Nắm
Lấy Danh Hiệu
‘‘Xá
Lợi Phất, những kẻ thiếu phúc đức và căn lành thì ít
hy vọng sanh về cõi ấy.Vì vậy Xá Lợi Phất!Người con trai
lành, người con gái lành nào muốn sanh về cõi ấy thì khi
nghe danh hiệu Bụt A Di Đà, phải nắm lấy danh hiệu ấy.’’
Nghĩa
là nghe danh hiệu thì phải nắm lấy danh hiệu.Cho tôi địa
chỉ đi, cho tôi số fax, số phone đi.Cho tôi đîa chỉ điện
thư.Phải nắm lấy chúng.Tại vì danh hiệu hay địa chỉ ấy
rất quan trọng.Vì sao?Vì cuộc đời dữ dằn lắm.Nó lôi
kéo mình đi theo như một dòng thác.Và trong những khi bị chìm
đắm, trong khi bị lôi kéo như vậy mà giả sử mình nhớ
được cái tên đó và cái địa chỉ đó, thì mình có thể
nhờ vậy mà được cứu thoát.Còn nếu không ghi nhớ được,
chỉ nhớ mờ mờ cái tên thì ta không thể được cứu thoát.Ta
phải nhớ danh hiệu và địa chỉ thật rõ ràng.
Nếu
ghi nhận được danh xưng ấy, tên gọi ấy, địa chỉ ấy,
thì mình có cơ thoát ra khỏi cái trầm trệ khổ đau của
mình.Nước Úc, xa bên này biết bao nhiêu mà kể, vậy mà nhờ
có một cái tên, nhờ có một cái địa chỉ, nhờ có một
số điện thoại mà chỉ trong một hai ngày, mình đã được
ngồi trong Đạo tràng Mai Thôn.Trong khi đó có rất nhiều người
ở chung quanh đây, đầy đủ các điều kiện để đến, vậy
mà không bao giờ biết đến đạo tràng.
‘‘Phải
nắm lấy danh hiệu ấy mà hết lòng thực tập quán niệm
theo phương pháp nhất tâm bất loạn, hoặc trong vòng một
ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày hay bảy
ngày...’’
Đọc
câu này, tôi chảy nước mắt, tại vì nhớ tới kinh Niệm
Xứ.Kinh Niệm Xứ là kinh căn bản của thiền tập nguyên thỉ.Rất
tiếc là ở trong các chùa viện đại thừa, có nhiều người
không được biết đến và không được học kinh Niệm Xứ,
tại vì, kinh Niệm Xứ là kinh gối đầu giường của các
thầy và các sư cô thời Bụt còn tại thế.Đó là kinh mà
các thầy và các sư cô thời nguyên thỉ học thuộc lòng.Vì
sao?Vì trong kinh này Bụt dạy về quán niệm thân trong thân,
quán niệm cảm thọ trong cảm thọ, quán niệm tâm trong tâm,
quán niệm pháp trong pháp.Đó là thiền của Bụt.Đó là thiền
mà Bụt đã thực tập, các thầy, các sư cô học trò của
Bụt đã trực tiếp thực tập.Bụt đưa ra những phương pháp
rất cụ thể:Làm thế nào để quán niệm thân thể trong thân
thể, cảm thọ trong cảm thọ, tâm ý trong tâm ý, và đối
tượng tâm ý trong đối tượng tâm ý.Sự thực tập của
các thầy và các sư cô là sự thực tập chính trong hàng ngày:
đi, đứng, nằm, ngồi, ăn cơm, rửa bát...Cho nên kinh phải
được học thuộc lòng.Sự thuộc lòng này đích thực là
một trái tim, chứ không phải như một con vẹt.Con vẹt có
thể học thuộc được nhưng không phải thuộc lòng.Trong kinh
Niệm Xứ, Bụt dạy rằng:Người nào thực tập được bảy
năm thì sẽ thành đạo.Rồi Bụt nói không cần bảy năm,
ba năm cũng thành.Rồi Bụt nói không cần ba năm, một năm
