy, Di Lặc Bồ Tát bèn hỏi trong
đời mạt, Bồ Tát thành tựu mấy pháp thì được an ổn
độ thoát”. Vấn đề này rất trọng yếu. Thời kỳ Mạt
Pháp chính là thời đại của chúng ta. Hiện tại chúng ta
nên thành tựu bao nhiêu pháp thì mới có thể an ổn thoát
ly lục đạo luân hồi, thoát ly biển khổ sanh tử.
Đoạn thứ sáu, “Phật đáp dùng hai loại bốn pháp”. Hai
loại “bốn pháp” này từ đoạn thứ sáu đến đoạn thứ
bảy. Trong loại thứ nhất, “chẳng tìm lỗi người khác”
là điều thứ nhất; “cũng chẳng cử tội người” là điều
thứ hai; “lìa lời thô, keo kiệt, người ấy sẽ giải thoát”.
Trong thời kỳ Mạt Pháp, bốn điều này tối trọng yếu,
nhất định phải tuân thủ, phải làm cho được. Phật nói
bốn pháp ấy xong, lại nói ra bốn pháp khác, đó là đoạn
thứ bảy. “Hãy bỏ sự biếng nhác” là điều thứ nhất;
“xa lìa các ồn náo” là điều thứ hai; ưa thích chỗ náo
nhiệt là điều chướng ngại rất lớn. “Tịch tĩnh, thường
tri túc”, vâng giữ bốn pháp này “người ấy sẽ giải
thoát”. Đoạn này dạy chúng ta tu hành trong thời kỳ Mạt
Pháp phải có đủ hai loại “bốn pháp” này, tức là đủ
tám pháp mới có thể yên ổn tu học đạt hiệu quả, đạt
được mục tiêu tu học.
Đoạn thứ tám, “tiếp đó, kinh dạy lúc hành pháp thí, tâm
không mong cầu sẽ thành hai mươi điều lợi, lại thành hai
mươi điều lợi nữa”. Hai thứ “hai mươi điều lợi”
này cộng thành bốn mươi thứ lợi ích, phải dùng tâm không
mong cầu để tu hành pháp bố thí mới có thể đạt được!
Đoạn thứ chín thuyết minh các lỗi lầm, ác nghiệp trong
thời kỳ Mạt Pháp, hoàn toàn là nói về những hiện trạng
xã hội cũng như tình trạng của bọn người tu hành chúng
ta. Đọc xong đúng là rét buốt tận xương! Đức Thế Tôn
cách xa chúng ta ba ngàn năm, ba ngàn năm trước Ngài đã thấy
rõ ràng tình trạng tu hành hiện tại của chúng ta, thật có
thể nói là nhân duyên quả báo chẳng sai sót mảy may!
Đoạn thứ mười nói về “tướng trạng bất đồng giữa
huệ hạnh Bồ Tát và sơ nghiệp Bồ Tát”. Chữ “huệ hạnh
Bồ Tát” này chúng ta phải hiểu rõ, nếu không hiểu được
nhất định sẽ không học gì khác được! Thế nào là “huệ
hạnh?”
Khai mở trí huệ, trong nhà Thiền gọi là “đại triệt đại
ngộ, minh tâm kiến tánh”, trong pháp Đại Thừa ta thường
gọi là Pháp Thân Đại Sĩ. Pháp Thân Đại Sĩ mới là huệ
hạnh Bồ Tát. Cũng như những bậc thường được xưng tụng
là “phá một phần vô minh, chứng một phần Pháp Thân”,
người như vậy mới là huệ hạnh Bồ Tát, chưa đạt đến
địa vị ấy thì chẳng phải là huệ hạnh Bồ Tát. Nhân
vì những hành vi, biểu hiện của huệ hạnh Bồ Tát rất
đặc thù, chúng ta chẳng học đòi nổi. Nếu học theo, họ
sanh lên trời, ta bị đọa địa ngục. Đối với điểm này,
đức Phật giảng rất rõ ràng, rất minh bạch.
Đoạn thứ mười hai thuyết minh “sơ nghiệp Bồ Tát phải
nên quán sát cái họa lợi dưỡng”. Sơ Nghiệp là sơ học
Bồ Tát, chúng ta hiện đang thuộc giai đoạn này, nhất định
phải hiểu rõ họa hại của lợi dưỡng, chỉ cần vướng
chút lợi dưỡng thì chẳng những đạo nghiệp chẳng thể
thành tựu mà nhất định còn bị nó lôi vào A Tỳ địa ngục!
Học Phật chẳng thành Phật, ngược lại bị đọa vào A Tỳ
địa ngục, đấy chẳng phải là điều Phật, Bồ Tát mong
trông thấy. Nhưng trong thời kỳ Mạt Pháp, người như vậy
nhiều lắm lắm. Bởi vậy, đoạn kinh văn thuyết minh họa
hại của lợi dưỡng này rất dài.
Đoạn thứ hai là “cũng nên quán sát ồn náo có hai mươi
lỗi, lời lẽ thế gian có hai mươi lỗi”. Đến phần sau
tôi sẽ nói chi tiết cho quý vị. “Ngủ nghê có hai mươi
lỗi, các việc có hai mươi lỗi”. Chữ “các việc” ở
đây chỉ các thứ sự việc chẳng liên quan đến việc tu
hành, hiện tại rất phổ biến vậy!
Mọi
người quên hết cả rồi! Bách Trượng đại sư đã từng
nói: “Phật môn do vô sự mà hưng vượng”. Đạo tràng thế
nào là hưng vượng? Vô sự gọi là hưng vượng. Sự việc
quá nhiều, hương hỏa tưng bừng, tín đồ quá đông, đấy
là tướng suy sụp của Phật môn chứ chẳng phải là tướng
hưng thạnh. Vì sao vậy? Chẳng có ai thành tựu hết. Người
tuy đông nhưng không có một người nào khai ngộ, không ai
chứng quả, thậm chí không một ai có thể vãng sanh thì thạnh
vượng ở đâu? Chúng ta phải nhận thức rõ ràng điều này!
Trong
đoạn thứ mười ba, Phật dạy “chẳng tu các hạnh, chẳng
đoạn phiền não, chẳng tập thiền tụng, chẳng cầu đa văn
thì chẳng phải là người xuất gia!” Đấy là xuất gia chỉ
có hình thức, chứ thật sự ra chư Phật Như Lai chẳng thừa
nhận kẻ ấy là đệ tử xuất gia.
Đoạn
thứ mười bốn thuyết minh hý luận có hai mươi lỗi họa.
Cuối phần Chánh Tông, thuyết minh phát mười thứ tâm có
thể sanh về thế giới Cực Lạc. Vì thế, tối hậu bộ kinh
này cũng dẫn dắt về Cực Lạc. Chúng ta mong quyết định
được sanh về Tịnh Độ của đức Di Đà trong một đời
này nên đối với chúng ta, bộ kinh này cũng trọng yếu phi
thường!
Cuối cùng, đoạn thứ mười sáu là Lưu Thông Phần. Trong
sách Duyệt Tạng Tri Tân của Ngẫu Ích đại sư chỉ giảng
đến đoạn thứ mười lăm, sau đấy lại có một đoạn là
phần Lưu Thông của kinh này. Trên đây tôi đã nói cho quý
vị biết sơ lược đại ý kinh này.
IV.
LƯỢC GIẢI KINH VĂN
A.
TỰ PHẦN
1.
Phật tại Lộc Uyển, năm trăm tỳ-kheo, năm trăm Bồ Tát cùng
nhóm
Chánh
kinh:
Như
thị ngã văn: Nhất thời Phật tại Ba Ly Nại thành, tiên nhân
trụ xứ, thi Lộc Uyển trung.
(Tôi
nghe như thế này, một thời Phật ở tại thành Ba Ly Nại,
ngự trong Lộc Uyển là chỗ trụ của tiên nhân).
Đây là năm thứ thành tựu đầu trong Lục Chủng Thành Tựu;
tôi nghĩ chúng ta có thể tỉnh lược. Ở đây, xứ sở là
Lộc Dã Uyển, một nơi thường được nhắc đến. Tôi nghĩ
trong số các vị đồng tu chúng ta cũng có một vài vị đã
đến thăm Ấn Độ, đến Ấn Độ triều thánh. Nếu vậy,
đã đến thăm các danh thắng cổ tích Phật giáo. Vườn Lộc
Dã là một địa điểm trọng yếu, ban sơ đức Thích Ca Mâu
Ni Phật độ năm vị tỳ-kheo ngay tại ấy. Sau này, chỗ ấy
kiến lập thành tinh xá, Phật cũng giảng khá nhiều kinh điển
tại nơi ấy.
