Kính
thưa quý vị pháp sư
Kính thưa
quý vị đồng tu,
Phật thất
lần này sắp viên mãn, thật là vô cùng trang nghiêm và thù
thắng, đây là dấu hiệu của một sự khởi đầu tốt đẹp.
Chúng tôi ở đây tổ chức Phật thất trường kỳ để cống
hiến cho quý vị về đây huân tu.
Mục đích
tu học của chúng ta chẳng những vì muốn liễu thoát sanh
tử, ra khỏi tam giới cầu sanh tịnh độ, thân cận Bổn sư
A Di Đà Phật, càng quan trọng hơn là chúng ta vì chúng sanh
trên toàn thế giới tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng
phước huệ, xã hội an định, thế giới hòa bình. Đây là
vấn đề cấp bách ở trước mắt cũng là sứ mạng của
những người Phật tử chúng ta. Cho nên từ mỗi tiếng niệm
Phật, chúng ta phải vì toàn thế giới đồng bào cầu phước
mà niệm, chỉ cần tâm địa của chúng ta thanh tịnh, nhất
định có cảm ứng, bởi thế tâm lượng của chúng ta phải
rộng lớn, tâm lượng nhỏ hẹp thì không có phước báo.
Người Trung
Quốc thời xưa thường nói: “Tâm lượng lớn thì phước
báo lớn”, câu nói này nhiều người đã từng nghe và cũng
biết nói như vậy, nhưng thực tế tâm lượng của họ vẫn
còn nhỏ hẹp lắm. Khởi tâm động niệm chỉ nghĩ cho cá
nhân mình, cho gia đình mình, cho đạo tràng nhỏ của mình,
như vậy không thể giải quyết vấn đề.
Chúng
ta cần phải biết Phật ở trong các kinh lớn thường chỉ
dạy cho chúng ta rằng: nghiệp báo của chúng sanh có cộng
nghiệp và biệt nghiệp. Nếu biệt nghiệp của quý vị tốt
mà cộng nghiệp xấu, quý vị vẫn phải chịu liên lụy. Ba
mươi năm gần đây, nhân dân toàn thế giới đều biết năm
1999 và 2000 sẽ có tai nạn tận thế. Các nhà tiên tri của
các nước Đông Phương và Tây Phương chỉ nói đến tai nạn
của năm 2000 cho thấy tai nạn nầy là vô cùng nghiêm trọng.
Tuy nhiên
năm 1999-2000 đã qua, bây giờ là 2002, hình như những lời
tiên tri này không linh nghiệm, nên mọi người bắt đầu sanh
tâm nghi ngờ cho đó là lời nói không may mắn không thèm để
ý ghi nhớ trong lòng nữa. Do đó mà tiếp tục tùy thuận theo
vọng tưởng phiền não, thói hư tật xấu của mình để cho
tâm ích kỷ, tham, sân, si mỗi ngày không ngừng tăng trưởng.
Chúng ta tự
hỏi vì sao người xưa nói không linh? Là người học Phật
chúng ta phải tự biết, nhớ lại hai, ba năm về trước hầu
như tất cả tín đồ của rất nhiều tôn giáo, những người
không tin tôn giáo chúng ta không nói, hầu hết các tín đồ
của bất cứ một tôn giáo nào cũng đều tha thiết cầu nguyện,
thật sự sám hối, mong được tai qua nạn khỏi.
Chúng
tôi biết rất rõ trong cùng một lúc trên toàn thế giới có
đông đảo người cùng chung sám hối cầu nguyện, lực lượng
này vô cùng to lớn nên mới kéo dài được thời gian sống
sót.
Tuy nhiên
còn phải xem ở mỗi người giữ được tâm sám hối bao lâu
thì thời gian sinh tồn này được kéo dài bấy lâu. Nếu như
vĩnh viễn có thể giữ mãi tâm sám hối để sửa đổi hành
vi sai lầm thì có thể kéo dài sự bình an vô hạn định.
Một khi cái bịnh cũ của quý vị lại tái phát, không còn
tin tưởng nữa thì tai nạn sẽ lập tức xuất hiện. Đây
là điều mà Phật thường nói trong các kinh luận: “Tất
cả pháp do tâm nghĩ tưởng mà sanh, chúng ta không thể sơ
xuất. Tất cả pháp từ tâm nghĩ tưởng mà sanh, cảnh tùy
tâm chuyển, cảnh là hòan cảnh sinh hoạt của chúng ta, thật
sự nó từng giây từng phút tùy theo ý niệm của ta mà chuyển
biến.
Nếu chúng
ta luôn giữ ý niệm thiện lành, thật sự biết quay đầu
trở lại tất nhiên là nạn qua phước đến còn như tâm và
hành vi của chúng ta không tốt tai nạn quyết sẽ không thể
tránh thoát được.
