Chư
vị đồng tu đại đức,
Ðề
tài của buổi giảng hôm nay là nhằm giới thiệu bức tranh
‘Ðịa Ngục Biến Tướng Ðồ’, còn có tên là ‘Thập
Vương Ðồ’, do lão sư Giang Dật Tử vẽ tại Ðài Trung,
hiện nay đang được triển lãm tại Kinh Ðô, Nhật Bản.
Bức tranh này chẳng dám nói là tuyệt hậu, nhưng đích thật
là từ trước đến nay chưa từng có. Bức tranh gốc
được triển lãm tại đây cao sáu tấc sáu (66cm) và dài sáu
chục thước, thiệt là một sáng tác vĩ đại. Giang lão
sư mời tôi giải thích với mọi người trong buổi triển
lãm này, bài thuyết minh đã được in ra, tôi nghĩ dùng bài
viết này phối hợp với bức tranh để thuyết minh, vậy thì
cũng đầy đủ. Thế thì tôi cần giới thiệu cho quý
vị ý nghĩa giáo dục của bức tranh này ở tại chỗ nào?
Ðiểm này vô cùng quan trọng.
Những
năm đầu Dân Quốc, Tổ thứ mười ba của Tịnh Ðộ Tông
là Ấn Quang đại pháp sư, hầu như Ngài đã dùng toàn bộ
tinh thần và sức lực trong suốt đời để hoằng dương giáo
dục Nhân Quả. Năm 1977 lần đầu tiên tôi đáp lời
mời của pháp sư Thánh Hoài và cư sĩ Tạ Ðạo Liên đến
Hương Cảng giảng kinh Lăng Nghiêm. Năm đó chúng tôi
giảng hết hai tháng tại Trung Hoa Phật Giáo Ðồ Thư Quán,
Cửu Long, hai tháng này có phiên dịch sang tiếng Quảng Ðông.
Sau đó là giảng tại Quang Minh Giảng Ðường của Thọ Dã
lão hòa thượng ở đường Lam Ðường, Hương Cảng, cũng
giảng hết hai tháng, mọi người đều nghe quen rồi nên chẳng
cần phiên dịch, nhờ vậy nên chúng tôi đỡ tốn rất nhiều
thời giờ. Tại Trung Hoa Phật Giáo Ðồ Thư Quán tôi
xem kinh luận và những sách tốt do Hoằng Hóa Xã của Ấn
Tổ phát hành, tôi khá quen thuộc với Hoằng Hóa Xã, tôi đã
thỉnh không ít tài liệu tham khảo nhưng cũng không đầy đủ
bằng những cuốn tàng trữ tại Ðồ Thư Quán, tôi hầu như
đã xem hết vì những sách do Hoằng Hóa Xã in có thể nói
là những sách tốt trong những năm gần đây. Tiêu chuẩn
của sách tốt là chữ sai ít, sách in rất đẹp, có thể làm
cho người đọc ưa thích, mỹ quan, những sách tốt này rất
quý.
Khi
đọc sách tôi có thói quen coi trang ghi bản quyền trước hết,
khi coi xong tôi cảm thấy vô cùng ngạc nhiên, Ấn Tổ in những
cuốn An Sĩ Toàn Thư, Cảm Ứng Thiên Vựng Biên, Liễu Phàm
Tứ Huấn nhiều nhất; tôi thử tính nhẩm số lượng của
ba cuốn này cũng phải hơn ba triệu bộ, vào thời đại đó
[số lượng] này làm cho người ta vô cùng ngạc nhiên.
Lúc đầu tôi cũng chẳng hiểu, một vị Tổ Sư của Tịnh
Ðộ Tông chúng ta [tại sao lại làm như vậy]. Liễu Phàm
Tứ Huấn chẳng thuộc sách nhà Phật, chẳng phải là kinh
Phật, kể như là sách của Nho giáo; Cảm Ứng Thiên và
Âm Chất Văn thuộc Ðạo Giáo; ngoài An Sĩ Toàn Thư còn
hai thiên Vạn Thiện Tiên Tư, Dục Hải Hồi Cuồng; hai thiên
này chuyên giảng về Kiêng Sát, Kiêng Dâm; Thiên cuối cùng
là Tây Quy Trực Chỉ nhằm khuyên người niệm Phật cầu sanh
Tịnh Ðộ; [Tại sao ngài] in [những sách này] nhiều như vậy?
Tôi nghĩ suốt mấy ngày mới hiểu được dụng ý khổ nhọc
của Tổ sư.
Muốn
cứu vãn xã hội hiện nay, năm nay cách năm bảy mươi bảy
đã hai mươi năm, trải qua khoảng thời gian dài như vậy trong
xã hội ngày nay chúng ta thể hội vô cùng rõ ràng, chân chánh
biết nếu dùng Phật pháp để cứu vãn thế gian, dùng Nho
giáo để cứu thế gian thì không kịp nữa. Cũng vào
thập niên bảy mươi, Bác sĩ Thang Ân Tỷ nói với Trì Ðiền
Ðại Tác ở Nhật Bản rằng trong thế kỷ 21 chỉ có Học
thuyết Khổng Mạnh và Phật pháp Ðại Thừa mới có thể
giải quyết vấn đề xã hội. Lúc ông nói câu này mọi
người cảm thấy rất ngạc nhiên, nhưng hai mươi năm sau nhìn
thử xã hội hiện nay thì thiệt đúng như vậy. Chúng
ta thử suy nghĩ kỹ xem, Ấn Quang đại sư còn cao minh hơn.
Phật pháp Ðại Thừa và Nho Giáo đích thực có thể giải
quyết vấn đề, nhưng hai thứ này quá cao siêu, nếu muốn
tu học tối thiểu cũng phải mất mười năm, sau mười năm
cái thế giới này biến đổi thành như thế nào ai cũng chẳng
dám nói, thế nên Ấn Tổ đặc biệt đề xướng Nhân Quả,
chúng ta càng nghĩ thì càng có đạo lý.
