THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
.
Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học - Nhà Xuất Bản Văn Học Hà Nội –1990
THIỀN UYỂN TẬP ANH (Anh tú Vườn Thiền)
Ngô Đức Thọ – Nguyễn Thuý Nga dịch và chú thích
(Dịch theo nguyên bản chữ Hán Trùng San) 
Thiền Uyển Tập Anh khắc in năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715)
Mục Lục 
Quyển Thượng
Quyển Ha
  THIỀN UYỂN TẬP ANH TỰ
(Bài Tựa sách Thiền uyển tập anh)

THIỀN PHÁI VÔ NGÔN THÔNG

Thiền sư VÔ NGÔN THÔNG
Thiền sư CẢM THÀNH
Thiền sư THIỆN HỘI 
Thiền sư VÂN PHONG
Đại sư KHUÔNG VIỆT
Thiền sư ĐA BẢO
Trưởng lão ĐỊNH HƯƠNG
Thiền sư THIỀN LÃO
Thiền sư VIÊN CHIẾU
Thiền sư CỨU CHỈ 
Thiền sư BẢO TÍNH
Thiền sư MINH TÂM 
Thiền sư QUẢNG TRÍ 
Quốc sư THÔNG BIỆN
Đại sư  MÃN GIÁC
Thiền Sư NGỘ ẤN.
Thiền sư ĐẠO HUỆ
Thiền sư BIỆN TÀI 
Thiền sư BẢO GIÁM 
Thiền sư KHÔNG LỘ
Thiền sư  BẢN TỊNH 
Thiền sư MINH TRÍ
Thiền sư TÍN HỌC
Thiền sư TỊNH KHÔNG
Thiền sư ĐẠI XẢ 
Thiền sư TINH LỰC
Thiền sư TRÍ BẢO
Thiền sư TRƯỜNG NGUYÊN
Thiền sư TỊNH GIỚI
Thiền sư GIÁC HẢI
Thiền sư NGUYỆN HỌC
Thiền sư QUẢNG NGHIÊM
Thiền sư THƯỜNG CHIẾU 
Cư sĩ THÔNG SƯ
Thiền sư THẦN NGHI
Thiền sư TỨC LỰ
Thiền sư HIỆN QUANG
Cư sĩ ỨNG VƯƠNG 

Tại sao lại lấy nghĩa là “Thiền uyển tập anh”? Đáp rằng: “đó là lấy nghĩa lựa chọn những bậc anh tú trong vườn Thiền. Tại sao lại như vậy? Bởi vì môn đồ của Thiền tông thì nhiều mà những bậc thấu hiểu lý huyền vi thì không có mấy, quả thật như phượng giữa đàn gà, lan trong bụi cỏ. Nừu không phải là những người có thiên tư lỗi lạc, hiểu biết hơn người thì làm sao thấu suốt được những yếu chỉ huyền vi đủ làm kẻ lãnh tụ cho người học đạo, làm khuôn mẫu cho người đời sau? Đúng là trong vườn Thiền những người anh kỳ không phải nhiều, do đó phải chọn lấy những bậc danh cao đức trọng để tiện cho những người học Phật noi theo. Cái nghĩa của “Tập anh” là như thế, do đó được dùng để đặt tên cho tập sách này.

Kể từ buổi đầu thời hỗn độn(1) có Phật Uy Âm(2) xuất thế là đấng tị tị tố của Thiền tông. Nhưng thời bấy giờ phong tục còn thuần hậu, con người chất phác, kinh giáo còn ở giữa cõi hư không nên chưa cần nói ra để hóa độ chúng sinh. Nhà nào lấy ma làm Phật thì nhà ấy dối trá ngày sinh, gian dâm ngày càng nổi lên, nghiệp căn càng kết, tội chướng càng sâu, không giúp cho họ bằng con thuyền từ bi tế độ thì không thể được. Cho nên Phật Thích Ca xuất hiện ở cõi Sa Bà(1) giảng kinh thuyết kệ để giáo hóa chúng sinh, trải tu chính kiếp, công quả tròn đầy. Thế là Phật giáo được thi hành rộng khắp, Thiền tông tiếp nối. Gió đưa hơi thanh mát cho sáu đạo(2), tuyết vùi lửa bỏng cháu ở ba đường(3). Bí quyết thành Phật, thành Tổ cũng từ đây mở mối.

