7.
HOẰNG PHÁP
Hỏi:
Nghe sư phụ giảng kinh thường nói đến nghệ thuật và âm
nhạc trong Phật giáo. Nghệ thuật và sân khấu có quan
hệ cá - nước; đài Trung Ương ở Trung Quốc có phát hình
phim kịch ‘Võ Tăng Thiếu Lâm’ phối hợp ca múa, võ thuật
và công phu của tăng sĩ trên cùng một sàn diễn cho khán giả
thưởng lãm. Xin pháp sư chỉ dạy trong thế kỷ 21 môn
ca vũ và nghệ thuật trong Phật giáo có thể phát triển không?
Nên phát triển như thế nào? Con là một Phật tử làm
về ngành ca vũ nghệ thuật này đã trên 40 năm và rất quan
tâm đến tương lai của môn ca vũ nghệ thuật trong Phật giáo.
Ðáp:
Cách suy nghĩ của bạn rất hay. So sánh với Thiên Chúa
giáo và Cơ Ðốc giáo thì nhân tài của Phật giáo trên phương
diện này rất thiếu. Phật giáo vô cùng coi trọng âm
nhạc và ca vũ nhưng trong hai ba trăm năm gần đây Phật giáo
không có nhân tài về nghệ thuật xuất hiện. Vào thời
cuối triều Minh đầu triều nhà Thanh, có một vị pháp sư
viết ra kịch bản ‘Quy nguyên kính’, đây là một vở kịch
nội dung kể chuyện của ba vị đại sư Huệ Viễn, Vĩnh Minh
Diên Thọ, và Liên Trì, kịch bản viết rất hay. Người
xưa đã đem Phật pháp phổ biến trên sân khấu rồi.
Hiện nay khoa học kỹ thuật phát triển, chúng tôi hy vọng
đem Phật pháp viết thành kịch, thành phim tuồng hát trên
TV, hiệu quả của những phim này rất lớn, rất thích hợp
để thu hút người sơ cơ bắt đầu học Phật. Cho nên
hy vọng những người đang làm ngành nghề này có thể tìm
ra một mục tiêu, phương hướng chân chánh để nỗ lực,
phải hoằng dương đến toàn thế giới. Ðương nhiên
ngoài trình độ nghệ thuật của ngành này ra còn cần phải
có một trình độ tu dưỡng và cái nhìn đúng đắn về Phật
pháp. Nếu không chú trọng đến tác dụng khuyến khích
tu tập, chỉ có giá trị trên hình thức và nghệ thuật nhưng
không có nội dung [về Phật pháp], thì không đạt được
mục đích giáo hoá chúng sanh. 21-90-08
Hỏi:
Mỗi ngày con dùng 8, 9 giờ đồng hồ để làm những CD và
VCD giảng kinh, thời gian còn lại dùng để nhiếp tâm niệm
Phật. Xin hỏi cách làm như vậy có tự tư ích kỷ hay
không? Con rất muốn dùng [thời gian] vài năm buông bỏ
thế sự, nhất tâm niệm Phật, làm như vậy được không?
Ðáp:
Mỗi ngày dùng thời gian để phổ biến CD và VCD Phật pháp
là một chuyện rất tốt, là chuyện làm lợi tha. Trong
thời gian làm việc thì Phật hiệu có thể niệm không gián
đoạn, vì việc này là dùng máy móc để làm và không cần
suy nghĩ thì không trở ngại cho việc niệm Phật. Phàm
làm việc mà cần phải suy nghĩ, nhất định phải ngưng niệm
Phật, chuyên chú để làm việc; làm việc xong mới chuyên
tâm niệm Phật, như vậy mới làm xong công việc và niệm
Phật được.
Về việc buông bỏ thế duyên (việc nhà, việc đời) nhất
tâm niệm Phật thì phải coi hoàn cảnh và điều kiện của
mình. Nếu điều kiện đầy đủ, đời sống không thành
vấn đề, gia đình cũng không thành vấn đề thì có thể
làm như vậy. Nếu không đủ điều kiện thì đừng miễn
cưỡng, nếu miễn cưỡng sẽ sanh phiền não. Giả sử
bạn buông bỏ tất cả, sanh hoạt gia đình xảy ra khó khăn
thì không tốt. Các đồng tu tại gia không những phải
lo lắng cho mình mà còn phải lo cho gia đình, phải làm gương
tốt cho xã hội, đừng để người khác nói: ‘người đó
học Phật điên rồi, mê mất, việc gì trong gia đình cũng
không đếm xỉa đến’, để cho người ta tạo khẩu nghiệp,
việc này không thể được. 21-90-14
8.
HOẰNG HỘ (Hộ trì công tác hoằng pháp)
Hỏi:
Khi một người phát tâm chân chánh để làm việc từ thiện,
một lòng muốn hoàn thành nguyện vọng đi theo pháp sư và
đại chúng, nhưng giữa chừng gặp khó khăn thật sự, xin
hỏi phải làm thế nào?
Ðáp:
Khi gặp khó khăn phải tìm ra nguyên nhân ở đâu, tiêu trừ
nguyên nhân này thì sẽ giải quyết vấn đề. Ðạo lý
của sự cảm ứng là ở chỗ tâm chân thành, chúng ta thật
sự xả mình để phục vụ người khác thì cảm ứng sẽ
không thể nghĩ bàn. Cư sĩ Lý Mộc Nguyên ở Cư Sĩ Lâm
Tân Gia Ba là một tấm gương tốt [cho chúng ta], ông hoàn toàn
không lo cho mình, đem hết sức lực hoằng dương ủng hộ
chánh pháp, làm lợi ích cho chúng sanh, cho nên cảm ứng vô
cùng rõ ràng. Chúng tôi rất kính phục, việc này rất
đáng để chúng ta bắt chước.
Hỏi:
Làm một người nữ cư sĩ trẻ tuổi nên hướng về tương
lai như thế nào mới có thể làm lợi ích cho chúng sanh trong
xã hội hiện nay? Cách thứ nhất là chọn con đường
giống cư sĩ Hứa Triết, lấy sự niệm Phật trọn đời làm
gương; cách thứ nhì là chọn con đường giảng kinh, hoằng
pháp lợi sanh. Xin hỏi trong hai cách trên nên chọn cách
nào?
Ðáp:
Nguyện vọng của bạn rất tốt, rất quý. Cư sĩ Hứa
Triết dồn cả đời vào công tác từ thiện, cả đời giúp
đỡ người già, người bịnh, người nghèo khổ. Không
những giúp đỡ trên tinh thần, vật chất, mà còn khuyên họ
tín ngưỡng tôn giáo, y theo phương pháp tôn giáo dạy để
tu học. Lúc trước bà là Nữ Tu Thiên Chúa Giáo, bà cũng
độ không ít người. Hiện nay lớn tuổi thường xem
kinh Phật, và phát tâm quy y, tôi tin tưởng hiện nay bà nhất
định khuyên người niệm Phật.
Phát tâm học giảng kinh cũng là một chuyện tốt, hiện nay
so với lúc trước còn dễ hơn, lúc trước thì không thuận
tiện lắm, hiện nay cũng có rất nhiều nữ cư sĩ giảng kinh.
Chân chánh phát tâm dốc toàn tâm toàn lực đi hoằng pháp
lợi sanh đều làm gương tốt cho các bạn đồng tu tại gia.
21-90-20
Hỏi:
Xin hỏi một người chưa khai ngộ có thể làm công tác phiên
dịch hay không? Thí dụ phiên dịch từ chữ Tàu sang chữ
Anh.
Ðáp:
Chưa khai ngộ làm công tác phiên dịch cũng được. Trong
vòng hai ngàn năm qua, Phật pháp truyền vào Trung Quốc, [kinh
điển] từ tiếng Phạn được dịch sang tiếng Trung Quốc,
người phiên dịch rất nhiều, không phải chỉ có một người.
‘Dịch trường’ là cơ quan làm công tác phiên dịch; dịch
trường của pháp sư Cưu Ma La Thập có đến hơn 400 người,
của pháp sư Huyền Trang có hơn 600 người, đều có tổ chức
đàng hoàng. Nhiều người như vậy có phải đều khai
ngộ hết không? Không thể nào, trong đó có thể chỉ
có một hai người khai ngộ, người khai ngộ làm người ấn
chứng cho họ.
Thí dụ Tâm Kinh là do Ðường Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang
dịch, đây là dùng tên của ngài nhưng thiệt ra công tác phiên
dịch không phải chỉ có ngài làm mà thôi. Dùng tên của
ngài thì ngài phải chịu trách nhiệm; nghĩa là sau khi dịch
xong nhất định phải thông qua sự thẩm định và đồng ý
của ngài rồi thì mới dùng tên của ngài [ghi trên kinh] để
lưu thông. Ðề tên của dịch giả trên kinh là người
này phải chịu trách nhiệm sự phiên dịch của bộ kinh đó.
Vì vậy chưa khai ngộ cũng có thể tham gia công tác phiên dịch.
Nếu phải khai ngộ rồi mới có thể phiên dịch thì Phật
pháp sớm đã bị diệt mất.
Không chỉ là phiên dịch thôi, giảng kinh cũng vậy. Ngày
xưa nếu không khai ngộ thì không có năng lực để giảng
kinh, và cũng không dám lên giảng đài giảng kinh. Nếu
dùng tiêu chuẩn này thì ngày nay không có ai giảng kinh hết.
Lúc chưa xuất gia tôi tham dự lớp học giảng kinh của lão
cư sĩ Lý Bỉnh Nam, trong số học sinh có trên 20 người.
Trong số hơn 20 người này, học đến đại học chỉ có một
người, học đến trung học đệ nhị cấp có hai ba người,
trung học đệ nhứt cấp có bảy tám người, tiểu học có
mười mấy người. Sau khi được lão cư sĩ Lý Bỉnh
Nam huấn luyện xong, người nào cũng biết giảng kinh và đi
đến khắp nơi ở Ðài Loan để giảng kinh.
Thầy Lý dạy cho chúng tôi một nguyên tắc: ‘Chưa khai ngộ
không được tuỳ tiện tự mình giảng’, nếu dùng ý
của mình để giảng, giảng sai thì phải chịu nhân quả.
Người xưa có câu: ‘Nói sai một chữ chuyển ngữ, đọa
năm trăm đời làm thân hồ ly’, không thể không cẩn thận.
Thầy Lý dạy chúng tôi giảng chú giải, chú giải của người
xưa phần nhiều là viết theo lối văn ‘văn ngôn’, chúng
tôi dùng văn ‘bạch thoại’ phiên dịch lại. Chúng
tôi viết bản thảo cho bài giảng hoàn toàn y theo chú giải
của người xưa viết thành văn bạch thoại; nếu nói
sai thì người xưa chịu trách nhiệm, chúng tôi không chịu
trách nhiệm. Dùng phương pháp này nên chúng tôi không
phải là học giảng kinh mà là giảng chú [giải]. Nếu
gặp chú giải quá thâm sâu, chúng tôi xem không hiểu, thầy
Lý dạy cho chúng tôi một diệu pháp: ‘Coi không hiểu thì
không giảng’. Không giảng là chỗ này không giảng rõ
ràng, không phải giảng sai. Chúng tôi giữ chặt nguyên
tắc này, mỗi ngày luyện tập trên giảng đài.