Nếu
con người không biết Phật cũng chẳng sao, không biết Nho
giáo cũng chẳng sao, thậm chí không tín ngưỡng tôn giáo cũng
chẳng sao, chỉ cần họ biết đạo lý và sự thật của Nhân
Quả Báo Ứng thì được rồi. Tại sao vậy? Khi
khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác thì họ tự nhiên
sẽ cân nhắc cẩn thận, được vậy thì họ có thể cứu
mình, cứu nhà mình, cứu xã hội, cứu quốc gia, cứu thế
giới, từ đó chúng ta mới chân chánh thể hội được dụng
ý khổ nhọc của Tổ Sư. Hết thảy đạo lý thế gian
và xuất thế gian không vượt ngoài tâm tánh, hết thảy các
sự tướng chẳng ra ngoài nhân quả, cho nên tâm tánh và nhân
quả có thể bao gồm hết thảy pháp thế và xuất thế gian.
Những năm gần đây, bắt đầu từ năm 1977 tôi rời khỏi
Ðài Loan, hoằng pháp tại nước ngoài, trạm đầu tiên là
ở Hương Cảng, bao nhiêu năm nay đi đến rất nhiều quốc
gia, địa phương, tôi có dịp tiếp xúc với nhiều người
trong mọi tầng lớp, mọi ngành nghề, người Trung Quốc, người
ngoại quốc cũng rất nhiều. Tôi hỏi họ muốn phát
tài không? Muốn chứ, không ai chẳng muốn phát tài cả!
Muốn có thông minh trí huệ không? Muốn. Muốn khoẻ
mạnh sống lâu không? Muốn chứ. Bất kể quốc
tịch chúng ta bất đồng, chủng tộc khác nhau, tín ngưỡng
khác nhau, ba thứ kể trên đều là sự ham muốn chung, chẳng
có người nào chẳng mong cầu, chẳng nghĩ tưởng đến.
Vậy thì làm sao mới có thể đạt được? Cho nên người
ta tìm đủ mọi phương pháp, thủ đoạn, nói tóm lại đều
là lợi mình hại người, dùng bất cứ thủ đoạn gì cũng
vì muốn đạt được mục đích này. Như vậy là sai
lầm, lý và tâm tánh trái ngược nhau, sự và nhân quả trái
ngược nhau, có thể mong cầu được chăng? Chẳng được.
Lúc
tôi mới học Phật, thầy tôi dạy ‘Trong cửa nhà Phật có
cầu ắt ứng’, tôi nghe xong rất vui thích và liền xin thầy
dạy phương pháp và đạo lý ấy cho tôi. Bất kể người
nào giảng đạo lý và phương pháp ấy, giảng sâu hay cạn,
giảng dài hay ngắn, cũng như thiền sư Vân Cốc, thiền sư
Trung Phong, đều giống nội dung trong Liễu Phàm Tứ Huấn.
Cuốn Liễu Phàm Tứ Huấn chuyên giảng về lý luận và chân
tướng sự thật của Nhân Quả. Chúng tôi đích thân
nghe thầy giảng dạy nên có ấn tượng vô cùng sâu sắc;
‘Trong cửa nhà Phật có cầu ắt ứng’, bạn phải
hiểu ý nghĩa của chữ ‘Trong cửa nhà Phật’, nếu bạn
hiểu sai và nghĩ rằng ‘trong cửa nhà Phật’ có nghĩa là
‘trong chùa miếu’, đi vào chùa miếu để tìm cầu thì chưa
chắc ‘có cầu ắt ứng’. Chùa miếu có phải là ‘trong
cửa nhà Phật’ chăng? Có thể nói là phải, cũng có
thể nói là không phải, [muốn hiểu] ý nghĩa chân chánh của
‘trong cửa nhà Phật’, bạn phải hiểu Phật nghĩa là gì,
chữ Phật là dịch âm từ tiếng Phạn ở Ấn Ðộ, ý nghĩa
của ‘Phật’ là trí, là giác. Phật pháp giảng hết
thảy pháp đều giảng đến ‘thể, tướng, và dụng’; thể
là trí huệ, trí huệ chân thực, dụng là giác mà không mê,
nếu bạn hiểu được ý nghĩa này thì bạn mới hiểu ‘trong
cửa nhà Phật’ nghĩa là gì? Nghĩa là ‘trong trí huệ,
giác ngộ thì có cầu ắt ứng’, vậy thì bạn mới hiểu
hoàn toàn, trong đó chẳng có mê tín, trí huệ tương ứng
với tâm tánh, giác ngộ tương ứng với nhân quả, bạn xem
thử bạn muốn hay không? Như vậy là chúng ta đã tìm
được chỗ y cứ của lý luận này.
Cho
nên ‘trong cửa nhà Phật’ nghĩa là ‘trong trí giác’, phải
hiểu điểm này, đây mới thực sự là ‘trong cửa nhà Phật’,
tự viện và am đường đều là hình tướng, khi xưa Chương
Gia đại sư nói với tôi: ‘Phật pháp trọng thực chất,
chẳng trọng hình thức’, tôi học được từ Ngài, cho nên
thực chất thì cũng từ trong nhà Phật mà đi tìm trí giác,
cũng là ý nghĩa chân chánh hàm chứa trong danh từ ‘Phật
đà da’. Kinh Ðại Thừa dạy chúng ta: ‘Hết thảy chúng
sanh đều có trí huệ và đức tướng của Như Lai’, câu
này rất hay, câu này là do đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy
trong ‘phẩm Xuất Hiện’ của Kinh Hoa Nghiêm. Hết thảy
chúng sanh, phạm vi này quá lớn, chúng ta chẳng nói đến phạm
vi lớn như vậy, chúng ta chỉ nói đến cõi người thì dễ
hiểu hơn, chúng ta ở trong cõi người, sanh sống trên trái
đất này, hiện nay thống kê nhân số trên thế giới đã
gần bảy mươi ức (bảy tỷ) người. Chỉ luận về
cõi người, chúng ta thâu nhỏ phạm vi của ‘chúng sanh’,
trong Phật pháp ‘chúng sanh’ là nói đến chín pháp giới,
nếu kể luôn pháp giới Phật thì là mười pháp giới, trong
mười pháp giới chúng ta chỉ nói đến pháp giới người
mà thôi, bạn hãy xem ‘đều có trí huệ của Như Lai’.
