THIỀN
UYỂN TẬP ANH TỰ
(Bài
Tựa sách Thiền uyển tập anh)
THIỀN
PHÁI VÔ NGÔN THÔNG
Tại
sao lại lấy nghĩa là “Thiền uyển tập anh”? Đáp rằng:
“đó là lấy nghĩa lựa chọn những bậc anh tú trong vườn
Thiền. Tại sao lại như vậy? Bởi vì môn đồ của Thiền
tông thì nhiều mà những bậc thấu hiểu lý huyền vi thì
không có mấy, quả thật như phượng giữa đàn gà, lan trong
bụi cỏ. Nừu không phải là những người có thiên tư lỗi
lạc, hiểu biết hơn người thì làm sao thấu suốt được
những yếu chỉ huyền vi đủ làm kẻ lãnh tụ cho người
học đạo, làm khuôn mẫu cho người đời sau? Đúng là trong
vườn Thiền những người anh kỳ không phải nhiều, do đó
phải chọn lấy những bậc danh cao đức trọng để tiện
cho những người học Phật noi theo. Cái nghĩa của “Tập
anh” là như thế, do đó được dùng để đặt tên cho tập
sách này.
Kể
từ buổi đầu thời hỗn độn(1) có Phật Uy Âm(2) xuất thế
là đấng tị tị tố của Thiền tông. Nhưng thời bấy giờ
phong tục còn thuần hậu, con người chất phác, kinh giáo còn
ở giữa cõi hư không nên chưa cần nói ra để hóa độ chúng
sinh. Nhà nào lấy ma làm Phật thì nhà ấy dối trá ngày sinh,
gian dâm ngày càng nổi lên, nghiệp căn càng kết, tội chướng
càng sâu, không giúp cho họ bằng con thuyền từ bi tế độ
thì không thể được. Cho nên Phật Thích Ca xuất hiện ở
cõi Sa Bà(1) giảng kinh thuyết kệ để giáo hóa chúng sinh,
trải tu chính kiếp, công quả tròn đầy. Thế là Phật giáo
được thi hành rộng khắp, Thiền tông tiếp nối. Gió đưa
hơi thanh mát cho sáu đạo(2), tuyết vùi lửa bỏng cháu ở
ba đường(3). Bí quyết thành Phật, thành Tổ cũng từ đây
mở mối.
Nước
Đại Việt ta được lời Phật thấm nhuần khắp cả, được
mưa pháp gội sóng nhiều nơi, người cạo tóc xuất gia được
ấn chứng ngô đạo có lẽ cũng đã có rồi. Chứng tích để
lại còn cho thấy lòng thiền của họ sáng như mặt trời,
gương đạo của họ trắng ngời như băng tuyết. Có bậc
ra giúp nước yên thân, có người vào đời để cứu vớt
kẻ bị sa ngã, chìm đắm. Có người sớm lĩnh ngộ tâm ấn,
chống gậy Thiền để làm rõ lẽ cơ vi của Tổ Đạt Ma,
cũng có kẻ muộn đến cửa huyền mà làm hiển rạng bí chú
của Đồ Trừng(4). Họ có đức thuần phục chim rừng, khiến
chúng tìm đến cửa nghe kinh, khiến đã thú vây tụ quanh(5),
vào nhà dâng quà. Đó là do lòng thành của các bậc ấy cảm
hóa mà chúng tin theo, do cái học sở đắc mà các bậc ấy
có phép thần thông biến hóa. Há chẳng phải đó là cái huyền
diệu của phép sư đệ truyền tâm ấn(1) đó sao? Thực đủ
để làm những bậc anh tú trong vườn Thiền.
Than
ôi! Đạo Phật rất huyền vi, mà tâm là cái huyền vi trong
huyền vi; đạo Phật rất lớn mà tâm là cái lớn trong cái
lớn. Tâm ơi! Tâm ơi! Tâm là chủ tể của việc tu đạo đấy
chăng?
Tập
Thiền uyển này ghi từ thiền sư Vô Ngôn Thông là người
bắt đầu truyền đạo(2). Ánh đèn truyền đạo tiếp nối,
ngọn ngọn huy hoàng. Nhưng rộng thì làm gọn lại, lớn thì
thu nhỏ lại. Cuối cùng cốt đạt cho được cái tâm Vô thượng
chính giác(3) vậy. Xét cho cùng thì phải chăng là không rửa
sạch sáu trần(4), xa lìa bốn tướng(5) mà có thể đạt được
như vậy?
Tôi
vốn học sách Nho, tham cầu Phật điển, nghĩ rằng cái “vô”,
cái “hữu” tuy là hai đường nhưng xét cho cùng thì tựa
như cùng một lý. Nhân khi rỗi rãi ngồi trong phòng sách, có
một nhà sư đến chơi, cùng tôi bàn luận về đạo Phật,
trò chuyện hồi lâu đều là những chuyện lông rùa sừng
thỏ. Rồi nhà sư lấy trong tay áo ra cuốn sách Tập anh, nhờ
tôi sửa sang câu cú để tiện việc trùng sang, tránh được
sai sót. Tôi đọc trong sách ấy thấy ghi chép nhiều bậc cao
tăng, danh tố, sức học của họ rất sâu, chứng đạo rất
diệu, bất giác trong lòng tôn kính khâm phục. Các bậc ấy
bàn về đạo không, nói về sự giác ngộ, cố nhiên không
phải là phận sự của tôi. Nhưng Kinh Dịch từng nói: “Trẻ
nhỏ cầu ta kể chuyện, không thể không nghe theo”. Tôi đành
phải nhận lời với nhà sư sửa lại chỗ sai, bổ vào chỗ
sót. Trong khoảng mười ngày thì nghĩa lý, câu chữ của tập
sách lại được uyển chuyển như cũ, chẳng khác gì ánh trăng
càng thêm sáng tỏ. Nhà sư nhân đó xin tôi viết cho một bài
tựa khắc ở đầu sách để hiển dương Phật giáo. Tôi không
dám tiếc công sức bèn gọi tiểu đồng đem giấy bút đến
để làm theo lời nhà sư chỉ bảo. Bèn cầm bút thảo một
mạch bài tựa quê mùa này. Nhà sư vái chào nhận bài tựa
ấy.
Kính
cẩn đề tựa.
Thời
Lê Triều, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715), tháng tư, ngày
lành, trùng san.
Môn
đồ nối bước Thiền tông là Thích tử Như Trí;
Sa
di Tính Nhu, Tính Quán, Tính Trung, Tính Huy, Tính Kiến, Tính
Bản.
Thiện
nam: Tính Phận, Tính Thành, Tính Từ, Tính Hưng, Tính Minh, Tính
Thúy.
Thiện
nữ: Diệu Tăng, Diệu Đạo, Tính Phụng(1)
THIỀN
PHÁI VÔ NGÔN THÔNG
Thiền
sư VÔ NGÔN THÔNG
(?
-826)
Chùa
Kiến Sơ(1) hương Phủ Đổng, huyện Tiên Du.
