TẬP
II
Mục
Lục
A.Khai
thị về phương pháp tu trì
1.
Ðến cũng không không, đi cũng không không
2.
Phương pháp khai ngộ
3.
Khỏe mạnh là căn bản của việc tu đạo
4.
Làm thế nào mới được công phu đắc lực
5.
Làm thế nào hàng [phục] ma
6.
Làm thế nào để đối xử hòa mục với tất cả chúng sanh
7.
Nói chuyện với đồng tu tại Niệm Phật Ðường
8.
Học Phật tức là học làm người
9.
Cầu cảm ứng
10.
Làm đệ tử Di Ðà
11.
Mở rộng tâm lượng, bao dung kẻ khác
12.
Người làm công tác giáo dục xã hội tình nguyện.
13.
Căn nguyên của bịnh tật
14.
Phương pháp tu hành
15.
Làm thế nào để tiêu tai miễn nạn
16.
Lý của việc niệm Phật thành Phật
17.
Nhìn thấu, Buông xuống
18.
Làm thế nào để giữ gìn công phu
19.
Khống chế và chiếm lấy
B.
Luận sự tử sanh trọng đại
1.
Tử sanh đại sự
2.
Kể chuyện vãng sanh
C.
Khuyên tin sâu nhân quả
1.
Chư Phật, Bồ Tát giúp đỡ chúng sanh đang bị khổ nạn như
thế nào.
2.
Nói về nhân quả và chuyển cảnh giới.
D.
Hiểu rõ giáo dục Phật đà
1.
Mục đích của giáo dục Phật đà
2.
Tam Quy Y
3.
Giáo - Lý - Hạnh - Quả
4.
Sứ mạng của Giáo dục Phật đà trong thế kỷ hai mươi mốt
Bài
giới thiệu sáng lập Tập San Giáo Dục Phật Ðà
5.
Cảm tưởng sau khi thăm viếng Hồi Giáo
E.
Truyền bảo thiện tín tại gia
1.
Làm thế nào để hướng dẫn quyến thuộc học Phật
2.
Nói chuyện với Tịnh Tông Học Hội Mỹ Quốc
F.
Ðiển tịch phải đọc
1.
Nói về ‘Hoa Nghiêm Giản Sử’ và điển tịch Tịnh Tông.
G.
Trả lời nghi vấn học Phật
1.
Làm thế nào để giải quyết vấn đề xã hội trước mắt.
Phụ
lục
Giải
thích
thêm về danh từ ‘Tam Cương Bát Mục’ dưới lăng kính Phật
pháp.
HỌC
VI NHÂN SƯ, HÀNH VI THẾ PHẠM
Những
bài khai thị buổi sáng của Hòa thượng Tịnh Không
TẬP
II
Ðây
là những bài khai thị buổi sáng của hòa thượng Tịnh Không
cho đồng tu khắp nơi, chưa được hòa thượng giám định.
Chỉ là do nhóm ghi chép bài giảng đích thân nghe băng thâu
âm, ghi lại những điểm chính yếu, chỉnh lý cho gọn rồi
viết thành bài nháp này để cúng dường độc giả.
A.
Khai thị về phương pháp tu trì
1.
Ðến cũng không không, đi cũng không không (Buổi
sáng 21-11-98)
Tôi cùng Lý hội trưởng đi thăm lão cư sĩ Hồng Cung Lan và
tặng cho ổng một xâu chuỗi. Lão cư sĩ nói lúc bình
thường ông có rất nhiều vọng niệm, sau khi có được xâu
chuỗi này thì vọng niệm ít đi. Ông nằm mộng thấy
một nam một nữ đến thăm ông, họ nói là do Ngọc Hoàng
Ðại Ðế phái đến để bảo hộ cho ông, khuyên ông phải
nhẫn nại, và nói: ‘Ðến cũng không không, đi cũng không
không’. Cả đời lão cư sĩ Hồng chẳng có tâm nhẫn
nại, tính tình nóng nảy; nghe xong, ông hiểu được và rất
hoan hỷ. Sau khi ông tỉnh dậy thì hai người này biến
mất. Ông nói ông đã tám mươi tuổi rồi, nhất định
không lừa gạt người, đây là cảnh giới thật.
‘Ðến cũng không không, đi cũng không không’, hai câu này
nói toạc hết nghĩa thú của kinh Bát Nhã. Không những
trước lúc chúng ta đến đã không không, đi rồi cũng không
không, hiện tại [chẳng phải] cũng không không đó sao?
Ðức Phật nói chân tướng sự thật là như ‘mộng, huyễn,
bọt, bóng’. Mộng, huyễn, bọt, bóng đều chẳng chân
thực, đều là giả tướng, thời gian giả tướng này tồn
tại rất ngắn, trong kinh hình dung ‘như sương, như ánh chớp.
Như sương là nói tướng tương tục -- tiếp nối, như ánh
chớp là nói ‘sát na tế’ -- rất nhanh, nói rõ thật tướng
chư pháp đích thật như vậy. Người hiểu rõ và giác
ngộ thì được xưng là Phật, Bồ Tát; người mê hoặc và
chẳng giác ngộ cho rằng chuyện này không thật, đây là phàm
phu. Cho nên sự sai khác giữa Phật, Bồ Tát và phàm phu
là ở tại một niệm giác hay mê. Người giác ngộ trong
mộng, huyễn, bọt, bóng được tự tại, người mê hoặc
thì rất đau khổ.
Do đó có thể biết đây là ‘duyên sanh’, duyên khởi tánh
không. Nghiệp duyên rất phức tạp, gồm có ba thứ: thiện,
ác, và vô ký (vô ký là chẳng thiện, chẳng ác). Chỉ
có người giác ngộ chân chánh mới có thể vận dụng một
cách thích hợp, giúp đỡ những chúng sanh chưa giác ngộ có
thể khai ngộ, đây tức là chư Phật, Bồ Tát phổ độ chúng
sanh. Hiểu rõ chư pháp là vô sở hữu, ‘không không’
cũng là vô sở hữu, liễu bất khả đắc (trọn chẳng thể
có được); cái tâm niệm có thể đắc và những vật đắc
được đều là ‘không không’, tâm chúng ta mới chân chánh
trở lại bình tịnh, trở lại thanh tịnh, bình đẳng.
Thanh tịnh bình đẳng là chân tâm bản tánh của chúng ta,
và cũng là ‘minh tâm kiến tánh’ nói trong Tông Môn, [hiểu
được như vậy] chúng ta mới thể hội tại sao cả đời
giảng kinh thuyết pháp, Thế tôn phải dùng hết hai mươi hai
năm để giảng kinh Bát Nhã là vì hết thảy chúng sanh chẳng
biết chân tướng sự thật, chẳng biết các pháp đều không,
chẳng thể hành Bồ Tát đạo. Bồ Tát đạo là con đường
giác ngộ, phàm phu đi con đường mê hoặc nên mới xuất hiện
thập pháp giới, lục đạo, tam đồ. Mê nặng thì là
hiện tượng tam đồ, nhẹ hơn thì là lục đạo, nhẹ hơn
nữa là tứ thánh pháp giới. Hết thảy tam đồ, lục
đạo, tứ thánh pháp giới đều là mê, đều chẳng khế nhập
vào ‘lý không’, khế nhập vào ‘lý không’ thì sẽ chứng
được Nhất Chân pháp giới.
Nhất Chân cũng là danh tướng nói một cách miễn cưỡng,
nếu chúng ta chấp trước có một cái ‘Nhất’, chấp trước
có một cái ‘Chân’ thì cũng sai luôn. Ðối ngược
của một là nhiều, đối ngược của chân là giả, Huệ Năng
đại sư nói: ‘Một và nhiều, chân và giả là Nhị pháp,
Nhị pháp chẳng phải Phật pháp’. Cho nên chẳng có
ý niệm của ‘nhất’, của ‘chân’ thì mới thực sự
là Nhất Chân pháp giới. Do đó có thể biết vừa khởi
tâm động niệm một chút thì đã sai mất rồi.
Học Phật thì phải học như thế nào? Tông Môn thường
nói: ‘Tu từ căn bản’, căn bản tức là một niệm chẳng
sanh, tâm địa thanh tịnh chẳng khởi một tâm niệm gì hết.
Nếu nghĩ: ‘hiện giờ một niệm cũng chẳng sanh’ thì đã
sanh lên cái tâm ‘một niệm chẳng sanh’, vậy thì cũng sai
rồi. Lúc mới bắt đầu học, Tông Môn dùng phương pháp
ngồi xếp bằng quay mặt vào vách để tập ‘không khởi
tâm, không động niệm, chẳng phân biệt, chẳng chấp trước’.
Sau khi học thành công rồi thì phải thao luyện trong đời
sống, khi lục căn tiếp xúc cảnh giới lục trần phải không
khởi tâm, không động niệm, không phân biệt, không chấp
trước, vậy thì mới thành công, lúc bấy giờ mọi cảnh
giới đều là Nhất Chân pháp giới. Nhất Chân pháp giới
chẳng tách lìa thập pháp giới, lục đạo, tam đồ; làm sao
có thể gọi là Nhất Chân pháp giới? Do chuyển biến
nơi tâm, chuyển biến ở chỗ nhận biết, nhận thức chân
tướng của cảnh giới, tức là nhận thức được chân tướng
của vũ trụ nhân sanh.
Ý nghĩa của câu ‘Ðến cũng không không, đi cũng không không’
rất sâu, nếu nhận thức rõ thì sẽ rất vui vẻ mà nắm
lấy duyên, thành tựu vô lượng công đức, đó là tích công
lũy đức. Phàm phu nhận lầm cảnh giới, tạo thành tội
nghiệp nhưng chẳng phải là cố ý tạo tội. Ðức Phật
nói nguồn gốc của hết thảy tội nghiệp là ngu si, si tức
là chẳng hiểu rõ chân tướng sự thật nên làm sai, dùng
duyên sai lầm. Người giác ngộ hiểu rõ chân tướng
sự thật nên khi khởi tâm động niệm, hết thảy hành động
đều là tích công lũy đức. Tích công lũy đức là khái
niệm của người thế gian, người giác ngộ chẳng có tâm
niệm này. Chúng sanh trong thập pháp giới có tâm niệm
này, Phật, Bồ Tát trong Nhất Chân pháp giới chẳng có tâm
niệm này, đó là ‘làm mà không làm, không làm mà làm’.
Chúng sanh có ‘cảm’ thì Phật, Bồ Tát liền ‘ứng’,
tự nhiên cảm ứng đạo giao, nhất định chẳng có khởi
tâm động niệm. Cổ đức dùng thí dụ đánh khánh, gõ
khánh thí dụ cho cái ‘cảm’ của chúng sanh, âm thanh phát
ra từ cái khánh thí dụ cho sự ‘ứng’ của Phật, Bồ Tát.
Trên thực tế cái ‘ứng’ của Phật, Bồ Tát là cảm ứng
của tự tánh. Chúng ta xem Phật, Bồ Tát thành người,
xem hết thảy các pháp thành thực thể, tinh nghĩa của Ðại
thừa chúng ta chẳng có cách nào thể hội được nên chẳng
biết hết thảy sự vật trong tận hư không trọn khắp pháp
giới đều là tự tánh. Người giác ngộ trong Tông Môn
thường nói: ‘Ðâu cũng là đạo, trái phải đều về nguồn’
(Ðầu đầu thị đạo, tả hữu phùng nguyên), câu này nói
toạc chân tướng sự thật, hư không pháp giới đều chỉ
là một cái tự tánh mà thôi. Tự tánh là năng biến
(chủ thể có thể biến), cảm ứng là sở biến (cái được
biến), chỗ nào có cảm thì chỗ đó có ứng, cảm ứng đạo
giao, tơ hào chẳng sai. Lý Sự của cảm ứng sâu
rộng vô cùng, chúng ta phải thể hội kỹ càng, sau khi hiểu
rõ thì sẽ biết học Phật như thế nào, làm người như thế
nào, làm thế nào sinh sống qua ngày, đạt được hạnh phúc
chân chánh mỹ mãn.
Thế pháp nói đến ‘chân - thiện - mỹ - huệ’, Phật pháp
nói đến ‘thường - lạc - ngã - tịnh’, những thứ này
đều là thật; nhưng chúng sanh trong thập pháp giới chẳng
có, Phật, Bồ Tát trong Nhất Chân pháp giới mới có; cũng
có thể nói người khởi tâm động niệm chẳng có, người
không khởi tâm động niệm mới có. Phật thí dụ tâm
như nước, lúc nước bình tịnh chẳng khởi sóng giống như
một cái kiếng, soi những cảnh giới bên ngoài rõ ràng, nước
này ví như chân - thiện - mỹ - huệ, thường - lạc - ngã
- tịnh. Nhưng lúc nước khởi sóng tuy vẫn có thể chiếu
soi cảnh giới nhưng rời rạc, tan nát, cho nên chân thiện
mỹ huệ, thường lạc ngã tịnh cũng mất luôn. Từ đây
có thể biết dù tâm của Phật, Bồ Tát ứng hóa trong lục
đạo, tùy loại hiện thân, tùy cơ thuyết pháp nhưng vẫn
bình tịnh. Lúc thuyết pháp thì ‘nói mà chẳng nói,
chẳng nói mà nói’, lúc thị hiện thì ‘hiện mà chẳng
hiện, chẳng hiện mà hiện’ vĩnh viễn trụ trong cảnh giới
nhất chân, tâm vĩnh viễn giữ được bình tịnh như nước.
Tự tánh công đức tức là ánh sáng của nước có thể chiếu
kiến hết thảy vạn pháp. Trong thập pháp giới càng
đi xuống thì cường độ rung động của làn sóng tâm càng
lớn, càng lên trên thì làn sóng càng nhỏ. Ðến lúc
nào trong cảnh giới tâm chẳng động nữa, dùng kinh Hoa Nghiêm
mà nói thì mức thấp nhất là Viên Giáo Sơ Trụ Bồ Tát,
lúc đó Bát Nhã, giải thoát, pháp thân của tự tánh sẽ hiện
tiền.
2.
