Gió
Chim Thuyết Pháp
Sở
dĩ ta gọi cõi ấy là cõi Cực Lạc là tại vì dân chúng ở
đó có thực tập chánh niệm và vẫn thường được nghe pháp
thoại.Nếu có sự chú tâm thì khi những con chim hót lên, ta
cũng nghe được pháp thoại và pháp thoại này có đủ ba mươi
bảy phẩm trợ đạo, là tứ niệm xứ, tứ như ý túc, tứ
chánh cần, v.v..Sang bên đó ta vẫn còn nghe pháp thoại như
ở đây và cũng sẽ được học những điều y hệt như ta
đang được học trên cõi Ta Bà này, nghĩa là ba mươi bảy
phẩm trợ đạo.Chúng ta biết rằng đức A Di Đà là một
vị thầy. Ngay trong giây phút này ngài đang thuyết pháp. Đức
Bụt Thích Ca dạy:
‘‘Từ
đây đi qua phương Tây, cách khoảng mười vạn ức cõi Bụt,
có một thế giới gọi là Cực Lạc, trong cõi ấy có một
vị Bụt tên là A Di Đà, hiện đang thuyết pháp.’’
Bụt
A Di Đà đang thuyết pháp và những con chim bạch hạc, khổng
tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già, và cọng mạng...
cũng đang thuyết pháp và giọng hót của những loài chim đó
rất hòa nhã. Những con chim này thay phiên nhau hót, một ngày
sáu lần (trú dạ lục thời).Đó là công phu sáu thời.Ngày
xưa trong sự tu tập người ta chia một ngày làm sáu phần
gọi trú dạ lục thời.Trú là ban ngày, dạ là ban đêm.Khi
hành trì phép sám hối của vua Trần Thái Tông thì chúng ta
cũng sám hối sáu lần một ngày.Vua Trần Thái Tông sáng tác
ra nghi thức sám hối này để tự hành trì, gọi là Lục Thời
Sám Hối Khoa Nghi, tức là khoa nghi để sám hối sáu lần trong
một ngày.Chia sáu thời trong một ngày, đó là sự thực tập
trong truyền thống. Những con chim này biết rằng dân chúng
mỗi ngày đều thực tập sáu thời cho nên bắt đầu mỗi
thời là hót lên, và trong khi chim hót lên thì ta nghe được
tiếng pháp trong đó.Có thể khi chim hót thì đức A Di Đà
ngừng thuyết pháp và khi đức A Di Đà thuyết pháp thì chim
ngừng hót. Cũng có nghĩa là Bụt A Di Đà và cả các loài
chim, cây và gió, khi mở miệng là chỉ thuyết pháp mà thôi.
Chung
quanh ta cũng đang có rất nhiều loại chim.Nếu sống trong chánh
niệm và tâm có định thì chúng ta cũng có thể nghe trong tiếng
gió và tiếng chim có tiếng nói pháp. Tiếng nói pháp này có
thể được xem như là tiếng nói pháp của đức Bụt A Di
Đà hay là của những con chim ở cõi Cực Lạc.Nếu có niệm
và định thì tất cả những gì chúng ta thấy và nghe trong
đời sống hàng ngày đều là những bài pháp thoại.Một chiếc
lá rụng, một bông hoa nở, một con chim bay ngang hay một tiếng
chim hót đều là những bài thuyết pháp và người đang nói
pháp là Bụt Tỳ Lô Giá Na, tức là Bụt pháp thân.
Chúng
ta phân biệt ra ba thân của Bụt, tức là pháp thân, báo thân
và hóa thân.Pháp thân là bản thể trong sáng bất sinh bất
diệt.Báo thân là thân tướng tốt đẹp của những người
đã tu học, đã tạo ra rất nhiều công đức.Và hóa thân
hay ứng thân là cái thân bình thường của ta.Đức Thích Ca
cũng có một thân như vậy, gọi là ứng thân hay hóa thân.
Khi đức Bụt Thích Ca ngồi ở trên núi Thứu mà thuyết pháp
thì đó là ứng thân Bụt hay hóa thân Bụt đang thuyết pháp.
ng thân thì có khi ngủ, có khi thức dậy, có khi đi tắm,
có khi đi ăn cơm.Còn pháp thân của Bụt thì lúc nào cũng
có mặt để thuyết pháp.Vì vậy, nếu có chánh niệm thì
chúng ta có thể nghe pháp bất cứ lúc nào trong tiếng gió,
tiếng chim, trong khi cành trúc lay, bông hoa nở và người đang
thuyết pháp là pháp thân của Bụt.ng thân hay hóa thân của
Bụt thì chỉ nói tiếng người, còn pháp thân có thể nói
tiếng chim, tiếng hoa, tiếng gió và tất cả mọi thứ tiếng.