cũng thành.Rồi Bụt nói không cần một năm, nửa năm cũng
thành.Rồi Bụt nói không cần nửa năm, một tháng cũng thành.Rồi
Bụt nói không cần một tháng, bảy ngày cũng thành.Rồi Bụt
nói không cần bảy ngày, một ngày cũng thành.Chính những
câu đó làm cho tôi chảy nước mắt.Khi mình nói bảy năm
có người rất sung sướng:Trời ơi! chỉ có bảy năm thôi.Nhưng
có người nói:Bảy năm lâu quá, sao tôi có thể làm được?Vì
vậy mà Bụt nói không cần bảy năm, ba năm cũng được.Sở
dĩ mình nghe mà muốn khóc, tại vì thấy lòng thương của
Bụt bao la không bờ bến.Bụt ngồi đó mà mặc cả với chúng
sanh:Nếu con không làm bảy năm thì ba năm cũng được, nếu
không làm ba năm thì một năm cũng được, tùy ý.Tôi khóc
là khóc ở chỗ đó.Rồi Kinh A Di Đà lại nói: Nếu niệm
không được mười tiếng thì một tiếng cũng được.Không
khóc sao được.Ở đời làm sao lại có một người có tình
thương lớn đến như vậy.Nếu đọc kinh này mà không đọc
bằng trái tim thì làm sao thấy được điều đó.Có người
khó có định, có tuệ, nghĩ rằng mình tu không được, người
khác tu chắc cũng không được.Nhưng Bụt nói:Tất cả đều
tu được.Con cứ tu đi, nếu con nghĩ rằng, con niệm mười
tiếng không được thì con niệm một tiếng cũng được.Đoạn
kinh Tứ niệm xứ ở trên tương tự như đoạn kinh A Di Đà
này.Điều cảm động nhất là ở chỗ đó.Bụt duỗi cánh
tay ra để cứu vớt những người trầm luân ở trong cuộc
đời, và độ những người không có khả năng giới, định
và tuệ. Bụt nói:‘‘Con hãy làm đi, con sẽ làm được’’.
Chúng
ta biết rằng ở trong dược khoa, nhiều khi vì thuốc đắng
nên những nhà bào chế phải đưa chất ngọt vào và làm cho
thuốc đó trở thành ngọt.Những viên thuốc tể ở Đông
y cũng vậy.Người ta tán thuốc ra và trộn với mật ong để
cho mình cảm thấy ngọt mà uống được.Có một thứ chè
gọi là sâm bổ lượng.Những thứ này mát, con nít chịu ăn
vào thì cơ thể chúng mới mát mẻ, mới không còn nổi mụt,
vì vậy ta làm cho nó thành chè.Cũng như mẹ bỏ viên thuốc
ki-ninh đắng vào trong một miếng chuối để cho mình ngậm
vào miệng, rồi bảo: ‘‘Nuốt đi con.’’Tất cả những
cái đó đều từ lòng thương mà ra.Ở đây cũng vậy, Đức
Thế Tôn là một bà từ mẫu, biết rằng con mình có đứa
mạnh giỏi, nhưng cũng có đứa yếu đuối, thành phải thi
thiết ra những pháp môn phương tiện để các con có thể
thâu thập một chút nào của chánh pháp.Nếu không thâu thập
nhiều thì thâu thập ít.Tất cả đều là do lòng từ bi vô
lượng của đức Thế Tôn đối với chúng sanh.
Đọc
kinh ta phải đọc với tất cả trái tim của mình, đừng chỉ
đọc bằng trí năng, sự tìm tòi, sự phân tích, một sợi
tóc chẻ làm mười.Nếu thấy được điều đó, chúng ta cũng
sẽ có tình thương giống như Đức Thế Tôn.Ta ôm lấy tất
cả mọi người, không chê bai một pháp môn nào, dẫu pháp
môn đó rất dễ dàng.Nó dễ nhưng chưa chắc ta đã hiểu
được.