Phương pháp khai ngộ
(Buổi sáng 24-11-98)
Cách
dạy học thời xưa trong Phật pháp và thế pháp đại khái
tương đồng, đều theo quan niệm dùng phương cách khơi gợi,
chú trọng ngộ tánh của học sinh. Cách dạy học của
nhà Phật là nhằm giúp đỡ học sinh khai ngộ, cách dạy học
của Nho gia, Ðạo gia cũng vậy, chẳng đề xướng cách học
ký vấn, đích thật chẳng giống với cách dạy học ngày
nay. Ngày nay chú trọng cách học thuộc lòng và học tràn
lan nhiều môn để tích tụ thường thức phong phú, đây là
thuộc cách học ký vấn. Người xưa chú trọng học thuộc
lòng nhằm mục đích tu định, chứ không coi trọng ký ức;
người xưa dùng cách học thuộc lòng để đoạn dứt
vọng tưởng, phân biệt, khôi phục tâm thanh tịnh, đây là
phương pháp khai mở cánh cửa khai ngộ tốt nhất. Vì
cánh cửa khai ngộ bị bế tắc nên chúng sanh chẳng thể khai
ngộ, nếu dẹp bỏ phân biệt và chấp trước thì trí huệ
sẽ hiện tiền, đó tức là ‘mở tung cái nút chặn’ (mao
tắc đốn khai).
Do
đây có thể biết phân biệt chấp trước càng nghiêm trọng
thì càng chẳng thể khai ngộ; phân biệt chấp trước nhẹ
mỏng thì dễ khai ngộ hơn, đây là lý do tại sao thế pháp
và Phật pháp đều coi trọng ‘một môn thâm nhập’.
Trong một giai đoạn nào đó, chẳng kể là học trình dài
ngắn, chỉ cho phép học một môn, bất kỳ khóa trình của
một môn nào cũng mong cầu có chỗ ngộ, ngộ nhập trong một
môn này thì sự dạy học thành công. Ngược lại nếu
chẳng có lãnh ngộ, chẳng khai ngộ, sự dạy học này được
kể là thất bại. Do đó giáo học đích thực chú trọng
trên trí huệ và đức hạnh, người sơ học thì đức hạnh
đứng hàng đầu, trí huệ đi sau. Một người có trí
huệ nhưng chẳng có đức hạnh rất dễ tạo nên chuyện ác
to lớn, gây hại xã hội, thế nên đức hạnh đứng hàng
đầu. Vừa có đức hạnh lẫn trí huệ thì làm việc
gì cũng là đại phước, có thể đem lợi ích cho xã hội,
lợi ích cho chúng sanh.
Giáo
học của nhà Nho lấy Khổng Lão Phu Tử làm tiêu chuẩn, Khổng
Lão Phu Tử dạy bốn khoa: thứ nhất là đức hạnh, thứ nhì
là ngôn ngữ, thứ ba là chánh sự (năng lực kỹ thuật), thứ
tư là văn học. Lúc đức hạnh và kỹ năng đã được
thành tựu, nếu có dư sức lực thì mới học văn học nghệ
thuật, đề cao đời sống tinh thần. Thứ tự này rất
hợp lý, giáo học của nhà Phật cũng chẳng ngoại lệ, là
đoạn phiền não trước sau đó mới học pháp môn; đoạn
phiền não tức là đức hạnh, học pháp môn tức là chánh
sự. Tuy trên phương thức vận dụng có thể biến hóa
nhưng nguyên lý và nguyên tắc thì vĩnh viễn chẳng biến đổi,
đó là triết lý giáo dục.
Xã
hội ngày nay có thể nói là hoàn toàn chẳng giống ngày xưa.
Nếu quan niệm giáo học và nguyên tắc sanh hoạt ngày xưa
có thể thích ứng và dung hợp với thời đại hiện nay thì
chúng sanh sẽ thực sự đạt được hạnh phúc. Ðây
cũng là điều những người có lòng tốt, trong Phật pháp
gọi là những Bồ Tát có tâm đại từ bi muốn tìm cách giúp
đỡ chúng sanh. Thế nên Bồ Tát nhất định phải thông
suốt hết thảy pháp trong thế gian mới có thể làm thầy
của trời và người, mới có năng lực chỉ đạo xã hội,
giáo hóa chúng sanh. Năng lực này tức là trí huệ
chân thật và thiện xảo phương tiện. Chân thật trí
huệ là thể, thiện xảo phương tiện là vận dụng, nếu
chẳng có chân thật trí huệ thì chẳng thể vận dụng được
thiện xảo phương tiện.
Lấy
thí dụ: Xã hội thời xưa truy cầu hòa bình, xã hội ngày
nay lại khuyến khích cạnh tranh, bề ngoài hai bên hoàn toàn
xung đột thì phải làm thế nào để dung hợp? Nói từ
mặt Lý thì dung hợp nhất định có thể làm được vì cả
hai đều cùng chung một pháp tánh. Kinh Ðại thừa nói
tận hư không trọn khắp pháp giới đều cùng chung một lý
thể, ngay cả pháp giới địa ngục và pháp giới Phật cũng
có thể dung hợp, huống gì là những pháp giới khác?
Do đó trên mặt Lý như vậy thì trên mặt Sự đương nhiên
cũng có thể làm được. Trên Sự tướng chúng ta gặp
phải khó khăn, nguyên nhân ở tại phân biệt, chấp trước.
Ðặc biệt là ngã chấp nặng nề, niệm niệm đều vì ‘lợi
ích của tôi’, người nào cũng chấp trước ‘lợi ích của
tôi’, đây là cội rễ của vấn đề, tạo thành chẳng thể
dung hòa lẫn nhau, và cũng tạo nên vô lượng vô biên tội
nghiệp. Nếu ‘tôi’ là thật thì còn có thể chấp
nhận được; nào ai biết cái ‘tôi’ này chỉ là một khái
niệm trừu tượng, hư giả mà thôi.
Khóa
trình cơ bản của Pháp Tướng Tông là ‘Bách Pháp Minh Môn
Luận’, trình độ của bộ luận này rất cao, là chỗ nhập
môn của pháp Ðại thừa, nói rõ về chân tướng của vũ
trụ nhân sanh. Bộ luận này thuộc về ‘Tông Kinh Luận’,
giải thích rõ tông chỉ của [những gì] đức Phật nói, trên
thực tế là giải thích một câu nói của đức Phật.
Ðức Phật nói: ‘Hết thảy pháp vô ngã’, Bách Pháp Minh
Môn Luận lấy câu này làm tông chỉ, quy nạp hết thảy pháp
thành một trăm pháp, bách pháp này tức là hết thảy pháp.
‘Vô ngã’ nói rõ ‘người vô ngã’, ‘pháp vô ngã’,
nếu có thể khai ngộ hai việc này thì sẽ hoàn toàn buông
xuống ngã chấp và pháp chấp, liền có thể siêu phàm nhập
thánh. Phàm phu chấp trước có ngã, có pháp; Phật, Bồ
Tát thì giác ngộ ‘vô ngã và vô pháp’ nên Phật, Bồ Tát
trong y báo, chánh báo trang nghiêm của thập pháp giới có thể
‘lý sự vô ngại, sự sự vô ngại, viên dung tự tại’.
Chúng
sanh chấp trước có ngã, có pháp thì vĩnh viễn sẽ không
thể giải thoát, vĩnh viễn chịu sanh tử luân hồi, khổ chẳng
thể tả nổi. Người mê hoặc chẳng hiểu chân tướng
sự thật này, chỉ có người giác ngộ hiểu được.
Cho dù học tập Phật pháp, nghiên cứu Phật pháp, nhưng họ
vẫn còn chấp trước ngã và pháp, vẫn còn khen mình chê người
(tự tán hủy tha). Ðây là vì còn ngã chấp, chẳng biết
chư pháp bình đẳng, chư pháp không tịch, chư pháp duyên sanh
nên mới có hành vi này. Phàm những pháp duyên sanh đều
chẳng có tự thể, chẳng có tự tánh, ‘đương thể tức
không, liễu bất khả đắc’. Tướng thì có mà Thể
thì không, Sự thì có mà Lý thì không cho nên Tướng là huyễn
tướng, Sự như mộng, huyễn, bọt, bóng, đây đều là chân
tướng sự thật.
Sau
khi hiểu rõ chân tướng rồi thì tâm sẽ định, sẽ thanh
tịnh; lúc đó sự cảm thọ, hưởng thọ trong Phật pháp được
gọi là ‘chánh thọ’, chánh tức là chánh thường.
Hưởng thọ của người thế gian chẳng chân thường, có ‘khổ,
vui, sầu, hỷ, xả’; chánh thọ của Phật pháp chẳng có
‘khổ, vui, sầu, hỷ, xả’. Chư Phật, Bồ Tát ứng
hóa trong thế gian tuy là có ‘khổ, vui, sầu, hỷ, xả’ nhưng
đó là thị hiện, biểu diễn, du hý thần thông, chẳng phải
là thiệt. Phàm phu thiệt có ‘khổ, vui, sầu, hỷ, xả’,
chẳng phải diễn tuồng, cho nên tạo nghiệp. Người
chân chánh giác ngộ thì sẽ giống hệt chư Phật, Bồ
Tát, du hý thần thông, tự tại vô ngại.
Học
Phật phải gánh vác trách nhiệm tiếp nối huệ mạng của
Phật, gánh vác sứ mạng hoằng pháp lợi sanh, muốn đảm
đương sứ mạng này thì nhất định phải ngộ nhập.
Phương pháp ngộ nhập chẳng có gì khác ngoài buông xuống
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước mà thôi. Lúc xử
thế, đãi người, tiếp vật trong cuộc sống hằng ngày phải
buông xuống ngã chấp. Kinh Kim Cang nói đến ‘ngã tướng,
nhân tướng, chúng sanh tưởng, thọ giả tướng’, chỉ cần
buông xuống một tướng này thì sẽ hoàn toàn buông xuống
hết. Bốn tướng này có sự liên hệ mật thiết, có
một tướng thì bốn tướng sẽ đều có, buông xuống một
tướng thì sẽ buông xuống cả bốn. Sau đó đoạn hết
thảy ác, tu hết thảy thiện tức là công đức chân thật,
đây là điều mà chư Phật, Bồ Tát đều tán thán, khen ngợi.
Chúng ta cần phải biết có đủ bốn tướng này là chướng
ngại nghiêm trọng cho sự tu học Phật pháp.
Bạn
phát tâm từ bi muốn cứu độ hết thảy chúng sanh, muốn
cứu chúng sanh thì trước hết phải độ mình cái đã, nếu
tự mình chẳng độ được thì sẽ chẳng có năng lực độ
chúng sanh. Cho nên tự tu học và tương lai giúp đỡ chúng
sanh đều phải nhờ vào chính mình, tuy chư Phật, Bồ Tát
từ bi nhưng cũng chẳng giúp được. Chư Phật, Bồ Tát
chỉ giúp chúng ta trên việc dạy dỗ, nói rõ sự thật chân
tướng cho chúng ta nghe, cung cấp phương pháp cho chúng ta tham
khảo, nhưng khế nhập vào cảnh giới nhất định phải là
sự việc của chính mình, hy vọng mọi người phải hết lòng
nỗ lực.
3.
Khỏe mạnh là căn bản của việc tu đạo
(Buổi sáng 25-11-98)
a.
Khỏe mạnh là căn bản của việc tu đạo
Bất
luận là pháp thế gian hay xuất thế gian, nếu chẳng có thân
thể cường tráng thì làm việc gì cũng không thể thành tựu.
Ðời xưa bất luận là trong thiền đường, niệm Phật đường,
đả thất là việc rất bình thường, hơn nữa là bảy ngày
bảy đêm chẳng ngủ chẳng nghỉ. Cho nên hơn phân nửa
là những người trẻ tuổi tham gia, họ có khả năng và thể
lực làm việc này, bốn mươi mấy tuổi trở lên thì thể
lực đã suy rồi, việc nghiên giáo (nghiên cứu giáo lý) cũng
chẳng ngoại lệ. Cho nên thời kỳ thanh thiếu niên là
[thời gian] để củng cố cội rễ của học thuật, sự nghiệp.
Tôi
sanh vào thời chiến tranh loạn lạc, suốt cả đoạn đời
niên thiếu tốt đẹp nhất tôi phải bôn ba, chạy nạn, cho
nên cơ sở giáo dục chẳng được củng cố, dù cho ngày nay
siêng năng nỗ lực tu học cũng chẳng có thành tựu bằng
người đời xưa. Nếu thể chất kém một chút, thân
thể suy yếu, nhiều bịnh thì càng khó khăn hơn. Cho dù
có ý muốn học, vẫn cảm thấy tâm có dư nhưng sức chẳng
đủ, đây là một chuyện vô cùng đáng tiếc. Thế nên
trong đời sống thường ngày nhất định phải chú ý đến
thân thể của mình.
Phương
pháp thay đổi thể chất nhanh chóng và có hiệu quả nhất
là tu tâm thanh tịnh, đoạn trừ hết thảy vọng tưởng, tạp
niệm, sống cuộc đời đơn giản và có quy luật. Ðời
sống đơn giản là đời sống khỏe mạnh. Thực sự
có thể làm được thiểu dục tri túc, hết lòng hướng về
đạo, hết lòng nghĩ đến chúng sanh khổ nạn, dốc toàn tâm
toàn lực để giúp đỡ chúng sanh khổ nạn, đó là đại
từ bi. Nhân quả đều có thể chuyển. Có thân tâm
khỏe mạnh thì mới có thể phục vụ cho xã hội đại chúng,
làm thêm một số việc tốt.
b.
Nhân quả
Miền
đông bắc Trung Quốc nước sông tràn ngập lênh láng, có rất
nhiều người gần chết đói, hy vọng được cứu giúp.