Đoạn kinh này cho chúng ta biết rằng nếu có niệm và định
thì chúng ta có thể nghe pháp trong khi chim hót, thông reo và
hoa nở.Pháp chúng ta đang nghe đó là pháp nguyên thỉ, nghĩa
là tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc... và phương
pháp niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng. Kinh đại thừa này
chuyên chở giáo lý nguyên thỉ.Trong cõi Cực Lạc, dân chúng
thực tập pháp môn nào?Thực tập ba mươi bảy phẩm trợ
đạo và phương pháp niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.Ta
là thiền sinh giỏi thì đừng đợi đến giờ pháp thoại
mới nghe thuyết pháp mà phải biết nghe pháp trong khi nhìn
hoa nở, trong khi nghe thông reo, chim hót và khi ngắm trúc lay.Pháp
thân của Bụt chưa bao giờ ngừng thuyết pháp.Trong bài Trường
ca Avril, tôi có viết một câu: ‘‘Bông hoa vẫn chưa ngưng
lời hát ca.’’Câu này cũng có nghĩa như vậy: pháp thân
của Bụt vẫn đang thuyết pháp.Ở Việt Nam, trong thời chiến
tranh Việt-Pháp, có một thi sĩ trẻ tên là Quách Thoại.Quách
Thoại cùng với Trụ Vũ đã từng sống ở chùa Giác Nguyên.Quách
Thoại chết trẻ, để lại một bài thơ rất hay là bài Bông
Thược Dược:
‘‘Đứng
yên ngoài hàng dậu
Em
mỉm nụ nhiệm mầu
Lặng
nhìn em kinh ngạc
Vừa
thoáng nghe em hát
Lời
ca em thiên thâu
Ta
sụp lạy cúi đầu.’’
Bông
thược dược đứng ở ngoài hàng rào và đang mỉm cười
một cách mầu nhiệm.Có thể nhiều thiền sư cũng không làm
thơ hay bằng thi sĩ trẻ này.Tại vì trong giây phút đó, thi
sĩ may mắn tiếp xúc được với sự mầu nhiệm của bông
hoa thược dược, thấy bông hoa thược dược là biểu hiện
nhiệm mầu của pháp thân Bụt.Thấy bông hoa thược dược
chưa bao giờ ngưng hát ca, chưa bao giờ ngưng thuyết pháp.
‘‘Lặng nhìn em kinh ngạc
Vừa thoáng nghe em hát
Lời ca em thiên thâu
Ta sụp lạy cúi đầu.’’
Đứng
trước một sự biểu hiện nhiệm mầu như vậy, tiếp xúc
được với pháp thân của Bụt thì thái độ của ta chỉ
là sụp lạy và cúi đầu trước bông hoa thôi.Tại vì bông
hoa đó là pháp thân của Bụt.Năm 1966, trong khi đi diễn thuyết
bên Úc, tôi có tá túc tại một tu viện Thiên Chúa giáo.Tôi
đang ngồi ở ngoài sân cỏ thì có một bà sơ đem ra cho tôi
một chén nước trà.Rồi bà rút lui để đi thỉnh chuông.Tôi
ngồi yên trên bãi cỏ uống trà và làm được bài thơ Tiếng
Gọi sau đây:
‘‘Sáng
hôm nay,
tới
đây
Chén
trà nóng
Bãi
cỏ xanh
Bỗng
dưng hiện bóng hình Em ngày trước
Bàn
tay gió
Dáng
vẫy gọi
Một
chồi non xanh mướt
Nụ
hoa nào
Hạt
sỏi nào
Ngọn
lá nào
Cũng
thuyết Pháp Hoa Kinh.’’
Ngồi
đó và an trú trong giây phút hiện tại, nên tôi thấy được
một chồi cây xanh đang vẫy tay chào gọi.Đó là biểu tượng
của pháp thân.Và khi thấy được sự mầu nhiệm đó rồi,
ta nhận thấy rằng bất cứ nụ hoa nào, hạt sỏi và ngọn
lá nào cũng đang thuyết pháp và đang thuyết pháp đại thừa,
thuyết kinh Pháp Hoa.
Bàn
tay gió
Dáng
vẫy gọi
Một
chồi non xanh mướt
Nụ
hoa nào
Hạt
sỏi nào
Ngọn
lá nào
Cũng
thuyết Pháp Hoa Kinh.