Nước Đại Việt ta được lời Phật thấm nhuần khắp cả, được mưa pháp gội sóng nhiều nơi, người cạo tóc xuất gia được ấn chứng ngô đạo có lẽ cũng đã có rồi. Chứng tích để lại còn cho thấy lòng thiền của họ sáng như mặt trời, gương đạo của họ trắng ngời như băng tuyết. Có bậc ra giúp nước yên thân, có người vào đời để cứu vớt kẻ bị sa ngã, chìm đắm. Có người sớm lĩnh ngộ tâm ấn, chống gậy Thiền để làm rõ lẽ cơ vi của Tổ Đạt Ma, cũng có kẻ muộn đến cửa huyền mà làm hiển rạng bí chú của Đồ Trừng(4). Họ có đức thuần phục chim rừng, khiến chúng tìm đến cửa nghe kinh, khiến đã thú vây tụ quanh(5), vào nhà dâng quà. Đó là do lòng thành của các bậc ấy cảm hóa mà chúng tin theo, do cái học sở đắc mà các bậc ấy có phép thần thông biến hóa. Há chẳng phải đó là cái huyền diệu của phép sư đệ truyền tâm ấn(1) đó sao? Thực đủ để làm những bậc anh tú trong vườn Thiền.

Than ôi! Đạo Phật rất huyền vi, mà tâm là cái huyền vi trong huyền vi; đạo Phật rất lớn mà tâm là cái lớn trong cái lớn. Tâm ơi! Tâm ơi! Tâm là chủ tể của việc tu đạo đấy chăng?

Tập Thiền uyển này ghi từ thiền sư Vô Ngôn Thông là người bắt đầu truyền đạo(2). Ánh đèn truyền đạo tiếp nối, ngọn ngọn huy hoàng. Nhưng rộng thì làm gọn lại, lớn thì thu nhỏ lại. Cuối cùng cốt đạt cho được cái tâm Vô thượng chính giác(3) vậy. Xét cho cùng thì phải chăng là không rửa sạch sáu trần(4), xa lìa bốn tướng(5) mà có thể đạt được như vậy?

Tôi vốn học sách Nho, tham cầu Phật điển, nghĩ rằng cái “vô”, cái “hữu” tuy là hai đường nhưng xét cho cùng thì tựa như cùng một lý. Nhân khi rỗi rãi ngồi trong phòng sách, có một nhà sư đến chơi, cùng tôi bàn luận về đạo Phật, trò chuyện hồi lâu đều là những chuyện lông rùa sừng thỏ. Rồi nhà sư lấy trong tay áo ra cuốn sách Tập anh, nhờ tôi sửa sang câu cú để tiện việc trùng sang, tránh được sai sót. Tôi đọc trong sách ấy thấy ghi chép nhiều bậc cao tăng, danh tố, sức học của họ rất sâu, chứng đạo rất diệu, bất giác trong lòng tôn kính khâm phục. Các bậc ấy bàn về đạo không, nói về sự giác ngộ, cố nhiên không phải là phận sự của tôi. Nhưng Kinh Dịch từng nói: “Trẻ nhỏ cầu ta kể chuyện, không thể không nghe theo”. Tôi đành phải nhận lời với nhà sư sửa lại chỗ sai, bổ vào chỗ sót. Trong khoảng mười ngày thì nghĩa lý, câu chữ của tập sách lại được uyển chuyển như cũ, chẳng khác gì ánh trăng càng thêm sáng tỏ. Nhà sư nhân đó xin tôi viết cho một bài tựa khắc ở đầu sách để hiển dương Phật giáo. Tôi không dám tiếc công sức bèn gọi tiểu đồng đem giấy bút đến để làm theo lời nhà sư chỉ bảo. Bèn cầm bút thảo một mạch bài tựa quê mùa này. Nhà sư vái chào nhận bài tựa ấy.

Kính cẩn đề tựa.

Thời Lê Triều, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715), tháng tư, ngày lành, trùng san.
Môn đồ nối bước Thiền tông là Thích tử Như Trí;
Sa di Tính Nhu, Tính Quán, Tính Trung, Tính Huy, Tính Kiến, Tính Bản.
Thiện nam: Tính Phận, Tính Thành, Tính Từ, Tính Hưng, Tính Minh, Tính Thúy.
Thiện nữ: Diệu Tăng, Diệu Đạo, Tính Phụng(1)
 

THIỀN PHÁI VÔ NGÔN THÔNG


Thiền sư VÔ NGÔN THÔNG
(? -826)
Chùa Kiến Sơ(1) hương Phủ Đổng, huyện Tiên Du.