Chúng tôi gởi mười vạn bộ áo lạnh và lương thực cho
họ, và giúp họ xây dựng lại trường học. Những thời
gian chịu đựng khổ nạn này có thể cảnh giác mọi người
đừng nên tạo ác nghiệp nữa. Họ tự mình phản tỉnh
là do trước kia bắt cá, sát sanh quá nhiều, ngày nay nghĩ
lại cái được chẳng bù nổi cái mất. Có câu ‘Ở
gần núi thì ăn [đồ ở] núi, ở gần sông thì ăn [đồ ở]
sông’, ở ven biển hay sông thì làm nghề chài lưới sinh
sống, đời sống được no ấm thì liền biết đủ, như vậy
còn có thể tha thứ. Nếu tham hưởng thụ, hy vọng lợi
dụng việc sát sanh để phát tài, vậy thì là tạo tội nghiệp,
gia đạo làm sao có thể hưởng lâu dài được? Trong
lịch sử và hiện thực cuộc sống, nếu chúng ta quan sát
kỹ càng thì đích thực nhân quả báo ứng tơ hào chẳng sai.
Từ
nghiệp sát này chúng ta liên tưởng đến người hiện nay
tạo bốn thứ nghiệp: giết hại, trộm cắp, dâm dục,
nói dối; trong Phật pháp đây là bốn giới trọng, bất luận
là xuất gia, tại gia đều phải tuân thủ. Nhìn vào xã
hội ngày nay những gì trong tâm mọi người suy nghĩ, lời
nói, hành động đều là giết hại, trộm cắp, dâm dục,
nói dối, rượu chè (sát, đạo, dâm, vọng, tửu), mỗi ngày
đều tạo nên năm thứ tội nghiệp này, trên thực tế tức
là tạo ra mười ác nghiệp, tai nạn trên thế gian làm sao
tránh nổi?
Nếu
muốn cứu mình thì phải hạ quyết tâm ngay tại chỗ này,
giữ gìn cấm giới nghiêm túc, y giáo phụng hành. Có
thể cứu mình thì mới có thể giúp đỡ người khác, phương
pháp duy nhất giúp đỡ người khác cũng chỉ là khuyên nhủ.
Những gì đời sống người xuất gia cần thì phải nhờ vào
người tại gia cúng dường, cũng chẳng còn sức lực dư thừa
để giúp người khác, duy chỉ có thể dùng thân mình làm
gương, khuyên mọi người trong xã hội và những người có
phước báo lớn nên phát tâm tu phước. Nếu tư tưởng
và hành vi của chúng ta chẳng ngay thẳng thì làm sao khuyên
người ta cho được, làm sao làm cho người khác tin tưởng?
Thế nên phải bắt đầu từ mình mà làm, tâm và hạnh của
mình chân chánh thì mới ảnh hưởng người khác được.
Ðặc
biệt là khuyên những người phú quý, hy vọng họ giác ngộ,
đây là duyên đời trước họ tu phước đời này mới hưởng
phước, lúc hưởng phước phải tiếp tục tu nhân thì phú
quý mới đời đời kiếp kiếp tiếp nối chẳng dứt; nếu
trong đời này hưởng hết phú quý thì đời sau nhất định
sẽ đọa lạc. Người bần cùng hưởng nhiều khổ nạn
vì đời trước chẳng tạo thiện nhân, đời này chưa gặp
được thiện duyên, vì vậy nên ngu muội vô tri, tạo tác
rất nhiều ác nghiệp. Chúng ta cũng nên khuyên các người
nghèo khổ phải giác ngộ, quay trở lại, đoạn ác tu thiện
thì đời sau mới được phước báo. Ðược vậy thì
người phú quý hay nghèo khổ gì cũng đều được độ.
Chư Phật, Bồ Tát xuất hiện ở thế gian đều là vì công
việc này, toàn tâm toàn lực giúp đỡ chúng sanh giác ngộ,
đây là sự nghiệp của Phật, Bồ Tát. Chúng ta làm học
trò, đệ tử của Phật, phải học tập và bắt chước tâm
nguyện từ bi của Phật, Bồ Tát, phát huy mạnh mẽ sự nghiệp
của Phật, Bồ Tát.
c.
Mở rộng tâm lượng.
Trong
thời đại ngày nay chúng ta phải mở rộng tâm lượng.
Vì thông tin phát đạt, giao thông tiện lợi nhanh chóng, những
gì phát sanh khắp nơi trên thế giới lập tức liền có thể
biết được, thế nên phạm vi hoạt động của chúng ta bằng
cả trái đất. Chúng ta phải quan tâm thương mến bất
cứ địa khu nào trên trái đất, chẳng thể gò bó trong một
phạm vi nhỏ hẹp, như vậy thì tâm lượng quá nhỏ.
Ngoài trái đất này ra tâm lượng của chúng ta còn phải mở
rộng đến khắp hư không pháp giới thì chúng ta mới có khả
năng xuất ly. Nếu chẳng có tâm niệm này thì làm càng
nhiều việc tốt cũng chỉ là phước báo nhân thiên.
Có hiểu được lý này thì mới biết tận hư không khắp
pháp giới hết thảy chúng sanh hữu tình đều là đồng bào
của chúng ta, những đồng bào này có cùng chung một pháp
tánh, đều là chân tâm bản tánh của mình biến hiện ra.
Kinh Hoa Nghiêm nói: ‘tình và vô tình đều viên thành chủng
trí’ (tình dữ vô tình đồng viên chủng trí). Chỉ
có thành Phật mới thực sự nhìn thấy ‘tình và vô tình
đều là đồng bào’. Sau khi hiểu rõ thì mới biết
trong đời này mình nên làm như thế nào, làm sao nỗ lực
mới có thể tương ứng với chư Phật, Như Lai thanh tịnh
từ bi.
4.
Làm thế nào mới được công phu đắc lực (Buổi
sáng 29-11-98)
a.
Nhìn thấu. Buông xuống
Trong
kinh Di Ðà, đức Thế Tôn ba lần khuyên chúng ta phải nên
phát tâm cầu sanh Tịnh Ðộ, sáu phương Phật khuyên chúng
ta nên tin kinh này và cũng khuyên chúng ta phải tin tưỏng lời
của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Sáu phương Phật đại
biểu cho mười phương ba đời hết thảy chư Phật, do đó
mới biết Thế Tôn khuyên chúng ta cầu sanh Tịnh Ðộ cũng
tức là mười phương hết thảy chư Phật đều khuyên chúng
ta cầu sanh Tịnh Ðộ, lời khuyên này là lời chân thật,
chẳng thể nghĩ bàn, khẩn thiết đến cùng cực.
Tại
sao Phật lại khuyên như vậy? Ðức Phật giáo hóa chúng
sanh là vì muốn chúng sanh phá mê khai ngộ, lìa khổ được
vui mà vãng sanh đến Cực Lạc thế giới mới là phá mê khai
ngộ viên mãn, được niềm vui rốt ráo, vĩnh viễn chẳng
thoái chuyển mãi cho đến khi thành Phật. Ðó là đại
nguyện viên mãn của chư Phật thành Phật đạo, độ chúng
sanh, thế nên hết thảy chư Phật mới đau lòng mỏi miệng
khuyên [như vậy]. Chúng ta đọc kinh, nghiên giáo phải
thể hội được ý chỉ này một cách sâu sắc, hết lòng
nỗ lực, thật thà niệm Phật thì mới chẳng phụ lòng hết
thảy chư Phật.
Chúng
ta đều có tâm niệm này nhưng tại sao công phu vẫn chẳng
đắc lực? Ðây là do phiền não tập khí đang hoành hành,
chướng ngại đạo nghiệp và sự tinh tấn của chúng ta.
Kinh Kim Cang dạy cho chúng ta nguyên tắc vô cùng quan trọng,
phương pháp phá trừ chướng ngại là ‘nhìn thấu, buông
xuống’. Không những thế pháp phải nhìn thấu, buông
xuống, Phật pháp cũng phải nhìn thấu, buông xuống.
Nhìn thấu tức là hiểu rõ chân tướng sự thật. Nếu
chúng ta dựa trên nguyên lý, nguyên tắc dạy trong kinh rồi
quan sát kỹ càng tất cả hiện tượng trong thế gian và xuất
thế gian thì sẽ hiểu rõ. Hiểu rõ chân tướng sự thật,
đối với pháp thế gian và xuất thế gian chẳng khởi vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước nữa chính là buông xuống.
Sau khi buông xuống không những trên sự tu hành chẳng có chướng
ngại, lúc xử sự, đãi người, tiếp vật trong đời sống
sanh hoạt hằng ngày cũng được đại tự tại, cùng chư Phật,
Bồ Tát ứng hóa trong thế gian du hý thần thông, không hai
không khác. Kinh Kim Cang nói Ta, Người, Chúng sanh, Thọ
giả đều là giả, toàn là mộng, huyễn, bọt, bóng, thời
gian tồn tại như sương và như chớp, đó là chân tướng
sự thật.
Ba
Mươi Bảy Ðạo Phẩm là tổng nguyên tắc, tổng cương lãnh
của sự tu hành. Ba Mươi Bảy Ðạo Phẩm chia thành bảy
khoa, khoa đầu tiên là ‘Tứ Niệm xứ’ dạy cho chúng
ta nhìn thấu. Nội dung của Tứ Niệm Xứ và ‘Ta, Người,
Chúng sanh, Thọ giả đều là giả’ nói trong Kinh Kim Cang hoàn
toàn là cùng một đạo lý. Kinh Kim Cang dạy cho người
Ðại Thừa còn Tứ Niệm Xứ dạy cho người Tiểu Thừa.
Cho nên Ba Mươi Bảy Ðạo Phẩm giống như sáu chữ hồng danh,
tam căn phổ bị (bao trùm hết ba hạng căn tánh: thượng, trung,
hạ), lợi độn gồm thâu, chín pháp giới chúng sanh tu học
cũng chẳng rời nguyên tắc này.
Trong
Tứ Niệm Xứ: thứ nhất là ‘Quán thân bất tịnh’: quán
sát thân này chẳng tịnh. Thứ nhì: ‘Quán thọ thị
khổ’. Thứ ba: ‘Quán tâm vô thường’. Suy nghĩ
kỹ càng một người đến thế gian này mấy chục năm ngắn
ngủi cho dù trường thọ đến một trăm tuổi thì cũng ngắn
ngủi như thời gian búng một ngón tay, trong mấy sát na mà
thôi. Thứ tư: ‘Quán pháp vô ngã’ bao gồm ‘Tướng
người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả’; quán thân, quán
thọ, quán tâm đều thuộc về ‘tướng ta’ (ngã tướng),
hoàn toàn tương đồng với chỉ thú của kinh Kim Cang.
Sau khi nhìn thấu thì phải buông xuống. ‘Tứ Như Ý
Túc’ trong ‘Ba mươi bảy Ðạo Phẩm’ tức là buông
xuống, chẳng còn nắm giữ pháp thế gian và pháp xuất thế
gian trong tâm nữa.
b.
Tu Tam Học, Lục Ðộ, Thập nguyện
Phật
dạy chúng ta đã được thân người, phải trú ở thế gian
này mấy chục năm, đúng là ‘đã đến rồi thì hãy ở yên’
(ký lai chi, tắc an chi). Thế nên người thông minh, có
trí huệ biết tích công lũy đức, vì họ hiểu được ‘vạn
pháp đều không, nhân quả chẳng không’. Tích công lũy
đức như thế nào? Ðây là lời dạy trong ‘Tứ Chánh
Cần’, đoạn hết thảy ác, tu hết thảy thiện. Ðoạn
ác nhất định phải đoạn phiền não tập khí của mình,
tu thiện nhất định phải tu Giới - Ðịnh - Huệ Tam Học,
tu Bồ Tát Lục Ðộ, tu Thập Nguyện Vương. Biến Tam
Học, Lục Ðộ, Thập Nguyện thành kiến giải và hành trì
trong đời sống của mình tức là tích công lũy đức.
Hoàn
toàn trái ngược với Tam Học: Giới - Ðịnh - Huệ là tam
độc: tham - sân - si. Phật dạy chúng ta lấy Giới để
đoạn tham, lấy Ðịnh để đoạn sân, lấy Huệ để đoạn
si, biến tham - sân - si thành Giới - Định - Huệ, đây là
đoạn ác tu thiện. Bồ Tát Lục Ðộ nói càng rõ hơn,
dùng Bố Thí đoạn trừ tham lam, lấy Trì Giới đoạn trừ
ác nghiệp, lấy Nhẫn Nhục đoạn trừ sân khuể, lấy Tinh
Tấn đoạn trừ giải đãi, lấy Thiền Ðịnh đoạn trừ tán
loạn, lấy Trí Huệ đoạn trừ ngu si. Nếu có thể tuân
theo sáu nguyên tắc này khi xử sự, đãi người, tiếp vật
trong đời sống hằng ngày thì người đó là Bồ Tát.
Bồ Tát khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác, nhất định
phải tương ứng với những nguyên tắc này.
Phổ
Hiền Thập Nguyện là đại hạnh viên mãn của Bồ Tát, trong
kinh nói Bồ Tát không tu Phổ Hiền hạnh thì chẳng thể viên
thành Phật đạo. Cốt tủy của Phổ Hiền hạnh là tâm
lượng viên mãn, ‘tâm bao trùm thái hư, lượng gồm thâu
các cõi nhiều như cát’ (tâm bao thái hư, lượng châu sa giới),
đây là tâm lượng của Phổ Hiền Bồ Tát; dùng tâm lượng
to lớn này tu hết thảy thiện pháp là Phổ Hiền hạnh.
Kinh Hoa Nghiêm quy nạp vô lượng hạnh môn của Phổ Hiền
thành mười cương lãnh, tức là Phổ Hiền thập đại nguyện
vương, mười điều này là tổng cương lãnh của Phổ Hiền
hạnh. Mười điều này phải thuận theo thứ tự, chẳng
thể thay đổi lộn xộn, thứ nhất là Lễ Kính Chư Phật,
đây là căn bản của hạnh môn. Ðối với hết thảy
người, sự, vật, tận hư không trọn khắp pháp giới hết
thảy chúng sanh đều phải cung kính. Trong kinh nói: ‘Hết
thảy chúng sanh đều là cha mẹ quá khứ, chư Phật vị lai’.