Chánh kinh:
Dữ đại tỳ kheo chúng, mãn túc thiên nhân. Phục hữu ngũ
bách chư Bồ Tát chúng.
(Cùng
chúng đại tỳ kheo đủ cả một ngàn vị, lại có năm trăm
vị Bồ Tát).
Đây
là Chúng Thành Tựu. Lúc ấy, tham gia pháp hội có một ngàn
năm trăm người.
2.
Có các Bồ Tát nghiệp chướng sâu nặng, đầy đẫy hạnh
bất thiện, nghi hoặc thoái chuyển, Di Lặc Bồ Tát an ủi
khiến họ vui mừng
Đây là đoạn thứ hai, chính là Phát Khởi Tự của kinh này.
Chánh kinh:
Thị thời chúng trung, đa hữu Bồ Tát.
(Lúc
ấy trong chúng có nhiều vị Bồ Tát).
Câu này nói về đa số trong năm trăm vị Bồ Tát. Do vậy
biết rằng, những vị Bồ Tát ấy chẳng phải là tầm thường,
họ đa phần là cổ Phật tái lai, cố ý thị hiện như thế
nhằm tạo cơ hội cho Di Lặc Bồ Tát đến thỉnh pháp để
Thích Ca Mâu Ni Phật răn dạy chúng ta. Những lỗi các ngài
phạm chính là những lỗi bọn người hiện tại chúng ta đang
phạm, các vị chỉ đến biểu diễn, lòng từ bi đến mức
cùng cực vậy! Bọn họ mắc những lầm lỗi gì?
Chánh kinh:
Nghiệp chướng thâm trọng, chư căn ám độn.
(Nghiệp
chướng sâu nặng, các căn ám độn).
Câu này là lời thuật tổng quát. Nói gọn một câu là nghiệp
chướng nặng nề! Nghiệp là gì? Nói theo ngôn ngữ hiện đại,
Nghiệp là hoạt động, tạo tác. Hoạt động ấy chướng
ngại trí huệ đức năng sẵn có của tự tánh nên gọi là
“nghiệp chướng”. Nghiệp chướng ấy rất sâu, rất nặng,
cho nên trí huệ đức năng của chúng ta chẳng hiện ra được.
[Trong
câu] “các căn ám độn”, chữ “các căn” chỉ sáu căn.
Sáu căn chẳng thông minh, mắt tuy vẫn có thể thấy nhưng
lắm việc nhìn lầm, tai tuy vẫn có thể nghe nhưng ý nghĩa
đúng đắn chẳng nghe ra. Nhóm chữ này chỉ căn tánh chẳng
lanh lợi. Tiếp theo đây kinh nói mười hai câu, mười hai câu
này là nội dung của bản kinh này. Ở phần sau, với mỗi
một điều Phật sẽ giảng tường tận cho chúng ta. Điều
thứ nhất là:
Chánh kinh:
Thiện pháp vi thiểu
(Thiện
pháp ít ỏi).
Thế
nào là “thiện căn”? Thiện căn pháp thế gian, không tham,
không sân, không si. Chúng ta hãy nghĩ xem là mình có hay không
có [thiện căn]. Nếu như chúng ta tham sân si đều đầy đủ
cả thì căn bản là chúng ta không có thiện căn. Bọn họ
vẫn có thiện căn, nhưng thiện căn ít ỏi; chúng ta không
có thiện căn; làm sao biết vậy? Thiện căn của Bồ Tát là
tinh tấn, còn chúng ta mỗi ngày càng giải đãi, biếng nhác,
tán loạn.
Chánh
kinh:
Háo ư hội náo
(Ưa
nơi náo nhiệt)
Ở
đây, “hội” là “hôn hội” chúng ta thường nói là hồ
đồ. “Hội náo” nghĩa là ồn náo lộn xộn. Các vị có
biết nơi nào là ồn náo lộn xộn chăng? Chính là những chốn
ăn chơi có khá nhiều trong xã hội hiện tại: ca xướng, khiêu
vũ, đấy là những chỗ ồn náo lộn xộn. Bọn họ ưa thích
những chỗ ấy.
Chánh
kinh:
Đàm
thuyết thế sự.
(Bàn
nói thế sự).
Đây
là câu thứ ba. Phạm vi bao quát của “thế sự” rất rộng.
Trong thế sự có cả tà lẫn chánh. Thế nào là chánh? Những
điều Khổng Tử, Mạnh Tử nói là chánh, đều là thế sự
cả! Thế sự bất hảo ư? Thế sự chẳng thể thoát tam giới.
Quý vị phải hiểu rằng: Mục tiêu của Phật pháp là dạy
chúng ta liễu sanh tử, xuất tam giới. Vì thế, sự giáo dục
của Nho giáo dẫu tốt, có thể giúp chúng ta đạt được
thân người, thậm chí giúp chúng ta sanh thiên, nhưng chẳng
thể giúp chúng ta liễu sanh tử, thoát tam giới.
“Thế
sự” là gì? Là mọi việc trong lục đạo. Vui vẻ bàn nói
những chuyện ấy. Ngày nay người ngoại quốc bàn đến khoa
học, kỹ thuật cũng là thế sự. Họ luận đến chuyện vượt
ngoài hư không, nhưng ngoài hư không vẫn là trong luân hồi
lục đạo, vẫn chưa vượt thoát luân hồi lục đạo. Thế
sự có chánh, có tà. Tà là đọa ba ác đạo, Chánh là ba thiện
đạo.
Điều
thứ tư là ưa thích ngủ nghỉ, ham ngủ. Điều thứ năm là:
Chánh
kinh:
Đa
chư hý luận
(Lắm
điều hý luận)
Phạm
vi của “hý luận” cũng rộng rãi phi thường; như thông
thường chúng ta nói giỡn chơi, đều gọi là hý luận.
Chánh
kinh:
Quảng
doanh chúng vụ.
(Rộng
lo liệu các việc).
Trong
xã hội hiện tại, hiện tượng này rất nhiều. “Doanh”
là kinh doanh, “vụ” là sự vụ. “Quảng” là nhiều. Tôi
vừa mới nhắc qua, Bách Trượng thiền sư từng nói: “Phật
môn lấy vô sự làm hưng vượng”; há nên đa sự? Thế nào
là đa sự? Nêu một thí dụ phổ biến để nói, pháp hội
là đa sự, huống gì những chuyện khác! Điều này trong phần
sau đức Phật sẽ giảng rộng, quý vị nhất định phải
hiểu sâu xa ý Phật.
Tu
học Phật pháp là gì? Đề mục kinh Vô Lượng Thọ đã cho
chúng ta biết: “Thanh tịnh, bình đẳng, giác”. Làm nhiều
việc quá thì tâm sao thanh tịnh được? Thù tạc quá nhiều,
chẳng thể thanh tịnh được! Sự vụ quá nhiều chẳng thể
bình đẳng được. Mỗi ngày từ sáng đến tối mê hoặc
điên đảo, làm sao có thể giác ngộ cho được? Đấy chính
là lỗi hại của việc “quảng doanh chúng vụ”. Đấy là
câu thứ bảy.
Chánh
kinh:
Chủng
chủng tham trước.
(Tham
chấp các thứ)
Câu
này phạm vi rất lớn. Tiếng tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục
trần, buông xuống chẳng được! Đây là câu thứ tám.
Chánh
kinh:
Vi
sở bất ưng.
(Làm
điều chẳng nên làm)
Những
điều họ làm đều là điều chẳng nên làm, đều là điều
Phật chẳng cho phép, họ cứ nhiều phen tạo tác. Đây là
câu thứ chín.
Chánh
kinh:
Vọng
thất chánh niệm.
(Hư
vọng mất chánh niệm)
Vọng
là hư vọng. Suốt ngày hư vọng nên chánh niệm bị mất.
Đây là câu thứ mười.
Chánh
kinh:
Tu
tập tà huệ.
“Tà
huệ” như trong nhà Phật thường bảo là thế trí biện thông,
chẳng phải là chân trí huệ. Đây là câu thứ mười một.
Chánh
kinh:
Hạ
liệt tinh cần.
(Siêng
gắng hèn kém).
Bọn
họ cũng rất nỗ lực, một ngày từ sáng đến tối chẳng
nghỉ ngơi, dù bận vẫn vui. Bận bịu những gì? Bận bịu
với sự nghiệp tam đồ. Chữ “hạ” chỉ ba ác đạo, chẳng
phải ba thiện đạo! “Hạ liệt” nghĩa là gì? Vướng tham
sân si, tranh danh đoạt lợi, bọn họ dũng mãnh tinh tấn làm
những việc như thế. Câu cuối cùng là:
Chánh
kinh:
Hành
mê hoặc hạnh.