Thiền
sư họ Trịnh, vốn người Quảng Châu (Trung Quốc) thuở nhỏ
ham thích môn Không học(2), bỏ gia sản đến thụ nghiệp tại
chùa Song Lâm ở Vụ Châu. Tính sư cẩn trọng, trầm lặng,
nói ít hiểu nhiều, thông đạt sư lý, vì thế người đương
thời gọi là Vô Ngôn Thông (sách Truyền đăng chép là Bất
ngữ thông)(3)
Một
hôm sư đang lễ Phật, có vị thiền khách đến hỏi:
- Thầy
đang lễ gì đó?
Sư
đáp:
- Lễ
Phật.
Vị
thiền khách chỉ tượng Phật mà hỏi:
- Đây
là cái gì?
Sư
không trả lời được. Tối hôm ấy, sư ăn mặc chỉnh tề
dến lạy vị thiền khách, thưa rằng:
- Hôm
nay thầy hỏi, tôi chưa hiểu rõ ý chỉ thế nào?
Khách
hỏi:
- Thầy
xuất gia đến nay đã mấy hạ (1)?
Sư
đáp:
- Mười
hạ.
Khách
hỏi:
- Đã
từng xuất gia chưa?
Sư
tỏ ra bối rối. Khách hỏi:
- Nếu
không hiểu điều đó thì dù trăm hạ cũng chẳng ích gì.
Nói
đoạn bèn dẫn sư cùng đi yết kiến Mã Tổ (2). Đến Giang
Tây thì tổ đã thị tích(3) vị thiền khách bèn đưa sư đến
yết kiến thiền sư Bách Trượng Hoài Hải(4). Bây giờ có
vị tăng hỏi bách Trượng.
- Thế
nào là pháp môn đốn ngộ của Đại Thừa?
Bách
Trượng đáp:
- Đất
lòng rỗng không thì mặt trời trí tuệ tự chiếu.
Sư
nghe lời nói ấy cảm thấy có điều sở đắc, bèn trở về
trụ trì tại chùa Hòa An ở Quảng Châu. Có người hỏi sư:
- Thầy
là thiền sư chăng?
Sư
đáp:
- Bần
đạo chưa từng học Thiền.
Hồi
lâu sau sư mới gọi người kia, chỉ vào cây thôi lư (cây
xoan)(1). Người ấy im lặng không hỏi nữa.
Khi
thiền sư Ngưỡng Sơn(2) còn làm sa di(3), sư từng gọi bảo:
- Này
Tịch, đem chiếc giường kia lại đây cho ta!
Ngưỡng
Sơn khiêng giường đến, sư lại nói:
- Đưa
về chỗ cũ!
Ngưỡng
Sơn làm đúng như thế. Sư lại hỏi:
- Này
Tịch, bên kia có cái gì?
Ngưỡng
Sơn đáp:
- Không
có vật gì.
Sư
lại hỏi:
- Bên
này có gì?
Đáp:
- Không
có vật gì.
Sư
gọi:
- Này
Tịch!
Ngưỡng
Sơn dạ đáp, sư bảo:
- Đi
đi!
Tháng
chín năm Canh Tí niên hiệu Đường Nguyên Hòa thứ 15 (820),
sư đến chùa Kiến Sơ. Ngoài hai bữa cơm cháo, suốt ngày
sư chỉ ngồi quay mặt vào tường, không nói một lời, chuyên
chú tu tập thiền định làm vui. Suốt mấy năm liền như thế
nên người ngoài không ai biết sư, chỉ có sư trụ trù chùa
là Cảm Thành hết lòng kính cẩn hầu hạ. Cảm Thành gần
gũi bên cạnh sư để học hỏi những điều cơ vi huyền diệu,
hiểu rõ yếu chi của Thiền Tông.
Một
hôm sư không bệnh, tắm rửa, thay quần áo rồi gọi Cảm
Thành đến bảo:
- Ngày
trước tổ ta là Nam Nhạc Hoài Nhượng thiền sư, khi quy tịch
có bảo rằng:
Nhất
thiết chư pháp
Giai
tòng tâm sinh
Tâm
vô sở sinh
Pháp
vô sở trụ
Nhược
đạt tâm địa
Sở
tác vô ngại
Phi
ngộ thượng căn
Thận
vật khinh hứa.
Tất
cả các pháp
Đều
từ tâm sinh
Tâm
không chỗ sinh
Pháp
không chỗ trụ
Nếu
đạt đất lòng
Làm
gì chẳng ngại
Không
gặp thượng căn
Cẩn
thận chớ nói(2)
Nói
đoạn sư chắp tay mà qua đời. Thiền sư Cảm Thành làm lễ
hỏa táng(3) rồi thu xá lị, dựng tháp phụng thờ ở núi
Tiên Du. Bây giờ là ngày 12 tháng giêng năm Bính Ngọ niên
hiệu Bảo Lịch thứ 2 (826) thời cuộc Đường.
Lại
cách hai mươi tám năm (?) đến năm Đinh Sửu niên hiệu Khai
Hựu thứ 24 (1337)(1) Thiền học nước Việt ta bắt đầu từ
[Vô Ngôn] Thông thiền sư(2) ở chùa Kiến Sơ vậy.
Thế
hệ thứ nhất(1)
Thiền
sư CẢM THÀNH
(?-860)
Chùa
Kiến Sơ.
Thiền
sư là người huyện Tiên du, họ(2)... Lúc mới xuất gia ở
tụng kinh làm đầu. Phụ hào trong làng là ông họ Nguyễn
kính mộ đ núi Tiên Du thuộc bản quân, đạo hiệu là Lập
Đức. Lấy việc trì giới ức hạnh cao cả của sư, tự nguyện
cúng gia trạch làm chùa, mời sư đến trụ trì nhưng sư từ
chối. Đêm ấy sư chiêm bao thấy thần nhân đến bảo: “Nếu
làm theo chí nguyện của nhà họ Nguyễn thì chỉ chừng vài
năm sẽ gặp may lớn”. Vì thế sư bèn nhận lời mời của
ông họ Nguyễn (chùa ấy chính là chùa Kiến Sơ ở hương
Phù Đổng).
Sau
đó không bao lâu, Thông thiền sư đến. Sư biết đó không
phải là người thường, ngày đêm hầu hạ chưa từng biếng
trễ. Thông thiền sư cảm động lòng thành khẩn của Lập
Đức bèn đổi tên cho là Cảm Thành.