Dùng tâm hiếu thuận cha mẹ để hiếu thuận hết thảy chúng
sanh, dùng tâm tôn kính sư trưởng để tôn kính hết thảy
chúng sanh, người này sẽ là Phổ Hiền Bồ Tát. Việc
tu học này được gọi là Phổ Hiền hạnh. Ðây là cốt
lõi của Phổ Hiền hạnh, là cội rễ của Phổ Hiền hạnh.
Dùng
Lễ Kính làm cơ sở, điều thứ hai là Xưng Tán Như Lai.
Cổ thánh tiền hiền dạy người ta dấu ác, bày thiện, đây
là tu dưỡng đức hạnh của mình, và cũng vì xã hội an định,
hy vọng mọi người đều nhìn thấy mặt tốt mà thôi.
Phiền não tập khí của hết thảy chúng sanh đều chưa đoạn
trừ, đều có mặt xấu ác, xấu ác thì chẳng cần phải
nói đến, mặt tốt đẹp thì phải tận lực đi tuyên dương,
làm cho hết thảy chúng sanh đều giác ngộ đến phải đoạn
ác tu thiện. Nếu bạn tạo ác, người ta tha thứ cho
bạn, một câu nói cũng chẳng nói đến, bạn sẽ sanh tâm
xấu hổ; khi bạn làm một chút chuyện thiện, người khác
biểu dương, khen ngợi bạn, đây là để cổ võ việc tu thiện.
Cách dụng tâm này rất thiện, rất tốt.
Thứ
ba là Quảng Tu Cúng Dường, hết thảy chúng sanh bất luận
là trên phương diện vật chất hay tinh thần có thiếu thốn,
nếu chúng ta có khả năng thì hãy tận tâm tận lực chủ
động giúp đỡ, chẳng cần người ta lại cầu, đây là bố
thí cúng dường. Từ Bồ Tát mà nói thì đây là bố
thí, sự bố thí của Phổ Hiền Bồ Tát thì gọi là cúng
dường. Phổ Hiền Bồ Tát coi hết thảy chúng sanh là
cha mẹ quá khứ, chư Phật vị lai, vì vậy nên gọi là cúng
dường, đây là sự tôn kính hết thảy chúng sanh đến cùng
cực. Thứ tư là Sám Hối Nghiệp Chướng, đây là nói
về sự tu hành của mình.
Trong
Phổ Hiền thập nguyện vương mỗi một nguyện đều bao hàm
hạnh môn viên mãn, nguyện nào cũng như vậy, hàm nhiếp lẫn
nhau. Niệm Phật như vậy thì làm sao có việc niệm Phật
chẳng đắc lực được? Niệm Phật như vậy thì làm
sao chẳng vãng sanh được? Cho nên Phật dạy những nguyên
lý, nguyên tắc này, chúng ta nhất định phải nắm chắc [và
áp dụng vào] trong đời sống hằng ngày thì mới thật sự
thành tựu cho mình, chẳng phụ kỳ vọng của chư Phật Như
Lai đối với chúng ta.
5.
Làm thế nào hàng [phục] ma (Buổi sáng 30-11-98)
Ngạn
ngữ có câu: ‘Chuyện tốt có nhiều trắc trở’ (Hảo sự
đa ma), và: ‘Ðạo cao một thước, ma cao một trượng’.
Ma là chướng ngại trong đời sống và sự tu hành của chúng
ta. Muốn giải quyết vấn đề này chỉ có học theo phương
pháp của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Trong bát tướng
thành đạo Thế Tôn thị hiện ‘hàng phục ma ngoại’ đáng
để chúng ta học tập. Phương pháp Thế Tôn hàng phục
ma chẳng phải là đối ngoại mà là đối nội. Ma quân
tới nhiễu loạn, uy hiếp, Thế Tôn chẳng chống lại, ma nữ
đến dụ hoặc Thế Tôn cũng chẳng trốn tránh mà dùng Giới
Ðịnh Huệ Tam Học để giải quyết.
Từ
đây chúng ta rút ra được một bài học, khi gặp phải bất
kỳ uy hiếp dụ hoặc, hay chướng nạn có bao lớn đi chăng
nữa thì chỉ cần tiêu trừ ma oán trong nội tâm, cảnh giới
bên ngoài sẽ là ‘chẳng có Phật mà cũng chẳng có ma’.
Cũng như Ngẫu Ích đại sư nói: ‘Cảnh duyên chẳng có tốt
xấu, tốt xấu là ở nơi tâm’. Ma cảnh bên ngoài thật
ra là do tâm ma biến hiện ra, có thể biến thành ma cảnh là
do tà tri tà kiến của chính mình, phiền não tham - sân của
mình, cảnh giới bên ngoài là cảnh bị biến ra (sở biến).
Thế Tôn dạy chúng ta phương pháp là phải hàng phục cái
tâm năng biến của mình, ma cảnh được biến ở bên
ngoài sẽ chẳng gây chướng ngại gì cả.
Kinh
Bát Ðại Nhân Giác chia Ma thành bốn loại, đó là Ngũ Ấm
Ma, Phiền Não Ma, Tử Ma, Thiên Ma. Ngũ Ấm Ma, Phiền Não
Ma, Tử Ma đều thuộc về tâm ma của mình; chỉ có Thiên Ma
là ở phía ngoài. Thiên Ma từ đâu tới? Cũng là
do tâm ma của mình biến hiện ra thôi. Người đời chẳng
biết đạo lý này nên khi gặp yêu ma quỷ quái thì liền tìm
mọi cách để kháng cự, khắc phục, như vậy vĩnh viễn chẳng
thể giải quyết vấn đề. Phương pháp giải quyết vấn
đề là phải hóa giải. Bản thân mình có phiền não,
tà tri tà kiến, đây là gốc rễ của hết thảy ma chướng.
Thế nên chỉ cần làm được ‘tri kiến chánh, trừ phiền
não’, ma ngoại cũng sẽ thành Phật luôn. Trong bốn hoằng
thệ nguyện có nguyện ‘chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’,
ma cũng là chúng sanh, độ ma thành Phật thì mới đúng là
phổ độ chúng sanh.
Chánh
tri chánh kiến là từ Tam Muội mà được. Một người
tu hành có định công tương đương thì cũng chẳng biết mình
có chánh định hay tà định, thế nên chúng sanh trong chín
pháp giới tu hành chẳng thể tách lìa kinh điển. Nếu
lý luận, phương pháp tu học và cảnh giới hiện ra trong công
phu tương ứng với kinh điển thì là chánh tri, chánh kiến,
tức là chánh hạnh, chánh thọ; chánh thọ tức là Tam Muội.
Phạm vi của Tam Muội rất rộng lớn, chỉ cần là ‘chánh’
thì là Tam Muội, cho nên chánh tri, chánh giải, chánh hạnh,
chánh thọ đều thuộc về Tam Muội.
Chúng
ta xem trong kinh khi Phật thuyết pháp cho chúng sanh trước hết
phải thị hiện nhập định, kinh Hoa Nghiêm cũng chẳng ngoại
lệ. Kinh Lăng già nói: ‘Na Già thường tại định, vô
hữu bất định thời’[1], Pháp Thân đại sĩ cũng thường
ở trong định, Phật còn phải nhập định hay sao? Phật
thị hiện nhập định là muốn thuyết minh: thuyết pháp độ
sanh dùng Tam Muội làm căn bản, hết thảy pháp đều từ Tam
Muội lưu lộ ra; Tam Muội rộng lớn vô cùng, tức là
tánh đức lưu xuất.
Cảnh
giới trong định là Nhất Chân pháp giới, chẳng có vọng
tưởng, phân biệt, chấp trước, chẳng có trước sau, lớn
nhỏ, hết thảy khái niệm và sự tướng tương đối đều
chẳng tồn tại. Nhất Chân tức là sự thật chân tướng
mà Như Lai chứng được, điều Như Lai sở chứng tức là
tướng cảnh giới được hiện ra trong khi nhập Tam Muội.
Cảnh giới này đối với phàm phu chẳng thể nghĩ bàn.
Thí dụ trong kinh có nói: ‘Hạt cải chứa Tu di’ (Giới tử
nạp Tu Di), hạt cải nhỏ cũng như hạt mè vậy, hạt cải
chẳng có phóng đại, núi Tu Di cũng chẳng thâu nhỏ, làm sao
bỏ núi Tu Di vào trong hạt cải? Là vì chẳng có lớn
nhỏ cho nên có thể tương tức, tương dung (có thể chính
là nhau, dung chứa lẫn nhau). Chúng ta biết phân biệt
lớn nhỏ, chấp trước lớn nhỏ, nhỏ chẳng thể chứa lớn,
đây tức là ma cảnh. Ma cảnh là từ vọng tưởng, phân
biệt, chấp trước sanh ra; nếu xa lìa vọng tưởng, phân biệt,
chấp trước thì chẳng có lớn - nhỏ, trong - ngoài, hạt cải
sẽ có thể chứa núi Tu Di.
Phàm
phu sanh hoạt trong thời gian, không gian tương đối, khoa học
gia gọi là ‘tương đối luận’, tương đối tức là phân
biệt chấp trước, chẳng phải thật. Phật, Bồ
Tát chẳng có phân biệt chấp trước, chẳng có tương đối,
ngay cả Lý Sự cũng chẳng có, cho nên các Ngài không có chướng
ngại. Trong cái nhìn của Phật, Bồ Tát, dù là yêu ma
quỷ quái thì cũng là cha mẹ quá khứ, chư Phật vị lai, đều
dùng tâm hiếu thuận, cung kính để đối đãi, chẳng có giảm
bớt chút nào.
Ðây
là Thế Tôn thị hiện bản lãnh hàng phục ma, dụng ý là
cho chúng ta học tập. Chỉ cần có tà kiến, phiền não
thì nhất định sẽ có ma chướng, yêu ma quỷ quái sẽ thường
thường bao quanh bên mình. Nếu có thể diệt trừ tà
kiến, phiền não thì yêu ma quỷ quái cũng sẽ thành Phật.
Từ đây có thể biết Phật và Ma chỉ ở tại một niệm
mà thôi. Một niệm mê thì Phật sẽ biến thành Ma; một
niệm giác thì Ma sẽ thành Phật. Vì vậy gút mắt ma
chướng chẳng ở bên ngoài mà ở trong nội tâm. Người
thế gian mê muội gặp yêu ma quỷ quái thì mời đạo sĩ vẽ
bùa, niệm chú để trừ tà ma, vậy là dùng võ lực để kháng
cự. Cho dù bạn có thể thắng họ thì vấn đề vẫn
chưa được giải quyết; tâm oán hận của họ, tâm báo thù
vẫn còn, họ vẫn sẽ quay lại trả thù, vả lại sẽ còn
mạnh mẽ hơn, như vậy thì sẽ dây dưa chẳng dứt, vấn đề
sẽ ngày càng trầm trọng. Cho nên Thế Tôn chẳng chống
đối mà dùng tâm chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi
để bao dung, cảm hóa. Biến đổi Ma thành Phật là một
việc tốt, hai bên đều có lợi. Sau khi Ma thành Phật
thì sẽ vĩnh viễn cảm kích bạn, khi bạn thị hiện thành
Phật độ sanh, Ma sẽ thị hiện đủ mọi thân phận để
hộ pháp, đây mới là cách thực sự giải quyết vấn đề.
Phàm ai làm hỏng vấn đề đều là do ngu si tạo nên.
Do đó mới biết trí huệ là đáng quý.
Phật
pháp từ đầu đến cuối đều truy cầu trí huệ, chỉ có
trí huệ mới có thể giải quyết hết thảy vấn đề một
cách viên mãn. Tất cả những vấn đề thế gian và xuất
thế gian đều có thể giải quyết viên mãn, vì trên Lý là
cùng chung một pháp tánh, pháp tánh là cứu cánh viên mãn.
Hết thảy sự vật đều y pháp tánh làm tự thể, tự thể
viên mãn, tự thể hiện ra tướng cũng nhất định viên mãn.
Phàm chẳng thể giải quyết đều là vì trí huệ chẳng đủ,
phương pháp chẳng hoàn hảo, phải quay lại tu trí huệ.
Phương pháp tức là quyền trí, nhà Phật gọi là thiện xảo
phương tiện; quyền trí y vào thực trí, thực trí chính là
Tam Muội. Cho nên mới nói tự mình thành Phật rồi nhìn
thấy núi sông, sơn hà đại địa chúng sanh ‘tình và vô
tình đều viên thành chủng trí’ (tình dữ vô tình, đồng
viên chủng trí). Từ đó có thể biết giải quyết bất
kỳ nghi nan tạp chứng trong thế gian, xuất thế gian đều
ở tại nội tâm. Phật pháp xưng là Nội Học, chẳng
hướng ngoại, hướng ngoại là ngoài tâm cầu pháp, là ngoại
đạo. Ngoại đạo chẳng thể giải quyết vấn đề,
chỉ có Nội học mới có thể giải quyết vấn đề.
Do
đó trong giai đoạn sơ học nhất định phải đọc thuộc
Ðại Thừa, đặc biệt là những người phát tâm hoằng pháp
lợi sanh, không những phải đọc tụng mà còn phải khế nhập
vào cảnh giới. Khế nhập tức là ‘tùy văn nhập quán’.
Mở quyển kinh ra tùy lời dạy trong kinh mà chuyển biến quan
niệm của mình thì gọi là ‘tùy văn nhập quán’. Nhập
tức là khế nhập, ý nghĩa của ‘nhập’ bao gồm ‘tín
- giải - hành - chứng’. Nhập tức là chứng, có hành
mới có chứng, hành là thay đổi quan niệm; thay đổi quan
niệm là vì hiểu rõ đạo lý, hiểu lý tức là tin tưởng
lời dạy của Phật. Phật nói về ‘Giáo - Lý - Hạnh
- Quả’, chúng ta có thể làm được tín - giải - hành - chứng,
cảnh giới liền chuyển, đây tức là ‘tùy văn nhập quán’,
đây là chân thật tu hành, có thể đạt được thọ dụng
chân thật. Phương pháp tu hành vô lượng vô biên, tùy
văn nhập quán là phương pháp tu hành của Giáo Hạ, tức là
mở ra cuốn kinh có thể nhập vào cảnh giới Phật. Nhập
cảnh giới quan trọng nhất là ở trong sanh hoạt hằng ngày,
trong lúc xử sự, đãi người, tiếp vật, lúc nào cũng
giữ được, chẳng đánh mất tức là chẳng thoái chuyển.