(Làm
hạnh mê hoặc)
Đây
là hiện tượng bao gồm cả tại gia lẫn xuất gia trong cửa
Phật vào thời Mạt Pháp này. Nếu như chúng ta thật sự chăm
chú phản tỉnh, [sẽ thấy là] nếu mắc căn bệnh này thì
bất luận đang tu học pháp môn nào cũng đều chẳng thể
thành tựu, niệm Phật cũng chẳng thể vãng sanh. Điều kiện
để vãng sanh là tâm phải thanh tịnh - “tâm tịnh thì cõi
nước tịnh”. Tây Phương thế giới là Tịnh Độ, chẳng
phải là uế độ! Vì thế tâm chẳng thanh tịnh, làm sao vãng
sanh được? Mê hoặc là chẳng thanh tịnh, chẳng ứng hợp
Tịnh Độ. Tụng kinh cho nhiều, niệm Phật cho lắm thì cũng
như lời cổ nhân nói: “Long hầu rách họng vẫn uổng công!”,
chỉ có thể kết duyên lành với Tịnh Độ chứ chẳng thể
vãng sanh ngay trong một đời!
Sự
việc như vậy có gì là lạ, chẳng biết là trong đời quá
khứ chúng ta đã làm như thế bao nhiêu lần. Chúng ta có nhân
duyên rất sâu xa với Tây Phương Tịnh Độ, vì sao chẳng
thành tựu? Nói chung là vì phạm phải những lầm lỗi
ấy. Đời đời kiếp kiếp quá khứ phạm phải những lầm
lỗi ấy nên niệm Phật mà chẳng thể vãng sanh. Đời này
gặp được bản kinh này, đấy là nhân duyên hy hữu. Thử
nghĩ nếu lại phạm những lỗi ấy thì một đời này ắt
phải luống uổng. Nếu quả thật có thể thường tích cực
phản tỉnh, sửa lỗi đổi mới, quay đầu là bờ thì trong
một đời này chúng ta quyết định sẽ thành tựu.
Chánh
kinh:
Nhĩ
thời, Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát tại ư hội trung, kiến chư
Bồ Tát cụ túc như thị bất thiện chư hạnh.
(Lúc
bấy giờ, Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát ở trong hội thấy các
Bồ Tát đầy đủ các hạnh bất thiện như thế).
“Cụ
túc”: mười hai điều vừa nhắc đến ở phần trên đều
phạm đủ cả, phạm toàn bộ. Ngài Di Lặc thấy các Bồ Tát
ấy có nhiều lầm lỗi như thế.
Chánh
kinh:
Tác
thị niệm ngôn.
(Nghĩ
như thế này)
Trong
tâm Ngài suy nghĩ.
Chánh
kinh:
Thử
chư Bồ Tát ư vô thượng Bồ Đề, viên mãn đạo phần, giai
dĩ thoái chuyển.
(Các
vị Bồ Tát này đối với vô thượng Bồ Đề, viên mãn đạo
phần, đều đã lui sụt).
Cổ
nhân thường nói: “Người sơ phát tâm thành Phật có dư”.
Sơ Phát Tâm đều là phát thiện tâm, hảo tâm, do nghiệp chướng
sâu nặng, các căn ám độn nên rất dễ bị thoái chuyển,
rất dễ bị mê hoặc, đặc biệt là [mê hoặc] bởi danh tiếng,
lợi dưỡng! Người sơ phát tâm xuất gia không có ai cúng
dường họ, cuộc sống rất thanh bần, khổ sở, đạo tâm
rất kiên định. Tu hành được mấy năm, có chút ít thành
tựu, danh tiếng, lợi dưỡng đưa tới, kẻ ấy lại bị đọa
lạc. Trong có phiền não, ngoài có dụ hoặc, làm sao không
đọa lạc cho được? Vì thế đối với Vô Thượng Bồ Đề
bèn thoái chuyển. Di Lặc Bồ Tát thấy xong bèn khởi tâm từ
bi.
Chánh kinh:
Ngã kim đương linh thị chư Bồ Tát giác ngộ khai hiểu, sanh
hoan hỷ tâm.
(Nay ta nên làm cho các Bồ Tát này giác ngộ, hiểu biết, sanh
lòng hoan hỷ).
Di Lặc Bồ Tát đến giúp đỡ các Bồ Tát ngu si ấy. Ở đây,
chúng ta phải chú ý: Thế nào là đại từ đại bi? Thế nào
gọi là cứu tế bần khổ? Người tu hành không có đạo,
ấy là “bần”. Người tu hành vẫn phạm những lầm lỗi
y như cũ, thật là “khổ”! Ở đây Di Lặc Bồ Tát hành
từ bi cứu tế. Ngài cứu tế các Bồ Tát điên đảo mê hoặc
đó, bảo họ “giác ngộ khai hiểu”, nghĩa là phá mê khai
ngộ. Giúp đỡ hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ là đại
từ đại bi, là chân chánh cứu tế.
Chánh kinh:
Tác thị niệm dĩ.
(Nghĩ như vậy xong).
Di Lặc Bồ Tát khởi lên ý niệm ấy xong.
Chánh kinh:
Tức ư bô thời, tùng thiền định khởi.
(Liền sau giờ Ngọ, từ thiền-định dậy).
“Bô thời” là sau Ngọ, sau khi dùng Ngọ trai xong, Ngài từ
thiền định xuất.
Chánh kinh:
Vãng đáo kỳ sở, cộng tương úy vấn, phục dĩ chủng chủng
nhu nhuyễn ngôn từ, vị thuyết pháp yếu, linh kỳ hoan hỷ.
(Đến chỗ bọn họ cùng nhau an ủi, thăm hỏi, lại dùng các
lời lẽ mềm mỏng nói pháp yếu khiến họ hoan hỷ).
Đích thực là Di Lặc Bồ Tát rất có trí huệ, nói theo cách
chúng ta ngày nay là trí huệ cao độ! Ngài chẳng trách móc
bọn họ, mà đến an ủi họ, lời lẽ nhu hòa, dịu dàng an
ủi họ khiến họ sanh lòng vui mừng, sanh hảo cảm đối với
Bồ Tát. Phải dùng cách khéo như vậy để họ tiếp thọ
lời dẫn dụ của Ngài.
Chánh kinh:
Nhân cáo chi viết: “Chư nhân giả!”
(Nhân đó bảo rằng:“Này các nhân giả!”)
“Chư nhân giả” là tiếng tôn xưng bọn họ.
Chánh kinh:
Vân hà nhữ đẳng ư vô thượng Bồ Đề viên mãn đạo phần
nhi đắc tăng trưởng, bất thoái chuyển da?
(Các vị làm thế nào để đối với vô thượng Bồ Đề
viên mãn đạo phần được tăng trưởng, chẳng thoái chuyển
vậy?)
Lời hỏi rất khéo! Chẳng trách móc họ phạm lỗi lầm, chẳng
trách họ thoái chuyển, trái lại Ngài hỏi: Đối với vô
thượng Bồ Đề viên mãn đạo phần, các vị có phương pháp
nào làm cho nó tăng trưởng, chẳng thoái chuyển hay chăng?
Chúng ta phải học tập điểm này: bình thường đối người,
đối sự, đối vật phải nói năng thế nào để thật sự
giúp người giác ngộ, giúp người sửa lỗi đổi mới, chẳng
dùng lời lẽ trách móc, mà phải dùng những lời quan hoài,
thương yêu, che chở, dùng phương pháp dẫn dụ khơi gợi.
Ở đây ta mới thấy chỗ cao minh của Di Lặc Bồ Tát. Vì
thế, lúc bọn họ nghe Ngài nói đều rất hoan hỷ, vui vẻ
trò chuyện với Ngài.
Các vị xem nhé!
Chánh kinh:
Thị chư Bồ Tát đồng thanh bạch ngôn:
- Tôn giả! Ngã đẳng kim ư vô thượng Bồ Đề viên mãn đạo
phần vô phục tăng trưởng, duy hữu thoái chuyển.
(Các vị Bồ Tát ấy đồng thanh thưa rằng:
- Thưa tôn giả! Chúng tôi nay với vô thượng Bồ Đề viên
mãn đạo phần chẳng còn tăng trưởng, chỉ có thoái chuyển).
Những người ấy đều thưa thật: Đối với vô thượng Bồ
Đề chúng tôi không tăng trưởng, ngày càng lui sụt!
Chánh kinh:
Hà dĩ cố?
(Vì sao vậy?)