Một
hôm Thông thiền sư bảo Cảm Thành:
- Xưa
Thế tôn vì nhân duyên lớn mà xuất hiện ở thế gian. Hóa
duyên xong ngài nhập Niết Bàn. Diệu tâm ấy gọi là chính
pháp nhân tạng, thực tướng, vô tướng và tam muội pháp
môn. Đích thân Thế tôn giao cho đệ tử là tôn già Ma Ha Ca
Diếp(1) làm tổ thứ nhất, các đời nối truyền, đến Đạt
Ma đại sư(2) từ Tây Trúc sang trải bao hiểm nguy vì truyền
pháp này. Đến tổ thứ sáu Tào Khê (Huệ Năng) được tổ
thứ năm (Hoằng Nhẫn) bảo cho biết rằng(3) “Khi Đạt Ma
mới đến, người đời chưa tin hiểu nên lấy việc truyền
y bát đề tỏ rõ việc đắc pháp. Nay đức tin đã chín muồi,
y bát có thể trở thành đầu mối tranh chấp cho nên phải
dừng lại ở ngươi, không truyền tiếp nữa”. Từ đó chỉ
lấy tâm truyền tâm, không truyền y bát.
“Bây
giờ Nam Nhạc Hoài Nhượng là người đầu tiên được truyền
tâm pháp. Nhượng truyền cho Mã Tổ Đạo Nhất. Đạo Nhất
truyền cho Bách Trượng Hoài Hải. Ta nhận được tâm pháp
ở Bách Trượng. Phép đó tử lâu đã có tiếng vang, nghe ở
phương này(4) đã có đông người hâm mộ Đại Thừa, vậy
nên ta đến để tìm kẻ thiện trí thức. Nay ta gặp ngươi
cũng là nhờ có nhân duyên kiếp trước. Hãy nghe lời kệ
của ta:
Chư
phương hạo hạo
Võng
tự huyên truyền
Vi
ngô thủy tổ
Thân
tự Tây Thiên
Truyền
pháp nhãn tạng
Mục
vi chi thiền
Nhất
hoa ngũ diệp
Chủng
tử miêm miên
Tiềm
phù mật ngữ
Thiên
vạn hữu duyên
Hàm
vị Tâm tông
Thanh
tịnh bản nhiên
Tây
Thiên thử thổ
Thử
thổ Tây Thiên
Cổ
kim nhật nguyệt
Cổ
kim sơn xuyên
Xúc
đồ thành trệ
Phật
tổ thành oan
Sai
chi hào ly
Thất
chi bách thiên
Nhữ
thiện quan sát
Mạc
khiểm nhi tôn
Trực
nhiêu vấn ngã
Ngã
bản vô ngôn.
Dịch:
Các
nơi đồn đại
Dối
tự trạo truyền
Rằng
thủy tổ ta
Gốc
tự Tây Thiên
Truyền
pháp nhân tạng
Gọi
đấy là Thiền
Một
hoa năm lá
Hạt
giống liên miên
Ngầm
hợp mật ngữ
Muôn
ngàn có duyên
Tâm
tông đều gọi
Thanh
tịnh bản nhiên
Tây
Thiên cõi này
Cõi
này Tây Thiên
Xưa
nay nhật nguyệt
Xưa
nay sơn xuyên
Chạm
đến thành trệ
Phật
tổ thành oan
Sai
một mảy may
Đi
mất trăm ngàn
Ngươi
khéo quan sát
Chớ
lừa cháu con
Nói
thẳng đến ta
Ta
vốn vô ngôn
MINH
CHI
(LSPGVN)
Sư
nghe lời kệ của tổ liền tỉnh ngộ.
Có
vị tăng hỏi:
- Thế
nào là Phật?
Sư
đáp:
- Khắp
tất cả mọi nơi.
Lại
hỏi:
- Thế
nào là Phật tâm?
Đáp:
- Chưa
từng che giấu.
Người
ấy lại nói:
- Kẻ
học đạo này chưa hiểu.
Sư
đáp:
- Ngươi
trượt qua rồi!
Sau
thiền sư không bệnh mà qua đời. Bấy giờ là năm Canh thìn
niên hiệu Đường Hàm Thông thứ 1 (860).
*
* *
Thế
hệ thứ hai
1 người
Thiền
sư THIỆN HỘI
(?
– 901)
Chùa
Dịnh Thiền, hương Siêu Loại(1)
Thiền
sư người hương Điển Lãnh, thủa nhỏ xuất gia theo hầu
sư Tiệm Nguyên ở chùa Đông Lâm thuộc bản hương, tự hiệu
là Tổ Phong. Ông từng vân du nhiều nơi để cầu học yếu
chỉ Thiền tông. Gặp thiền sư Cảm Thành ở chùa Kiên Sơ
bàn theo hầu để học đạo, hơn mười năm không lúc nào
tỏ ra mỏi mệt. Một hôm sư vào phòng hỏi thầy:
- Trong
kinh nói Thích Ca Như Lai tu hành trải qua ba “A tăng kỳ”(2)
mới thành Phật. Nay thầy lại nói “Tâm tức Phật, Phật
tức tâm”, đệ tử chưa hiểu rõ, xin thầy dạy bảo cho.
Cảm
Thành hỏi:
- Ngươi
bảo trong kinh nói, tức là ai nói?
Sư
đáp:
- Chẳng
lẽ đó không phải là lời Phật hay sao?
Cảm
Thành nói:
- Nếu
là Phật nói thì tại sao trong kinh Văn Thủ lại nói: “Ta
ở thế gian bốn mươi chín năm chưa nói một chữ dạy người”?
Vả
lại cổ nhân nói nếu tìm văn để làm chứng thì càng thêm
ngưng trệ: khổ hạnh mà cầu Phật là mê muội, lìa tâm cầu
Phật thì đó là kẻ ngoại đạo. Cứ nắm chấp cái tâm coi
là Phật thì đó là Ma quân.
Sư
hỏi:
- Như
thế trong cái tâm ấy, cái gì không phải là Phật? Cái gì
chính là Phật?
- Cảm
Thành đáp:
- Xưa
có người hỏi Mã Tổ: “Tâm tức là Phật, Phật tức là
tâm, vậy cái gì là Phật?” Mã Tố đáp “Ngươi ngỡ cái
gì không phải là Phật thì chỉ ta xem?”. Người kia không
trả lời được. Mã Tổ nói: “Hiểu thấu được thì khắp
nơi đều là Phật. Không giác ngộ thì sai lầm mãi”. Chỉ
một thoại đồ ấy ngươi đã hiểu chưa?(1)
- Đệ
tử đã lĩnh ngộ rồi.
Cảm
thành nói:
- Người
lĩnh ngộ thế nào?
Sư
đáp:
- Khắp
mọi nơi chẳng đâu không phải là tâm Phật.
Nói
xong bèn sụp xuống lạy tạ. Cảm Thành nói:
Vậy
là ngươi hiểu đúng rồi.
Nhân
đó Cảm Thành đặt tên cho sư là Thiện Hội.
Về
sau thiền sư thị tịch ở bản chùa. Đó là năm Canh thân
niên hiệu Đường Quang Hòa thứ 3 (901).