Thiền sư họ Trịnh, vốn người Quảng Châu (Trung Quốc) thuở nhỏ ham thích môn Không học(2), bỏ gia sản đến thụ nghiệp tại chùa Song Lâm ở Vụ Châu. Tính sư cẩn trọng, trầm lặng, nói ít hiểu nhiều, thông đạt sư lý, vì thế người đương thời gọi là Vô Ngôn Thông (sách Truyền đăng chép là Bất ngữ thông)(3)

Một hôm sư đang lễ Phật, có vị thiền khách đến hỏi:

- Thầy đang lễ gì đó?

Sư đáp:

- Lễ Phật.

Vị thiền khách chỉ tượng Phật mà hỏi:

- Đây là cái gì?

Sư không trả lời được. Tối hôm ấy, sư ăn mặc chỉnh tề dến lạy vị thiền khách, thưa rằng:

- Hôm nay thầy hỏi, tôi chưa hiểu rõ ý chỉ thế nào?

Khách hỏi:

- Thầy xuất gia đến nay đã mấy hạ (1)?

Sư đáp:

- Mười hạ.

Khách hỏi:

- Đã từng xuất gia chưa?

Sư tỏ ra bối rối. Khách hỏi:

- Nếu không hiểu điều đó thì dù trăm hạ cũng chẳng ích gì.

Nói đoạn bèn dẫn sư cùng đi yết kiến Mã Tổ (2). Đến Giang Tây thì tổ đã thị tích(3) vị thiền khách bèn đưa sư đến yết kiến thiền sư Bách Trượng Hoài Hải(4). Bây giờ có vị tăng hỏi bách Trượng.

- Thế nào là pháp môn đốn ngộ của Đại Thừa?

Bách Trượng đáp:

- Đất lòng rỗng không thì mặt trời trí tuệ tự chiếu.

Sư nghe lời nói ấy cảm thấy có điều sở đắc, bèn trở về trụ trì tại chùa Hòa An ở Quảng Châu. Có người hỏi sư:

- Thầy là thiền sư chăng?

Sư đáp:

- Bần đạo chưa từng học Thiền.

Hồi lâu sau sư mới gọi người kia, chỉ vào cây thôi lư (cây xoan)(1). Người ấy im lặng không hỏi nữa.

Khi thiền sư Ngưỡng Sơn(2) còn làm sa di(3), sư từng gọi bảo:

- Này Tịch, đem chiếc giường kia lại đây cho ta!

Ngưỡng Sơn khiêng giường đến, sư lại nói:

- Đưa về chỗ cũ!

Ngưỡng Sơn làm đúng như thế. Sư lại hỏi:

- Này Tịch, bên kia có cái gì?

Ngưỡng Sơn đáp:

- Không có vật gì.

Sư lại hỏi:

- Bên này có gì?

Đáp:

- Không có vật gì.

Sư gọi:

- Này Tịch!

Ngưỡng Sơn dạ đáp, sư bảo:

- Đi đi!

Tháng chín năm Canh Tí niên hiệu Đường Nguyên Hòa thứ 15 (820), sư đến chùa Kiến Sơ. Ngoài hai bữa cơm cháo, suốt ngày sư chỉ ngồi quay mặt vào tường, không nói một lời, chuyên chú tu tập thiền định làm vui. Suốt mấy năm liền như thế nên người ngoài không ai biết sư, chỉ có sư trụ trù chùa là Cảm Thành hết lòng kính cẩn hầu hạ. Cảm Thành gần gũi bên cạnh sư để học hỏi những điều cơ vi huyền diệu, hiểu rõ yếu chi của Thiền Tông.

Một hôm sư không bệnh, tắm rửa, thay quần áo rồi gọi Cảm Thành đến bảo:

- Ngày trước tổ ta là Nam Nhạc Hoài Nhượng thiền sư, khi quy tịch có bảo rằng:

Nhất thiết chư pháp

Giai tòng tâm sinh

Tâm vô sở sinh

Pháp vô sở trụ

Nhược đạt tâm địa

Sở tác vô ngại

Phi ngộ thượng căn

Thận vật khinh hứa.

Tất cả các pháp

Đều từ tâm sinh

Tâm không chỗ sinh

Pháp không chỗ trụ

Nếu đạt đất lòng

Làm gì chẳng ngại

Không gặp thượng căn

Cẩn thận chớ nói(2)

Nói đoạn sư chắp tay mà qua đời. Thiền sư Cảm Thành làm lễ hỏa táng(3) rồi thu xá lị, dựng tháp phụng thờ ở núi Tiên Du. Bây giờ là ngày 12 tháng giêng năm Bính Ngọ niên hiệu Bảo Lịch thứ 2 (826) thời cuộc Đường.