Có bản lãnh này thì khi gặp yêu ma quỷ quái chúng ta sẽ
chẳng kinh sợ, chúng ta có khả năng giúp đỡ họ cùng thành
Phật đạo, đây là cách giải quyết viên mãn nhất.
Ðây là lời Phật dạy, đây mới là chân thật, cứu cánh,
mỹ mãn.
6.
Làm thế nào để đối xử hòa mục với tất cả chúng sanh
(Buổi sáng 01-12-98)
Từ
xưa đến nay giáo dục của nhà Phật, nhà Nho đều chẳng
ra ngoài hai việc: thứ nhất là dạy chúng ta nhận thức quan
hệ giữa chúng ta và đại vũ trụ, đây tức là ‘chư pháp
thật tướng’. Hiểu rõ chân tướng của vũ trụ nhân
sanh một cách chính xác là tông chỉ chủ yếu của giáo dục,
đây là Thể. Thứ nhì là dạy chúng ta làm thế nào đối
người, đối sự, đối vật và cũng nghĩa là trong sanh hoạt
làm sao xử sự, đãi người, tiếp vật, đây là Dụng.
Hai cái Thể và Dụng này bao gồm toàn bộ giáo học, đây
chẳng phải chỉ là lời dạy của Phật Thích Ca Mâu Ni mà
thôi, mười phương ba đời hết thảy chư Phật giáo hóa tất
cả chúng sanh đều chẳng ngoại lệ.
Trên
mặt tác dụng tại sao chúng ta không thể đối xử hòa mục
với hết thảy chúng sanh? Là vì chẳng hiểu chân tướng
sự thật. Chư Phật, Bồ Tát đại thánh đại hiền hiểu
rõ chân tướng cho nên có thể đối xử hòa mục với hết
thảy chúng sanh. Ðức Phật dạy chúng ta phải coi tất
cả chúng sanh như cha mẹ quá khứ, chư Phật vị lai;
Bồ Tát Giới Bổn trong kinh Phạm Võng cũng nói: ‘Hết thảy
người nam là cha ta, hết thảy người nữ là mẹ ta’, những
chuyện này đều là sự thật, chẳng phải là thí dụ.
Kiến giải, tâm tư, thường thức của phàm phu hơn phân nửa
giới hạn trong một đời, chẳng biết đời quá khứ và đời
vị lai, cho nên sanh ra rất nhiều hiểu biết sai lầm.
Phật, Bồ Tát dùng định công thâm sâu đột phá giới hạn
của thời gian và không gian, đối với quá khứ vô thỉ, vị
lai vô chung hết thảy đều hiểu rõ, cho nên biết hết thảy
chúng sanh đời đời kiếp kiếp đều là quyến thuộc lẫn
nhau.
Chư
Phật, Bồ Tát dùng tâm gì để đối đãi hết thảy người,
sự, vật? Là dùng tâm Hiếu Kính. Câu đầu tiên
của Tam Phước trong Quán Kinh: ‘Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng
sự sư trưởng’. Dùng hiếu thuận, tôn kính đối đãi
hết thảy người, sự, vật, đó tức là Phật, Bồ Tát, đại
thánh nhân. Tâm tư, quan niệm, hành động của phàm phu
hoàn toàn trái ngược lại. Tương ứng thì là tùy thuận
tự tánh, tánh đức, tùy thuận thật tướng của chư pháp.
Có thể tùy thuận một cách viên mãn thì là Nhất Chân pháp
giới. Nếu chẳng thể tùy thuận, trái ngược lại với
những điều trên thì là lục đạo phàm phu; hoàn toàn trái
ngược thì là tam ác đạo. Cho nên làm thánh làm phàm,
thiên đường địa ngục đều ở ngay tại một niệm của
mình mà thôi. Nếu một niệm này tương ứng với pháp
tánh thì là Phật, Bồ Tát; niệm này trái ngược với tánh
đức thì là chúng sanh, ác đạo.
Do
đây có thể biết cảnh giới bên ngoài thực sự như chư
Phật đã nói: ‘mộng, huyễn, bọt, bóng’, cảnh giới biến
hóa tùy theo tâm niệm của chúng ta, cũng như kinh Hoa Nghiêm
nói: ‘Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến’. Phật
còn nói cho chúng ta biết: ‘hết thảy pháp từ tâm tưởng
sanh’, tâm là năng biến (cái có thể biến), pháp là sở
sanh (cái được sanh ra). Những pháp được sanh này chẳng
như ý là vì cái tâm năng sanh chẳng tương ứng với pháp
tánh. Thế nên hết thảy cảnh giới chẳng phải người
khác biến hiện ra cho bạn hưởng thụ mà do tự mình biến
ra cho mình hưởng dùng, đây là chân tướng sự thật.
Sau khi hiểu rõ chân tướng nếu chúng ta muốn sinh hoạt trong
một hoàn cảnh thích hợp với mình thì phải tuân theo lời
dạy của Phật. Nói thật ra, tuân theo lời Phật dạy
tức là tuân theo tánh đức của tự tánh, pháp tắc của tự
tánh. Những gì chư Phật, Bồ Tát nói đều là pháp tắc
của tự tánh chúng ta, chẳng phải của riêng Ngài. Thế
nên Phật nói Ngài chưa từng nói qua một lời, những gì Ngài
nói đều là tánh đức của tự tánh chúng ta khai phát.
Chỉ có chân chánh hiểu rõ đạo lý này mới thực sự hoàn
toàn tiếp nhận và khâm phục Phật pháp đến năm vóc sát
đất.
Cho
nên học Phật tức là tùy thuận tự tánh, Phật đại biểu
cho tự tánh của chúng ta, Bồ Tát và đại thánh đại hiền
là thị hiện của tánh đức, là tánh đức lưu lộ, là tự
mình chẳng phải người khác, đây tức là ‘ta người không
hai’ (tự tha bất nhị). Chúng ta phải lãnh hội cái
ý tưởng này, từ đó xây dựng lòng tin. Nếu có thể
khế nhập thì mới hoảng nhiên đại ngộ, chư Phật, Bồ
Tát vốn là tánh đức của mình lưu xuất, thập pháp giới
y báo, chánh báo trang nghiêm cũng là tự tánh lưu lộ.
Sau đó mới chân chánh thể hội đến tận hư không trọn
khắp pháp giới chỉ là chính mình mà thôi, ngoài chính mình
ra, đích thực chẳng có pháp nào cả. Lòng đại từ
Vô Duyên, lòng đại bi Ðồng Thể tự nhiên sẽ hiện ra, từ
bi là tánh đức, tánh đức sẽ hiện ra, lưu lộ viên mãn.
Chúng ta hiếu kính đối với Phật, Bồ Tát, đại thánh đại
hiền, hiếu kính cha mẹ, sư trưởng, sau đó từ từ sẽ hiếu
kính đối với hết thảy chúng sanh, thậm chí đối với oan
gia đối đầu của mình, rắn độc thú dữ, địa ngục ngạ
quỷ đều hiếu kính như nhau, nhất định sẽ dùng tâm thanh
tịnh, tâm bình đẳng đối đãi với họ.
Nếu
nhập vô cảnh giới này thì bạn đã thành Phật rồi.
Cho dù chẳng thành Phật thì cũng là Pháp Thân đại sĩ, trí
huệ đã khai mở. Ðối với hết thảy vạn pháp trong
hư không pháp giới, bạn đã giác ngộ, hiểu rõ rồi, biết
được phải làm như thế nào. Ðối với những chúng
sanh chưa giác ngộ thì cũng biết làm thế nào để giúp đỡ,
đây tức là giữ tâm Bồ Tát, hành Bồ Tát đạo. Cho
nên bất cứ thân phận gì, ngành nghề gì, nam nữ, già trẻ
đều có thể tu Bồ Tát đạo viên mãn. Bồ Tát tuyệt
đối chẳng giới hạn trong một pháp giới nào, hết thảy
pháp giới đều là pháp giới Bồ Tát. Kinh Hoa Nghiêm
nói: ‘Một tức là nhiều, nhiều tức là một, một và nhiều
không hai’ tức là ý nghĩa này.
Chúng
ta đời đời kiếp kiếp tiếp xúc với hết thảy chúng sanh
đã kết thiện duyên và cũng có ác duyên. Có nhiều người
rất hợp với mình, có duyên và rất thích mình, đây là thiện
duyên từ đời quá khứ. Có nhiều người là oán gia
đối đầu của mình, đem lại cho mình rất nhiều điều chẳng
như ý, đây là oan nghiệp từ kiếp trước. Quá khứ
mê hoặc điên đảo nên gây ra oan nghiệp này, hiện nay giác
ngộ hiểu rõ rồi, phải hóa giải oan kết này thì cũng dùng
‘hiếu kính’ như lời Phật dạy. Hiếu thuận và tôn
trọng bằng tâm chân thành, oan kết tự nhiên sẽ được hóa
giải.
Cho
nên đối với hết thảy oán ghét, chúng ta phải tùy thuận,
thực sự làm được hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức;
trong sự tủy hỷ thành tựu trí huệ chân thật cho mình, giới
- định - huệ chân thật, đây là công đức. Tùy thuận
làm sao có thể thành tựu công đức? Tâm thanh tịnh quan
trọng, tâm trí huệ quan trọng, bạn dùng tâm chân thành, thanh
tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi tức là tùy thuận, đây
là có công. Có thể thành tựu, tăng thêm lòng chân thành,
thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi của bạn là đức.
Cho
nên nếu có một niệm oán trời trách người thì là sai lầm
quá đỗi. Khi gặp hết thảy cảnh giới, nghịch
duyên không như ý, đều phải quay lại tự mình phản tỉnh,
nhất định là do nghiệp chẳng thiện của mình tích lũy lại
tạo thành, lỗi lầm chẳng ở tại người khác. Quay
đầu lại tự mình chân thật sám hối, sửa sai đổi mới,
đây là chân tu hành. Là do mình chẳng xem họ như cha
mẹ, sư trưởng, chẳng có hiếu thuận, tôn trọng họ, là
lỗi của mình, chẳng phải của họ. Chư Phật Như Lai
dùng phương pháp này được thành tựu, chúng ta muốn làm
Phật, làm Bồ Tát thì cũng chẳng ngoại lệ, vẫn phải dùng
phương pháp này. Chúng ta phải thực hiện ‘kính người,
kính sự, kính vật’ trong đời sống, niệm niệm chẳng được
tách lìa; một niệm tách lìa là một niệm mê, một niệm
tương ứng là một niệm giác, cho nên phải dụng công trong
từng tâm niệm. Chẳng thể không đọc kinh điển Ðại
thừa, chẳng thể không thâm giải ý thú, được vậy chúng
ta mới có thể giữ gìn giác chứ không mê, mới có thể đạt
được đời sống hạnh phúc mỹ mãn chân chánh.
7.
Nói chuyện với đồng tu tại Niệm Phật Ðường
(Buổi sáng 06-12-98)
Từ
lúc khai giảng đến nay Niệm Phật Ðường đã từ từ đi
vào nề nếp, mọi người đều cảm nhận công đức thù thắng
của sự niệm Phật một cách sâu sắc, sanh tâm hoan hỷ.
Nhưng cũng có một số đồng tu nói với tôi rằng trong đại
chúng còn một số ý kiến. Vấn đề này chúng ta không
thể không để ý. Cổ đức thường nói lúc cùng nhau
tu tập (cộng tu) nếu có nghi hoặc, xen tạp thì sẽ phá hoại
công phu niệm Phật. Mục đích của sự niệm Phật là
để đạt được ‘nhất tâm bất loạn’, nhất tâm tuy không
dễ đạt được, chỉ cần đạt đến cảnh giới này thì
nhất định nắm chắc vãng sanh bất thoái thành Phật.
Công
phu thành phiến tức là chẳng có nghi hoặc, xen tạp, bất
luận là ở chỗ nào lúc nào, dù lúc nửa đêm nằm mộng
cũng chẳng quên A Di Ðà Phật, đó tức là hình dáng của
công phu thành phiến. Ngoại trừ A Di Ðà Phật ra, lúc
tiếp xúc với hết thảy người, sự, vật phải luôn luôn
cảnh giác cao độ, nhất định chẳng để ngoại cảnh dụ
hoặc, lay động, đó tức là công phu. Chúng ta muốn đạt
được công phu này nhưng tại sao niệm Phật mãi trong Niệm
Phật Ðường cũng làm không được?
Có
hai nguyên nhân:
Một
là phiền não tập khí từ vô lượng kiếp đến nay quá nặng;
tập khí tức là tri kiến, phần nhiều gọi là thành kiến,
thành kiến rất nặng, ý kiến quá nhiều, đây là một chuyện
rắc rối.
Hai
là không thật thà, thật thà cũng chẳng dễ, người có thể
làm được thật thà bất luận tu học pháp môn nào đều
nhất định có thể thành tựu.
Phương
pháp bổ khuyết, bù đắp là đọc kinh, nghe giảng. Ðọc
kinh nghe giảng giúp cho chúng ta có thể nhìn thấu, buông xuống,
giúp cho chúng ta hiểu rõ chân tướng sự thật của vũ trụ
nhân sanh. Nói một cách khác hiểu rõ chân tướng mình
đến thế gian trong đời này. Nếu thực sự hiểu rõ
triệt để sinh hoạt và hoàn cảnh xung quanh trong đời này
thì tự nhiên sẽ buông xuống. Thế Tôn đã đau lòng mỏi
miệng nói hết bốn mươi chín năm, luôn luôn nhắc nhở nhưng
chúng ta thực sự đã mê quá sâu đậm. Không ngừng nhắc
nhở là hy vọng có một ngày nào đó chúng ta có thể hoảng
nhiên đại ngộ, biết được mình đến thế gian chỉ là
để thọ báo mà thôi.