*
* *
Thế
hệ thứ ba
Thiền
sư VÂN PHONG
(?-957)
Chùa
Khai Quốc(1) kinh đô Thăng Long
Thiền
sư người huyện Từ Liêm, quận Vĩnh Khang, họ Nguyễn còn
có một pháp danh khác là Chủ Phong thiền sư. Khi mang thai bà
mẹ thường trai giới, tụng kinh niêm Phật. Đến khi sinh thấy
hào quang tỏa sáng khắp nhà, cha mẹ cho là điều lạ, có
ý định ngày sau sẽ cho con xuất gia. Lớn lên theo hầu thiền
sư Thiện Hội ở hương Siêu Loại. Sư thường hầu chuyện
riêng với thầy để được làm đệ tử thân tín, có dịp
hỏi han những điều huyền vi, hiểu biết Thiền học ngày
càng tăng tiến. Thiện Hội từng bảo sư:
- Sống
chết là việc lớn, cần phải suy ngẫm cho thấu đáo
Sư
hỏi:
- Khi
sống, chết đến, làm sao mà tránh?
Thiện
Hội đáp.
- Phải
nắm lấy chỗ không sống chết mà tránh.
Lại
hỏi:
- Thế
nào là chỗ không sống chết?
Đáp:
- Phải
ở trong sống chết mới nhận biết được.
Hỏi:
- Làm
thế nào mà tìm được?
Thiện
Hội nói:
- Ngươi
hãy đi đi! Chiều muộn lại đến!
Sư
bèn đi ra, đúng hẹn, chiều hôm đó lại đến. Thiện Hội
nói:
- Đợi
đến sáng mai mọi người sẽ chứng tỏ cho người biết.
Sư
bừng tỉnh bèn sụp xuống lạy tạ. Thiện Hội hỏi:
- Ngươi
thấy được đạo lý gì?
Sư
đáp:
- Đệ
tử đã lĩnh hội được rồi!
Thiện
Hội lại hỏi:
- Ngươi
lĩnh ngộ cái gì?
Sư
bèn giơ nắm tay nói:
- Kẻ
bất tiếu bị cái này che lấp!
Thiện
Hội bèn thôi không hỏi nữa. Về sau, sư quy tịch năm Bính
Thìn
niên hiệu Chu Hiển Đức cho 3 (957).
*
* *
Thế
hệ thứ tư
2 người,
chỉ chép 1 người
Đại
sư KHUÔNG VIỆT
(933-1011)
Chùa
Phật Đà, hương Cát Lị,(1) huyện Thường Lạc.
Ông
người hương Cát Lị, huyện Thường Lạc, họ Ngô tên là
Chân Lưu, là hậu duệ của Ngô Thuận(2). Ông dáng mạo khôi
ngô tuấn tú, tính tình phóng khoáng, có chí khí cao xa. Thuở
nhỏ theo học Nho, lớn lên theo đạo Phật, cùng bạn đồng
học Trụ Trì đến chùa Khai Quốc thụ giới cụ túc với
thiền sư Vân Phong, nhờ đó được đọc rộng kinh điển
Phật giáo, hiểu sâu yếu chí Thiền học. Năm bốn mươi tuổi,
danh tiếng vang dội đến triều đình. Vua Đinh Tiên Hoàng vời
về kinh đô (Hoa Lư) hỏi chuyện. Sư đối đáp hợp ý, được
vua phong giữ chức Tăng thống. Năm thứ 2 niên hiệu Thái Bình
(971) sư được ban hiệu là Khuông Việt đại sư. Dưới triều
vua Lê Đại Hành, sư đặc biệt được vua kính trọng, phàm
các việc quân quốc triều đình, sư đều được tham dự.
Sư thường đi chơi ở núi Vệ Linh, quận Bình Lỗ, thích nơi
đây cảnh trí đẹp, thanh u, muốn dựng am để ở. Ban đêm
sư chiêm bao thấy thần nhân mặc áo giáp vàng, tay phải đỡ
ngọn bảo tháp, theo sau có hơn chục tên quân hầu dáng mạo
hung dữ. Vị thần bảo với sư rằng: “Ta là Tì Sa Môn(1)
thiên vương, quân hầu theo ta đây đều là bọn quỷ Dạ xoa.
Thiên đế có sắc chỉ sai ta đến nước này gìn giữ cương
giới để cho Phật pháp được hưng thịnh. Ta có duyên với
ngươi nên đến đây để nhờ cậy”. Khi trời sáng, sư vào
núi thấy một cây cổ thụ cao chừng mười trượng, cành
lá xum xuê tươi tốt, phía trên có đám mây lành che bóng.
Sư nhân đó thuê thợ đốn cây ấy lấy gỗ tạc tượng thần
theo đúng như đã thấy trong mộng để thờ phụng.
Năm
Thiên Phúc thứ nhất (981), quân Tống sang xâm lược nước
ta. Trước đó, vua đã biết chuyện này, bèn sai sư đến đền
cầu đảo xin thần phù hộ. Quân giặc kinh sợ lui về giữ
sông Hữu Ninh. Đến đây, bọn chúng lại thấy sóng gió nổi
lên ùn ùn, giao long nhảy tung trên mặt nước, quân giặc sợ
hãi tan chạy.
Năm
Thiên Phúc thứ bẩy (986) nhà Tống sai Lý Giác (2) sang sứ
nước ta. Bấy giờ pháp sư Đỗ Thuận cũng có danh tiếng
lớn. Vua sai pháp sư cải trang làm giang lệnh đón tiếp sứ
giả ở bến sông. Giác thấy giang lệnh có tài nói chuyện
bèn làm thơ tặng, trong đó có câu “Thiên ngoại hữu thiên
ưng viễn chiếu” (ngoài trời lại có trời soi nữa). Vua
bảo Đỗ pháp sư đưa cho Khuông Việt xem. Khuông Việt xem
xong nói: “Sứ Bắc tôn kính bệ hạ không kém gì vua Tông”.
Khi Giác trở về sư làm bài từ Ngọc lang quy đưa tiễn:
Tường
Quang phong hào cẩm phàm trương
Thần
tiên phục đế hương
Thiên
trùng vạn lý thiệp thương lang
Cửu
thiên quy lộ trường
Tình
thảm thiết
Đối
ly trường
Phan
luyến sứ tinh lang
Nguyện
tương thâm ý vị Nam cương
Phân
minh báo ngã hoàng.
Dịch:
Nàng
tươi gió thuận cánh buồng giương
Thần
tiên lại đế hương
Vượt
sóng xanh muôn dặm trùng dương
Về
trời xa đường trường
Tình
thắm thiết
Chén
lên đường
Vin
xe sứ vấn vương
Xin
đem thâm ý vì Nam cương
Tâu
vua tôi tỏ tường(1).
HÀ
VĂN TẤN
(LSPGVN)
Về
sau sư lấy cớ già yếu xin cáo quan trở về dựng chùa ở
núi Du Hi thuộc quận nhà, rồi trụ trì ở đấy, người các
nơi đến theo học rất đông. Một hôm đệ tử thân cận
là Đa Bảo hỏi sư:
- Thế
nào là thủy chung của đạo học?
Sư
đáp:
- Thủy
chung không vật thảy hư không
Hiểu
được Chân Như, thể ắt đồng.
(Thủy
chung vô vật diệu hư không
Hội
đắc Chân Như thế tự đồng)
Đa
Bảo hỏi:
- Lấy
gì bảo chứng?
