Đạo
Tràng Lý Tưởng
‘‘Này
nữa Xá Lợi Phất! Tất cả những ai sinh về nước Cực Lạc
đều có tư cách bất thối chuyển, trong số ấy có nhiều
vị đã là bồ tát nhất sinh bổ xứ. Số lượng của các
vị này đông đảo vô cùng, không thể dùng toán học mà kiểm
đếm được, ta chỉ có thể dùng danh từ vô số A Tăng Kỳ
để diễn tả mà thôi.’’
Trong
kinh này, Bụt liên tiếp đưa ra những hình ảnh rất tích
cực về nước Cực Lạc, và sau khi đưa ra những hình ảnh
tích cực kia Bụt lại nói: ‘‘Còn nữa... này nữa...’’
Trong nguyên văn là: ‘‘Phục thứ Xá Lợi Phất!’’. Chúng
ta dịch là ‘‘Này nữa Xá Lợi Phất!''.''Này nữa Xá Lợi
Phất! Tất cả những ai sinh về nước Cực Lạc đều có
tư cách bất thối chuyển.’’ Bất thối chuyển có nghĩa
là không còn bị sa đọa trở lại.Thối là đi lui; hễ sinh
sang nước đó rồi thì chỉ đi tới thôi, không còn đi lui,
không rơi rụng trở lại nữa, nghĩa là không rơi rụng trở
lại trong cõi đau khổ, chìm đắm và hệ lụy.Tại sao? Tại
vì có một cái gì giống như một cái lưới đã được giăng
ra làm cho mình có muốn rơi xuống cũng không rơi xuống nữa.
Cái lưới đó là cái lưới gì mà giữ cho ta không sa đọa
trở lại?Đức Thế Tôn sẽ cho chúng ta biết trong một đoạn
kinh tiếp theo.
Bất
thối chuyển nghĩa là không còn sa đọa trở lại. Những người
nào sinh về cõi Cực Lạc đều có tư cách bất thối chuyển.Và
trong số đó có nhiều vị bồ tát đã là nhất sanh bổ xứ.Bồ
tát nhất sanh bổ xứ là bồ tát sẵn sàng được sinh ra một
lần cuối để thành Phật.Muốn cõi nào thì đi về cõi đó
để thành Bụt.Đức Thích Ca Mâu Ni trước khi sanh đã là
bồ tát nhất sanh bổ xứ, sinh ra lần chót ở cõi Ta Bà và
thành Bụt ở đây.Số lượng các vị này, tức là các vị
bồ tát nhất sanh bổ xứ, đông đảo vô cùng, không thể
nào dùng toán học để kiểm đếm được.Ta chỉ có thể
dùng danh từ vô số A Tăng Kỳ để diễn tả mà thôi.A Tăng
Kỳ có nghĩa là vô số. Chữ Atức là vô và Tăng Kỳ là số.
‘‘Xá
Lợi Phất! Chúng sanh mọi nơi, khi nghe nói tới nước Cực
Lạc đều nên phát nguyện sanh về nước ấy.’’
Đó
là lời gởi gắm, nhắn nhủ và khuyên bảo của đức Thế
Tôn.Đức Thế Tôn khuyên rằng:Nếu quý vị được nghe nói
đến cõi Cực Lạc thì nên phát tâm sanh về cõi đó. Và Thế
Tôn đưa ra một lý do rất chính đáng:
‘‘Tại
sao? Tại vì sinh về nước đó thì sẽ được sống chung và
gần gũi với rất nhiều các bậc thiện nhân cao đức.’’
Trong
kinh có rất nhiều câu hay nhưng câu này là câu hay nhất.Không
phải là sinh về nước đó thì có vàng, bạc, ao, hồ, gió,
các loại chim, các hàng cây hay các thứ đẹp đẽ khác mà
bởi vì một lý do rất quan trọng.Nước này có một cảnh
tượng rất đẹp: đó là nơi tụ họp của rất nhiều người
dễ thương, rất nhiều bậc cao đức.Đó là lý do số một
để chúng ta sinh về. Tại vì sinh về chỗ đó thì ta sẽ
được sống chung và gần gũi với rất nhiều người dễ
thương.Tuy Bụt Thích Ca không nói rõ nhưng chúng ta biết rằng
Bụt A Di Đà là một người có khả năng rất lớn trong việc
xây dựng tăng thân.Nếu đức Bụt A Di Đà không dễ thương
thì đâu có ai muốn đến cõi đó để cộng tác và sống
chung với Ngài.Vì đức A Di Đà dễ thương quá chừng, cho
nên hầu hết tất cả những người dễ thương đều quy tụ
về bên đó.Chìa khóa của sự thành công là quy tụ được
những người dễ thương, những bậc thượng thiện nhân,
về chỗ mình ở.Câu hội nhất xứlà đến cùng ở chung một
chỗ.Chúng ta người nào cũng muốn được như đức Bụt A
Di Đà.Khi chúng ta thiết lập một đạo tràng, một quê hương
tịnh độ thì ta cũng muốn rằng tất cả những người dễ
thương trên thế giới đều quy tụ về trú xứ đó để cùng
cộng tác với chúng ta.Và ta biết trước rằng nếu ta độc
tài, khó chịu và không biết sử dụng ái ngữ thì các bậc
thiện nhân sẽ không tới.Vì vậy ta biết rằng đức Bụt
A Di Đà là một người rất dễ thương, nghe tới đức Bụt
A Di Đà và cõi nước của ngài ai cũng muốn đi tới để
được cùng sống và gần gũi với những người dễ thương
nhất trên đời.