Như Lai nghĩa là gì? Kinh Kim Cang nói rất hay: ‘Như
Lai giả chư pháp như nghĩa’, ý nghĩa của câu này rất sâu,
một giờ đồng hồ cũng giảng không hết, tôi chỉ có thể
đề cập thoáng qua. Chúng ta có ‘Giảng Ký kinh Kim Cang’,
nếu chư vị có hứng thú thì hãy nghe thử. Bộ kinh Kim
Cang này được giảng hết hai trăm bốn mươi tám giờ đồng
hồ, chỉ câu này thôi cũng đã giảng mất mấy giờ, đó
chẳng phải là mê tín đâu.
‘Như’
là chân như, là lý, ‘Lai’ là giảng về hiện tướng, nói
đến tác dụng. Nếu chúng ta từ ‘thể, tướng, dụng’
mà xét thì ‘Như’ là nói về lý thể, ‘Lai’ là nói về
tướng và tác dụng. Nói theo cách thông thường, minh
tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật trong Thiền Tông thì
những người đã kiến tánh đều có thể xưng họ là Như
Lai. Như Lai là một trong mười hiệu của Phật.
Mười hiệu này là đức hiệu, vốn đã có sẵn, chỉ cần
bạn kiến tánh, danh hiệu này có thể trao cho bạn, đây là
đức hiệu đầu tiên trong mười đức hiệu. Nói một
cách khác Như Lai tức là chân tánh của bạn, chân tâm của
bạn, vốn đã có sẵn vô lượng trí huệ, chẳng khác gì
với đức Phật Thích Ca, đức Phật A Di Ðà, và hết thảy
mười phương chư Phật, Phật có trí huệ bao lớn thì bạn
cũng có giống vậy. Bạn xem năm xưa đức Phật Thích
Ca Mâu Ni mỗi ngày đều giảng kinh thuyết pháp, giảng hết
bốn mươi chín năm, các bạn đều biết chuyện này.
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh hơn ba trăm hội, thuyết
pháp suốt bốn mươi chín năm, người đời sau ghi chép lại
thành kinh điển, hiện nay bộ Ðại Tạng Kinh đang lưu thông
tại Trung Quốc là do đức Phật Thích Ca giảng đấy, rốt
cuộc Ngài đã giảng bao nhiêu bộ kinh? Chúng ta không
có cách gì để biết vì kinh điển được truyền đến Trung
Quốc chỉ là một phần, chẳng phải toàn bộ.
Thời
xưa giao thông bất tiện, hơn nữa lúc đó kinh điển đều
được viết bằng tay, lại chẳng có giấy, kinh được viết
trên lá của cây ‘Bối đa la’ nên được gọi là ‘kinh
lá Bối’, rất cồng kềnh và nặng nề, vô cùng bất tiện.
Vì tình trạng giao thông như vậy nên khi pháp sư Ấn Ðộ
đến Trung Quốc hay pháp sư Trung Quốc đến Ấn Ðộ thỉnh
kinh đều phải chọn lựa tỉ mỉ, chỉ chọn và chở về
những kinh hay nhất, thích hợp với nhu cầu sanh hoạt của
người Ðông Phương chúng ta. Những kinh khác thì chẳng
có biện pháp nào chở hết nên phải để lại. Thế
nên chúng ta biết những kinh điển cả đời đức Thế Tôn
giảng quá nhiều, quá nhiều, tôi tin tưởng rằng ít nhất
cũng nhiều gấp mười lần bộ Ðại Tạng Kinh của chúng
ta hiện nay. Cách suy đoán này của tôi chắc cũng không
quá đáng lắm đâu. Những gì chúng ta được thừa hưởng
ngày nay trên số lượng bất quá chỉ là một phần mười
của toàn bộ mà thôi. Nhưng Tạng Kinh ngày nay của chúng
ta cũng rất khả quan, bạn xem trí huệ ấy bao lớn, chúng
ta ai cũng có sẵn trí huệ này, nhưng chúng ta chẳng hiểu
những gì Phật giảng, tại sao lại như vậy? Trí huệ
của chúng ta bị một cái gì che phủ, chứ chẳng phải bị
mất, chỉ bị che đậy thôi nên trí huệ chẳng thể hiện
tiền, cái che đậy là gì? Phật dạy đó là phiền não,
Phật nói đến ba thứ: Vô Minh phiền não, Trần Sa phiền não,
Kiến Tư phiền não, ba thứ này che kín nên tuy có sẵn trí
huệ rốt ráo viên mãn nhưng không thể hiển lộ.