Sư
đáp:
- Không
có chỗ cho người hạ thủ.
Đa
Bảo thưa:
- Hòa
thượng nói rõ rồi.
Sư
đáp:
- Người
hiểu thế nào?
Đa
Bảo bèn hết lên một tiếng.
Ngày
mười lăm tháng hai niêu hiệu Thuận Thiên thứ hai (1011, đời
Lý Thái Tổ), trước lúc quy tịch, sư gọi Đa Bảo đến đọc
lời kệ rằng:
Mộc
trung nguyên hữu hỏa
Nguyên
hỏa phục hoàn sinh
Nhược
vị mộc vô hỏa
Toàn
toại hà do manh?
Dịch:
Lửa
trong cây có sẵn
Dù
tắt lại bùng ngay
Nếu
bảo cây không lửa
Xát
mạnh sao cháy cây?
Nói
xong sư ngồi kiết già mà qua đời, thọ 52 tuổi (có người
nói thọ 79 tuổi)(1)
*
* *
Thế
hệ thứ năm
Thiền
sư ĐA BẢO
Chùa
Kiến Sơ, hương Phù Đổng, huyện Tiên Du.
Không
biết sư người ở đâu, cũng không rõ họ gì. Bây giờ Khuông
Việt đại sư giáo hóa ở chùa Khai Quốc, sư đến tham thiền
học đạo, được đại sư khen là người lĩnh ngộ cơ vi,
xử sự kính cẩn, riêng được đại sư nhận làm đệ tử
thân tín. Sau khi đắc pháp, sư một mình theo bình bát đi vân
du ngoại vật, sau đến trụ trì ở chùa Kiến Sơ.
Khi
Lý Công Uẩn còn nhỏ tuổi, sư thấy dáng mạo tinh anh tuấn
tú khác thường, bèn nói: “Cậu bé này cốt tướng chẳng
phải tầm thường, ngày sau làm vua ắt là người này”. Lý
Công Uẩn cả sợ nói: “Ngày nay thánh đế đang trị vì,
trong nước yên bình, sư nói thế không khéo gây họa tru di
cho cả họ nhà tôi”. Sư nói:
- Mệnh
trời đã định như thế, dù muốn trốn tránh cũng không được.
Nếu quả đúng như lời, mong đừng nhau!
Sau
khi lên ngôi, Lý Thái Tổ nhiều lần vời sư về kinh thỉnh
vấn yếu chỉ của Thiền tông, ân lễ tiếp đãi trọng hậu,
các việc chính sự triều đình đều mời sư dự bàn định
đoạt. Vua từng xuống chiếu cho trùng tu chùa Kiến Sơ là
nơi sư trụ trì. Về sau không biết sư tịch ở đâu.
*
* *
Thế
hệ thứ sáu
3 người,
chép thiếu 1 người
Trưởng
lão ĐỊNH HƯƠNG
(?-1051)
Chùa
Cảm Ứng(1), núi Ba sơn, phù Thiên Đức.
Trưởng
lão họ Lã, người hương Chu Minh, suốt đời tu hành thanh
tịnh. Xuất gia từ lúc còn nhỏ, theo hầu học đạo với
thiền sư Đa Bảo hơn hai mươi năm. Môn đồ của Đa Bảo
có đến hơn một trăm người mà chỉ Định Hương và Quốc
Bảo Hòa(2) được chọn là giỏi nhất, về yếu chỉ của
Thiền tông thì Định Hương thấu hiểu sâu sắc hơn. Một
hôm sư hỏi Đa Bảo:
- Làm
sao thấy được chân tâm?
Đa
Bảo đáp:
- Chính
ngươi phải tự phát hiện lấy!
Định
Hương khoát nhiên tỉnh ngộ nói:
- Tất
cả đều như thế, đâu phải chỉ riêng đệ tử.
Đa
Bảo hỏi:
- Ngươi
đã hiểu chưa?
Đáp:
- Đệ
tử hiểu rồi, nhưng cũng giống như chưa hiểu.
Đa
Bảo nói:
- Phải
lấy tâm ấy mà bảo nhậm.
Sư
ôm tai đứng quay lưng lại:
Đa
Bảo bèn quát bảo:
- Đi
đi!
Định
Hương sụp xuống lạy ta. Đa Bảo nói:
- Về
sau giao tiếp với người, ngươi phải làm như kẻ điếc.
Ở
kinh đô, có viên Đô tướng Thành hoàng sứ là Nguyễn Tuân
kính mộ danh đức của sư, mời sư về trụ chùa Cảm Ứng,
học trò đến theo học rất đông. Đối với người đời,
sư có công dạy bảo cảm hóa không nhỏ. Ngày ba tháng năm
Canh dần niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1051) đời Lý Thái Tông,
sự lâm bệnh, gọi đệ tử đến đọc bài kệ vĩnh biệt.
Bản
lai vô xứ sở
Xứ
sở thị chân tông
Chân
tông như thị ảo
Ảo
hữu tức không không
Dịch:
Xưa
nay không xứ sở
Xứ
sở ấy chân tông
Chân
tông hư ảo thế
“Có”
ảo tức “không” không.
Nói
xong sư im lặng mà quy hóa.
*
* *
Thiền
sư THIỀN LÃO
Chùa
Trùng Minh, núi Thiên Phúc, huyện Tiên Du.
Trước
sư đến tham vấn sư Đa Bảo ở chùa Kiến sơ lĩnh hội được
tâm yếu của Thiền tông. Sau sư đến trụ trì ở núi này(1)
có tiếng là bậc cao tăng đương thời. Học trò đến theo
học đông có tới hơn nghìn người. Chùa Trùng Minh trở thành
một thiền viện sầm uất trong chốn tùng lâm. Khoảng niên
hiệu Thông Thụy (1034 – 1038) vua Lý Thái Tông thường đến
thăm chùa. Vua hỏi:
- Hòa
thượng trụ ở núi này đã bảo lâu?
Sư
đáp:
- Tháng
ngày rày biết rõ
Xuân
thu cũ ai hay.
(Đản
tri kim nhật nguyệt
Thùy
thức cựu xuân thu)
Vua
lại hỏi:
- Hàng
ngày hòa thượng làm gì?
Đáp:
- Trúc
biếc hoa vàng đâu ngoại cảnh
Trăng
trong mây trắng rõ toàn chân
(Thúy
trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch
văn minh nguyệt lộ toàn chân)
Vua
hỏi:
- Có
ý chỉ gì?
Đáp:
- Nhiều
lời vô ích!
Vua
bừng tỉnh ngộ. Sau đó sai sứ đến mời sư về kinh thỉnh
vấn, nhưng khi sứ giả đến nơi thì sư đã quy tịch rồi.
Vua rất thương tiếc, làm thơ viếng, sai trung sứ đem lễ
vật phúng điếu, dựng dàn hoả táng, xây tháp xá lị ở
trong chùa. Lại cho sửa sang mở rộng chùa, cho môn đồ lo
đèn hương thờ phụng.