‘‘Xá
Lợi Phất! Chúng sanh mọi nơi, khi nghe nói tới nước Cực
Lạc đều nên phát nguyện sanh về nước ấy. Tại sao? Tại
vì sinh về nước đó thì sẽ được sống chung và gần gũi
với rất nhiều các bậc thiện nhân cao đức.’’
Thiện
nhân là những người có trái tim rất rộng, có những hạt
giống rất lành trong tâm thức, chỉ muốn nghĩ điều lành,
nói điều lành và làm điều lành thôi. Thiện nghĩa là tốt
lành.Nhân phẩm của các vị thiện nhân là nhân phẩm cao đẹp
cho nên gọi là thiện nhân cao đức.Trong cõi này, ta chỉ nghĩ
tới những điều thiện thôi và tư tưởng của ta là tư tưởng
thiện.Vì sao vậy?Vì hoàn cảnh chung quanh có nhiều điều
kiện để tưới tẩm và đánh động tới những hạt giống
lành ở trong ta.Ví dụ, khi nghe tiếng chim hót, thì được
nhắc nhở những giáo lý Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề
phần,... khi nghe tiếng gió reo qua đọt thông thì ta cũng được
nghe pháp; sống giữa những người biết đi, đứng, nằm và
ngồi trong chánh niệm thì ta cũng được đi, đứng, nằm và
ngồi trong chánh niệm và tâm tư ta luôn luôn nghĩ đến điều
thiện.
Buổi
sáng nghĩ điều lành, buổi trưa nghĩ điều lành, buổi tối
nghĩ điều lành, ta có một niềm vui. Sở dĩ tâm ý ta luôn
luôn tương ứng với điều lành là do hoàn cảnh chung quanh
rất thuận tiện.Chung quanh ta toàn là những người lành.Và
tất cả những gì ta thấy và nghe ở chung quanh cũng đều
có tác dụng tưới tẩm những hạt giống tốt đẹp ở trong
ta, gọi là ý lành. Miệng lành, tức là những lời ta nói
ra đều là lành.Ta không còn chửi mắng, vu khống, thêu dệt
hay nói xấu.Vì mọi người đang học tập chánh pháp, do đó
không ai có cơ hội để nghĩ và nói tới những điều không
lành.Mỗi lời nói của ta đều có tác dụng làm cho êm dịu
tâm tư và ban phát hạnh phúc cho những người ở chung quanh.Ở
cõi Tịnh Độ không có ác ngữ mà chỉ có thiện ngữ.Và
thân ta cũng vậy.Tất cả mọi người đều thực tập với
tư cách của các vị bồ tát.Vì vậy nơi cõi Tịnh Độ, không
có sự giết chóc lẫn nhau và không có sự ăn cắp. Ở cõi
Tịnh Độ không có sát, đạo và dâm.Vì ở bên đó có những
niềm vui rất lớn.Ở Tịnh Độ dân chúng thực tập giới
cho nên không ăn thịt, không uống rượu và không sử dụng
những thứ kích thích.Vì vậy người ta không phạm giới dâm
dục, không phạm giới sát sanh, cũng không phạm giới trộm
cắp.Những con người bên đó đều có lý tưởng cao vời,
ai cũng muốn những chuyện đẹp thôi, tức là muốn thành
lập Tịnh Độ.Sau khi đã ở Tịnh Độ với Bụt A Di Đà
thì ta cũng muốn đi xây dựng một Tịnh Độ theo mô thức
của nước Bụt A Di Đà.Tại vì ta là một vị bồ tát nhất
sanh bổ xứ.Ta muốn về Việt Nam để làm Tịnh Độ, ta muốn
về Phi Luật Tân để làm Tịnh Độ, ta muốn về Mỹ để
làm Tịnh Độ...
