Khổ
Vui Tương Tưc
Vào
thời Lý - Trần, Thiền tông ở Việt Nam rất vững chãi.Đời
Trần, pháp môn Niệm Phật đã trở thành quan trọng.Tuệ Trung
thượng sĩ và vua Trần Thái Tông đã tu thiền.Nhưng hai người
đã bắt đầu thấy được sự quan trọng của pháp môn Tịnh
Độ.Cho nên Trần Thái Tông đã nói về Tịnh Độ và Tuệ
Trung thượng sĩ cũng đã nói về đức A Di Đà.
Chúng
ta hãy nghe tổ tiên của chúng ta nói về Tịnh Độ.Trước
hết, vua Trần Thái Tông, trong tác phẩm Khóa Hư Lục - đây
là một tác phẩm của vua Trần Thái Tông viết về Thiền
- đã viết:
"Niệm
Phật là do tâm phát khởi, tâm phát khởi về nẻo Thiện thì
đó là thiện niệm, thiện niệm đã phát khởi thì thiện
nghiệp sẽ đền bồi.Tâm phát khởi về nẻo Ác thì đó là
ác niệm, ác niệm đã sinh thì ác nghiệp sẽ ứng nghiệm.Như
kính hiện ảnh, như bóng theo hình.Cho nên Thiền sư Vĩnh Minh
Diên Thọ nói:Ai mà vô niệm, ai mà vô sanh?’’
Đó
là ý niệm căn bản về sự thực tập.Vua Trần Thái Tông
nói tất cả đều do tâm.Nếu tâm niệm mình Thiện thì hành
động của mình và nếp sống của mình sẽ là Thiện và mình
sẽ được đền bồi bởi điều Thiện.Và nếu tâm mình khởi
ác niệm thì con người mình và hành động của mình sẽ là
Ác.Ác nghiệp đưa tới những hậu quả không có hạnh phúc.Và
vì vậy, khi tâm mình lấy đức A Di Đà và Tịnh Độ làm
đối tượng, thì Niệm đó thành ra Thiện Niệm, mà có Thiện
Niệm là có sự đi lên, tức là có hạnh phúc.
Chúng
ta hãy nghe vua nói tiếp:"Nay hành giả muốn khởi Chánh niệm
để dứt Tam nghiệp thì cũng cần mượn công phu Niệm Phật.Vì
sao?Vì niệm Phật là dứt trừ được Tam nghiệp.Khi niệm
Phật, thân ngồi ngay thẳng, không hành tà đạo, đó là dứt
thân nghiệp.Miệng tụng chân ngôn (tức là danh hiệu Bụt),
không nói lời tà ngữ, đó là dứt trừ khẩu nghiệp.Ý duy
trì tinh tấn mà không khởi tà niệm, đó là dứt trừ ý nghiệp."Đây
là những giải thích rất đơn giản của vua Trần Thái Tông.Khi
niệm Bụt, thân mình ngồi ngay thẳng, không làm những tà
nghiệp, miệng mình không nói những lời ác độc, ganh tỵ
thì cái đó cũng gọi là thiện niệm của thân và khẩu nghiệp.Ý
của mình không nghĩ đến chuyện ganh đua, sợ hãi, tham đắm
và vì vậy, ý nghiệp của mình cũng thiện.Thân, khẩu, ý
đều hướng về nẻo thiện, đó là kết quả của sự niệm
Bụt. Và như vậy theo vua Trần Thái Tông, niệm Bụt cũng
là một hình thức của sự tập Thiền.Tại vì trong khi tập
Thiền, thân khẩu ý đi vào đường chính.Vua lại nói:"Tuy
nhiên, có ba trình độ trí giả.Đối với bậc thượng trí,
tâm chính là Phật, không cần thêm gì vào, chủ thể niệm
và đối tượng niệm là một, không phải là hai thực thể
tách rời nhau.Đối tượng và chủ thể niệm vốn bản nhiên
thanh tịnh.Vì thế nên nói rằng như như bất động là Phật
thân.Pháp thân và thân ta không phải là hai hình tướng khác
nhau, nó tịch nhiên thường tồn, vượt ngoài mọi tư duy,
nên gọi là Phật đang sống.’’