Không
những trí huệ của bạn vốn sẵn có, mà năng lực, tài năng,
tài nghệ, vạn đức vạn năng đều là sẵn có, tuyệt đối
chẳng phải do học mà có. Hơn nữa còn phước báo, phước
báo tức là tướng hảo nói trong kinh, tướng hảo là phước
báo, phước báo cũng viên mãn. Bạn xem những gì bạn
mong cầu, thọ mạng trong phước báo, chúng ta muốn được
thông minh trí huệ, muốn đa tài đa nghệ, chẳng gì là chẳng
được, muốn vô lượng vô biên phước báo, Phật nói trong
chân tâm bản tánh của bạn hoàn toàn đầy đủ. Thế
nên Phật, chư Phật, Bồ Tát chẳng dám khinh lờn một chúng
sanh nào cả, tại sao? Các Ngài biết chúng sanh giống
hệt như mình, mình có trí huệ bao lớn thì họ chẳng thua
mình, mình có tài cán bao lớn thì cũng chẳng nhiều hơn người
khác. Phước báo của chúng ta đều bình đẳng, chỉ
là hiện nay tôi có thể dùng được còn người kia tuy có
nhưng chẳng dùng được, chẳng dùng được là vì chướng
ngại này. Kinh Hoa Nghiêm chẳng dùng những danh từ này,
chẳng nói phiền não, chẳng dùng danh từ Vô Minh, Trần Sa,
Kiến Tư phiền não, những danh từ này được dùng trong rất
nhiều kinh điển Ðại thừa và Tiểu thừa, kinh Hoa Nghiêm
dùng danh từ ‘vọng tưởng và chấp trước’ thì dễ hiểu
hơn. ‘Chỉ vì vọng tưởng chấp trước mà chẳng thể
chứng được’, vọng tưởng chính là Vô Minh phiền não,
chấp trước chính là Kiến Tư phiền não, trong đó còn một
thứ đã được giản lược bớt, chỉ nói cái đầu, cái
chót, cái chính giữa đương nhiên cũng bao gồm trong ấy, cái
chính giữa này là ‘phân biệt’, phân biệt là Trần Sa phiền
não. Phật dạy vì chúng ta có vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước nên trí huệ vốn sẵn có của chúng ta không
thể hiển lộ, đức năng, phước báo của chúng ta chẳng
thể hiện tiền.
Nói
một cách khác chỉ cần bạn buông bỏ vọng tưởng, phân
biệt và chấp trước, buông xả hết thì trí huệ và đức
năng của Như Lai sẽ hiện tiền, là bạn vốn sẵn có.
Chúng ta phải biết rõ lý luận và đạo lý này. Nhưng
bạn biết vọng tưởng, phân biệt, và chấp trước chưa đoạn
dứt, phước báo hiện nay bạn đang hưởng là do tu tập mà
có, chẳng xứng tánh. Ðây là của tự tánh, tự tánh
chúng ta là bình đẳng, những gì tu được thì chẳng bình
đẳng. Phước báo của chúng sanh trong lục đạo đều
là do tu mà được, chẳng phải là trong tự tánh. Phước
báo của Tứ Thánh pháp giới có một phần là do tự tánh
phát ra, còn một phần là do tu mà được, phần tự tánh phát
ra cũng chẳng viên mãn. Tam Giới đều hình thành như
vậy, nói chung thì phải biết phạm vi của Tam Giới này lớn,
chẳng phải Tam Giới trong lục đạo. Nếu bạn có cả
ba thứ vọng tưởng, phân biệt và chấp trước thì bạn sanh
sống nơi nào? Trong lục đạo, đây là chúng sanh trong
lục đạo. Phật dạy nếu chúng ta chẳng chấp trước
các pháp thế gian và xuất thế gian, buông xuống chấp trước
rồi nhưng còn phân biệt, chấp trước buông xuống thì đã
giỏi lắm rồi, lục đạo chẳng còn nữa, cũng giống như
lời của Vĩnh Gia đại sư trong Chứng Ðạo Ca:
Mộng
lý minh minh hữu lục thú,
Giác hậu không không vô đại thiên.
(Trong mộng rành rành phân sáu nẻo,
Giác rồi ba cõi rỗng toang hoang).
Ðại thiên ở đây là chỉ lục đạo, bạn đã siêu việt
(thoát khỏi) lục đạo rồi. Chỉ cần không có chấp
trước thì sẽ siêu việt lục đạo, do đó mới biết chấp
trước hại người, đã hại chúng ta đời đời kiếp kiếp
kẹt mãi trong sanh tử luân hồi, bạn còn muốn chấp trước
nữa hay chăng?
Thế nên khi chân chánh giác ngộ thì bạn sẽ buông xuống
chấp trước, đối với tất cả pháp thế gian và xuất thế
gian bạn đều chẳng chấp trước nữa; chẳng chấp trước
thì tâm sẽ thanh tịnh. Nhân - ngã, thị - phi là chấp
trước, danh văn lợi dưỡng là chấp trước, tham - sân - si
- mạn là chấp trước, những thứ này mất hết thì tâm địa
thanh tịnh, siêu việt lục đạo luân hồi. Tuy siêu việt
nhưng bạn vẫn còn phân biệt, phiền não phân biệt nhẹ hơn
chấp trước nên lúc phân biệt chưa đoạn hết thì bạn hãy
còn trong Tứ Thánh pháp giới, đồng tu học Phật biết [đây
là] Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật (Phật trong thập pháp
giới). Nếu đoạn dứt ý niệm phân biệt các pháp thế
gian và xuất thế gian thì được tâm thanh tịnh, bạn sẽ
siêu việt thập pháp giới. Siêu việt thập pháp giới
xong thì bạn đi đâu? Ðến Nhất Chân pháp giới.