*
* *
Thế
thứ bẩy
Thiền
sư VIÊN CHIẾU
(999-1090)
Chùa
Cát Tường, kinh đô Thăng Long.
Thiền
sư họ Mai, tên Trực, người huyện Long Đàm(1), châu Phúc
Đường, là con người anh thái hậu Linh Cảm đời Lý(2). Thuở
nhỏ ông thông minh mẫn tuệ, hiếu học. Nghe tiếng trưởng
lão ở chùa Mật Nghiêm giỏi xem tướng, ông bèn đến nhờ
xem hộ. Trưởng lão xem kỹ tướng mạo rồi nói: “Ngươi
có duyên với Phật pháp, nếu xuất gia tất sẽ là vị Thiện
Bồ tát; nếu không thì thọ yểu chưa biết thế nào”. Sư
cảm ngộ rồi từ biệt thân quyến tìm đến thụ nghiệp
với thiền sư Định Hương ở núi Ba Tiêu. Trong những năm
ấy, sư suy cứu thiền học, chuyên chủ trì tụng kinh Viên
Giác, tinh thông phép Tam quán(3). Một đêm sư đang ngồi thiền
định thì mơ thấy Văn Thủ Bồ Tát cầm dao mổ bụng lôi
ruột sư ra rửa, rồi trao cho diệu dược để chữa vết thương.
Từ đó sư hiểu sâu ngôn ngữ Tam muội, thuyêt giảng trôi
chảy. Sau sư đến vùng gần kinh kỳ dựng chùa trụ trì, người
đến theo học đông nườm nượp. Có vị tăng hỏi:
- Nghĩa
của Phật và thánh như thế nào?
Sư
đáp:
- Cúc
trùng dương dưới giậu
Oanh
xuân ấm đầu cành.
(Ly
hạ trùng dương cúc,
Chi
đầu thục khí oanh)
Lại
hỏi:
- Đa
tạ hòa thượng, nhưng kẻ học này chưa hiểu, xin hòa thượng
chỉ giáo thêm cho.
Sư
đáp:
- Ngày
qua vầng ô chiếu
Đêm
đến bóng thỏ soi.
(Trú
tắc kim ô chiếu
Dạ
lại ngọc thố minh)
Hỏi:
- Đệ
tử hiểu ý thầy
Huyền
cơ là gì đây?
(Dĩ
hoạch sư chân chỉ
Huyền
cơ thị như hà?)
Đáp:
- Nước
đựng đầy thau bưng bất cẩn
Vấp
chân soài ngã hối làm chi.
(Bất
thận thủy bàn kình mãn khứ
Nhất
tao tha điệt hối hà chi?)
Thiền
tăng nói:
- Đa
tạ lời chỉ giáo của hòa thượng
Sư
nói:
- Chớ
rửa trên mặt nước
Thân
gieo nước tự chìm.
(Mạc
trạc giang ba nịch
Thân
lại khước tự trầm)
Hỏi:
- Thiếu
Thất (1), Ma Kiệt(2) rất huyền diệu, từ xưa đến nay ai
kể nối làm chủ?
Đáp:
- Tượng
trời nhật nguyệt thay sáng tối
Mạch
đất quanh co nối Nhạc Hoài(3).
(U
minh kiền tượng nhân ô thố
Khuất
khúc khôn duy vị Nhạc Hoài)
Hỏi:
- Thế
nào là đạo lớn
Nguồn
căn một lối về?
(Như
hà thi đại đạo
Căn
nguyên nhất lộ hành)
Đáp:
- Gió
thốc non cao hay cỏ cứng
Nước
mà nguy biến biết tôi trung.
(Cao
ngạn tật phong tri kính thảo
Bang
gia bản đăng thức trung lương)
Hỏi:
- Tất
cả chúng sinh từ đây tới, trăm năm sau về đâu?
Đáp:
- Rùa
mù đào vách núi
Trạch
que ngược núi cao.
(Manh
quy xuyên thạch bích
Phả
miết thướng cao sơn)
Hỏi:
- Trúc
biếc xanh xanh cũng đều là Chân như. Như vậy cái “dụng”
của Chân như là thế nào?
Đáp:
- Tặng
người đi nghìn dặm
Cười
đưa một ấm trà.
(Tặng
quân thiên lý viễn
Tiếu
bả nhất bình trà)
Hỏi:
- Thế
nào là “uổng công đến mà chẳng ích gì?”
Đáp:
- Ai
biết lên gò núi
Trên
đường đã bạc đầu
(Thùy
thức đông a khứ
Đồ
trung tái bạch đầu)
Hỏi:
- Nhà
sâu hiên im vắng
Ai
biêt bọn ta tìm
(Dã
hiên nhất thâm hộ
Thùy
thức đáng nhàn xao?)
Đáp:
- Kim
cốc(1) tiêu điều hoa cỏ xác
Trâu
dê sớm tối mặc ra vào.
(Kim
Cốc tiêu sơ hoa thảo loạn
Nhi
kim hôn hiểu nhậm ngưu dương)
Hỏi:
- Sao
lại như thế?
Đáp:
- Phú
quý không dè xẻn
Lâu
đài nối biển khơi
(Phú
quý kiêm kiêu thái
Phiên
linh bại thị lâu)
Hỏi:
- Long
Nữ(2) dâng châu thành Phật quả
Đàn
Na(1) bố thí phúc hằng bao?
(Long
nữ hiến châu thành Phật quả
Đàn
Na xả thí phúc như hà)
Đáp:
- Quế
trong trăng muôn thuở
Xum
xuê vẫn một vầng.
(Vạn
cổ nguyệt trung quế
Phù
sơ tại nhất luân)
Hỏi:
- Thế
nào là “vất vả mà chẳng nên công”?
Đáp:
- Trời
cao như gương sáng
Người
đời chốn chốn thông
(Thiên
thượng như huyền kính
Nhân
gian xứ xứ thông)
Hỏi:
- Qua
sông dùng bè mảng
Đến
bền bỏ ghe thuyền
(Độ
hà tu dụng phiệt
Đáo
ngạn bất tu thuyền)
Vậy
không sang sông thì thế nào?
Đáp:
- Ao
khô cá mắc cạn
Sống
được ắt muôn xuân.
(Hạc
trì ngư tại lục
Hoạch
hoạt vạn niên xuân)
Lại
hỏi:
- Thế
nào là “theo dòng thì mới được diệu lý”?
Đáp:
- Chuyện
cũ Kinh Kha đấy
Một
đi chẳng trở về.
(Kiến
thuyết Kinh Kha lữ
Nhất
hành cánh bất hồi)
Hỏi:
- Quặng
vàng lẫn lộn đều nguyên khí
Xin
sư phương tiện luyện cho tinh
(Kim
khoáng hỗn giao nguyên nhất khí
Thỉnh
sư phương tiện luyện tinh hình)
Đáp:
- Chẳng
phải Tề quân(1) khách
Nào
hay cá biển to.