Bài
thơ này, cũng như bài thơ của Quách Thoại, nói tới sự kiện
pháp thân của Bụt hiện đang thuyết pháp.Nếu chúng ta chăm
chú, sống có giới và có định thì chúng ta tiếp xúc được
với pháp thân và được liên tục nghe thuyết pháp, chứ không
phải cần bỏ băng giảng vào trong máy bấm nút rồi mới
được nghe. Chúng ta có thể nghe pháp bất cứ lúc nào.Đọc
đoạn kinh này, ta phải thấy được rằng ở cõi Cực Lạc,
không những Bụt A Di Đà đang thuyết pháp mà chim chóc, hoa
lá đều thuyết pháp cả.Và ta có thể thấy rằng Bụt A Di
Đà cũng như chim chóc ở đây đều là biểu hiện của pháp
thân. Chúng ta hãy cùng đọc lại:
‘‘Này
nữa, Xá Lợi Phất! Ở nước Cực Lạc kia, thường có nhiều
loại chim đủ màu rất kỳ diệu như hạc trắng, khổng tước,
anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già và cọng mạng... Những con
chim ấy, sáu buổi mỗi ngày, thường hót lên những thanh âm
hòa nhã: trong giọng hót của chúng, người ta nghe được tiếng
diễn xướng các pháp môn ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề
phần, bát thánh đạo phần... Dân chúng trong nước nghe được
những pháp âm như thế đều nhiếp tâm trở về thực tập
niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.’’
Một
điều cần để ý là ở ngay đây, trong giây phút hiện tại,
chúng ta cũng có thể thừa hưởng được những tiện nghi
của cõi Cực Lạc.Nghĩa là ở đây chúng ta cũng có thông
reo, hoa nở và cũng có đức A Di Đà.Những yếu tố hấp dẫn
được nói đến trong kinh A Di Đà chúng ta đều đang có đủ.Chúng
ta không cần đi đâu hết, không cần đợi tới sau khi chết
rồi mới đi vào thế giới Cực Lạc.
‘‘Xá
Lợi Phất, thầy đừng tưởng rằng các loài chim ấy đã
được sinh ra trên căn bản nghiệp báo. Tại sao? Tại vì ở
nước Bụt kia không có ba nẻo đường đen tối là địa ngục,
ngạ quỷ và súc sanh. Xá Lợi Phất! Ở nước ấy danh từ
ác đạo mà còn không có, huống hồ là sự thực về ác đạo.
Những con chim kia đã được Bụt A Di Đà biến hóa ra với
mục đích là làm cho pháp âm được tuyên lưu rộng rãi trong
xứ của ngài.’’
Bên
nước Cực Lạc dân chúng không cần dùng máy video cassette,
chỉ dùng chim thôi.Ở đây, chúng ta ngồi trong phòng và mở
video cassette ra nghe pháp được, nhưng ra ngoài đi thiền hành,
lắng nghe tiếng chim, tiếng suối, nghe thông reo hay nhìn hoa
nở ta cũng có thể nghe thuyết pháp. Không có ngọn lá nào,
hạt sỏi hay nụ hoa nào mà không đang thuyết pháp cả.Đứng
về phương diện tích môn thì những con chim đó, những bông
hoa, cành trúc và những đám mây đó đều có sinh diệt và
luân hồi.Nhưng đứng về phương diện pháp thân thì tất
cả đều là biểu hiện của pháp thân mầu nhiệm.Trong đạo
Bụt đại thừa, tất cả những mầu nhiệm trong vũ trụ như
trời xanh, mây trắng, trúc tím và hoa vàng đều là biểu hiện
của pháp thân. Chúng ta hãy luôn luôn ý thức điều này.
‘‘Thúy
trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch
vân, minh nguyệt hiện toàn chân.’’
(Trúc
biếc, hoa vàng đều không phải là những cái gì bên ngoài.Trăng
sáng, mây bay đều là biểu hiện của pháp thân.)Nhìn từ
phương diện nghiệp thì tất cả đều do nghiệp báo mà hiện
thành.Nhưng nhìn từ phía của pháp thân thì ta thấy tất cả
đều là biểu hiện của pháp thân.Những con chim kia cũng vậy,
về phương diện nghiệp báo thì thấy chúng là sản phẩm
của nghiệp báo.Đứng về phương diện pháp thân thì chúng
lại là biểu hiện mầu nhiệm của pháp thân, không sinh cũng
không diệt.Có khi ta tự hỏi là không biết vì nghiệp báo
nào mà ta phải sinh ra ở trên cõi đời này cho khổ?Những
con chim, con ruồi, con muỗi, con nai và con cá kia do nghiệp báo
nào mà phải sinh ra làm thân con chim, con ruồi, con muỗi, con
nai hay con cá?Đó là câu hỏi từ phương diện nghiệp báo.