Nghiệp
đã tạo trong những đời kiếp trước thì đời này đến
để thọ nhận quả báo, đây là nhân quả tuần hoàn.
Tạo thiện nghiệp nhiều thì đời này hưởng được một
chút phước; tạo ác nghiệp nhiều thì đời này phải chịu
rất nhiều đau khổ. Nhưng chẳng có người nào trong
lúc thọ báo bèn cam chịu thọ báo, vẫn cứ tạo nghiệp y
như cũ. Thọ báo rồi tạo nghiệp, tạo nghiệp xong lại
thọ báo, vĩnh viễn cứ tuần hoàn. Hiện tượng tuần
hoàn này chẳng nâng lên trên mà là từ từ đi xuống, đời
này chẳng bằng đời trước, như vậy đau khổ biết bao!
Tại sao lại có hiện tượng này? Tại chúng ta tạo ra
những nghiệp chẳng thiện. Thế Tôn nói rõ cho chúng
ta biết tạo thiện nghiệp thì đi cõi thiện siêu sanh, tạo
ác nghiệp thì đi vào cõi ác đọa lạc, đây là chân tướng
sự thật của nhân sanh. Thử suy nghĩ kỹ thì đích thực
là như vậy. Phật từ bi thương xót những chúng sanh
thọ khổ thọ nạn này vì ngu muội vô tri mê mất tự tánh,
cho nên mới nói rõ chân tướng sự thật, hy vọng chúng sanh
có thể vượt thoát tam giới, lục đạo luân hồi, cùng các
Ngài làm Phật, làm Bồ Tát.
Vào
Niệm Phật Ðường và muốn công phu được đắc lực thì
phải buông xuống hết thảy thân tâm thế giới. Không
buông xuống nổi là vì không hiểu giáo lý nên phải dùng
phương pháp giảng kinh để bổ cứu. Thời xưa Niệm
Phật Ðường chẳng có giảng kinh, nhưng mỗi cây hương lúc
chỉ tịnh[2] đều có giảng khai thị, dụng ý cũng giống
với giảng kinh, là giúp mọi người đoạn nghi sanh tín, công
phu đắc lực. Ðặc biệt là ngày nay thời gian chúng
ta nghe kinh ngắn, chẳng đủ căn cơ, tuy là có duyên trụ tại
Niệm Phật Ðường thù thắng như vầy mà vẫn sanh phiền
não, vẫn còn nhiều ý kiến, vẫn gây chướng ngại cho công
phu tu học của mình. Do đó có thể biết chẳng thể
không đọc kinh, chẳng thể không nghe giảng, mọi người phải
hết lòng nỗ lực dụng công.
Sau
khi Làng Di Ðà xây xong, Niệm Phật Ðường có thể chứa từ
một đến hai ngàn người. Ðồng tu trụ tại Làng Di
Ðà đều là Phật, Bồ Tát vì những người đến chỗ này
chỉ có một mục đích là làm Phật. ‘Niệm Phật là nhân,
làm Phật là quả’. Niệm Phật Ðường nhất định
niệm Phật chẳng gián đoạn suốt hai mươi bốn giờ, ngày
ngày đều như vậy, năm nào cũng đều như vậy. Chúng
ta là phàm phu nghiệp chướng nặng nề muốn ngày đêm niệm
Phật chẳng gián đoạn, nhưng thể lực có trở ngại, có
trở ngại cũng phải khắc phục. Khi xưa Ðế Nhàn lão
hòa thượng dạy phương pháp niệm Phật cho đồ đệ của
Ngài -- người làm thợ vá nồi: ‘Niệm mệt rồi thì nghỉ,
nghỉ mệt xong liền niệm tiếp tục’. Nhất định chẳng
thể làm biếng, giải đãi, đây chính là vì mình mà cũng
vì chúng sanh; bạn thành Phật rồi thì có thể phổ độ
chúng sanh, đây là tự lợi, lợi tha. Hy vọng mọi người
tự động, tự phát đừng để người ta phải đốc thúc.
Trong Niệm Phật Ðường mặc áo hải thanh (áo tràng), lúc
nghỉ mệt cũng đừng cởi áo hải thanh, khi cởi áo hải thanh
thì sợ ngủ mê, làm ngưng trệ công phu niệm Phật; mặc luôn
áo mà ngủ thì có thể đề cao cảnh giác, tận lực ngăn
ngừa cho mình đừng làm biếng. Tu học trong đạo tràng
như vậy thì làm sao chẳng thành Phật cho được!
Trụ
ở Làng Di Ðà đều miễn phí, một đồng cũng chẳng nhận,
vì các bạn là Phật, Bồ Tát, chúng tôi đương nhiên phải
cúng dường. Một trong mười đức hiệu của Phật là
‘Ứng Cúng’, các bạn trú ở đây thì đương nhiên phải
nhận sự cúng dường của hết thảy chúng sanh. Bạn
sẽ làm Phật nên chúng tôi dùng tâm cúng dường chư Phật
để cúng dường các bạn, giúp các bạn ngay trong một đời
này viên thành Phật đạo, cái duyên này vô cùng thù thắng!
Nơi đây xin chúc các bạn ngay trong một đời ngắn ngủi này
nhất định sẽ thành tựu.
8.
Học Phật tức là học làm người
(Buổi sáng 07-12-98)
Học
Phật tức là học làm người, học làm một người tốt,
học làm một người minh bạch. Nhà Nho nói: ‘Đạt đến
mức tốt lành tột bậc” (Chỉ ư chí thiện), Phật pháp
đích thật đã làm câu này được viên mãn. Chí thiện
là thiện đến mức cùng cực, đạt đến cứu cánh viên mãn.
Nhà Nho và nhà Phật đều có phương pháp đạt đến chí thiện,
cơ sở của phương pháp này có thể nói là hoàn toàn tương
đồng. Nhà Nho dạy học trước hết đề ra ‘Tam Cương,
Bát Mục’[3]. Nhà Phật dạy học trước hết đề ra
‘Tứ Hoằng, Lục Ðộ’, tinh thần và nội dung của hai thứ
này rất giống nhau. Thế nên tư tưởng, kiến giải,
giáo học, hành trì của Khổng Lão phu tử và Thích Ca Mâu
Ni Phật chẳng hẹn mà hợp với nhau, đúng là ‘Cái nhìn
của anh hùng đại lược giống nhau’.
Việc
đầu tiên trong sự tu học là phải phát nguyện, nhà Nho nói
phải lập chí, lập chí làm thánh hiền, làm đại sự, chẳng
phải lập chí làm quan phát tài, hưởng vinh hoa phú quý.
Ðại sự là gì? Nhà Phật nói: ‘Tử sanh đại sự’,
câu này nói rõ ý nghĩa của đại sự. Trong Phật pháp,
đại sự nhân duyên nói đến chỗ cứu cánh viên mãn tức
là phổ độ chúng sanh và cũng là nguyện thứ nhất trong Tứ
hoằng thệ nguyện: ‘Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’.
Ðộ là ví dụ, độ qua biển khổ sanh tử, độ qua lục đạo
luân hồi, đây mới là đại sự.
Vô
lượng kiếp đến nay chúng sanh kẹt mãi trong sanh tử luân
hồi đời này sang kiếp khác, vĩnh viễn chẳng thể thoát
ly; trong kinh gọi chúng sanh trong lục đạo là ‘người đáng
thương xót’. Tình trạng trong lục đạo chỉ có Phật,
Bồ Tát mới rõ ràng, phàm phu mê trong đó và chẳng hiểu
rõ chân tướng sự thật. Chân tướng sự thật này tức
là chân tướng của sanh tử và chân tướng của đời sống
chúng ta.
Ðức
Phật nói khi chúng ta ở trong luân hồi thì nhất định thời
gian trong ba ác đạo dài, thời gian trong ba thiện đạo ngắn.
Thọ mạng dài nhất trong tam thiện đạo là cõi Phi Tưởng
Phi Phi Tưởng Xứ ở trời Vô Sắc Giới, thọ mạng là tám
vạn đại kiếp; một đại kiếp bằng thời gian thế giới
chúng ta trải qua ‘thành - trụ - hoại - không’ một lần,
tám vạn đại kiếp là thời gian thế giới chúng ta thành,
trụ, hoại, không tám vạn lần, họ có thọ mạng dài như
vậy. Thời gian dài trong ác đạo càng dễ sợ hơn.
Kinh Ðịa Tạng dạy: ‘Thọ mạng trong địa ngục là vô số
kiếp’. Cho dù là trong cõi súc sanh tuy thọ mạng chẳng
dài nhưng súc sanh ngu si, kiên cố chấp trước thân hình này
là của mình cho nên rất khó thoát ra. Lúc Thế Tôn còn
tại thế, tại Kỳ Thọ Cấp Cô Ðộc Viên có một ổ kiến,
Thế Tôn nói với đệ tử: ‘Ðã trải qua bảy vị Phật
rồi, cả ổ kiến này cũng chưa thoát thân làm kiến, đời
đời kiếp kiếp cứ làm kiến hoài’. Thời gian này
dài hơn thọ mạng của Phi Phi Tướng Xứ Thiên quá nhiều,
quá nhiều!
Cho
nên Phật, Bồ Tát thường nhắc nhở chúng ta, cảnh cáo chúng
ta, tam ác đạo tuyệt đối chẳng thể đi vào, đọa tam ác
đạo rất dễ dàng, thoát ly tam ác đạo thì quá khó.
Tuy Phật, Bồ Tát từ bi ứng hóa trong ác đạo độ chúng
sanh, nhưng ác đạo chúng sanh ngu si đến cùng cực, còn thêm
vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nặng nề, so với độ
người còn khó gấp nhiều lần. Tuy vậy nhưng Phật,
Bồ Tát cũng chẳng xả bỏ, các Ngài thực sự là từ bi đến
cùng cực.
Trong
lục đạo chúng sanh dễ độ nhất là loài người, thế nên
Bồ Tát thị hiện thành Phật cũng ở tại cõi người.
Nguyên nhân là gì? Phật, Bồ Tát thị hiện ở chỗ nào
là do cảm ứng đạo giao với chúng sanh nơi đó, chúng sanh
có cảm, Phật, Bồ Tát liền có ứng. Do đó mới biết
cõi người có sức cảm ứng rất lớn với chư Phật, Bồ
Tát, thế nên quý Ngài ứng hóa trong cõi người, thị hiện
làm Phật, làm Bồ Tát, đây là chân lý.
Ðời
này chúng ta có thể sanh vào cõi người, cơ hội này vô cùng
hiếm hoi và quý báu, quý ở chỗ cõi người dễ giác ngộ,
dễ được độ, cho nên chúng ta nhất định phải nắm vững
cơ duyên. Vả lại cơ duyên này chẳng lâu dài vì thọ
mạng của cõi người rất ngắn, cho dù sống đến một trăm
tuổi thì cũng như búng ngón tay, một sát na ngắn ngủi mà
thôi. Thọ mạng ngắn nói lên cơ duyên này đặc biệt
quý báu, vì vậy được thân người nếu chẳng nghe được
Phật pháp thì rất đáng tiếc. Số người được thân
người nhưng chẳng có cơ duyên nghe Phật pháp đích thật
là chiếm đại đa số. Trong thời đại hiện nay Phật
pháp nương vào khoa học kỹ thuật phổ biến truyền đến
khắp thế giới, bất luận là tin hay không, chỉ vì ‘một
phen lọt vào tai, vĩnh viễn là hạt giống đạo’, đây là
người thế gian có phước. Nếu ở trong đời này thiệt
có thể thoát ly lục đạo luân hồi thì là thực sự thành
tựu. Ngược lại đời này chẳng thể thoát ly lục đạo,
đời sau không cách chi tránh khỏi luân hồi như cũ; một khi
đã luân hồi thì chẳng biết phải trôi lăn đến kiếp nào
mới có thể gặp được Phật pháp. Nhất định chẳng
thể đời nào cũng gặp được Phật pháp, nếu đời nào
cũng được gặp thì chúng ta đã thành Phật sớm rồi, bởi
vậy mới biết việc này chẳng dễ.
Gặp
được Phật pháp mọi người đều hy vọng ngay trong đời
này được thành tựu, chuyện này cũng chẳng phải khó, đích
thực mỗi người đều có thể làm được, mấu chốt là
ở chỗ giác ngộ. Biết được khuyết điểm của mình
chính là giác ngộ; sửa khuyết điểm cho đúng trở lại là
tu hành. Nếu chẳng biết khuyết điểm của mình thì
không biết bắt đầu sửa đổi từ đâu. Nhưng một
người biết được khuyết điểm của mình rất khó, ai cũng
tưởng là mình đúng hoàn toàn. Lý do phàm phu vẫn cứ
là phàm phu vì họ chẳng biết lỗi lầm của mình, cứ cho
rằng mình đúng. Bồ Tát khác với phàm phu là vì Bồ
Tát chẳng có quan niệm mình đúng, chỉ biết rằng lỗi lầm
của mình quá nhiều, mỗi ngày đều phản tỉnh, ngày ngày
đều sửa lỗi, đây là người giác ngộ. Người mê
thì cứ tưởng là mình đúng, cho dù phản tỉnh thì cũng nghĩ
mình chẳng có lỗi, lỗi đều ở nơi người khác. Nhưng
họ chẳng biết khi nhìn thấy lỗi người khác thì chính là
lỗi của mình; khi nào chẳng nhìn thấy lỗi của người khác
thì lỗi của mình cũng chẳng còn.
Huệ
Năng đại sư dạy: ‘Nếu là người tu đạo chân thật chẳng
thấy lỗi thế gian’. Nhìn thấy người khác có lỗi
tức là phiền não tập khí của mình hiện hành. Bên
ngoài là duyên, duyên giúp cho phiền não tập khí của mình
khởi lên, đây là lỗi lầm lớn. Cho nên người biết
tu hành, hết thảy ngoại duyên đều là thiện tri thức, gặp
người thiện chuyện thiện thì có thể học tập, gặp người
ác chuyện ác giúp mình phản tỉnh sửa lỗi lầm, thuận hay
nghịch đều là thiện tri thức. Trong lúc phản tỉnh
‘có lỗi thì sửa, không thì nhắc nhở để đừng phạm’,
lý do Bồ Tát tu hành có thể thành Phật là ở tại điểm
này.