Ở
đây, vua Trần Thái Tông nói về ba căn trí hay ba trình độ
Niệm Bụt.Đối với bậc thượng trí - bậc cao nhất, thì
Bụt không phải là một thực thể ở ngoài, mà nằm ngay trong
tâm mình."Đối với bậc thượng trí, tâm chính là Bụt, không
cần thêm gì vào, chủ thể niệm và đối tượng niệm là
một không phải là hai thực thể tách rời nhau.’’Năng niệm
và sở niệm là một, tất cả đều ở trong tâm, và đối
với bậc thượng trí, Tịnh Độ là Duy tâm Tịnh Độ, và
A Di Đà là bản thể vắng lặng, trong suốt của tự tâm.
Tổ
tiên của chúng ta đã thấy được như thế.Nếu niệm Phật
mà niệm theo kiểu thượng thừa đó, thì Phật không phải
là một thực tại bên ngoài nữa mà Phật ở trong tâm.Năng
niệm và sở niệm (chủ thể Niệm Bụt và đối tượng là
Bụt) không chia cách.Tuệ Trung thượng sĩ, tên là Trần Quốc
Tung, anh ruột của tướng Trần Hưng Đạo, cũng đã làm một
bài kệ bốn câu như sau:
Di
Đà vốn thật pháp thân ta
Nam,
Bắc, Đông, Tây khắp chói lòa
Trăng
thu ngự giữa trời cao rộng
Đêm
lặng trùng dương rạng chiếu xa.
Vua
Trần Thái Tông và Tuệ Trung thượng sĩ là hai cây đuốc sáng
của Thiền học đời Trần.Cả hai đều có nói về Tịnh
Độ và cái thấy của họ rất chín chắn.Đối với những
vị này, đức A Di Đà cũng như cõi Tịnh Độ không phải
là những thực tại nằm ngoài không gian mà là một thực
tại nằm ngay trong tâm.Và đức A Di Đà, trước hết đối
với Tuệ Trung thượng sĩ, là pháp thân của chính ta:
Tâm
nội Di Đà tử mạc khu
Đông,
Tây, Nam, Bắc pháp thân chu
Trường
không chỉ kiến cô luân nguyệt
Sát
hải trừng trừng dạ mạn thu.
Pháp
thân (Dharmakaya) là pháp thân của chính mình.Tất cả chúng
ta, người nào cũng có nhục thân và người nào cũng có Pháp
thân.Pháp thân của chúng ta là đức A Di Đà.Đó là một thực
tại, không phải là một ý niệm, nó nằm trong không gian,
nó có trong thời gian.Nếu nó là Pháp thân của chính ta, thì
nó không phải chỉ có mặt ở phương Tây thôi, mà còn có
mặt ở phương Nam, phương Bắc và phương Đông nữa - "Nam,
Bắc, Đông, Tây khắp chói lòa".Đây là vượt thoát ý niệm
"Tùng thị Tây phương quá thập vạn ức Phật độ"."Tây"
là một ý niệm.Nếu đức A Di Đà là Pháp thân của mình
rồi, thì đâu có phải "cõi Tịnh Độ chỉ nằm ở phía Tây".Nó
cũng nằm ở phía Nam, phía Bắc, phía Đông, nó nằm ngay trong
tâm mình - cùng khắp chói lòa.Nghĩa là chỗ nào cũng có mặt
Ngài.A Di Đà là ánh sáng - là vô lượng quang, là vô lượng
thọ, nên cõi Tịnh Độ cũng có khi gọi là "Thường tịch
quang" - cõi Tịnh Độ thường tịch quang luôn luôn có ánh
sáng, ánh sáng đó không bao giờ bị ngưng lại, luôn luôn
chiếu sáng, nên Bụt cũng gọi là Vô lượng quang hoặc Vô
lượng thọ.Chân tâm của mình là pháp thân của mình, nó
vắng lặng, nghĩa là không bị ràng buộc bởi những ý niệm
và danh từ .Tịch ở đây nghĩa là sự im lặng của tất cả
mọi ngôn từ và ý niệm.Và chỉ có ánh sáng thường trực
nên gọi là Thường tịch quang.Vậy thì đức A Di Đà, cũng
như cõi Tịnh Độ, là ánh sáng chiếu soi cùng khắp.Ánh sáng
là Pháp thân của mình.Đây là lời tuyên bố của Tuệ Trung
thượng sĩ về A Di Đà và cõi Tịnh Độ:‘‘Phật A Di Đà
và cõi Tịnh Độ là ánh sáng của pháp thân, không bị ngăn
cách bởi không gian và thời gian.’’Và cả hai câu sau đây
là hai câu của thi sĩ muốn dùng hình ảnh trăng và biển để
làm cho rõ thêm.Thi sĩ phải dùng hình ảnh làm cho rõ lên điều
mình muốn nói:
Trăng
thu ngự giữa trời cao rộng
Đêm
lặng trùng dương rạng chiếu xa.