Chỉ cần thành tâm thành ý, không có tâm riêng tư, tuyệt
đối không chạy theo danh lợi hưởng thụ, tuyệt đối không
tham, sân, si, mạn, đích thật sẽ có tiến bộ, mỗi năm càng
tiến bộ. Tiến bộ thì nhất định sẽ có ‘tiểu ngộ’,
tiểu ngộ [dần] sẽ biến thành đại ngộ. Vì vậy ngày
nay chúng tôi mở quyển kinh ra, không cần phải xem chú giải
của người xưa, chúng tôi có năng lực xem hiểu được, và
cũng xem ra rất nhiều ý tứ trong đó, đây là không ngừng
truy cầu tiến bộ, và cũng là được chư Phật Bồ Tát gia
trì một cách âm thầm.
Thầy Lý tặng cho tôi bốn chữ: ‘Chí thành cảm thông’,
then chốt là ở bốn chữ này. Muốn học giảng kinh trước
hết phải thông [hiểu] pháp thế gian và xuất thế gian.
Thông [hiểu] pháp thế gian và xuất thế gian tuyệt đối không
phải là một chuyện dễ dàng, thầy Lý dạy tôi chỉ có cách
duy nhất là dùng tâm chân thành để cầu cảm ứng. Nếu
bạn không có chân thành thì cầu cảm ứng không được.
Ðương nhiên nếu có người giảng kinh thuyết pháp thì chúng
tôi sẽ không giảng nữa, vì không ai giảng nên mới phát
tâm miễn cưỡng gánh vác trọng trách này. Tôi ở trên
giảng đài giảng kinh đã 41 năm, trung bình mỗi ngày giảng
ít nhất hai giờ đồng hồ mới được một ít thành tựu
như vậy, có thể đem ra để cho mọi người tham khảo.
21-90-27
Hỏi:
Sư phụ thường nói: ‘Nói 99 phần trăm giống y như Phật,
chỉ có 1 phần trăm nói không như pháp thì đoạn mất pháp
thân huệ mạng của chúng sanh’. Có một vị cư sĩ giảng
kinh nọ có chuyện thị phi về nam nữ và tiền bạc, ông nói
vì độ chúng sanh nên mới dùng thủ đoạn (phương pháp) đặc
biệt. Xin hỏi người như vậy có thể giảng kinh thuyết
pháp không? Nên tiếp tục hộ trì không?
Ðáp:
Tình trạng ở hiện trường tôi không thấy được, nếu các
bạn có nghi hoặc, thì nên đọc kinh Lăng Nghiêm vài lần,
so sánh kỹ lưỡng. Nếu ông ấy giảng không ngược với
nghĩa trong kinh thì có thể nghe, nếu nói trái ngược tốt
nhất nên tránh xa. Cách nói lấy việc thị phi về nam
nữ và tiền bạc làm phương pháp đặc biệt để độ chúng
sanh thì đây là Bồ Tát tái lai, không phải người thường,
người thường làm không nổi. Nếu người nào đó nói
[họ] là Bồ Tát tái lai, sau khi nói ra họ phải vãng sanh;
nếu nói ra mà không đi thì không phải thiệt. Những
kiến thức Phật học thông thường này chúng ta phải biết
thì mới không bị người ta gạt. Tôi chỉ có thể nói
bấy nhiêu thôi, phần sau các bạn tự mình đi tham, tự mình
đi ngộ.
Trước kia thầy Lý thường nói với chúng tôi ma cũng có thể
thị hiện giống như Phật Bồ Tát đến thuyết pháp, giả
mạo Phật Bồ Tát để độ chúng sanh, kết quả là độ chúng
sanh vào đường ma. Họ nói hết 99 phần trăm đều
giống những gì Phật nói, chỉ có 1 phần trăm khác Phật
nói, chúng ta là phàm phu làm sao phân biệt được? Kinh
Ðại Phật Ðảnh Thủ Lăng Nghiêm nói rất rõ: ‘tất cả
pháp đều từ tâm tưởng sanh’, đây là vì tâm niệm của
chúng ta không ngay thẳng, không xa lìa danh lợi, hưởng thụ,
thị phi, nhân ngã, tham, sân, si, mạn nên mới gặp ma.
Nếu thật là gặp thiện tri thức, tu hành đúng như lý và
như pháp tuyệt đối phiền não sẽ giảm bớt, trí huệ sẽ
tăng trưởng, được khinh an tự tại. Nếu sau khi tu tập
mà phiền não gia tăng hoặc có một số đau bịnh, lo sợ,
thường cảm thấy bên ngoài có những sức mạnh vô hình luôn
uy hiếp, áp bức, thì đó tuyệt đối không phải là Phật
pháp
Trong pháp môn Tịnh độ, khi công phu niệm Phật thiệt sự
khế nhập và đắc lực, đạt được ‘công phu thành phiến’
thì thân tâm tự tại. Có công phu cỡ này thì có thể
vãng sanh về Phàm Thánh Ðồng Cư độ, không còn lo sợ sanh
tử, nắm chắc việc vãng sanh về Tây phương Cực Lạc thế
giới. Nếu niệm đến ‘Sự nhất tâm bất loạn’ thì
sanh đến Phương Tiện Hữu Dư độ; niệm đến ‘Lý nhất
tâm bất loạn’ sanh đến Thật Báo Trang Nghiêm độ.
Bạn cùng chư Phật Bồ Tát cảm ứng đạo giao, yêu ma quỷ
quái không thể đến gần bạn. Tâm và hành [vi] chánh
thì có thể xa lìa tất cả ma chướng, đây là nguyên tắc
căn bản.
Nếu không có thiện tri thức giảng kinh thuyết pháp, muốn
thật cầu hiểu, cầu giải cũng không khó, cổ đức dạy
chúng ta: ‘Ðọc sách ngàn lần thì tự hiểu và thấy được
ý nghĩa trong đó’. Chỉ cần cung kính đọc một ngàn
lần thì sẽ được cảm ứng. Sau khi niệm xong một ngàn
lần tâm định rồi, tâm định thì sẽ được cảm ứng.
Tâm nhảy lung tung thì không thể nào có cảm ứng. Tâm
không thanh tịnh, không buông bỏ tham, sân, si, mạn, vẫn còn
tham ái ngũ dục lục trần thì sẽ cảm ứng với ma.
Chỉ có tâm thanh tịnh, tâm chân thành mới cảm ứng đạo
giao với chư Phật Bồ Tát. 21-90-42
Hỏi:
Lúc cư sĩ thăng tòa giảng kinh, vì muốn kính trọng pháp nên
trong giảng đường xưng hô ‘đảnh lễ pháp sư’, nhưng
ở ngoài giảng đường thì xưng hô bằng cư sĩ, xin hỏi như
vậy được không?
Ðáp:
Cư sĩ tại gia có thể xưng bằng pháp sư, người đó tu học
Phật pháp rồi dùng Phật pháp để giáo hoá chúng sanh thì
người đó là pháp sư. Khi lên toà giảng người đó
là pháp sư, khi không ở giảng đài người đó vẫn là pháp
sư. Chúng ta ngày nay không quen xưng họ bằng pháp sư
mà xưng cư sĩ, đây là tập quán nhưng không đúng, không như
pháp.
Trong nhà Phật xưng hoà thượng, pháp sư, a xà lê không phân
biệt tại gia hay xuất gia, không phân biệt nam, nữ, già, trẻ,
tất cả đều có thể xưng hô như vậy. Nghĩa của chữ
‘hoà thượng’ là ‘thân giáo sư’ (ông thầy dạy pháp
cho mình), tôi học theo người này, người này trực tiếp
dạy dỗ cho tôi, không kể người này là tại gia hay xuất
gia, nam hay nữ, chỉ cần tôi học theo người này, thì người
này là ‘hòa thượng’ của tôi. Chỉ có tỳ kheo, tỳ
kheo ni, sa di, sa di ni là người xuất gia, người tại gia không
thể dùng những danh xưng này.
Lễ phép, cung kính một cách bình đẳng. Chúng ta hôm
nay lên giảng đài học giảng kinh, nghi thức đăng tòa là
từ bên phải bước lên, đi xuống phía bên trái, việc này
có quy củ nhất định. Chúng ta từ chỗ này học tập,
tương lai không nhất định có thể dùng được, phải xem
tình hình rồi quyết định nên làm hay không. Khi
ra nước ngoài giảng kinh, chúng ta đứng mà giảng, không có
chỗ ngồi; chúng ta phải ‘hằng thuận chúng sanh, tuỳ hỷ
công đức’, nhất định không nên phân biệt, chấp trước.
Dùng quy tắc lễ nghi của địa phương đó, người ở đó
cảm thấy được là được, tất cả đều tùy thuận.
21-90-50
9. BIỂU PHÁP (tượng trưng cho pháp)
Hỏi:
Xin hỏi người niệm Phật có thể đốt hương trên cánh tay
không?
Ðáp:
Có thể! Nhưng phải biết ý nghĩa của việc đốt hương
là cúng Phật. Kinh nói với chúng ta, ý nghĩa của sự
đốt ngón tay, đốt thân là để ‘thiêu đốt tự mình để
chiếu sáng kẻ khác’, không phải kêu bạn thiêu đốt thân
thể mình thật; thân thể thiêu mất rồi còn dùng để làm
gì nữa. Cho nên ý nghĩa của sự đốt hương là ở trước
Phật phát nguyện, xả mình vì người khác, đây mới gọi
là chân chánh cúng dường. Có thể hy sinh tính mạng của
mình vì người khác không tiếc gì hết như vậy mới là ‘đốt
hương’ thật. Nếu không bạn đem cả thân thể thiêu
hết cũng không có công đức gì cả. Vì vậy bạn ở
trên thân đốt một chút thì được rồi, thường thường
nhìn thấy [vết đốt] nhắc nhở mình nhất định đừng có
tự tư ích kỷ, tất cả đều vì chúng sanh, vì chánh pháp,
như vậy mới đúng. 21-90-07
Hỏi:
Chữ vạn có chữ hướng về phải, có chữ hướng về trái,
xin hỏi cái nào đúng? Có ý nghĩa gì?
Ðáp:
Chữ vạn là một trong 32 tướng tốt của Như Lai, tướng
này tượng trưng cho ‘kiết tường’. Tướng này ở
trên ngực, thế thì hướng về trái hay phải, đều có y cứ
không phải nói bừa. Y theo cách nói truyền thống của
Phật giáo, Phật giáo hướng về phải. Thí dụ nhiễu
Phật nhất định phải nhiễu về phải, không thể nhiễu
về hướng trái. Vì thế hướng về bên phải là hợp
lý, nhưng chúng ta đã thấy người xưa tạo tượng Phật cũng
có khi hướng về trái, việc này chúng ta không cần phải
chấp trước. 21-90-25
Hỏi:
Bút danh của Hoằng Nhất đại sư là ‘Nhị nhất lão nhân’,
xin hỏi nghĩa là gì?