Trong Phật
pháp thường nói: “Chẳng phải không bị quả báo mà vì
ngày giờ chưa tới”, hy vọng quý vị đồng tu nhớ mãi câu
nói này vì đây là sự thật, chân tướng của sự thật.
Người thế gian họ có thể vĩnh viễn duy trì tâm sám hối
không? Điều này thật khó nói, ít nhất mỗi cá nhân chúng
ta phải vì xã hội đại chúng làm một tấm gương tốt.
Tất
cả pháp từ tâm tưởng mà sanh; là từ ở ngay trong lòng của
mỗi cá nhân chúng ta sanh ra, điều này rất quan trọng. Cho
dù là cộng nghiệp không thể tránh khỏi, tai nạn đến cũng
vẫn không sợ hãi, kinh hoàng bởi vì chúng ta sẽ có chỗ
tốt đẹp hơn để đến.
Người sống
ở thế gian có ai mà không chết, cho dù sống đến hai trăm
tuổi vẫn phải chết. Sợ chết cũng không thể giải quyết
được vấn đề ‘Sau khi chết đi về đâu’. Trong quá khứ,
tôi sống ở Mỹ một thời gian khá lâu, tôi biết hiện nay
ở Tây phương khắp nơi của các quốc gia có rất nhiều học
giả đang hăng hái tập trung nghiên cứu về luân hồi.
Lịch
sử nghiên cứu về luân hồi của họ có từ nửa thế kỷ
nay, sau cùng họ khẳng định rằng: “Việc luân hồi là thật
sự có”, nếu đã có luân hồi thì chứng minh rõ ràng mạng
sống của con người có đời quá khứ và vị lai. Một khi
hiểu rõ được đạo lý này, hiểu rõ được chân tướng
của sự thật như vậy thì việc sanh tử đối với chúng
ta sẽ nhẹ đi giống như chúng ta mặc áo vậy, chiếc áo này
mặc dơ mặc cũ rồi, cởi nó ra thay áo mới, thân này của
ta cũng vậy, dùng nó lâu ngày rồi nó bị già nua không còn
linh hoạt nữa, không còn xử dụng được nữa, chúng ta bỏ
đi để thay một tấm thân khác.
Như vậy
việc xả thân và được thân người cũng giống như chúng
ta thay áo, có gì phải lo sợ, phải kinh hoàng. Vấn đề then
chốt là khi ta thay tấm thân cũ này có được tấm thân tốt
đẹp hơn không? Đây mới là điều đáng cho chúng ta phải
lo nghĩ, kiếp sau nhất định phải tốt đẹp hơn kiếp này.
Nếu người có đại phước, đại thiện, kiếp sau sẽ không
ở nhân gian này nữa, vì nhân gian không thể nhận quý vị,
phước báo của quý vị quá lớn phải lên Trời để hưởng
thiên phước.
Người thật
sự thông minh, thật sự có trí tuệ họ sẽ không màng hưởng
thiên phước. Vì sao? Vì Trời vẫn còn nằm trong lý niệm
của luân hồi, chưa có thể thoát khỏi luân hồi, một khi
thiên phước đã hưởng tận mà không biết tu tiếp, chắc
chắn sẽ bị đọa lạc, hà huống Phật ở trong kinh Luận
đã nói với chúng ta, từng lời nói của Ngài đều là sự
thật, rất chân thật. Ngài nói: “Nếu còn ở trong lục đạo,
chắc chắn thời gian ở trong ba đường ác nhiều hơn thời
gian được sống ở trong ba đường lành”.
Chúng tôi
học Phật đã hơn nửa thế kỷ đối với lời nói của ngài
chúng tôi hoàn toàn tin tưởng không một chút nghi ngờ. Tin
rồi thì phải làm sao? Phật dạy chúng ta : “Cầu sanh Tây
phương tịnh độ thân cận Di Đà Như Lai”. Như thế, quý
vị chẳng những thoát khỏi được lục đạo mà còn vượt
ra ngoài thập pháp giới. Đây là điều mà chúng ta phải nỗ
lực, cố gắng tranh thủ ngay trong một kiếp này. Ngay trong
kiếp này, nhất định phải tranh thủ cho bằng được. Phật
nói: “Đối với thế giới này phải thật sự buông xả,
nếu không quý vị đối với lục đạo vẫn còn vọng tưởng,
còn phân biệt, còn chấp trước mà hy vọng được sanh về
thế giới Cực lạc, đó chỉ là vọng tưởng mơ mộng mà
thôi, quý vị không thể đi được. Nếu quý vị thật sự
muốn đi, trong sách Vãng sanh truyện của Tịnh độ tam kinh
nhất luận có dạy chúng ta : “Phải biết buông xả thân
tâm thế giới, phải biết đoạn ác tu thiện tích lũy công
đức”. Như vậy mới có thể cảm ứng đạo giao với những
người tốt lành bậc nhất của thế giới Tây phương Cực
lạc. Quý vị nên nhớ, thế giới Cực Lạc là nơi hội tụ
của những người tốt lành bậc nhất, nếu quý vị không
có cái tâm tốt lành bậc nhất, hành vi tốt lành nhất thì
làm sao quý vị có thể tới đó được?