Trên
kia có trăng và dưới này có biển lớn.Đi tới đâu ta cũng
thấy bóng trăng chiếu xuống.Đứng tại nơi này cũng thấy
bóng trăng, đi tới một trăm cây số nhìn xuống cũng còn
thấy bóng trăng.Bóng trăng ở khắp nơi, nghĩa là ánh sáng
của trăng thu này không bị ngăn cách bởi không gian và thời
gian, giống như pháp thân A Di Đà trong ta luôn luôn có mặt
không chỉ ở phương Tây mà ở khắp nơi.Trùng dương là biển
rộng.Vì biển lặng nên mình thấy trăng thu có mặt khắp
nơi.Đó là hình ảnh mà thi sĩ dùng để diễn tả cái pháp
thân A Di Đà của ta.Đó là quan niệm về A Di Đà và Tịnh
Độ của bậc thượng trí.
Bây
giờ ta hãy nói đến quan niệm của bậc trung trí.Chúng ta
trở về với lời tuyên bố của vua Trần Thái Tông: "Đối
với bậc trung trí, tất cả đều cần mượn đến phương
pháp Niệm Phật, chuyên tâm tinh cần, niệm trước nối tiếp
niệm sau, không vong thất, gián đoạn, tự tâm thành ra thuần
thiện.Thiện niệm được hiện thì ác niệm liền tiêu, ác
niệm đã tiêu thì chỉ còn lại thiện niệm.Dùng thiện niệm
để ý thức đến sự có mặt của khái niệm và dùng khái
niệm để diệt trừ khái niệm.Khái niệm đã diệt, tất
nhiên hành giả trở về với chánh đạo.Khi mạng chung thì
ta đạt tới niềm vui Niết bàn.Thường, Lạc, Ngã, Tịnh vốn
chính là chất liệu Niết bàn của Bụt vậy."
Đối
với bậc thượng trí, A Di Đà là Pháp thân của mình và Tịnh
Độ cũng nằm trong Pháp thân đó.Đối với bậc trung trí
thì hành giả phải thực tập tinh chuyên niệm Bụt, niệm
trước nối tiếp niệm sau không vong thất, không gián đoạn.Và
niệm Bụt trước hết là niệm cái tâm của mình, trở về
với tâm mình trong giây phút hiện tại.Bụt A Di Đà và cõi
Tịnh Độ là đối tượng của Niệm.Mình phải mượn hình
ảnh của Bụt A Di Đà, hình ảnh của ánh sáng, hình ảnh
của một cõi không ô nhiễm bởi danh lợi, sân si, phiền não
làm đối tượng của Niệm.Vì niệm bao giờ cũng phải niệm
một cái gì.Niệm là nhớ.Niệm có chủ thể niệm và đối
tượng niệm.Và niệm đó phải là niệm liên tục.Đối với
bậc thượng căn, thượng trí thì không cần niệm.Tại vì
A Di Đà vốn là pháp thân của mình, cõi Tịnh Độ vốn là
pháp thân của mình.Nhưng đối với bậc trung trí chưa thấy
được A Di Đà là tâm của mình, thì cần phải thực tập
niệm để trở về với giây phút hiện tại, và đối tượng
của giây phút hiện tại là đức A Di Đà và cõi Tịnh Độ.Bậc
trung trí luôn luôn nổ lực để duy trì chánh niệm để chánh
niệm có mặt liên tục.Nhờ sự thực tập liên tục đó mà
một ngày kia, khi đã được thuần thục, ta sẽ đạt tới
chỗ vô niệm - nghĩa là không còn niệm nữa mà A Di Đà và
cõi Tịnh Độ vẫn hiện tiền.Bậc trung trí luôn luôn duy
trì thiện niệm, do đó ác niệm không sanh.Tại vì khi mà đức
A Di Đà và cõi Tịnh Độ còn tiếp tục có mặt trên ý thức
của mình thì những phiền não không có môi trường và cơ
hội để sinh khởi.Thiện niệm miên mật ngăn được tà niệm,
đó là sự thực tập của bậc trung trí.