Ðáp:
Hoằng Nhất đại sư có nói qua, ngài rất cảm thán tự mình:
‘Nhất
sự vô thành nhân dĩ lão, nhất văn bất trị hà tiếu thuyết’
(Một
sự chưa thành, già mất đất,
Một
xu chẳng đáng, nhắc làm chi?)
‘Nhị nhất’ nghĩa là ngài than về hai việc này. Cả
đời này thời gian đã luống qua, một việc cũng không thành,
một xu cũng không đáng, vì thế ngài mới dùng tên ‘Nhất
nhị lão nhân’. 21-90-27
10. ÐẠO TRÀNG
Hỏi:
Lúc nghe kinh, nghe đến tội lãng phí điện nước của thường
trú, tội này cả Phật cũng cứu không nổi. Con liền
tỉnh ngộ đem tiền bố thí cho thường trú để bù đắp,
xin hỏi như vậy có thể miễn tội của con không?
Ðáp:
Có thể. Việc lãng phí này, tự mình biết được rồi
đi bù đắp thì sẽ không sao hết. Vì đây là lỗi của
bạn, không phải tội. 21-90-08
Hỏi:
Con hy vọng tất cả đồng tu đến tham học từ khắp nơi
trên toàn thế giới có thể chuyển tâm niệm, xem tiền điện
và tiền nước của Cư Sĩ Lâm Tân Gia Ba như là của mình,
phải nên trả tiền, như vậy thì sẽ không tạo nên sự lãng
phí của thường trú một xu một hào nào cả. Xin hỏi
quan niệm này đúng không?
Ðáp:
Quan niệm này không đúng. Phải nên lúc nào cũng tập
tiết kiệm thành thói quen, như vậy mới tốt. Quyết
không vì mình có thể trả tiền rồi dùng thoả thích theo
ý mình. Nói tóm lại tu hành là phải sửa đổi quan niệm
và hành vi sai trái của mình. Ðức Phật dạy chúng ta tu hành
chân chánh, thường trú cung cấp nơi chốn giúp chúng ta tu
hành, sửa thói quen của chúng ta, thành tựu đức hạnh cho
chúng ta, hiểu được ý nghĩa này thì biết mình phải tiết
kiệm tích phước là tốt lắm.
Vào
đời nhà Ðường, ‘Mã Tổ xây tòng lâm, Bách Trượng lập
thanh quy’ đề xướng tu tập chung. Trước đó cũng có
tu chung nhưng không có quy định và cũng không có luật lệ
gò bó gì hết, phần đông cũng chỉ là tự tu. Lúc tu
tập chung với nhau chỉ để nghiên cứu, thảo luận, học
tập kinh giáo, tu hành thật ra đều là chuyện riêng của từng
cá nhân. Chúng ta có thể tưởng tượng lúc đó phải
có người giải đãi làm biếng, không thể khắc phục được
tập quán của mình, tổ sư đại đức nhìn thấy vô cùng
thương tiếc nên mới đề nghị tu tập chung. Tu tập
chung thì phải dựa vào đám đông, nương nhờ vào đám đông,
mọi người sanh hoạt chung với nhau phải giữ kỷ luật, như
vậy mới có thể khắc phục được phiền não tập quán của
mình. Tự mình không có năng lực để khắc phục nên
phải mượn sức mạnh của đại chúng, việc này là việc
tốt. Dụng ý của việc xây tòng lâm và lập thanh quy
là ở chỗ này.
Cho nên chúng ta đến đạo tràng để tham học, tham là tham
dự, học là học tập, nghĩa là chúng ta muốn tham dự vào
đạo tràng này và học tập chung với họ thì mới được
lợi ích. Nếu chúng ta đến đạo tràng này rồi dùng
một thân phận vai trò gì đặc biệt, không thể cùng đại
chúng sanh hoạt với nhau, không thể cùng đại chúng học chung
với nhau, vậy thì hoàn toàn sai rồi. Nếu bạn không
thể tùy thuận theo đại chúng, nếu dùng ‘giới kinh’ để
kết tội thì tội này rất nặng, đó là phá hoại hình tướng
của một tăng đoàn, tội này thuộc về ‘tội phá hoà hợp
tăng’, quả báo ở địa ngục A Tỳ. Cho nên tôi thường
khuyên các bạn đồng tu đây là một đạo tràng chánh pháp,
mỗi ngày niệm Phật giảng kinh, tất cả đều có quy củ,
nếu tập quán sinh hoạt của chúng ta đã thành thói quen không
tốt, đến nỗi không thể cùng đại chúng ở chung với nhau,
tự mình nên biết khó mà thoái lui. Rời khỏi đạo tràng
này tức là hộ trì đạo tràng, tuyệt đối đừng nên phá
hoại hình tướng (nề nếp và sự sanh hoạt) của đạo tràng,
công đức của bạn sẽ vô lượng, bạn sẽ làm được một
việc rất tốt. Nếu bạn không chịu rời khỏi và cũng
không chịu hòa hợp với đại chúng, phá hoại hình tướng,
tuy không ai nói đến tội của bạn nhưng quả báo của bạn
sẽ ở địa ngục A Tỳ.
Trong tam quy y có ‘quy y Tăng, chúng trung tôn’. ‘Chúng’
là danh từ mà ngày nay chúng ta gọi là đoàn thể, đoàn thể
trong xã hội rất nhiều, Phật môn cũng là một đoàn thể.
Bốn người trở lên hợp thành một đoàn thể nhỏ, được
xưng là ‘chúng’. Ðoàn thể Phật pháp là [đoàn thể]
đáng tôn quý, đáng để mọi người tôn trọng nhất trong
các đoàn thể. Ðáng tôn kính ở chỗ nào? Ðó là
một tăng đoàn hoà hợp thì đáng để mọi người tôn kính.
Trong tăng đoàn không có tranh luận, có thể tuân thủ giới
điều ‘lục hoà kính’, là một tăng đoàn hoà thuận với
nhau nên làm mô phạm cho tất cả các đoàn thể khác trong
xã hội. Nếu bạn phá hoại hình tướng của đoàn thể
mô phạm này, tội đó nặng biết bao nhiêu? Nhất định
đọa tam đồ, chuyện này không thể không biết.
21-90-08
Hỏi:
Một số ngoại đạo thường đến Niệm Phật đường, có
một số cư sĩ không cho họ vào Niệm Phật đường, xin hỏi
nên làm như thế nào?
Ðáp:
Phải nên giải thích trước, nếu họ có thể tuân theo quy
củ của Niệm Phật đường và tuỳ thuận theo đại chúng
tu tập chung với nhau thì đón mừng cho họ vào. Chư Phật
Bồ Tát độ chúng sanh cũng không xua đuổi ngoại đạo.
Năm xưa khi đức Phật còn tại thế, 96 nhóm ngoại đạo học
theo Phật, tôn Phật làm thầy, đức Phật đều thâu nhận,
thế mới biết đức Phật không cự tuyệt xua đuổi ngoại
đạo. Nếu họ không tuân theo quy củ trong Niệm Phật
đường, nhiễu loạn đại chúng, chúng ta nhất định phải
mời họ đi ra, tuyệt không thể phá hoại sự tu hành của
đại chúng. Cho nên không thể nói họ là ngoại đạo
thì mình liền từ chối, mà chúng ta đón mừng hoan nghinh những
người tuân theo quy tắc, còn những người không tuân theo
quy tắc thì mình mời họ đi ra.
Hồi xưa đại sư Huệ Viễn ở Lô Sơn có một người bạn
thân là cư sĩ Tạ Linh Vận, ông này là một nhà văn nổi
tiếng. Ông muốn tham gia ‘Ðông Lâm Niệm Phật Ðường’,
nhưng vì tập khí của ông quá nặng, không thể tuân theo thanh
quy của Niệm Phật Ðường nên Viễn Công đại sư từ chối
ông. Ðại sư còn một người bạn thân là Ðào Uyên
Minh, người này rất giữ quy củ nề nếp, Viễn Công đại
sư hoan nghinh ông đến Niệm Phật Ðường nhưng ông không
chịu đến. Từ đó có thể biết được, phải hoan nghinh
những người có thể tuân theo quy củ của đại chúng cùng
nhau tu tập, không kể người đó có thần thông hay không,
là ngoại đạo hay không. Là ngoại đạo chúng ta cũng
phải tiếp dẫn họ, giúp họ tiếp xúc với Phật pháp chân
chánh, đây mới là tâm từ bi. 21-90-26
Hỏi:
Trong chùa nghe được tiếng chuông, nhưng vì bịnh hoặc mệt,
xin hỏi có thể không ngồi dậy được không?
Ðáp:
Nếu tiếng chuông buổi sáng kêu bạn thức dậy tụng kinh
khoá sáng, nhất định phải thức dậy. Nếu bạn có
bịnh hoặc mệt thì có thể xin phép nghỉ trước. Nói
chung, khi ở trong đạo tràng phải tuân theo quy ước chung của
thường trú; nếu không tuân theo quy củ của thường trú là
phá hoà hợp tăng. Bạn [là] một người có thể làm
như vậy, người khác cũng làm như vậy, vậy thì quy củ của
tăng đoàn bị phá hoại mất, tội này phải đọa địa ngục
A Tỳ.
Chúng ta mỗi ngày ở trong đạo tràng của thường trú, đích
thật có ý hoặc vô ý làm những việc phá hoà hợp tăng nhưng
tự mình không biết. Cho nên nếu không nghe kinh nhiều,
không đọc kinh thì làm sao được? Ngày nay khi người
khác thấy bạn có lỗi lầm lớn hơn nữa nhưng không nói
ra, nếu nói ra thì có xích mích với bạn. Người có
thể nói ra những lỗi lầm là đại ân đại đức [của bạn].
Nhưng nếu nói ra có thể sửa được thì người ta mới nói,
nếu nói ra mà không chịu sửa thì đến cha mẹ cũng không
nói ra. Nếu một người có thể ‘tùng thiện như lưu’
(thuận theo điều thiện một cách dễ dàng), có lỗi mà có
thể sửa đổi, người này là thánh hiền, có thể thành công
lớn trong đời này.
21-90-28
11. HỘI TẬP
Hỏi:
Có người phê bình bản hội tập của cụ Hạ Liên Cư và
nói rằng bản này là giả tạo, kêu mọi người nên niệm
quyển của ngài Khương Tăng Khải. Có người cho rằng
bản hội tập rất tốt vả lại đã quen niệm rồi, không
muốn đổi bản khác, và cũng không tham gia in kinh ấn bản
Khương Tăng Khải. Không ít người bị ảnh hưởng, xin
hỏi nên làm sao mới tốt?
Ðáp:
Ðức Phật thường hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức.
Nếu bạn ưa thích ấn bản Khương Tăng Khải thì cứ niệm
bản đó; ưa thích ấn bản hội tập của cụ Hạ thì niệm
bản hội tập. Kinh Vô Lượng Thọ tổng cộng có đến
9 ấn bản, ưa thích bản nào thì cứ niệm ấn bản đó, không
thích thì có thể không niệm quyển nào hết, chỉ niệm một
câu A Di Ðà Phật cũng có thể vãng sanh. Vì vậy không
nên hạn chế người khác và bắt họ phải làm giống mình,
nếu không thì sẽ làm trái ngược lại lời dạy của đức
Phật.