Cho nên phải
mở rộng tâm lượng, cuộc sống của chúng ta ở thế gian
rất ngắn, phải biết lợi dụng thời gian ngắn ngủi này,
mỗi khi khởi tâm động niệm đều phải vì tất cả chúng
sanh mà tạo phước, vì tất cả chúng sanh mà phục vụ, quý
vị mới có được cảm ứng đạo giao.
Tâm lượng
nhỏ hẹp chỉ tự hại mình, hại người, cho nên khi bà Hàn
Quán Trưởng vãng sanh, việc vãng sanh của bà là chuyện có
thật. Hai ngày trước khi vãng sanh, bà hai lần liên tiếp thấy
Phật A Di Đà và một lần thấy Liên trì Hải hội, bà nói
với tôi: “Ao sen lớn lắm, rộng lắm”.
Đêm trước
khi vãng sanh bà nói với tôi rất nhiều, tôi đem những điểm
chính yếu ghi lại thành mười hai câu, đây cũng là tâm nguyện
của bà, bà nói: “Hy vọng chúng ta, người xuất gia, phải
giống người xuất gia, tại gia phải giống người học Phật
tại gia”. Hai câu nói này rất quan trọng, ý nghĩa thật là
vô cùng sâu sắc.
Người xuất
gia phải giống người xuất gia. Thế nào mới gọi là giống
người xuất gia? Phật Thích Ca Mâu Ni là hình dáng của người
xuất gia, cư sĩ Duy Ma Cật là hình dáng của người tại gia.
Khi Phật còn tại thế, hai vị này là tấm gương mẫu mực
của chúng ta.
Phật Thích
Ca, ngài thật sự là xuất gia, trong suốt một đời chẳng
hề có nhà. Lúc bấy giờ các vị Quốc vương, Đại thần,
Trưởng giả, Cư sĩ cúng dường Tinh xá, ngài rất tùy duyên
mà nhận. Ngài nhận Tinh xá để làm gì? Để dùng làm nơi
thuyết pháp dạy học, tuyệt đối không hề đòi hỏi chủ
quyền tài sản. Quyền tài sản vẫn là của Vua nếu do Vua
cúng dường, của Cư sĩ nếu do Cư sĩ cúng dường. Ngài tuyệt
đối không dành quyền tài sản, nếu không ngài đã trở về
nhà rồi chẳng phải là xuất gia nữa.
Khi nào không
có người mời ngài về tinh xá, về giảng đường để thuyết
pháp, dạy học, thì ngài ngồi ở dưới gốc cây, bên cạnh
sông, suối trong rừng, trải một ít cỏ lên mặt đất để
ngồi, học sinh ngồi chung quanh để nghe giảng. Trong quý vị
có rất nhiều người đi hành hương qua Ấn độ thấy núi
Linh Thứu, núi Linh Thứu vẫn còn đó, kinh Pháp Hoa là giảng
tại đây, chỗ này không có nhà cửa đa số là hang động
nên ngài thường ngồi dưới gốc cây để giảng pháp, thính
chúng hơn mười ngàn người.
Đó là hình
dáng của Phật, một đời của ngài sống vô cùng đơn giản,
ba y một bát, cả đời ăn một bữa, ngủ dưới gốc cây.
Có Trưởng giả, Cư sĩ cúng dường Tinh xá, ngài chỉ ở trong
một phòng thật nhỏ làm nơi nghỉ ngơi của mình. Chúng ta
hãy nghĩ xem, đó là đức Bổn sư của chúng ta.
Bây giờ
hãy nhìn lại cuộc sống của chúng ta hiện nay, có phải đã
hưởng thụ quá đáng không? Đức Phật, một người xuất
gia, cả đời của ngài chỉ có một việc duy nhất là giảng
kinh, dạy học, hoằng pháp lợi sanh, tu pháp bố thí, giúp
đỡ tất cả chúng sanh, phá mê khai ngộ, lìa khổ được
vui. Còn chúng ta, ngày nay chúng ta đang làm những gì? Có giống
đức Phật Thích Ca Mâu Ni không? Học sinh thì phải giống
thầy chứ.
Về sau Phật
pháp truyền sang Trung quốc, Quốc Vương hộ trì Phật pháp,
tư tưởng lý niệm của người Trung quốc không giống người
Ấn độ. Người Trung quốc nghĩ rằng, là thầy của vua không
thể để thầy ngủ dưới gốc cây, để thầy đi ra ngoài
thác bát xin ăn, như vậy sẽ làm mất thể diện của vua,
cho nên Quốc vương cung kính cúng dường.