"Đối
với bậc trung trí, cần mượn đến phương pháp Niệm Phật,
chuyên tâm tinh cần niệm trước nối tiếp niệm sau không
vong thất, gián đoạn, khiến tự tâm thành ra thuần thiện,
đưa hành giả trở về với chánh đạo".Lúc đó hành giả
từ nơi niệm trở về với vô niệm nghĩa là không cần phải
niệm nữa mà ánh sáng của Bụt A Di Đà vẫn hiện ra ở nơi
tâm mình.
"Đối
với bậc hạ trí, miệng phải chuyên niệm lời Bụt, tâm
phải mong thấy tướng Bụt và phải nguyện sanh về nước
Bụt.Ngày đêm siêng năng tu hành không thối chuyển, sau khi
mạng chung, tùy thiện niệm của mình mà sanh về nước Bụt.Sau
đó, được nghe chánh pháp do chư Phật giảng dạy mà cũng
chứng được quả vị Bồ đề.Đây là sự thực hành Tịnh
Độ của bậc hạ trí."
Hạ
trí thì dùng cả thân, khẩu, ý để niệm Bụt nghĩa là phải
niệm Bụt bằng miệng và tâm phải mong thấy tướng Bụt.Vì
sao?Bậc hạ trí chưa có trí tuệ lớn để có thể thấy được
đức A Di Đà và Tịnh Độ chính là pháp thân của mình.Bậc
hạ trí nghĩ rằng đức A Di Đà và cõi Tịnh Độ là ở phương
Tây và phải sử dụng danh hiệu "Nam mô Bụt A Di Đà" hoặc
"Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới đại từ, đại bi
A Di Đà Phật".Họ phải sử dụng âm thanh niệm Bụt, phải
nương vào hình ảnh của Bụt để có thể quán tưởng.Tại
vì người sơ cơ cần có những hình ảnh và âm thanh làm điều
kiện để duy trì chánh niệm.Và đối tượng của chánh niệm
là Bụt A Di Đà và cõi Tịnh Độ ở phương Tây.
Như
vậy, bậc thượng trí tu theo thượng trí, bậc trung trí tu
theo trung trí, bậc hạ trí tu theo hạ trí, tu tập theo bậc
nào thì có lợi ích theo bậc đó.Do đó kinh A Di Đà đáp ứng
được cho cả ba trình độ tu tập, cho nên mình đừng bắt
buộc người khác phải thực tập Tịnh Độ giống hệt như
mình.Đây là điều hết sức tế nhị.Mình không có quyền
nói rằng phương pháp thực tập của tôi mới đúng, còn phương
pháp thực tập của anh là sai.Ta phải biết rằng mọi phương
pháp tu tập chỉ là phương tiện đưa người thực hành đi
tới với Tịnh Độ, hay đi tới với sự an toàn và hạnh
phúc.Và mỗi người đi tới với Tịnh Độ tùy theo căn trí
của mình.Căn trí đã khác nhau, người thì bắt đầu từ
chỗ này, người thì bắt đầu từ chỗ kia.Vì vậy, nhận
thức của mình về sự thực tập Tịnh Độ phải là một
nhận thức rộng rãi mới được.Đạo Bụt có tám mươi bốn
ngàn pháp môn; nếu may mắn thì mình tìm ra được một trong
các pháp môn ấy và sự thực tập đem lại cho mình hạnh
phúc.