Hoa Tạng thế giới là Nhất Chân pháp giới, Cực Lạc thế
giới là Nhất Chân pháp giới, các báo độ của chư Phật
đều là Nhất Chân pháp giới, đây là Thật Báo Trang Nghiêm
Ðộ. Ở nơi ấy vẫn còn cấp bậc, cấp bậc từ đâu
đến? Cấp bậc tức là vọng tưởng của bạn nặng
nhẹ khác nhau. Vọng tưởng là gì? Trong phần đông
những đạo tràng giảng kinh chúng ta thường nói đến khởi
tâm động niệm, lục căn đối với cảnh giới lục trần
vẫn còn khởi tâm động niệm. Tuy khởi tâm động niệm,
chẳng có phân biệt, chẳng có chấp trước, mức này cao rồi,
rất cao rồi, trong Thiền Tông gọi mức này là Bồ Tát minh
tâm kiến tánh; minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật,
xưng ngài thành Phật. Trong kinh Kim Cang gọi là chư Phật
Như Lai, các bạn xem chú giải của cư sĩ Giang Vị Nông, chữ
chư Phật này tức là bốn mươi mốt vị Pháp Thân đại sĩ
ở Hoa Tạng thế giới, bốn mươi mốt vị này tức là bốn
mươi mốt cấp bậc vô minh đề cập trong kinh Ðại Thừa;
phá một phẩm vô minh, chứng một phần pháp thân, phá từng
phần vô minh, chứng từng phần pháp thân, là có ý nghĩa này,
giống như học trong trường vậy, trường học này từ lớp
một đến lớp thứ bốn mươi mốt, học xong lớp bốn mươi
mốt thì tốt nghiệp và chứng được quả vị Phật cứu
cánh viên mãn.
Chúng ta hiểu rõ đạo lý này xong, nhà Phật gọi là tham thấu
rồi thì chúng ta phải coi trọng ba thứ phiền nào này, hiện
nay chúng ta đều có đủ. Vọng tưởng, phân biệt, chấp
trước đều có đủ thì trí huệ đức năng vốn sẵn có
trong tự tánh không thể hiện tiền; những gì hiện nay chúng
ta hưởng thọ đều do tu tập mà có, tu được thì chẳng
rời khỏi nhân quả, cho nên mới nói trồng nhân lành thì
được quả lành, nếu tạo nhân ác thì sẽ bị ác báo, đây
là cái lý của việc này, bạn chẳng thể không hiểu.
Liễu Phàm Tứ Huấn nói rất hay, Liễu Phàm tiên sinh rất
hiếm có, lúc mười mấy tuổi gặp được một người coi
bói rất giỏi là Khổng tiên sinh, ông Khổng nói: ‘Anh là
người trong giới sĩ đồ’, ‘sĩ đồ’ nghĩa là người
thư sinh. Ngày xưa đi học là để làm quan, tham gia các
kỳ thi của quốc gia, thời đó gọi là công danh. Ông
Khổng nói: ‘Tại sao anh không đi học?’. Ông Liễu
Phàm bèn thuật lại lời của mẹ ông, kể lại rằng cha ông
đã qua đời, lúc qua đời cha ông dặn sau này tốt nhất cho
con học ngành thuốc, học ngành thuốc có thể cứu người,
có thể nuôi sống gia đình, đây là ý của cha ông, hy vọng
ông có thể làm như vậy nên ông theo học ngành thuốc.
Học ngành thuốc thường thường phải đi vào rừng để nhận
biết dược thảo, học cách đi kiếm thuốc, trên đường
đi lấy thuốc ông Liễu Phàm gặp Khổng tiên sinh. Khổng
tiên sinh coi tướng cho ông, đoán mạng ông và nói: ‘Anh đáng
lý phải đi học và tham gia thi cử’. Ông rất kính trọng
Khổng tiên sinh, nhìn thấy ông này chắc không phải người
phàm, phiêu bồng như tiên nên mời ông về nhà gặp mẹ.
Mẹ ông tiếp đón Khổng tiên sinh rất tử tế, đem ngày sinh
tháng đẻ của con cho Khổng tiên sinh đoán quẻ, Khổng tiên
sinh xem xong và nói rất tường tận. Nói ông Liễu Phàm
năm nào đi thi và đậu hạng mấy, năm nào đi thi nữa và
đậu hạng mấy, một mạch đoán đến lúc năm mươi ba tuổi,
thọ mạng ông chỉ có năm mươi ba tuổi mà thôi. Ðáng
tiếc là trong mạng chẳng có con cái, đến năm mươi ba tuổi
có thể làm tri huyện một huyện nhỏ ở Tứ Xuyên, đến
năm mươi ba tuổi thì ông phải từ chức về nhà, thọ mạng
của ông đã đến.
Sau khi nghe [Khổng tiên sinh nói xong] ông bèn đi học chữ,
nhà người bà con có mở trường tư dạy học nên ông đến
đó học chữ. Ðến lúc tham gia thi cử thì quả nhiên
không sai, mỗi lần đi thi và thi đậu hạng mấy đều đúng
như lời Khổng tiên sinh đã dự đoán. Từ đó ông mới
biết mạng sống của một người suốt cả đời đều đã
định sẵn, đúng như câu ‘Cả đời đều là mạng, nửa
điểm cũng chẳng do người định’ (Nhất sanh giai thị mạng,
bán điểm bất do nhân), thế nên tâm của ông an định, hết
thảy mong cầu đều chẳng còn nữa. Những gì người
ta cạnh tranh, nỗ lực cạnh tranh thì ông đều buông bỏ,
trong mạng đã định sẵn, tranh giành cách mấy cũng tranh không
được, đến lúc nào đó thì tự nhiên có sẵn, cứ như vậy
hai mươi năm trôi qua. Tôi gọi ông là phàm phu chánh cống,
tại sao? Vận mạng trong hai mươi năm tơ hào chẳng chuyển
biến, chẳng tăng chẳng giảm, tại sao? Ông ấy chẳng
tu thiện và cũng chẳng làm ác, cả đời người mặc cho vận
mạng đẩy đưa mà sống qua ngày.