(Bất
thị Tê quân khách
Ná
trì hải đại ngư)
Hỏi:
- Quách
ông(2) chẳng chịu hiểu
Cán
gián có làm chi?
(Quách
quân nhược bất nạp
Gián
ngữ diệc hề vi)
Đáp:
- Nếu
muốn uống rượu trước
Đừng
vẽ rắn thêm chân
(Nhược
dục tiên đề ấm
Hưu
vi xảo họa xà)
Hỏi:
- Rắn
sắp chết giữa đường, xin thầy cứu sống?
Sư
hỏi lại:
- Ngươi
là người phương nào?
Đáp:
- Vốn
là người ở núi.
Sư
nói:
- Núi
xưa về ẩn gấp
Đừng
gặp Hứa chân quân(1)
(Cấp
hồi cựu nham ẩn
Mạc
kiến Hứa chân quân)
Thầy
tăng lại hỏi:
- Kho
biển mênh mông chẳng màng đến
Khe
tào róc rách, ý sao đây?
(Hải
tạng thao thao ưng bất vấn
Tào
Khê trích trích thị như hà)
Đáp:
- Thông
reo trước gió tiếng buồn thay
Mưa
tạnh sau chân biết lối lầy
(Phong
tiền tùng hạ thê lương vận
Vũ
hậu đồ trung thiền trọc nê)
Hỏi:
- Như
thế nào là “không khác ngày nay”?
Đáp;
- Cúc
trùng dương dưới giậu
Oanh
ngày ấm đầu cành
(Ly
hạ trùng dương cúc
Chi
đầu noãn nhật oanh)
Hỏi:
- Rõ
ràng giữa chốn sắc thân
Chói
lọi ở trong tâm mục
(Chiêu
chiêu tâm mục chi gian
Lãng
lãng sắc thân chi nội)
Vậy
mà lý không phân biệt được, hình không trông thấy được.
Tại sao không thể thấy?
Đáp:
- Trong
vườn hoa rực rỡ
Trước
bến, cỏ lơ phơ
(Uyển
trung hoa lạn mạn
Ngạn
thượng thảo li phi)
Hỏi:
- Lạnh
trời mầm cây rụng
Lấy
gì để khoe tươi?
(Tuế
hàn quần miêu lạc
Hà
di khả tuyên dương)
Đáp:
- Mừng
ông đã thấu đạt
Chẳng
cũng vui lắm sao?
(Hỉ
quân lai tự đạt
Bất
diệc thả hoan ngu)
Tăng
nói:
- Được
lời thầy chỉ giáo
Từ
này thoát ưu phiền.
(Hạnh
văn kim nhất quyết
Từng
thứ miễn hốt vô)
Sư
đáp:
- Vũng
cạn vừa lên khỏi
Quay
đầu vạn dặm sâu.
(Thiển
nịch tài đề xuất
Hồi
đầu vạn trượng đàm)
Hỏi:
- “Niết
Bàn thành nội thượng do nguy”. (Lời kinh nói: “Ở chốn
Niết Bàn nguy còn đến”). Vậy biết nơi nào hết hiểm nguy?
Đáp:
- Xây
tổ trên màn trướng
Tóc
râu xoã cành lau
(Doanh
sào liêm mạc thượng
Tu
phát vi thiều kinh)
Hỏi:
- Nếu
gặp khi bức bách
Hai
đường theo nẻo nào?
(Nhược
tao thì bách cận
Lưỡng
cứ thị hà vi)
Đáp:
- Phóng
đãng tùy ý thích
Tiêu
dao với gió trăng
(Trượng
phu tùy phóng đăng
Phong
nguyệt thả tiêu dao)
Hỏi:
Tất
cả chúng sinh, điều nói là Phật, Lý ấy chưa rành. Xin thầy
chỉ giáo (Nhất thiết chúng sinh; Giai ngôn thị Phật, Thử
lý vị minh, thỉnh sư thùy thị)
Đáp:
- Chăm
bón nông tang ngươi hãy gắng
Chớ
học ôm cây đợi thỏ qua
(Khuyến
quân thả vu nông tang khứ
Mạc
học tha nhân đãi thố lao)
Tăng
nói:
- Được
lời thầy chỉ giáo
Ngoài
chẳng hỏi ai chi.
(Hạnh
mông sư hiển quyết
Chung
bất hướng tha cầu)
Sư
nói:
- Đáng
thương người nấc nghẹn
Ngồi
đói chịu quên ăn.
(Khả
lân tao nhất ế
Cơ
tọa khước vong xan)
Tăng
nói:
- Ngọc
vàng cất giấu trong rương đẫy
Rành
rõ giờ đây được ngắm xem.
(Kỷ
niên cửu tích nang trung báu
Kim
nhật đương trường địch diện khan)
Sư
nói:
- Đợi
trung thu trăng sáng
Ngờ
đâu mây tối trời
(Chỉ
đãi trung thu nguyệt
Khước
tao vân vũ xâm)
Tăng
nói:
- Tuy
nghe thầy thuyết giảng
Lẽ
ấy chưa rõ ràng.
(Tuy
văn sư ngữ thuyết
Thử
lý vị phân minh)
Sư
đáp:
- Cười
kẻ ôm cột cầu
- Chết
đuối giữa dòng sâu
(Tiếu
tha đồ bão trụ
Nịch
tử hướng trung lưu)
Hỏi:
- Thế
nào là “nhất pháp”?
Đáp:
- Chỉ
thấy xuân qua hè lại đến
Mới
vào thu chín, gật đông về
(Thốn
kiến xuân sinh kiêm hạ trưởng
Hựu
phùng thu thục cập đông tàng)
Hỏi:
- Như
thế nào là nhiều người được thành Phật?
Đáp:
- Thủy
Hoàng tìm Tiên mỏi
Từ
Phúc mãi chẳng về
(Tổ
Long khu tự chỉ
Từ
Phúc viễn đồ lao)(1)
Lại
hỏi:
- “Kiến
tính thành Phật” (thấy được bản tính thì thành Phật)
nghãi là thế nào?
Đáp:
- Cây
héo vào xuân hoa nở rộ
Gió
đưa nghìn dặm nức hương thần
(Khô
mục phùng xuân hoa canh phát
Phong
suy thiên lý phức thần hương)
Tăng
nói:
- Đệ
tử chưa hiểu, xin thầy giảng lại cho.
Sư
đáp:
- Vạn
năm cây cà ấy
Tươi
tốt vút tầng mây
(Vạn
niên già tử thụ
Thương
thúy tủng vân đoan)
Hỏi:
- Ma
Ni cùng các sắc
Chẳng
hợp cũng chẳng rời
(Ma
Ni dữ chúng sắc
Bất
hợp bất phân ly)
Đáp:
- Hoa
xuân cùng bướm trắng
Lúc
luyến hay chia ly?
(Xuân
hoa dữ hồ điệp
Kỷ
luyến kỷ tương vi)
Tăng
hỏi:
- Thế
nào là “Tuy hóa hỗn tạp”?