‘‘Sẽ
thấy được Bụt A Di Đà và thánh chúng nước ấy hiện ra
trước mặt.’’Câu này rất trung thành với ý niệm ‘‘thiện
căn, phước đức nhân duyên’’.Mỗi ngày mình niệm một
câu, mà ngày nào cũng niệm.Nếu giỏi thì niệm hai câu hay
mười câu, và mỗi ngày đều niệm như vậy.Đến khi lâm
chung, tự nhiên mình sẽ nhớ mà niệm.Còn nếu nói:‘‘Thôi,
bây giờ chưa cần niệm, đợi đến phút gần lâm chung niệm
một lần cho luôn.’’ thì mình sẽ mất cơ hội. Vào giờ
phút lâm chung, mình đau nhức quá trời.Làm sao nhớ mà niệm.Quan
trọng là ngày hôm nay.Chúng ta phải niệm, dù là niệm chỉ
được một hoặc hai câu.Người ta nói mình mê tín, mình cũng
cứ niệm, bởi vì niệm như vậy mình biết rằng mình đã
gieo một hạt giống tốt đẹp vào trong tâm thức.Nếu một
ngày niệm một câu hay mười câu, thì thế nào đến giờ
phút lâm chung mình cũng không còn sợ hãi nữa.Mình đã có
địa chỉ, đã có số điện thoại rồi, tự nhiên lúc đó
mình sẽ nhớ.Sư cô Thuần Nghiêm kể là hồi còn nhỏ ở
bên Đức mấy chị em trong nhà đều bắt phải học thuộc
lòng địa chỉ của nhà, để lỡ đi chơi lạc đường thì
nói ra được địa chỉ để người ta có thể đem mình về
nhà.Học thuộc địa chỉ là lợi như vậy.Mình có một quê
hương, mình không biết địa chỉ của quê hương thì làm
sao mà về được.Cho nên mình phải thuộc nằm lòng cái tên
quê hương của mình, cái địa chỉ quê hương của mình, để
những lúc thất điên bát đảo, những lúc bị ba đào sóng
gió cuốn theo, nhớ đến tên gọi quê hương, nhớ tới địa
chỉ, mình có thể tìm về.Mỗi ngày chúng ta đều có công
phu.Công phu ngồi, công phu kinh hành, hay công phu tụng niệm...
đều là công phu.Tất cả những cái đó là những cái thực
tập hàng ngày.Sự thực tập này hết sức quan trọng, nhất
là khi thực tập chung với anh em, chị em.Đừng nói tôi lớn
rồi tôi khỏi cần thực tập theo chúng.
Ta
phải nắm lấy danh hiệu mà hết lòng thực tập quán niệm.Phương
pháp này gọi là phương pháp trì danh.Trì danh không phải chỉ
bằng miệng của mình, mà còn bằng tâm của mình.Nắm lấy
là trì, hết lòng là nhất tâm.Nắm lấy danh hiệu, không phải
bằng trí năng, hoặc bằng miệng lưỡi, mà bằng trái tim.Tâm
của mình phải chuyên nhất.Mình phải để tâm vào danh hiệu
đó, phải làm cho danh hiệu của Bụt có mặt trong tâm mình.Khi
niệm ‘‘Nam mô Bụt A Di Đà’’ mà tâm ta nghĩ đến chuyện
khác, thì đó là niệm danh hiệu suông, cũng giống như vỏ
trấu không có hạt gạo ở trong.Đó là hạt lúa lép.Niệm
Bụt mà không có nội dung, gọi là niệm Bụt không nhất tâm.Vỏ