Ta
hãy cẩn thận đừng nói chỉ có pháp môn của ta mới đúng
còn các pháp môn khác là không đúng.Nói như vậy là không
hợp với tinh thần đạo Bụt.Vì vậy giáo lý Tịnh Độ có
thể nói là một hình thức thực tập của Thiền.Tịnh có
thể là Thiền mà Thiền cũng có nghĩa là Tịnh.Đứng về
phương diện Thiền ta có thể thấy rằng Tịnh Độ là một
thực tại có mặt ngay trong giây phút hiện tại.Khi mình bước
đi những bước chân vững chãi và thảnh thơi, khi hơi thở
của mình đưa lại sự vững chãi, thảnh thơi và đem lại
an lạc thì Tịnh Độ hiện tiền ngay trong giây phút này.Vì
vậy, mình không thấy sự khác biệt giữa Thiền và Tịnh.Khi
sử dụng âm thanh để niệm Bụt, sử dụng hình ảnh để
quán chiếu về Bụt mà ta có được một ít năng lượng Chánh
niệm và Tam muội thì lúc đó Thiền đang có mặt trong ta.Như
vậy Thiền và Tịnh chỉ khác nhau ở danh từ mà không khác
nhau ở bản chất.Ta cần có cái nhìn tương tức như thế
khi đi vào kinh văn:
"Đây
là những điều tôi đã được nghe Bụt nói vào một thời
Người còn cư trú ở tu viện Cấp Cô Độc, trong vườn cây
của Thái tử Kỳ Đà."Đó là lời của Thầy A Nan."Hồi đó
cùng ở bên Bụt có một ngàn hai trăm năm mươi vị khất
sĩ, trong đó có những vị A La Hán đệ tử lớn của Bụt
mà ai cũng biết đến như các thầy Xá Lợi Phất, Mục Kiền
Liên, Ca Diếp, Ca Chiên Diên, Câu Hy La, Ly Bà Đà, Châu Lợi
Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề,
Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lư Đà Di, Kiếp Tân Na, Bạt
Câu La và A Nậu Lâu Đà."
Tất
cả những tên gọi này chúng ta đều có tiếng Phạn ở trong
bản tiếng Anh.Nếu có thể được, thì quý vị hãy tìm hiểu
về từng người, tại vì trong kinh có ghi chép về từng vị.Chúng
ta nghe tên quý vị nhưng chúng ta cũng phải biết sơ lược
công hạnh của sự thực tập, cũng như bản tính của từng
người.Hiện nay, chúng ta đã có những cuốn sách nói về
quý thầy, và khi đọc những cuốn sách đó, chúng ta có một
ít nhận thức về tánh tình, sự hành trì và trí tuệ của
từng người.Sự hiểu biết như vậy là rất quý!
"Lại
cũng có mặt các vị Bồ tát đại nhân như Văn Thù, A Dật
Đa, Càn Đà Ha Đề, Thường Tinh Tấn, và rất nhiều các vị
Bồ tát lớn như thế, cùng với chư thiên như Thích Đề Hoàn
Nhân, nhiều đến vô lượng, đều cùng có mặt."
Tất
cả những danh từ đó, chung và riêng, chúng ta có thể học
hiểu thêm từ những tác phẩm chú giải.
"Lúc
bấy giờ Bụt gọi thầy Xá Lợi Phất và bảo:Từ đây đi
qua phương Tây, cách khoảng mười vạn ức cõi Phật, có một
thế giới gọi là Cực Lạc, trong cõi ấy, có một vị Bụt
tên là A Di Đà, hiện đang thuyết pháp."
Chúng
ta biết rằng kinh này thuộc về loại kinh "vô vấn tự thuyết"
nghĩa là tuy không có ai hỏi cả mà Bụt tự nhiên nói ra.Bụt
Thích Ca giới thiệu đức A Di Đà và cõi nước Cực Lạc
nằm về phía Tây.Nằm về phía Tây, nghĩa là lúc đó Bụt
ngồi tại tu viện Cấp Cô Độc và Ngài chỉ về phía Tây
của Ngài.Nếu lúc ấy ta ngồi ở bên kia bán cầu thì Tịnh
Độ lại nằm ở phương Đông của ta.Chỉ điều đó thôi
cũng đủ cho chúng ta thấy rằng ý niệm Tây, Đông là không
quan trọng.