Có
một năm, ông Liễu Phàm đến núi Lâu Hà ở Nam Kinh viếng
thăm Vân Cốc Thiền sư, một cao tăng đương thời, ông đi
thăm lão hòa thượng này. Lão hòa thượng tham thiền,
lúc ông Liễu Phàm đến thì lão hòa thượng đang ở trong
thiền đường. Hòa thượng chẳng nói gì chỉ đưa cái
bồ đoàn cho ông và kêu ông ngồi kế bên. Lão hòa thượng
có công phu, ngồi hết ba ngày ba đêm, ông Liễu Phàm cũng
ngồi hết ba ngày ba đêm, chẳng khởi một ý niệm. Lão
hòa thượng rất ngạc nhiên, suốt ba ngày ba đêm chẳng khởi
tâm động niệm, đây chẳng phải là việc một người thường
có thể làm được. Ngài nói:
‘Công
phu của anh rất khá, anh tu như thế nào [mà giỏi vậy]?’
Ông
Liễu Phàm nói lời thành thật: ‘Vận mạng của con đã được
Khổng tiên sinh đoán hết rồi, cho dù con có khởi tâm động
niệm, khởi vọng tưởng cũng chẳng có ích gì hết; thế
nên con chẳng thèm khởi tâm động niệm nữa’.
Vân
Cốc thiền sư nghe xong bèn cười ha hả: ‘Tôi tưởng anh
là thánh nhân, tưởng anh có công phu, thiệt ra anh vẫn là
phàm phu’.
Nghe
xong ông Liễu Phàm bèn hỏi: ‘Tại sao con vẫn là phàm phu?’.
Vân
Cốc thiền sư đáp: ‘Vận mạng có hay không? Có, nhưng vận
mạng chẳng phải là định số.’
Vận
mạng có thể nói là một cái thường số (hằng số).
Các bạn phải hiểu đạo lý này, nó chẳng phải là định
số. Trong thường số có biến số, khi bạn khởi một
ý niệm thiện, một hành vi thiện thì mạng của bạn tăng
thêm một chút; khi bạn khởi một ác niệm hoặc làm một
việc xấu thì mạng bạn giảm một chút. Bất luận là
trí huệ, đức năng, tướng hảo mỗi ngày đều có thêm,
bớt, nhân, trừ. Những cái thêm, bớt, nhân, trừ này
là biến số. Ngài nói: ‘Hai chục năm nay anh bị người
ta đoán chắc rồi, chẳng có gia tăng và cũng chẳng giảm
bớt, nếu anh không là phàm phu thì ai mới là phàm phu?’
Cho
nên câu chuyện này nói rõ về nhân quả, khi bạn có ý niệm
thiện, có hành vi thiện, làm lợi ích chúng sanh, lợi ích
cá nhân, trí huệ của bạn sẽ tăng trưởng, khả năng và
phước báo của bạn cũng sẽ tăng trưởng; cái thường số
của bạn sẽ tăng trưởng. Ngược lại nếu bạn khởi
ác niệm, hành vi xấu ác, thì thường số ấy sẽ giảm bớt.
Thí dụ giàu có, bạn chẳng cầu giàu có! Trong vận mạng
của bạn có của cải vạn ức, của cải vạn ức này chẳng
xứng tánh, nếu xứng tánh thì nó sẽ vô lượng vô biên,
đây là gì? Bạn tu thiện nhiều đời nhiều kiếp tích
lũy lại nhân thiện này, bạn tu như thế nào? Chỉ có
kinh Phật giảng rõ ràng, kinh Phật dạy chúng ta đây là ‘Trong
cửa nhà Phật có cầu ắt ứng’. Thầy tôi dạy dùng
phương pháp gì để cầu? Bạn mong muốn tiền tài, tôi
chẳng muốn phát tài, chẳng mong cầu có quá nhiều tiền tài,
chỉ hy vọng đời sống vật chất của mình đầy đủ là
được rồi, nếu muốn như vậy cũng phải tu, tu như thế
nào? Tu bố thí tài vật. Nếu không có tiền thì
làm sao tu bố thí tài vật? Thầy tôi hỏi: ‘Anh có một
đồng hay không, có mười xu không?’ Như vậy cũng được,
một đồng, mười xu cũng có thể tu bố thí tài vật, khi
nào có bèn bố thí. Như vậy cũng tu được, thế nên
chúng tôi mới hiểu.
Tu
bố thí gì? Vì lúc đó tôi đã tiếp xúc với Phật pháp,
cũng thường đến chùa, trong chùa có người tổ chức in kinh.
‘Bạn ra bao nhiều tiền?’, tôi góp một đồng, góp hai đồng,
‘tích lông nên áo’ [ý nghĩa giống câu ‘góp gió thành
bão'], để những kinh điển, sách khuyến thiện này có thể
xuất bản. Trong trường hợp này chúng ta lấy tiền đi
bố thí, trong mạng của mình chẳng có tiền tài nhưng từ
từ sẽ có tài, tiền tài ngày càng gia tăng. Chẳng có
thông minh trí huệ, bố thí pháp sẽ được thông minh trí
huệ; in kinh luận và sách khuyến thiện là bố thí pháp, từ
từ sẽ có trí huệ, đây là cách tu trí huệ; khoẻ mạnh
sống lâu là do bố thí vô úy. Học bố thí vô úy
thì tôi làm hai việc: thứ nhất là phóng sanh, thứ nhì là
bố thí thuốc men; bố thí thuốc men lúc bấy giờ rất khó
nhọc, tôi chẳng có tiền, hai ba tháng mới để dành được
một ít tiền, chỉ được hai ba chục đồng thôi, hai ba tháng
mới có hai ba chục đồng để tặng cho bịnh viện, giúp cho
những người nghèo khổ mua thuốc men, cho họ tiền thuốc.
Quả báo của phóng sanh và bố thí thuốc men là được khoẻ
mạnh và trường thọ.
Bạn
hãy làm suốt đời chẳng gián đoạn, có bao nhiêu sức lực
thì làm bấy nhiêu, chúng ta hãy làm những chuyện thiện này.