‘‘Này
nữa, Xá Lợi Phất, ở nước Cực Lạc có rất nhiều hồ
thất bảo chứa đầy thứ nước có tám công đức, dưới
đáy hồ toàn là cát vàng; bốn bên hồ có những lối đi
làm bằng vàng, bạc, lưu ly và pha lê; phía trên các con đường
ấy lại có vô số lâu đài, cũng được xây dựng và trang
trí bằng các chất liệu vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ,
xích châu và mã não. Sen trong các hồ lớn như những chiếc
bánh xe, sen xanh chiếu hào quang xanh, sen vàng chiếu hào quang
vàng, sen đỏ chiếu hào quang đỏ, sen trắng chiếu hào quang
trắng, hương sen tỏa ra vi diệu và tinh khiết.Xá Lợi Phất!
Nước Cực Lạc được tô điểm bằng những cái đẹp như
thế.’’
Trong
đoạn kinh này ta thấy có danh từ nước tám công đức.Tám
công đức đó là: trong trẻo sạch sẽ, thanh tịnh mát mẻ,
có vị ngon ngọt, nhẹ nhàng mềm mại, thuần nhị mượt mà,
yên ổn điều hòa, uống vào thì trừ được vô lượng quá
hoạn như đói khát ..., uống xong thì chắc chắn có thể trưởng
dưỡng được các căn.
‘‘Này
nữa, Xá Lợi Phất! Ở nước Bụt ấy, người ta thường
được nghe nhạc từ hư không vọng xuống. Đất được làm
bằng vàng ròng. Mỗi ngày sáu lần có mưa hoa mạn đà la rơi
xuống. Dân chúng nước ấy có thói quen buổi sáng lấy lẵng
hứng đầy các bông hoa mầu nhiệm ấy để đem đi cúng dường
các vị Bụt đang cư trú ở vô số các cõi Bụt khác. Đến
giờ cơm trưa, mọi người đều về kịp nước mình để
ăn cơm rồi đi kinh hành. Xá Lợi Phất, nước Cực Lạc đẹp
tuyệt vời như thế đấy.’’
Chúng
ta không biết những tiếng nhạc từ hư không vọng xuống
là nhạc gì?Thiên nhạc.Chúng ta biết rằng mỗi buổi sáng
thức dậy ở Xóm Thượng, Xóm Hạ hay Xóm Mới, nếu tâm hồn
ta thanh tịnh thì ta sẽ thấy đất trời rất thơm.Tuy là im
lặng nhưng như có âm nhạc ở trong không gian, rất thanh thoát
và nhẹ nhàng.Tất cả những mùi hương, những âm điệu đó
đều ở trong tâm ta thoát ra. Chúng ta không nhất thiết phải
mua hoa ở chợ.Hoa đã có sẵn.Nếu chúng ta biết nhìn và thưởng
thức thì sẽ thấy bất cứ cành hay lá nào cũng đều là
hoa cả và những người cắm hoa giỏi không cần phải đi
ra mua hoa ở chợ.Trong đoạn kinh này, ta nghe nói tới hoa, tới
nhạc, tới chuyện đi thăm các vị Bụt để cúng dường,
tới chuyện ăn cơm trưa và đi kinh hành, chúng ta tự hỏi:
Ai nấu cơm?Nếu ăn cơm thì thế nào tám giờ sau cũng phải
đi cầu.Ở Tịnh Độ có cầu tiêu hay không?Đó là những
câu hỏi rất thực tế.Chùa Bảo Liên ở Hương Cảng ngày
xưa có treo bốn câu thơ:
‘‘Hữu
độ tức phi tịnh
Ngôn
thuyên hà sở vi?
Phật thuyết nguyên vô ngã
Thiền sư vấn thị thùy?’’
Hữu
độ tức phi tịnh tức là nếu đã có một cõi nước thì
làm sao mà cõi nước đó tịnh được? Hễ có ăn cơm thì
thế nào cũng phải đi đại tiện, có uống nước thì thế
nào cũng có đi tiểu tiện.Trên Tịnh Độ cũng có phân và
rác, nghĩa là không tịnh theo cách ta đã tưởng tượng.
‘‘Hữu
độ tức phi tịnh
Ngôn
thuyên hà sở vi’’
Dịch
là:
Có
độ là không tịnh
Lời
nói dùng làm gì?
Sự
diễn tả của lời nói là để làm gì?Hễ nói tới cõi nước
thì không thể có tịnh được.Có cõi thì thế nào cũng có
người, có người thì thế nào cũng có sự tiêu thụ, có
sự tiêu thụ thì thế nào cũng có phân rác, thành ra không
thể nào có độ mà không có bất tịnh.Có độ là không có
tịnh.Lời nói của mình được dùng để làm gì?Mở miệng
ra là bị mắc kẹt:
‘‘Phật
thuyết ngôn vô ngã
Thiền
sư vấn thị thùy?’’
Dịch
là:
Bụt
đã dạy vô ngã
Thiền
sư là ai kia?