Bây
giờ chúng ta hãy tìm đọc câu kinh định nghĩa về Cực Lạc:"Này
Xá Lợi Phất, đất nước ấy vì sao gọi là Cực Lạc?Bởi
vì dân chúng trong nước ấy không biết khổ là gì, chỉ hưởng
thụ mọi thứ an lạc, cho nên cõi ấy được gọi là Cực
Lạc."Nếu ta hiểu được câu kinh này thì ta khỏi cần học
thêm kinh nào nữa hết.Câu kinh ấy trong văn hệ chữ Hán như
sau:"Kỳ độ chúng sanh, vô hữu chúng khổ, đản thọ chư
lạc, cố danh Cực Lạc."Đây là định nghĩa về Cực Lạc.Chúng
sanh ở trong cõi nước đó không biết khổ là gì, chỉ hưởng
thụ hạnh phúc mà thôi.Vì vậy, cõi đó gọi là cõi Cực
Lạc.Câu kinh này có thể được xếp loại vào các kinh văn
"bất liễu nghĩa".Bất liễu nghĩa là chưa đạt tới cứu
cánh.Tôi còn nhớ ngày xưa ở Phật học đường Báo Quốc
có một học tăng tên là Viên Giác, bổn sư của Thầy Tịnh
Từ, viện trưởng tu viện Kim Sơn bây giờ.Hồi đó là mùa
thi lên lớp.Sau khi làm bài rồi thì đến lượt thi vấn đáp.Thầy
Viên Giác được gọi tên, các học tăng khác ngồi dưới.Hôm
đó thi kinh A Di Đà.Các thầy giáo thọ còn hỏi lại:Cực
Lạc nghĩa là gì?Thầy Viên Giác hơi có tự ái, tại vì cho
rằng mình đã học lên trung học rồi mà các thầy giáo thọ
còn bắt mình định nghĩa thế nào là Cực Lạc.Thầy Viên
Giác không vui và thầy nói liều:‘‘Cực là cực khổ, Lạc
là hạnh phúc.’’Chữ "Cực" có nghĩa là rất; Cực Lạc
là rất sung sướng chứ không phải là cực khổ và sung sướng.Vì
tự ái nên thầy đã trả lời như vậy, chứ không phải là
thầy không hiểu nghĩa chữ Cực lạc.Các thầy giáo thọ đều
thấy điều đó, nên ai cũng cười.
Khi
đọc câu kinh này, mình thấy được lòng từ bi của đức
Thế Tôn.Vì sao? Vì trong chúng ta, ai cũng muốn trốn chạy
khổ đau, tìm tới một cõi không có khổ đau.Phần lớn chúng
ta đều là những người nhát gan, đều là những người yếu
đuối, chúng ta ai cũng sợ đau khổ, chúng ta ai cũng chạy
trốn đau khổ, ai cũng muốn đi tìm tới một cõi không có
khổ đau.Đó là tính người.Bụt thấy được điều đó,nên
Bụt nói:"Có một cõi không có khổ đau, chỉ toàn là hạnh
phúc." Nghe như thế, chúng ta tỉnh người ra và vễnh hai tai
lên nghe.Thi sĩ Chế Lan Viên viết như thế này:
‘‘Hãy
cho tôi một tinh cầu giá lạnh
Một
vì sao trơ trọi cuối trời xa
Để
nơi ấy tháng ngày tôi lẫn tránh
Những
ưu sầu, đau khổ với buồn lo.’’
Thi
sĩ ưu sầu, đau khổ, buồn lo nhiều quá đi, nên bây giờ
muốn đi tới một vì sao, xa bao nhiêu cũng được, nơi mà
ông có thể trốn chạy được những ưu sầu, đau khổ và
buồn lo ấy trong cuộc sống hiện tại.