Tôi đã làm được năm mươi ba năm, càng làm càng hoan hỷ,
các bạn có thể nhìn thấy quả báo chăng? Trong mạng
tôi chẳng có phước báo, trong số mạng tôi chẳng có trường
thọ, thầy bói đoán mạng tôi chẳng bằng ông Liễu Phàm,
ông Liễu Phàm thọ được năm mươi ba tuổi, thọ mạng của
tôi chỉ được bốn mươi lăm tuổi thôi. Ấn Quang đại
sư, các bạn cũng biết lúc Ấn Quang đại sư còn trẻ tuổi,
người ta đoán mạng Ngài chỉ có ba mươi tám tuổi, Ngài
đã sống đến tám mươi tuổi, cả đời khổ hạnh tu thành
một
vị Tổ Sư, đây là do Ngài tu mà được chứ chẳng phải
trong mạng có sẵn, đây là phương pháp cải tạo vận mạng.
Cho nên ông Liễu Phàm được sự dạy dỗ của Vân Cốc thiền
sư, Trung Phong thiền sư, ông y giáo phụng hành nên đã thành
công. Lúc tôi còn trẻ, người ta đoán mạng cho tôi,
mạng tôi rất bần tiện, ‘bần’ nghĩa là không giàu có,
‘tiện’ nghĩa là không có địa vị, số tôi là số mạng
một người công chức nhỏ, miễn cưỡng có thể duy trì được
no ấm, thọ mạng chẳng dài, tôi rất tin.
Vì
vậy gặp được Phật pháp, nói thực ra gặp được Phật
pháp và quyển sách tôi đọc đầu tiên, tôi đã kể câu chuyện
này với các bạn nhiều lần rồi, lão cư sĩ Châu Kính Trụ
tặng tôi cuốn Liễu Phàm Tứ Huấn. Sau khi tôi nhận
được cuốn sách này trong vòng hai tuần lễ tôi đã xem đi
xem lại hết ba mươi lần, tin sâu chẳng nghi, chân thành sám
hối, sửa lỗi đổi mới. Những tật xấu của ông Viên
Liễu Phàm lúc còn nhỏ tuổi tôi đều có đủ, những ưu
điểm của ông tôi chẳng có, thiệt là sánh chẳng bằng ông,
[tôi tự hỏi] đời tôi phải làm thế nào? Hiểu được
đạo lý và biết được chân tướng sự thật này nên tự
mình triệt để sửa lỗi đổi mới. Tôi chẳng sợ người
khác cười chê, trong nhóm này có bạn làm chung sở, xếp lớn,
bạn học, bạn bè, tôi cứ làm y theo lời dạy trong kinh điển,
y theo lời dạy của thầy giáo mà làm, tôi có được một
chút thành tựu là nhờ cả đời tôi làm một học trò ngoan,
những gì thầy dạy tôi đều làm theo, tôi hoàn toàn tiếp
nhận. Hiện nay chúng ta thấy nhiều người trẻ tuổi
thân cận một vị thiện tri thức suốt mười mấy hai mươi
năm chẳng có thành tựu là vì nguyên nhân gì? Là vì
họ chẳng hoàn toàn tiếp nhận những lời thầy dạy bảo,
[họ nghĩ] lúc thầy giáo răn dạy học trò đều là răn dạy
người khác, chẳng ăn nhằm gì đến họ, thế nên chẳng
học được gì cả.
Tôi
hơi khác với mọi người, tôi theo học thầy Lý mười năm,
hầu như mỗi ngày thầy Lý đều răn dạy học trò, khi tôi
có mặt ở đó thì tôi lắng nghe, câu nào cũng là để dạy
tôi hết, tôi tiếp nhận hoàn toàn. Khi rời khỏi thầy,
bạn xem hầu như chẳng có ngày nào mà tôi không đọc kinh,
vả lại thời gian đọc kinh rất dài; hết thảy những gì
Phật, Bồ Tát dạy trong kinh đều là dạy cho tôi, tôi có
thể học tập được. Những năm gần đây tôi có dịp
tiếp xúc với nhiều tôn giáo, tôi đọc Thánh Kinh. Khi
tôi đọc Thánh Kinh thì Chúa Giê Su, Mosé đều dạy tôi, những
gì ghi trong kinh điển đều là dạy tôi hết, tôi tuyệt đối
chẳng nghĩ đây là để dạy tín đồ Cơ Ðốc, chẳng phải
vậy, đều là để dạy tôi hết, Giê Su là thầy của tôi,
Mosé là thầy của tôi. Tôi đọc kinh Koran, mỗi câu trong
kinh Koran đều dạy tôi, học rộng nghe nhiều, thành tựu trí
huệ của mình, thành tựu đức năng của mình, bạn chẳng
thể nói Mục Hãn Mặc Ðức (Mohammed) chỉ dạy cho người
Hồi Giáo mà thôi, thế thì bạn chẳng học được gì hết,
phân biệt chấp trước trong tâm của bạn ngày càng tăng thêm,
bạn chẳng thể hóa giải. Tôi [nghĩ] hết thảy đều
là để dạy tôi, vọng tưởng này của tôi chẳng có biện
pháp đoạn dứt, phân biệt chấp trước thiệt là mỗi năm
đều giảm bớt, tại sao vậy? Vì tôi học, tất cả
đều là thầy của tôi, đều là thiện tri thức của tôi,
sống đến già, học đến già, học chẳng hết.