Nếu chỉ có một pháp môn duy nhất thì đức Phật Thích Ca
Mâu Ni làm gì phải giảng tám vạn bốn ngàn pháp môn?
Căn tánh của chúng sanh không giống nhau, cho nên đức Phật
từ bi nói ra nhiều pháp môn như vậy để đáp ứng cho căn
tánh khác nhau. Tự mình chúng ta có thành tựu được
hay không, chúng ta phải có trí huệ lựa chọn pháp môn.
So sánh các bản kinh, bản hội tập của cụ Hạ dùng văn
tự giản dị, chúng ta ai cũng có thể hiểu được, xem rất
thích. Bản của ngài Khương Tăng Khải có một phần
dùng chữ rất sâu, không dễ hiểu. Tại sao chúng ta không
chọn bản xưa? Vì trình độ chữ nghĩa của chúng ta
quá thấp. Trình độ của người nào cao thì chọn ấn
bản đó, chúng ta cung kính tán thán, việc này không thể miễn
cưỡng. Ưa thích ấn bản nào thì cứ niệm ấn bản
đó, quan trọng nhất là thật có thể vãng sanh ngay trong đời
này; làm sao mà đến cuối cùng không thể vãng sanh thì không
nên, đó mới là chuyện làm sai nhất.
21-90-24
12. PHẬT HỌC
Hỏi:
Xin hỏi suy nghĩ có thuộc về ‘khởi tâm động niệm’ hay
không?
Ðáp:
Suy nghĩ là khởi tâm động niệm. Lúc khởi tâm động niệm,
tâm niệm có thứ thanh tịnh, có thứ ô nhiễm, có thiện,
có không thiện, sai biệt rất nhiều. Tâm niệm tương
ứng với tánh đức thì lành mạnh, trái ngược với tánh
đức thì không lành mạnh. Người học Phật phải thường
suy nghĩ về lời dạy của đức Phật và đem những lời dạy
này thực hành trong đời sống hằng ngày, việc này rất quan
trọng. Sau khi thực hành sẽ ngộ (hiểu) được nhiều
việc, lâu dần sẽ càng hiểu sâu và thấu suốt lời dạy
của đức Phật, đây là lúc trí huệ hiện ra. ‘Giải’
có thể giúp cho ‘hành’, ‘hành’ lại có thể giúp cho
‘giải’, giải hành tương ứng [lẫn nhau], bổ khuyết bổ
sung cho nhau, từ lúc sơ phát tâm đến quả vị Như lai đều
như vậy. 21-90-14
Hỏi:
Xin hỏi người ta làm thế nào đến [thế gian này] ?
Thế giới từ đâu đến?
Ðáp:
Vấn đề này rất rộng lớn, không phải chỉ dùng hai giờ
đồng hồ có thể nói hết. Nếu bạn muốn biết thì
nên xem kinh Lăng Nghiêm, trong đó nói rất rõ ràng. Nói
thật ra nếu bạn muốn hiểu rõ vấn đề này thì không dễ
lắm. Tôi khuyên bạn buông bỏ vấn đề này, đừng để
ý đến nữa, nhất tâm niệm Phật, cầu sanh Tịnh độ, khi
đến Cực Lạc thế giới rồi hỏi đức Phật A Di Ðà, đức
Phật A Di Ðà sẽ giải thích cho bạn rất tường tận.
21-90-19
Hỏi:
Xin hỏi người ta có linh hồn không? Linh hồn ở trong
bộ phận nào của thân thể?
Ðáp:
Tôi hỏi bạn một câu: ‘Lúc bạn ngủ ban đêm có nằm mộng
hay không? Giấc mộng đó ở tại chỗ nào? Là ở
trên đầu, ở mắt, hay là ở trên tay, chân?’. Từ việc
nằm mộng thì khẳng định là linh hồn tồn tại. Linh
hồn lìa khỏi thân thể cũng giống như người này nằm mộng
đi mất vậy, không tỉnh dậy trở lại, là sự việc như
vậy, nó đi đến một không gian khác để sanh sống.
Nếu bạn hiểu được đạo lý này thì người ta có chết
không? Không có chết, chết là linh hồn của bạn rời
thân thể này đi đến một cảnh giới khác, đi tìm một thân
thể khác.
Ở đây cũng cần phải giải thích cho quý vị biết một việc,
hồn này không linh. Nếu hồn này linh thì lúc bạn đến
đầu thai nhất định sẽ đầu thai vào nhà đế vương, tướng
lãnh, giàu sang; vừa sanh ra thì liền hưởng phước, thế thì
vui sướng tự tại biết bao! Tại sao bạn lại đến
đầu thai vào nhà một người bình thường? Tại sao lại
đến ngạ quỷ, địa ngục, và súc sanh đạo? Từ đó
có thể biết được, hồn này không linh. Rốt cục hồn
này là như thế nào? Hồn này mê hoặc điên đảo.
Nếu bạn không tin thì bạn suy nghĩ kỹ xem, ban đêm nằm mộng
thì đầu óc không sáng suốt bằng lúc tỉnh giấc. Từ
chỗ này có thể biết được lúc trong mộng thì mê, tỉnh
giấc thì đầu óc mới sáng suốt.
Thần thức của người rời khỏi thân thể cũng giống như
nằm mộng, cho nên gọi là ‘mê hồn’, không phải ‘linh
hồn’. Khổng lão phu tử nói một sự thật trong ‘kinh
Dịch, phần Hệ từ’ : ‘Du hồn vi biến, tinh khí vi vật’.
Hồn là gì? Bay tới bay lui với tốc độ rất nhanh, không
ở yên một chỗ. Cách miêu tả trạng thái của chữ
‘du hồn’ này rất giống với chữ ‘thần thức’
trong nhà Phật. 21-90-21
Hỏi:
Con người lúc ban đầu, lúc chưa đến thế giới loài người,
xin hỏi ý nghĩa của việc đến nhân gian này là gì?
Ðáp:
Trong kinh có giải thích: ‘nhân sanh thù nghiệp’ (con người
do nghiệp sai khác mà sanh), đời trước tạo nghiệp đời
này chịu quả báo nên phải đầu thai vào sáu nẻo luân hồi.
Chúng ta nói đầu thai đến thọ thân này có hai nguyên
nhân: một là đến để thọ quả báo; hai là chư Phật Bồ
Tát thừa nguyện tái lai (theo nguyện vọng trở lại) thị
hiện để độ chúng sanh. 21-90-21
Hỏi:
Tất cả sanh vật trên thế giới đều có ‘cảm tính’,
không chỉ có người mới có linh tính. Xin hỏi linh tính
từ đâu đến?
Ðáp:
Trong kinh đức Phật nói với chúng ta linh tính là vốn sẵn
có chứ không phải từ đâu đến. Không có đi, không
có lại, không có sanh diệt, vốn có sẵn, đây mới thật
là mình; trong Thiền tông có danh từ: ‘phụ mẫu vị sanh
tiền bổn lai diện mục’ (mặt mũi vốn có của mình khi
cha mẹ chưa sanh ra) tức là chữ ‘linh tính’ này.
Bạn nói tất cả sanh vật đều có cảm tính, chữ cảm tính
này trong nhà Phật có phân ra hai loại: động vật (chúng sanh
hữu tình) thì xưng là ‘Phật tánh’, thực vật (chúng sanh
vô tình) thì xưng là ‘pháp tánh’. Phật tánh và pháp
tánh đều sẵn có, không có đến, không có đi.
Ðích thật linh tính của mỗi người có cao thấp khác nhau,
cao nhất là linh tính của Phật Bồ Tát, khi so sánh thì chúng
ta thua xa. Nguyên nhân này là ở chỗ nào? Trong kinh
Hoa Nghiêm đức Phật nói rất rõ ràng: ‘Linh tính của tất
cả chúng sanh đều bình đẳng, nhất định không có sai khác,
nhưng vì vọng tưởng chấp trước mà không thể chứng được’.
Ngày nay linh tính của chúng ta không có, biến thành rất ‘yếu’
là tại vì vọng tưởng, phân biệt, và chấp trước trộn
lẫn trong linh tính, làm cho linh tính không còn ‘linh’ nữa,
sự việc là như thế đó. Ðức Phật khổ tâm nhọc
sức giáo hoá chúng sanh cũng là để dạy chuyện này.
Chỉ cần một ngày nào đó chúng ta giác ngộ, buông bỏ tất
cả vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, linh tính viên mãn
của chúng ta sẽ được khôi phục trở lại, khôi phục như
vậy gọi là ‘thành Phật’. 21-90-28
Hỏi:
Xin hỏi tại sao trong kinh Phật có rất nhiều chữ nhiều câu
được lập lại hoài?
Ðáp:
Sự dạy học trong nhà Phật không sợ lập lại, không ngừng
lập đi lập lại, không sợ phiền hà mà lập lại, lý do
chánh cũng vì người ta không khai ngộ. ‘Lập lại’
là danh từ mà người Trung quốc thường gọi là ‘nhắc đi,
nhắc lại, dặn dò’, đây là từ bi đến mức cùng cực!
Chúng ta biết được rồi thì phải biết ơn. Nếu không
có sự lập lại thì chúng ta rất dễ quên, chớp mắt thì
đã quên mất rồi. Dặn dò cả ngàn vạn lần, lập
lại hoài mà chúng ta vẫn không tỉnh ngộ, như vậy mới biết
nghiệp chướng của chúng ta nặng đến đâu.
Câu ‘Nghiệp chướng nặng nề’ này chúng ta nghe nhiều lần
rồi nhưng vẫn không hiểu rõ. Nếu có thể hiểu được
phần nào thì mình sẽ khởi tâm biết ơn, khởi ý niệm quay
đầu giác ngộ, thật muốn y giáo phụng hành.
Người xưa ở Trung quốc không thích lập lại, việc này khác
hẳn với người Ấn độ, người Ấn độ cứ lập đi lập
lại hoài. Ngôn ngữ văn tự của Trung quốc đòi hỏi
phải rõ ràng, ngắn gọn, nguyên nhân chánh là vậy nên số
người khai ngộ ở Trung quốc không bằng người ở Ấn độ.
Dùng cách ‘điểm đáo vi chỉ’ (chỉ điểm vừa tới mức
thì ngưng, ở đây có nghĩa là gợi ý cho đủ hiểu là thôi,
không nói huỵch toẹt ra) cho những người thượng căn, thông
minh thì được, còn người trung và hạ căn thì không có kết
quả. Như thế chúng ta mới hiểu đức Phật dùng phương
pháp này ở Ấn độ đích thật làm cho ‘tam căn phổ bị,
lợi độn toàn thâu’ (gồm hết ba căn thượng, trung, hạ,
thông minh, ngu độn đều có ích lợi) 21-90-32
Hỏi:
Có một số bạn đồng tu thường mời các pháp sư khác đến
để giảng khai thị, con không muốn đi nghe và khuyên người
khác không đi nghe, xin hỏi cách làm này đúng không? Hằng
thuận chúng sanh thì phải làm sao?