Quý
vị nhất định phải biết Phật tùy duyên chứ không phan
duyên, quý vị cúng dường, ta tiếp nhận để cho người cúng
dường tu phước. Tam bảo là phước điền, thì có lý do nào
không nhận sự cúng dường của quý vị, tuy nhiên quyết định
không nhận sự cúng dường một cách quá đáng. Cho nên từ
đó trở thành người xuất gia ở Trung quốc có đạo tràng
thường trụ, tuy nhiên đạo tràng là thuộc về thập phương,
thuộc về quốc gia chẳng phải riêng của một người nào,
đương nhiên đạo tràng ngoài việc dạy học thuyết pháp,
còn có rất nhiều công việc, người xuất gia cũng phải gánh
vác một ít việc làm để bòn chút phước. Thời xưa tu phước
là giảng kinh, giảng kinh thuộc về nội tài bố thí.
Người xuất
gia ở trong đạo tràng làm công quả cũng gọi là tu nội tài
bố thí, cho nên ở Trung quốc, người xuất gia có ba việc
làm:
Thứ nhất:
là giảng kinh thuyết pháp.
Thứ hai:
là lãnh chúng tu hành, lãnh chúng tu hành phải làm gương mẫu
cho đại chúng, cho nên người lãnh chúng còn được gọi là
A Xà Lê, dịch sang tiếng Trung Hoa gọi là Quỉ Phạm Sư nghĩa
là tư tưởng, hành vi, lời nói của họ là mô phạm, là tấm
gương cho ta học hỏi, giống như xe lửa chạy trên đường
rày, chúng ta theo đường rày mà đi.
Thứ ba: là
những người xuất gia phát tâm ở thường trụ làm việc,
đảm trách về mặt chấp sự. Nhà Phật xưng là nội hộ
hoặc hộ pháp cho đạo tràng. Riêng Cư sĩ thì thuộc về ngoại
hộ, bởi vì họ không ở trong đạo tràng mà ở nhà riêng
của họ, chỉ đến đạo tràng để hộ trì, nên công việc
hộ pháp chia làm nội hộ và ngoại hộ.Đây là ba việc làm
của người xuất gia.
Nội hộ
tu phước, tu phước với tâm thanh tịnh, không nhiễm một
mảy trần và niệm Phật không gián đoạn, khẳng định sẽ
được vãng sanh thế giới Cực lạc. Ở Trung quốc những
điển hình này chúng ta thấy rất nhiều và tôi cũng thường
nhắc lại trong những lúc giảng kinh.
Vào đầu
năm Dân quốc, Tú Ngô Sĩ xuất gia tại chùa Cực lạc, Thầy
đảm trách việc nội hộ, Thầy không thể lãnh chúng cũng
không thể giảng kinh vì không có đi học, không biết chữ
chỉ ở trong đạo tràng phát tâm làm công việc nặng nhọc.
Quý vị xem Thầy vãng sanh tự tại biết bao, biết trước
ngày giờ ra đi,
Cả đời
chuyên tâm làm tốt công việc của mình, làm tròn bổn phận
của mình, tâm địa thanh tịnh, không ô nhiễm một mảy trần,
đó là gương mẫu nội hộ cho người xuất gia. Cho nên suốt
một đời này của tôi, tôi hy vọng Phật giáo có thể đi
trên con đường chánh quy.
Một thế
kỷ gần đây, trong đạo Phật phát sinh ra rất nhiều điều
không tốt, chúng ta cần phải tránh. Đạo tràng của chúng
ta mới xây dựng, cần phải tránh những tập khí không tốt
để noi theo gương chư tổ sư đại đức.
Thực tế
mà nói, một mình tôi, tôi rất thanh tịnh, ngày nay sở dĩ
phải đa đoan bận rộn như thế. Là do ân đức của Hàn Quán
trưởng đối với tôi khi xưa nên tôi mới bị liên luỵ theo.
Trong một
đời này của tôi, ngay từ lúc mới bắt đầu học Phật,
khi chưa xuất gia, tôi vô cùng ngưỡng mộ Ấn Quang đại sư,
tôi đi theo con đường của Ngài, học hỏi theo Ngài, trong
đời của Ngài đã từng phát nguyện:
-Không nhận
đệ tử xuất gia, ngài chẳng hề thế phát cho ai.
- Không làm
trụ trì.
- Không truyền
giới.
Quý vị hãy
xem truyền ký của ngài vẫn còn lưu lại đến ngày nay.
Lúc Hàn Quán
trưởng còn sống, tôi chẳng phải bận tâm lo lắng điều
gì cả, chỉ lo giảng kinh dạy học. Khi xây dựng thư quán
Hoa Tạng, có đạo tràng rồi đương nhiên cũng cần có người
nội hộ, bởi vậy có người phát tâm muốn xuất gia, bà
nhận đệ tử tôi thế bà mà xuất gia cho họ. Nhờ bà mà
tôi được thành tựu, nên tôi phải đền ơn bà. Bà có đạo
tràng, đạo tràng hy vọng là nơi có thể đào tạo nhân tài,
đây là điều rất tốt nhưng không ngờ bà ra đi sớm như
vậy.