Nếu
chẳng hiểu đạo lý và chân tướng sự thật, học Phật
mà chẳng thực sự thay đổi trên tâm địa, tức là học
Phật nhưng vẫn tạo tội nghiệp y như cũ thì đúng như lời
người xưa nói ‘Trước cửa địa ngục có nhiều Tăng sĩ’
(Ðịa ngục môn tiền Tăng đạo đa). Chữ Tăng này không
nhất định chỉ người xuất gia, người tại gia cũng bao
gồm trong đó; Tăng là đoàn thể, bất luận là xuất gia hay
tại gia, đoàn thể học Phật đều xưng là Tăng đoàn.
Hiện
nay tu học pháp môn Niệm Phật có thể giúp chúng ta đoạn
phiền não, tăng trưởng trí huệ, thoát ly sanh tử luân hồi,
viên thành Phật đạo. Trong vô lượng pháp môn đây là
pháp môn hy hữu thù thắng hạng nhất, chẳng dễ gì gặp
được. Ðặc biệt là đạo tràng có tổ chức tu tập
chung như vầy chẳng phải do sức người tạo nên, mà là do
chư Phật, Bồ Tát gia trì nên đạo tràng có chư Phật hộ
niệm, Long thiên ủng hộ. Mọi người ở trong đạo tràng
này tu học phải đặc biệt trân trọng cái nhân duyên hiếm
có, khó gặp này, phải hết lòng nỗ lực, nhất định nội
trong một đời này viên mãn thành tựu.
9.
Cầu cảm ứng (Buổi sáng 08-12-98)
a.
Học Phật tức là học giác ngộ.
Phật
pháp quý ở chỗ giác ngộ, cổ thánh tiền hiền cũng nói:
‘chế ngự được niệm thì thành thánh’ (khắc niệm
tác thánh), thế nên thánh hay phàm chỉ ở tại một niệm
giác hay mê mà thôi. Một niệm giác, ngay lúc đó tức
là Nhất Chân pháp giới; một niệm mê thì đâu phải chỉ
có mười pháp giới không thôi? Người giác ngộ thực
sự có thể buông xuống, chỉ có người mê mới có chấp
trước. Chư Phật, Bồ Tát là tấm gương tốt cho chúng
ta, cho nên học Phật, Bồ Tát tức là học giác ngộ, học
nhìn thấu, buông xuống, thực sự làm được ‘chẳng tranh
với người, chẳng cầu với đời’ thì tự nhiên thân tâm
tự tại, trí huệ tăng trưởng.
Người
học Phật chẳng thể khế nhập vào cảnh giới là vì một
niệm tình chấp chưa tiêu trừ. Nếu muốn thành tựu
thì chẳng thể không biết đạo lý này, chẳng thể không
hết lòng học tập ‘chẳng tranh, chẳng cầu’, học tập
từ bi, nhiệt thành giúp người. Trong quá trình giúp người,
nhất định chẳng thể chấp trước danh - văn - lợi -dưỡng,
ngũ dục lục trần, phải vĩnh viễn bảo trì tâm thanh tịnh,
bình đẳng; đây là Bồ Tát hạnh, Bồ Tát hạnh là hạnh
giác ngộ.
Chúng
ta phải quan sát kỹ và thể hội cả đời hành trì của đức
Thế Tôn. Thế Tôn hoằng pháp lợi sanh giảng kinh thuyết
pháp, chẳng có danh phận, cũng chẳng có chức vị, đối với
chúng ta chỉ là quan hệ thầy trò. Quan hệ này vẫn còn
là kiến giải phàm phu, Thế Tôn tuyệt chẳng có khái niệm
này; nếu Ngài có khái niệm này thì chẳng thể thành thánh,
thành Phật. Vì thầy trò là nhị pháp, nhị pháp chẳng
phải là Phật pháp, đây là lời Lục Tổ Huệ Năng đại
sư nói.
b.
Nhị đế
Thế
Tôn cả đời giảng kinh thuyết pháp y cứ theo nguyên lý, nguyên
tắc Nhị Ðế; mười phương ba đời hết thảy chư Phật
Như Lai thuyết pháp cũng dựa trên Nhị Ðế. Nhị Ðế
tức là Chân Ðế và Tục Ðế. Chân Ðế hoàn toàn nói
về chư pháp thật tướng, chẳng có tơ hào phân biệt chấp
trước, người thế gian khó hiểu việc này. Tục Ðế
tức là thế gian pháp, y theo tri kiến và thường thức của
chúng sanh, mọi người đều dễ hiểu. Nhưng trí huệ
của Phật cao, thiện xảo phương tiện đạt đến cực điểm,
nói Tục Ðế cũng bao gồm Chân Ðế, nói về Chân Ðế nhưng
cũng chẳng lìa Tục Ðế, Chân và Tục viên dung, được đại
tự tại. Người thế gian không những mê Chân Ðế mà
cũng mê Tục Ðế. Phật có thể viên dung cả Chân lẫn
Tục, tức là Chân Ðế nhìn thấu rồi, thì Tục Ðế cũng
buông xuống. Nhìn thấu và buông xuống là một chứ chẳng
phải hai, đây mới là trí huệ chân thật. ‘Trụ chân
thật huệ’ trong kinh Vô Lượng Thọ tức là cảnh giới này.
Những việc làm cả đời của chư Phật, Bồ Tát chỉ có
một mục đích là hoằng pháp lợi sanh, ban cho chúng sanh lợi
ích chân thật. Dù ban lợi ích chân thật nhưng Ngài cũng
chẳng cầu một cái gì, và cũng chẳng phân biệt chấp trước.
Những chỗ này chúng ta phải rõ ràng, thấu hiểu triệt để,
hết lòng học tập.
c.
Cầu cảm ứng
Sự
nghiệp hoằng pháp lợi sanh chẳng thể không cầu cảm ứng.
Ðối với việc này, nếu có thể thể hội được Chân Tục
viên dung thì sẽ có chánh tri, chánh kiến, chánh giải, và
sẽ chẳng nghiêng lệch về một bên. Người thế gian
chấp trước trên Tục Ðế, thực sự niệm niệm đều mong
cầu, niệm niệm mong cầu thì liền lọt vào trong ý thức.
Cầu mong chư Phật, Bồ Tát là làm một cách đúng lý, đúng
pháp, có nguyện cầu nhưng chẳng có tâm mong cầu, như vậy
mới viên dung, mới có cảm ứng.
Nhà
Nho nói: ‘lập chí’, nhà Phật nói ‘phát nguyện’, hai
thứ này có khác nhau không? Trong ‘chí’ có mong cầu,
có cầu thì sẽ lọt vào tình thức; trong ‘nguyện’ chẳng
có mong cầu. Nói một cách khác ‘lập chí’ có mang
theo cảm tình, ‘phát nguyện’ thuần túy là trí huệ, chẳng
có tình thức. Thực ra chúng ta chỉ cần làm đúng như
lý, như pháp, chư Phật Như Lai sẽ tự nhiên hộ niệm, đây
tức là ‘cầu’, ‘cầu’ như vậy thì có cảm ứng.
Chúng ta cầu mà chẳng cầu, chư Phật, Bồ Tát ứng mà chẳng
ứng, thế thì sẽ cảm ứng đạo giao chẳng thể nghĩ bàn,
không những Phật, Bồ Tát hộ niệm, long thiên thiện thần
cũng sẽ ủng hộ. Nếu có tâm mong cầu thì tuyệt đối
sẽ chẳng có cảm ứng, tại vì tâm này là tình thức, gây
trở ngại cho sự cảm ứng giữa chúng ta và chư Phật, Bồ
Tát. Thế nên có nguyện nhưng chẳng có tâm mong cầu,
chỉ cần hết lòng nỗ lực như lý như pháp mà làm thì tự
nhiên sẽ có cảm ứng.
Tự
mình tu tập phải đoạn phiền não tập khí, phải khai trí
huệ, giúp đỡ người khác cũng có mục đích này, nhưng thủ
đoạn phương pháp phải tùy cơ ứng biến, vì cơ duyên chẳng
giống nhau, phương thức sẽ chẳng đồng, có câu ‘phương
tiện có nhiều cửa, đường trở về chẳng hai’. Tự
mình thành tâm thành ý mà làm, chướng ngại của mình chẳng
còn nữa nhưng chúng sanh còn chướng ngại, tức là duyên chưa
chín muồi. Duyên chưa chín muồi thì tự mình phải dưỡng
đạo, cũng tức là tiến tu, không ngừng nâng cao cảnh giới
của mình, chờ đợi cơ duyên của chúng sanh chín muồi, việc
này chẳng thể miễn cưỡng chút nào.
Nếu
muốn dời cơ duyên độ chúng sanh đến sớm hơn thì tự mình
phải hết lòng nỗ lực tu pháp sám hối, sửa lỗi đổi mới,
hết thảy đều cầu về hướng tự tánh. Thế nên Phật
pháp được gọi là Nội Học, hoàn toàn khác với thế gian
pháp. Người thế gian hướng về bên ngoài mà mong cầu,
Phật pháp thì hướng về tự tánh mà mong cầu, chẳng hướng
ngoại. Cầu chư Phật, Bồ Tát gia trì thì cũng là từ
tự tánh mà cầu. Nếu chúng ta thực sự cùng tâm, cùng
nguyện, cùng đức, cùng hạnh với Phật, đây tức là ‘cầu’,
cầu như vậy chẳng hướng ngoại, hết thảy Như Lai làm sao
chẳng gia trì? Như vậy cũng giống như tiếp nối đường
điện, chẳng có chướng ngại, nhất định sẽ có cảm ứng
đạo giao. Nếu có một tâm niệm riêng tư, đường điện
sẽ đứt mất và sẽ chẳng có cảm ứng.
Nếu
có tâm riêng tư, có tình [chấp] dục [vọng] mà cầu thì cũng
có cảm ứng, đây là ma cảm ứng, trong xã hội ngày nay, những
chuyện này rất nhiều. Yêu ma quỷ quái cũng có thể
làm cho bạn có thần thông, làm cho bạn phát cuồng, cho bạn
một số khả năng đặc biệt, bạn cũng có thể mê hoặc
chúng sanh, nhưng đây đều là tạo nghiệp. Năm mươi
loại Ấm Ma giảng trong kinh Lăng Nghiêm rất rõ ràng.
Những thứ thần thông, đạo lực này là do ma nhập vào người,
ma gia trì họ; sau khi ma rời khỏi thì hoàn toàn mất hết,
sau cùng bản thân người đó cũng sẽ gặp nạn. Cho nên
nhà Phật nói về đạo lý ‘cầu’ chúng ta nhất định phải
hiểu; pháp thế và xuất thế gian đều hướng về tâm tánh,
như vậy mới đúng.
d.
Hoằng pháp và Hộ pháp.
Chư
Phật hộ niệm, long thiên thiện thần ủng hộ, hiển thị
tại đâu? Khắp xung quanh chúng ta sẽ có rất nhiều bạn
tốt giúp đỡ, hộ trì, đây là hộ pháp. Hộ pháp gồm
có nội hộ và ngoại hộ, nội hộ là do người xuất gia
hộ trì, ngoại hộ do hai chúng tại gia hộ trì, được vậy
chánh pháp mới được xây dựng, thường trụ tại thế gian.
Tuy được hộ trì cả trong lẫn ngoài, tâm địa chúng ta vẫn
phải thanh tịnh, vẫn phải mảy trần chẳng nhiễm y như cũ.
Giống
như Cư Sĩ Lâm Tân Gia Ba và Tịnh Tông Học Hội đích thực
có thiện hữu giúp đỡ mạnh mẽ, nhưng chúng ta đối với
họ chẳng có tiếp đãi đặc biệt. Lúc ăn cơm ở Cư
Sĩ Lâm, họ tự động lấy dĩa đi gắp thức ăn, tự kiếm
chỗ ngồi, chẳng nhận một sự tiếp đãi đặc biệt nào
cả, đây mới thật sự là thiện hữu chân thật. Có
câu ‘Một vị Phật ra đời, ngàn Phật ủng hộ’, những
người này đều là Phật, Bồ Tát, cho nên đạo tràng này
có thể thành lập, là mọi người có phước. Chúng ta
rất may mắn gặp được nhân duyên này và cũng rất hoan hỷ
dốc toàn tâm toàn lực để hợp tác, ủng hộ, cống hiến
một chút sức hèn mọn. Vì giúp họ là giúp hết thảy
chúng sanh, giúp họ tức là giúp chư Phật Như Lai.
Cho
nên người xuất gia tốt nhất đừng quản lý sự vụ, đây
là do Thế Tôn thị hiện cho chúng ta thấy. Người xuất
gia quản lý sự vụ là bất đắc dĩ, là đã biến dạng rồi.
Nếu người xuất gia quản lý sự vụ thì là hộ pháp, chẳng
phải là hoằng pháp, vậy thì phải toàn tâm toàn lực bồi
dưỡng những người đi sau (lớp đàn em), chiếu cố những
pháp sư hoằng pháp. Quản lý sự vụ cũng giống như
hiệu trưởng trong trường học, phải quản lý giáo vụ, tổng
vụ, đây là [chức vụ] Chấp Sự, có tánh cách phục vụ.
Hoằng pháp là giáo viên, chẳng đảm nhiệm Chấp Sự.
Phía trong Chấp Sự là nội hộ, bên ngoài Chấp Sự là ngoại
hộ.
Nếu
chúng ta có thể hiểu rõ quan niệm này, mỗi người đều
tận tâm làm tròn trách nhiệm của mình, Phật pháp nhất định
sẽ hưng vượng, chúng sanh mới thực sự có phước.