Lại cách hai mươi tám năm (?) đến năm Đinh Sửu niên hiệu Khai Hựu thứ 24 (1337)(1) Thiền học nước Việt ta bắt đầu từ [Vô Ngôn] Thông thiền sư(2) ở chùa Kiến Sơ vậy.

Thế hệ thứ nhất(1)
 

Thiền sư CẢM THÀNH

(?-860)
 
 

Chùa Kiến Sơ.

Thiền sư là người huyện Tiên du, họ(2)... Lúc mới xuất gia ở tụng kinh làm đầu. Phụ hào trong làng là ông họ Nguyễn kính mộ đ núi Tiên Du thuộc bản quân, đạo hiệu là Lập Đức. Lấy việc trì giới ức hạnh cao cả của sư, tự nguyện cúng gia trạch làm chùa, mời sư đến trụ trì nhưng sư từ chối. Đêm ấy sư chiêm bao thấy thần nhân đến bảo: “Nếu làm theo chí nguyện của nhà họ Nguyễn thì chỉ chừng vài năm sẽ gặp may lớn”. Vì thế sư bèn nhận lời mời của ông họ Nguyễn (chùa ấy chính là chùa Kiến Sơ ở hương Phù Đổng).

Sau đó không bao lâu, Thông thiền sư đến. Sư biết đó không phải là người thường, ngày đêm hầu hạ chưa từng biếng trễ. Thông thiền sư cảm động lòng thành khẩn của Lập Đức bèn đổi tên cho là Cảm Thành.

Một hôm Thông thiền sư bảo Cảm Thành:

- Xưa Thế tôn vì nhân duyên lớn mà xuất hiện ở thế gian. Hóa duyên xong ngài nhập Niết Bàn. Diệu tâm ấy gọi là chính pháp nhân tạng, thực tướng, vô tướng và tam muội pháp môn. Đích thân Thế tôn giao cho đệ tử là tôn già Ma Ha Ca Diếp(1) làm tổ thứ nhất, các đời nối truyền, đến Đạt Ma đại sư(2) từ Tây Trúc sang trải bao hiểm nguy vì truyền pháp này. Đến tổ thứ sáu Tào Khê (Huệ Năng) được tổ thứ năm (Hoằng Nhẫn) bảo cho biết rằng(3) “Khi Đạt Ma mới đến, người đời chưa tin hiểu nên lấy việc truyền y bát đề tỏ rõ việc đắc pháp. Nay đức tin đã chín muồi, y bát có thể trở thành đầu mối tranh chấp cho nên phải dừng lại ở ngươi, không truyền tiếp nữa”. Từ đó chỉ lấy tâm truyền tâm, không truyền y bát.

“Bây giờ Nam Nhạc Hoài Nhượng là người đầu tiên được truyền tâm pháp. Nhượng truyền cho Mã Tổ Đạo Nhất. Đạo Nhất truyền cho Bách Trượng Hoài Hải. Ta nhận được tâm pháp ở Bách Trượng. Phép đó tử lâu đã có tiếng vang, nghe ở phương này(4) đã có đông người hâm mộ Đại Thừa, vậy nên ta đến để tìm kẻ thiện trí thức. Nay ta gặp ngươi cũng là nhờ có nhân duyên kiếp trước. Hãy nghe lời kệ của ta:

Chư phương hạo hạo

Võng tự huyên truyền

Vi ngô thủy tổ

Thân tự Tây Thiên

Truyền pháp nhãn tạng

Mục vi chi thiền

Nhất hoa ngũ diệp

Chủng tử miêm miên

Tiềm phù mật ngữ

Thiên vạn hữu duyên

Hàm vị Tâm tông

Thanh tịnh bản nhiên

Tây Thiên thử thổ

Thử thổ Tây Thiên

Cổ kim nhật nguyệt

Cổ kim sơn xuyên

Xúc đồ thành trệ

Phật tổ thành oan

Sai chi hào ly

Thất chi bách thiên

Nhữ thiện quan sát

Mạc khiểm nhi tôn

Trực nhiêu vấn ngã

Ngã bản vô ngôn.