Bụt
đã dạy rằng chúng ta vốn không có ngã.Vậy thì người được
gọi là thiền sư đó là ai vậy? Tại sao đã vô ngã rồi
mà còn có cái ông gọi là thiền sư ?Thiền sư đó có phải
là một cái ngã không? Ngôn từ ta nói ra là có thể bị mắc
kẹt.Đứng về phương diện Tịnh cũng vậy, mà đứng về
phương diện Thiền cũng vậy.Ta đang còn kẹt vào ngôn từ.
Hễ nói tới độ là không nói tới tịnh được, hễ nói
tới vô ngã thì từ ngữ thiền sư không thể nêu lên.Thiền
sư là một cái ngã.Do đó, khi đọc kinh ta phải quán chiếu.Có
thể ta phải ăn cơm, uống nước, đi đại tiện, đi tiểu
tiện, nấu cơm và rửa bát.Ăn cơm thì phải dùng bát đĩa,
có bát đĩa thì thế nào cũng phải rửa bát đĩa.Mà rửa
bát đĩa có dùng tới xà phòng không?Và thức ăn ở trên Tịnh
Độ có dầu mỡ hay không?Tịnh hay không tịnh là tùy theo
nhận thức của chúng ta.Ban đầu chúng ta đã nói tới tịnh
là sự vắng mặt của ô nhiễm.Ô nhiễm của sự bận rộn,
của tiền bạc, của quyền hành, của sự ganh tỵ, của sự
lo lắng hay của sự sợ hãi.Ô nhiễm là những cái phân rác.Nếu
biết cách chúng ta sẽ chuyển được phân rác thành ra hoa
quả và rau trái để sử dụng hàng ngày.Vì vậy tịnh ở
đây có nghĩa là không bị ô nhiễm bởi phiền não và danh
lợi chứ không phải là vì có cầu tiêu, nhà tắm, có nấu
ăn và chén bát cần rửa.
Ở
đạo tràng Mai thôn, chúng ta phải đặt những câu hỏi như
vậy.Đạo tràng Mai thôn có phải là một cõi Tịnh Độ hay
không?Nếu sống trong một khung cảnh mà ta thấy có an ninh,
có hiểu biết, có thương yêu và có khả năng chuyển hóa
được những khổ đau, sợ hãi và vướng mắc thì ta biết
rằng đó là khung cảnh của Tịnh Độ.Còn nếu ta không thấy
những yếu tố an ninh, thương yêu, hạnh phúc và hòa điệu
trong đó thì ta biết rằng đó không phải là một cõi Tịnh
Độ mà là một Uế độ.Ta cũng thấy rằng ta có khả năng
đóng góp hay phá hoại khung cảnh đó. Tịnh Độ là một nhu
yếu rất lớn của tất cả mọi người trong xã hội chúng
ta. Vì vậy, đọc kinh A Di Đà là một cơ hội để quán chiếu
nhu yếu ấy và khám phá ra khả năng tạo dựng Tịnh Độ
của mỗi chúng ta.Tại vì mỗi chúng ta đều là một vị Bụt
A Di Đà tương lai, mỗi chúng ta đều có hoài bão muốn thiết
lập Tịnh Độ cho chính ta và những người thân cận với
ta.
‘‘Này
nữa, Xá Lợi Phất! Ở nước Cực Lạc kia, thường có nhiều
loại chim đủ màu rất kỳ diệu như Hạc trắng, Khổng tước,
Anh vũ, Xá lợi, Ca lăng tần già và Cọng mạng... Những con
chim ấy, sáu buổi mỗi ngày, thường hót lên những thanh âm
hòa nhã: trong giọng hót của chúng, người ta nghe được tiếng
diễn xướng các pháp môn ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề
phần, bát thánh đạo phần... Dân chúng trong nước nghe được
những pháp âm như thế đều nhiếp tâm trở về thực tập
niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.’’
Trong
đoạn văn này chúng ta thấy Bụt nhắc lại pháp môn trì niệm.Trì
niệm là một pháp môn thực tập có từ hồi Bụt còn tại
thế.Niệm Bụt, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí
và niệm Thiên.Theo giáo lý của kinh A Di Đà, những người
thường trú ở thế giới Cực Lạc cũng thực tập niệm Bụt,
niệm Pháp và niệm Tăng.Niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng
là để tiếp xúc được với Tam Bảo và khi tiếp xúc được
với năng lượng của Tam Bảo thì ta được sống trong sự
an ninh, vững chãi và thảnh thơi.Thử tưởng tượng những
người ở trong cõi Cực Lạc mà không thực tập niệm Bụt,
niệm Pháp và niệm Tăng: cõi Cực Lạc sẽ không còn là cõi
Cực Lạc nữa.Tại sao?Tại vì ở đó sẽ không còn sự an
ninh, vững chãi và thảnh thơi.