Vì sao chúng tôi ngày càng lui sụt?
Chánh
kinh:
Ngã tâm thường vị nghi hoặc sở phú.
(Tâm tôi thường bị nghi hoặc che phủ)
Tham, sân, si, mạn, nghi. Nghi là phiền não trọng đại đối
với Bồ Tát, là chướng ngại nghiêm trọng đối với tu học.
Bọn họ có nghi, có Hoặc. Hoặc là mê hoặc.
Chánh kinh:
Ư vô thượng Bồ Đề bất năng giải liễu.
(Đối với vô thượng Bồ Đề chẳng thể hiểu rõ).
Câu này ý nói bọn họ nghiệp chướng sâu nặng, tuy thường
nghe Thế Tôn giảng kinh thuyết pháp, nghe xong chẳng hiểu rõ
chi mấy, chẳng những không thể liễu giải, còn lắm phen
nghe
lầm lời Phật dạy, hiểu lầm ý nghĩa. Lúc chúng ta khai kinh
kệ, niệm “nguyện giải Như Lai chân thực nghĩa”. Bọn
họ hiểu lầm ý nghĩa chân thật của Như Lai, hiểu cong quẹo
ý nghĩa lý chân thật của đức Như Lai. Ấy là tướng nghiệp
chướng sâu nặng, tiếp theo đây các vị nói rất rõ.
Chánh
kinh:
Vân
hà ngã đẳng đương tác Phật da? Bất tác Phật da?
(Vậy
thì chúng tôi sẽ thành Phật ư? Chẳng thành Phật ư?)
Đây
là nêu lên một thí dụ cụ thể để minh họa. Bọn họ thường
hoài nghi: Học Phật là tốt hay chẳng học Phật là tốt?
Thành Phật là tốt hay chẳng thành Phật là tốt? Thường
có vấn đề như thế, đó là hoài nghi thiện pháp.
Chánh
kinh:
Ư
đọa lạc pháp diệc bất năng liễu!
(Với
pháp đọa lạc cũng chẳng rõ được).
Tam
đồ lục đạo, gieo thiện nhân được thiện quả, tạo ác
nghiệp nhất định phải thọ ác báo. Phật cũng đã giảng
rất rõ ràng, nhưng họ đối với điều ấy vẫn nghi hoặc!
Chánh
kinh:
Vân
hà ngã đẳng đương đọa lạc da? Bất đọa lạc da?
(Vậy
thì chúng tôi sẽ đọa lạc ư? Chẳng đọa lạc ư?)
Chúng
tôi có bị đọa lạc hay chăng? Đọa lạc thật sự hay là
chỉ đọa lạc giả? Những nghi vấn ấy thường xuyên hiện
hữu.
Chánh
kinh:
Dĩ
thị nhân duyên, thiện pháp dục sanh thường vị nghi hoặc
chi sở triền phú.
(Bởi
nhân duyên ấy, thiện pháp sắp sanh thường bị nghi hoặc
ràng buộc, che phủ)
Lẽ
đương nhiên là trong bất cứ thời đại nào, bất cứ cá
nhân nào chẳng thể không có lấy một thiện niệm. Hết thảy
chúng sanh đều là thiện ác hỗn tạp, có lúc thiện nhiều,
ác ít, lại có lúc ác nhiều, thiện ít nên mới hình thành
lục đạo và mười pháp giới. Bọn họ sanh thiện niệm,
nhưng chỉ vì nghi hoặc nên lúc hoài nghi thì thiện chẳng
thể hình thành, lúc đó rất dễ thoái chuyển. Những vị
Bồ Tát này đều rất thành thật, rất khó có. Nói theo ngôn
ngữ hiện nay là bọn họ còn tự biết rõ mình, vẫn kể
là chưa lầm lạc! Dù có phạm lầm lỗi, vẫn còn có thể
cứu, vì thế Di Lặc Bồ Tát đến cứu bọn họ.
Chánh
kinh:
Nhĩ
thời, Di Lặc Bồ Tát nhi cáo chi viết:
- Chư
nhân giả! Khả cộng vãng nghệ Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến
Tri sở. Nhi bỉ Như Lai nhất thiết tri giả, nhất thiết kiến
giả, cụ túc thành tựu vô chướng ngại trí, giải thoát
tri kiến, dĩ phương tiện lực thiện tri nhất thiết chúng
sanh sở hạnh, đương vị nhữ đẳng tùy kỳ căn tánh chủng
chủng thuyết pháp.
(Lúc
bấy giờ, Di Lặc Bồ Tát bảo họ rằng:
- Các
nhân giả! Nên cùng đến chỗ Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến
Tri. Đức Như Lai là bậc biết hết thảy, bậc thấy hết
thảy, thành tựu đầy đủ trí vô chướng ngại, giải thoát
tri kiến, dùng sức phương tiện khéo biết sở hạnh của
hết thảy chúng sanh, Ngài sẽ vì các ông thuyết pháp các
thứ tùy theo căn tánh).
Đây
cũng là điểm cao minh của Di Lặc Bồ Tát. Di Lặc Bồ Tát
chẳng thể thuyết kinh giảng pháp cho họ ư? Đương nhiên
là có thể.
Vì
sao Di Lặc Bồ Tát chẳng thuyết pháp? Bởi vì họ thuộc vào
địa vị Bồ Tát, chưa chắc bọn họ đã tin tưởng vào lời
giảng kinh thuyết pháp của Ngài. Vì thế, Di Lặc Bồ Tát
giới thiệu: “Chúng ta đi gặp Phật”. Mọi người nghe đến
Phật đương nhiên chẳng dị nghị, chúng ta cùng nhau đi đến
chỗ Phật.
“Như
Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri” là ba thứ trong mười danh
hiệu của đức Như Lai, chúng tôi cũng không giải thích chi
tiết. Câu “nhi bỉ Như Lai, nhất thiết tri giả, nhất thiết
kiến giả” là lời tán thán trí huệ đức năng của Phật:
không chi chẳng biết, không gì chẳng thể! Ý nói: quả vị
Phật là thành tựu đầy đủ, chẳng có một mảy gì thiếu
khuyết. Trí huệ Phật đầy đủ viên mãn, Phật tự tại
viên mãn, hơn nữa phương pháp của Phật hay khéo phi thường.
“Dùng sức phương tiện” dạy dỗ chúng sanh khế cơ, khế
lý.
Trước
hết nói “thành tựu đầy đủ trí vô chướng ngại, giải
thoát tri kiến”, đó là Lý. Phật thuyết pháp khế lý! Lại
nói “khéo biết sở hạnh của hết thảy chúng sanh”: hết
thảy chúng sanh đời đời kiếp kiếp đã tạo nhân gì, thọ
quả báo gì, Phật đều biết cả, vì thế thuyết pháp bèn
khế cơ. Bọn họ đến gặp Phật, nhất định đức Phật
sẽ tùy theo căn tánh của mỗi người mà thuyết pháp các
thứ. Ấy là khế cơ, khế lý.
Kinh
văn chia làm ba phần: Phần Phát Khởi đến đây là hết. Đó
là một đoạn lớn. Dưới đây là phần mở đầu phần Chánh
Tông của kinh, phải nên đơn khởi một hạnh. Bản kinh hiện
thời tôi bảo thầy Ngộ Quảng sao từ bản Tần Già Tạng
ra, rồi lại dựa theo Đại Chánh Tạng phân thành đoạn. Tiêu
chuẩn phân đoạn trong Đại Chánh Tạng có rất nhiều vấn
đề, quý vị cứ xem kinh văn thì thấy ngay, quý vị xem kỹ
thì thấy bốn chữ (1) là một câu, cho nên đọc tụng chẳng
khó.
B.
CHÁNH
TÔNG PHẦN
1.
Có mười sáu vị Bồ Tát nghe theo lời khuyên đến chỗ Phật,
gieo mình xuống đất buồn khóc, Phật an ủi bảo họ đứng
dậy, lại nói lỗi xưa: ác nghiệp phỉ báng pháp sư, thọ
nhiều nỗi khổ, về sau cũng sẽ được vãng sanh thế giới
Cực Lạc
Chánh
kinh:
Thị
thời, ngũ bách chúng trung, hữu thập lục Bồ Tát dữ Di Lặc
Bồ Tát vãng nghệ Phật sở, ngũ thể đầu địa, đảnh lễ
Phật túc, bi cảm lưu lệ, bất năng tự khởi. Di Lặc Bồ
Tát tu kính dĩ tất, thoái tọa nhất diện.