Tội
nghiệp cho thi sĩ quá!Trong khi đó, với sự quán chiếu của
tương tức, không thể có cái gọi là vui mà không đi theo
cái gọi là khổ.Cũng như vậy, không thể nào có cái rác
nào mà lại không thể biến thành hoa, cũng không thể nào
có cái hoa nào mà lại không biến thành rác.Cũng như cái bên
phải và bên trái.Nếu không có bên phải thì làm gì có bên
trái, nếu không có bên trái thì làm gì có bên phải.Cái khổ
với cái vui cũng vậy thôi.Mình đi tìm một cõi mà trong đó
chỉ có cái vui mà không có khổ, đó có phải là một không
tưởng không?Ở đây, đức Thế Tôn có muốn hiến tặng cho
chúng ta một cái không tưởng hay không?Nếu chúng ta không
biết đói là gì, thì khi ăn cơm chúng ta sẽ không có hạnh
phúc.Sở dĩ ăn cơm mà có hạnh phúc là vì chúng ta đã biết
đói là gì.Hãy tưởng tượng một người chưa bao giờ biết
đói.Người đó có ăn cái gì đi nữa, thì cũng không có hạnh
phúc.Những người chưa bao giờ bị rét thì không thấy được
cái hạnh phúc của người được mặc áo ấm, hoặc những
người chưa bao giờ nếm mùi địa ngục thì không thể nào
thấy được giá trị của Thiên đường.Rõ ràng là nếu chúng
ta không biết khổ là gì thì chúng ta không thể nào biết
vui là gì.Vì vậy, một cõi không có khổ mà chỉ có vui là
một cõi hoàn toàn không tưởng."Dân chúng trong nước đó
không biết khổ là gì, chỉ hưởng thụ mọi thứ an lạc,
nên cõi ấy được gọi là Cực Lạc."Câu đó có phải là
một câu kinh "liễu nghĩa" hay không, hay là một câu kinh quyền
nghĩa?Cho nên câu kinh này là một câu kinh có thể làm cho chúng
ta mất ngủ.
Chúng
ta có thể đi sâu vào câu kinh này để giải thích rằng cái
Lạc của cõi Tịnh Độ không phải là cái Lạc tương đối
mà là cái Lạc tuyệt đối, vượt thoát ra khỏi cái vui khổ
tầm thường, nhưng điều đó cũng chỉ nằm trong phạm vi
triết học và lý luận.Cũng như nói là:"Thiên hạ đua nhau
nói khổ vui, có chi là khổ, có chi vui" rồi kết luận:"thà
rằng đừng khổ cũng đừng vui."Đừng khổ, đừng vui mới
là cái vui tuyệt đối, nói như vậy cũng chỉ là lý thuyết
thôi.Sự thật có những người trong chúng ta rất sợ đau
khổ, có những người nghĩ rằng có thể chạy trốn đau khổ,
đi tìm tới một chỗ không có đau khổ.Ta biết họ đang khao
khát như vậy, nên ta mới thiết lập phương tiện để hiến
tặng cho họ một tia hy vọng, nói rằng có một cõi không
có đau khổ mà chỉ thuần là hạnh phúc thôi, đó là cõi
Cực lạc.
Sư
em Kính Nghiêm có một đứa em gái tên là Ánh, mười hai tuổi.Nó
tới Làng Mai và tuyên bố một câu động trời:"Con muốn sống
ở một nơi mà buổi sáng có hạnh phúc, buổi trưa có hạnh
phúc, buổi chiều có hạnh phúc."Theo ý nó thì chỉ có Làng
Mai mới được như vậy thôi.Nếu ở lâu tại Làng Mai chừng
ba, bốn tháng thì nó sẽ biếthạnh phúc ở chỗ là tuy mình
có đau khổ nhưng nếu mình biết chuyển hóa đau khổ thì
hạnh phúc sẽ có mặt.Cái khổ ở bên cạnh nhắc mình nhận
diện ra hạnh phúc cũng ở bên cạnh.Nếu không có cái khổ
đó thì mình không biết được là hạnh phúc đang có mặt.Do
đó cõi Cực Lạc của chúng ta, nếu quả thực là một cõi
Cực Lạc đúng theo nghĩa của nó, thì phải có những dấu
hiệu của khổ đau để người ta được nhắc nhở rằng:Anh
đang được hạnh phúc.Có rất nhiều người đang ở Thiên
đường nhưng không biết là họ đang ở Thiên đường, tại
vì họ không biết hoặc chưa biết khổ đau là gì.