trấu không thể nấu thành cơm được.Vì vậy trong vỏ trấu
phải có hạt gạo.Cũng vậy, niệm Bụt có nhất tâm thì gọi
là niệm Bụt có nội dung. Khi mình niệm Bụt:‘‘Namo Tassa
Bhagavato Arahato Samasambu-ddhassa’’ (Con kính lạy Đức Thế
Tôn, Bậc A La Hán, Bậc ng Cúng, Bậc Chánh Biến Tri), thì
mình biết Thế Tôn (Bhagavat) là Đấng mà người đời tôn
kính. ng Cúng (Arahato) là người xứng đáng được cúng dường.Chánh
Biến Tri là bậc có sự hiểu biết chân thực và toàn vẹn.Khi
niệm danh hiệu, lòng mình có sự rung động và tha thiết.Giống
như mình gọi tên của người thương vậy.Nghe tên người
thương mình cảm thấy rung động.Nó làm cho mình khỏe, nó
làm cho mình có hy vọng.Niệm Bụt cũng phải như vậy.Niệm
Bụt không phải chỉ là gọi tên một cách trống rỗng, mà
phải làm cho lòng mình tràn đày sự tín kính.Có những người
niệm Bụt chưa kinh nghiệm, không có nội dung.Có một bà cụ
khi giận quá niệm Bụt:‘‘Nam mô A Di Đà Phật, trời ơi
là trời, tức quá, tôi muốn chết quá đi!’’Niệm Bụt
như vậy thì không có an lành, vững chãi và từ bi.Niệm Bụt
là phải có an lành, vững chãi và từ bi.Chúng ta đôi lúc
gặp nhau, chào:‘‘A Di Đà Phật’’ hay ‘‘Mô Phật’’.Tiếng
chào không có nội dung, tiếng chào rất buồn cười.Và đôi
khi lại còn sử dụng từ ‘’Mô Phật’’ để mỉa mai
nhau.Điều này không nên, vì nó đưa đến tội bất kính.Do
đó trì danh là phải nhất tâm.Nếu trì danh mà không nhất
tâm là trì danh không có nội dung, tức là không gieo được
hạt sen giác ngộ vào trong tâm địa của mình.
Có
một bà cụ niệm Bụt rất siêng năng, sáng nào bà cũng lên
hương đèn rồi niệm Bụt, có mõ có chuông đàng hoàng.Nhưng
bà đã niệm Bụt như vậy trải qua mười năm mà tánh xấu
của bà vẫn không thay đổi gì cả.Bà dữ lắm.Và hàng xóm
ai cũng ngán cái khẩu nghiệp của bà.Có một người đàn
ông trong làng muốn dạy cho bà một bài học.Buổi sáng hôm
ấy, đúng lúc bà lên hương đèn niệm Bụt, thì ông ta đến
đứng trước ngõ gọi tên của bà ‘‘Bà Tư ơi!Bà Tư ơi!’’Nghe
gọi tên mình, bà Tư thầm trách là đã tới sao không vào,
lại còn đứng ngoài cửa mà kêu, và bà bắt đầu bực bội.Bà
thỉnh chuông mõ lớn hơn và niệm Bụt to hơn để gián tiếp
nói rằng bà đang niệm Bụt và ông hàng xóm không lịch sự.Ông
hàng xóm giả bộ không nghe.Ông ta cứ đứng ngoài cổng tiếp
tục gọi tên bà.Ở trong này bà lại càng niệm lớn giọng.Hai
bên đều lớn tiếng.Nhưng ông hàng xóm cứ giả bộ không
nghe, vẫn tiếp tục gọi tên bà.Đến một lúc nào đó, bà