Sau khi bà
vãng sanh, cư sĩ Cao Quý Minh thâu lại, lúc đó tôi bị rơi
vào hoàn cảnh thật khó khăn, nếu như cư sĩ Cao tiếp tục
hộ trì thì tôi không phải lo lắng gì hết, bởi vì những
người xuất gia mang dòng chữ ‘NGỘ’ như quý vị đây đã
có sẵn đạo tràng của quý vị rồi, tôi chẳng phải bận
tâm lo lắng cho quý vị nữa, vậy thì tôi cần đạo tràng
để làm gì?
Những năm
trước khi tôi còn ở Mỹ, cư sĩ Doanh Kiến Mỹ hỏi tôi có
cần xây đạo tràng không? Lúc bấy giờ, tôi ở Dallas chỉ
có một căn nhà nhỏ mang số 422 để giảng kinh thuyết pháp
chưa có đạo tràng. Tôi trả lời với họ, ở Trung quốc
có hơn ba trăm chỗ mời tôi qua đó giảng kinh thuyết pháp,
như vậy nếu tôi đến mỗi chỗ giảng một tháng thôi, giảng
đến lúc tôi một trăm tuổi cũng chưa hết ba trăm chỗ, bạn
nghĩ xem tôi cần đạo tràng để làm gì? Nghe tôi nói xong
họ phát lên cười to. Sự thật là như vậy, quý vị hãy
xem mỗi một nơi đến giảng một tháng một bộ kinh cuộc
sống như vậy tự tại vui vẻ biết chừng nào, đi đến đâu
đều được tiếp đãi như thượng khách, chuyện gì cũng
chẳng bận tâm đi hỏi, đi nghe.
Hiện nay
sở dĩ tôi phải xây học viện ở Toowomba, là vì quý vị,
những người trước kia xuất gia ở thư quán Hoa Tạng bên
Mỹ hiện nay không nơi nương tựa. Tôi xây đạo tràng cho
quý vị là để báo đền ân nghĩa của Hàn Quán Trưởng đối
với tôi. Tôi thay bà tiếp tục chiếu cố quý vị, cho nên
mới nói tôi bị liên lụy theo bà để phải chiếu cố cho
quý vị, nếu không điều gì tôi cũng không cần, tôi sống
thật là tự tại vui vẻ. Cho nên hiện nay quý vị, những
người xuất gia ở trên núi và ở đây, quý vị cần phải
biết rõ, có thể nói quý vị được trời ưu đãi, có một
chỗ ổn định như vậy để tu hành, quý vị cần phải siêng
năng nỗ lực mà học tập, phải đem hết tòan bộ những
vọng tưởng, phân biệt chấp trước hoàn toàn buông xả hết.
Những việc
quản lý của đạo tràng tôi nhờ cư sĩ tại gia đảm trách,
không cần quý vị phải bận tâm, quý vị chỉ cần chuyên
tâm để học, chuyên chú về mặt đức hạnh. Nếu không có
phẩm đức cao thượng, không có học thức cao thâm, quý vị
làm sao có thể gánh vác nổi việc giáo dục xã hội đa nguyên
văn hóa của Thế Tôn?
Đạo tràng
tại đây, hội Tổng sự bàn giao cho tôi, tôi vẫn phải mời
cư sĩ đến quản lý, họ chấp nhận lời mời của tôi, nên
tôi đồng ý đảm nhận. Bởi vì sao? Vì đây cũng là nguyện
vọng của Hàn Quán Trưởng. Chúng tôi hy vọng hai đạo tràng
trên núi và tại đây có thể thật sự làm đến chỗ giải
hành tương ưng. Học viện thuộc về giải môn, đào tạo
nhân tài giảng kinh hoằng pháp, những ai phát tâm chọn con
đường giảng kinh thì đến học viện để tu. Nếu không
phát tâm giảng kinh, muốn lãnh chúng, thì đạo tràng tại
đây của chúng tôi là đạo tràng quanh năm niệm Phật, vĩnh
viễn là một đạo tràng chuyên niệm Phật.
Về kỷ
luật niệm Phật chúng tôi hoàn toàn tuân theo tấm gương và
phong thái của Ấn Quang Đại sư ở núi Linh Nghiêm. Đạo tràng
tại đây không giảng kinh, không làm pháp hội, không truyền
giới, chỉ có niệm Phật đường để niệm Phật mà thôi.
Tín đồ Phật tử muốn cầu an, cầu siêu có thể đặt bài
vị trong niệm Phật đường, chúng ta hoàn toàn học theo Ấn
Tổ và tiếp tục xiễn dương rộng lớn đạo phong của Ngài.