(Lúc
ấy, trong số năm trăm người có mười sáu Bồ Tát cùng Di
Lặc Bồ Tát đi đến chỗ Phật, năm vóc gieo xuống đất,
đảnh lễ dưới chân Phật, bi cảm ứa lệ, chẳng thể tự
đứng lên. Di Lặc Bồ Tát kính lễ xong xuôi, lui ra ngồi một
phía).
Đương
thời, trong hội có năm trăm vị Bồ Tát, trong năm trăm người
chỉ có mười sáu vị nghe Di Lặc Bồ Tát bảo xong, theo Di
Lặc Bồ Tát đi gặp Thích Ca Mâu Ni Phật. Những vị Bồ Tát
vừa thuật lỗi mình ấy đều là đại quyền thị hiện.
Khi Di Lặc Bồ Tát đem những vị ấy đến trước đức Thế
Tôn, sau khi hành lễ hoàn tất, bèn lui ra ngồi.
Chánh
kinh:
Nhĩ
thời, Phật cáo chư Bồ Tát ngôn:
- Chư
thiện nam tử! Nhữ ưng đương khởi, vật phục bi hiều, sanh
đại nhiệt não.
(Lúc
bấy giờ, đức Phật bảo các Bồ Tát rằng:
- Các
thiện nam tử! Các ông hãy đứng lên, đừng có buồn khóc,
sanh nhiệt não lớn)
Sau
khi chí tâm lễ kính, Di Lặc Bồ Tát ngồi lui qua một bên,
mười sáu vị Bồ Tát ấy quỳ mọp dưới đất chẳng đứng
lên, sám hối như vậy rất khó ai hơn! Vì thế, đức Phật
thấy tình trạng họ như thế bèn an ủi họ, bảo bọn họ
chớ nên bi thương, cũng đừng có buồn khổ.
Ở
đây có một điểm thường thức, nhân tiện bảo cho các vị
luôn. Nếu như trong phần Chánh Tông bắt đầu bằng câu “Nhĩ
thời, Phật cáo chư Bồ Tát...” thì trong tựa kinh có thể
thêm chữ “Phật thuyết” thành ra “Phật thuyết Phát Khởi
Bồ Tát Thù Thắng Chí Nhạo Kinh”; cũng như nếu câu thứ
nhất của phần Chánh Tông là ‘Phật nói’ thì thông thường
trên tựa đề kinh để thêm chữ “Phật thuyết”. Nếu câu
thứ nhất chẳng phải là “Phật thuyết” thì tựa đề
chẳng thêm chữ “Phật thuyết”. Bởi thế, quả thật ở
đây phần Chánh Tông bắt đầu bằng “Nhĩ thời, ngũ bách
chúng trung hữu thập lục Bồ Tát” nên không thêm chữ “Phật
thuyết”. Đây là một điểm thường thức, từ rày các vị
xem kinh điển, thấy kinh thì đề Phật thuyết, có kinh chẳng
đề. Tựa kinh không thêm chữ “Phật Thuyết” bèn gạn là
không phải là do Phật nói sao? Vẫn là do Phật nói, thêm chữ
“Phật thuyết” hay không là do câu thứ nhất của phần
Chánh Tông có hay không có chữ “Phật thuyết”.
Phần
khai thị của Phật ở đoạn sau trọng yếu phi thường, chúng
ta phải nên cảnh tỉnh, kinh sợ.
Chánh
kinh:
Nhữ
ư vãng tích, tạo tác ác nghiệp.
(Ông
trong xưa kia, gây tạo nghiệp ác).
Câu
này là lời nói chung: Trong đời quá khứ, các vị tạo ác
nghiệp rất nặng. Ác nghiệp gì vậy?
Chánh
kinh:
Ư
chư chúng sanh, dĩ sướng duyệt tâm.
(Đối
với các chúng sanh, dùng lòng vui sướng).
“Sướng
duyệt tâm” là rất thống khoái, rất sung sướng. Làm chuyện
gì vậy?
Chánh kinh:
Sân mạ hủy nhục, chướng não tổn hại.
(Nóng chửi hủy nhục, gây chướng ngại, phiền não, tổn
hại).
Làm đến tám việc. Đối với chúng sanh, bọn họ chửi người,
chửi người thật khoái trá, gây tạo ác nghiệp như thế
đó!
Chánh kinh:
Tùy tự phân biệt.
(Theo ý mình phân biệt).
Chấp theo tri kiến phân biệt của chính mình, nói theo tiếng
bây giờ là “làm việc theo cảm tình, làm chuyện càn bướng,
chẳng đếm xỉa đạo lý!”
Chánh kinh:
Bất năng liễu tri nghiệp báo sai biệt.
(Chẳng thể biết rõ nghiệp báo sai khác)
Lúc tạo những ác nghiệp ấy, bọn họ chẳng biết những
nghiệp ấy ắt có quả báo.
Chánh kinh:
Thị cố nhữ đẳng kim vị nghiệp chướng chi sở triền phú.
(Vì thế các ông nay bị nghiệp chướng ràng buộc, che ngăn).
Hiện tại dù bọn họ nghe Phật giảng kinh thuyết pháp nhưng
chẳng hiểu được nghĩa chân thật của Như Lai. Đó là vì
bị nghiệp chướng buộc ràng, che lấp.
Chánh kinh:
Thời chư Bồ Tát văn thị ngữ dĩ, tùng địa nhi khởi, thiên
đản hữu kiên, hữu tất trước địa, hiệp chưởng cung
kính, nhi bạch Phật ngôn: “Thiện tai Thế Tôn! Nguyện vị
ngã đẳng thuyết thử nghiệp chướng. Ngã đẳng tri tội,
đương tự điều phục, ngã tùng kim nhật, cánh bất cảm
tác”.
(Khi ấy, các Bồ Tát nghe lời ấy xong, từ dưới đất đứng
lên, trật áo vai phải, gối phải đặt sát đất, chắp tay
cung kính, bèn bạch Phật rằng: “Lành thay, thưa Thế Tôn!
Xin vì chúng con nói nghiệp chướng ấy. Chúng con biết tội
sẽ tự điều phục, con từ hôm nay chẳng dám làm nữa!”)
Những điều nói trong đoạn này thật là khó có phi thường,
hy hữu. Chịu sửa lỗi, chịu đổi mới, người như vậy
cứu được. Có tàm, có quý, cầu Phật chỉ dạy rành rẽ
những ác nghiệp mình đã tạo trong quá khứ khiến ngày nay
gặp phải những chướng nạn như thế. Biết tội lỗi ấy,
bọn họ còn có thể sửa lỗi đổi mới, giống như trong
kinh Vô Lượng Thọ nói “tẩy tâm dịch hạnh” (rửa lòng
đổi hạnh), từ nay trở đi chẳng dám tái phạm.
Chánh kinh:
Nhĩ thời, Phật cáo chư Bồ Tát ngôn:
(Lúc bấy giờ, đức Phật bảo các Bồ Tát rằng)
Phật giảng cho mười sáu vị Bồ Tát nghe.
Chánh kinh:
Thiện nam tử! Nhữ tằng vãng tích, ư Câu Lưu Tôn Phật Như
Lai pháp trung, xuất gia vi đạo.
(Thiện nam tử! Các ông từng trong xưa kia, ở trong pháp của
đức Câu Lưu Tôn Phật Như Lai, xuất gia tu đạo)
Thời gian ấy rất lâu. Câu Lưu Tôn Phật vị Phật thứ nhất
của Hiền kiếp; Thích Ca Mâu Ni Phật là vị Phật thứ bốn.
Thời gian ấy rất dài lâu. Trong thời đức Phật Câu Lưu
Tôn, bọn họ xuất gia, tu hành. Câu Lưu Tôn là tiếng Phạn,
dịch nghĩa sang tiếng Trung Quốc là Sở Ưng Đoạn (cái đáng
nên đoạn). Phiền não là cái đáng nên đoạn, vô minh là
cái đáng nên đoạn, những gì đáng đoạn Ngài đều đoạn
sạch, ý nghĩa của danh hiệu Ngài là vậy.
Chánh kinh:
Tự thị đa văn, tu trì tịnh giới.
(Tự cậy đa văn, tu trì tịnh giới)
Có thể thấy là hạng người này thông minh và rất có trí
huệ, nghe kinh rất nhiều. Bọn họ cậy mình đã nghe nhiều
kinh, lại tự cho là mình giới luật rất thanh tịnh. Như vậy
cũng chẳng lầm, tu hành cũng tốt, nghiệp chướng là do đâu?
Phần kế tiếp nói:
Chánh kinh:
Thường hoài kiêu mạn, ngạo dật chi tâm.
(Thường ôm lòng kiêu mạn, ngạo nghễ, phóng dật).