Ðáp:
Nếu chúng ta tu học đích thật đã khai ngộ, khi tất cả
chúng sanh giảng kinh thuyết pháp, chỉ cần họ nói chánh pháp,
không phải tà pháp thì chúng ta đều có thể nghe, tà chánh
nhất định phải phân biệt rõ ràng. Tuy những gì họ
nói khác với pháp môn tu học của chúng ta, chúng ta cũng nên
đi nghe để làm trang nghiêm đạo tràng. Ðể cho người
mới học nhìn thấy đạo tràng rất đông đảo rồi tăng
trưởng lòng tin. Thậm chí người mới học giảng kinh
mà giảng chánh pháp, chúng ta cũng nên đi nghe để làm trang
nghiêm đạo tràng, vậy mới đúng. Nếu công phu của
mình không đủ, nghe người ta nói về những pháp môn khác,
trong tâm tự mình không biết phải làm sao, như vậy thì không
nên nghe. Nếu bạn không có định lực, tu học không
có nền móng vững chắc thì bạn không nên nghe, như vậy là
đúng.
‘Hằng thuận chúng sanh’ là một trong Mười Nguyện Phổ
Hiền, đây là cách nói với Pháp thân đại sĩ, chúng ta cũng
nên học theo. Buông bỏ vọng tưởng, phân biệt, và chấp
trước, tất cả đều tùy thuận người khác. Trong lúc
tùy thuận, nhất định phải quan sát kỹ lưỡng, nếu là
thiện pháp thì mình tùy thuận, nếu là ác pháp thì không
thể tùy thuận. Tùy thuận phải dùng lý trí mà không
thể dùng cảm tình. 21-90-33
Hỏi:
Sanh mạng là vĩnh hằng, không sanh không diệt, xin hỏi có
một số phận (hoặc mạng vận cố định) hay không?
Nếu có thì ai đặt ra những số phận này?
Ðáp:
Sanh mạng đích thật là vĩnh hằng, không sanh, không diệt,
không tăng, không giảm. Nếu là không tăng, không giảm
thì đâu có số phận! Nếu bạn cho là có số phận thì
đã khởi vọng tưởng rồi. Xa lìa vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước thì chân tướng hiện rõ, bạn mới hiểu
rõ chân tướng của vũ trụ nhân sanh. Trong tâm xen tạp
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước là chướng ngại, chướng
ngại chúng ta thấy đạo. Thấy đạo là như thế nào?
Là hiểu rõ chân tướng của vũ trụ nhân sanh. Thế
nào là định số và không định số? ‘Phàm có tướng
đều là hư vọng’, ‘Tất cả pháp hữu vi đều giống như
mộng, huyễn, bào, ảnh’; tất cả hiện tượng đều không
phải thật, đều là huyễn hoá, nếu bạn hiểu được đạo
lý này thì ‘niệm đầu’ (tâm niệm) sẽ không còn nữa.
Sanh mạng là vĩnh hằng, không sanh không diệt, nhà Phật không
gọi là ‘sanh mạng’ mà gọi là ‘thần thức’, người
Trung quốc gọi là ‘linh hồn’. Chúng sanh trong lục
đạo tùy theo nghiệp lực đi đầu thai, xả thân, thọ thân.
Nhà Phật nói có hai loại sanh tử: phân đoạn sanh tử và
biến dị sanh tử; hai loại sanh tử này cũng là hư vọng,
không phải chân thật. Nhưng bạn phải chuyển tám thức
thành ‘đại viên kính trí’ thì mới hiểu rõ được cái
hư vọng này; chưa chuyển tám thức thành bốn trí, bạn vẫn
không tránh khỏi bị kẹt trong vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước, chỉ có mức độ sâu cạn khác nhau mà thôi.
Từ đó mới biết tu hành chứng quả đích thật không phải
dễ. Ðối với tất cả pháp trong thế gian và xuất
thế gian đều không chấp trước thì mới có thể vượt khỏi
lục đạo; không phân biệt thì mới vượt khỏi thập pháp
giới; cuối cùng không có vọng tưởng thì chứng được Phật
quả cứu cánh viên mãn.
Phật dạy chúng ta phá vọng tưởng, phân biệt, chấp trước;
trong Pháp tướng tông nói lý, nói sự rất cặn kẽ, đây
là một phương pháp giáo hoá chúng sanh. Nếu bạn thích
‘tưởng’ thì [phương pháp này] đặt ra rất nhiều đề
mục cho bạn ‘tưởng’. Tưởng đến cuối cùng bạn
không muốn ‘tưởng’ nữa thì buông bỏ hết, cách này gọi
là ‘tư tận hoàn nguyên’ (nghĩ đến cùng thì trở về nguồn
gốc). Người quen dùng đầu óc, quen suy nghĩ thì Tướng
Tông dạy cho họ lao đầu vô mà tưởng; người không thích
dùng đầu óc, không thích suy nghĩ, Tịnh Tông dạy họ đừng
suy nghĩ (tưởng). Từ đó có thể biết được, đối
với tất cả căn tánh của chúng sanh phương pháp dạy học
của đức Phật hoàn toàn không giống nhau, nhưng mục đích
sau cùng đều là ‘buông bỏ tất cả’, được vậy mới
có thể thấy ‘chân tướng sự thật’. 21-90-33
Hỏi:
Trong trường con, lúc dạy về âm thanh học thì con thường
nêu lên sự khác biệt giữa “thật tướng” của “tánh
nghe” Phật dạy trong kinh điển và Âm Thanh Học của Vật
Lý, xin hỏi như vậy có phải là ‘dạy sai’ cho chúng sanh
không?
Ðáp:
Câu hỏi này rất sâu. Nhà Phật gọi ‘tánh nghe’ là
phương pháp tu hành của Quán Thế Âm Bồ Tát nói trong kinh
Lăng Nghiêm; Bồ Tát từ phàm phu tu thành Phật đều dùng
công phu của ‘tánh nghe’, ‘phản văn văn tự tánh, tánh
thành vô thượng đạo’ (xoay trở lại nghe nơi tự tánh,
tánh thành đạo vô thượng). Nếu bạn muốn hiểu rõ
việc này, nhất định phải đọc kinh Lăng Nghiêm, phải dồn
công phu trên kinh này. Có chỗ giống nhưng cũng có chỗ
khác so với ‘âm thanh học’, đều phải phân biệt rõ ràng.
‘Phản văn văn tự tánh’ là một phương pháp tu hành rất
cao, người thường làm không nổi. Nói thật ra đây là
một phương pháp tu hành rất cao trong Thiền tông chớ không
phải là một phương pháp phổ thông. Nếu bạn có thể
hiểu được thì rất tốt, nếu hiểu không được thì khuyên
người thật thà niệm Phật. Dùng âm thanh cũng tốt,
cổ đức thường nói: ‘Phật hiệu từ trong tâm sanh lên,
miệng niệm ra tiếng, tai nghe trở vô’, phương pháp
này rất dễ nhiếp tâm, cũng có một chút liên quan đến ‘thanh
học’. 21-90-34
Hỏi:
Từ tượng vẽ để xem thì thân Phật Bồ Tát cũng giống
thân thể của phàm phu, cũng có máu có thịt, xin hỏi tại
sao lại không sanh không diệt?
Ðáp:
Tượng vẽ và tượng bằng nhựa mà bạn nhìn thấy có sanh
có diệt, ứng hóa thân của Phật Bồ Tát cũng có sanh có
diệt. Tuy đức Phật A Di Ðà có thọ mạng rất dài,
tương lai cũng có lúc sẽ nhập diệt. Khi đức Phật
A Di Ðà nhập niết bàn, buổi sáng nhập niết bàn, buổi chiều
Quán Thế Âm Bồ Tát liền vào vị Phật, thị hiện thành
Phật, ai nói không có sanh diệt?
Nói không sanh không diệt là nói ‘Pháp thân’, Pháp thân
không có sanh diệt, Báo thân có sanh không diệt, Ứng hóa thân
có sanh có diệt. Tây phương Cực Lạc thế giới có bốn
cõi, Ứng hoá thân của A Di Ðà Phật vẫn có sanh có diệt.
Hiện nay chúng ta cũng có ba thân, thân bằng máu thịt của
chúng ta là ‘ứng thân’, thân này có sanh có diệt; chúng
ta cũng có báo thân nhưng chưa chứng được; chúng ta cũng
có pháp thân nhưng cũng chưa chứng được. Pháp thân
là căn tánh của sáu căn, căn tánh của sáu căn không sanh
không diệt, ở mắt thì gọi là ‘tánh thấy’, ở tai thì
gọi là ‘tánh nghe’, kiến văn giác tri (thấy nghe hiểu biết),
cánh cửa của sáu căn phóng quang động địa, đó thì không
sanh không diệt.
Người thế gian nói ‘tinh thần không diệt’, tinh thần và
thân thể hợp thành một. Nhưng thân thể có sanh diệt,
tinh thần không diệt. Chúng ta xem sách ngoại quốc nói
về luân hồi, họ nói ‘linh hồn’ không sanh không diệt.
Linh hồn giống như người lái xe, thân thể giống chiếc xe,
xin đừng coi chiếc xe thành chính mình, nếu không thì sai rồi.
Xe chạy hết mấy trăm ngàn dặm không thể chạy nữa thì
bỏ đi đổi một chiếc xe mới, đây là ‘đầu thai chuyển
thế’. Thân này không dùng nữa, đổi một thân khác.
Thân thể có sanh diệt, linh hồn không có sanh diệt, sự nhận
thức này so sánh còn cao hơn những sự hiểu biết thông thường.
Nhưng nhà Phật nói với chúng ta, linh hồn vẫn có sanh diệt,
thật không có sanh diệt là ‘cái tánh’ của linh hồn, trong
nhà Phật gọi là ‘tâm tánh’, cái này không sanh diệt. 21-90-48
Hỏi:
Xin hỏi ‘tri kiến lập tri’ và ‘tác quan’ có khác nhau
không? Làm sao phân biệt?
Ðáp:
Chuyện này đức Phật nói trong kinh Lăng Nghiêm rất rõ ràng,
đây là một vấn đề lớn. ‘Tri kiến lập tri thị
vô minh bổn’, người sơ học như chúng ta rất khó hiểu
rõ ý nghĩa của câu này. Nếu muốn nói bốn chữ này
nói hai tiếng đồng hồ cũng nói không rõ ràng, tốt nhất
bạn nên đọc kinh Lăng Nghiêm, có cơ sở xong rồi mới trở
lại hỏi. 21-90-48
Hỏi:
Pháp sư nói: ‘Tùy duyên là tùy thuận đạo lý của Phật
pháp mà không tùy thuận nhân tình’. Ðây là một xã
hội tràn đầy nhân tình, nếu tùy thuận Phật pháp mà không
tùy thuận nhân tình thì không hợp với nhân tình sẽ làm
cho người xung quanh lánh xa. Phật pháp không rời thế
gian pháp, Phật pháp không hoại thế gian pháp. Phật pháp
theo đuổi minh tâm kiến tánh, thế pháp theo đuổi ngũ dục
lục trần. Xin hỏi trong hai việc này có mâu thuẫn lẫn
nhau không?