chịu không nổi nữa.Bà vứt chuông mõ, ra đường chống nạnh
để chửi.‘‘Này cái anh kia, anh có biết giờ này là giờ
ta đang niệm Phật không?Đồ bất lịch sự, đồ khốn nạn.’’Bây
giờ ông nọ mới cười lớn và bảo:‘‘Trời ơi!Tôi mới
gọi bà mấy chục tiếng như vậy mà bà đã giận như thế,
huống gì mỗi ngày bà gọi tên Đức Thế Tôn hơn cả một
tiếng đồng hồ, chắc là Đức Thế Tôn giận bà lắm.’’Qua
câu chuyện bà Tư, ta biết rõ cái vô ích của sự trì danh
mà không có nội dung.Bởi vậy, trong kinh nói là phải nắm
lấy danh hiệu mà hết lòng.Thực tập chánh niệm theo phương
pháp nhất tâm bất loạn là làm thế nào để trong khi ta niệm
Bụt thì tâm ta không nghĩ đến chuyện gì khác.Chỉ nghĩ đến
Bụt mà thôi.Điều đó rất đúng với phép tùy niệm Buddha
anusrmti.Niệm Bụt là một giáo lý nguyên thỉ của Phật giáo.Không
phải mình chỉ niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng trước
khi vãng sanh.Sau khi vãng sanh, mình vẫn tiếp tục niệm Bụt,
niệm Pháp và niệm Tăng.Câu ‘’Nhất tâm bất loạn’’
hết sức quan trọng.Niệm Bụt phải đạt đến nhất tâm
bất loạn.Nghĩa là lúc niệm Bụt, tâm ta ngưng tụ vào danh
hiệu của Bụt mà không nghĩ đến bất cứ chuyện gì khác,
không nghĩ đến chuyện nấu cơm, chuyện nấu nước, chuyện
thắp đèn, chuyện quá khứ, chuyện tương lai.Niệm Bụt chỉ
để niệm Bụt mà thôi.Thành tựu sự niệm Bụt nhất tâm
bất loạn là một quá trình thực tập.Ban đầu tâm còn tán
loạn, nhưng ta đừng mất kiên nhẫn.Nhiều khi ta niệm mười
tiếng, mà chín tiếng lạc vào vọng tưởng, chỉ còn lại
một tiếng có chánh niệm; cũng còn đỡ hơn không có tiếng
nào.Ngày mai ta niệm mười tiếng, thì có thể có được hai
tiếng trong chánh niệm.Như vậy đã là tiến bộ rồi.Niệm
Bụt, nên ngồi chung nhiều người để niệm, những người
bạn cùng tu với mình.Niệm Phật Đường là chỗ để niệm
Phật.Ta ngồi chung với nhiều người niệm Bụt như vậy,
thì ta có năng lượng nhiều hơn.Ban đầu mình chỉ thành công
được một phần mười, nhưng từ từ niệm và định tăng
trưởng thành hai phần mười, rồi ba phần mười, bốn phần
mười, cho đến một lúc nào đó, mình niệm Bụt mười tiếng
thì có chánh niệm cả mười.Đó là sự thành công lớn.
‘‘Khi
nghe danh hiệu Bụt A Di Đà, thì phải nắm lấy danh hiệu ấy,
mà hết lòng thực tập quán niệm theo phương pháp ‘nhất
tâm bất loạn’ hoặc ở trong vòng một ngày, hai ngày, ba
ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày.Người ấy,
đến khi lâm chung sẽ thấy được Bụt A Di Đà và các vị
thánh chúng nước ấy hiện ra trước mặt.’’