Đáp:
- Chẳng
phải sư Thiên Trúc
Uổng
ngắm ngọc Biên châu
(Bất
thị Hồ tăng nhân
Đồ
lao sính Biện châu)
Lại
hỏi:
- Thế
nào là “xúc mục bồ đề”? (Chân lý gần ngay trước mắt).
Đáp:
- Cây
cong chim hoảng sợ
Thổi
mãi lạnh cóng người
(Kỷ
kinh khúc mục điểu
Tân
xuy lãnh tê nhân)
Hỏi:
- Kẻ
học này chưa hiểu, xin thầy đổi cho thí dụ khác.
Đáp:
- Kẻ
điếc nghe đàn sáo
Người
mù ngắm trăng sao
(Tủng
nhân thính cầm hưởng
Manh
giả vọng thiềm thừ)
Hỏi:
- Vốn
đã có hình thì có bóng
Phải
chăng lại có bóng không hình?
(Bản
tự hữu hình kiêm hữu ảnh
Hữu
thời ảnh dã lý hình phầu?)
Đáp:
- Nước
đổ về đông chừ, đua chảy vạn dòng.
Sao
chầu hướng bắc chừ, muôn thuở cùng lòng.
(Chúng
thủy triều đông hề, vạn phái tranh lựu,
Quần
tinh củng bắc hề, thiên cổ quy tâm)
Hỏi:
- Thế
nào là “một câu rõ hết hơn cả muôn câu”?
Đáp:
- Xách
bổng Thái Sơn về Bắc Hải
Ngước
tung thiền trượng tới cung trăng
(Viễn
phù Thái son siêu Bắc hải
Ngưỡng
phao trụ trượng nhập thiềm cung)
Hỏi:
- Chỉ
sự ấy là thực
Ngoài
ra chẳng phải chân?
(Duy
thử nhất sự thực
Dư
nhị tức phi chân)
Vậy
thế nào là “chân”?
Đáp:
- Gió
dễ lay đầu gậy
Đường
đi mưa sinh lầy
(Trượng
đầu phong dị động
Lộ
thượng vũ thành nê)
Hỏi:
- Không
hướng Như Lai xin diệu tạng
Nối
đèn lửa tổ chẳng cầu xin
(Bất
hướng Như lai thì diệu tạng
Bất
cầu tổ diệm tục đăng chi)
Ý
chỉ câu ấy là thế nào?
Đáp:
- Trong
tuyết mẫu đơn nở
Trời
thu oanh hót vang
(Thu
thiên đoàn thử lệ
Tuyết
cảnh mẫu đơn khai)
Hỏi:
- Thế
nào là câu tuyệt diệu?
Đáp:
- Một
người quay vào vách
Cả
nhà uống mất vui
(Nhất
nhân hướng ngung lập
Mãn
tọa ẩm vô hoan)
Lại
hỏi:
- Cổ
kim việc lớn không nên hỏi
Thiền
từ Tây tới hỏi nên chăng?
(Cổ
kim đại sư ưng vô vấn(1)
Đặc
địa tây lai ý nhược hà)
Đáp:
- Kẻ
khéo mồm giả dối
Mai
trơ ngói vỡ thôi(2)
(Xoả
ngọn lệnh sắc giả
Toàn
quy đả ngoã nhân)
Hỏi:
- Cả
tâm và pháp đều quên, tính tức Chân, vậy thế nào là “Chân”?
Đáp:
- Mưa
tươi non hoa, Thần nữ khóc(3)
Gió
khua rặng trúc, Bà Nha đàn.
(Vũ
trích nham hoa Thần nữ lệ
Phong
xao đỉnh trúc Bá Nha cầm)
Lại
hỏi:
- Thế
nào là câu tuyệt diệu?
Đáp:
- Trong
cổ còn vường hóc
Đừng
ngồi có yên dâu.
(Hầu
lý do tồn ngạnh
Thường
cư bất khoái nhiên)
Hỏi:
- Còn
“tu” còn “chứng” sinh bốn bệnh
Vươn
đầu nào có thoát trần ra.
(Hữu
tu hữu chứng khai tứ bệnh
Xuất
đâu hà khả thoát trần lung)
Đáp:
- Biển
rộng bao dung nhiều nguồn nhỏ
Non
cao giữ mãi bụi hồng trần
(Sơn
cao cánh tại dung trần trữ
Hải
khoát năng thâm nạp tế lưu)
Hỏi:
- Trong
sách nói: “Chỉ có Phật với Phật mới biết việc này”.
Ấy là việc gì?
Đáp:
- Đường
hẹp trúc um tùm
Gió
reo nhạc tự thành
(Hiệp
kính sum sum trúc
Phong
xuy khúc tự thành)
Hỏi:
- Không
theo bình thường, không theo thiên nhiên, không theo công dụng,
vậy nay biết làm thế nào?
Đáp:
- Cỏ
bồng chim sâu đậu
Biển
biếc náu giao long.
(Bồng
thảo thê đê yến
Thương
minh ẩn cự lân)
Hỏi:
- Tứ
đại(1) mang về từ nhiều kiếp
Thỉnh
sư phương tiện thoát luân hồi.
(Tứ
đại đới lai do khoáng kiếp
Thỉnh
sư phương tiện xuất luân hồi)
Đáp:
- Tê
giác là loài súc thú hiếm
Ăn
bằng gai góc, ngủ trong bùn.
(Cử
thế súc đồ tê thị bào
Xan
ư kinh cức ngọa ư nê)
Hỏi:
- “Thủ”
hay “xả” đều là ở trong vòng luân hồi; không “thủ”,
không “xả” thì thế nào?
Đáp;
- Xưa
nay hồng đẹp, sắc nay khác
Cành
lá xum xuê chẳng có hoa
(Tòng
lai hồng hiện thủ thường sắc
Hữu
diệp sâm si bất hữu hoa)
Hỏi:
- Nói
“Ngôn ngữ đạo đoạn” (dứt hết nói năng) là nghĩa thế
nào?(1)
Đáp:
- Gió
thổi sừng kêu xuyên rặng trúc
Vầng
trăng vượt núi đến bên tường
(Giốc
hưởng tùy phong xuyên trúc đáo
Sơn
nham đái nguyệt quá tường lai)
Hỏi:
- Chư
Phật thuyết pháp đều nhằm giáo hóa mọi loài, nếu hiểu
thấu bản ý thì gọi là “xuất thế”. Như thế nào gọi
là “bản ý”?
Đáp:
- Xuân
dệt hoa như gấm
Thu
sang đổ là vàng
(Xuân
chức hoa như gấm
Thu
lại diệp tự hoàng)
Hỏi:
- Như
thế nào gọi là “một đường đưa thẳng đến nguồn gốc
của đại đạo”?
Đáp:
- Đông
tây xe ngựa ruổi
Sớm
tối bụi trần bay
(Đông
tây xa mã tẩu
Trần
thổ hiểu hôn phi)
Hỏi:
- Có
tâm có pháp sinh võng