Ðáp:
Phật pháp không làm hoại thế gian pháp, ‘hằng thuận chúng
sanh, tùy hỷ công đức’ thì làm sao không thuận nhân tình?
Nếu không thuận nhân tình thì không phải là Phật pháp; Phật
pháp thì phải thuận nhân tình. Dùng trí huệ để thuận
nhân tình, không mê, đó mới là Phật pháp. Dùng
tình cảm ‘mê’ để thuận nhân tình là pháp thế gian.
Người thế gian không thông hiểu tình và lý, mê hoặc ở
trong đó, không thể so với Phật Bồ Tát, thế nên người
trong thế gian phải học Phật. Phật pháp tức là sanh
hoạt thực tế của chúng ta, Phật pháp vận dụng trên việc
làm, xử sự, đối [xử với] người, tiếp [xúc với] vật,
mới thật đạt được hạnh phúc mỹ mãn. Nếu học
Phật mà không phù hợp với nhân tình, gây bất hòa với người
khác, làm họ xa lánh thì bạn không thông hiểu Phật pháp.
Huệ Năng đại sư nói: ‘Phật pháp là pháp bất nhị, nhị
pháp không phải là Phật pháp’. Nếu bạn hiểu Thế
pháp và Phật pháp là một chứ không phải là hai thì mới
thật hiểu được Phật pháp. Nếu là một thì tại sao
còn phân biệt Thế pháp và Phật pháp? Tức là giác và
mê mà thôi. Nếu giác thì thế pháp tức là Phật pháp;
nếu mê thì Phật pháp là thế pháp. Ðức Phật nói:
‘Mê ngộ không hai’. Tại sao nói mê ngộ là một, không
là hai? Sự là một sự việc, mê cũng là nó mà ngộ
cũng là nó, cho nên mê ngộ là không hai. Pháp có biến
đổi không? Không có. Khi mê, pháp không biến thành
mê; khi ngộ, pháp cũng không biến thành ngộ. Quý vị
‘tham’[cứu] kỹ lưỡng đạo lý này, lìa khỏi tâm ý thức
mà ‘tham’ thì mới hiểu đạo lý này rõ ràng.
Người thế gian tìm cầu ngũ dục lục trần, ngũ dục lục
trần là Phật pháp hay không? Khi giác thì là Phật pháp.
Mỗi ngày tụng kinh, niệm Phật, bái sám là Phật pháp hay
không? Khi mê thì không phải là Phật pháp. Thế
pháp và Phật pháp ở tại chỗ mê và ngộ, không ở trên
sự tướng. Trên sự tướng không có mê ngộ, mê ngộ
ở trong tâm người. Trong kinh Hoa Nghiêm, trong 53 lần tham
vấn của Thiện Tài đồng tử có Thắng Nhiệt Bà La Môn,
Cam Lồ Hỏa Vương, Phạt Tô Mật Ða Nữ truy cầu ngũ dục
lục trần, tức là tham, sân, si, tất cả đều là Phật pháp
vì họ giác mà không mê. Chư Phật Bồ Tát thị hiện
trong thế gian, có khi làm Thiên vương, nhân vương, người
kinh doanh, người làm công, đủ ngành, đủ nghề, nam nữ,
già trẻ, tất cả đều là Phật pháp.
Thí dụ khi thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ chưa xuất gia, ngài
làm một viên chức nhỏ, mỗi ngày lấy tiền trong công quỹ
để đi phóng sanh, đó là Phật pháp hay là thế pháp?
Ðó là Phật pháp vì ngài không mê. Thế pháp và Phật
pháp không ở trên sự tướng mà ở trong một niệm.
Một niệm giác, vì lợi ích của tất cả chúng sanh thì đó
là Phật pháp; một niệm mê, tự tư ích kỷ, hại người
lợi mình là thế pháp. Cho nên Phật pháp và Thế pháp
là một, không phải là hai. 21-90-48
13. CÚNG DƯỜNG
Hỏi:
Sư phụ thường nói cúng dường đạo tràng, cúng dường chúng
xuất gia phải có trí huệ; nếu đạo tràng không làm việc
đạo, người xuất gia mất đạo tâm, người cúng dường
cũng phải chịu trách nhiệm. Nhưng sư phụ cũng thường
tán thán pháp sư Ðàm Thiền cúng dường đạo tràng là dùng
thái độ ‘nhân quả của ai người đó tự chịu’.
Còn nói: ‘Làm việc tốt thì đừng sợ để lại tệ hại’.
Nếu chúng ta dùng tâm cung kính tôn trọng Tam Bảo, không thấy
lỗi lầm của đạo tràng và tăng chúng đi cúng dường, cho
dù họ làm không như pháp mải mê phóng dật hưởng thụ,
xin hỏi chúng con vẫn có thể tu tích công đức viên mãn hay
không?
Ðáp:
Nếu có thể làm được: ‘Không thấy lỗi lầm của thế
gian’, hiểu được nhân quả ai làm nấy chịu thì công đức
của bạn viên mãn, nhưng việc này phải thật có trí huệ.
Nếu việc làm đó không đúng như pháp, phá hoại hình
tướng của Phật giáo, tội này rất nặng, công đức của
bạn tuy là viên mãn có thể sanh Tịnh độ, nhưng đối phương
tạo tội cực nặng phải đọa tam đồ, vì nghĩ đến người
đó chúng ta cũng phải có tâm từ bi.
Lập trường của mỗi người không giống nhau, Ðàm Thiền
pháp sư là người xuất gia, cúng dường đạo tràng phần
nhiều là tự viện của người xuất gia, đạo tràng thọ
giới, đây là tổ đình, đây là một tấm lòng yêu thương,
một tấm lòng báo ân. Ðạo tràng Ðàm Thiền pháp sư
cúng dường không ở gần nhau, không thể nào lo được chu
toàn, cho nên nói ‘nhân quả ai nấy tự chịu’.
Nếu đạo tràng gần nhau, có thể đi tham học và lo lắng
chiếu cố, tình hình sẽ không giống vậy. Thế nên chuyện
gì cũng không thể quơ đũa cả nắm.
Phương pháp cúng dường đạo tràng tốt nhất là đem đạo
tràng cho người xuất gia hoặc tại gia mượn hoặc cho mướn.
Thí dụ tôi xây giảng đường này, giấy tờ chủ quyền của
giảng đường là của tôi, người xuất gia hoặc tại gia
cư sĩ làm việc đạo ở đó, tôi có thể cho mượn hoặc
cho mướn với một số tiền tượng trưng, mỗi năm một đồng
tiền mướn, nếu việc làm được như pháp thì làm luôn,
nếu không như pháp thì chấm dứt không cho mướn nữa.
Cách làm này rất tốt, sau này không có vấn đề tranh giành
đạo tràng. 21-90-46
14. TÔN GIÁO
Hỏi:
Lão pháp sư thường nói tất cả tôn giáo đều là hạng nhất,
không có hạng nhì. Nhưng trong số nhiều tôn giáo như
vậy, có thể liễu sanh tử xuất tam giới thì chỉ có Phật
giáo. Xin hỏi nếu tất cả tôn giáo đều là hạng nhất,
vậy thì tại sao phải học Phật làm chi? Có phải đây
là phá hoại cơ duyên thành Phật của tất cả chúng sanh?
Ðáp:
Ðây nhất định không phải phá hoại cơ duyên thành Phật
của tất cả chúng sanh, nếu có phá hoại thì thanh tịnh pháp
thân sẽ không biến hiện ra các tôn giáo. Tất cả những
pháp thế và xuất thế gian bao gồm hết những tôn giáo, chủng
tộc, quốc gia, thế giới, tinh cầu khác nhau đều là từ
pháp thân biến hiện ra, đều có chung một pháp thân.
Bất luận luân chuyển như thế nào, đời này họ là một
tín đồ Cơ Ðốc giáo, có thể đời sau sẽ là Phật giáo.
Ðời này theo Phật giáo, đời sau có thể theo Ấn độ giáo.
Sáu nẻo luân hồi không biết luân chuyển đến chỗ nào,
nhưng sau cùng cũng phải trở về một pháp thân chung.
Người ngoại quốc nói về ‘đời trước đời này’ đều
là sự thật. Không kể là tôn giáo chủng tộc nào
hiện nay đều biết có Phật giáo, đều biết có A Di Ðà
Phật, thế thì tốt rồi. Nhà Phật nói ‘Một phen lọt
vào tai, vĩnh viễn là hạt giống đạo’, trong a lại gia thức
của họ có gieo hạt giống của Phật, tương lai gặp duyên
cũng sẽ thành Phật. Cho nên tôi nhìn tất cả tôn giáo
cũng đều là Phật giáo, tất cả thần minh mà các tôn giáo
thờ phượng đều là hóa thân của Bồ Tát, họ dùng nhiều
thân phận vai trò để giáo hóa chúng sanh, giúp chúng sanh giác
ngộ, nếu bạn đọc kinh Hoa Nghiêm thì sẽ hiểu rõ.
Nhà Phật nói: ‘phương tiện hữu đa môn, quy nguyên vô nhị
lộ’ (phương tiện có nhiều cửa ngõ, đường về nguồn
không hai), đây mới thật là từ bi chân thật.
Ngày nay xã hội động loạn, chúng ta làm sao để an định
cục diện rối loạn [trong xã hội]? Quan trọng nhất
là tôn giáo đoàn kết, chủng tộc hài hòa, đầu tiên phải
đòi hỏi xã hội an định, nhất định phải biết đạo lý
này. 21-90-46
15. CHÁNH TRỊ
Hỏi:
Gần đây tình hình trên biển Ðài Loan rất căng thẳng, xin
hỏi tín đồ Phật giáo nên dùng tâm trạng gì để nhìn chuyện
này?
Ðáp:
Ðem tâm định trở lại, thật thà niệm Phật, cầu chư Phật
Bồ Tát giúp đỡ, cầu Phật lực gia trì, hy vọng có thể
hóa giải hiểm họa, nếu chúng ta có thể làm được điểm
này thì cũng rất tốt.
21-90-39
16. SIÊU ÐỘ
Hỏi:
Ðệ tử chủ yếu là tu pháp môn niệm Phật, có một đứa
con gái gả vào gia đình Thiên Chúa giáo, đứa con rể và cháu
ngoại đều bị bên bà nội và mẹ chồng kéo vào đạo, nhưng
vì công việc và sự học nên họ không tham gia các hoạt động
và cũng không tin. Ðứa con gái hiện nay chưa tin [Thiên
Chúa] mà cũng không tin Phật. Xin hỏi đệ tử có thể
cầu nguyện cho gia đình của họ bình an, hòa thuận, công
việc thuận lợi, và siêu độ cho tổ tiên của họ hay không?
Ðáp:
Không kể là họ tin tôn giáo nào, bạn học Phật và hồi
hướng cho họ đều có lợi ích, chỉ cần có tâm chân thành.