Ở
đây chúng ta cử ra một thí dụ, thí dụ chuyện phát tài,
phía trước cũng đã nói qua, trong mạng của bạn có một
ức (một trăm triệu), giả sử có nhiều tiền như vậy, nếu
tâm của bạn hiền hậu, hành vi lương thiện, tuyệt đối
chẳng làm việc hại người lợi mình, còn có thể hy sinh
cống hiến, thế thì trong đời này bạn sẽ không chỉ có
một ức thôi đâu, có thể sẽ có hai ức, tại sao? Nó
tăng thêm, do tâm hạnh của bạn quá tốt, trong số mạng đã
có mà cả đời còn tiếp tục tu bố thí nữa, làm những
việc từ thiện, đem phước lợi cho xã hội, nếu bạn chịu
làm những chuyện này, lợi ích chúng sanh, lợi ích xã hội,
tiền tài của bạn từ mức căn bản này càng tăng thêm lên,
đây là trồng thiện nhân gặt được thiện quả. Nếu
chẳng hiểu đạo lý ấy, bạn làm thế nào kiếm ra tiền
tài? Bạn phải gạt người khác, trong tâm luôn luôn nghĩ
chuyện hại người lợi mình, bạn có thể phát tài hay không?
Cũng phát tài nhưng đại khái chỉ có ba chục triệu, năm
chục triệu, một ức đã bị giảm hết phân nửa, giảm hết
một phần ba, đó là tại sao? Do nghiệp chẳng thiện
của bạn tạo thành, nó giảm bớt, do đó có thể hiểu [tại
sao lại] thêm, bớt, nhân, trừ. Là vì tiền tài trong
số mạng của bạn quá nhiều, tuy tạo rất nhiều ác nghiệp
nhưng vẫn còn dư, sau khi giảm bớt cũng còn dư một số,
số còn dư này cũng khá lớn, đạo lý là như vậy.
Nếu
bạn thông hiểu đạo lý này, thông minh trí huệ, khoẻ mạnh
sống lâu đều giống như vậy. Chúng ta phải hiểu đạo
lý nhân quả, sự thật nhân quả đều ở ngay trước mắt,
chỉ cần bạn quan sát kỹ lưởng, bạn xem hết thảy chúng
sanh, bạn xem họ suy nghĩ những gì, họ làm chuyện gì, họ
nói những gì, nếu những thứ đó tương ứng với tâm tánh,
thì phước báo nhất định sẽ tăng trưởng, phước báo vốn
có trong số mạng tăng lên cũng như có thêm lời.
Nếu cách suy nghĩ, cách nói, cách làm sai lầm, đều là hại
người, chỉ biết tự tư tự lợi, chẳng màng người khác
sống chết ra sao, thế thì những gì họ đạt được sẽ
bị giảm bớt rất nhiều, những gì còn lại chẳng bao nhiêu!
Chỉ cần bạn để ý quan sát thì đều ở ngay trước mặt.
Trên thế gian này bất luận lúc nào, bất luận ở đâu, nếu
bạn quan sát thì sẽ thấy được rõ ràng, sau đó bạn mới
biết mình phải làm như thế nào.
Tôi
ở đây hiện thân thuyết pháp cho các bạn xem, trong số mạng
tôi chẳng có phước báo, chẳng trường thọ, chỉ có một
chút thông minh trí huệ, rất may mắn gặp được duyên tốt,
cả đời này gặp được thầy tốt chỉ đạo, tự mình là
một học trò ngoan, có thể y giáo phụng hành, chuyển biến
vận mạng đời này quay ngược một trăm tám mươi độ.
Chẳng có tiền tài, nhưng ngày nay tôi muốn chi dùng gì được
nấy, tuy chẳng có tiền nhưng khi làm việc gì cần bao nhiêu
thì tiền tự động đến, lúc chẳng làm việc gì thì cái
gì cũng không có, khi muốn làm thì có đầy đủ. Thông
minh trí huệ, mấy năm nay các bạn coi tôi giảng kinh, nghe
tôi giảng kinh, tôi đã giảng kinh hết bốn mươi chín năm,
mỗi năm mỗi khác, so sánh tôi giảng năm nay với những cuồn
băng thâu hình cũ thì sẽ thấy rõ, trí huệ ngày càng gia
tăng. Khỏe mạnh sống lâu thì khỏi nói nữa, số mạng
tôi chỉ sống đến bốn mươi lăm tuổi, năm nay tôi bảy
mươi tám tuổi rồi. Thân thể khỏe mạnh, về thể lực
thì lần này chúng tôi đi du lịch Âu châu, người đi chung
lớn tuổi nhất cũng chỉ là sáu mươi mấy tuổi, thể lực
những người bốn mươi mấy tuổi chẳng bằng tôi, tôi chẳng
bị thời sai (náo lộn giờ giấc khi đến một địa phương
khác múi giờ trên trái đất). Cho nên cả đời tôi hoàn
toàn chứng minh cho câu mà thầy tôi đã dạy: ‘Trong cửa
nhà Phật, có cầu ắt ứng’, câu này là một sự thật vững
chắc như đinh đóng cột.
Bạn
phải hiểu lý luận, biết phương pháp, mong cầu đúng như
lý, như pháp thì chẳng gì cầu không được, ngay cả việc
thành Phật làm Tổ cũng có thể làm được huống chi là tiền
tài, thông minh trí huệ, khoẻ mạnh sống lâu trên thế gian,
đây là những chuyện trong Phật pháp gọi là chuyện lông
gà, vỏ tỏi, chuyện quá nhỏ nhoi, rất dễ đạt được.
Nhưng chúng ta phải cầu chuyện lớn hơn nữa, phải cầu vãng
sanh Tây phương Cực Lạc thế giới, cầu nâng cao linh tánh
của mình, đề cao đức hạnh, trí huệ của mình, những thứ
này đều quan trọng. Bây giờ đã hết giờ, xin cám ơn
quý vị.
Trong
quá trình chuyển ngữ chắc không tránh khỏi thiếu sót, xin
các bậc thức giả hoan hỷ phủ chính cho.
Xin
thành thật cám ơn.
Một
nhóm Diệu Âm cư sĩ, 9-4-2005
http://www.niemphat.net/