THIỀN
LUẬN SÁU
TRIẾT
HỌC VÀ TÔN GIÁO
TRONG
BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA
I.
ĐẠI CƯƠNG
Bát-nhã
ba-la-mật-đa[80] là một trong những kinh điển tối cổ của
Phật giáo được dịch sang Hán văn. Bản kinh Bát-nhã đầu
tiên, được gọi là Đạo hành,[81] xuất hiện năm 172. Truyền
thuyết cho rằng kinh Tứ thập nhị chương [82] được phiên
dịch do sứ đoàn đầu tiên người Ấn đến Trung hoa năm
69, nhưng không có gì bảo đảm cho chứng cứ lịch sử của
nó. An Thế Cao,[83] từ nước An tức (Parthia) đến Trung hoa
vào năm 148, trải qua 22 năm thực hiện công trình phiên chuyển
các kinh Phật sang Hán văn, nhưng tất cả thuộc kinh Tiểu
thừa. Trong trường hợp đó, kinh Đạo hành Bát-nhã bản Hán
dịch của Chi lâu-ca-Sấm (Lokarakṣa) người Nhục-chi (nước
này sau trở thành vương quốc Kuṣaṇa: Quý-sương), đáng
cho là thực sự bản kinh Đại thừa đầu tiên trong số tất
cả các kinh Phật được truyền vào Trung hoa từ trước. Cũng
nên ghi nhận một điều kỳ diệu, theo đó, một nền giáo
thuyết của đạo Phật tuyên bố rằng tất cả đều “không”
và “không tự tính”, lại là công trình thực sự quan trọng
được truyền bá giữa một dân tộc nặng đầu óc thực
dụng, theo chủ nghĩa công lợi. Hiển nhiên, các môn đệ của
“tính Không” đã không nghĩ loại hoạt động truyền giáo
này là một sự nghiệp “trống không”.
Trong
thế kỷ thứ III, hai bản kinh thuộc Bát-nhã được dịch
sang Hán văn, và thế kỷ IV vẫn còn xuất hiện những bản
khác. Các bản của Cưu-ma-la-thập (Kumārajīva) được hoàn
thành khoảng đầu thế kỷ thứ V. Cho đến hậu bán thế
kỷ thứ VI, Huyền Trang hoàn tất bản dịch đồ sộ của
bộ Đại Bát-nhã gồm 600 quyển. Đó là một tập đại thành
bách khoa gồm hầu hết những kinh điển thuộc bộ Bát-nhã
của Đại thừa.
Trong
Phạn văn, một tòng thư gồm 125.000 bài tụng (śloka), tức
những đoạn chỉnh cú có 32 âm tiết. Bốn bản ngắn hơn
gồm 100.000, 25.000, 10.000 và 8.000 śloka. Bản ngắn nhất được
ấn hành năm 1888 bởi học giả người Ấn Rājendralāla Mitra;
bản 100.000 bài tụng được ấn hành 1902 bởi Pratāpacandra,
nhưng theo chỗ tôi biết chưa có ấn bản đầy đủ nào xuất
hiện. Bản xưa nhất trong số các bản kinh Bát-nhã khác nhau
hình như là bản ngắn nhất, bản 8.000 śloka, được gọi
là Bát-nhã Bát thiên tụng (aṣṭasāhasrikā). Những bản dài
hơn là những bản quảng diễn về sau. Bát thiên tụng tương
đương với Đạo hành kinh của Chi Lâu-ca-sấm (Lokarakṣa),
Tiểu phẩm Bát-nhã của Cưu-ma-la-thập (Kumārajīva), và quyển
thứ 538-555 trong bản Đại Bát-nhã của Huyền Trang, và Phật
mẫu Bát-nhã của Thi Hộ.[84] Bởi vì, xét trên phương diện
triết học và tôn giáo, tất cả những quan điểm cốt yếu
của kinh Bát-nhã đều nằm trong đó, chủ đề của tôi sẽ
dựa vào bản kinh này qua bản Sanskrit và các bản Hán dịch,
mặc dù những trích dẫn rải rác lấy từ các bản kinh Bát-nhã
khác. Độc giả nếu có hứng thú đối với văn học Bát-nhã,
có thể tham khảo tập tài liệu của Bác sĩ Tokumyô Matsumoto
về Die Prajnāpāramitā-Literatur.[85]
Tuy
nhiên, vì bản Sanskrit Aṣṭasāhasrikā cũng như nhiều bản
kinh Bát-nhã Hán văn được đề cập ở đây không dễ gì
tiếp cận cho độc giả,[86] vậy xin giới thiệu kinh Kim cương
(vajracchedikā),[87] qua các bản dịch tiếng Anh của Max Müller
và William Gemmel, vì sự khái quát của nó. Nhưng, khuyết điểm
chính nơi kinh Kim cương là quá nhấn mạnh về khía cạnh tính
Không của Bát-nhã, khiến cho độc giả phổ thông có ấn
tượng rằng đây là khởi điểm hay đỉnh điểm của Đại
thừa. Bác sĩ Max Walleser, Heidelberg, dịch sang Đức ngữ một
vài chương của Aṣṭasāhasrikā.[88]
Chủ
đích của thiên luận này cốt nêu lên rằng, giáo nghĩa của
các kinh Bát-nhã nhằm xác định tính thể của Bồ-tát đạo.
Đó là điều mà trong hết thảy các kinh Đại thừa gọi là
Bồ-tát hạnh (bodhisattvacaryā). Caryā (hành, ta quen đọc là
hạnh), có nghĩa là “sinh hoạt”, vậy Bồ-tát hạnh (bodhisattvacaryā)
là điểm phân biệt Bồ-tát với các loại chúng sinh khác;
đặc biệt trong Đại thừa, phân biệt với Thanh văn (Śravaka)
và Độc giác (Pratyekabuddha). Kinh Bát-nhã tìm thấy sinh hoạt
này trong sự thấu hiểu Bát-nhã với tất cả những hàm tàng
của nó, trí thức, đạo đức và tâm linh. Trong những trang
tiếp theo, do đó, chúng ta sẽ trước hết thử xem Bát-nhã
có nghĩa là gì, sau đó mới khai thác nội dung thực tiễn
của nó. Có thế, tính thể của Bồ-tát đạo mới trở thành
hiển lộ tự nhiên. Tôi tin rằng độc giả đã biết khá
rõ về mối liên hệ rất sâu xa giữa Thiền tông và giáo
nghĩa Bát-nhã, trên lịch sử và trên học thuật.
Vậy
Bát-nhã sẽ được diễn tả từ nhiều quan điểm khác nhau,
và đó cũng là cách mà các kinh Bát-nhã ba-la-mật thường
nói về Bát-nhã.
II.
TRIẾT HỌC TRONG BÁT-NHÃ
1.
Bát-nhã: Nguyên lý chi đạo
Bát-nhã
là một trong sáu Ba-la-mật (pāramitā),[89] tức sáu đức tính
của sự toàn thiện dành riêng cho Phật tử Đại thừa hay
các Bồ-tát. Khi họ tu tập trọn vẹn sáu Ba-la-mật này, nhất
định cuối cùng sẽ đạt tới giác ngộ. Nhưng các kinh thuộc
bộ Bát-nhã coi Bát-nhã như là nguyên lý chỉ đạo của các
Ba-la-mật khác. Vì nếu không có Bát-nhã, các Ba-la-mật khác
sẽ không thể tìm thấy sở y và sở hướng của chúng. Để
riêng ra chúng sẽ lạc đường như một bọn mù trong rừng
rậm. Chúng không thể bước vào trụ xứ tối hậu của thực
tại. Chúng không thể nhận ra Nhất thiết trí, vì là không
có mắt, và tất cả mọi nỗ lực của chúng đều vô bổ
nếu không có sự hướng dẫn của Bát-nhã. Bát-nhã là con
mắt soi thấy rất tỏ rõ trọn cả môi trường sinh hoạt
của Phật đạo và xác định các bước tiến của Bồ-tát
phải được hướng dẫn như thế nào và dẫn vào đâu. Năm
Ba-la-mật (pāramitā) kia: Thí, Giới, Nhẫn, Tinh tiến, Thiền
được gọi Ba-la-mật (pāramitā) [90] bởi vì chính Bát-nhã
là con mắt của chúng.[91]
Lại
nữa, Bát-nhã như mặt đất cho các thứ cây cối có thể
sinh trưởng. Tất cả các điều kiện khác có thể đã hội
đủ cho hạt giống nảy mầm, nhưng nếu không có đất, chẳng
bao giờ nó sinh trưởng được. Cũng vậy, nếu không có Bát-nhã,
các Ba-la-mật khác sẽ mất hết tiềm năng của chúng; sẽ
không có mầm sống nào trong chúng.[92] Lại nữa, chính do Bát-nhã
ba-la-mật mà các Ba-la-mật khác được hộ trì, được vững
chắc, được toàn vẹn, và được thực hành tương xứng.
Cũng như 62 tà kiến phát sinh từ khái niệm cho rằng thật
có bản ngã (satkāyadṛṣṭi: hữu thân kiến), cũng vậy,
năm Ba-la-mật kia sinh ra từ Bát- nhã. Cũng như các thân căn
thụ hưởng sinh lực của chúng khi mạng căn còn tiếp tục,
cũng vậy, năm Ba-la-mật kia còn sống động khi Bát-nhã ôm
ấp chúng trong đôi cánh che chở của mình.[93]
2.
Bát-nhã: thí dụ đôi cánh chim và cái ghè
Bát-nhã
như những con chim trời mà đôi cánh có thể trải rộng một
do-tuần,[94] hay rộng đến năm do tuần. Nếu chưa lớn đúng
mức, không thể bay được. Chúng có thể muốn bay từ trên
những bầu trời của chúng xuống tới thế gian này, hoặc
nửa chừng chúng có thể thay đổi tâm niệm mà bay trở về
trời. Trường hợp đầu, chúng có thể xuống tới mặt đất
mà không bị tổn thương không? Trường hợp sau, chúng có
thể an toàn trở về quê cũ hay không? Không, cả hai trường
hợp đều không thể, mà chúng phải chịu số phận tự hủy
vì vẫn còn là những cánh chim non, chưa đủ sức để bay
như vậy. Cũng thế, Bồ-tát dù đã trọn vẹn phát Bồ-đề
tâm, đã chứa nhóm đủ tất cả các Ba-la-mật như Bố thí,
Trì giới, Tinh tiến và Thiền định, nhưng nếu chưa có Bát-nhã
và Phương tiện (upāya) của Bát-nhã thì tất cả mọi ước
vọng và nỗ lực sẽ là vô nghĩa, và sẽ bị rơi trở lại
cảnh giới của Thanh văn và Độc giác thừa.[95]
Lại
nữa, Bồ-tát không có Bát-nhã có thể ví như một cái ghè
bằng đất chưa nung đến độ. Người ta có thể dùng cái
ghè chưa nung đến độ đó để mang nước từ giếng hay từ
sông, nhưng chắc chắn sẽ thấy nó rạn vỡ trước khi về
tới nhà. Tại sao? Bởi vì ghè được lấy ra khỏi lò trước
khi nung chín và khô. Cũng tương tự như vậy, Bồ-tát dù đã
có tín, có nguyện, có nhẫn, có hỷ, có lý giải, có tôn
trọng, có tinh tiến, có tịnh tâm, v.v., nhưng không có Bát-nhã
và Phương tiện của Bát-nhã để được hộ niệm trong suốt
quá trình tu Bồ-tát hạnh, thì vẫn có thể thoái thất, rơi
rớt trở lại Thanh văn thừa hay Độc giác thừa, không thể
đạt được Nhất thiết trí.[96]
Bằng
những lời tán dương Bát-nhã đó, kinh gây cho chúng ta có
ấn tượng sâu đậm về mức quan trọng phi thường của Bát-nhã
ba-la-mật. Trước khi phát triển quan niệm này, sáu Ba-la-mật
được coi như có ý nghĩa ngang nhau trong sinh hoạt của Bồ-tát.
Sự hứng khởi của Đại thừa đã làm thay đổi vị trí
tương đối đó. Bấy giờ Bát-nhã được tách riêng và đặt
lên vị trí cao nhất. Không có Bát-nhã, các Ba-la-mật còn
lại như một con thuyền lạc hướng la bàn và lạc mất thuyền
trưởng. Đây là giai đoạn quan trọng trong diễn tiến của
tư tưởng Phật giáo. Khi chúng ta biết rằng, đạo Phật lấy
sinh khí của nó từ tông chỉ Giác ngộ, tính cách trọng yếu
của Bát-nhã chắc chắn phải được khẳng định. Nhưng cũng
có thể cho rằng tác giả của kinh Bát-nhã ba-la-mật đã có
hơi lo ngại rằng không rõ giáo thuyết của mình được các
Phật tử tiếp nhận lập tức và không ngần ngại hay không.
Vì lý do đó, tôi tin rằng, kinh nêu lên nhiều trường hợp
không bị kinh sợ và áp đảo bởi giáo nghĩa Bát-nhã ba-la-mật.
Kinh nói, trong đời sống của mình ai đã từng nghe đến lý
Bát-nhã mà không kinh sợ quả thật hy hữu. Thọ trì Bát-nhã
và tuân hành không do dự các chỉ thị của Bát-nhã, cái đó
đòi hỏi trải qua nhiều đời chứa nhóm các thiện căn.
3.
Bát-nhã: mẹ của chư Phật và Bồ-tát
Nói
rằng Bát-nhã là nguyên lý chỉ đạo của các Ba-la-mật, ấy
là vì các nhà Đại thừa quan niệm nó cấu thành Nhất thiết
trí (sarvajñatā). Tức là, trí tuệ viên mãn mà bậc toàn trí
đã thành tựu. Do đó, Bát-nhã là ánh sáng rọi khắp mà chúng
ta phải chiêm ngưỡng. Nó đứng trên tất cả ảnh hưởng
ô nhiễm của các vật thể trần gian. Nó soi sáng tất cả
bóng tối trong thế giới đối đãi nhị nguyên, và do đó
mang lại thanh bình và an ổn cho mọi loài. Nó cung cấp ánh
sáng cho người mù, nhờ đó y có thể yên lành đi xuyên qua
đêm tối của vô minh. Nó dẫn những người lạc lối trở
về con đường chính. Nó vén mở cho chúng ta thấy chân lý
của vạn hữu, và chân lý đó là Nhất thiết trí (sarvajñatā).
Nó là nơi nương tựa của mọi loài, khiến chúng hoàn toàn
không sợ hãi; là người có năm con mắt soi rõ trọn cả thế
gian. Là chân lý vượt lên sống và chết, vượt trên tất
cả mọi tạo tác và khát ái. Nó chính là tính Không. Là kho
lẫm của hết thảy mọi chân lý (dharmakośa). Là mẹ của
hết thảy chư Phật và Bồ-tát.[97]
Vì
Bát-nhã là mẹ, là vị sinh thành (janayitrī) của hết thảy
chư Phật và Bồ-tát, nên các Ngài luôn luôn lo lắng về sức
khỏe, về sự bình an và sự thịnh vượng của Bát- nhã.
Kinh nói:[98] Như một bà mẹ có nhiều con. Nếu bà bệnh tật,
hết thảy các người con của bà, con trai cũng như con gái,
đều mong bà chóng bình phục. Bởi vì họ chỉ có một tâm
niệm duy nhất rằng bà là mẹ của họ, đã nuôi dưỡng họ
bằng tất cả yêu thương và ấp ủ, những gì mà họ sở
hữu riêng hôm nay đều do bà ban cho với trí tuệ và lòng
từ ái. Vậy không thể quên bà, phải chăm sóc bà, phải kiếm
thuốc men cho bà để bà được bình phục, qua khỏi mọi thứ
đau đớn và phiền muộn. Bà được săn sóc bởi tất cả
những người con của mình như vậy. Cũng giống như vậy,
chư Phật và Bồ-tát quan tâm sâu xa đến sự tráng kiện của
Bát-nhã là bà mẹ của mình; các Ngài dùng hết mọi phương
thế để bảo vệ bà tránh xa các thứ ma quỷ quấy phá và
giúp bà đứng vững trong thế gian. Do đó, các hoạt động
truyền giáo của các Ngài là sao cho kinh Bát-nhã ba-la-mật
được sao chép, được học hỏi, được tụng đọc, được
ghi nhớ, được suy tư, và được truyền dạy cho đến cùng
tận thời gian.
4.
Bát-nhã = Chính giác = Nhất thiết trí
Bát-nhã
trong khởi thủy được nói là phương tiện để thành tựu
Chính giác, mục đích tối thượng của sự tu tập Phật đạo.
Nhưng bây giờ nó đã được đồng nhất với chính mục đích
đó, Bát-nhã (prajñā) là Chính giác (sambodhi); bởi vì trong
kinh nghiệm của Phật giáo, Bát-nhã chỉ có thể hoạt động
theo bản tính thanh tịnh nguyên thủy của nó khi nào có Chính
giác. Chừng nào Bát-nhã còn được quan niệm là hướng đến
cứu cánh bên ngoài tự thân nó, bấy giờ nó chưa phải là
nó, chưa ở trong trạng thái thuần tịnh của nó; chỉ khi
nào được đồng nhất với chính giác, Bát-nhã mới trở
về nguyên tính của nó. Chừng nào chính giác còn được quan
niệm như là mục đích cứu cánh được tầm cầu bằng vào
Bát-nhã, thì không những chính giác còn xa vời với các bạn
mà cả đến Bát-nhã vẫn không thể tác dụng theo công năng
bản hữu của nó. Bát-nhã là Bát-nhã, thì nó phải là một
với chính giác. Do đó, chúng ta có thể nói rằng, Bát-nhã
tự hiển lộ và nhận ra khuôn mặt chân thực, không tì vết,
trong chính giác. Khi sự thực hành Bát-nhã ba-la-mật mà đạt
đến được đỉnh cao một cách thiện xảo, bấy giờ chính
giác và Bát-nhã hoàn toàn trở thành nhất thể, sự đồng
nhất trở thành một hiện thực.
Trên
mặt khái niệm, Bát-nhã khởi sự những vận động đầu
tiên của nó hướng tới thẩm định cái được giả thiết
làm đối tượng cho nó. Tuy nhiên, khi Bát-nhã thực sự nắm
được đối tượng, thì sở tri và năng tri trở thành một:
tình trạng thiên chấp chấm dứt và bây giờ là tình trạng
của đồng nhất vô phân biệt, gọi đó là chính giác, và
cũng là Nhất thiết trí (sarvajñatā). Kinh nghiệm này cũng
có thể được mô tả như vậy: trước hết Bát-nhã tự phân
đôi thành phương tiện và cứu cánh, chủ thể và khách thể,
cái này và cái kia, cái thấy và cái bị thấy. Khi tác dụng
quán chiếu tự thân đã hoàn tất, không còn có tính nhị
nguyên trong Bát-nhã. Bát-nhã hiện hành trong chính giác, và
chính giác hiện hành trong Bát-nhã. Bát-nhã thấy đâu cũng
mang danh hiệu Bát-nhã, chỉ khác trong cách gọi. Bát-nhã là
một danh hiệu; chính giác cũng là một danh hiệu khác, Niết-bàn
là một danh hiệu khác nữa, cứ thế, vân vân. Thế tức là,
tất cả những danh hiệu đó chỉ giả danh, chúng được phân
biệt như thế vì tiện ích của tri thức chúng ta. Cái thực
và cái chân, là cái một của những danh hiệu đó, và chính
là cái đó.
Vậy,
Bát-nhã tức Chính giác(sambodhi), hay giác ngộ. Bát-nhã là
Nhất thiết trí (sarvajnatā), Bát-nhã là Niết-bàn, Bát-nhã
là Chân như (tathātā), Bát-nhã là Tâm (citta), Bát-nhã là Phật
tính (buddhatā); vậy thì tự thân Bát-nhã bản lai vốn Bất
khả đắc (anupalabdha) và Bất khả tư nghị (acintya). Bất
khả đắc và Bất khả tư nghị đó, là cơ sở của hết
thảy mọi thực tại và tư tưởng. Do đó, lẽ đương nhiên,
các tác giả của các kinh Bát-nhã ba-la-mật đa tán dương
Bát-nhã như một người tạo ra những phép lạ, gần như nhân
cách hóa Bát-nhã thành một đối tượng sùng kính và sau hết
đòi hỏi những ai tin nó nên chí thành cung kính đối với
tất cả những kinh văn nào có chứa đựng giáo nghĩa Bát-nhã,
coi như chính những kinh văn đó là những hóa thân sinh động
của tác nhân hoàn thành những sự kỳ diệu. Không phải chỉ
nên học hỏi (paryāvapti), tụng đọc (vācana), ghi nhớ (dhāraṇa),
và sao chép (lekhana), nhưng còn được khuyến khích là nên
tôn sùng (satkāra) và lễ bái (gurakara), cúng dường bằng các
phẩm vật (pūjā) như hoa, tràng hoa, hương, dầu, đèn, cờ,
phướn, lọng và y phục. Còn thì không ai có thể hy vọng
phân biệt một cách chính xác phước đức tăng trưởng từ
tín tâm (abhiśraddhā: thâm tín) và tín nhiệm (adhmukti: thắng
giải) với sự nhiệt thành tích cực (adhyāsayata: thâm tâm
hay cao chí) trong Bát-nhã ba-la-mật. Khía cạnh sùng bái của
Bát-nhã ba-la-mật được nối kết kỳ lạ với tính chất
siêu hình cao vút cùng tột của nó.
Tuy
nhiên, kỳ cùng, chủ đề của các kinh Bát-nhã ba-la-mật là
Bồ-tát hạnh, tức thực hành Bát-nhã ba-la-mật để nhờ
đó chứng đắc vô thượng chính giác. Vấn đề thực hành
Bát-nhã như thế nào, không ngớt được nêu lên và được
giải đáp; và đấy chính là trọng điểm thu hút nhất của
tất cả các kinh Bát-nhã. Nếu thành tựu được, việc học
Phật đã đến cùng đích. Nhưng, như đã nói trước, việc
thực hành Bát-nhã và sự tác thành chính giác, cả hai không
cùng một bản chất đồng loại. Chính giác nảy ra từ sự
thực hành đó như hoa nở ra từ cây; đời sống tiếp nối,
nên tức là một. Như vậy, lý luận sau đây rất đúng: Bát-nhã
hiện thành trong các sở hành, và cái hành đó là nội dung
của chính giác, cho nên, Bát-nhã là giác ngộ hay chính giác.
Prajñā = Sambodhi cũng có thể được khẳng định theo khía
cạnh thực hành của vấn đề. Tất cả những từ này luôn
luôn được dùng thay đổi nhau trong các kinh Bát-nhã, đặc
tính của cái này có thể áp dụng cho cái kia một cách ngang
nhau. Sự thực, bộ ba: Prajñā = Sambodhi = Sarvajñatā là sợi
dây nối liền những chuỗi giáo nghĩa sai biệt trong chúng.
Các bạn thử kéo ra một khoen, là kéo luôn các khoen còn lại.
Nhưng nếu chúng ta muốn phân biệt, ở đây có thể định
nghĩa Bát-nhã như là một công cụ nhận thức nhờ đó mà
đạt tới Nhất thiết trí, trong khi Chính giác hơi nghiêng
về tâm lý một chút theo nghĩa nó chỉ điểm một trạng thái
thức tỉnh của tâm linh. Bát-nhã có sẵn trong mọi chúng sinh
không phân biệt, dù chưa bộc lộ bằng tác dụng thuần tịnh
tuyệt đối của nó. Nơi đức Phật, Bát-nhã là Nhất thiết
trí, bởi vì Ngài ở trong trạng thái giác ngộ toàn vẹn.
Trong
kinh Đại Bát-nhã, Chính giác, hay Bồ-đề, được diễn tả
bằng những từ như sau:[99] “Bồ-đề (bodhi, chính giác) là
nghĩa Không (śūnyatā), là nghĩa Chân như (tathatā), là nghĩa
Thực tế (bhūtakoṭi), là nghĩa Pháp giới (dharmadhātu), là
nghĩa Pháp tính (dharmatā). Thế nhưng, đấy là những danh tướng
được giả lập, những ngôn thuyết tạm thời. Bồ-đề là
chân thật giác, là tối thượng diệu. Bồ-đề là chân, là
thật, là không hư vọng, không biến dị, không bị phá hoại,
không phân biệt; Bồ- đề là thanh tịnh chân thật, là giác
ngộ cùng khắp mà Phật sở hữu, Bồ-đề là sự viên mãn
căn bản từ đó chư Phật hiện thành đẳng chính giác soi
thấy hết thảy các pháp, hết thảy chủng tướng; vượt
ngoài mọi danh ngôn thế tục tạm thời.”
Khi
Bodhi, hay Chính giác, được diễn tả bằng những từ đồng
nghĩa khác nữa như thế, kết quả có lẽ khiến cho khá mông
lung, vậy cần có thêm những nhận xét sau đây. Nếu chúng
ta đề cập thẳng vào tính cách biểu lộ của nó, thì Bát-nhã
có thể tự hiển lộ bản thân, và chúng ta có thể nói thế
này: Bát-nhã là soi thấy yếu tính của sự vật như thế
là như thế (yathābhūtam); Bát-nhã soi thấy sự vật y theo
bản tính Không của chúng; khi soi thấy sự vật như thế là
đạt tới biên tế của thực tại, tức là vượt ra ngoài
lãnh vực tri kiến của con người; và do đó, Bát-nhã nắm
cái không thể nắm, đạt cái không thể đạt, hiểu cái không
thể hiểu; khi lối diễn tả bằng trí năng về tác dụng
của Bát-nhã ấy được diễn dịch thành những hạng từ
tâm lý, nó là cái không dính mắc vào đâu, dù nó là một
ý tưởng hay một cảm giác.
Chúng
ta đọc trong phẩm “Devaparivarta”(Thiên phẩm) của Aṣṭasāhasrikā-pāramitā:
“Những ai khởi sự thực hành Bát-nhã phải thực hành tất
cả sáu Ba-la-mật để hồi hướng công đức cho sự chứng
đắc vô thượng chính giác. Tuy nhiên, khi hồi hướng như
thế, đừng bao giờ chấp chặt (parāmṛṣṭā) vào nơi chính
giác coi đó là mục tiêu cho các tu tập của mình, cũng đừng
chấp trước năm uẩn (skandha) coi đó là những thực tại
cá biệt bất khả hoại. Bởi vì nhất thiết trí là cái vô
thủ trước (aparāmṣṭā).[100]
“Vô
thủ trước“ tức là “không bị dính mắc.” Bất khả
đắc và Bất khả tư nghị là bản tính của Bát-nhã, Bồ-tát
khi đã khôi phục được hoạt dụng nguyên thủy của nó,
tự nhiên sẽ không chấp thủ dù là chấp thủ Bát-nhã, Nhất
thiết trí hay Chính giác. Đây là một giai đoạn quan trọng
trong đời sống của Bồ-tát, mà tôi sẽ có cơ hội nhắc
nhở
thêm sau này.
5.
Bát-nhã: Như thật Tri kiến
Do
công năng vô chấp đó, chúng ta có thể nói rằng Bát-nhã
có khả năng nhìn thấy ghế giới như thế là như thế, thấy
các pháp trong bản tính như thực (yathābhūtatā) của chúng.
Đây là hoạt dụng đặc sắc nhất của Bát-nhã mà Bồ-tát
sở đắc khi ngộ rằng trong tự tính của mình Bồ-tát đến
từ Bát-nhã, và, do đó biết rằng Bát-nhã sinh ra Bồ-tát
cũng như sinh ra hết thảy chư Phật. Một khi đôi mắt của
Bồ-tát mở ra để thấy sự thực này, Bồ-tát quan sát thế
gian và hết thảy thiên sai vạn biệt của thế gian trong tướng
trạng chân thực của chúng. Nói thế tức là, trong tầm tri
giác của chúng ta, thế gian không ngừng biến đổi, chịu
đủ hình thái thành và hoại. Nhưng Bồ-tát, khi mà trí Bát-nhã
của Ngài đã khai ngộ hoàn toàn, nhận thấy rằng năm uẩn
tạo thành thế gian này, dù có những biến dịch bên ngoài
của chúng, trong tự tính (svabhāva), chúng không hề bị hoại
diệt, không có tướng hoại diệt, siêu việt mọi chuyển
biến, siêu việt sinh tử, siêu việt các tướng, không khởi
niệm ái lạc phiền não.
Kinh
điển Bát-nhã vừa là một nền triết học và vừa là một
nền tôn giáo, nên giáo nghĩa của nó luôn luôn hỗn hợp bản
thể luận và tâm lý học. Sự thực, nó không quan tâm đến
hữu thể là như gì, nhưng nói tới những gì có nơi con người.
Biết rõ thế gian tức biết rõ tâm linh của con người và
những tạo tác của nó. Không có những vấn đề siêu hình
nào mà cùng lúc không là những vấn đề về giải thoát và
giác ngộ. Do đó khi Bồ-tát nhận thấy thế gian như là như
thực (yathābhūta) Ngài cũng nhận thấy các loại tâm của
con người như tự tính của chúng; thế rồi Ngài mới thi
thiết các phương tiện thiện xảo (upāya) của mình. Vậy,
kinh nói, bằng con mắt của trí Bát-nhã, Bồ-tát thấy rõ
tâm của tất cả các loại hữu tình, và Ngài biết rõ chúng
sai biệt như thế nào, sai biệt về cá tính, sai biệt về
hoạt dụng, sai biệt về thọ báo, sai biệt về giá trị đạo
đức, về tâm tính, vân vân. Rồi tri kiến như thực (yathābhūta)
của Ngài thấu suốt qua những giả tướng này và nhận ra
rằng các tâm của chúng, tịnh hay bất tịnh, nhiếp tâm hay
loạn tâm, nhiễm tâm hay ly nhiễm tâm, tất cả đều không
tự tính, không thủ trước, không phân biệt. Đấy được
coi là nhìn vạn hữu trong chân như tướng của chúng, trong
đó mọi sai biệt tan biến hết, đồng thời tự hiển lộ
tự tính trong ánh sáng của trí Bát-nhã.
Do
đó, đương nhiên tri kiến như thực trong các kinh Bát-nhã
có nghĩa là tri kiến xuyên qua bức màn trùng điệp phủ tối
đôi mắt chúng ta, và rồi dùng trí Bát-nhã nắm lấy vạn
hữu trong chân như của chúng. Chân như (tathatā) là một từ
quá lạ, nhưng trong thuật ngữ Phật giáo, nó là một trong
những từ ý vị nhất. Hiểu rõ nghĩa của nó là hiểu toàn
bộ hệ thống tư tưởng của đạo Phật. Chân như là như
như và đừng có hiểu lộn thành như nhau hay như một. Khi
người ta nói đến “Vô dị tướng“, thì có thể tưởng
rằng các dị tướng bị biến thành vô sở tri hay vô sở
hữu, để bộc lộ cái tướng như một của chúng. Nhưng cái
mà các hành giả Bát-nhã muốn nói là những cái được thấu
hiểu trong những tương quan chân thực của chúng, không chỉ
tương quan giữa cái này với cái kia mà tương quan với lý
tính hiện hữu của chúng.
Kinh
Bát-nhã có một đoạn dành cho Tu-bồ-đề (Subhūti) luận về
Như Lai Tùy sinh (tathāgata-anujāta).[101] Tùy sinh (anujāta) có
nghĩa, “sinh sau” hay “được sinh ra tùy theo.” Chính Tu-bồ-đề
(Subhūti), người nói triết học Bát-nhã, sinh ra sau Như Lai,
tức em ruột của Như Lai, hay nói đúng hơn, Tu-bồ-đề được
sinh ra tùy theo tự tướng của Như Lai. Đó là một trong các
đoạn quan trọng nhất của Bát-nhã, nhất là khi xét tới
liên hệ với giáo nghĩa Chân như.
Như
Lai (Tathāgata) thông thường được coi như là một biệt hiệu
của Phật, nghĩa đen hoặc “vị đến như thế” hoặc “vị
đi như thế.” Điểm quan trọng ở đây là ý nghĩa của chữ
Như (tathā) hơn là Lai (agata, đến hay gata, đi); hình như là
tác giả của kinh Bát-nhã nhấn mạnh trên chữ tathā coi đó
là chìa khóa để hiểu giáo pháp tathatā (Chân như) hay yathābhūtam
(Như thực). Khi ông nói tới Chân như của Như Lai (tathāgata-tathatā),
ông muốn nói lý tính, căn nguyên, hay lý tắc cho sự xuất
hiện khả hữu của Như Lai trong thế gian. Vì vậy, Tu-bồ-đề
mà được sinh ra sau (anujāta) Chân như của Như Lai, thì có
nghĩa là Tu-bồ-đề và Như Lai cùng đến từ bào thai vũ trụ
mà kinh Lăng già (laṅkāvatara) và các kinh Phật khác gọi là
Như lai tạng (tathāgatagarbha). Với giải thích sơ khởi này,
đoạn dưới đây nói về Tùy sinh (anujāta) và Như Lai (tathāgata)
sẽ trở nên dễ hiểu hơn.
“Khi
nói Tu-bồ-đề sinh ra sau Như Lai, nói thế có nghĩa như vầy:
Như của Như Lai là Như của Tu-bồ-đề, Như như không hai
không khác, vì Chân như là một trong hết thảy các loại hữu
tình và ở đây không hai tướng, không phân biệt, không phân
đôi; trong tất cả Chân như không có đến và cũng không có
đi vì bản lai vô sinh; chúng không chỗ trụ nơi chúng thường
trụ như là những pháp sai biệt; chúng là vô tác, vì có nghĩa
rằng chúng không phải là sở tri như là đang hoạt dụng trong
một phương thế quyết định nào đó để biểu lộ những
tự tướng sai biệt của chúng; thế nhưng chúng cũng không
phải là thường tịch và vô sở tác; chúng luôn luôn Như
như trong tất cả mọi xứ sở, trong tất cả mọi thời gian,
trong tất cả mọi cảnh giới, trong tất cả mọi tụ tập
nhân duyên; trong chúng không từng có quá khứ, không từng
có hiện tại, không từng có vị lai mặc dù chúng hữu tình
được coi như đang hiện hữu, tồn tại và biến mất; chúng
không lệ thuộc sự phân biệt, không sắc tướng sai biệt,
là bất khả đắc; và sau hết dù với những phẩm tính đó
chúng vẫn xuất hiện như là những thực tại, có thể được
định danh, được định nghĩa và được phân biệt, mặc
dù như thế chúng không còn là Chân như nữa. Vì những lý
do đó, Chân như của Tu-bồ-đề là Chân như của Như Lai,
và Chân như của Như Lai là Chân như của hết thảy các pháp,
cả hai không hai không khác. Chân như nhất như biểu hiện
ở đây, nhưng ngay khi nói về Chân như như thế, Chân như
không còn là Chân như nữa. Chân như chỉ là giả danh, nhưng
nếu không có giả danh đó thì không có Như Lai, không có Tu-bồ-đề,
không có Phật, không có A-la-hán không có các loại hữu tình.
Duy chỉ Như Lai mới thấu triệt như thế, không một chúng
sanh nào có thể nắm nổi lý này. Tu-bồ-đề, vì Ngài thấu
hiểu, nên có thể diễn nói những huyền diệu sâu xa của
Bát-nhã ba-la-mật-đa, và vì lý do đó, Ngài là Tùy sinh của
Như Lai.”
Thêm
nữa, chúng ta đọc trong chương XVII, “Tướng Bất thối chuyển
của Bồ-tát”:[102]
“Phật
tử hành đạo trải qua các giai đoạn khác nhau của tâm linh,[103]
nhưng trong tự tính Chân như chúng không hai khác, không phân
biệt. Bồ-tát từ Chân như nhất tướng đó mà có thể nhập
vào Pháp tính (nói gọn: Chân lý). Sau khi nhập vào Pháp tính,
ở đó cũng không sinh ra phân biệt. Dù khi nghe những giáo
pháp khác, Bồ-tát cũng không hủy báng, vì biết rằng có
nhiều pháp môn sai khác dẫn vào pháp tính. Dù khi nghe những
danh tướng và ngôn thuyết, Bồ-tát cũng không sinh nghi hoặc
đối với công năng thù thắng của Chân như mà Ngài đang
hộ trì trong mình.”
Một
trong những hoạt dụng của Bát-nhã, vậy thì, chính là tri
nhận các pháp Như thực hay thấy Chân như tướng của chúng.
Trong Chân như đó, thấy rằng hết thảy mọi loài, mọi sự
hữu, không bị nhiễm ô, do đó chúng là một với chư Phật
và trong phương diện đặc biệt này có thể được gọi là
chư Như Lai. Vì tất cả là một như thế, nên tất cả cùng
là anh em (anujāta: tùy sinh) với nhau, kể cả chư Phật và
Bồ-tát. Cái thai mẹ sinh ra hết thảy những anh em này đích
danh là Như lai tạng (tathāgatagarbha). Vai trò làm mẹ của
Bát-nhã ở đây rõ ràng hơn bao giờ hết, và ý nghĩa đó
thường được dùng để tán dương Bát-nhã càng là tự nhiên.
6.
Bát-nhã và Tính Không.
Kinh
Bát-nhã thông thường được coi như chỉ giảng riêng triết
học về tính Không. Đa số, kể các học giả đạo Phật,
thừa nhận quan điểm này, nhưng đối với nghĩa của tính
Không hình như họ không có một khái niệm nào cho sáng sủa.
Bởi vì học Bát-nhã có nghĩa là nhìn vạn hữu trong Như tướng
và Không tính của chúng, ở đây tôi xin đưa ra một ít nhận
xét về giáo nghĩa tính Không.
Trong
bản dịch Đại Bát-nhã của Huyền Trang, có kể đến 18 hình
thức của Không,[104] và chúng được giải thích kỹ trong
luận Đại trí độ của Long Thọ (Nāgārjuna).[105] Thực ra
lối liệt kê này nói đến khá nhiều ngã đường khác nhau
quyết định dẫn tới ý niệm về Không. Mười tám con đường
diễn tả Không như sau:
(1)
Nội Không (adhyātmā-śūnyatā), Không của các pháp nội tại.
(2) Ngoại Không (bahirdhā-śūnyatā) Không của các pháp ngoại
tại. (3) Nội ngoại Không (adhyātmā-bahirdhā-śūnyatā), Không
của các pháp nội ngoại tại. (4) Không Không (śūnyatā-śūnyatā),
Không của Không. (5) Đại Không (mahā-śūnyatā), Không lớn.
(6)
Đệ nhất nghĩa Không (paramārtha-śūnyatā), Không của chân
lý cứu cánh. (7) Hữu vi Không (Saṁskṛta-śūnyatā), Không
của các pháp hữu vi. (8) Vô vi Không (asaṁskṛta-śūnyatā),
Không của các pháp vô vi. (9) Tất cánh Không (atyanta-śūnyatā),
Không tối hậu. (10) Vô tế Không (anavarāgra-śūnyatā), Không
không biên tế. (11) Tán Không (anavakāra-śūnyatā), Không của
sự phân tán. (12) Bản tính Không (prakṛti-śūnyatā), Không
của bản tính (tự nhiên tính. (13) Tự tướng Không (svalakṣaṇa-śūnyatā),
Không của tự tướng. (14) Nhất thiết pháp Không (sarvadharma-śūnyatā),
Không của vạn hữu. (15) Bất khả đắc Không (anupalambha-śūnyatā),
Không của cái bất khả đắc. (16) Vô tính Không (abhāva-śūnyatā)
Không của vô thể (cái không tồn tại). (17) Tự tính Không
(svabāva-śūnyatā), Không của tự tính. (18) Vô tính tự tính
Không (abhāva-svabhāva-śūnyatā), Không của vô thể của tự
tính (tự tính của cái khong tồn tại.[106]
1.
“Nội” chỉ cho sáu thức (vijñāna). Khi chúng được nói
là Không, có nghĩa tất cả những hoạt động tâm lý của
chúng ta không có thần ngã hay tự ngã linh hồn nằm ở sau,
như chúng ta ai cũng tưởng vậy. Đây là một lối nói khác
của chủ trương thuyết Vô ngã (anātman hay anatta).
2.
“Ngoại” là các đối tượng của sáu thức, tính Không
của chúng có nghĩa không có những bản trụ (hay bản thể)
của ngã chủ tể nằm ở sau. Cũng như không có tự ngã (ātman)
nơi hậu trường của các hiện tượng tâm lý, cũng vậy,
không có tự ngã (anātman) nơi hậu trường của ngoại giới.
Thuật ngữ gọi đó là “pháp vô ngã.” Phật giáo nguyên
thủy dạy cho chúng ta thuyết Vô ngã (Anātman), nhưng người
ta nói chính các nhà Đại thừa mới áp dụng thuyết đó luôn
cho các đối tượng ngoại giới.
3.
Thông thường chúng ta phân biệt ngoại với nội, nhưng vì
không có thực tại cho sự phân biệt này nên ở đây nó bị
phủ nhận; phân biệt này chỉ là một hình thái của vọng
tâm, mối quan hệ có thể bị đảo lộn bất cứ lúc nào,
ở đây không có tính thường trụ bất biến. Thử thay đổi
vị trí, cái nội thành ra ngoại và cái ngoại là nội. Quan
hệ này, đây gọi là Không.
4.
Khi các pháp ngoại và nội được tuyên bố tất cả là Không,
chúng ta tất đi đến nhận thức rằng Không vẫn là một
ý tưởng có thực, hay chỉ có cái đó mới là cái khả đắc
khách quan. Không của Không cốt hủy diệt chấp trước ấy.
Còn giữ một ý tưởng Không tức còn lưu lại một hạt bụi
khi đã tạo thành tất cả.[107]
5.
“Không lớn” (đại không) chỉ cho tính bất thực của không
gian. Thời trước coi không gian là cái có thực một cách khách
quan, nhưng đến các nhà Đại thừa, nó là Không. Các vật
trong không gian lệ thuộc các định luật của sinh tử, tức
bị điều động bởi nhân quả; tất cả mọi người theo
đạo Phật đều nhận điều đó; nhưng họ nghĩ không gian
trong tự thể là thường trụ. Các nhà Đại thừa dạy rằng
khoảng chân không bao la này cũng không có thực tại khách
quan nên ý tưởng về không gian hay trương độ chỉ là ảo
tưởng.
6.
“Chân lý cứu cánh” (Đệ nhất nghĩa)[108] chỉ cho chân
thể của vạn hữu, trạng thái tồn tại chân thực của chúng,
ngoài tất cả hình thái của chủ quan tính. Đây là cái không
bị hủy diệt, không bị gán cho là thế này hay là thế kia,
cũng không thứ gì có thể gán vào đó. Vì vậy, chân lý cứu
cánh (Đệ nhất nghĩa) là Không. Nếu là có thực, nó là một
trong những đối tượng bị chi phối và bị ràng buộc vào
định luật nhân quả. Niết-bàn chỉ là một danh tự nói
khác. Khi Niết-bàn có chỗ để cho bám được, nó sẽ không
là Niết-bàn nữa. Sẽ thấy Không được dùng ở đây có
nghĩa hơi khác với ở số 3, khi những đối tượng nội hay
ngoại được tuyên bố là Không.
7 và
8. Có thể luận chung cả hai. Hữu vi (saṁskṛta) chỉ có những
pháp xuất hiện do các điều kiện của tác thành. Vô vi (asaṁskṛta)
là những pháp không lệ thuộc tác thành, như không gian chẳng
hạn. Nói hữu vi Không là một cách nói khác chỉ cho thế
giới ngoại tại cũng như thế giới nội tại đều Không.
Hiện hữu đôi khi được chia thành hữu vi và vô vi, đôi
khi được chia thành nội và ngoại, đôi khi được chia thành
năm uẩn (skandha), v.v…, theo các quan điểm cần thiết cho
quá trình suy luận. Tuy nhiên, tất cả những phân biệt này
chỉ là tương đối và không có khách thể tính tương đương,
và do đó, là Không. Vô vi hiện hữu, vì đối lại với hữu
vi. Nếu hữu vi không thực có, vô vi cũng không luôn. Cả hai
chỉ là giả danh, là Không.
9.
Chỗ này nhấn mạnh ý niệm tất cả các pháp đều Không
một cách tuyệt đối. “Tất cánh“ tức “Tuyệt đối.”[109]
Phủ nhận thực tại tính khách quan nơi tất cả các pháp
ở đây được chủ trương một cách đương nhiên, không điều
kiện thắc mắc. “Không của Không”, trên thực tiễn, cũng
chỉ cho một cái như nhau. Phòng được quét sạch là nhờ
chổi; nhưng nếu còn chổi thì không phải là Không tuyệt
đối. Quả vậy, phải gạt sang một bên cái chổi, cùng với
người quét, mới mong đạt tới ý niệm về Tất cánh Không
(atyanta-śūnyatā). Còn giữ lại dù chỉ một pháp, một vật
hay một người, là còn có điểm chấp để từ đó sản xuất
một thế giới của những sai biệt rồi kéo theo những ước
muốn và đau khổ. Tính Không vượt ngoài mọi quyết định
tính có thể có, vượt ngoài chuỗi quan hệ bất tận; đó
là Niết-bàn.
10.
Khi nói hiện hữu là vô thủy, người ta nghĩ rằng có một
cái như là vô thủy, và bám vào ý niệm này. Để loại bỏ
chấp trước ấy, mới nêu lên tính Không của nó. Tri kiến
của con người lắc lư giữa hai đối cực. Khi ý niệm về
hữu thủy bị dẹp bỏ, ý niệm về vô thủy đến thay, mà
sự thực chúng chỉ là tương đối. Chân lý lớn của Không
phải ở trên tất cả những đối nghịch này, nhưng không
phải ở ngoài chúng. Vì vậy, kinh Bát-nhã dốc sức khai thông
con đường giữa dù vậy vẫn không đứng y ở đó; vì nếu
thế, hết còn là con đường giữa. Giáo nghĩa tính Không như
vậy phải được minh giải từ quan điểm rất thận trọng.
11.
Không có thứ gì hoàn toàn đơn nhất trong thế gian này. Mọi
vật cuối cùng phải tiến đến chỗ phân tán. Nó hiện hữu
coi chừng như một đơn tố, nguyên dạng, nguyên thể, nhưng
ở đây không thứ gì lại không thể phân chiết thành những
bộ phận thành tố. Chắc chắn nó bị phân tán. Các thứ
nằm trong thế giới của tư tưởng có vẻ như không bị tiêu
giải. Nhưng ở đây sự biến đổi hiện ra dưới một hình
thức khác. Thời gian gây tác động, không có tính vĩnh cửu
nào ngự trị. Bốn uẩn – thọ, tưởng, hành và thức –
cũng chỉ cho sự phân tán và hoại diệt tận cùng. Nói gì
đi nữa, chúng cũng là Không.
12.
Prakṛti (bản tính) là cái làm cho lửa nóng và nước lạnh,
nó là bản chất nguyên sơ của mỗi vật thể cá biệt. Khi
nói rằng nó Không, có nghĩa không có tự ngã (ātman) bên trong
nó để tạo ra bản chất nguyên sơ của nó, và ý niệm đích
thực về bản chất nguyên sơ là một ý niệm Không. Chúng
ta đã ghi nhận rằng không có tự ngã cá biệt nơi hậu cứ
của cái chúng ta coi như vật thể cá biệt, bởi vì vạn hữu
là những sản phẩm của vô số nhân và duyên, và chẳng có
gì đáng gọi một bản chất nguyên sơ nó độc lập, đơn
độc, tự hữu. Tất cả là Không triệt để, và nếu có
thứ bản chất nguyên sơ nào đó, thì có cách nào cũng vẫn
là Không.
13.
Lakṣaṇa (tướng) là phương diện khả tri của mỗi vật
thể cá biệt. Trong vài trường hợp, lakṣaṇa không khác
với bản chất nguyên sơ, chúng liên kết bất phân. Bản chất
của lửa có thể biết qua cái nóng của nó, và bản chất
của nước qua cái lạnh của nó. Một nhà sư thì hiện bản
chất cố hữu của ông ta qua việc tu trì các giới cấm, còn
cái đầu cạo và chiếc áo bá nạp là tướng dạng riêng
của ông ta. Kinh Bát-nhã nói với chúng ta rằng, những khía
cạnh ngoại hiện, khả tri, của hết thảy mọi vật là Không
vì chúng là những giả tướng kết quả do nhiều tập hợp
của các nhân và các duyên; vì tương đối nên chúng không
có thực. Do đó, Tự tướng Không, có nghĩa rằng mỗi vật
thể riêng biệt không có những bản sắc thường hằng và
bất hoại nào đáng gọi là của riêng.
14.
Thừa nhận tất cả các pháp (sarvadharma) là Không, cái đó
hết sức bao quát, vì chữ pháp (dharma) không chỉ riêng cho
một đối tượng của cảm quan mà còn chỉ cho cả đối tượng
của tư tưởng. Khi tuyên bố tất cả những thứ đó là Không,
khỏi cần bàn luận chi tiết gì nữa. Nhưng kinh Bát-nhã hiển
nhiên cố ý không để nguyên trạng tảng đá để đè nặng
những người học Bát-nhã một cách triệt để bằng giáo
nghĩa tính Không. Theo Long Thọ, tất cả các pháp đều mang
các đặc tính này:[110] Hữu tướng, tri tướng, thức tướng,
duyên tướng, tăng thượng tướng, nhân tướng, quả tướng,
tổng tướng, biệt tướng, y tướng. Nhưng hết thảy những
tướng đó không có thường trụ bất biến; tất cả đều
là đối đãi và giả hữu. Người ngu không thể soi tỏ vào
bản chất chân thực của các pháp, do đó trở nên chấp thủ
ý niệm về một thực tại thường, lạc, ngã, tịnh. Khôn
ngoan đơn giản có nghĩa là thoát khỏi những quan điểm tà
vạy đó, vì chẳng có gì trong chúng đáng được nắm giữ
mà không phải là Không.
15.
Đây là loại Không Bất khả đắc (anupalambha). Không phải
vì tâm không bắt được cái ở ngoài tầm tay, nhưng đích
thực chẳng có gì đáng gọi là sở tri. Không, gợi ý không
có, nhưng khi được khoác cho đặc tính bất khả đắc, nó
không còn là phủ định suông. Bất khả đắc, chính bởi
không thể làm đối tượng cho tư niệm đối đãi qua tác
dụng của thức (vijñāna). Khi thức được nâng lên để thành
trí (prajñā), bấy giờ cái “Không Bất khả đắc” được
nhận ra. Kinh Bát-nhã e rằng người nghe phải kinh hãi khi nghe
kinh đưa ra khẳng quyết táo bạo rằng tất cả đều là rỗng
không, nên kinh nói thêm rằng sự vắng mặt của những ý
tưởng sinh ra từ chỗ đối đãi không chỉ cho cái ngoan không,
cái không trống trơn; nhưng đơn giản, đó là cái Không không
thể bắt nắm được.
Với
người trí, Không này là một thực tại. Lúc sư tử cất
tiếng rống, những thú vật khác hoảng sợ, tưởng tiếng
rống ấy là cái rất phi phàm, gần như một thứ mà chúa
tể sơn lâm “đạt được” rất hi hữu. Nhưng đối với
sư tử, tiếng rống đó chẳng kỳ lạ gì, chẳng có hi hữu
đạt được hay thêm vào. Với kẻ trí cũng vậy, không có
“cái rỗng không” trong họ đáng coi như riêng họ bắt được
làm đối tượng cho tư tưởng. Chỗ sở đắc của họ là
vô sở đắc.
16.17
và 18. Những loại này có thể luận chung. Ở đây hiện hữu
được nhìn từ quan điểm hữu (astitva) và phi hữu (nāstitva);
cả hai, đứng riêng biệt hay tương đối, đều được nói
là Không.
Vô
tính (abhāva) là phủ định của hữu, cùng một nghĩa với
Không. Tự tính (svabhāva) có nghĩa “nó là nó”, nhưng không
có cái Nó nào như thế, cho nên Không. Vậy thì, đối nghịch
của hữu và phi hữu là thực chăng? Không; nó cũng không luôn,
vì mỗi phần tử trong đối lập vốn là Không.
Tôi
tưởng, ý nghĩa đích thực của “Không” đã được làm
sáng tỏ bằng những giải thích cặn kẽ đó. Đừng có lẫn
lộn Không với không chi; cũng đừng tưởng rằng có một
đối tượng của tư tưởng được gọi là Không, vì ý tưởng
này đi ngược hẳn với bản chất đích thực của Không.
Chớ nên xác định nó như là tương đối tính, như một số
học giả quan niệm. Chính kinh Bát-nhã dạy rằng các pháp
hiện hữu tương quan liên hệ như là những kết quả của
những tập hợp duyên sinh và do đó chúng là Không. Nhưng vì
lý do này chúng ta không thể bảo rằng tương đối tính và
tính Không đồng nghĩa nhau. Sự thực, nói rằng tất cả mọi
cái đều tương đối là một chuyện, nhưng nói chúng là Không
là một chuyện khác hẳn. Không, là thành quả của trực giác
chứ không phải hậu quả của suy luận, mặc dù ở đây dùng
chữ “do đó” để suy ra hiệu quả này. Ý niệm về tính
Không phát khởi từ kinh nghiệm và để đặt cho nó một cơ
sở luận lý, nên mới đặt tiền đề là tương đối tính.
Nhưng, nói nghiêm chỉnh theo luận lý, có một hố ngăn giữa
tương đối tính và tính Không. Tương đối tính không tạo
cho chúng ta một bước nhảy vượt qua hố ngăn: nếu còn dừng
lại ở tương đối tính, chúng ta vẫn còn quanh quẩn trong
một vòng tròn: nếu nhận ra rằng chúng ta đang ở trong một
vòng tròn và do đó phải bước ra khỏi để thấy nó toàn
diện, bây giờ chúng ta mới nhận ra cần phải vượt qua nó
tức khắc. Bất cứ lúc nào chúng ta nói tới tương đối
tính, thì tính Không hiện diện ngay lúc đó. Từ tính Không
chúng ta vượt qua tương đối tính, nhưng không có trường
hợp ngược lại. Phân tích này khá quan trọng cho việc thấu
hiểu nền triết lý Bát-nhã. Chính Trí Bát-nhã soi thấy tất
cả những hàm ngụ của tính Không, chứ thức hay vijñāna
không làm được, và chỉ những kẻ trí mới mở ra con mắt
Trí Bát-nhã để thấy chân lý của tính Không. Nếu hệ thống
Đại thừa được xây dựng trên ý niệm về tương đối
tính, sứ mệnh của nó hẳn không bao giờ đáp ứng những
gì mà chúng ta thấy trong lịch sử của nó ở Ấn độ, Trung
hoa, và vân vân. Giáo nghĩa tính Không đã làm nên những điều
kỳ diệu trong đời sống của các dân tộc Viễn đông, đó
là một minh chứng không thể chối cãi cho trực kiến sâu
xa của nó soi tận hố thẳm ý thức nhân loại.
Vì
những lý do đó, tính Không được gọi là Bất khả đắc
(anupalabdha) hay bất khả tư (acintya), đồng thời cho thấy
nó không phải là một khái niệm được lồng vào trong bất
cứ phạm trù nào của luận lý. Nó đồng nghĩa với Chân
như (tathatā). Chân như hay tính Không như thế đích thực là
đối tượng học hỏi của các Bồ-tát.
7.
Bát-nhã và Như Huyễn
Một
trong những thí dụ lừng danh được các nhà triết học Bát-nhã
sử dụng khi họ muốn gây cho chúng ta một ấn tượng về
học thuyết tính Không, đó là Như Huyễn (māyā). Các luận
sư khác thường gọi họ là những nhà Thuyết huyễn (māyāvādin).
Như Huyễn có nghĩa là gì? Xin trích một vài đoạn để thấy
ý nghĩa Như Huyễn.
- Phật
hỏi Tu-bồ-đề: “Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao, huyễn
(māyā) khác sắc (rūpa),[111] sắc khác huyễn? Lại nữa, ý
ông nghĩ sao, huyễn khác thọ (vedanā), tưởng (saṁjñā), hành
(saṁskāra), thức (vijñāna)? Thọ, tưởng, hành, thức khác
huyễn?”
- Tu-bồ-đề
thưa: “Bạch đức Thế Tôn, chúng không khác. Nếu sắc khác
huyễn, sắc không phải là sắc; nếu huyễn khác với sắc,
huyễn không phải là huyễn. Huyễn là sắc và sắc là huyễn.
Thọ, tưởng, hành và thức cũng vậy.”
- Phật:
“Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao, năm thủ uẩn có phải là
Bồ-tát hay không?”
- Tu-bồ-đề:
“Bạch đức Thế Tôn, không.”
Phật:
“Này Tu-bồ-đề, ông nên biết rằng, năm thủ uẩn tức
thị huyễn. Tại sao? Bởi vì sắc là như huyễn. Thọ, tưởng,
hành, thức cũng là như huyễn; năm uẩn và sáu căn tức thị
Bồ-tát, cho nên Bồ-tát cũng như huyễn. Nếu ai muốn học
Bát-nhã ba-la-mật-đa, hãy nên như huyễn mà học… Nhưng Bồ-tát
sơ trụ Đại thừa, nếu theo các bậc thiện trí thức mà
học, khi nghe pháp đó sẽ không sinh ra kinh hoàng và sợ hãi.”
[112]
Quả
thực, nếu ai nghe bài pháp như thế mà không được một minh
sư thấu triệt Bát-nhã ba-la-mật-đa thân hành hướng dẫn,
sẽ bị đưa tới những điên rồ phóng đãng. Chúng ta hãy
nghe thêm:
- Phật
nói: “Ví như huyễn sư (māyākāra) ở giữa ngã tư đường
dùng huyễn pháp của mình làm hiện ra một đám người đông
đảo. Vừa hiện ra tức thì biến mất. Này Tu-bồ-đề, ý
ông nghĩ sao? Đám người huyễn đó có chỗ đến thực sự
ư? Chúng có thực? Chúng thực có chỗ đi đến? Chúng biến
mất thực ư?”
- Tu-bồ-đề
nói: “Bạch đức Thế Tôn, không.”
- “Phật
nói: “Bồ-tát cũng như vậy. Tuy độ vô lượng vô số chúng
sinh đưa đến Niết-bàn, kỳ thực không có chúng sinh được
dẫn tới Niết-bàn. Những ai không chút kinh sợ khi nghe những
pháp như thế, đó đích thực là những Bồ-tát mình mặc
giáp trụ Đại thừa.” [113]
- Tu-bồ-đề
nói với Mãn TừTử (Pūrṇa-Maitrayāniputra): “Sắc của người
huyễn không trói không mở. Thọ, tưởng, hành, thức cũng
vậy, không trói không mở. Chân như sắc của người huyễn
cũng vậy và bốn uẩn kia cũng vậy, không trói không mở.
Tại sao? Vì vô sở hữu (asadbhūtatvāt) nên không trói không
mở; vì viễn ly (viviktatvāt) nên không trói không mở; vì bất
sinh (anutpannatvāt) nên không trói không mở. Nếu Bồ-tát biết
rõ như vậy là thực sự an trụ trong Đại thừa, mình vận
giáp trụ Đại thừa.” [114]
Bấy
giờ các Thiên tử (Devaputra) hỏi Tu-bồ-đề: “Phải chăng
tất cả chúng sinh cũng đều như huyễn?”
- Tu-bồ-đề
nói: “Này các Thiên tử, hết thảy chúng sinh cũng đều như
huyễn, và lại nữa, cũng đều như mộng (svapna). Tại sao?
Bởi vì hết thảy chúng sinh cùng với huyễn, mộng không hai
không khác. Vì vậy, hết thảy chúng sinh đều như huyễn,
như mộng. Bốn quả Thanh văn (Śrāvaka) và Bích-chi-Phật (Pratyekabuddha)
cũng đều như huyễn như mộng. Cả đến Vô thượng chính
đẳng chính giác cũng như huyễn như mộng.”
- Các
Thiên tử nói: “Nếu thế, cho đến Niết-bàn cũng như huyễn
như mộng?”
- Tu-bồ-đề:
“Quả thực, Niết-bàn cũng như huyễn như mộng; huống chi
các pháp khác!”
- Các
Thiên tử: “Tại sao thế?”
- Tu-bồ-đề:
“Dù có pháp nào cao hơn Niết-bàn, tôi cũng nói là như huyễn
như mộng. Bởi vì, huyễn mộng và Niết-bàn, không hai không
khác.” [115]
Từ
quan điểm này, đương nhiên những người tín phụng Bát-nhã
kết luận rằng: “Phật chỉ là danh tự giả tướng (nāmadheya-mātra).[116]
Bồ-tát chỉ là danh tự giả tướng; Bát-nhã ba-la-mật-đa
cũng chỉ là danh tự giả tướng; vì hết thảy danh tự giả
tướng đó vốn không là hiện khởi chân thật (anabhinirvṛta).”[117]
Danh
tự chưa từng có sinh khởi thực thụ, chúng như hư không,
không hề có dấu vết đến hay đi, và do đó hoàn toàn vượt
ngoài mọi hình danh sắc tướng. Nói cách khác, hư không (ākāśa)
tức tính Không. “Pháp của Phật tùy thuận với tự tính
của hết thảy các pháp, mà hết thảy các pháp vốn bất
khả đắc. Pháp lìa mọi chướng ngại. Cũng như hư không,
lìa hết thảy các chướng ngại. Các pháp như hư không nên
vượt ngoài hết thảy các ngôn thuyết. Các pháp là bình đẳng
nên vượt ngoài pháp hiện khởi. Các pháp vốn vô diệt nên
vượt ngoài pháp diệt tận. Các pháp vốn vô tướng nên vượt
ngoài thủ tướng. Các pháp vốn vô xứ nên hết thảy xứ
đều bất khả đắc.” [118]
Từ
những trích dẫn trên, ta có thể cảm thấy như đang kéo ra
kết luận rằng Pháp (Dharma) của các kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa
kỳ cùng là một thứ ảo ảnh, mộng mị, xa vời, gần như
đồng với vô thể. Nếu quán sát hết thảy các pháp tùy
thuận Bát-nhã ba-la-mật-đa tức quán sát chúng tùy thuận
với Nhất thiết trí. Nếu quán sát hết thảy các pháp tùy
thuận với Nhất thiết trí tức quán sát chúng tùy thuận
với bản tính hư không (ākāśa). Và nếu thế, giáo pháp của
Bát-nhã kỳ cùng đáng gọi là giáo pháp về không vô, vô
sở hữu, đích danh là “thuyết Như huyễn” (māyāvāda),
học thuyết nói về tính phi thực của vạn hữu. Cho nên,
đừng lấy làm lạ: Kinh không ngớt cảnh giác độc giả chớ
kinh ngạc, chớ sợ hãi, chớ khiếp đảm, vì những nghĩa
lý này, khi nghe về triết lý của thậm thâm Bát-nhã ba-la-mật-đa
(gambhīra-prajñāpāramitā).[119] Rồi, với những lý do đó,
chúng ta đã có thể tuyên bố rằng Bát-nhã là như huyễn,
như mộng, giả danh, và Đại thừa là một lâu đài xây trên
bãi cát, được chưa? Nó chỉ là một trò chơi chữ với những
bong bóng và tiếng vang ư? Một số học giả đã kết luận
cả quyết như vậy, nhất là các học giả Tây phương. Khó
mà đứng trên khái niệm về tính bất thực của vạn hữu
và cũng khó mà nắm vạn hữu trong thực tính Như Như của
chúng. Hiểu rõ thuyết Như huyễn là nhận được Như Như
của vạn hữu.
Dân
Ấn lừng danh về tài huyễn thuật, đương nhiên các triết
gia đạo Phật muốn vẽ ra bản chất mong manh của đời sống
cũng dùng các lối huyễn thuật. Nhưng đừng hiểu lối nói
của họ qua nghĩa đen. Chúng ta phải cố đạt tới ý nghĩa
trung thực của nó. Như đã nhắc nhở nhiều lần, sức mạnh
luận chứng mà kinh Bát-nhã chọn nhắm đối trị mê lầm
căn để trong cái nhìn của chúng ta thường ném vào thế giới,
tức cái nhìn duy thực ngây ngô. Khuôn mặt thực của thứ
duy thực đó là coi thế giới như một thực tại thường
trụ vĩnh viễn và nằm trơ ra đó ngược với những gì được
nhận như là thế giới nội tại của tư tưởng, tình cảm
và cảm giác, một thế giới được điều động bởi ngã
linh hồn cô lập với những cái khác và tranh sống với chúng.
Một trong những khí giới tuyệt hảo để hủy diệt sức
mạnh của óc duy thực ngây thơ là tuyên bố rằng tất cả
như huyễn, và rằng, không có trật tự vĩnh viễn cố định
trong thế gian, rằng khái niệm phân đôi về hiện hữu, nội
tại và ngoại tại, hữu thể và vô thể v.v… là ảo tưởng,
và rằng muốn đạt tới căn cơ chân thực của hiện hữu
thì phải thức tỉnh Trí Bát-nhã mới có thể điều chỉnh
tất cả mọi thứ chấp thủ, dù tri thức hay tình cảm; và
cũng nhờ đó mới có thể nhận Chân như tính của hiện hữu
và hành động theo đó. Kinh Bát-nhã bà-la-mật luôn luôn nhắm
tới công dụng này cho nên triết lý của nó bất chấp tưởng
tượng bốc cao, bất chấp bí nhiệm như sương mù.
Đạo
Phật mà có ý nhận một nền triết lý nào đó, chỉ vì để
bứng gốc rễ của phiền não (kleśa) đã từng chôn chặt
hoạt dụng thong dong vô ngại của Trí Bát-nhã. Phiền não
bao giờ cũng nghiêng lệch, và tạo ra mọi hình thái chấp
trước, rồi do phiền não và chấp trước mới tạo ra các
hành vi tội lỗi qua ba ngã đường thân, miệng và ý, rồi
chúng lại dẫn tới những tái diễn bất tận y như thế.
Cho nên, chúng ta biết rằng những khoái lạc và đau khổ đáng
phải hứng chịu đây, chẳng có bản tính thường hằng nào
cả; các đối tượng của khoái lạc và đau khổ cũng vậy,
chúng giả tạm và biến thiên như huyễn. Hoàn toàn không có
thực tại bất biến. Chúng chỉ là những giả tướng, và
phải thấy chúng là giả tướng chứ không có giá trị nào
nữa. Đối với các giả tướng, chúng đang ở đó, và sự
kiện đó đừng bao giờ quên lãng. Nhưng bám vào chúng lấy
làm những cùng đích, người trí biết rõ lắm, vì con mắt
Bát-nhã của họ đã mở rồi, rọi thẳng vào hang sâu của
thực tại. Theo ngài Long Thọ (Nāgārjuna),[120] trẻ thơ thấy
mặt trăng trong nước, trong lòng nổi dậy ước muốn vớt
trăng lên, rồi duỗi tay vào nước. Nhưng nào có nắm được
nó đâu, nên quá đỗi phiền muộn. Bấy giờ người khôn
mới dạy cho rằng cái thấy trong nước đó không thể nắm
được. Cũng vậy, không phải phủ nhận thế giới của những
giả tưởng; chỉ phủ nhận tính chất khả thủ khả đắc
của nó. Thế giới sai biệt có đó, trước mặt kẻ trí cũng
như người ngu; khác nhau chăng ở chỗ, trí thấy nó mà tâm
không ôm cứng lấy; còn ngu thì dời xa một chút không nổi
để vào cảnh giới của tính Không. Bồ-tát đã nhận ra bức
màn như huyễn như thế; chỉ những ai đang còn trong vòng trói
buộc mới cho nó là có thực.
Vì
vậy, phải dựa trên hậu cứ của tính Không hay Chân như
mà hiểu thuyết như huyễn. Nếu không, huyễn vẫn y nhiên
là huyễn, và những người theo đạo Phật sẽ không bao giờ
biết đặt chân vào đâu, mặc dù không ai dám nói đặt chân
vào cõi phân biệt. Nếu không giảng luận ra như thế, Như
huyễn sẽ hoàn toàn vô nghĩa trong giáo pháp của Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Câu nói: “Cho đến Niết-bàn cũng như huyễn, như mộng”,
sẽ không hơn một câu trào lộng. Như huyễn là một chỉ
điểm viên. Ai theo nó một cách thông minh sẽ thấy đằng
sau màn bạc có một thế giới của những huyền diệu không
thể tả và những thực tại “bất khả đắc”.
8.
Bát-nhã và Trực quán
Để
hiểu lập trường của Bát-nhã như là một giáo nghĩa triết
học, cần phải dò xem nền tảng của nó đặt ở đâu. Nếu
không dò trúng chỗ đó, phê bình chỉ là việc thả mồi bắt
bóng. Vậy thì, nền tảng của Bát-nhã ba-la-mật là đâu?
Theo giải thích của các nhà Đại thừa, nó không tựa trên
luận lý; mà tựa trên những trực giác hay trực quán. Muốn
hiểu nó thấu đáo, đòi hỏi một bước nhảy từ luận lý
sang tới bờ bên kia. Khi người ta muốn khai thông nó mà không
có kinh nghiệm này, hệ thống hoàn toàn trở thành một đống
hỗn độn hay một mớ từ ngữ khó hiểu. Đa số các tác
giả bước tới Đại thừa mà không có đầu mối khẩn yếu
này. Họ phải vứt bỏ những luận chứng của khái niệm.
Ý
nghĩa của sự vứt bỏ đó là gì trong giáo nghĩa Bát-nhã?
Theo các nhà Đại thừa, luận lý học – tạm gọi như vậy,
hay phương cách tư duy thông tục của chúng ta, là sự khuếch
đại của lối giải thích nhị nguyên về hiện hữu – astitva
và nāstitva, hữu và phi hữu. Óc nhị nguyên này chi phối tất
cả tư duy của chúng ta. Không bao giờ rời khỏi cái đó được
nếu chúng ta còn lệ thuộc những điều kiện của tư duy.
Đối nghịch của “A” và “phi A” là mấu chốt, là tọa
điểm giao thoa của trí lực. Nhưng, cũng lạ, tâm tình hay
trí não chúng ta không bao giờ dừng nghỉ chừng nào chúng
ta vượt qua vị trí cốt yếu hơi có tính cách luận lý này.
Luận lý học thông tục là công cụ hữu ích nhất trong đời
sống thực tiễn của chúng ta, vì nếu không có nó, chúng
ta không mong gì vựợt lên bình diện hiện hữu của thú vật.
Chính bởi chúng ta có khả năng tạo thành những khái niệm
nên tợ hồ có thể bước ra khỏi mình, ra khỏi những kinh
nghiệm trực tiếp của mình. Nó là khí giới tuyệt diệu
mà các loài vật anh em của chúng ta không có bằng. Bất hạnh
là chúng ta đã quá say sưa với khả năng tạo thành khái niệm
của mình để rồi dần dần rứt mình ra khỏi căn nguyên
thể tính của mình – cái căn nguyên cho phép chúng ta dựng
thành những ý niệm và đưa ra suy luận trừu tượng. Kết
quả của sự kiện đó là chúng ta bắt đầu cảm thấy hơi
bất an. Ngay cả khi chúng ta tin tưởng tính cách chính xác
và minh triết của luận lý học, hình như vẫn cưu mang một
cảm giác trống rỗng nào đó trong lòng, không thể đặt để
nó vào trong luận lý, nhưng bản thân luận lý học với tư
cách là một toàn thể hình như thiếu một sức mạnh nòng
cốt nào đó để gây tin tưởng. Trong bất cứ biến cố nào,
chúng ta bất mãn với chính mình và với toàn thể thế giới
chừng nào chúng ta còn bám vào óc phân đôi về có (asti) và
không (nāsti), “A” và “phi A”.
Có
lẽ, cái mệnh danh luận lý học của chúng ta chỉ là công
cụ ích lợi tối hậu nhờ đó chúng ta nắm bắt những sự
thể nằm trên các mặt nổi của đời sống. Tinh thần, hay
những gì ngụ nơi phần sâu thẳm trong thể tính chúng ta,
đòi hỏi thứ gì hoàn toàn phi niệm, tức cái trực tiếp
và thấu suốt hơn tri thức suông. Tri thức suông lấy những
chất liệu của nó từ các khái niệm. Tâm linh đòi hỏi những
tri giác trực khởi. Đương nhiên, nếu muốn cho tâm linh được
thỏa mãn, ta phải đánh thức những gì đáng gọi là tri giác
sâu hơn hay cao hơn, tự bộc lộ qua các quan năng phàm tục
nhưng không bị buộc ràng vào đó.
Mục
tiêu tối hậu của tất cả các pháp môn Phật học là thức
tỉnh giác quan nội tại này. Đối với Bát-nhã cũng vậy,
sự thức tỉnh ấy là một sự thể tối cần yếu ở đây.
Tất cả những giáo pháp được trình bày trong các kinh, hết
thảy những lời phát biểu táo bạo mà người học được
cảnh giác là chớ kinh hãi, đấy là những cái nhìn được
mở rộng trước giác quan đã thức tỉnh của Bồ-tát. Chúng
là những trực giác của Ngài; là biện chứng của những
kinh nghiệm trực tiếp của Ngài, chứ không là biện chứng
của những khái niệm. Đây là lý do tại sao kinh thường nhắc
nhở luôn việc nhìn thấy các pháp một cách như thực (yathābhūta).
Cần phải ghi nhớ rằng “thấy” chứ không “suy lý” hay
“suy luận” một cách có luận lý như đang bàn ở đây.
Yathābhūta là từ ngữ duy nhất khả dĩ áp dụng cho hành vi
thấy hay nhìn, chứ không phải quá trình của suy luận.
Các
nhà Đại thừa chú trọng quan điểm mới mẻ này, thâu hoạch
được do sự thức tỉnh của giác quan nội tại vốn là Bát-nhã
hay Nhất thiết trí, và họ tuyên bố nó là sự thể căn bản
hơn luận lý học suông. Tuy rằng một phát biểu của Bát-nhã
ba-la-mật, xét trên mặt luận lý, có thể là vô lý hay mâu
thuẫn quá chừng, nhưng nó thỏa mãn hoàn toàn cho tâm linh,
nếu như nó là một phát biểu như thực hoàn toàn phù hợp
với giác quan nội tại đang hoạt dụng trong một lãnh vực
ngoài lưỡng cực hữu và vô. Vậy, người ta nói những phát
biểu như thế mang bản tướng của như thực tính (yathābhūtatā);
hay đơn giản, chúng là phát biểu của Chân như (tathatā).
Nói rằng chúng hoàn toàn không có chất luận lý, điều đó
không có nghĩa rằng chúng là giả ngụy. Nếu nói tới chân
lý, trong chúng có quá nhiều chân lý. Chân có nghĩa “là như
thế”; yathābhūtatā cũng chỉ có nghĩa là thế.
Những
phát biểu về tri giác trực khởi trong cảnh giới siêu việt
hữu và vô (astitva-nāstitva) cố nhiên thừa sức làm khiếp
đảm kỳ cùng cho những ai mà đôi mắt chưa từng ngước
nhìn vượt lên trên môi trường phân đôi vụ lợi của thế
giới tình thức. Công bố rằng tất cả là huyễn (māyā),
tất cả là mộng, chắc chắn gây khiếp sợ. Nhưng nơi đây
chúng ta hãy đứng lên trên kiến giải phân đôi về hiện
hữu, và chúng ta nhận ra rằng cái gì có, là có vì cái gì
đó không, và cái gì không là không vì cái gì đó có. Chúng
ta không thể tách riêng ra một rồi tuyên bố đó là cái tối
hậu. Nhưng đấy là sự thể chúng ta đang thực hành trong
đời sống thường nhật và trong luận lý học phàm tục của
mình. Khi kinh Bát-nhã nói rằng tất cả như huyễn, thì đơn
giản chỉ miêu tả những gì nó thấy như thực (yathābhūta)
trong thế giới tình thức này. Như huyễn, nói xác thực hơn,
là: “cái có mà như không có”.[121] Đấy không phải từ
chối thế giới một cách toàn triệt. Bề ngoài, nó là một
phủ định, nhưng cùng lúc nó khẳng định sự thể nào đó
ở đằng sau. Luận lý học không thể chiếm cứ vị trí này,
nhưng trực giác Bát-nhã làm được. Những người học kinh
điển Đại thừa luôn luôn được khuyến cáo hãy ghi nhớ
kỹ điều đó trong tâm.
9.
Bát-nhã như là Bất khả đắc và Tương đối tính
Vị
trí của Bát-nhã ba-la-mật đó, đạt được do thức tỉnh
giác quan nội tại, được gọi là bất khả đắc (anupalabdha).
Đây không tránh khỏi những nghịch lý. Biện chứng của Hegel
cũng có thể giải thích chúng như là phù hợp với định
luật của luận lý học. Nhưng trong Bát-nhã, khỏi cần xuyên
qua quá trình của chính đề, phản đề và tổng đề, vì
trong thế giới trực giác của Đại thừa không hề có thừa
nhận một quá trình quanh co như thế, đi từ ý niệm này tới
ý niệm khác. Một khi vượt qua thế giới được kiến thiết
bằng lưỡng nguyên tính, cái bất khả đắc là cái khả đắc,
và cái khả đắc là cái bất khả đắc. Có thể gọi đây
là quan điểm siêu việt của Bát-nhã ba-la-mật.
Bây
giờ chúng ta có thể thấy tại sao các học giả sai lầm muốn
đồng nhất thuyết tính Không với thuyết tương đối tính.
Theo họ, tất cả vạn hữu đều không, vì hiện hữu của
chúng hoàn toàn bị chi phối bởi nguyên lý tương đối tính,
cũng giống như nói rằng tất cả vạn hữu được buộc vào
định luật nhân quả. Nếu triết lý đạo Phật tựa trên
nhân duyên và nghiệp báo, đấy chỉ cho tương đối tính;
nếu tất cả vạn hữu là như thực vì màng lưới nhân quả
bủa lên toàn bộ đẳng cấp của hiện hữu, và nếu chúng
mang bản sắc là tính Không như thế, tính Không là tương
đối tính này khó mà chấp nhận được; cái gọi là đồng
nhất chỉ là sự hỗn hợp. Những độc giả này không nắm
trọn mục đích của Đại thừa, họ vẫn giữ nguyên lập
trường cố hữu của mình, tức lập trường đại khái có
sẵn trước khi thức tỉnh giác quan nội tại mà chúng ta đã
đề cập tới.
Để
lãnh hội một cách trung thực, yathābhūtam, tính Không là gì,
không thể không có sự thức tỉnh (sambodhi). Thức tỉnh
(giác ngộ, sambodhi) tức lật ngược (chuyển y, parāvṛtti),
như thường xuyên được nhắc nhở trong các kinh điển Đại
thừa như Lăng già (Laṅkāvatāra), v.v… Lật ngược hay quay
lui, có nghĩa là lật ngược trật tự của viễn ảnh tinh
thần. Những gì thường mang đặc tính lưỡng nguyên bây giờ
được nhìn từ mặt mê hoặc của nó. Mặt trong, trước kia
bị che lấp, nay vén mở hẳn ra cho thấy toàn diện. Đến
đây, mọi vật được nhìn từ vị trí vừa phát kiến mới
mẻ. Đương nhiên, cái nhìn về thế giới phải thay đổi;
sự vật được nhìn từ bên ngoài không như sự vật được
nhìn từ bên trong. Cây được quan sát theo màu sắc hiển hiện
là những cành lá đong đưa theo gió; nhưng bấy giờ không
còn là một thân cây khác với những cây cùng loại, khác
những vật chung quanh; lá không còn xanh nữa; không có những
cành nhánh đong đưa theo gió; không có những đóa hoa nở rộ;
và tất cả những thứ đó tan biến mất; những gì xuất
hiện cho các giác quan và được thiết lập bởi tư tưởng,
hoàn toàn đi mất; ở đây là một thế giới mới. Tất cả
những gì là “khả đắc” vẫn còn đó; nhưng cái đó bị
biến đổi - dù không đổi thành một trạng thái không hư,
vì không hư vẫn là dư hương của một sự tình nào đó.
Thiếu tất cả những hình thái biểu lộ này, kinh Bát-nhã
gọi là “bất khả đắc”, là “không”, là “vô quái
ngại”, v.v..
Ở
đây không hề có tương đối tính để chỉ cho tác dụng
cơ giới của nó. Tương đối tính là một trong những khái
niệm mà chúng ta đã dệt thành lúc chiêm quan hiện hữu từ
quan điểm hữu và vô, ở đó mọi vật đều có đối thể
của nó, mỗi “A” đều kèm theo cái “phi A” của nó. Từ
vị trí này, người ta không thể bước vào cảnh giới của
tính Không; phải rời hẳn vị trí đó; bao lâu triết gia còn
níu chặt vào đây, tương đối tính của ông vẫn săn đuổi
ông từng bước; ông không thể kéo vật nào khác ra khỏi
nó; không bao giờ nó tự biến hình để trở thành tính Không,
để đi vào thế giới của tính Không, hiện hữu tự nó phải
được sửa soạn để thực hiện một bước nhảy. Phải
đặt kinh nghiệm vào ngay giữa lòng hiện hữu và nhìn mọi
vật từ trục giữa này. Cứ ở lại trên mặt lưỡng nguyên
đó, rồi sẽ không bao giờ có thể bắc cầu được giữa
hố cách của tương đối tính và tính Không. Vạn hữu trong
thế gian là tương đối, vì tự tính của chúng vốn Không;
không có ngược lại. Tính Không chỉ được trực nhận sau
khi thức tỉnh giác quan nội tại, sau khi có chuyển y (parāvṛtti)
trong A-lại-da thức (ālayavijñāna). Duy chỉ sau chuyển y đó,
và cũng là một bước nhảy vọt đó, chúng ta mới có thể
nói những câu như thế này: “Tất cả đều bị buộc ràng
trong chuỗi dây duyên khởi, và do đó nên Không”,[122] hay
“Tất cả đều như Huyễn, tất cả đều Không”; hoặc
“Tất cả đều như thế (yathābhūta) mà không như thế”.[123]
Khi
các người theo đạo Phật nhắc tới chuỗi nhân duyên quả
(hetupratyaya hay kāraṇasamutpāda) để cắt nghĩa sự cấu tạo
của một đội thuyền hay chế tác một Phật tượng,[124]
và nói rằng không có thứ gì được tạo ra mà không có tác
nhân và các duyên, và nói thêm nữa rằng chúng không đến
từ những phương hướng nhất định nào, cũng không có biến
mất vào những phương hướng nhất định nào, ý tưởng này
có thể hình như nhắm tới sự đồng nhất của tương đối
tính và tính Không. Trong một bản Hán dịch của kinh Bát-nhã,
có tên Đạo hành Bát-nhã,[125] chúng ta có đoạn sau đây:[126]
“Như
cung điện nhà trời có các trời cõi Sắc cứu cánh cư ngụ.
Vẻ đẹp lộng lẫy của chúng hơn hẳn mọi vật trên mặt
đất. Nhưng chúng tự có như vậy, không phải từ đâu mang
đến ở đây, cũng không phải do một tác giả đã tạo tác
ra chúng từ không chi, và cũng không ai biết chúng từ đâu
và đến đâu. Chúng hiện hữu do định luật duyên khởi;
khi những dân trời đã thành thục do những hành vi từ trước
để thọ hưởng các cung điện nhà trời sáng chói lộng lẫy,
chúng hiện hữu. Cũng vậy, khi các nhân và các duyên đã thành
thục, chúng sinh có thể thấy Phật thân. Trước tiên chúng
ôm khát vọng được thấy Phật; rồi chúng chứa nhóm hết
thảy các loại công đức do thực hành các hành vi thiện;
chúng tránh không thọ sinh vào tám nơi khổ nạn; do có trí,
chúng có tín tâm đầy đủ nơi Phật. Khi các duyên này đã
đầy đủ, chúng sẽ tham bái Phật. Và Phật thân thì không
từ đâu đến và không đi về đâu; không có tác giả, không
có ai mang đến đây để làm lợi ích cho những người tin
tưởng, không có tướng; không bị hệ vào đâu; như cung điện
trời Sắc cứu cánh, tự hiện thân ở đó để khiến hết
thảy chúng sinh thành tựu giải thoát cứu cánh…”
Thuyết
nhân duyên sinh (kāraṇsamutpāda) như được nói ở đây chỉ
có thể áp dụng cho thế giới của lưỡng nguyên và của
tụ tập. Nơi nào không có những hiện khởi như vậy, thuyết
nhân duyên sinh tức thì mất hết ý nghĩa. Chừng nào chúng
ta còn bị ràng buộc vào một thế giới của những sai biệt,
chúng ta thấy đâu cũng là duyên sinh và tương đối, bởi
vì đấy là nơi chúng hoạt dụng. Nhưng vì chúng ta không thể
thỏa mãn với tình trạng này, không chỉ trên tâm linh mà
còn cả trên luận lý theo nghĩa sâu của chữ này, chúng ta
nhảy vào sự sống hay sự chết qua vực thẳm không đáy khơi
mở trước mắt. Bước nhảy đặt chúng ta vào cõi Không,
và chúng ta nhận ra rằng cuối cùng chính cái Không nằm dưới
thế giới của những nhân và những duyên đó.
Do
Không mà có tạo tác của nhân duyên; Không là một tấm vải
trên đó duyên sinh tô vẽ những bức họa vô cùng sặc sỡ.
Như thế, Không đến trước nhưng không phải trước trong
thời gian vì thời gian giả định một chuỗi duyên sinh; cái
đến trước có nghĩa là cái căn bản. Khi người ta có thể
nghĩ đến duyên sinh hay tương đối tính được, là vì chúng
đã sẵn trong Không. Sự phân biệt này tối quan trọng trong
tất cả các kinh nghiệm tôn giáo của chúng ta, và cố nhiên
trong tất cả tư tưởng triết lý sáng tỏ của chúng ta. Do
đó, các triết gia Bát-nhã nhấn mạnh rằng, Không là ý niệm
căn bản nhất khi những trực giác của họ cố hiện thân
qua trung gian của tri thức. Nó không phải là một khái niệm
tiêu cực, mà là tích cực quyết liệt. Chỉ có vẻ tiêu cực
đối với những ai chưa đi qua phía bên kia màn bạc. Chưa
vào tới sân, tri thức dao động và những suy luận sai lầm
nổi lên vô số.
Rủi
thay, các học giả coi nhẹ sự kiện rằng trong kinh Bát-nhã
và trong các kinh điển khác của Đại thừa, Śūnyatā, và
Tathatā hay Yathābhūtatā đều được sử dụng đồng nghĩa
khi diễn tả một tư tưởng đồng nhất. Nếu tính Không là
một từ ngữ tiêu cực và không hàm ngụ khẳng định nào,
nó không hề được dùng để tạo lập lâu đài tôn giáo
cho Đại thừa Phật giáo. Quả thực là điều ngạc nhiên
khi thấy một số phê bình gia quá thành kiến và quá nông
cạn, họ không thể thấy những nhu cầu của thói thường
là cảm thấy có cái khẳng định, và do đó, là cái trì giữ
linh hồn. Nói đại khái, tâm hồn Đông phương hướng nội
và trực giác, mà hành động hướng ra ngoại giới hầu như
từ trung tâm tính thể của nó. Có thể không như tâm hồn
phương Tây, rất chuộng lý và yêu hệ thống, và bởi lý
do đó không thể vươn cao tới những sự thực nền tảng
của đời sống. Những ai bắt đầu từ một thế giới thiết
lập trên lưỡng nguyên họ không thể phá hủy sự thiết
lập này và không thể trở về căn nguyên vô căn của nó.
Chính đề (astitva) và phản đề (nāstitva) có thể được
nâng lên một tổng đề, nhưng cuối cùng tổng đề vẫn là
một ý tưởng, một khái niệm, và không bao giờ trở thành
một kinh nghiệm; và, do đó, khi họ được hỏi: “Cái Một
về đâu?” họ mù tịt không tìm đâu ra câu giải đáp.[127]
Các
triết gia có thể coi thường trực giác, nhưng có nhiều trình
độ trong trực giác. Sâu nhất là những gì được chứng
nghiệm bởi các tâm hồn triết học tôn giáo nằm trong trình
độ của Bát-nhã ba-la-mật. Nhưng khi trực giác của họ được
phiên chuyển thành những ngôn từ của tri thức tương đối,
quá vô vị, tiêu cực, vô nghĩa! Thế là khó mà lãnh hội
nổi Bát-nhã ba-la-mật. Từ đó, mới có những cảnh giác
thường xuyên của nó, không cốt để ẩn mình dưới một
tấm chăn, không phải để nuôi dưỡng bóng tối của hoài
nghi, không cốt để gây cảm giác thất vọng, khiếp đảm,
bị đe dọa.[128]
10.
Bát-nhã và Phản lý
Sau
khi nhìn ra vị trí của Bát-nhã như thế, chúng ta có thể
nhận ra tại sao nó đầy dẫy những cách ngôn phủ định
và những xác nhận phản lý. Nếu cần phải diễn tả, những
trực giác của nó không thể diễn ra cách nào khác. Sự thực,
chúng ta có thể nói, tất cả những chân lý sâu xa kích động
tâm hồn đều được giới thuyết một cách nghịch lý, đến
độ, quả thực, chúng ta gần như phải tưởng tượng rằng
các tác giả nọ vốn bí nhiệm một cách phóng túng và bất
cẩn. Những trích dẫn dưới đây cho thấy điển hình:
-Tu-bồ-đề
hỏi: “Như thế nào là Bồ-tát có thể học năm uẩn khi
thực hành Bát-nhã ba-la-mật sâu xa?”
-Phật
nói: “Bồ-tát có thể học được năm uẩn khi thực hành
Bát-nhã ba-la-mật sâu xa do như thực biết 1) tướng (lakṣaṇa)
của năm uẩn; 2) sinh diệt của năm uẩn; 3) chân như của
năm uẩn.”
“(1)
Sắc (rūpa) không rốt ráo chắc thật; vì có vô số những
lỗ hổng và những kẽ hở,[129] vì như bong bóng nước. Thọ
(vedanā) như mụt nhọt, như mũi tên,[130] khởi lẹ và diệt
lẹ; như bọt nước, trôi nổi bồng bềnh; thọ khởi khi tổ
hợp ba cùng khởi.[131] Tưởng (saṁjñā) như quáng nắng, không
thực có suối nước trong đó;[132] do khát ái mà khởi, do
ngôn ngữ mà biểu lộ nhưng không có sự thực nào trong đó.
Hành (saṁskāra) như cây chuối, khi lột bỏ bẹ không còn
lại gì cả. Thức (vijñāna) như huyễn sự, do các duyên hòa
hiệp giả thi thiết mà có, như huyễn sư làm hiện ra đám
quân ở giữa ngã tư đường; tuy tợ có, kỳ thực không có
thực.”[133]
“(2)
Đối với sinh diệt của năm uẩn. Bồ-tát biết như thực
rằng lúc sinh không từ đâu đến, lúc diệt không đi về
đâu; tuy không đến không đi mà cùng tương ứng với sinh
diệt.”
“3)
Sau hết, Bồ-tát như thực biết rằng Chân như của sắc vốn
không sinh không diệt, không đến không đi, không nhiễm không
tịnh, không tăng không giảm, thường như tính của nó, không
hư vọng, không biến dị, chỉ nên gọi là chân như.”[134]
Lập
trường của Bát-nhã không nhất thiết phải phủ nhận cái
được mệnh danh là hiện tượng giới; nó cho thế giới có
quyền hạn khi thì sinh khi thì diệt, lúc có lúc không. Nhưng
cùng lúc nó không quên xác nhận rằng những gì chúng ta thấy
thành và hoại ở đây đều là những bóng mờ thoảng qua
của sự thể đằng sau đó, thì ý nghĩa của những bóng mờ
thoảng qua sẽ không bao giờ được nhận thực và được
thẩm định đúng mức. Do đó, các nhà Đại thừa luôn luôn
cẩn thận chi ly phân biệt “khả đắc” và “bất khả
đắc“, nói như thuật ngữ, “khả đắc” nằm trong thế
giới được thiết lập trên lưỡng nguyên này và “bất
khả đắc” nằm trong một thế giới vượt lên trên. Bất
cứ ở đâu có chỗ cho tương phản giữa có và không, ở
đó có khả đắc tính, và do đó, có chấp thủ, vốn là địch
thủ của giác ngộ và giải thoát.
“Phật
nói với Tu-bồ-đề: Những nơi nào có hai tướng, là hữu
sở đắc; những nơi nào không có hai tướng, là vô sở đắc.
Khi mắt đối sắc, hay ý đối pháp là có hai tướng. Khi có
giác để chứng đối Phật người chứng, là có hai tướng.
Pháp nào nương tựa nơi hai tướng là pháp hí luận, thuộc
vào cõi hữu sở đắc.”
“Phi
mắt phi sắc, phi tai phi thanh, phi ý phi pháp, cho đến phi giác
phi Phật; lìa hết thảy những hí luận như thế, đó là vô
nhị, không hai. Đó là chỗ vô sở đắc.”
-Tu-bồ-đề
hỏi: “Phải chăng vì hữu sở đắc nên là vô sở đắc?
Hay vì do vô sở đắc nên là vô sở đắc?”
-Phật
nói: “Không phải do hữu sở đắc nên là vô sở đắc. Cũng
không do vô sở đắc nên là vô sở đắc. Nhưng vì hữu sở
đắc và vô sở đắc đều bình đẳng trong tự tính nên gọi
là vô sở đắc. Bồ-tát nên ân cần tu học trong bình đẳng
tính của hữu sở đắc và vô sở đắc này. Bồ-tát khi học
như thế, gọi là học Bát-nhã ba-la-mật trong nghĩa vô sở
đắc, lìa bỏ các sai lầm.”
-Tu-bồ-đề
lại hỏi Phật: “Nếu Bồ-tát Ma-ha-tát khi thực hành Bát-nhã
ba-la-mật sâu xa, không dính hữu sở đắc, không dính vô sở
đắc, Bồ-tát đó làm thế nào tu hành thậm thâm Bát-nhã
ba-la-mật-đa lại có thể từ một địa tiến tới một địa,
dần dần đến chỗ tròn đầy mà chứng đắc Nhất thiết
trí trí?”
-Phật
bảo Tu-bồ-đề: “Bồ-tát khi thực hành Bát-nhã ba-la-mật
sâu xa, không phải trụ hữu sở đắc, không phải trụ vô
sở đắc, thực hành Bát-nhã sâu xa có thể từ một địa
tiến lên một địa, dần dần tròn đầy mà chứng đắc Nhất
thiết trí trí. Tại sao thế? Bát-nhã ba-la-mật thậm thâm
là vô sở đắc, Nhất thiết trí trí cũng là vô sở đắc;
người thực hành Bát-nhã ba-la-mật, chỗ thực hành và khi
thực hành, tất cả cũng đều là vô sở đắc; vô sở đắc
này cũng là vô sở đắc.”[135]
Đấy
tưởng chừng vô nghĩa, nếu chúng ta tự hạn cuộc vào khía
cạnh tương đối của hiện hữu, hay ở hí luận của phàm
tục. Nhưng chúng ta hãy lật ngược trật tự của vạn hữu;
hãy nhìn thế giới sai biệt từ phía nào tự vén mở cho con
mắt nội tâm bấy giờ đã mở do quá trình chuyển y (parāvṛtti)
và chúng ta sẽ nhận ra rằng tất cả những phản lý kia có
thể lắm. Những phản lý như thế là do vị trí của chúng
ta. Vấn đề là chúng ta có thể từ bỏ vị trí này hay không,
có thể nhận một vị trí hoàn toàn mới mẻ nơi đó vạn
hữu được chiêm nghiệm từ chân như tướng của chúng, hay
không. Như chúng ta đã thấy, muốn đạt tới đó, phải nhiều
nỗ lực kỳ cùng được thúc đẩy bởi một yêu sách khẩn
thiết trong lòng. Vị trí mới chỉ được mở ra cho chí nguyện
của chúng ta, chứ không cho tri thức. Luận lý dừng lại ở
đây; các ý tưởng không thể tự phối trí thành một chuỗi
trình tự của kiến giải và phân tích. Tri thức phải tuân
theo những chỉ thị của ý chí. Cánh cửa bắt buộc phải
mở ra, và chúng ta thấy một cảnh giới của những cái vô
sở đắc trải dài trước mắt. Chính trong cảnh giới này
mà chúng ta đạt tới vô sở đắc bằng cách không thực sự
đạt tới nó. Các nhà phê bình có thể nói: “Nếu thế chúng
ta không bắt được gì hết, vì chúng ta vẫn đứng nguyên
chỗ như trước khi chuyển y (parāvṛtti). Nếu quả vậy, cần
gì phải tự nỗ lực cho một tình trạng như thế? Khi chúng
ta có một cái mà tưởng chừng như không có, thì thực tế
cũng chẳng khác nào như đã không có nó ngay từ đầu.”
Lý luận có vẻ chính xác nếu ta liên hệ nó với trí năng.
Nhưng ta nên nhớ lại rằng chúng ta đã đi sang bờ bên kia
của tri thức, và rằng những gì được nói ra đều được
nói sau bước nhảy. Lịch sử của kinh nghiệm nằm chen ở
giữa; đấy là một biến cố lớn tạo nên hố cách không
thể vượt qua, giữa triết học và giáo nghĩa Bát-nhã.
11.
Vô sở đắc và Vô thủ trước
Bất
khả đắc, vô sở đắc (anupalabdha), hay vô thủ trước (aparāmṛṣṭa).
Vô sở đắc còn có một âm vang của trí thức, trong khi vô
thủ trước là thuật ngữ cho xúc cảm. Xác nhận rằng “Nhất
thiết trí vốn là vô thủ trước” (aparāmṛṣṭā hi sarvajñatā)
sự thực là một trong những điệp khúc mà chúng thường
gặp trong kinh điển Bát-nhã. Theo đó chúng ta được gây xác
tín vững mạnh rằng kinh điển Đại thừa là một tài liệu
mô tả những cái nhìn về mặt khác của đời sống không
bị chi phối bởi lưỡng tính của có (astitva) và không (nāstitva).
Những đoạn văn dưới, chữ aparāmṛṣṭa được thay thế
bằng chữ aśleṣa và asaṅga, cùng chỉ cho một ý niệm giống
nhau; tác giả của chúng ta cố hết sức cho chúng ta có ấn
tượng về sự quan trọng của giáo thuyết vô trước.
“Bồ-tát
khi chứng đắc chính giác, giảng cho hết thảy chúng sinh về
pháp bất trước (aśleṣa). Bất trước có nghĩa là không
bị buộc ràng bởi sắc (rūpasyāsambandhā), bởi thọ, tưởng,
hành, thức. Khi một người không bị buộc ràng bởi chúng,
người ấy không hệ vào sự sinh và diệt của chúng. Do vô
sở trước, người ấy không bị trói buộc cũng không được
cởi mở.”[136]
“Bát-nhã
ba-la-mật-đa này thật khó tin, khó hiểu. Bởi vì, sắc không
phải trói không phải cởi. Tại sao? Vì sắc lấy vô tính
(asvabhāva) làm tự tính. Các uẩn khác cũng vậy. Chúng không
có tự tính, không có tiền tế, không có trung tế, không có
hậu tế. Vì không tự tính là tự tính của nó, nên không
có trói buộc, không có cởi mở. Vì vậy, Bát-nhã ba-la-mật-đa
thật là khó nắm bắt.”[137]
“Nếu
chấp vào danh (nāma) và tướng (nimitta), ấy là chấp trước
(saṅga). Danh và tướng là những sản phẩm của phân biệt
(vikalpa). Phân biệt xảy ra khi Bát-nhã ba-la-mật bị chấp
trước là như vậy. Phân biệt, chấp trước và thất ly Bát-nhã
ba-la-mật là những chữ đồng nghĩa và thay thế nhau trong
ngôn thuyết của Phật giáo Đại thừa. Sắc là Không (rūpaṁ
śūnyam), nhưng khi khẳng nhận như thế, là chấp trước (saṅga),
và chấp trước khiến chúng rời xa Bát-nhã ba-la-mật.”
“Giả
sử một Bồ-tát sơ phát tâm, đã trải qua tu tập Bồ-tát
hạnh, và do đó ôm giữ ý tưởng cho rằng đã chứa nhóm
công đức. Nhưng khi móng khởi tâm niệm này là đã có chấp
trước, không còn tương ứng với Bát-nhã ba-la-mật. Bất
cứ ở đâu có phân biệt, là có dẫn tới chấp trước; hoặc
có thể nói ngược lại rằng bất cứ ở đâu có chấp trước
là có phân biệt. Chỉ chứng đắc chính giác khi nào không
có chấp trước, không móng khởi tâm niệm, không có hai tướng
có và không (astitva vā nāstitva); vì chính giác là vô trước,
và tự tính của nó là không tự tính.”[138]
Sự
vượt ngoài phân biệt, chấp trước, và không có tự tính
như vậy, còn được gọi là một cảnh giới của “thanh
tịnh tuyệt đối” (atyantaviśuddhi: tất cánh tịnh). Và kinh
nói do bởi thanh tịnh tuyệt đối đó mà Bát-nhã ba-la-mật
là quảng đại chiếu diệu, là vô hòa hiệp, là vô sở đắc,
là vô sở chứng, là vô sở liễu tri, là vô sinh, là vô diệt,
là vô trụ, v.v….[139]
Để
làm sáng tỏ thêm triết lý về cái bất khả đắc, tức cái
tịch tĩnh tuyệt đối (tất cánh tịch tĩnh), như được diễn
tả trong kinh Bát-nhã, tôi trích một đoạn khác trong kinh,
chương nói về như huyễn.[140]
-Bấy
giờ Tu-bồ-đề hỏi: “Tâm như huyễn làm sao có thể chứng
đắc Vô thượng Chính đẳng Bồ-đề?”
-Phật
nói: “Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao, ông thấy có tâm là như
huyễn ư?”
-Tu-bồ-đề
thưa: “Bạch, không thấy có.”
-Phật
nói: “Ông thấy có huyễn chăng?”
-Tu-bồ-đề:
“Không thấy có.”
-Phật:
“Khi ông không thấy có huyễn, không thấy có tâm như huyễn,
ý ông nghĩ sao, có pháp nào ngoài sự huyễn và tâm như huyễn
mà đắc Vô thượng chính giác chăng?”
-Tu-bồ-đề:
Thưa không. Không thấy có pháp nào như vậy. Nếu có pháp
nào ngoài tâm như huyễn, pháp ấy cũng không thể nói là hữu
hay là vô. Tất cả là tất cánh viễn ly (atyantavivikta) và
trong tất cánh viễn ly đó không có pháp nào có thể nói là
hữu hay là vô; không có pháp nào gọi là phải tu, không có
pháp nào gọi là phải chứng. Vì lý do đó, Bát-nhã ba-la-mật
là tất cánh viễn ly. Vô thượng chính đẳng bồ đề cũng
vậy. Giữa hai tất cánh viễn ly không thể có liên hệ nào;
chúng ta không thể nói cái này như là phương tiện để chứng
đắc cái kia; cũng không phải cái kia như là cái sở đắc.
Bồ-tát mà chứng đắc Vô thượng chính đẳng bồ đề là
do bởi Bát-nhã ba-la-mật. Nhưng Bồ-tát cũng là pháp tất
cánh viễn ly, và chúng ta không thể dựng lên một khẳng định
nào cho sự chứng đắc đó, ngay cả đắc Vô thượng chính
đẳng bồ đề.
Phật:
“Lành thay, Tu-bồ-đề. Đúng như lời ông nói. Tất cánh
viễn ly là hết thảy các pháp - Bồ-tát, Bát-nhã ba-la-mật
và Vô thượng chính đẳng bồ đề. Nhưng Bồ-tát ở trong
pháp tất cánh viễn ly đó mà như thật biết rõ Bát-nhã ba-la-mật
và đạt tới tri kiến rằng Bát-nhã ba-la-mật là tất cánh
viễn ly cho nên Bát-nhã ba la mật tức phi Bát-nhã ba-la-mật.
Quả thực Bồ-tát nhân Bát-nhã ba-la-mật mà chứng đắc Vô
thượng chính đẳng bồ đề nhưng ở trong đó không pháp
nào là khả thủ, là khả đắc; do không thủ, không đắc,
nên Bồ-tát chứng đắc Vô thượng chính đẳng bồ đề mà
không phải là do viễn ly chứng đắc viễn ly.” [141]
12.
Thực tại như được nhìn từ bên kia
“Tất
cánh viễn ly” (atyantaviviktā), “tất cánh thanh tịnh” (atyantaviśuddhi),
“vô sở đắc” (anulabdha), “vô sở trước” (aśleṣa,
hay asaṅga, hay aparāmṛṣṭa), “vô phược vô giải” (abaddhāmukta),
“vô sinh vô diệt” (anutpādānirodha), “vô sở trụ” (asthita),
“vô sở y” (anāśrāya), “vô tận” (akṣaya), “vô đạo
hành” (apatha), “vô xứ hành” (apada), v.v… tất cả những
thuật ngữ này thường xảy ra trong kinh Bát-nhã, và đến
từ cảnh giới tính Không. Khi chúng ta nỗ lực lãnh hội chúng
trên quan điểm luận lý thông tục, vướng vít trong bản sắc
đối đãi, tương đối, của hiện hữu, thì hình như chúng
không có nghĩa lý gì lắm; ý nghĩa của chúng quá tiêu cực,
quá tối tăm, khó cho chúng ta định những phương hướng rõ
rệt xem dẫn về đâu. Tuy nhiên, ngay khi chúng ta vứt bỏ cứ
điểm tương đối tính được dựng lên trên lưỡng nguyên,
và bước thẳng vào đời sống nội tại của vạn hữu, có
lẽ chúng ta lãnh hội được những từ ngữ tối mò này,
thậm chí nghĩ rằng thế giới nội tại đó chỉ có thể
diển tả được bằng loại thuật ngữ đó. Đời sống tôn
giáo, kỳ cùng, là một đời sống để mà sống và để chứng
nghiệm; không phải là một khái niệm phải suy tưởng, nhưng
tâm người trơ quá nên không thể bỏ qua việc nói về đời
sống. Lối nói của Bát-nhã như thế, gần như là những sự
trào vọt từ tri thức của các thiên tài Đại thừa.
Học
hỏi hay thực hành Bát-nhã ba-la-mật, do đó, là bước tới
cõi tuyệt đối cô tịch, tuyệt đối không. Trí Bát-nhã thường
ẩn bóng trong những vùng tiềm ẩn thâm sâu nhất của tâm
thức. Nếu nó không được thức tỉnh hẳn ra để thấy mặt
kia của thực tại, thấy Thực tại Như thực (yathābhūta),
thì không sao tránh khỏi sự trói buộc của vô minh và khổ
lụy. Cởi mở được thế, gọi là chứng đắc Vô thượng
chính giác hay Nhất thiết trí (sarvajñatā). Bát-nhã ba-la-mật
là chủ đích của tất cả Bồ-tát hạnh. Khi đạt tới chỗ
đó, mà kỳ thực không có gì để đạt tới cả. Đấy là
ý nghĩa của những câu: “Trong Như, không có tri giác về
Như”; “Không phải do tất cánh tịch tĩnh mà chứng đắc
tất cánh tịch tĩnh”; “Có thành tựu, nhưng không có phân
biệt (vikalpa), vì Bát-nhã ba-la-mật là vô phân biệt”; v.v…
Có người cho rằng những câu ấy là thần bí vì lẽ chúng
phi lý và vượt ngoài suy lý có pháp thức. Có thể đúng như
vậy, vì “bất khả tư nghị” (acintya) là một trong các
từ ngữ ưa dùng nhất trong tất cả văn học Đại thừa.
Nhưng từ cứ địa của các triết gia Bát-nhã, chúng không
phải là những cái phi lý; chỉ là một lời nói mà họ cho
rằng đúng theo cái thấy trong con mắt Bát-nhã của mình.
Khởi
đầu, vì không hài lòng với bản thân và với thế giới
mệnh danh khách quan giới, họ săn đuổi Thực tại khắp nơi,
để có thể sống an lành trong hay với thực tại đó. Chuyển
y (parāvṛtti) xuất hiện đâu đó trong tâm họ. Trật tự
của vạn hữu bị đảo ngược. Vũ trụ (sarvadharma) không
còn bị che khuất bởi sở tri bao phủ dày đặc rậm rịt
từ trước. Bấy giờ đã vứt bỏ hoàn toàn sở tri đó rồi.
Vạn hữu được nhìn gần như từ mặt trái. Thế giới của
sắc, thọ, tưởng, hành, thức vẫn ở đó như trước kia,
nhưng được bao quanh bởi sợi tơ bạc của Chân như (tathatā)
và thực sự không còn như là một sự kiện lẻ loi bị bứt
khỏi gốc rễ. Tuy nhiên, không có những gốc- rễ không gốc-rễ,
chúng ta chỉ còn nước dật dờ như một chiếc lá khô trước
cơn gió mùa thu, và sự dật dờ phiêu đãng ấy đích thực
là, nói như thuật ngữ của đạo Phật nói, vô minh, luân
hồi và khổ. Cảnh trí đã thay đổi, và để diễn tả sự
thay đổi đó một cách đơn giản không cần văn lý, các tác
giả của Bát-nhã bấy giờ dốc cạn khả năng văn học của
họ.
Những
cái được gọi là phi lý hay phản lý, chỉ có nơi các nhà
triết học và luận lý, chứ không ở nơi hành giả của Bát-nhã.
Các
đạo sư của Bát-nhã luôn luôn đặt cứ điểm hay cứ địa
(sthāna, trú xứ) của họ ở bờ bên kia (param) của thế giới
tương đối này. Thế thì hình như đang phủ nhận thế giới
này, coi nó như là huyễn, như là mộng, như là tiếng vang
v.v… Ngay dù họ có nói tới những phương trời của tính
Không - Śūnyatā, thì Śūnyatā đó cũng là không và không trụ
xứ cố định. Bởi vì Không của họ là Không tuyệt đối,
không hề có đối nghịch, tuyệt đối không là loại hay tính
gì cả. Vậy, Chân như mới ra là một trong những từ ngữ
thích hợp nhất mà họ dùng để chỉ cho tính Không. “Tuyệt
đối Không” hay “tất cánh tịch tĩnh“ quả thực khó mà
hiểu thấu cho những hạng nặng óc phân hai. Đấy là lý do
tại sao Bát-nhã thường xuyên cảnh giác độc giả chớ nên
kinh sợ khi nghe nói tới pháp Không; phải gióng hồi trống
cho vang dội lên trong họ một cuộc hủy diệt toàn triệt.
Và những ai tức khắc ôm nổi pháp đó không hề có chút
do dự, người đó được tán dương là đã từng nghe nó trong
nhiều đời quá khứ. Sự cảnh giác và sự quả quyết ấy
chứng tỏ rằng trí Bát-nhã là cái phi thường cùng cực;
và chính vì nó phi thường, nên trật tự bình thường của
vạn hữu hoàn toàn bị đảo ngược trong Bát-nhã ba-la-mật.
Há không sửng sốt nếu biết rằng ngọn Hiei (Tỉ duệ sơn)
mà người dân Kyoto nhìn thấy hằng ngày ở phía Đông-Bắc
của thành phố bây giờ không còn là có thực nữa? Hoặc
hơn thế nữa, tất cả mọi phương trời gồm tất cả những
tinh tú đã từng rọi xuống mặt đất này qua hằng triệu
năm rồi đều chỉ là những bọt bèo trong đại dương của
cái Không vĩnh cửu? Ai là người không kinh hãi trước những
tuyên bố táo tợn này? Nhưng đấy lại là lời tuyên bố
ngân vang suốt cả kinh Bát-nhã. Hoằng đại thay, thâm áo cùng
cực thay cái trực giác thổi cho toàn thể vũ trụ này bốc
lên như bọt nước bay vào trong cõi hoằng viễn của tính
Không tuyệt đối (atyanta-śūnyatā, tất cánh không)!
Tính
không là tuyệt đối khi đứng một mình, ném bỏ hết mọi
thuộc tính. Chừng nào còn phải nhắc t