Kế đến thay họ siêu độ cho tổ tiên của họ cũng được.
21-90-08
Hỏi:
Xin hỏi có nhất định phải lập một bài vị cho oan gia nhiều
đời và nhờ Ðịa Tạng Bồ Tát làm chứng minh mới có thể
hoàn toàn tiêu trừ oan trái nợ nần từ nhiều kiếp?
Hình như Tân Gia Ba không có phong tục này.
Ðáp:
Tiêu trừ không nổi! Bạn muốn tiêu trừ họ, họ cũng
muốn đến tiêu trừ bạn nên chiến tranh sẽ xảy ra.
Tân Gia Ba cũng có, Công Ðức Ðường trong Cư Sĩ Lâm có làm
pháp hội siêu độ, mỗi năm người ta cúng bài vị cho oan
gia chủ nợ rất nhiều. Có một số pháp sư chủ trì
pháp hội đã học qua ‘Lớp Bồi Huấn’ nên họ đã hiểu
được đạo lý và phương pháp, cũng có thể giảng khai thị
cho đại chúng, và phối hợp với đạo tràng Cư Sĩ Lâm mỗi
ngày giảng kinh niệm Phật, đem tất cả công đức này hợp
lại cho nên hiệu quả của việc siêu độ có phần thù thắng.
Dựng một bài vị siêu độ oan gia chủ nợ là làm trên hình
thức, quan trọng hơn vẫn là hiểu lý luận. Trong cả
đời chúng ta không vì mình mà vì sự phồn vinh và an định
của xã hội, vì nền hòa bình của thế giới, vì hạnh phúc
của nhân dân, chỉ cần phát tâm như vậy thì rất có ích
lợi, thật được chư Phật hộ niệm, long thiên thiện thần
ủng hộ. Chúng ta thường nói câu: ‘Người cùng một
tâm, tâm cùng một lý’. Nếu chúng ta gặp người như
vậy chúng ta cũng kính phục họ, cho dù đã có xích mích gì
trước kia, chúng ta cũng không dám giữ lấy tâm niệm trả
thù. Vì họ làm rất nhiều việc thiện cho xã hội, việc
thiện mà họ làm cũng giống như chúng ta làm, vì vậy quỷ
thần cũng biết tu ‘tùy hỷ công đức’.
21-90-37
17. PHÓNG SANH
Hỏi:
Trong đạo tràng có phóng sanh gà, xin hỏi có thể đem trứng
gà đi bán và mua hương dầu, để cho gà cũng trồng phước
điền; hoặc dùng phương pháp khác để xử lý?
Ðáp:
Có thể, bạn nghĩ rất chu đáo. Trong đạo tràng có gà
[mà người ta] phóng sanh phải nên chú ý một việc, phải
tách rời gà trống và gà mái, không nên nuôi chung một chỗ.
Ðược vậy thì trứng gà mới không có sanh mạng và không
thể nở ra gà con, trứng gà này có thể đem bán. Nếu
không thì trứng gà này có sanh mạng, nếu bạn bán trứng
này thì cũng là sát sanh, chúng ta phải chú ý điểm này.
21-90-10
18. XUẤT GIA
Hỏi:
Con là Phật tử xuất gia ở Ðại Lục, tuy xuất gia nhưng
thường bị vấn đề nam nữ quấy nhiễu. Vào mùa hè
trong chùa có các cô thiếu nữ mặc áo quần mỏng manh, tâm
lý và sinh lý của người trẻ tuổi đương nhiên sẽ có rất
nhiều sự phản ứng. Xin hỏi người xuất gia nên giải
quyết vấn đề này như thế nào?
Ðáp:
Việc này rất khó! Trong nước khó, ở nước ngoài còn
khó hơn vì ở nước ngoài còn phóng khoáng hơn trong nước.
Ðây là sự khảo nghiệm của bạn, nếu bạn có thể vượt
qua cửa ải này thì sẽ có thành tựu [sau này]. Nếu
không vượt qua nổi cửa ải này, tốt nhất nên hoàn tục
kết hôn, làm Phật tử tại gia cũng tốt. Trong thời
đại hiện nay, những người tại gia học Phật thành công
rất nhiều, các người niệm Phật ở trong và ngoài nước
vãng sanh có được tướng lành vô cùng hy hữu, [trong số]
người vãng sanh đích thật tại gia nhiều hơn xuất gia, vả
lại nữ nhiều hơn nam.
Người trẻ tuổi nhất định phải biết tránh và giảm bớt
tiếp xúc. Nhưng trên thực tế thì rất khó khăn, nguyên
nhân là hiện nay đạo tràng không có nguồn cung cấp tài chánh
và phải hoàn toàn nhờ vào sự cúng dường của tín chúng
tại gia, cho nên [họ] không thể không giao thiệp, không tiếp
đãi tín đồ. Vì vậy người chân chánh xuất gia nhất
định phải tìm hoàn cảnh tịch tĩnh để tu học, nơi này
Thế Tôn gọi là ‘A lan nhã’.
Thời xưa chùa chiền được xây dựng trong núi sâu, ít có
người qua lại, giao thông bất tiện, hoàn cảnh tu học rất
thanh tịnh. Nhưng ngày nay giao thông thuận lợi, tuy tòng
lâm tự viện xây trên núi cao vì sợ phiền hà, nhưng có đường
lộ dẫn lên tận chỗ, xe cộ cũng có thể lên núi, như vậy
thì làm sao có thể tu hành? Vì vậy nên lựa chọn những
hoàn cảnh thanh tịnh, tách rời và cách xa thế giới bên ngoài
để tu học, những nơi như vậy dễ [nuôi] dưỡng đạo.
Người trẻ tuổi học Phật thành tựu được đều dựa trên
chữ ‘duyên’, tự mình phải xử lý nhân duyên tu học của
mình cho tốt đẹp. Duyên quan trọng nhất là thân cận
thiện tri thức, đạo tràng, và bạn đồng tu. Ðầy đủ
ba thứ duyên này thì có thể thành công. 21-90-45
19. TẠI GIA
Hỏi:
Tu học cần phải có thầy tốt và đồng tham đạo hữu tốt.
Nếu thật tìm không ra xin hỏi có thể ở nhà tu một mình
không?
Ðáp:
Thầy và bạn học có thể gặp mà không thể [tìm] cầu, đây
đều là duyên phận, nếu ra sức đi tìm cũng rất khó gặp
được. Nhưng nhất định phải có ý nguyện tìm thầy
tìm bạn đồng tu thì mới có thể gặp được; nếu cả ý
niệm cũng không có thì sẽ không gặp. Có tâm niệm (ý
muốn) thì sẽ có cảm, nếu có cảm thì sẽ có ứng; nếu
có cảm mà chưa có ứng là vì chúng ta có nghiệp chướng,
sau khi tiêu trừ nghiệp chướng cảm ứng sẽ hiện ra.
Nếu thật không gặp được thì ở nhà tự tu cũng rất tốt.
21-90-33
Hỏi:
Lúc đức Thế Tôn còn tại thế không cho đệ tử kết hôn
sanh con, phải tu hạnh thanh tịnh. Xin hỏi có phải là
vì sẽ ảnh hưởng đến đạo nghiệp?
Ðáp:
Ðệ tử có chia ra tại gia và xuất gia. Ðệ tử tại
gia thì Phật cũng để họ kết hôn sanh con. Nếu là đệ
tử xuất gia thì đích thật là sẽ ảnh hưởng đến đạo
nghiệp. Xuất gia phải chuyên làm công tác sự nghiệp
hoằng pháp lợi sanh, phải thâm nhập kinh tạng; thâm nhập
kinh tạng là một công việc khó khăn lâu dài, tốt nhất phải
không phân tâm. Nhưng đệ tử tại gia cũng có thể hoằng
pháp lợi sanh, có rất nhiều cư sĩ có thành tựu lớn làm
việc giảng kinh thuyết pháp.
21-90-36
20. HIẾU ÐẠO
Hỏi:
Trong nhà con có nhiều người đều là Phật tử, ba má cũng
nhận biết Phật giáo từ nhiều năm trước, tiếc là lúc
họ chưa hiểu rõ và thâm nhập [vào Phật pháp], má con bị
bịnh nặng qua đời, ba con lại mắc chứng người già si cuồng
loạn trí, vì vậy ba má đều chưa quy y. Bây giờ ngoài
việc cho ba uống thuốc, nghe máy niệm Phật, con và người
nhà thay mặt cho ba con ở trước bàn Phật sám hối và bố
thí, xin hỏi có cần giúp cho ba con thọ tam quy y, làm như vậy
có giúp đỡ gì được cho ổng không?
Ðáp:
Giúp được. Giúp ổng thọ tam quy y là một phần tâm
hiếu thảo của bạn. Bạn nên thường vặn băng giảng
về tam quy y cho ổng nghe. Nếu ổng hiểu được thì đó
là thật quy y, có ích lợi to lớn cho ổng. 21-90-12
Hỏi:
Hai năm trước em con bị đụng xe và qua đời, vì nghĩ đến
sức khoẻ của má nên anh chị em chúng con che dấu không cho
má biết, nói rằng em con đã đi ra nước ngoài làm ăn, không
về thăm nhà. Chúng con ai cũng biết làm vậy là đại
bất hiếu, đại vọng ngữ, nhưng không thể không làm vậy
gạt má con. Ðến nay cảm thấy quá khó khăn, chuyện
gì cũng phải nói dối, xin hỏi nên làm sao?
Ðáp:
Cách làm của quý vị đều vì có lòng hiếu nghĩa, như vậy
không gọi là vọng ngữ, trong vọng ngữ gọi là ‘khai duyên’
mà không phải phạm giới. Nếu sau khi má bạn biết được
sẽ vô cùng đau khổ thì vẫn nên dùng thiện xảo phương
tiện dấu bà tốt hơn. Khuyên bà niệm Phật, không nên
chấp trước đối với thân tình, nên buông xả, như vậy
mới không bị chướng ngại cho việc niệm Phật vãng sanh.
Phàm người niệm Phật đến lúc chót không thể vãng sanh
đều không ngoài hai nguyên nhân: một là tình thân buông xả
không được, đây là tham ái; còn thứ hai là oán thân chủ
nợ không buông xả được, họ [oan gia chủ nợ] có lỗi đối
với người đó, người đó chưa báo thù, vẫn còn giữ chặt
trong lòng, đây là sân nhuể, cả hai đều không thể vãng
sanh. Cho nên đối với thân tình, oan gia chủ nợ phải
nên xem lợt một chút, nhất tâm chuyên niệm A Di Ðà Phật,
cầu sanh Tịnh độ.
Bạn phải thường nói cho bà nghe những sự thù thắng của
Tịnh độ, công đức và lợi ích của sự niệm Phật, và
các câu chuyện về những người vãng sanh mà bạn biết được.
Giảng kinh bà chưa chắc đã hiểu, chưa chắc có hứng thú,
kể chuyện người vãng sanh bà sẽ thích hơn. Dùng cách
này để giúp đỡ, khuyến khích bà, như vậy mới tốt.