Dịch:

Các nơi đồn đại

Dối tự trạo truyền

Rằng thủy tổ ta

Gốc tự Tây Thiên

Truyền pháp nhân tạng

Gọi đấy là Thiền

Một hoa năm lá

Hạt giống liên miên

Ngầm hợp mật ngữ

Muôn ngàn có duyên

Tâm tông đều gọi

Thanh tịnh bản nhiên

Tây Thiên cõi này

Cõi này Tây Thiên

Xưa nay nhật nguyệt

Xưa nay sơn xuyên

Chạm đến thành trệ

Phật tổ thành oan

Sai một mảy may

Đi mất trăm ngàn

Ngươi khéo quan sát

Chớ lừa cháu con

Nói thẳng đến ta

Ta vốn vô ngôn

 MINH CHI

                                       (LSPGVN)
 
 

Sư nghe lời kệ của tổ liền tỉnh ngộ.

Có vị tăng hỏi:

- Thế nào là Phật?

Sư đáp:

- Khắp tất cả mọi nơi.

Lại hỏi:

- Thế nào là Phật tâm?

Đáp:

- Chưa từng che giấu.

Người ấy lại nói:

- Kẻ học đạo này chưa hiểu.

Sư đáp:

- Ngươi trượt qua rồi!

Sau thiền sư không bệnh mà qua đời. Bấy giờ là năm Canh thìn niên hiệu Đường Hàm Thông thứ 1 (860).
 
 

*

* *

Thế hệ thứ hai

1 người
 
 
 

Thiền sư THIỆN HỘI

(? – 901)
 
 
 
 

Chùa Dịnh Thiền, hương Siêu Loại(1)

Thiền sư người hương Điển Lãnh, thủa nhỏ xuất gia theo hầu sư Tiệm Nguyên ở chùa Đông Lâm thuộc bản hương, tự hiệu là Tổ Phong. Ông từng vân du nhiều nơi để cầu học yếu chỉ Thiền tông. Gặp thiền sư Cảm Thành ở chùa Kiên Sơ bàn theo hầu để học đạo, hơn mười năm không lúc nào tỏ ra mỏi mệt. Một hôm sư vào phòng hỏi thầy:

- Trong kinh nói Thích Ca Như Lai tu hành trải qua ba “A tăng kỳ”(2) mới thành Phật. Nay thầy lại nói “Tâm tức Phật, Phật tức tâm”, đệ tử chưa hiểu rõ, xin thầy dạy bảo cho.

Cảm Thành hỏi:

- Ngươi bảo trong kinh nói, tức là ai nói?

Sư đáp:

- Chẳng lẽ đó không phải là lời Phật hay sao?

Cảm Thành nói:

- Nếu là Phật nói thì tại sao trong kinh Văn Thủ lại nói: “Ta ở thế gian bốn mươi chín năm chưa nói một chữ dạy người”?

Vả lại cổ nhân nói nếu tìm văn để làm chứng thì càng thêm ngưng trệ: khổ hạnh mà cầu Phật là mê muội, lìa tâm cầu Phật thì đó là kẻ ngoại đạo. Cứ nắm chấp cái tâm coi là Phật thì đó là Ma quân.

Sư hỏi:

- Như thế trong cái tâm ấy, cái gì không phải là Phật? Cái gì chính là Phật?

- Cảm Thành đáp:

- Xưa có người hỏi Mã Tổ: “Tâm tức là Phật, Phật tức là tâm, vậy cái gì là Phật?” Mã Tố đáp “Ngươi ngỡ cái gì không phải là Phật thì chỉ ta xem?”. Người kia không trả lời được. Mã Tổ nói: “Hiểu thấu được thì khắp nơi đều là Phật. Không giác ngộ thì sai lầm mãi”. Chỉ một thoại đồ ấy ngươi đã hiểu chưa?(1)

- Đệ tử đã lĩnh ngộ rồi.

Cảm thành nói:

- Người lĩnh ngộ thế nào?

Sư đáp:

- Khắp mọi nơi chẳng đâu không phải là tâm Phật.

Nói xong bèn sụp xuống lạy tạ. Cảm Thành nói:

Vậy là ngươi hiểu đúng rồi.

Nhân đó Cảm Thành đặt tên cho sư là Thiện Hội.

Về sau thiền sư thị tịch ở bản chùa. Đó là năm Canh thân niên hiệu Đường Quang Hòa thứ 3 (901).
 