Cho nên
những người tự nguyện muốn ở niệm Phật đường dẫn
chúng huân tu có thể ở lại đây. Bất cứ việc gì của
thường trụ không cần quý vị phải lo lắng, chỉ cần chuyên
tâm lãnh chúng. Những ai phát tâm làm nội hộ, hoặc những
cư sĩ muốn hợp tác giúp đỡ đạo tràng chúng tôi có thể
chấp nhận, tuy nhiên quý vị phải tuân thủ theo quy tắc kỷ
luật của thường trụ để giúp đỡ nhau làm việc, ngõ hầu
có thể chiếu cố tốt cho những người học kinh giáo và
những người niệm Phật, như vậy công đức thật vô lượng.
Bao nhiêu
năm qua đối với những việc này tuy tôi không hỏi không
nghe, tuy nhiên tôi học kinh giáo dù sao cũng đã năm mươi năm
rồi, đạo lý, sự thật chân tướng tôi biết rất rõ, tuy
tôi không có kinh nghiệm làm việc nhưng tôi biết rất nhiều.
Tôi là người lớn tuổi, dĩ nhiên việc làm của quý vị
ở đây dù tôi không cần tìm hiểu tôi cũng biết và tôi
có phương pháp chỉ dạy cho quý vị phải làm như thế nào
khiến cho đạo tràng được như lý như pháp. Mỗi người
phải mở rộng tâm lượng của mình như ngài Phổ Hiền. Quý
vị nghe tôi giảng kinh Hoa Nghiêm, thấy tâm lượng của Phổ
Hiền Bồ tát cho dù là Bồ tát đại thừa cũng không thể
bì với Ngài được. Bồ tát đại thừa là tâm bao thái hư
lượng chu sa giới, tâm lượng của Phổ Hiền không biết
còn lớn hơn bao nhiêu lần như vậy nữa, chẳng lẽ còn có
thể lớn hơn như vậy sao? Vâng, vẫn còn. Vậy là như thế
nào? Bởi vì thông thường Bồ tát đại thừa đã sơ sót
không biết rằng ở trong vi trần, vi trần rất nhỏ, thế
mà trong vi trần đó lại có thế giới hải vi trần số thế
giới, mỗi một lỗ chân lông của chúng ta cũng có thế
giới hải vi trần số chư Phật quốc độ ở bên trong, điều
này không ai biết đến. Thế mà Phổ Hiền Bồ tát vẫn có
thể khế nhập. Cho nên thế giới mà Hoa Nghiêm nói đến thật
là trùng trùng vô tận, nó không phải là mặt phẳng mà là
hình khối.
Trong thế
giới có thế giới, trong thế giới có vi trần, trong vi trần
có thế giới, trong thế giới lại có vi trần, trong vi trần
lại tiếp tục có thế giới không cùng không tận, đây chính
là pháp giới của ngài Phổ Hiền, nếu chúng ta không có tâm
lượng như vậy thì không thể thành Phật được. Cho nên
hôm nay chúng ta nhất định phải mở rộng tâm lượng, phải
bao dung, khởi tâm động niệm, phải vì tất cả chúng sanh
mà suy nghĩ.
Ngày nay chúng
ta có cơ duyên vì tất cả chúng sanh mà phục vụ, đây là
cơ hội may mắn cho chúng ta tích lũy công đức, lấy công
đức này hồi hướng Tịnh độ, lấy công đức này cầu
sanh thế giới Tây phương Cực lạc, thân cận Phật A Di Đà,
như thế mới hy vọng chắc chắn vãng sanh, những việc trong
thường trụ chớ bao giờ bận tâm lo nghĩ người ta làm đúng
hay sai, chỉ cần ta làm đúng thì người khác làm đúng, nếu
ta không đúng thì người khác sẽ không đúng. Nói vậy có
nghĩa là nếu ta y theo pháp làm đúng, đạo tràng sẽ có chư
Phật gia trì, long thiên hộ pháp thiện thần gia hộ.
Nếu những
ai sống trong đạo tràng mà làm việc sai quấy, thần hộ pháp
sẽ mời họ đi, chư Phật Bồ tát sẽ giúp đỡ họ khiến
họ biết hối cải để đổi mới, giả như họ vẫn tiếp
tục ngoan cố không biết sửa đổi thần Hộ pháp sẽ đuổi
họ, không cần chúng ta phải bận lòng. Nếu quý vị mà bận
tâm can dự vào việc làm của họ thì thần Hộ pháp sẽ không
bận tâm nữa, các ngài sẽ về nhà nghỉ ngơi, đi chơi, chư
Phật cũng không còn hộ niệm cho quý vị nữa, khi đó đạo
tràng của quý vị sẽ là một đạo tràng không có đạo và
cũng chẳng có đức.
Quý vị đi
theo tôi bao nhiêu năm nay, mỗi ngày nghe tôi giảng kinh, chuyện
nhỏ như vậy mà cũng không biết, hằng ngày vẫn tiếp tục
vọng tưởng, lo nghĩ lăng xăng, làm chuyện sai quấy, như vậy
phước báo của quý vị sẽ tiêu mất hết.