21-90-18
Hỏi:
Người lớn tuổi không có khả năng kinh tế, con cháu tu phước
thế cho họ, phát tâm tùy hỷ cúng dường Tam Bảo, xin hỏi
có phạm tội vọng ngữ không?
Ðáp:
Như vậy không phải vọng ngữ, mà là tâm hiếu [kính].
Nếu họ không tin Tam Bảo, bạn nên dấu đừng cho họ biết,
bạn ra tiền dùng tên của họ để tu phước, hồi hướng
công đức cho họ, họ cũng có thể có phước, đây là tâm
hiếu, là chuyện tốt, không có tội lỗi. 21-90-18
Hỏi:
Xin hỏi con nên độ ba má thành Phật trước rồi mới vãng
sanh hay nên vãng sanh trước rồi trở lại độ họ?
Ðáp:
Ðức Phật trong kinh luận thường dạy chúng ta: ‘Tùy duyên
chứ đừng phan duyên’. Tùy duyên mới được tự tại,
tự mình muốn làm như thế nào thường thường sự việc
đều trái ngược với ý nguyện của mình, vả lại làm không
được. Bạn thật tình nỗ lực tu hành y theo lời dạy
của Phật, thường đem công đức của bạn hồi hướng cho
cha mẹ thì bạn là một đứa con hiếu thảo. Tự mình
đích thực phải có đầy đủ niềm tin sâu dày, tâm nguyện
thiết tha, phát nguyện vãng sanh. Còn việc bạn đi trước
hay cha mẹ đi trước là do nghiệp lực chi phối, tự mình
làm chủ không được, việc này rất khó nói. Tốt nhất
là có thể khuyên ba má cũng niệm Phật, vậy mới là đại
hiếu. 21-90-23
Hỏi:
Ba má con đã bảy mươi mấy tuổi rồi, không tin Phật, khuyên
họ còn bị mắng, xin hỏi con nên làm thế nào?
Ðáp:
Ba má lớn tuổi rồi, bạn phải làm tốt hơn lúc bình thường,
họ sẽ cảm thấy kỳ lạ [tại sao] bây giờ bạn lại hiếu
thảo như vậy, khác hẳn lúc trước. Bạn nói đây là
Phật dạy bạn làm như vậy, được thế mới làm họ cảm
động, để họ có cảm tưởng tốt đối với Phật pháp,
sau đó mới từ từ khuyên họ niệm Phật. Nếu họ đều
không vui vẻ, không ưa thích những gì bạn làm thì bạn khuyên
họ niệm Phật rất khó. Vì [tuỳ thuận] cha mẹ bạn
không cần đến chùa, ở nhà niệm Phật cũng được.
Nếu niệm ra tiếng họ không thích thì bạn nên niệm thầm,
tất cả đều phải thuận theo cha mẹ. 21-90-24
Hỏi:
Xin hỏi có phải không nên thờ cúng tổ tiên nhiều đời
trong nhà? Nghe nói nếu vậy thì sẽ trói buộc thần thức
của người mất, làm cho họ không nỡ lìa khỏi?
Ðáp:
Cách nói này hình như cũng có một chút đạo lý, như nhà
Nho và nhà Phật vô cùng coi trọng hiếu đạo, trong nhà thờ
cúng bài vị của tổ tiên đặt kế bên tượng Phật là đúng.
Nếu họ thật không nỡ rời khỏi, bài vị được để kế
bên tượng Phật mỗi ngày tụng kinh lạy Phật hồi hướng
vãng sanh thì sẽ không sao hết. Nếu chỉ cúng bài vị
của tổ tiên mà không cúng tượng Phật thì việc bạn hỏi
có thể xảy ra. Vả lại chúng ta làm như vậy cũng để
làm gương cho đại chúng trong xã hội, niệm niệm không quên
tổ tiên, đây là đề xướng hiếu đạo.
21-90-32
Hỏi:
Thường nghe nói sư phụ đề cập nếu có phước báo xây
từ đường, xin hỏi xây từ đường nên dùng kiểu kiến
trúc nào? Nên giảng kinh điển gì trong từ đường?
Ðáp:
Phật pháp là sư đạo, sư đạo được xây dựng trên cơ
sở của hiếu đạo, nếu người ta không biết hiếu thuận
cha mẹ thì sẽ không biết tôn sư trọng đạo, đây là đạo
lý tất nhiên. Nhiều năm về trước có một số pháp
sư ra nước ngoài hoằng pháp và cũng có di dân ra ngoại quốc,
tôi đã từng khuyên họ ra nước ngoài đừng xây chùa, nên
xây từ đường, đề xướng hiếu đạo. [Nếu] mọi
người đều biết về hiếu đạo, biết hiếu dưỡng cha mẹ,
sau đó mới xây chùa, Phật pháp mới có gốc rễ. Tôi
nói qua rất nhiều lần, nhưng họ ra nước ngoài vẫn xây
chùa và không xây từ đường. Ðây là phước báo của
chúng sanh, chúng sanh không có phước, Phật pháp là sự giáo
học, giáo học không có gốc rễ [vững chắc].
Còn vấn đề từ đường phải theo đường lối hình dáng
ra sao, phải xây kiểu nào thì bạn có thể đi tham quan ở
Ðại Lục, tuy hơn phân nửa số từ đường ở Ðại Lục
bị phá hoại nhưng một số vẫn còn tồn tại. Gần
đây tôi coi phim video của các bạn đồng tu đem lại, thấy
được một số từ đường ở gần vùng Cửu Hoa Sơn vẫn
còn và hiện nay được khai mở làm nơi du lịch. Trước
kia từ đường được xây như thế nào quý vị có thể đi
coi, những việc này đều là thường thức. Coi văn hóa
Trung Quốc thời xưa, chế độ ‘điển chương’, sanh hoạt
của dân chúng, từ trong đó chúng ta rút tỉa kinh nghiệm và
bài học.
Nên giảng kinh điển gì ở trong từ đường? Nên giảng
luân lý, hiếu đạo. Nhà Nho gọi là Ngũ Luân, Ngũ Thường,
Bát Ðức; kinh Phật cũng nói đến những thứ này, đều có
thể giảng giải trong từ đường. Chúng ta dùng từ đường
làm trung tâm hoằng dương văn hóa đa nguyên, trung tâm đoàn
kết các chủng tộc. Dân tộc Trung Quốc có thể kéo
dài năm ngàn năm và chưa bị đào thải trong thế gian này,
từ đường nắm một vai trò rất lớn . 21-90-38
21. NGHI QUY (NGHI THỨC)
Hỏi:
Cư sĩ tại gia mặc áo thun và quần ngắn tụng kinh, niệm
Phật, và lễ Phật, xin hỏi như vậy [đúng] như pháp không?
Ðáp:
Không [đúng] như pháp. Ðối với người lớn tuổi chúng
ta phải kính trọng; cùng một đạo lý này lúc nhà bạn có
khách quý đến thăm, bạn có thể mặc áo thun quần ngắn
để tiếp đãi họ không? Ðối với quốc vương, đại
thần, tổng thống trong thế gian này chúng ta đều phải mặc
lễ phục để tiếp đãi họ, vậy thì lúc tiếp đãi chư
Phật Bồ Tát chúng ta có thể không mặc lễ phục sao?
Chúng ta nhìn thấy tượng Phật thì cũng như đối trước
đức Phật, phải sanh tâm cung kính như vậy. Ðây hoàn
toàn là một ý niệm tôn kính, phải tập thành thói quen.
21-90-08
Hỏi:
Xin hỏi ở nhà niệm kinh, niệm Phật có thể dùng pháp khí
(chuông, mõ, khánh) không?
Ðáp:
Quý vị phải nên biết dụng ý của pháp khí là gì?
Mục đích là lúc đại chúng tu tập chung, làm cho âm thanh,
âm điệu, động tác đều được chỉnh tề ngăn nắp, làm
trang nghiêm đạo tràng. Vì vậy ít nhất phải có hai
người trở lên thì mới cần đánh chuông mõ. Nếu chỉ
có một người thì không cần thiết. Không phải nói
đánh chuông mõ thì chư Phật Bồ Tát hoan hỷ, không đánh
chuông mõ thì các ngài không vui. Chuông mõ là tiết tấu
âm nhạc để làm trang nghiêm đạo tràng, giúp cho được chỉnh
tề ngăn nắp. 21-90-12
Hỏi:
Người cư sĩ tại gia lãnh chúng (điều khiển, hướng dẫn)
lúc nhiễu Phật trong Niệm Phật Ðường, xin hỏi có đúng
như pháp không?
Ðáp:
Nếu Niệm Phật Ðường không có pháp sư xuất gia hoặc vị
pháp sư xuất gia không muốn lãnh chúng thì cư sĩ tại gia
lãnh chúng cũng đúng như pháp. 21-90-18
Hỏi:
Có vị đồng tu nói cư sĩ tại gia công lực không đủ, đi
theo sau lưng họ nhiễu Phật rất dễ bị thương. Xin
hỏi cách nói như vậy đúng không?
Ðáp:
Những lời nói như vậy không có căn cứ. Học Phật
phải tuân theo lời dạy của Phật, lúc đức Thế Tôn sắp
nhập diệt có nói đến ‘Tứ Y Pháp’. Thứ nhất là
‘Y pháp bất y nhân’ (Y theo pháp không y theo người); trong
kinh không có nói cư sĩ công lực không đủ, nếu đi theo sau
lưng dễ bị thương, vì vậy chúng ta không thể tin [chuyện
này]. Thứ hai là ‘Y nghĩa bất y ngữ’ (Y theo nghĩa,
không y theo ngôn ngữ, văn từ) chỉ cần ý nghĩa đúng thì
nói thêm vài lời hoặc nói ít vài câu cũng không quan trọng.
Thứ ba là ‘Y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa’ (Y theo
liễu nghĩa mà không y theo không liễu nghĩa). Thứ tư
là ‘Y trí bất y thức’; trí là trí huệ, lý trí; thức
là cảm tình, học Phật phải y theo lý trí mà không thể nương
theo cảm tình. Nếu hiểu ý nghĩa của Tứ Y Pháp thì
có thể hiểu rõ những cách nói trái ngược với kinh điển,
sẽ không nghi hoặc, và cũng không bị cảnh giới chuyển.
21-90-18
Hỏi:
Xin hỏi học đánh pháp khí (chuông, mõ, khánh) có nhất định
phải ở trong chùa hay không? Ở nhà học có trở ngại
không?
Ðáp:
Ở nhà học [đánh pháp khí] không có trở ngại. Ðánh
chuông mõ trong chùa đôi lúc quỷ thần nghe đến có thể sanh
phiền não cho nên phải cúng một bài vị để nói với quỷ
thần: ‘Chúng tôi đang học đánh chuông mõ, xin quý vị tha
thứ!’. Còn ở nhà thì không cần, quỷ thần trong chùa
rất nhiều còn ở nhà thì không.
21-90-48
Trong
quá trình chuyển ngữ chắc không tránh khỏi thiếu sót, xin
các bậc thức giả hoan hỷ phủ chính cho.
Xin
thành thật cám ơn.
Một
nhóm Diệu Âm cư sĩ, 6-15-2004