Bệnh
phát từ đây. Đối với người tỏ vẻ kiêu ngạo, nói theo
ngôn ngữ bây giờ là “đáng nên kiêu ngạo!”. Bệnh của
Bồ Tát là ở chỗ này. Các vị xem: họ đa văn, đa văn vốn
là rất tốt, đáng nên kiêu ngạo. Giới luật thanh tịnh rất
hay, đáng nên kiêu ngạo! Đáng nên kiêu ngạo là xong rồi!
Bây giờ quý vị có điểm sở trường nào, người khác chẳng
bằng được mình, quý vị có thấy đáng nên kiêu ngạo hay
không? Nếu như quý vị cũng thấy đáng nên kiêu ngạo thì
hãy nhớ kỹ đoạn kinh văn này để coi quý vị có còn nên
kiêu ngạo hay là không? “Mạn” là ngạo mạn, “dật”
là phóng dật, tức là rất tùy tiện.
Chánh
kinh:
Hựu
hành đầu-đà, thiểu dục tri túc.
(Lại
hành đầu đà, ít ham, biết đủ).
Điều
này lại càng khó được! Đầu-đà là khổ hạnh, lúc bọn
họ tu hành từng đã tu khổ hạnh. “Thiểu dục tri túc”
khó được phi thường!
Chánh
kinh:
Ư
thị công đức, phục sanh chấp trước.
(Với
công đức này, lại sanh chấp trước).
Bệnh
họ nổi lên rồi: Chấp tướng! Chấp tướng cũng là vướng
phải kiêu ngạo. Người khác tu hành đều chẳng bằng họ,
bọn họ được tín đồ tại gia cung kính, cúng dường như
thế. Ý nghĩa đoạn này rất sâu, rất rộng, quý vị phải
rất lắng lòng, rất chú tâm thể hội, chẳng nên đọc sơ
sài lướt qua đoạn kinh này. Đoạn dưới, đức Phật nói
cụ thể về sự tướng gây tạo ác nghiệp.
Chánh
kinh:
Nhĩ
thời hữu nhị thuyết pháp tỳ kheo.
(Lúc
bấy giờ có hai vị tỳ kheo thuyết pháp).
Có
hai vị xuất gia, đại khái là thường giảng kinh thuyết pháp
ở bên ngoài. Giảng kinh thuyết pháp đương nhiên thính chúng
đông, cúng dường cũng nhiều.
Chánh
kinh:
Đa
chư thân hữu, danh văn, lợi dưỡng.
(Có
nhiều bè bạn, tiếng tăm, lợi lộc).
Pháp
sư thuyết pháp nhất định được như vậy, nhất định có
hiện tượng như thế.
Chánh
kinh:
Nhữ
ư thị nhân dĩ xan tật tâm.
(Với
hai người ấy, các ông do lòng ghen ghét)
Họ
ghen ghét hai vị pháp sư giảng kinh.
Chánh
kinh:
Vọng
ngôn phỉ báng.
(Bịa
đặt phỉ báng).
Các
ông muốn phá hoại, ghen ghét họ, phá hoại họ thì phỉ báng
điều gì? Đồn đãi, đặt chuyện, nói hai tỳ kheo ấy là:
Chánh
kinh:
Hành
dâm dục sự. Thị thời pháp sư thân hữu quyến thuộc do
nhữ ly gián, thuyết kỳ trọng quá, giai linh nghi hoặc, bất
sanh tín thọ.
(Làm
chuyện dâm dục. Khi ấy, thân hữu, quyến thuộc của pháp
sư do ông ly gián nói họ phạm lỗi nặng nên đều ngờ vực,
chẳng sanh lòng tin nhận [pháp của hai pháp sư ấy giảng nữa])
Đấy là phá hoại tín tâm của thính chúng đối với pháp
sư giảng kinh thuyết pháp, khiến cho đại chúng chẳng còn
tin tưởng vị pháp sư ấy nữa.
Chánh kinh:
Bỉ chư chúng sanh ư thị pháp sư vô tùy thuận tâm, đoạn
chư thiện căn.
(Các chúng sanh ấy đối với pháp sư đó không tâm tùy thuận,
dứt các thiện căn)
Cần
hiểu là đối với hết thảy pháp, công đức nghe pháp không
có gì sánh được nổi, bởi nghe pháp phát sanh trí huệ. Đặc
biệt là tâm cung kính. Trong kinh Phật thường dạy, cổ đức
cũng thường nói. Ấn Quang đại sư nói rất hay: “Một phần
cung kính được một phần lợi ích; mười phần cung kính
được mười phần lợi ích”. Nếu lòng cung kính bị phá
hoại toàn bộ, bất cứ công đức nào cũng chẳng đạt được.
Đó gọi là gì? Đoạn pháp thân huệ mạng của hết thảy
chúng sanh. Bọn họ tạo tội nghiệp như thế này: tung tin
đồn, đặt chuyện phá hoại đạo tràng.
Chánh kinh:
Thị cố nhữ đẳng do tư ác nghiệp.
(Vì thế các ông do ác nghiệp ấy).
Do tạo ác nghiệp ấy, các ông đã từng...
Chánh kinh:
Ư lục thập bách thiên tuế trung, sanh A Tỳ địa ngục.
(Trong sáu mươi trăm ngàn năm, sanh trong địa ngục A Tỳ).
“Lục thập bách thiên tuế” là sáu trăm vạn. Tạo tội
nghiệp đó, bọn họ đã phải sống trong địa ngục A Tỳ
sáu trăm vạn năm. Sáu trăm vạn năm là chỉ thời gian trong
loài người, tính theo thời gian của chúng ta. Các vị xem:
tạo tội rất dễ dàng, đã từng sống trong địa ngục A
Tỳ sáu trăm vạn năm. Các vị đọc trong kinh Địa Tạng Bồ
Tát Bản Nguyện có giải thích tường tận về địa ngục
A Tỳ. Trong kinh Lăng Nghiêm cũng nói rất tường tận.
Chánh kinh:
Dư nghiệp vị tận.
(Nghiệp thừa chưa hết).
Vẫn còn thừa tội: trọng tội đã trả rồi, trả xong vẫn
còn dư tội. Lúc đó, chuyển sang một địa ngục so ra nhẹ
hơn.
Chánh kinh:
Phục ư tứ thập bách thiên tuế trung, sanh Đẳng Hoạt địa
ngục.
(Lại trong bốn mươi trăm ngàn năm, sanh trong địa ngục Đẳng
Hoạt).
“Tứ thập bách thiên” là bốn trăm vạn. Lại trải qua
bốn trăm vạn năm trong Đẳng Hoạt địa ngục. Đẳng Hoạt
là một trong tám đại địa ngục, tức là trong tám địa
ngục nóng, địa ngục thứ nhất là Đẳng Hoạt.
Chánh kinh:
Dư nghiệp vị tận.
(Nghiệp thừa chưa hết).
Đến đây nghiệp thừa vẫn cứ còn.
Chánh kinh:
Phục ư nhị thập bách thiên tuế trung, sanh Hắc Thằng địa
ngục.
(Lại trong hai mươi trăm ngàn năm, sanh trong địa ngục Hắc
Thằng).
Phía dưới Đẳng Hoạt là Hắc Thằng. Địa ngục này thọ
tội so với địa ngục trên nhẹ hơn một chút, nhưng vẫn
thuộc trong tám đại địa ngục.
Chánh kinh:
Phục ư lục thập bách thiên tuế trung, sanh Thiêu Nhiệt địa
ngục.
(Lại trong sáu mươi trăm ngàn năm, sanh trong địa ngục Thiêu
Nhiệt).
Địa
ngục Thiêu Nhiệt là địa ngục thứ sáu trong tám đại địa
ngục. Địa ngục thứ bảy tôi không nói chi tiết, Phật Học
Đại Từ Điển, kinh Địa Tạng, kinh Lăng Nghiêm, sách Pháp
Uyển Châu Lâm đều có nói, tài liệu tham khảo rất nhiều.
Thọ báo trong các địa ngục lớn nhỏ kể trên, tính theo
thời gian trong nhân gian tổng cộng là một ngàn tám trăm vạn
năm. Đấy là tạo tội rất dễ dàng, thọ khổ thật dài
lâu, có mấy ai biết chăng?
Chánh
kinh:
Tùng
bỉ một dĩ, hoàn đắc vi nhân.
(Từ
đó chết đi, lại được làm người).
Từ
địa ngục thoát ra, lại được làm thân người. Được thân
người như thế nào?
Chánh
kinh:
Ngũ
bách thế trung, sanh manh vô mục.