Đó
là phước đức tối thiểu mà khi lâm chung ta được nương
nhờ, vì giây phút lâm chung là giây phút hết sức quan trọng
và cực kỳ nguy hiểm của đời ta.Lúc ấy ta được dẫn
dắt bởi năng lượng thiện hoặc ác do ta tạo ra trong đời
sống.Nếu ta thường niệm Bụt có chánh niệm thì vào giờ
phút lâm chung, tâm thức ta sẽ vững vàng để đưa ta đi về
hướng thiện, và gặp được các bậc ‘‘thượng thiện
nhân’’.Còn nếu không được như vậy thì ta sẽ đi về
tam ác đạo.Giờ phút lâm chung ta cần có tăng thân bên cạnh
để hộ niệm cho ta, và ta biết rằng, được hộ niệm như
vậy thì tâm ta vững vàng để hướng về một cảnh giới
tốt đẹp.Nếu thực tập giỏi thì ta không phải đợi giờ
phút lâm chung mới đến được Tịnh Độ mà trong mỗi giây
phút niệm Bụt ta đã có Tịnh Độ bên mình.Không phải niệm
Bụt thì tới giờ phút lâm chung mới có định.Hễ có niệm
là có định ngay lập tức.Và hễ có niệm và có định thì
cõi uế độ đã bắt đầu chuyển hóa để trở thành cõi
Tịnh Độ.Như vậy cõi Tịnh Độ bắt đầu hiện tiền.Ta
không đợi đến khi lâm chung mới đi về Tịnh Độ.Ta về
Tịnh Độ ngay khi ta đang niệm Bụt. Điều này ta phải thấy
cho rõ vì nó hết sức quan trọng. Đức Thế Tôn nói:‘‘Giáo
pháp của Như Lai mầu nhiệm ngay từ lúc bắt đầu’’.Giờ
phút mà ta nắm lấy hơi thở và thực tập trong mỗi bước
chân là ta đã bắt đầu thấy có kết quả.Cho nên Tịnh Độ
không những sẽ biểu hiện ra lúc lâm chung, mà còn biểu hiện
ra cho ta lúc ta bắt đầu thực tập niệm Bụt.Sử dụng tâm
để niệm Bụt, tâm ta lúc ấy trở thành tâm của các bậc
‘‘thượng thiện nhân’’.Khi ta bắt đầu niệm Bụt và
niệm cõi Cực Lạc thì tâm ta lúc đó có Bụt và có cõi Cực
Lạc.Nếu quý vị đã ở Làng Mai tu học một tháng, hai tháng
hoặc sáu tháng thì quý vị đã có những hạnh phúc của Làng
Mai, và khi quý vị rời Làng Mai thì quý vị mang hạnh phúc
ấy của Làng Mai đi theo về nơi trú xứ của quý vị.Nhiều
lúc ở nơi trú xứ của quý vị, quý vị gặp nhiều khó khăn,
nhưng nghĩ đến những hình ảnh và hạnh phúc của Làng Mai,
thì hình ảnh và hạnh phúc ấy sẽ hiện tiền.Như vậy lúc
đó là Làng Mai đang có mặt trong tâm của quý vị.Tịnh Độ
cũng vậy, không phải ta đi tới Cực Lạc mới có Tịnh Độ,
mà Tịnh Độ đi tới với ta, Tịnh Độ có sẵn trong lòng
ta.Dù ta đang đứng ở chỗ trầm luân nhưng nếu ta nghĩ tới
Bụt và tới Tịnh Độ là ta đã thấy khỏe khoắn trong lòng.Những
người không có chỗ để hướng về, để nhớ tưởng, là
những người đã đánh mất mình.Ta có chỗ để về, có Bụt
để tưởng nhớ, là ta đã có hạnh phúc lớn, có phước
đức lớn.Ta có tăng thân cùng tu học, có pháp Bụt để hành
trì, có môi trường để thực nghiệm, đó là những điều
hết sức quý báu.Ta phải có bổn phận duy trì và phát triển
những điều kiện ấy bất cứ nơi nào ta có mặt.Nếu một
người trong giờ phút lâm chung mà an trú được trong định,
nếu người ấy không hề điên đảo và tán loạn thì người
ấy sẽ vãng sanh ngay vào nước Cực Lạc.Điên đảo có nghĩa
là chúc đầu ngược lại.Không điên đảo gọi là chánh trực.Mình
biết trời là trời, đất là đất, Bụt là Bụt, ma là ma,
cái biết đó là chánh trí.Nếu tâm ý ta lộn xộn, không ổn
định, cho trời là đất, đất là trời, Phật là ma, ma là
Phật thì đến lúc lâm chung, trong tâm trạng điên đảo đó,
ta sẽ rơi vào tam ác đạo.Lúc lâm chung mà ta có định là
nhờ ta thực tập giới, niệm và định trong đời sống hàng
ngày.Và vì ta có thực tập giới, niệm và định, nên ta đã
bắt đầu có hạnh phúc ngay trong đời sống hàng ngày rồi,
chứ không phải đợi đến lúc lâm chung ta mới có hạnh phúc.Sở
dĩ chúng ta nói đến lúc lâm chung vì lúc lâm chung là lúc
sự tiếc nuối thường phát hiện.Nếu có niệm Bụt là có
hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại.Mỗi hơi thở, mỗi
bước chân mà ta có niệm Bụt là ta có thể đem Tịnh Độ
về cho ta trong giây phút hiện tại.Điều này là điều chúng
ta thấy được trong lúc hành trì.