Xin
đại chúng hãy tổ chức pháp đàm về câu kinh này.Đọc câu
kinh này, trước hết ta thấy được lòng từ bi của Bụt.Bụt
thấy rằng con người yếu đuối, con người đau khổ, con
người muốn chạy trốn khổ đau và Bụt nói rằng có một
cõi, nơi ấy chỉ có hạnh phúc thôi, không có đau khổ.Đây
là một Hóa Thành (a magic city) - một thành phố do nhà ảo
thuật biến hiện ra để cho đoàn người, sau bao nhiêu ngày
đi mệt mỏi, có một chỗ để mà nghỉ ngơi.Sau thời gian
nghỉ ngơi, đoàn người đó có khả năng lên đường trở
lại - đây là một hình ảnh trong kinh Pháp Hoa.Một đoàn người
đang đi kiếm châu báu.Sau bao nhiêu tuần lễ trèo non, lặn
suối, đoàn người đó mệt nhoài và trong tâm có người muốn
thoái lui.Vị Đạo sư - người dẫn đường - nói rằng:"Các
người cố gắng đi, gần đây có một thành phố.Nếu chúng
ta đi thêm bốn, năm giờ nữa thì chúng ta sẽ tới thành phố
đó thì chúng ta sẽ được nghỉ ngơi, ăn uống, tắm rửa.Khi
nghe như vậy, đoàn người có năng lượng thêm và họ đi
thêm được bốn, năm giờ.Sau đó, người lãnh đạo dùng
phép thần thông của mình biến hiện ra một thành phố gọi
là Hóa Thành.Hóa tức là biến hiện.Tất cả những người
kia thấy thành phố liền tìm nơi đi rửa chân, rửa mặt,
tắm rửa, ăn uống, nằm ngủ.Sáng mai thức dậy, thì thành
phố đó biến mất, vì thành phố đó chỉ là một hóa thành.
Tôn
giáo, nói chung, có mục đích là để an ủi con người, để
làm dịu bớt những đau khổ của cuộc sống, hứa hẹn một
nếp sống ít đau khổ, nhiều an lạc.Vì vậy tôn giáo hay
cống hiến cho chúng ta một cái gọi là Thiên đường và cho
chúng ta nuôi một niềm hy vọng.Đạo Bụt cũng có thể được
diễn tả như là một tôn giáo, nhưng sự thật đạo Bụt
không phải chỉ là một tôn giáo.Đạo Bụt còn là một nền
đạo đức có nhiệm vụ đáp ứng lại những nhu yếu đích
thực của con người.Và bản hoài của đức Thế Tôn là đưa
ra những biện pháp cụ thể, giúp con người chuyển hóa khổ
đau, đạt được an lạc.Đó là cái chính.Nhưng con người
còn có những nhu yếu khác, nhu yếu bám víu vào một niềm
tin, nhu yếu chạy trốn khổ đau.Có những người không đủ
khả năng tu tập để chuyển hóa khổ đau, họ chỉ muốn
chạy trốn khổ đau để tìm tới an lạc thôi.Vì vậy, đạo
Bụt cũng phải tạo tác ra những phương tiện và những câu
giải đáp cho những người đó.Đạo Bụt không phải dành
riêng cho bất cứ ai.Bậc thượng căn, thượng trí không bị
bỏ đã đành; bậc trung căn, trung trí không bị bỏ đã đành,
mà bậc hạ căn, hạ trí cũng không bị bỏ.Cho nên chúng ta
có thể hiểu được câu kinh này.Chúng ta thấy được lòng
từ bi bao la của đức Thế Tôn trong câu kinh này.Ban đầu
chúng ta nói câu kinh này không phải là một câu kinh liễu
nghĩa, tại vì nếu là liễu nghĩa thì nó phải chứa đựng
tuệ giác tương tức, nghĩa là không có cái này thì không
có cái kia.Nếu chúng ta nhìn sâu hơn nữa vào những nhu yếu
của con người, những nhu yếu đa dạng của con người, thì
chúng ta có thể hiểu được câu kinh này và câu kinh có thể
được nhận thức là liễu nghĩa.