(Trong
năm trăm đời, mù từ lúc vừa sanh, không có mắt).
Tức
là mới vừa sanh ra mắt đã mù, cả năm trăm đời! Đó là
dư báo.
Chánh
kinh:
Dĩ
tàn nghiệp cố!
(Do
tàn nghiệp vậy)
Đương
nhiên người như vậy cuộc sống rất khốn khổ.
Chánh
kinh:
Tại
tại sở sanh, thường đa mông độn.
(Sanh
ở chỗ nào thường hay tối tăm, chậm lụt).
“Độn”
là căn tánh chẳng lanh lợi. “Mông” là mờ mờ, mịt mịt,
chẳng có trí huệ.
Chánh kinh:
Vong thất chánh niệm, chướng phú thiện căn, phước đức
vi thiểu, hình dung xú khuyết, nhân bất hỷ kiến, phỉ báng
khinh tiện, hý lộng khi hiềm, thường sanh biên địa.
(Quên mất chánh niệm, che ngăn thiện căn, phước đức ít
ỏi, hình dáng xấu xa, thiếu sứt, người khác chẳng ưa trông
thấy, phỉ báng, khinh dễ, chọc ghẹo, coi thường, ghét bỏ,
thường sanh nơi biên địa).
Đấy là quả báo họ phải gánh chịu. Trong quá khứ họ từng
chọc ghẹo người khác, nay được làm thân người bèn thuộc
vào địa vị hèn hạ, cũng bị người khác phỉ báng, khinh
rẻ, chọc ghẹo, khinh thường. “Thường sanh biên địa”:
biên địa là nơi văn hóa lạc hậu phi thường, nói theo ngôn
ngữ hiện tại, là nơi không có giáo dục, sống ở những
nơi ấy không có cơ hội được hưởng sự giáo dục.
Chánh kinh:
Bần cùng hạ liệt, táng thất tài bảo, tư sanh gian nan, bất
vị chúng nhân tôn trọng kính ái.
(Nghèo túng kém hèn, của cải tan mất, cuộc sống khốn khó,
chẳng được mọi người tôn trọng, yêu kính).
Trong năm trăm đời tuy được thân người, nhưng chẳng qua
chỉ là những năm tháng gian khổ.
Chánh kinh:
Tùng thử một dĩ, ư mạt hậu thế, ngũ bách tuế trung, pháp
dục diệt thời, hoàn ư biên địa, hạ liệt gia sanh.
(Từ đấy chết đi, vào đời Mạt sau, trong năm trăm năm,
lúc pháp sắp diệt, vẫn sanh trong nhà hèn kém ở nơi biên
địa).
Lúc bọn họ lại được làm người nhằm lúc thời kỳ Mạt
Pháp hiện tại của chúng ta. “Mạt ngũ bách niên” là năm
trăm năm đầu tiên trong thời kỳ Mạt Pháp, cũng trong năm
trăm năm thường được nói trong kinh này, trong thời gian ấy,
họ vẫn sanh ra nơi biên địa, chẳng có Phật pháp. Do vì
quá khứ báng pháp, nên chẳng có cơ hội nghe Phật pháp.
Chánh kinh:
Quỹ phạp cơ đống, vị nhân phỉ báng, vong thất chánh niệm,
bất tu thiện pháp. Thiết ư tu hành, đa chư lưu nạn. Tuy tạm
phát khởi trí huệ quang minh, dĩ nghiệp chướng cố, tầm
phục hoàn một.
(Túng thiếu đói rét, bị người phỉ báng, quên mất chánh
niệm, chẳng tu pháp lành. Cho dù tu hành, gặp nhiều tai nạn.
Dù trí huệ quang minh có tạm phát khởi, do vì nghiệp chướng,
bèn lại mất ngay)
Đây là nghiệp chướng sâu nặng, dù trí huệ vừa mới xuất
hiện một chút, lập tức liền lại mê mờ quên mất, hoặc
là bị người khác gây chướng ngại. Chướng duyên rất nhiều!
Chánh kinh:
Nhữ đẳng tùng bỉ ngũ bách tuế hậu, thị chư nghiệp chướng
nhĩ nãi tiêu diệt.
(Các ông sau năm trăm năm ấy, các nghiệp chướng đó mới
bèn tiêu diệt).
Có
hiện tượng này là do họ thật sự giữ được sự giác
ngộ. Bởi thế, giác mà chẳng mê, chánh chứ không tà, tịnh
chẳng còn nhiễm, nghiệp chướng của họ tiêu diệt. Sau khi
tiêu diệt lại y giáo tu hành, chắc thật niệm Phật cầu
sanh Tịnh Độ, mới hòng thoát khỏi tam giới, mới hòng liễu
sanh tử vĩnh viễn thoát luân hồi!
Chánh
kinh:
Ư
hậu đắc sanh A Di Đà Phật Cực Lạc thế giới. Thị thời
bỉ Phật đương vị nhữ đẳng thọ A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề ký.
(Sau
đấy được sanh về thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà.
Lúc đó, đức Phật ấy sẽ thọ ký quả Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác cho các ông).
Câu
này nói về sự thành tựu khi đã sanh về thế giới Cực
Lạc.
2.
Khi ấy các Bồ Tát liền phát mười ba hoằng thệ, Phật tán
thán ấn khả
Chánh kinh:
Nhĩ thời, chư Bồ Tát đẳng văn Phật sở thuyết, cử thân
mao thụ, thâm sanh ưu hối, tiện tự vấn lệ, tiền bạch
Phật ngôn:
- Thế Tôn! Ngã kim phát lộ, hối kỳ quá cữu, ngã đẳng
thường ư Bồ Tát thừa nhân khinh mạn tật nhuế, cập dư
nghiệp chướng. Kim ư Phật tiền, như tội sám hối, ngã đẳng
kim nhật ư Thế Tôn tiền, phát hoằng thệ nguyện.
(Lúc bấy giờ, các vị Bồ Tát nghe lời Phật dạy, lông trên
toàn thân dựng cả lên, sanh lòng buồn tủi, hối hận sâu
xa, liền lau nước mắt, bạch trước Phật rằng:
- Bạch đức Thế Tôn! Con nay bày tỏ, hối tội lỗi xưa.
Chúng con thường đối với người hành hạnh Bồ Tát khinh
mạn, ghét ganh, giận dữ, và [gây tạo] các nghiệp chướng
khác. Nay đối trước Phật, đúng như tội mà sám hối, từ
ngày hôm nay chúng con đối trước đức Phật phát lời thề
rộng lớn)
Như trong phần trên đã nói: các vị Bồ Tát ngu si, nghiệp
chướng sâu nặng ấy hữu ý hay vô ý gây tạo các thứ ác
nghiệp. Thời gian họ tạo ác nghiệp tuy không lâu nhưng quả
báo thật là kinh khủng quá! Trong kinh điển, thấy rất nhiều
những lời chỉ dạy giống như ở đây, cớ sao người học
Phật vẫn y như cũ chẳng biết kinh sợ, thức tỉnh, vẫn
cứ hủy phạm? Trong kinh này, đức Phật đã giảng tường
tận sự việc này cho chúng ta, ta phải chú tâm quán sát: gây
tạo ác nghiệp tựa hồ chẳng nghiêm trọng, vì sao quả báo
lại nặng nề đến thế? Nếu chẳng thể thấu triệt hiểu
rõ sự lý của việc này sẽ chẳng thể khiến chúng ta đoạn
nghi sanh tín.
Chúng
ta xem trong đoạn kinh văn trên đây, các vị Bồ Tát ấy nghe
đức Phật nói xong, “lông trên toàn thân dựng đứng lên
cả”; chúng ta thường nói là nghe xong “lạnh rởn da gà”.
Hôm nay chúng ta nghe [lời Phật dạy] xong tình hình có giống
như vậy hay không? Không cảm giác gì hết! Không có cảm giác
thì gọi là chai lì bất nhân. Chúng ta phải hiểu đấy là
tội nghiệp, đừng có lầm lẫn. Vì vậy biết là: Mười
sáu vị Bồ Tát đó nghiệp chướng tuy bảo là nặng, nhưng
so với chúng ta còn nhẹ hơn nhiều lắm lắm! Bọn họ nghe
xong liền có cảm xúc như thế, chúng ta nghe xong dửng dưng,
bọn họ còn có cách cứu, chúng ta hết cách cứu rồi!
Ở phần trước, đức Phật đã nói việc “kết tội” rất
rõ ràng, kết tội với chẳng phải chỉ một người! Vì người
gây tạo tội nghiệp là do ghen ghét, nóng giận, nên mới ác
ý phỉ báng, đồn rao đặt chuyện, phá hoại đạo tràng,
phá hoại tín tâm của đại chúng. Nhà Phật thường nói:
“Giết mạng người tội còn nhẹ”. Bạn giết người là
giết một người, giết một trăm người, cho đến giết một
vạn người, một ngàn vạn người, tội nghiệp ấy vẫn chưa
nặng lắm. Chứ cái tội đoạn Pháp Thân Huệ Mạng của một
người rất nặng đấy!
Vì sao vậy? Nếu như người ấy có cơ hội ngay trong đời
này được sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, một người
sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, người ấy sẽ làm
Phật, làm Bồ Tát. Bạn phải biết là người ấy làm Phật,
làm Bồ Tát sẽ trong hư không pháp giới độ không ít chúng
sanh, chẳng phải chỉ ngàn vạn, ức vạn đâu nhé! Vì thế,
nếu bạn chướng ngại Pháp Thân Huệ Mạng của một người,
so với cái tội giết một ngàn người, một vạn người chẳng
biết là nặng hơn đến thế nào. Điều này rất khó lãnh
hội nổi. Phải nên quán sát tư duy cẩn thận mới hòng lãnh
hội được đôi phần.
Cổ
nhân thường nói: “Người không phải là hiền thánh, ai không
lầm lỗi?” Dù pháp sư có lầm lỗi thì ông ta là người
phàm, chưa phải là thánh nhân, huống hồ là pháp sư thật
sự có lỗi lầm hay là ông ta cố ý thị hiện như thế, ta
đâu có biết? Phàm phu chúng ta đâu có hiểu rõ nổi!
Xưa kia, Thiên Thai Trí Giả đại sư đã nói rất hay, Ngài
từng bảo: “Người làm pháp sư, người giảng kinh thuyết
pháp, nói được nhưng chưa thể làm được, là quốc sư”.
Ông ta nói được, nói rồi thì sao? Bản thân ông ta làm chưa
được; dạy mọi người đoạn tham, sân, si, nhưng ông ta chưa
đoạn tham, sân, si. Ta có nên tôn kính ông ta hay chăng? Phải
tôn kính. Ông ta là quốc sư, là thầy của mọi người trong
một nước. Vì lời dạy của ông ta đích thực là chánh pháp,
lời dạy không sai lầm, chẳng phải là tà pháp. Nếu như
chúng ta chịu học hỏi lời dạy ấy, quyết định được
lợi ích. Đấy là: “Thanh xuất ư lam, nhi thắng ư lam” (Màu
xanh phát xuất từ màu lam, nhưng hơn hẳn màu lam). Học sinh
thành tựu vượt hẳn ông thầy, chỉ cần lời ông ta dạy
không phải là tà pháp thì ổng là quốc sư vậy.
“Nói được và làm được thì là quốc bảo”: Quốc bảo
ít, quốc sư nhiều. Cho nên đều phải tôn trọng, đừng thấy
có chút tỳ vết bèn chẳng chấp nhận những lời dạy của
ông ta. Ấy là đoạn pháp thân huệ mạng của chúng sanh, bởi
thế mới gặp phải quả báo tàn khốc. Kinh nói hạng người
như thế đọa địa ngục, từ địa ngục A Tỳ, Đẳng Hoạt
cho đến Thiêu Nhiệt, tính theo thời gian trong cõi người là
một ngàn tám trăm vạn năm, nhưng thật ra bọn họ thọ khổ,
cảm thấy đúng là vô lượng kiếp, như ngạn ngữ nói là
“một ngày dài như cả năm”. Vì thế họ cảm nhận thời
gian trong địa ngục so với thời gian thật sự chẳng biết
nhiều gấp bao lần.
Thời
pháp là pháp bất định, mỗi cá nhân cảm nhận khác nhau,
có người cảm thấy một năm khác nào vài ngày; trôi qua rất
nhanh! Có người đang trong lúc khổ sở, hoạn nạn, thấy một
năm dài dằng dặc. Phật dạy Thời chẳng phải là pháp bất
định, hoàn toàn phụ thuộc vào nghiệp cảm của từng cá
nhân. Tính ra, thiện căn của các Bồ Tát ấy sâu dày, nghe
Phật dạy qua nhân quả báo ứng, toàn thân bèn rởn ốc.
“Thâm
sanh ưu hối” là sanh tâm hổ thẹn.
“Tiện tự vấn lệ, tiền bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Ngã
kim phát lộ, hối kỳ quá cữu”: “Vấn lệ” là dùng tay
áo lau nước mắt. Bọn họ đối trước Phật phát lộ sám
hối. “Lộ” là những tội nghiệp đã tạo trong quá khứ,
hiện tại, chẳng giấu diếm mảy may, đều nói ra hết. Sám
hối tối khẩn yếu là từ nay trở đi, chẳng còn làm những
việc lầm lạc như vậy nữa, chân chánh triệt để sửa lỗi
đổi mới. Sám hối như vậy mới có công dụng. Quyết định
chẳng làm điều lầm lỗi, đối trước đức Phật khẩn
cầu sám hối. Nếu ngày mai vẫn làm như cũ, rồi lại sám
hối thì chẳng có ích gì hết, tội lại càng thêm nặng;
khác chi ngày ngày khinh dối Phật, Bồ Tát, đối trước Phật,
Bồ Tát vọng ngữ. Vì thế, sám hối tối khẩn yếu là “về
sau chẳng làm nữa”.
“Ngã đẳng thường ư Bồ Tát thừa nhân”: “Bồ Tát thừa
nhân” là người hoằng pháp lợi sanh, trong đó có Bồ Tát
xuất gia và Bồ Tát tại gia. Chẳng cần biết là xuất gia
hay tại gia, người hoằng dương chánh pháp đều gọi là “Bồ
Tát thừa nhân”, còn gọi là Đại Thừa Bồ Tát.
“Khinh mạn tật nhuế, cập dư nghiệp chướng”: Khinh là
coi rẻ, khinh thị. Mạn là ngạo mạn. Tật là ghen ghét. Nhuế
là nóng giận. Tật và Nhuế là giữ trong tâm, Khinh và Mạn
là biểu hiện ra ngoài. Trong lòng ganh ghét, giận dữ, biểu
hiện ra ngoài thành khinh rẻ, láo xược, và các nghiệp chướng
khác.
“Kim ư Phật tiền, như tội sám hối”: Tội lỗi đã tạo
trong quá khứ, nay đối trước Phật phát lộ sám hối. Thế
nào là pháp sám hối? Sửa lỗi đổi mới. Tiếp theo, các
vị phát ra mười ba điều đại nguyện, đấy là “sửa lỗi”
một cách cụ thể. Xin hãy xem kinh văn, chúng ta phải hiểu
đúng để học tập theo những điều này.
Chánh kinh:
Thế Tôn! Ngã tùng kim nhật chí vị lai tế.
(Bạch Thế Tôn! Con từ hôm nay đến đời vị lai).
Câu “chí vị lai tế” này rất khẩn yếu, bởi lẽ kinh
này là kinh Đại Thừa, là pháp Bồ Tát, pháp Tiểu Thừa chỉ
là “tận hình thọ” (đến hết một đời), pháp Đại Thừa
chẳng thể nói là “tận hình thọ”, phạm vi của “tận
hình thọ” quá nhỏ. “Tận vị lai tế” là đời đời
kiếp kiếp ta đều tuân thủ, chứ chẳng phải chỉ một đời
này! Đấy mới là chân thật sám hối, triệt để sửa lỗi.
Chánh kinh:
Nhược ư Bồ Tát thừa nhân, kiến hữu vi phạm, cử lộ
kỳ quá.
(Nếu đối với người thuộc Bồ Tát thừa, thấy có vi phạm
mà nêu bày lỗi họ).
Điều tôi làm trước đây là thấy những Bồ Tát hoằng pháp
lợi sanh chẳng cần biết là tại gia hay xuất gia, hễ họ
phạm giới, làm điều lầm lỗi, tôi bèn “cử lộ kỳ quá”
tức là phô bày lỗi lầm của họ, tuyên bố cho đại chúng
biết khiến mọi người xa lánh vị Đại Thừa Bồ Tát ấy,
chẳng muốn đến nghe nhận pháp người ấy nói, chẳng muốn
học hỏi với người ấy nữa. Việc làm khi trước là do
tâm ganh ghét gây chướng ngại, hiện tại từ nay trở đi
chẳng dám làm chuyện sai lầm nữa. Nếu vẫn làm như vậy
thì....
Chánh kinh:
Ngã đẳng tắc vi khi cuống Như Lai.
(Chính là chúng con khinh dối Như Lai)
Vẫn
làm nh