‘‘Xá
Lợi Phất, vì thấy được điều lợi ích lớn lao này cho
nên tôi muốn nói với quý vị rằng, những ai đang nghe tôi
nói đây hãy nên phát nguyện sanh về cõi ấy.’’
Trong
giờ phút nói lên câu này tâm lý Đức Thế Tôn cũng là tâm
lý của chúng ta.Chúng ta cần có một khung cảnh an toàn và
hạnh phúc để chuyển hóa khổ đau, nên khi gặp ai đau khổ
là ta giới thiệu khung cảnh an toàn và hạnh phúc ấy cho họ
để họ có dịp đến đó tu học.Kinh A Di Đà là kinh đức
Thế Tôn giới thiệu quê hương Tịnh Độ cho chúng ta.Những
đoạn kinh tiếp theo nói về sự hộ niệm của các vị Bụt
trong mười phương:
‘‘Này
Xá Lợi Phất!Nếu trong giây phút hiện tại, tôi đang ca ngợi
sự lợi ích và công đức không thể nghĩ bàn của Bụt A
Di Đà, thì tại phương Đông, phương Nam, phương Tây, phương
Bắc, phương Thượng và phương Hạ, các Bụt đông như số
cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của
mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của quý vị, bao trùm
cả thế giới Tam thiên đại thiên, và thốt lên lời tuyên
bố thành thật của mình:Này toàn thể chúng sanh các cõi,
quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà các Bụt trong vũ trụ
đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm.’’
Trong
câu kinh này, Bụt nói rằng không những ngài đang tán dương
cõi Tịnh Độ của Bụt A Di Đà mà Ngài còn khuyến khích
chúng sanh các cõi khác phát nguyện sinh về cõi ấy.Các vị
Bụt khác trong thế giới mười phương, ít nhất là sáu phương,
đều đang làm như Ngài cả.Kinh A Di Đà là một kinh rất mầu
nhiệm, cõi A Di Đà là một nơi lý tưởng để thực tập
đời sống giác ngộ, và Bụt A Di Đà là một bậc đạo sư
lý tưởng.Vì vậy tất cả các vị Bụt trong mười phương,
vị nào cũng nâng đỡ và yểm trợ cho nhau.Vị Bụt nào cũng
có đạo tràng và có Tịnh Độ cả.Các Ngài có đạo tràng
và có Tịnh Độ để yểm trợ cho chúng sanh tu học, và các
ngài cũng yểm trợ cho nhau trong việc thành tựu lý tưởng
giác ngộ.Chúng ta phải biến ngôi chùa của chúng ta thành
đạo tràng tu học, thành một cõi Tịnh Độ nho nhỏ và đồng
thời hỗ trợ cho đạo tràng của các ngôi chùa khác, nhằm
mở rộng niềm tin cho hàng Phật tử tu học.Đọc đoạn kinh
này, ta thấy các vị Bụt cư xử với nhau hết sức cao đẹp.Nói
đến Cực Lạc là các đức Thế Tôn ở các quốc độ khác
đều đồng thanh khen ngợi rằng cõi Cực Lạc là cõi rất
đẹp, đức Bụt A Di Đà rất giỏi.Các Ngài ca ngợi nhau một
cách hết lòng, chứ không phải khen nhau bằng những từ ngoại
giao.Các ngài không bao giờ nói xấu nhau, như chùa này nói
xấu chùa khác.Các Ngài đang ngồi tại quốc độ của mình,
biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các Ngài.Người có
lưỡi rộng và dài là người nói thật.Cái lưỡi của Bụt
dài đến nỗi le ra một cái là bao trùm được hết tam thiên
đại thiên thế giới. Đây là ngôn từ đại thi sĩ.Cái lưỡi
của chúng ta rất ngắn, cái lưỡi của chúng ta rất nhỏ,
cho nên ta không thể dùng lưỡi của chúng ta mà tạo ra được
nhiều hạnh phúc, như cái lưỡi của các đức Thế Tôn.Tướng
lưỡi rộng dài là một trong ba mươi hai tướng tốt của
đức Thế Tôn.Đức Thế Tôn nào cũng có ba mươi hai tướng
đẹp.Tướng đẹp thứ hai mươi bảy là tướng lưỡi rộng
dài.Và một người có cái lưỡi như vậy thì không thể nói
ngang ngược, nói châm chích, nói hai chiều, nói thêu dệt.Chỉ
có cái lưỡi rộng dài mới nói ra được những điều vi
diệu thôi.Hãy quán tưởng Bụt A Di Đà đang ngồi trên cõi
Cực Lạc mà thấy các Bụt xung quanh đều nói tốt về mình.Điều
này Bụt A Di Đà thấy cũng bình thường thôi, không tự hào
tự phụ, vì đã là Bụt, thì vị nào cũng ủng hộ cho nhau
hết lòng cả.
‘‘Này
Xá Lợi Phất, thầy nghĩ sao?Tại sao gọi kinh này là kinh mà
tất cả các vị Bụt đều đem hết lòng xưng tán và hộ
niệm?Sở dĩ như thế là vì những người con trai hoặc con
gái nhà lành nào, nghe được vị Bụt A Di Đà, hết lòng hành
trì và thực tập theo phương pháp niệm Bụt, thì những người
ấy được tất cả các vị Bụt hộ niệm, và tất cả đạt
tới địa vị cao tột không còn bị thối chuyển.Vì vậy,
quý vị hãy tin vào những lời tôi đang nói và cũng là những
lời chư Bụt đang nói.’’
Trong
đoạn kinh này, ta thấy ẩn dấu một hạt minh châu.Phương
pháp đó gọi là ‘‘nhất hạnh tam muội’’.Tam muội này
là thiền định theo phương pháp Niệm Phật Tam Muội.Khi thiền
tập đạt được tam muội rồi, thì bấy giờ ta niệm Bụt
nào cũng được, miễn là mình niệm Bụt mà thôi.Ta niệm
Bụt A Di Đà cũng được, niệm Bụt Thích Ca cũng được,
niệm Bụt Di Lặc cũng được, ta chỉ cần niệm một vị
Bụt thôi, mà nếu đạt đến nhất tâm, là ta có định.Khi
ta đã có định ở nơi một vị Bụt, thì thông qua vị Bụt
đó, ta có thể tiếp xúc được hằng hà sa số chư Bụt,
vì một vị Bụt là tất cả các vị Bụt và tất cả các
vị Bụt là một vị Bụt.Cho nên, niệm Bụt A Di Đà cũng
là niệm Bụt Thích Ca, niệm Bụt Thích Ca cũng là niệm Bụt
Ca Diếp, niệm Bụt Ca Diếp cũng là niệm Bụt Tỳ Bà Thi,
v.v...Vì vậy, niệm Bụt này cũng là niệm Bụt kia, ta đang
kính lễ Bụt này cũng có nghĩa là ta đang kính lễ Bụt kia,
cái thấy đó, cái định đó được gọi là nhất hạnh tam
muội.Đến đây, chúng ta đọc tới một câu kinh khác rất
là huyền diệu: