THIỀN
PHÁI TÌ NI ĐA LƯU CHI
Thiền
sư TÌ NI ĐA LƯU CHI(1)
(?-594)
Chùa
Pháp Vân(2), hương Cổ Châu, huyện Long Biên.
Thiền
sư người miền Nam nước Thiên Trúc(3) dòng dõi Bà la môn(4),
từ nhỏ có chí vượt lên thế tục, từng đi nhiều nơi trong
nước Tây Trúc mong được truyền tâm ấn của Phật,
như pháp duyên chưa gặp gỡ. Rồi ông xách gậy đi về p hía
đông nam. Năm Nhâm Ngọ niên hiệu Đại Kiến thứ 6(5) nhà
Trần (Trung Quốc), lần đầu tiên đến kinh đô Trường An.
Gặp lúc Chu Vũ đế tàn sát Phật giáo ông đi về đất Nghiệp
(Hồ Nam). Hồi đó tổ thứ ba (của Thiền tông Trung Hoa) là
Tang Xán lánh nạn đến ẩn ở núi Tư Không. Gặp Tăng Xán,
thấy phong độ phi phàm, ông đem lòng kính mộ, liền chắp
tay ba lần nhưng Tăng Xản vẫn ngồi yên không đáp. Trong lúc
chờ đợi, Tì Ni Đa Lưu Chi đứng suy tư, thấy trong lòng rạng
rỡ như có điều sở đắc liền sụp xuống lạy tạ ba lạy.
Tổ Tăng Xán cũng chỉ gật đầu ba lần mà thôi. Ông lùi
ba bước thưa rằng:
- Đệ
tử từ trước đến nay chưa có cơ hội, xin hòa thượng đại
từ bi cho đệ tử được hầu bên tả hữu.
Tổ
Tăng Xán nói:
- Người
mau đi về phương nam tiếp xúc với thiên hạ, không nên ở
lâu tại đây.
Sư
bèn từ biệt tổ đi xuống miền nam, ở lại chùa Chế Chỉ,
trong khoảng sáu năm(1) sư dịch được các bộ kinh tượng
đầu, Báo nghiệp sai biệt. Tháng 3 năm Canh tí niên hiệu Đại
Tường nhà Hởu Chu (580) sư sang nước ta, trụ trì ở chùa
Pháp Vân, dịch thêm kinh Tống trì, một quyển.
Một
hôm sư gọi đệ tử thân cận là Pháp Hiền đến bảo rằng:
- Đại
phâm tâm ấn của chư Phật không lừa dối ta. Tâm ấn ấy
tràn đầy như thái hư, không thiếu, không thừa, không đi
không tới, không được không mất, chẳng một, chẳng khác,
chẳng thường, chẳng đoạn; vốn không ở chỗ sinh, cũng
không ở chỗ diệt, không lìa xa mà cũng chẳng không lìa xa(2)
vì phải đối lập các nhân duyên hư võng mà phải đặt giả
ra các tên nha vậy. Cho nên chư Phật Tam thế(3) đều do đó
mà đắc pháp, tổ các đời cũng do đó mà đắc pháp, ta cũng
do đó mà đắc pháp, ngươi cũng do đó mà dắc pháp. Đến
như có tình hay không có tình đều cũng lấy đó mà đắc
pháp. Vả lại tổ ta là Tăng Xán truyền tâm ấn ấy cho ta,
bảo ta mau đi về phương nam để giao tiếp với thiên hạ,
không nên ở lâu tại đó. Trái từ bấy đến nay ta với người
gặp gỡ, quả là ứng hợp với lời huyền ký. Ngươi phải
khéo giữ gìn. Đã đến lúc ta phải ra đi rồi.
Nói
xong sư chắp tay mà qua đời. Pháp Hiền làm lễ hỏa táng,
thu xá lị năm sắc rồi dựng tháp phụng thờ. Bấy giờ là
vào năm Giáp dần niên hiệu Tùy Khai Hoàng thứ 14 (594).
Vua
Lý Thái Tông (1028 – 1054) có bài kệ truy tán thiền sư như
sau:
Sáng
tự lai Nam quốc
Văn
quân cứu tập thiền
Ưng
khai chư Phật tin
Viễn
hợp nhất tâm nguyên
Hạo
hạo Lăng Già nguyệt
Phân
phân Bát Nhã liên
Hà
thì lăn diện kiến
Tương
dữ thoại trùng huyền.
Dịch:
Sang
nước Nam truyền đạo
Xứng
danh bậc túc thiền
Mở
niềm tin đức Phật
Xa
hợp một tâm nguồn
Trăng
Lăng Già(4) vằng vặc
Sen
Bát Nhã(5) thơm truyền
Biết
bao giờ gặp mặt
Cùng
nhau nói đạo huyền.
Vua
phong tặng sư là...
Thế
hệ thứ nhất (1)
Thiền
sư PHÁP HIỀN
(?-626)
Chùa
Chúng Thiện, núi Thiên Phúc, huyện Tiên Du.
Thiên
sư họ Đỗ, người huyện Chu Diên, thân cao bẩy thước ba
tấc. Lúc đầu sư xuất gia thụ giới cụ túc với đại sư
Quán Duyên ở Chùa Pháp Vân, hàng ngày cùng các tăng hữu nghe
đại sư truyền giảng yếu chỉ Thiền tông. Bấy giờ thiền
sư Tì Ni Đa Lưu Chi từ Quảng Châu đến chùa này. Thấy sư,
Tì Ni Đa Lưu Chi nhìn kỹ rồi hỏi:
- Ngươi
họ gì?
Sư
hỏi lại:
- Hòa
thượng họ gì?
Tì
Ni Da Lưu Chi nói:
- Ngươi
không có họ ư?
Sư
đáp:
- Họ
không phải không có. Nhưng hòa thượng cần gì phải biết?
Tì
Ni Đa Lưu Chi quát bảo:
- Biết
để làm gì?
Sư
bỗng nhiên tỉnh ngộ liền sụp lạy, bèn được thiền chỉ.
Sau khi Tì Ni Đa Lưu Chi tịch diệt, sư bèn đến núi Thiên
Phúc tu tập thiền định, quên hết cả vật lẫn bản thân
mình, chim rừng bay đến vây quanh, dã thú tới đùa rỡn. Người
đương thời hâm mộ danh tiếng đến học đạo với sư đông
không kể xiết. Nhân đó, sư dựng chùa Chúng Thiện nhận
tuyển dạy học trò. Tăng đồ đến lưu học tại chùa có
khi đông đến hơn ba trăm người. Dòng thiền Nam phương hưng
thịnh từ đó. Thứ sử nhà Tùy là Lưu Phương tâu về triều.
Tùy Cao tổ từ lâu đã nghe tiếng người nước Nam này sùng
chuộng đạo phật, đã có các bậc cao tăng đức vọng, bèn
sai sứ đem xá lỵ Phật và năm hòm sắc điệp sang ban cho
sư để xây tháp cúng dàng. Sư bèn chia xá lỵ cho chùa Pháp
Vân ở Luy Lâu và các chùa có tiếng ở các châu Phong, Hoan,
Trường, Ái(1)
để dựng pháp thờ. (Nguyên chú: xem thêm ở truyện Thiền
sư Thông Biện).
Sư
thị tịch năm Bính tuất niên hiệu Đường Vũ Đức Thứ
chín (626).
Thế
hệ thứ hai
1 người
Thế
hệ thứ ba
1 người
Thế
hệ thứ tư
1 người
Thiền
sư THANH BIỆN
(?-686)
Chùa
Kiến Dương, hương Hoa Lâm, phú Thiên Đức.
Thiền
sư người hương Cổ Giao(1), họ Đỗ, năm mười hai tuổi
thụ nghiệp với thiền sư Pháp Đăng, Chùa Phổ Quang. Khi Pháp
Đăng sắp thị tịch, sư hỏi:
- Hòa
thượng đi rồi, đệ tử sẽ nương nhờ vào ai?
Pháp
Đăng nói:
- Chỉ
sùng nghiệp mới xong!
Sư
mờ mịt không hiểu ý. Sau khi Pháp Đăng tịch diệt, sư chuyên
tâm trì tụng kinh Kim Cương(1). Một hôm có vị thiền khách
đến thăm, sư hỏi:
- Kinh
này là mẹ của các Phật tam thế, thầy hiểu “mẹ Phật”
là thế nào?
Sư
đáp:
- Tôi
từ trước đến nay trì tụng kinh này nhưng cũng chưa hiểu
ý ấy.
Khách
hỏi:
- Trì
tụng đã bao lâu?
Sư
đáp:
- Tám
năm.
Khách
nói:
- Tám
năm chỉ trì tụng một kinh mà chưa hiểu ý nghĩa thì dẫu
trì tụng cả trăm năm nào có công dụng gì?
Sư
bèn sụp xuống xin khách chỉ giáo. Khách bảo sư phải tìm
sư Huệ Nghiêm ở chùa Sùng Nghiệp mà thỉnh vấn.
Sư
tỉnh ngộ nói:
- Nay
tôi mới biết hòa thượng Pháp Đăng nói đúng.
Sư
bèn theo lời của vị thiền khách lên đường đi yết kiến
Huệ Nghiêm. Khi đến nơi, Huệ Nghiêm hỏi:
- Ngươi
đến có việc gì?
Sư
đáp:
- Đệ
tử trong tâm có điều chưa ổn.
Huệ
Nghiêm hỏi:
- Chưa
ổn cái gì?
Sư
thuật lại đối thoại với vị thiền khách bữa trước.
Huệ Nghiêm than rằng:
- Ngươi
quên hết rồi! Sao ngươi không nhớ trong kinh có nói: “Các
Phật tam thế cùng lối pháp A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ đề(1)
đều xuất xứ ở kinh Kinh Cương, thế chẳng phải là “mẹ
của Phật hay sao?”
- Quả
thật đệ tử còn mê muội!
Huệ
Nghiêm lại hỏi:
- Thế
kinh ấy là ai nói?
Sư
đáp:
- Chẳng
phải là lời thuyết pháp của Như Lai hay sao?
Huệ
Nghiêm nói:
- Trong
kinh nói: “Nếu nói Như Lai có thuyết pháp điều gì thì tức
là phỉ báng Phật”. Câu ấy người ta không giải được.
Cái nghĩa ta vừa nói, ngươi thử nghĩ xem, nếu nói kinh ấy
không phải là lời thuyết pháp của Phật thì thế là phỉ
báng kinh; nếu lại nói đó đúng là những lời thuyết pháp
của Phật thì lại là phỉ báng Phật. Sao ngươi lại cứ
đòi ta phải trả lời ngay?
Sư
nghĩ ngợi, còn định hỏi thêm, Huệ Nghiêm bèn cầm phất
trần đánh vào miệng. Sư đột nhiên tỉnh ngộ, bèn sụp
lạy. Sau sư đến trụ trì chùa Kiến Dương thuyết pháp giảng
hóa cho tông đồ.
Sư
quy tịch năm Bính Tuất niên hiệu Đường Thùy Cung thứ 2
(686)
*
*
*
Thế
hệ thứ năm
1 người
Thế
hệ thứ sáu
1 người
Thế
hệ thứ bảy
1 người
Đều
chép thiếu.
Thế
hệ thứ tám
3 người
chép thiếu 2 người.
Thiền
sư ĐỊNH KHÔNG
(?-808)
Chùa
Thiện Chúng, hương Dịch Bảng, phủ Thiên Đức.
Thiền
sư người hương Cổ Pháp, họ Nguyễn, thuộc dòng vọng tộc.
Ông là người am hiểu sâu sắc vận số thế cuộc, khi xảy
ra việc gì người trong hương thường suy tôn phục tùng, ai
nấy đều tôn gọi ông là Trưởng lão. Khi đã nhiều tuổi,
nhân đi dự hội ở chùa Long Tuyền, nghe thiền sư Nam Dương
giảng kinh, ông lĩnh ngộ tôn chỉ, từ đó quy tâm theo đạo
Thích. Khoảng niên hiệu Đường Trinh Nguyên (785-805) sư dựng
chùa Quỳnh Lâm ở bản hương. Khi xây chùa, thợ làm móng
được một bình hương và mười chiếc khánh đồng. Sư sai
người đem ra sông rửa sạch, một chiếc rơi xuống sông trôi
liệng mãi đến khi chạm đất (thổ) mới nằm im. Sư giải
rằng:
- “Thập
khẩu” là chữ Cổ; “Thủy khứ” (xuống sông) là chữ
Pháp. Còn “thổ” (đất) là chỉ vào hương ta.
Nhân
đó đổi tên là hương Cổ Pháp (trước tên là hương Diên
Uốn). Sư có làm bài Tụng như sau:
Địa
trình pháp khí
Nhất
phẩm trinh đồng
Tri
Phật pháp chi long hưng
Lập
hương danh chi Cổ Pháp.
Dịch:
Đất
dâng pháp khí
Hạng
nhất đồng ròng
Gặp
thời Phật pháp thịnh hưng.
Đặt
tên làng Cổ Pháp.
Lại
có một bài thơ khác:
Pháp
lại xuất hiện
Thập
khẩu đồng chung
Lý
thị hưng vương(1)
Tam
phẩm thành công.
Dịch:
Pháp
khí hiện ra
Khánh
đồng mười tấm
Họ
Lý làm vua
Công
đầu Tam phẩm(1)
Lại
một bài khác:
Thập
khẩu thủy thổ khứ
Cổ
Pháp danh hương hiệu
Kê
cư loan nguyệt hậu
Chính
thị hưng tam bảo.
Dịch:
Mười
cái xuống nước đất
Cổ
Pháp tên làng ta
Gà
ngồi lưng loan phượng(2)
Tam
bảo đến lúc hưng.
Trước
khi quy tịch, sư nói với đệ tử Thông Thiện:
- Ta
muốn mở mang hương ấp, nhưng sợ ngày sau gặp nạn, tất
có dị nhân đến phá hoại mạch đất của hương ta. Sau khi
ta qua đời, ngươi khéo giữ đạo pháp của ta để sau gặp
người họ Đinh thì truyền lại. Thế là ý nguyện của ta
được toại thành.
Nói
xong sư cáo biệt rồi qua đời, thọ 79 tuổi. Đó là năm Mậu
Tí(3) niên hiệu Đường Nguyên Hòa thứ 3 (808). Thông Thiện
dựng tháp ở chùa Lục Tổ và ghi nhớ lời di chúc của sư
lúc lâm chung.
*
*
*
Thế
hệ thứ chín
3 người,
đều chép thiếu.
Thế
hệ thứ mười
4 người,
chép thiếu 1 người.
Trưởng
lão LA QUÝ AN(1)
Chùa
Long Lâm, hương Phù Ninh, phủ Thiên Đức.
Chân
nhân(2) họ Đinh, từ nhỏ đã nhiều năm đi khắp nơi tham
thiền học đạo nhưng pháp duyên chưa gặp nên sắp thoái
chí. Sau nghe một lời thuyết pháp của thiền sư Thông Thiện
ở chùa Thiện Chúng mà mở tâm lĩnh ngộ. Từ đó sư thờ
Thông Thiện làm thầy. Trước khi viên tịch, Thông Thiện ảo
sư:
- Trước
đây thầy ta là Định Không dặn ta giữ gìn đạo pháp của
thầy, khi gặp người họ Đinh thì truyền lại. Ngươi hãy
nhận lấy sự uỷ thác ấy. Nay đã đến lúc ta phải ra đi
rồi.
Sư
đắc pháp, bèn đi diễn hóa các nơi, chọn đất dựng chùa.
Những lời sư nói ra phần nhiều đều hợp với lời sấm
ngữ. Sư từng đúc tượng Lục Tổ Huệ Năng bằng vàng đặt
ở chùa Lục Tổ. Sau vì sợ cướp, sư đem chôn tượng ở
chùa, dặn đệ tử:
- Gặp
minh chúa đào lên, gặp hôn quân thì cất giấu.
Trước
khi thị tịch, sư gọi đệ tử là Thiền Ông đến bảo rằng:
- Trước
đây Cao Biền đắp thành ở sông Tô Lịch, biết đất Cổ
Pháp ta có khí tượng vương giả bèn đào sông Điềm Giang,
đầm Phù Chẩn để cắt yểm long mạch, tất cả mười chín
nơi. Ta đã khuyên Khúc Lãm đắp lại như cũ. Ta lại trồng
một cây gạo ở chùa Minh Châu để trấn chỗ đất bị cắt
long mạch, đời sau tất có bậc đế vương xuất hiện để
vun trồng chính pháp của ta. Sau khi ta mất, ngươi nên cho đắp
đất, dựng nhiều bảo tháp, dùng pháp thuật mà yểm tàng,
không để cho người ngoài biết.
Nói
xong sư qua đời, thọ 85 tuổi.
Lại
nói năm Bính Thân niên hiệu Thanh Thái thứ 3 (836) thời thuộc
Đường, khi trồng cây gạo, sư có đọc bài kệ như sau:
Đại
sơn long đầu khởi
Cù
vĩ ẩn Chu Minh
Thập
bát tử định thành
Miên
thụ hiện long hình
Thổ
kê thử nguyệt nội
Định
kiến nhật xuất thanh.
Dịch:
Đại
sơn đầu rồng ngước
Đuôi
dài náu Chu Minh
Thập
bát tử đấy nghiệp(1)
Gốc
gạo hiện long hình
Thỏ
gà trong tháng chuột(1)
Ất
thấy mặt trời lên
*
*
*
Thiền
sư PHÁP THUẬN
(?-990)
Chùa
Cổ Sơn, hương Thư, quận Ái.
Thiền
sư họ Đỗ, không rõ quê quán, là người học rộng, có tài
phò vua, hiểu rõ thế cuộc đương thời. Sự xuất gia từ
lúc còn nhỏ, theo học đạo với thiền sư Phù Trì ở chùa
Long Thụ. Từ sau khi đắc pháp, những lời sư nói ra phần
nhiều hợp với sấm ngữ. Trong buổi đầu, khi nhà Tiền Lê
mới sáng nghiệp, sư có công dựng bàn hoạch định sách lược.
Khi thiên hạ thái bình, sư không nhận chức tước của triều
đình phong thưởng. Vua Lê Đại Hành lại càng thêm kính trọng,
thường không gọi tên mà gọi là Đỗ pháp sư, thường ủy
thác cho sư các công việc văn hàn.
Nam
Thiên Phúc thứ 7 (986) sứ giả nhà Tống là Lý Giác sang nước
ta, vua sai sư thay đổi quần áo, giả là người cai quản bến
đò để xem xét cử động của Giác. Lúc qua sông thấy hai
con ngỗng đang bơi giữa sông. Lý Giác ngâm đùa:
Nga
nga lưỡng nga nga
Ngưỡng
diện hướng thiên nga(1)
Dịch:
Ngỗng
ngỗng, ngỗng một đôi
Vươn
cổ ngước chân trời
Sư
đang cầm chèo, bước tới đọc tiếp thêm:
Bạch
mao phô lục thủy
Hồng
trạo bãi thanh ba.
Dịch:
Nước
xanh ngời lông trắng
Sóng
biếc chèo hồng bơi.
Lý
Giác thấy vậy lấy làm thán phục.
Vua
từng hỏi sư về vận nước ngắn dài, sư đáp:
Quốc
tộ như đưàng lạc
Nam
thiên lý thái bình
Vô
vi cư điện các
Xứ
xứ tức đao binh.
Dịch:
Ngôi
nước như mây cuốn
Trời
Nam mở thái bình
Vô
vi trên diện gác
Chốn
chốn tắt dao binh
ĐOÀN
THĂNG
(TVLT1)
Sư
qua đời năm Hưng Thống thứ hai (990), thọ 76 tuổi. Sư từng
soạn sách Bồ Tát hiệu sám hối văn, một quyển, lưu hành
ở đời.
*
*
*
Thiền
sư MA HA
Chùa
Quan Ái, hương Đào Gia, Cổ Miệt.
Thiền
sư tên cũ là Ma Ha Ma Da(1), tổ tiên người Chiêm Thành, tự
lấy họ Dương. Cha là Bối Đà, am hiểu sách là bối(2), giữ
chức quan bối trưởng (cũng gọi là Đà phan) dưới triều
Tiền Lê. Sư là người hiểu biết sâu rộng, giỏi cả chữ
Hán và chữ Phạn. Năm 24 tuổi, nối nghiệp cha trụ trì chùa
Quan Ái. Một hôm đang ngồi dịch kinh lá bối(3) sư thấy Hộ
Pháp thiện thần bảo rằng:
- Dùng
kiến thức ngoại học thì không thể thông nghĩa lý được
đâu!
Từ
đó hai mắt bị mù, sư tự hối lỗi, muốn gieo mình xuống
vực sâu mà chết ngay, may gặp Đông Lâm Viễn Biệt ngăn lại
mà bảo:
- Dừng
lại! Dừng lại!
Sư
bỗng tỉnh ngộ: Sau đó, sư đến thụ giáo với thiền sư
Đỗ Pháp Thuận ở chùa Cố Sơn, chuyên tụng niệm kinh Đại
bi tâm chú(4) để sám hối, liền ba năm chưa từng biếng trễ.
Sư lại được Quan Âm đại sĩ dùng cành dương thủy rưới
đầu rảy mặt. Mắt sư bỗng sáng lại, tâm càng thanh tỉnh.
Năm
Thuận Thiên thứ năm (1014) Sư dời đến chùa Đại Vân ở
Trường An, ngày ngày chuyên cần tu tập, đắc pháp Tống trì
tam muội(1) cùng các phép ảo thuật, người ngoài không ai
dò biết được. Vua Lê Đại Hành ba lần thỉnh sư về triều
để hỏi han việc nước, sư chỉ chắp tay cúi đầu mà thôi.
Gặng hỏi hai ba lần sư mới đáp rằng.
- Bần
đạo chỉ là kẻ cuồng tăng ở chùa Quan Ái!
Vua
cả giận, sai đưa sư đến chùa Vạn Tuế trong Đại nội
đóng cửa lại, sai người canh giữ. Sáng hôm sau đã thấy
sư ở ngoài tăng phòng mà cửa vẫn đóng khóa như cũ. Vua
lấy làm lạ, cho phép sư muốn đi đâu tùy ý. Sư lại đi
vào phía Nam, đến trấn Sa Đăng thuộc Ái Châu. Nơi đây phong
tục dân chúng sùng chuộng thờ cúng quỷ thần, nhiều người
làm nghề sát sinh, sư khuyên họ ăn chay kiêng thịt. Họ đều
nói.
- Thiền
thần của chúng tôi ban phúc giáng họa nên chúng tôi không
dám làm trái.
Sư
nói:
- Nếu
các ngươi chịu bỏ ác theo thiện thì lão tăng này dù có
bị hại cũng cam chịu.
Dân
làng nói:
- Vùng
này có người bị bệnh hủi lâu ngày sắp chết, các thầy
lang, thầy bói đều chịu bó tay. Nếu hòa thượng chữa khỏi,
chúng tôi xin theo lời hòa thượng.
Sư
bèn niệm chú vào nước là rồi ngậm phun, người hủi liền
khỏi bệnh. Dân làng cảm phục nhưng vẫn lấy cờ là theo
tục thờ cũng đã lâu ngày nên chưa thể cải hóa theo đạo.
Phật ngay được. Có người hương hào họ Ngô nhân uống
rượu say, bày rượu thịt ra rồi bắt ép sư ăn uống, nói
rằng.
Nếu
Hòa Thượng ch ịu thưởng thức thú vui này thì bọn tôi xin
quy y đạo phật.
Sư
đáp:
- Bần
đạo không dám từ chối, chỉ sợ bị đau bụng thôi.
Người
họ Ngô cười nói:
- Đau
thì để Ngô mỗ này chịu cho!
Sư
phải miễn cưỡng nghe theo. Được một lúc, sư về nhà bị
trướng bụng, trong bụng có tiếng sôi ùng ục. Sư bèn kêu
to:
- Ngô
quân hãy chịu đau cho tôi đi!
Chủ
nhà họ Ngô hốt hoảng không biết làm thế nào. Bờy giờ
sư chắp tay niệm “Nam mô Phật, Nam mô Phật, nam mô Tăng.
Xin cứu độ cho đệ tử!”. Rồi cúi xuống nôn hết các
thức ăn, các món thịt liền biết thành thú đi vật chạy,
các món cá biến thành cá vùng quãy, rượu thì biến thành
nước gỉ đồng.
Mọi
người kinh lạ khiếp sợ. Sư nói:
- Người
bệnh của ngươi ta đã chữa khỏi, còn ta bị đau bụng thì
người chẳng chịu đau thay cho ta. Vậy bây giờ ngươi đã
chịu theo đạo ta chưa?
Người
làng đều sụp xuống lạy tạ.
Năm
Thiên Thành thứ 2 (1029) đô uý Nguyễn quang Rị (?) mời sư
về trụ trì chùa Khai thiên ở Phủ Thái Bình. Đến năm hứ
6 (1033) sư cáo từ, trở về Hoan Châu, sau không biết họ chung
thế nào.
Nguyên
chú: sách Nan tông đồ tức Nam tông tự pháp đồ ở truyện
Nam Dương [thiền sư] nói Nam Dương nối pháp tự của sư Ma
Ha là nhầm.
*
*
*
Thế
hệ thứ mười một
4 người,
chép thiếu 2 người
Đạo
giả THIỀN ÔNG
(902-979)
Chùa
Song Lâm, hương Phù Ninh(1) phủ Thiên Đức.
Thiền
sư họ Lã, người hương Cổ Pháp, thuở nhỏ theo Nho học,
sau xuất gia hầu Đinh trưởng lão (La Quý An) rồi đắc pháp.
Sư
thị tịch năm Kỷ mão, niên hiệu Thái Bình thứ 10 (979) triều
Đình, thọ 78 tuổi.
*
*
*
Thiền
sư SÙNG PHẠM
(1004-1087)
Chùa
Pháp Vân, hương Cổ Châu, huyện Long Biên.
Sư
người họ Mâu, dáng mạo to lớn, tai dài đến vai. Sau khi
xuất gia, sư đến tham vấn thiền sư Vô Ngại ở Hương Thành,
được truyền tâm ấn. Rồi đó sư đi vâ du khắp nơi, sang
tận Thiên Trúc để rộng cầu hiểu biết.. Chín năm sau, sư
trở về, gồm thông cả giới, định. Rồi sư sang chùa Pháp
Vân nước ta thuyết giảng Phật pháp. Học trò các nơi quy
hướng rất đông. Vua Lê Đại Hành Mấy lần thỉnh sư về
kinh để hỏi han huyền chỉ(1). Vua rất vừa ý, tiếp đãi
long trọng.
Năm
Đinh mão niên hiệu quảng Hựu thứ 3 (1087) triều Lý Nhân
Tông, sư quy tịch, thọ 84 tuổi.
Vua
Lý Nhân Tông có bài kê truy tán như sau:
Sùng
Phạm cư Nam quốc
Tâm
không cập đệ quy
Nhỉ
trường hồi thụy chất
Pháp
pháp tận ly vi
Dịch:
Sùng
Phạm ở Nam quốc
Tâm
không đắc đạo về
Tai
dài là tướng tốt
Pháp
pháp thảy ly vi.(1)
*
*
*
Thế
hệ thứ mười hai
7 người,
chép thiếu 2 người
Thiền
sư VẠN HẠNH
Chùa
Lục Tổ, hương Dịch Bảng, phủ Thiên Đức.
Thiền
sư họ Nguyễn, người hương Cổ Pháp. Gia đình đã mấy đời
thờ Phật. Thuở nhỏ thông minh khác thường, học thông ba
giáo, đọc kỹ trăm nhà, nhưng coi khinh công danh phú quý. Năm
21 tuổi xuất gia cùng Định Huệ theo học đạo với Thiền
ông đạo giả ở chùa Lục Tổ. Những khi công việc rỗi
rãi, sư chăm chỉ học hỏi không biết mệt. Sau khi Thiền
Ông tịch diệt, sư bèn chuyên tâm tu tập kinh Tổng trì tam
ma địa(1) lấy đó làm sư nghiệp. Bờy giờ sư nói ra điều
gì, thiên hạ dều coi như lời sấm ngữ. Vua Lê Đại
Hành dặc biệt tôn kính sư. Năm Thiên Phúc thứ nhất (980)
nhà Tống sai Hỗu Nhân Bảo đem quân sang xâm lược nước
ta, đóng quân ở gò Tử Cương núi Giáp Lăng, vua mời sư đến
hỏi tình thế thắng bại thế nào. Sư đáp:
- Chỉ
trong ba, bẩy ngày giặc tất phải lui.
Sau
quả đúng như thế. Vua muốn đi đánh chiếm Thành, cùng bàn
bạc với triều thần, nhưng chưa quyết. Sư tâu vua xin cấp
tốc tiến quân, nếu không sẽ lỡ dịp. Vua bèn đem quân đi
đánh, quả nhiên thu được toàn thắng. Bấy giờ có kẻ gian
là Đỗ Ngân muốn mưu hại sư, sư đoán biết được
ý đồ, bèn đưa cho hắn một bài kệ rằng:
Thổ
mộc tương sinh cấn bạn câm (km) (1)
Vi
hà mưu ngã uấn linh khâm.
Chân
chí vị lai bất hận tâm.
Dịch:
Thổ
mộc sinh ra cẩn cạnh căm (kim)
Thù
ta toan định sẵn mưu ngầm
Tăng
này biết chuyện lòng buồn dứt
Cả
đến mai sau chẳng oán thầm!
Đỗ
Ngân sợ, không dám mưu hại sư nữa. Tài tiên tri của sư
đại khái là như vậy.
Đến
khi Lê Ngọa triều lên ngôi, tàn ngược độc ác, trời người
đều oán giận. Lý Công Uẩn lúc ấy còn giữ chức Thân vị
chưa được nhường ngôi hoàng đế. Bờy giờ điềm lạ xuất
hiện nhiều nơi, như xoáy lông trên lưng con chó trắng(3) ở
Viện Hàm Toại chùa Ứng Thái Tâm(4), châu Cổ Pháp có hình
chữ Thiên tử, cây gạo bị sét đánh để lại vết tích
chữ viết(1), xung quanh mộ Hiền Khánh đại vương(2) ban đêm
nghe tiếng tụng kinh râm ran, cây đa ở chùa Song Lâm có vết
sâu ăn hình chữ “quốc”v.v... sư đều biện giải được,
tất cả đều hợp với điềm Lê suy Lý đấy. Vì thế khi
Lý Thái Tổ lên ngôi, sư đang ở chùa Lục Tổ mà biết trước
sự việc. Sư nói với người chú và người bác(3) của Lý
công Uẩn:
- Thiên
tử đã băng hà, Lý thân vệ đang ở nhà. Người nhà thân
vệ túc trực trong thành nội có hàng ngàn. Nội trong ngày,
thân vệ ắt sẽ được thiên hạ(4)
Sư
bèn yết bản ở các ngả đường:
Tật
lê trầm Bắc thủy
Lý
tử thụ Nam thiên
Tứ
phương can qua tỉnh
Bát
biểu hạ bình an.
Dịch:
Tật
lê(5) chìm biền Bắc
Cây
Lý mọc trời Nam
Bốn
phương binh đao lặng
Tám
hướng chúc bình an
Chú
bác Lý Công Uẩn nghe xong lấy làm lo sợ, sai người ruổi
gấp về Hoa Lư nghe ngóng, thì quá đúng như lời sư nói.
Ngày
15 tháng 5 năm Thuân thiên thứ 9 (1018)(1) sư không bệnh, gọi
tăng chúng đến đọc bài kệ:
Thân
như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn
mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm
vận thịnh suy vô bố uý
Thịnh
suy như lộ thảo đầu phôi(2)
Dịch:
Thân
như bóng chớp có rồi không
Cây
cối xuân tươi thu não nùng
Mặc
cuộc thịnh suy đừng sợ hãi(3)
Kia
kìa ngọn cỏ giọt sương dông.
NGÔ
TẤT TỐ
(VHDL)
Sư
lại bảo các đệ tử:
- Các
ngươi muốn đi đâu? Ta không lấy chỗ trụ mà trụ, cũng
chẳng dựa chỗ vô trụ mà trụ.
Một
lát sau sư qua đời. Vua cùng các quan dân làm lễ hỏa táng,
rồi xây tháp chứa xá lỵ để đèn hương phụng thờ. Vua
Lý Nhân Tông có làm bài kệ truy tán thiền sư như sau:
Vạn
Hạnh dung tam tế
Chân
phủ cổ sấm kỵ(cơ)
Hương
quan danh Cổ Pháp
Trụ
tích trấn vương kỳ.
Dịch:
Vạn
hạnh không ba cõi
Lời
sư nghiệm sấm thi
Từ
làng quê Cổ Pháp
Chống
gậy trấn kinh kỳ
Nguyên
chú: Sự tích ngôi mộ của Hiển Khánh đại vương như sau:
Ban đêm sư Vạn Hạnh ngồi nhập định, nghe xung quanh ngôi
mộ của Hiển Khánh vương bốn phía đều có tiếng ngâm thơ.
Phía
Đông ngâm:
Khánh
Vạn tường nham dữ Quế Phong
Dương
trường long thế dục tương tòng
Đông
liệt triều tông thế tam bách
Lục
tuất...(1) đối thiên bồng
Dịch:
Khách
Vạn lên cao với Quế Phong
Ngoằn
ngoèo rồng cuộn sẵn chờ trông
Phù
tá đàng đông ba trăm vững,
Lục
nguyệt Tuất niên ngước bóng rồng.
Phía
Nam ngâm:
Chính
nam Phù Ninh hộ trạch thần
Vinh
thế nam nữ xuất đa nhân
Thiên
Đức phú quý mãn ốc thịnh
Bát
phương hội Nữ thường xuất quân
Dịch:
Hướng
Nam, thần hộ đất Phù Ninh,
Trai
gái đầy thôn nức tiếng lành
Thiên
Đức giàu sang no đủ khắp
Giữa
trời cao Nữ, thánh quân sinh
HUỆ
CHI
(TVLT
1)
Phía
Tây ngâm:
Tây
vọng, viễn vọng khan thiên trụ
Cao
thế nam nữ thượng tướng thủ
Thiên
Đức phú quý dư viễn thế
Quân
vương thọ mệnh cửu thập cửu
Dịch:
Xa
ngóng về Tây cột chống trời
Tài
cao khanh tướng thảy tuân lời
Thiên
Đức phú quý lâu truyền mãi
Tuổi
thọ quân vương quá chín mươi
Phía
Bắc Ngâm:
Chính
bắc Phù Cầm đương bạch hổ
An
lạc nam nữ thường vô khổ
Đại
đại Thiên Đức trường thọ lạc
Thế
thế quân vương kỷ Thái Tổ.
Dịch:
Bắc
hướng Phù Cầm ngôi bạch hổ
Trai
gái yên vui hết khổ sầu
Thiên
Đức đời đời vui thọ mãi
Thái
Tổ nền vương sáng nghiệp đầu.
Sư
sai người ghi chép, rồi viết vào biển gỗ đóng ở bốn
phía quanh khu mộ của Hiển Khánh. Sư đến xem, đọc kệ rằng:
Đông
hữu Vũ Long hạng
Nam
hữu Vũ long pha
Tây
hữu Hạc Lâm quán
Bắc
hữu Trấn Hải trì.
Dịch:
Xóm
Vũ Long bên Đông
Gò
Vũ Long bên – Nam
Bắc
có ao Trấn Hải
Tây
có quán Hạc Lâm
Sư
im lặng hồi lâu rồi nói tiếp:
- Có
lẽ chỉ trong vòng ba tháng nữa quan Thân vệ sẽ chống đỡ
xã tắc, cầm giữ ấn chữ quốc.
Đúng
là:
Mười
miệng đất xuống nước(1)
Gặp
hiệu thánh Thiên Đức
Về
sau châu Cổ Pháp đổi làm phủ Thiên Đức, quả ứng nghiệm
như lời sư nói vậy, còn các việc khác thì đều như trong
Quốc sử, ở đây không chép nữa.
*
*
*
Thiền
sư ĐỊNH HUỆ
Chùa
Quang Hưng, hưng Yên Trinh, Phủ Thiên Đức
Thiền
sư họ Khúc, người Cầm Điền, Phong Châu. Thuở nhỏ cùn
Vạn Hạnh theo hầu học đạo với Thiền Ông, được Thiền
Ông truyền tâm ấn.
Trước
khi thị tịch, sư truyền tâm pháp cho đệ tử là Lâm Huệ
Sinh.
Nguyên
chú: xét sách Nam tông tự pháp đồ nói sư nối pháp tự của
Vạn Hạnh, sợ là nhầm. Nay chép đúng theo bản truyện.
*
*
*
Thiền
sư ĐẠO HẠNH
(?
– 1117)
Chùa
Thiên Phúc, núi Phật Tích(1)
Thiền
sư họ Từ, húy Lộ. Cha là Từ Vinh, làm quan đến chức Tăng
quan đô án. Nguyên là Từ Vinh trọ học ở hương yên Lãng
(2), lấy vợ là con gái nhà họ Tăng rồi cư trú ở đó. Ông
là con bà họ Tăng đó. Bản tính ông từ nhỏ hào hiệp phóng
khoáng, có chí lớn, phàm việc làm lời nói không ai đoán
trước được. Ông kết bạn thân với nho sĩ Phi sinh, đạo
sĩ Lê Toàn Nghĩa và người kép hát là Vi Ất. Ban đêm ông
miệt mài đọc sách, ban ngày thổi sáo, đá cầu, đánh bạc
vui chơi, thường bị cha trách mắng là lười nhác. Một đêm
Từ Vinh lén vào phòng thấy ngọn đèn đã tàn, sách vở chất
đống bên cạnh, còn Từ Lộ thì đang tựa án mà ngủ, tay
vẫn cầm quyển sách, tàn đèn rơi đầy cả mặt bàn. Từ
đó cha ông mới không phải lo nghĩ gì nữa. Sau triều đình
mở khoa thi tăng quan, ông dự thi, được trúng tuyển.
Nguyên
trước kia thân phụ ông là Từ Vinh có điều xích mích bị
Diên Thành hầu(1) cho là dùng tà thuật xúc phạm đến mình,
vì vậy Diên Thành hầu nhờ sư Đại Điên dùng pháp thuật
đánh chết, ném xác xuống sông Tô Lịch. Thây Từ Vinh trôi
đến cầu Quyết thì bật dậy, chỉ tay vào nhà Diên Thành
hầu suốt một ngày. DiênThành hầu sợ hãi sai người đi
báo với Đại Điên. Đại Điên đến nơi quát: “Kẻ tu hành
giận không quá đêm!”. Thây Từ Vinh nghe vậy lại tiếp trôi
đi. Ông muốn báo thù cha nhưng không biết làm cách nào. Một
hôm nmhân lúc Đại Điên ra ngoài, sư bèn xông vào đánh. Bỗng
nghe trên không có tiếng quát: “Dừng lại! Dừng lại!”.
Ông sợ, vứt gậy mà chạy. Từ đó ông quyết chỉ đánh
đường sang Ấn Độ cầu học phép lạ để về báo thù cho
cha. Đến nước Kim Xỉ(2) gặp đường đi hiểm trở nên phải
quay về. Từ đó ông vào ẩn cư trong hang đá núi Phật Tích,
ngày ngày chuyên chú trì tụng Đại bi tâm Đà La Ni,(3) đủ
mười vạn tám nghìn lần. Một hôm sư thấy thần nhân đến
bảo: “Đệ tử là Tứ Trần thiên vương, cầm công đức
của sư trì tụng kinh Đại Bi nên xin đến hầu để sư sai
phái”. Sư biết là đạo pháp viên thành, đã có thể báo
thù cha. Sư bèn đến bên cầu Quyết, thử ném gậy xuống
giữa dòng nước xiết. Chiếc gậy liền trôi ngược dòng
đến phía tây cầu Tây Dương(4) thì dừng lại. Sư mừng nói:
“Phép ta thắng rồi”. Sư bèn đi thẳng đến nhà Đại Điên.
Đại Điên trông thấy nói:
- Ngươi
không nhớ chuyện ngày trước sao?
Sư
ngước nhìn lên trời, không thấy động tĩnh gì, bèn vung
gậy đánh. Đại Điên phát bệnh mà chết. Từ đó rửa sạch
oán thù, việc đời như tro lạnh, sư bèn đi khắp nơi trong
chốn tùng lâm để tìm thấy ân chứng. Nghe nói Kiều Trí
Huyền hóa đạo ở Thái Bình, sư tìm đến tham vấn. Sư đọc
bài kệ để hỏi về chân tâm:
Cửu
hỗn phàm trần vị thức câm (kim)
Bất
tri hà xứ thị chân tâm
Nguyện
thùy chỉ đích khai phong tiệm
Liễu
kiến như như đoạn khổ tâm.
Dịch:
Lẫn
với bụi đời tự bấy lâu
Chân
tâm vàng ngọc biết tìm đâu?
Cúi
xin rộng mở bày phương tiện
Thầy
được Chân Như sạch Khổ sầu
NGUYỄN
LANG
(Việt
Nam Phật giáo sử luận)
Trí
Huyền đọc kệ đáp:
Ngọc
lý bí thanh diễn diệu âm
Cá
trung mãn mục lộ thiên tâm
Hà
sa cảnh thị Bồ Đề đạo
Nghĩ
hưởng Bồ Đề cách vạn tầm.
Dịch:
Mình
ngọc vang đưa tiếng áo huyền
Ở
trong vẫn lộ, tấm lòng thiền
Cát
sông là cõi Bồ Đề đó
Mà
tưởng còn xa mấy dặm nghìn
NGÔ
TẤT TỐ (VHĐL)
Sư
vấn lờ mờ không rõ bèn tìm đến chùa Pháp Vân thỉnh giáo
thiền sư Sùng Phạm. Sư hỏi:
- Thế
nào là chân tâm?
Sùng
Phạm hỏi lại:
- Thế
cái gì không phải là chân tâm?
Sư
rạng rỡ, tỉnh ngộ, hỏi lại rằng
- Lấy
gì làm bảo chứng?
Sùng
Phạm đáp:
- Đói
ăn khát uống.
Sư
lạy tạ rồi cáo từ trở về. Từ đó pháp lực như được
tăng thêm, duyên thiền càng thêm thuần thục, có thể khiến
rắn rết, muông thú đến chầu phục, đốt ngón tay cầu mưa,
phun nước phép chữa bệnh, không việc gì không ứng nghiệm.
Có vị tăng hỏi:
- Đi
đứng nằm ngồi đều là phật tâm. Vậy thế nào là Phật
tâm?
Sư
đọc kệ đáp:
Tác
hữu trần sa hữu
Vi
không nhất thiết không
Hữu
không như thủy nguyệt
Vật
trước hữu không không
Dịch:
Có
thì muôn sự có
Không
thì tất cả không
Có,
khong trăng đáy nước
Đừng
vướng có không không
THANH
TỪ
(TSVN)
Sư
lại nói:
- Nhật
nguyệt tại nham đầu
Nhân
nhân tận thất châu
Phú
nhân hữu câu tử
Bộ
hành bất kỵ câu.
Dịch:
Nhật
nguyệt tại non đầu
Người
người mất ngọc châu
Kẻ
giầu có ngựa tốt
Chẳng
chịu dùng ngựa đâu
Bấy
giờ vua Lý Nhân Tông tuổi đã cao mà không có con nối dõi.
Tháng 2 năm Hội Tường Đại Khánh thứ 3 (1112) ở phủ Thanh
Hóa có người tâu: “Vùng bờ biển Sa Đinh có một đứa
trẻ con linh dị, mới lên ba tuổi mà nói năng biện giải
như người lớn, xưng là con đích của vua, tự đặt hiệu
là Giác Hoàng. Phạm mọi việc làm của hoàng thượng, không
điều gì đứa bé ấy không biết”. Vua sai trung sứ vào tận
nơi xem xét, thấy đúng như lời tâu, bèn cho đón về chùa
Báo Thiên ở kinh đô. Thấy đứa trẻ thông minh dị thường
vua có lòng yêu mến, định lập làm hoàng thái tử. Các quan
hết sức can ngăn vua không nên làm như vậy. Các quan lại
nói nếu đứa bé ấy quả thực linh dị, tất nên thác sinh
vào nội cung rồi sau mới lập làm thái tử được. Vua nghe
theo, bèn cho mở hội lớn bẩy ngày đêm để làm phép
thác thai. Sư nghe chuyện, tự nghĩ: “Đứa bé này dùng phép
yêu dị để mê hoặc mọi người, ta nỡ nào ngồi nhìn để
nó lừa dối, làm loạn chính pháp?”. Sư bèn nhờ người
chị gái giả làm người đi xem hội, lén đem chuỗi hạt do
sư đã kết ấn, treo lên rèm cửa. Hội đến ngày thứ ba,
thì Giác Hoàng bỗng kêu đau, bảo mọi người: “Ta đã đi
khắp quanh hoàng thành, như ở đâu cũng có lưới sắt vây
kín. Muốn thác sinh cũng không biết lọt vào bằng cách nào”.
Vua ngỡ sư làm bùa chú để phá, bèn sai quan xét hỏi thì
sư thú nhận. Quan quân bèn bắt sư trói, đem đến lầu Hưng
Thánh để triều thần định tội. Lúc ấy gặp Sùng Hiền
hầu đi qua, sư thống thiết giãi bày với hầu về chuyện
đó. Sư nói:
- Quỹ
hầu gắng giúp cho bần tăng thoát tội. Ngày sau xin đầu thai
để đáp ơn tạ đức.
Sùng
Hiền hầu nhận lời. Khi vào triều nghị, các quan đều nói:
- Bệ
hạ không có nối dõi nên phải cầu Giác Hoàng thác sinh làm
con, vậy mà Từ Lộ dùng bùa phép cản trở, xin bệ hạ cho
xử chém để thiên hạ hả lòng.
Sùng
Hiền hầu từ tốn tâu rằng:
- Giác
Hoàng nếu quả có thần lực thì dẫu cả trăm Từ Lộ làm
bùa chú cũng không làm hại được. Đằng này Giác Hoàng lại
bị lướt mắt chắn không vào được, thế thì Từ Lộ cao
tay pháp hơn Giác Hoàng. Theo ngu ý của thần, bệ hạ
nên tha tội cho Từ Lộ và cho Từ Lộ được thác sinh.
Vua
thuận theo lời tâu của Sùng Hiền hầu. Sư bèn đi ngay đến
phủ đệ của Sùng Hiền hầu, vào thẳng nơi phu nhân đang
tắm mà nhìn. Phu nhân tức giận nói lại với chồng. Nhưng
Sùng Hiền hầu đã biết trước nên không căn vặn gì.
Từ
đó phu nhân cảm thấy mình có thai. Sư dặn Sùng Hiền hầu:
“Khi nào phu nhân sắp sinh thì báo cho bần tăng biết trước”.
Đến lúc phu nhân sắp sinh, Sùng Hiền hầu cho người đến
báo. Sư bèn tắm rửa, thay quần áo sạch sẽ rồi bảo đệ
tử:
- Nghiệp
duyên của ta chưa hết, còn phải thác sinh để tạm giữ ngôi
vua. Ngày sau thọ chung sẽ được làm thiên tử ở cõi trời
thứ ba mươi ba. Nếu thấy chân thân của ta hư nát thì lúc
ấy ta mới thật nhập Niết Bàn, không còn phải trụ trong
vòng sinh diệt nữa. Các đệ tử nghe nói không cầm được
nước mắt. Sư bèn đọc bài kệ rằng:
Thu
lai bất báo nhạn lai quy
Lãnh
tiếu nhân gian tạm phát bi
Vị
báo môn nhân hưu luyến trước
Cổ
sư kỷ độ tác kim sư.
Dịch:
Thu
về chẳng báo nhạn theo bay
Cười
nhạt người đời uổng xót vay
Thôi
hỡi môn đồ đừng quyến luyến
Thầy
xưa mấy lượt hóa thầy nay
NGÔ
TẤT TỐ
(VHĐL)
Nói
xong sư trang nghiêm mà hóa, đến nay hình xác vẫn còn.
Nguyên
chú: Xét quốc sử(1) năm Hội Tường Đại Khánh thư 8 (1117)
lấy con trai của các hầu Sùng Hiền, Thành Khánh, Thành Quảng,
Thành Chiêu, Thành Hưng chọn đưa vào trong cung để nuôi dưỡng.
Bấy giờ con của Sùng Hiền hầu mới lên 2 tuổi, vua rất
yêu, bèn lập làm hoàng thái tử. Đến năm Thiên Phù Khánh
Thọ thứ nhất (1127) mùa đông tháng 12, vua băng. Hoàng thái
tử lên ngôi hoàng đế, năm ấy 21 tuổi. Vua ở ngôi 11 năm,
thụy hiệu là Thần Tông Tương truyền Thần Tông là hậu
thân của sư, còn Giác Hoàng là sư Đại Điên.(2)
Thiền
sư TRÌ BÁT
(1049
– 1117)
Chùa
Tổ Phong, núi Thạch thất, hương Đại Cù, Tân Trại.
Thiền
sư người Luy Lâu, họ Vạn, sùng mộ đạo Phật từ thủa
bé. Năm hai mươi tuổi đến chùa Pháp Vân thụ giới cụ túc,
theo hầu thiền sư Sùng Phạm. Sùng Phạm thấy sư giữ mình
nghiêm cẩn, tính tình thận trọng nên yêu mến, truyền thụ
tâm ấn và đặt cho pháp danh là Trì Bát. Sau khi Sùng Phạm
quy tịch, sư xuống núi đi vân du, tham vấn các bậc túc tăng
đạo hữu, rồi sư đến trụ trì chùa Tổ Phong, giảng cứu
Thiền học. Bờy giờ, tướng quốc thái úy Lý Thường Kiệt
là thí chủ cúng dâng nhiều tài sản, sư đều dùng hết vào
việc Phật: trùng tu các chùa Pháp Vân, Thiền Cư, Thế Tâm,
Quảng an để báo đáp công ơn pháp nhũ(1)
Ngày
18 tháng 2 năm Hội Tường Đại Khánh thứ 8 (1117) trước khi
thị tịch, sư gọi tăng chúng đến đọc bài kệ:
Hữu
tử tất hữu sinh
Hữu
sinh tất hữu tử
Tử
vi thế sở bi
Sinh
vi thế sở hỉ
Bi,
hỉ lưỡng vô cùng
Hốt
nhiên thành bỉ thử
U chưa
sinh tử bất quan hoài
Úm
tô rô, úm tô rô tất rí.
Dịch:
Có
tử thì có sinh
Có
sinh thì có tử
Tử,
người đời buồn rầu
Sinh,
người đời mừng rỡ
Buồn
vui đều vô cùng
Đối
nhau thành “kia”, “nọ”
Mọi
điều “sinh”, “tử” chẳng quan tâm
Um!
Suru Suru Srê(1)
HÀ
VĂN TẤN
(LSPGVN)
Nói
xong sư trang nghiêm qua đời, thọ 69 tuổi. Đệ tử là các
thiền sư Tịnh Hạnh, Pháp Nhân, Thuần Chân làm lễ hỏa táng,
thu xá lị, xây tháp phụng thờ.
Thiền
sư THUẦN CHÂN
(?
-1101)
Chùa
Hoa Quang, hương Tây Kết, huyện Thượng nghi.
Thiền
sư người hương Cửu Ông, huyện Tế Giang(1), họ Đào, thủa
nhỏ học thông kinh sử, đi đến đâu người cùng lứa tuổi
thường tranh nhau theo. Sau gặp thiền sư Pháp Bảo ở chùa
Quang Tịnh, chỉ nghe một lời nói mà lĩnh ngộ tông chỉ,
bèn bỏ Nho học mà theo học đạo với Pháp Bảo. Trong khoảng
mấy năm, tuệ trí mở thông ánh điện, lửa đá tùy gõ phát
ra(2), tiếp dẫn chúng sinh, không lúc nào rỗi rãi.
Ngày
7 tháng hai năm Ất dậu niên hiệu Long Phù (Nguyên Hòa) thứ
nhất (1101, đời Lý Nhân Tông), trước khi thị tịch, đệ
tử là Bản Tịch vào xin chỉ giáo, sư bèn đọc bài kệ:
Chân
tính thường vô tính
Hà
tằng hữu sinh diệt
Thân
thị sinh diệt pháp
Pháp
tính vị tằng diệt.
Dịch:
“Chân
tính” thường không tính
Chưa
từng có diệt sinh
Sinh
diệt bởi thân mình
Chẳng
hề diệt pháp tính.
Đọc
xong bài kệ, sư qua đời. Phụ quốc thái bảo họ Cao chủ
trì lễ hỏa táng, xây tháp phụng thờ.(1)
*
*
*
Thế
hệ thứ mười ba
6 người,
chép thiếu 2 người
Tăng
thống HUỆ SINH
(?-1063)
Chùa
Vạn Tuế(1), kinh đô Thăng Long
Tăng
thống người Đông Phù Liệt(2), họ Lâm, húy Khu, là hậu
duệ của Lâm Công Phú ở Trà Sơn, hương Vũ An. Cha là Lâm
Khoáng, lấy vợ là con gái của Quách tăng lục, nhân đó dời
nhà về Đông Phù Liệt, có hai con trai: con trưởng là Sinh,
làm quan đến chức viên ngoại lang bộ binh, Lâm Khu là con
thứ. Ông tướng maọi khôi vỉ, biện luận lưu loát, có tài
văn chương từ phú, chữ tốt, vẽ đẹp. Tuổi trẻ theo Nho
học, nhưng khi rỗi rãi thường nghiên cứu sách Phật, chư
kinh bách luận không sách nào không đọc. Mỗi khi nói đến
những điều yếu chỉ trong Phật pháp, ông thường cảm khái
rơi lệ. Năm mười chín tuổi(3), ông rơi bỏ thế tục, cùng
với các bạn là Hạc Lâm, Pháp Thống đến thụ nghiệp với
thiền sư Định Huệ ở chùa Quang Hưng, huyện học ngày càng
tăng tiến. Sư được thầy Định Huệ quý mến, truyền thụ
tâm ấn cho. Từ đó, sư rảo bước khắp chốn tùng lâm để
tham thiền học đạo. Lúc đầu sư đến trụ ở ngọn Bồ
Đề trong núi Trà Sơn. Mỗi lần nhập định, sư ngồi suốt
năm ngày liền, người đương thời thường gọi sư là Nhục
Thân đại sĩ. Vua Lý Thái Tông nghe danh tiếng của sư, sai
sứ giả đến mời. Sư nói với sứ giả:
- Ngươi
không thấy con vật làm cỗ tế hay sao? Khi chưa tế thì được
ăn ngon mặc đẹp, đến khi bị dắt vào nhà Thái Miếu thì
dẫu muốn sống thêm ít ngày cũng không thể được. Vật
tế còn như vậy, các vật khác có khác gì?
Rồi
sư c từ không về kinh. Sứ giả lại phải đến mời lần
nữa, sư mới chịu về kinh bái yết vua. Lý Thái Tông cả
mừng phong sư giữ chức Nội cung phụng, ban sắc chỉ cho sư
trụ trì ở chùa Vạn Tuế tại kinh đô Thăng Long.
Mỗi
hôm nhân làm lễ trai tăng trong đại nội, vua nói:
- Trẫm
nghĩ nguồn tâm của Phật tổ, người học thường hay chê
bai. Trẫm muốn cùng các vị cao đức gần xa mỗi người đều
bày tỏ ý kiến của mình để xem cái dụng tâm của từng
người như thế nào?
Sư
bèn ứng khẩu đọc bài kệ như sau:
Pháp
bản như vô pháp
Phi
hữu, diệc phi không
Nhược
nhân tri thử pháp
Chúng
sinh dữ Phật đồng
Tịch
tịch Lãng già nguyệt
Không
không độ hài chu
Tri
không, không giác hữu
Tam
muội nhậm thông chu.
Dịch:
Pháp
vốn như vô pháp
Không
có cũng không không
Nếu
người hay phép đó
Chúng
sinh với Phật đồng
Trăng
Lăng già vắng lặng
Thuyền
vượt biển trống không
Biết
“không không” hiểu “có”
Tam
muội cứ suốt thông.
HÀ
VĂN TẤN
(LSPGVN)
Vua
khen ngợi, ban thưởng rất trọng hậu. Sau vua phong sư giữ
chức Độ tăng lục. Các vương công thời bấy giờ như: Phụng
Kiên vương(1), Uy Vũ, Hỉ Từ, Thiện Huệ, Chiêu Khánh, Hiển
Minh thái tử, thượng tướng Vương Công Tại(2), thái sư Lương
Nhậm Văn, thái báo Đào Xử Trung tham chính Kiều Bồng v.v...
đều tìm đến thỉnh vấn, mời sư chủ trì các cuộc lễ.
Dưới
triều Thánh Tông, sư được tặng chức Tả nhai đô tăng thống,
tước hầu, khi vào chầu vua, chỉ gọi là Tăng thống mà không
gọi tên.
Năm
giáp thìn niên hiệu (Chương Thánh) Gia Khánh thứ 5 (1063) trước
khi thi tịch, sư gọi đệ tử đến đọc bài kệ rằng:
Thủy
hỏa nhật tương tham
Do
lai vị khả đàm
Báo
quân vô xứ sở
Tam
tam hưu tam tam
Dịch:
Nước
lửa ngày hỏi nhau
Nguyên
do chưa thể bàn
Đáp
anh không nơi chốn
Tam
tam lại tam tam!
THANH
TỪ
(TSVN)
Lại
đọc tiếp bài khác:
Tự
cố lại tham học
Nhân
nhân chỉ vị Nam
Nhược
nhân vấn tân sự
Tân
sự nguyệt sơ tam.
Dịch:
Xưa
nay kẻ tham học
Người
người chỉ vì Nam
Nếu
người hỏi việc mới
Việc
mới, ngày mùng ba
THANH
TÚ
(TSVN)
Rồi
sư tắm rửa, thắp hương, đến nửa đêm thì lặng lẽ qua
đời.
Sư
từng vâng chiếu chỉ soạn văn bia các chùa Thiên Phúc ở
Tiên du, chùa Thiên Khánh, Khai Quốc, Diệu Nghiêm, Báo Đức
ở Vũ Ninh, và soạn các sách Pháp sự trai nghi, Chư đạo tràng
Khánh tán văn (mấy quyển) lưu hành ở đời.
Thiền
sư THIỀN NHAM
(1093-1163)
Chùa
Trí Quả, hương Cổ Châu, huyện Long Biên.
Thiền
sư người Cổ Châu, họ Khương, húy Thông, ông cha mấy đời
giữ chức tăng quan. Ông thần thái tinh anh, sáng láng; tiếng
nói trong vang, thường tụng niệm kinh Tống trì Đà La Ni, có
thể đọc ngược từ đầu đến cuối không sót một chữ.
Trong
niên hiệu Hội Phong (1092-1101, đời Lý Nhân Tông) triều
đình mở khoa thi kinh Pháp Hoa, Bát Nhã, ông đỗ đầu. Sau
nhờ một câu nói của thiền sư Pháp Y chùa Thành Đạo, ông
được ấn chứng. Từ đó ông xuất gia tu hành tại chùa Thiên
Phúc ở núi Tiên Du, giới hạnh tinh nghiêm, đạo tâm rộng
mở. Hàng ngày ăn rau rừng, uống nước suối, sau sáu năm
trở về bán hương trùng tu chùa Trí Quả, rồi trụ trì tại
đó.
Khoảng
niên hiệu Thiên Thuận (1128 – 1132) gặp năm hạn hán, vua
xuống chiếu thỉnh sư về kinh cầu mưa. Lễ cầu đảo được
ứng nghiệm, sư được trọng vào bậc danh tăng, ban cho áo
ngự. Sau đó mỗi khi có việc cầu đảo, triều đình đều
giao cho sư làm chủ trì.
Tháng
hai năm Chính Long Bảo Ứng thứ nhất (1163), giữa ban
ngày sư đốt hương vĩnh quyết tăng chúng, rồi trang nghiêm
qua đời, thọ 71 tuổi. Hình xác đến nay vẫn còn. Người
đương thời thường gọi sư là Phật sống. Về sau tuy gặp
binh hỏa, di thế sư vẫn không bị hư hại(1).
Thiền
sư BẢN TỊCH
(?-1140)
Chùa
Chúc Thánh, hương Nghĩa Trụ, huyện Bình Lạc.
Thiền
sư họ Nguyễn, tên cũ là Pháp Mật, người hương Tây Kết,
là hậu duệ của Nguyễn Kha, giữ chức Nội cung phụng đô
úy dưới triều Tiền Lê. Ông từ nhỏ đã có tướng mạo
khác thường, một vị sư lạ trông thấy khen rằng: “Cậu
bé này cốt tướng phi phàm, nếu xuất gia ắt trở thành giống
pháp chân chính”. Lớn lên ông đến thụ nghiệp với thiền
sư Thuần Chân ở chùa Hoa Quang, lĩnh hội những điều yếu
chỉ, rồi được thụ giới cụ túc. Thuần chân thấy sư
giới định đều được viên mãn, thanh tịnh, học một biết
mười, bèn xoa đỉnh đầu mà bảo:
- Chính
pháp phương Nam đang đợi người xiển dương đây!
Từ
đó sư siêu thoát ra ngoài ý niệm hữu, vô; gồm thông cả
đốn, tiệm(1). Sư đến nơi nào đều bố thí mưa pháp rộng
khắp, làm chấn động huyền phong, tăng ni sỉ thứ đều quy
mộ.
Ngày
14 tháng sáu năm Kỷ mùi niên hiệu Thiệu Minh thứ 3 (1140)
sư gọi các môn đồ đệ tử đến bảo:
- Vô
sự! Vô sự!
Nói
xong bèn hóa.
Thế
hệ thứ mười bốn
4 người,
chép thiếu 3 người.
Tăng
thống KHÁNH HỶ
(1067
– 1142)
Hương
Từ Liêm, huyện Vĩnh Khang.
Tăng
thống quê hương Cổ Giao, huyện Long Biên, họ Nguyễn, thuộc
dòng tịnh hạnh. Từ nhỏ ông kiêng ăn thịt cá, lớn lên
theo thụ nghiệp với thiền sư Bàn Tịch ở chùa Chúc Thánh.
Một
hôm theo Bản Tịch đến nhà đàn việt thụ trai, dọc đường
sư hỏi:
- Thế
nào là ý chí của tổ sư? Sao thầy lại nghe theo dân gian làm
những chuyện đồng cốt mê hoặc?
Bản
tịch đáp:
- Lời
nói ấy đâu phải là không do đồng cốt giáng thần?
Sư
nói:
- Chẳng
phải là hòa thượng đùa bỡn con hay sao?
Bản
Tịch đáp:
- Ta
chẳng hề đùa bỡn tí nào!
Sư
không hiểu ý thầy, bèn cáo biệt rồi bỏ đi. Sau đó sư
đến chùa Vạn Tuế. Thiền sư Biện Tài hỏi:
- Ngươi
từ đâu tới?
Sư
đáp:
- Từ
chỗ thầy Bản Tịch đến.
- Thầy
ấy cũng là thiện trí thức một phương. Thầy ấy bảo ngươi
thế nào?
Sư
thưa:
- Đệ
tử theo hầu bản sư đã lâu nhưng chỉ hỏi một câu mà người
không chịu nói.
Biện
Tài hỏi:
- Ngươi
hỏi thế nào?
Sư
kể lại lời đối thoại bữa trước, Biện Tài nghe xong nói:
- Ôi!
Thầy Bản Tịch đã nói hết nhẽ cho ngươi rồi đấy. Ngươi
chớ nên hủy báng bản sư mới được.
Sư
im lặng suy nghĩ. Biện Tài nói:
- Khi
chẳng thấy đạt đạo thì dù có đi khắp cõi cũng không
ngộ được, mãi mãi sai trái thôi.
Sư
bỗng nhiên tỉnh ngộ, bèn trở về chùa cũ. Bản Tịch thấy
sư về, hỏi:
- Người
đi đâu mà quay về nhanh thế?
Sư
sụp xuống lạy tạ, thưa rằng.
- Đệ
tử mang tội hủy báng hòa thượng nên trở lại xin sám hối.
Bản
tịch thôi không hỏi nữa. Từ đó sư cùng hai thiền giả
là Tịnh Nhãn, Tịnh Như thường được đứng hầu thầy.
Một hôm Bản Tịch nói:
- Các
kẻ nhân giả kia học đạo của ta đã lâu, nay mỗi người
cũng nên trình bày kiến giải của mình để ta xem sự tiến
đạo thế nào?
Tịnh
Nhãn, Tịnh Như toan mở miệng trở lời, sư bèn quát to:
- Mắt
bị vảy cá thì đốm hoa rơi loạn giữa không trung.
- Xà
Lê Khánh Hi, ngươi đi thuyền sao lại đập vỡ gầu múc nước?
Sư
nói:
- Dùng
thuyền làm gì?
Bản
Tịch nói:
- Kẻ
lanh lẹn này! Chớ nói toạc ra! Ngươi chỉ thuyết giải(1)
được một phía thôi, nếu là việc phía bên kia thì chưa
mộng thấy.
Sư
đáp:
- Tuy
thế cũng chỉ là nó mà thôi.
Bản
tịch nói:
- Chống
thuyền rời bến một trăm thước, rồi buông sào đi bộ,
thì ngươi nói sao?
Sư
giơ cả hai tay lên đáp:
- Chẳng
hiểu! Chẳng hiểu!
Bản
tịch nói:
- Tha
cho ngươi một đòn!
Từ
đó danh tiếng của sư lan truyền khắp chốn tùng lâm.
Trong
khoảng niên hiệu Thiên Chương Bảo tự (1133-1138) sư được
vời về kinh. Vua Lý Thần Tông khen sư ứng đối hợp ý, phong
làm tăng lục, sau thăng đến chức tăng thống.
Một
hôm đệ tử Pháp Dung hỏi:
- Thầy
thấu đạt lẽ sắc không, vậy thì sắc là phàm hay là thánh?
Sư
bèn ứng khẩu đọc bài kệ rằng:
Lão
sinh hưu vấn sắc kiêm không
Học
đạo vô qua phỏng tổ tông
Thiền
ngoại mịch tâm nan định thế
Nhân
gian thực quế khởi thành tùng
Càn
khôn tận thị mao đầu thượng
Nhật
nguyệt bao hàm giới tử trung
Đại
dụng hiện tiền quyền tại thủ
Thùy
tri phàm thánh dữ tây đông.
Dịch:
Kiếp
trần khoan nói sắc cùng không
Học
đạo gì hơn hỏi tổ tông
Tâm
kiếm ngoài trời khôn định thể
Quế
trồng ngoài trời khôn định thể
Quế
trồng cõi tục há đăm bông?
Mảy
lòng chứa cả kiếp khôn rộng
Hạt
cải thu gồm nhật nguyệt trong
Trước
mắt nắm ngay công dụng lớn
Ai
hay phàm thánh với tây đông?
ĐÀO
PHƯƠNG BÌNH
(TVLT1)
Ngày
27 tháng giêng năm Nhâm tuất niên hiệu Đại Định thứ 3
(1142) sư lâm bệnh rồi qua đời, thọ 76 tuổi. Sư có tác
phẩm Ngộ đạo thi ca tập lưu hành ở đời.
Nguyên
chú: Theo Sử ký(1) sư thị tịch năm Thiên Chương Bảo Tự
thứ 3 (1135). Tại đây xin cứ ghi cả hai thuyết ấy.
*
*
*
Thế
hệ thứ mười lăm
3 người,
chép thiếu một người.
Thiền
sư GIỚI KHÔNG
Chùa
ở hương Tháp Bát, quận Mãn Đẩu. Thiền sư họ Nguyễn,
tên là Tuân, con nhà lương gia trong bản quân. Từ thuở nhỏ
ông đã mến chuộng đạo Phật, xuất gia thụ giới cụ túc
với thiền sư Quảng Phúc ở chùa Nguyên Hòa núi Chân Ma. Sau
mấy năm tu học, sư lĩnh hội được ý chỉ của thầy rồi
đến núi Lịch Sơn dựng thảo am chuyên chú tu tập thiền
định trong khoảng năm sáu năm. Sáu sư xuống núi chống thiền
trượng tùy phương hóa đạo. Qua vùng Nam Sách, sư trụ lại
lền Thánh Chúa tu hạnh Đầu đà trong sáu năm, ác thú đều
đến thuần phục, quỉ thần cũng đến xin sư sai khiến.
Vua
Lý Thân Tông nhiều lần sai đem chiếu chỉ thỉnh sư về kinh,
nhưng sư từ chối. Đến năm Thiên Thuận thứ 8 (1135)(1) dịch
bệnh hoành hành, vua lại vời sư về kinh chữa bệnh. Sư vừa
về đến cửa khuyết thì có sắc chỉ ủy cho sư đến chùa
Gia Lâm để làm phép chú thủy chữa bệnh, mỗi ngày cứu
sống được hàng nghìn người. Vua khen ngợi cấp cho 10 hộ
được miễn tô thuế để phụng dưỡng.
Về
già sư trở về bản hương lo việc trùng tu các chùa hoang
phế, tất cả được 95 sở. Một hôm sư không bệnh, gọi
tăng chúng đến đọc bài kệ:
Ngã
hữu nhất sự kỳ đặc
Phí
thanh hoàng xích bạch hắc
Thiên
hạ tại gia xuất gia
Thân
sinh ố tử vi tặc
Bất
tri sinh tử dị lộ
Sinh
tử chỉ thị thất đắc
Nhược
ngôn sinh tử dị đồ
Trảm
khước Thích ca, Di Lặc
Nhược
tri sinh tử, sinh tử(1)
Phương
hội lão tăng xử nặc
Nhữ
đẳng hậu học môn nhân
Mạc
nhận bản tinh quỹ tắc
Dịch:
Ta
có việc này kỳ quặc
Chẳng
xanh vàng đỏ trắng đen
Cả
người tại gia xuất gia
Tham
sinh gét tử là giặc
Chẳng
hay sống chết khác nẻo
Sinh
tử chỉ là được mất
Bảo
rằng sinh tử khác đường
Lừa
dối Thích Ca, Di Lặc
Biết
sinh tử là sinh tử
Mới
hiểu nơi ta ẩn nấp
Môn
nhân hậu học các ngươi
Chớ
nên nhỏ hẹp lầm chấp!
Đọc
kệ xong, sư cười lớn một tiếng, rồi chắp tay mà viên
tịch. Môn nhân đệ tử là châu mục Lê Kiếm, phòng át sứ
Hán Công Đinh (?) làm lễ hỏa táng, thu xá lị, xây tháp, đắp
tượng, đèn hương cũng dâng.
*
*
*
Thiền
sư PHÁP DUNG(1)
(?-1174)
Chùa
Hương Nghiêm(2) núi Ma Ni, phú Thanh Hóa.
Thiền
sư người Bối Lý, họ Lê, là dò