Nhất định chẳng tranh giành chức vị Chấp Sự, sau đó tác
oai tác phước để hưởng thọ, chướng ngại cho pháp sư
hoằng pháp, chẳng bồi dưỡng huấn luyện hậu học, đây
là tạo ra vô lượng vô biên tội nghiệp, tạo tội nghiệp
này phải đọa A Tỳ địa ngục. Chúng ta phải rõ ràng
minh bạch, phải tu phước trong nhà Phật, đừng nên tạo nghiệp.
Chúng
ta làm tròn nội hộ và ngoại hộ, tự nhiên sẽ có chư Phật
Bồ Tát đến hoằng pháp lợi sanh. Nội hộ và ngoại
hộ làm chẳng đúng như pháp, nhất định sẽ chẳng có Phật,
Bồ Tát đến thuyết pháp vì duyên chưa chín muồi. Công
tác hộ pháp làm được viên mãn thì là duyên chín muồi,
tự nhiên sẽ cảm được chư Phật, Bồ Tát đến thị hiện
giáo hóa chúng sanh.
10.
Làm đệ tử Di Ðà (Buổi sáng 09-12-98)
a.
Gặp duyên rất quan trọng.
Những
năm đầu Dân quốc, Thái Hư pháp sư đề xướng ‘Bồ Tát
Học Xứ’, ý tưởng này rất tốt. Hiện nay chúng ta
đề xướng làm ‘Ðệ Tử Di Ðà’. Ðệ tử Di Ðà
đương nhiên cũng là Bồ Tát. Như thế nào mới làm được?
Ðây là vấn đề của giáo dục. Thánh nhân thế gian
và xuất thế gian dạy: ‘Người ta ai cũng có thể làm thánh
hiền, ai cũng có thể làm Nghiêu, Thuấn’, mấu chốt là ở
tại giáo học. Dùng Phật pháp mà nói, giáo học là trợ
duyên, tăng thượng duyên, nếu gặp được tăng thượng duyên
tốt, người có tài năng hạng trung cũng có thể làm thánh
làm hiền, trong nhà Phật có chuyện này, trong các triều đại
Trung Quốc cũng có. Ðặc biệt là trong Phật pháp, hạ
hạ căn cũng có thể làm A La Hán, làm Bồ Tát, đây là chỗ
cao minh của nền giáo học Phật pháp. Trong nhóm đệ
tử của Thế Tôn, Châu Lợi Bàn Ðà Già là một thí dụ rất
hay. Ngay cả người hạ hạ căn cũng có thể chứng quả
vị A La Hán, có thể thành đại Bồ Tát, huống chi là người
trung, thượng căn?
Phần
đông người ta cả một đời chẳng thể thành tựu, pháp
thế gian và xuất thế gian chẳng thành, hoặc có được chút
ít thành tựu nhưng sau cùng lại thất bại đều là vì gặp
duyên chẳng tốt. Phật thuyết pháp: ‘Hết thảy pháp
do nhân duyên sanh’ rất có đạo lý. Một duyên phần
tốt thì chỉ có thể gặp mà chẳng thể cầu. Vậy thì
đời này chúng ta có thể gặp duyên tốt chăng? Câu trả
lời là khẳng định được tại vì ‘trong nhà Phật chẳng
xả một người nào hết’, vấn đề ở tại phát tâm.
Nếu chúng ta phát tâm thuần chánh, chư Phật Bồ Tát nhất
định sẽ đến làm tăng thượng duyên cho chúng ta, sẽ đến
giúp đỡ chúng ta.
b.
Phát tâm.
Nhà
Phật nói chữ ‘thuyết pháp’, cơ duyên chín muồi mà bạn
chẳng thuyết pháp cho họ nghe thì đánh mất cơ hội, là mất
đi thời tiết nhân duyên; nếu cơ duyên chẳng chín muồi mà
thuyết pháp cho họ thì là không đúng lúc. Phật hiểu
rõ thời tiết nhân duyên nên Phật thuyết pháp được ví
như ‘hải triều âm’. Hải triều chỉ thủy triều
dâng (nước lên) và xuống có thời gian nhất định, nhất
định chẳng bao giờ sai. Ðức Phật giáo hóa chúng sanh
cũng vậy.
Ðây
là nói rõ một sự thật: chúng sanh có Cảm thì Phật sẽ
Ứng, cảm ứng đạo giao. Do đó có thể biết thành tựu
hay không là thao túng trong tay của chính mình. Nếu mình
hy vọng làm thánh làm hiền, làm Phật, làm Bồ Tát thì cái
tâm này là Cảm, Phật, Bồ Tát nhất định sẽ có Ứng.
Nếu niệm này chẳng sanh khởi thì là chẳng có Cảm; chẳng
có Cảm thì đương nhiên Phật, Bồ Tát chẳng có Ứng, cho
nên bạn sẽ chẳng gặp được cơ duyên. Nếu nguyện
vọng của bạn là chân thật thì cảm ứng sẽ rất nhanh chóng;
nếu nguyện vọng rất yếu ớt, khi có khi không, thì cảm
ứng cũng sẽ yếu ớt. Cho nên một đời này của bạn
có thành tựu hay không là do sự ‘phát tâm’.
Nguyên
nhân ‘Bồ Tát Học Xứ’ của Thái Hư pháp sư chưa thực
hiện thành công là vì người chân chánh phát tâm làm Phật,
làm Bồ Tát quá ít. Chân chánh phát tâm làm Bồ Tát thì
nhất định chẳng bị danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục
trần trong thế gian dụ hoặc; nếu còn bị dụ hoặc thì sẽ
chẳng làm Bồ Tát nổi. Chuyện này phải nhờ tự mình
khắc phục phiền não tập khí thì mới có được cảm ứng,
có được trợ duyên.
Hiện
nay ngoại duyên ở Tân Gia Ba đã chín muồi, đây là cảm ứng
của Phật, Bồ Tát. Chúng ta từ sự ‘ứng’ của Phật,
Bồ Tát thì có thể biết được trong nhóm đồng tu có Cảm;
nếu chẳng có Cảm thì làm sao có Ứng được? Cho nên
trong các vị đồng tu nhất định có người chân chánh phát
tâm muốn làm Bồ Tát, muốn làm đệ tử Di Ðà nên duyên
này mới chín muồi, chẳng có chút gì miễn cưỡng, đây là
chân thật chẳng hư dối. Chúng ta gặp được thời tiết
nhân duyên vô cùng thù thắng như vậy thì càng tăng thêm tín
nguyện của chúng ta, và từ đó chúng ta cũng thành tựu theo.
Ðúng như lời của cư sĩ Bành Tế Thanh ‘vô lượng kiếp
đến nay hiếm có, khó gặp’, chúng ta nhất định phải trân
quý cái duyên phần này. Nếu trong nhân duyên thù thắng
như vậy mà vẫn chẳng chống nổi phiền não tập khí, chẳng
chống nổi danh văn lợi dưỡng, ngũ dục lục trần dụ hoặc,
bỏ lỡ cơ duyên quý báu thì thiệt rất đáng tiếc!
Cư
sĩ Lý Mộc Nguyên phát tâm chân thật, chẳng có một chút
tâm riêng tư, cho nên làm việc hoằng pháp được thành công,
làm tăng thượng duyên cho mọi người. Nếu ổng có một
chút tâm riêng tư thì công chuyện sẽ nhất định thất bại,
vì nếu có tâm riêng tư thì sẽ chẳng được Tam Bảo cảm
ứng. Nếu vẫn có cảm ứng thì nhất định là ma đến
ứng, chẳng phải Phật đến ứng. Ma và Phật khác nhau
chẳng ở cảnh bên ngoài mà là ở nội tâm. Một niệm
chân thành, Phật đến cảm ứng; một niệm tự tư tự lợi
thì ma đến cảm ứng. Thế nên trong tâm chẳng có một
chút tâm niệm ham muốn riêng tư mới cảm được chư Phật
đến ứng.
c.
Tâm chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi
Trong
đời sống hằng ngày lúc đối người, đối sự, đối vật
chẳng thể có ‘tôi đúng anh sai’, ‘tôi chánh anh tà’.
Nếu vẫn còn tâm niệm tự tư tự lợi, cứ cho là mình đúng
thì đó là phiền não tập khí, tâm như vậy sẽ chẳng thanh
tịnh, chẳng bình đẳng, đó là chướng ngại cho sự cảm
ứng đạo giao với chư Phật, Bồ Tát. Chuyện tốt cuối
cùng biến thành ma cảnh là ở tại một niệm sai trái này.
Tâm Phật, Bồ Tát là tâm chân thành, thanh tịnh, bình đẳng,
từ bi, nhìn hết thảy chúng sanh đều bình đẳng, đối với
hết thảy chúng sanh đều chân thành, cung kính. Chúng
ta phải học tập những tâm này thì mới có được cảm ứng,
có được trợ duyên. Có được trợ duyên rồi thì tự
hành hóa tha sẽ rất thuận tiện.
Cứ
thường nhìn thấy lỗi người khác, cứ cho là mình đúng,
đây là lỗi lầm lớn nhất. Cho dù người khác tạo
nên tội ngũ nghịch, thập ác, chúng ta vẫn phải học Phật,
Bồ Tát dùng con mắt từ bi mà quán, họ chỉ vì một lúc
mê hoặc nên tạo thành lỗi lầm, họ chẳng dùng chân tâm,
trong chân tâm chẳng có lỗi lầm, họ dùng vọng tâm nên bị
phiền não tập khí chi phối. Chư Phật Bồ Tát nhìn thấy
những người này sẽ dùng tâm thương xót, tâm thanh tịnh,
tâm bình đẳng để đối đãi; tại vì chân tâm Phật tánh
của họ chẳng bị giảm mất chút nào, Phật, Bồ Tát đối
với họ vẫn hoàn toàn cung kính. Phổ Hiền Bồ Tát dạy
chúng ta ‘Lễ kính chư Phật’, cho nên đối với những người
làm ác đa đoan, lễ kính vẫn chẳng giảm bớt mảy may.
Chuyện
này chúng ta có thể làm được hay không? Nếu có phân
biệt, chấp trước thì sẽ làm không được. Làm không
được thì là chúng sanh, chẳng phải Bồ Tát. Muốn học
làm Bồ Tát thì phải bắt đầu học từ chỗ này, phải chân
chánh làm được đối với người cực ác thì cũng hoan hỷ
khen bề tốt, mặt thiện của họ, tuyệt đối chẳng đề
cập đến bề ác, mặt xấu của họ. Không những không
đề cập, trong tâm cũng chẳng lưu lại dấu vết, tâm như
vậy mới thực sự thanh tịnh, tâm thanh tịnh sẽ được đại
tự tại. Chúng ta xem họ cũng giống như một vị Phật,
vì ‘hết thảy chúng sanh vốn thành Phật’, Phật đối đãi
với người như vậy đó. Chúng ta học Phật thì cũng
phải đối đãi với người như vậy. Bây giờ họ làm
ác chỉ bất quá là vì một lúc hồ đồ, hồ đồ rồi một
ngày nào đó cũng sẽ minh bạch; chúng ta có nghĩa vụ giúp
đỡ họ, làm cho họ sớm hiểu rõ; khi hiểu rõ rồi thì họ
cũng sẽ phổ độ hết thảy chúng sanh, chúng sanh sẽ có phước.
Trong
tâm đừng nên nghĩ về thị - phi, nhân - ngã, ân - ân, oán
- oán, phải thường nghĩ đến lời dạy của Phật, thường
nghĩ đến ý nghĩa của kinh. Dùng kinh Vô Lượng Thọ
làm chánh thì phải thường nghĩ đến nghĩa lý của kinh Vô
Lượng Thọ, đem nghĩa lý đó biến thành sự suy nghĩ chân
chánh của mình, ứng dụng trong đời sống, dùng mắt Phật
quán thế gian, chúng ta mới chân chánh thành đệ tử Di Ðà,
chân chánh làm Bồ Tát, chuyển phàm thành thánh. Chuyển
từ trong tâm, chuyển trên hành vi, đây là công đức chân
thật, hy vọng mọi người cùng nhau khích lệ.
11.
Mở rộng tâm lượng, bao dung kẻ khác (Buổi
sáng 14-12-98)
Quyển
hai của kinh Hoa Nghiêm vừa mở đầu liền hiện lên cảnh
giới: ‘tâm bao trùm thái hư, lượng gồm thâu các cõi nhiều
như cát’. Câu nói của Lão Tử: ‘Có bao dung thì mới
rộng lớn, chẳng ham muốn thì sẽ mạnh mẽ’ (Hữu dung nãi
đại, vô dục tắc cương) cũng thể hiện trong đoạn kinh
văn này. Trong kinh nói đến ‘đại nhẫn’ tức là chân
nhẫn, là dùng chân tâm mà nhẫn, tâm lượng của chân tâm
lớn, không có gì chẳng bao dung. Chỉ có hiểu rõ triệt
để chân tướng sự thật thì mới có tâm lượng lớn như
vậy. Cảnh giới đó là vốn có, chẳng phải là do học
mà được, cũng chẳng phải có được dần dần, cho nên Phật
mới nói ‘hết thảy chúng sanh vốn thành Phật’. Chúng
ta vốn có đại nhẫn, vốn là Phật, giống y như Tỳ Lô Giá
Na Phật, A Di Ðà Phật, hiện nay lại biến thành như vầy
là vì đã mê mất tự tánh, chân tâm. Giáo học Phật
giáo chẳng có gì khác ngoài sự giúp đỡ chúng sanh khôi phục
bộ mặt vốn có (bổn lai diện mục) mà thôi; ngoài chuyện
này ra, Phật chẳng có một pháp gì để dạy chúng sanh.
Cho nên thánh và phàm, Phật và chúng sanh khác nhau ở tại
một niệm mê - ngộ mà thôi. Phật thường than tiếc
chúng sanh mê hoặc là ‘người đáng thương xót’, chỉ vì
mê mất tự tánh nên tâm địa hẹp hòi, chẳng thể bao dung
người khác, thậm chí hai người sống chung cũng có ý kiến
bất đồng, chẳng thể hòa hợp, đúng là đáng thương xót
đến mức cùng cực. Kinh Hoa Nghiêm vừ