Quý vị phải
biết sở dĩ quý vị được sống trong đạo tràng này là
phúc đức nhân duyên của nhiều đời kiếp, nếu quý vị
sống không đúng cách, không như pháp, chỉ trong vòng vài năm
thôi, một khi phước báo tiêu hao hết rồi thần Hộ pháp
sẽ đuổi quý vị đi, quý vị không thể cư trú ở đạo
tràng nầy lâu dài được. Bởi vì quý vị sống ở đạo
tràng nếu không bị bịnh thì cũng sẽ phát sanh nhiều phiền
não, lúc đó chính quý vị tự nhiên sẽ không còn thích ở
đây nữa mà tự bỏ ra đi.
Cho nên quý
vị phải hiểu rõ sự và lý, phải biết trân quý phần nhân
duyên khó gặp này. Thường trụ ở đây chính là những vị
đồng tu phụ trách quản lý đạo tràng, bất luận họ là
người tại gia hay xuất gia đều là người Phật tử chân
chính không có ý niệm hành vi xấu ác, thật sự đang hộ
trì đạo tràng, tuy nhiên đôi lúc về mặt kiến thức còn
nhiều khiếm khuyết, còn nhiều đắn đo, e sợ có lỗi với
người xuất gia, sợ bị nhân quả, nhưng thực tế cách suy
nghĩ này là sai lầm.
Ngày hôm
qua tôi đến đây gặp gỡ và cùng mọi người trao đổi,
thấy rõ mọi sự đắn đo, lo sợ của quý vị đều là thừa.
Bởi vì sao? Quyền chấp sự ở trong tay, quý vị không thể
không quản lý, đừng cho rằng đối với người xuất gia
ta không dám nói họ. Nếu vậy tôi thử hỏi quý vị lãnh
tụ của một nước đối với người xuất gia cũng không
dám quản lý hay sao? Giả sử trong nước đều là người xuất
gia, quý vị thử nói xem cần có chính phủ hay không? Quyền
chấp sự trong tay quý vị không thể không quản lý.
Đạo tràng
như một trường hoc, câu nói này tôi đã nói qua không biết
bao nhiêu lần. Người chấp sự là Hiệu trưởng, người xuất
gia là học sinh, như vậy Hiệu trưởng có cần quản lý học
sinh không? Nếu bảo không, đó chính là lỗi của Hiệu trưởng,
trừ phi quý vị không nhận chức Hiệu trưởng, đã nhận
chức thì nhất định phải quản lý.
Học sinh
là người xuất gia, học sinh phạm kỷ luật có bị trừng
phạt hay không? Quý vị phải hiểu rõ đạo lý này. Nếu quý
vị không chịu quản lý thì phải từ chức, nếu không từ
chức thì nhất định phải quản lý, lý lẽ đơn giản như
vậy mà cũng không hiểu thì làm sao được!
Ở Đài Loan,
khi Phật Quang sơn bắt đầu khởi công xây dựng, ngài Tinh
Vân Pháp sư có đến nói với tôi rằng Ngài sẽ mở một
Phật học viện tại đó, trong Phật học viện đa số là
người xuất gia. Ngài hỏi tôi: Người tại gia có thể quản
lý người xuất gia hay không?
Tôi hỏi
lại: Người tại gia đó là như thế nào?.
Ngài nói:
Người tại gia là thầy chủ nhiệm của Phật học viện,
là một cư sĩ tại gia, trong số học sinh hai phần ba là người
xuất gia.
Tôi nói:
Đương nhiên phải quản lý.
Là thầy
chủ nhiệm của một lớp, học sinh phạm lỗi thầy chủ nhiệm
không dám nói vậy thì ai nói, người ta cần thầy chủ nhiệm
để làm gì?
Pháp sư Tinh
Vân khi đó mới hiểu rõ, không còn đắn đo lo sợ nữa. Nếu
quý vị không có quyền uy và trách nhiệm, quý vị không cần
biết, chẳng cần hỏi đó là lẽ đương nhiên. Ngày nay chức
quyền là mời quý vị đến làm thầy chủ nhiệm, nếu quý
vị không quản lý tốt học sinh, quý vị sẽ bị thất nghiệp.
Viện trưởng
học viện là thầy Tinh Vân pháp sư, thầy mời quý vị đến
làm giảng sư chủ nhiệm, ngài trả lương, quý vị nhận tiền
là thay thế ngài để dạy và quản lý học sinh, cho nên quyền
ở trong tay quý vị, đây là đạo lý rất bình thường. Nếu
như người xuất gia tự cho mình là tài giỏi, là hay lắm,
quyết định sẽ đọa địa ngục. Bởi vì sao? Vì xuất gia
là phải siêng tu giới, định, tuệ, tiêu diệt tham, sân, si
mà tham, sân, si của quý vị mỗi ngày mỗi tăng trưởng còn
giới, định, tuệ mỗi ngày mỗi tiêu mất, quý vị không
đọa địa ngục thì ai đọa địa ngục.