Cũng những cảnh tượng đó, mà nếu ta bi lụy, sầu đau,
nghi ngờ và giận hờn thì đó là biểu hiện cái quả của
nghiệp báo. Còn nếu tâm ta nhẹ nhàng, an lạc và giải thoát
thì tất cả những cái đó trở thành biểu hiện của pháp
thân mầu nhiệm.Tất cả đều do nhận thức nơi ta.Những
con chim này không hẳn là khác với những con chim mà mình thấy
và nghe mỗi ngày.Đúng là những con chim đó, nhưng nếu tâm
ta trong sáng, nhẹ nhàng, không có ganh tỵ, sợ hãi và kỳ
thị, thì tự nhiên chúng trở thành những con bạch hạc, khổng
tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già và cọng mạng... ở
cõi Cực Lạc.Còn nếu tâm hồn ta đen tối, lo lắng, sợ hãi
và kỳ thị thì chúng trở thành những con chim của nghiệp
báo, của vô minh và khổ đau.Thực vậy, chúng ta muốn tiếp
xúc với loài chim nào (chim của đức Bụt A Di Đà biểu hiện
hay là chim của nghiệp báo) là tùy chúng ta.Ví dụ tiếng điện
thoại hay tiếng chuông đồng hồ.Tiếng điện thoại có thể
làm ta bực bội và lo âu, đó là tiếng điện thoại của
nghiệp báo, của phiền não.Nhưng nếu ta làm như ở Làng Mai,
tiếp nhận tiếng điện thoại là một tiếng chuông chánh
niệm thì khi tiếng điện thoại reo lên, ta biết nhiếp tâm
vào hơi thở, mỉm cười và làm cho thân tâm an lạc, thì tiếng
điện thoại đó là do uy lực của đức A Di Đà sáng tác.Tiếng
điện thoại có thể làm cho ta hồi hộp, lo lắng và sầu
đau, mà cũng có thể làm cho ta có chánh niệm, giải thoát
và tự do.Tùy theo cách tiếp nhận của ta.Tiếng chuông nhà
thờ hay tiếng chuông chùa cũng vậy, có thể ta đang nghe tiếng
chuông mà vẫn tiếp tục buồn tủi, khổ đau và giận hờn.Nhưng
nếu biết phương pháp biến hóa của đức A Di Đà, thì ta
cũng có thể chế tác ra được những tiếng chuông có bản
chất thanh thoát và nhẹ nhàng.Khi nghe những tiếng chuông ấy
tất cả các phiền não đều tan thành mây khói, bởi vì ta
biết trở về với hơi thở và đem chất liệu của sự thảnh
thơi và vững chãi đi vào trong tâm hồn ta.Vì vậy, tiếng
chuông hay tiếng điện thoại cũng là sáng tạo phẩm của
đức A Di Đà, của đức Thích Ca và của tăng thân.Ta cần
sử dụng những âm thanh đó cho cuộc đời bớt khổ.Khi gặp
nhau, chúng ta chắp tay lại thành búp sen để xá chào thì cử
chỉ chắp tay đó không phải chỉ là lễ phép mà là sự thực
tập chánh niệm.‘‘Sen búp xin tặng người, một vị Bụt
tương lai.’’ Khi thở vào, ta làm nên một đóa sen búp bằng
hai bàn tay; khi thở ra, ta xá xuống người trước mặt. Trong
thời gian làm như thế ta có an lạc và hạnh phúc.Vì vậy,
chắp tay búp sen cũng là sáng tạo phẩm của Bụt A Di Đà,
của Bụt Thích Ca, hay của tăng thân có mục đích đem lại
an lạc và hạnh phúc cho tăng thân.Nếu chắp tay giống như
một cái máy, không có niệm, không có định, không có tuệ,
không có an lạc gì hết thì sự chắp tay ấy không đưa tới
một an lạc nào.Vì ở đây, ta nghe trong tiếng chim có tiếng
thuyết pháp, nên ta cũng biết rằng ta không cần đi đâu hết.Chỉ
cần an trú trong hiện tại với tâm có niệm và có định
là ta nghe được tiếng chuông mầu nhiệm, và tiếng chim đang
thuyết pháp.Những tiếng chim hót ởcõi Cực Lạc, ởđây
mình cũng có. Học kinh A Di Đà,ta phải thấy rõđiều này.