Điều này
trong các kinh luận đại tiểu thừa đều nói rất nhiều,
nói rất rõ. Người xuất gia nếu nghĩ rằng đạo tràng không
thích hợp cho quý vị tu hành, quý vị có thể rời khỏi nơi
đây, đó là điều hợp pháp. Sau khi rời khỏi không thể
mang ác ý phê bình, hủy báng đạo tràng này. Nếu quý vị
mang ý xấu phê bình hủy báng, quý vị sẽ mang tội phá hòa
hợp tăng. Cho dù đạo tràng không tốt, không như pháp đi
nữa, khi người ta hỏi đến không cần phải trả lời, ta
không tán thán cũng không hủy báng, đây là điều mà Phật
đã dạy chúng ta.
Phật không
hề dạy người hủy báng kẻ khác hoặc nhiều chuyện thị
phi. Phật dạy phải tôn trọng người khác, lễ kính người
khác. Riêng về tán thán thì phải xem kỹ sự thật, nếu là
việc tốt chúng ta tán thán, việc không tốt không tán thán
nhưng quyết định không được hủy báng.
Chúng ta phải
phải siêng năng nỗ lực học tập, phải thật sự lãnh hội
nghĩa lý thâm áo mà Phật dạy chúng ta. Đối với người,
việc làm hoặc hành vi xấu ác, chúng ta không tán thán nhưng
tuyệt đối không hủy báng, còn đối với người tốt, việc
làm, hành vi tốt nhất định phải tán thán, chỗ khác nhau
là như vậy.
Riêng về
việc lễ kính cúng dường thì bình đẳng không có sai biệt,
đối với người tạo nghiệt xấu ác, gặp họ hôm nay không
có cơm ăn, ta nên cúng dường họ một bữa ăn, gặp lúc trời
lạnh bị rét, ta nên cúng dường thêm áo cho họ mặc, không
thể nói họ là người xấu ta không thèm để ý giúp đỡ,
không thể hành động như vậy. Được như thế mới
thật sự là đại từ đại bi, thật sự là bình đẳng tiếp
tế. Cho nên tất cả việc làm phải y theo lời chỉ dạy trong
kinh luận, chúng ta mới không bị sai lầm, không đi nghịch
lại với lời dạy dỗ của Phật.
Không thể
thuận theo phiền não thói hư tật xấu của mình, không thể
đem Phật pháp xem như chuyện tình cảm thế gian. Phật pháp
là lý trí, Phật pháp không hoàn toàn dựa vào tình cảm. Đối
với Phật pháp, trong tình cảm phải có trí tuệ, nhất định
không thể mê hoặc.
Hy vọng quý
vị đồng tu đều có thể hiểu rõ. Ở đây chúng ta đi theo
con đường của Ấn Quang đại sư, là một niệm Phật đường
như lý như pháp, công việc niệm Phật của chúng ta quanh năm
không gián đoạn.
Đối với
quý vị đồng tu bên ngoài, hằng năm chúng tôi sẽ tổ chức
bốn lần Phật thất, Xuân, Hạ, Thu, Đông, mỗi một lần
Phật thất không phải chỉ có bảy ngày, mà là đại Phật
thất bảy mươi ngày, mỗi ba tháng tổ chức một lần. Như
vậy, một năm bốn mùa nhân cho bảy mươi, tổng cộng là
hai trăm tám mươi ngày dành cho quý vị đồng tu ở các nơi
đến. Riêng những người thường trú trong đạo tràng thì
quanh năm không gián đoạn.
Quý vị
đến đây dự Phật thất tốt hơn hết là không nên nói chuyện.
Nếu quý vị có thể không nói chuyện trong suốt bảy mươi
ngày, chắc chắn quý vị sẽ được nhiều lợi ích, bởi
vì tâm xen tạp, lời tán dóc sẽ phá hoại công đức của
quý vị. Điều này rất quan trọng mong quý vị cần nên lưu
ý.
Ngoài việc
tiến tu và thành tựu cho bản thân mình, mỗi một ý niệm
đều đem công đức hồi hướng cho tất cả chúng sanh đang
bị khổ nạn trên toàn thế giới, nguyện cầu thế giới
hòa bình, xã hội an ổn, nhân dân được phước lành.
Cám ơn quý
vị.
A Di Đà Phật.
Mọi góp
ý xây dựng xin gởi về
Ban phiên
dịch Việt ngữ
140 Biota
st
Inala,
Qld 4077
Australia
Fax: (07)
33722877
Hoặc
The Amitabha
Buddhist Association of Mid-America
2504 Riverwood
Trails Dr.
Florissant,
MO 63031-USA
Att. Ven.
Dr. TANH NHU
Fax: (314)
831-2459