 

*

* *

Thế hệ thứ ba
 

Thiền sư VÂN PHONG

(?-957)
 
 

Chùa Khai Quốc(1) kinh đô Thăng Long

Thiền sư người huyện Từ Liêm, quận Vĩnh Khang, họ Nguyễn còn có một pháp danh khác là Chủ Phong thiền sư. Khi mang thai bà mẹ thường trai giới, tụng kinh niêm Phật. Đến khi sinh thấy hào quang tỏa sáng khắp nhà, cha mẹ cho là điều lạ, có ý định ngày sau sẽ cho con xuất gia. Lớn lên theo hầu thiền sư Thiện Hội ở hương Siêu Loại. Sư thường hầu chuyện riêng với thầy để được làm đệ tử thân tín, có dịp hỏi han những điều huyền vi, hiểu biết Thiền học ngày càng tăng tiến. Thiện Hội từng bảo sư:

- Sống chết là việc lớn, cần phải suy ngẫm cho thấu đáo

Sư hỏi:

- Khi sống, chết đến, làm sao mà tránh?

Thiện Hội đáp.

- Phải nắm lấy chỗ không sống chết mà tránh.

Lại hỏi:

- Thế nào là chỗ không sống chết?

Đáp:

- Phải ở trong sống chết mới nhận biết được.

Hỏi:

- Làm thế nào mà tìm được?

Thiện Hội nói:

- Ngươi hãy đi đi! Chiều muộn lại đến!

Sư bèn đi ra, đúng hẹn, chiều hôm đó lại đến. Thiện Hội nói:

- Đợi đến sáng mai mọi người sẽ chứng tỏ cho người biết.

Sư bừng tỉnh bèn sụp xuống lạy tạ. Thiện Hội hỏi:

- Ngươi thấy được đạo lý gì?

Sư đáp:

- Đệ tử đã lĩnh hội được rồi!

Thiện Hội lại hỏi:

- Ngươi lĩnh ngộ cái gì?

Sư bèn giơ nắm tay nói:

- Kẻ bất tiếu bị cái này che lấp!

Thiện Hội bèn thôi không hỏi nữa. Về sau, sư quy tịch năm Bính

Thìn niên hiệu Chu Hiển Đức cho 3 (957).
 
 

*

* *

Thế hệ thứ tư
 
 

2 người, chỉ chép 1 người
 

Đại sư KHUÔNG VIỆT

(933-1011)
 
 

Chùa Phật Đà, hương Cát Lị,(1) huyện Thường Lạc.

Ông người hương Cát Lị, huyện Thường Lạc, họ Ngô tên là Chân Lưu, là hậu duệ của Ngô Thuận(2). Ông dáng mạo khôi ngô tuấn tú, tính tình phóng khoáng, có chí khí cao xa. Thuở nhỏ theo học Nho, lớn lên theo đạo Phật, cùng bạn đồng học Trụ Trì đến chùa Khai Quốc thụ giới cụ túc với thiền sư Vân Phong, nhờ đó được đọc rộng kinh điển Phật giáo, hiểu sâu yếu chí Thiền học. Năm bốn mươi tuổi, danh tiếng vang dội đến triều đình. Vua Đinh Tiên Hoàng vời về kinh đô (Hoa Lư) hỏi chuyện. Sư đối đáp hợp ý, được vua phong giữ chức Tăng thống. Năm thứ 2 niên hiệu Thái Bình (971) sư được ban hiệu là Khuông Việt đại sư. Dưới triều vua Lê Đại Hành, sư đặc biệt được vua kính trọng, phàm các việc quân quốc triều đình, sư đều được tham dự. Sư thường đi chơi ở núi Vệ Linh, quận Bình Lỗ, thích nơi đây cảnh trí đẹp, thanh u, muốn dựng am để ở. Ban đêm sư chiêm bao thấy thần nhân mặc áo giáp vàng, tay phải đỡ ngọn bảo tháp, theo sau có hơn chục tên quân hầu dáng mạo hung dữ. Vị thần bảo với sư rằng: “Ta là Tì Sa Môn(1) thiên vương, quân hầu theo ta đây đều là bọn quỷ Dạ xoa. Thiên đế có sắc chỉ sai ta đến nước này gìn giữ cương giới để cho Phật pháp được hưng thịnh. Ta có duyên với ngươi nên đến đây để nhờ cậy”. Khi trời sáng, sư vào núi thấy một cây cổ thụ cao chừng mười trượng, cành lá xum xuê tươi tốt, phía trên có đám mây lành che bóng. Sư nhân đó thuê thợ đốn cây ấy lấy gỗ tạc tượng thần theo đúng như đã thấy trong mộng để thờ phụng.

Năm Thiên Phúc thứ nhất (981), quân Tống sang xâm lược nước ta. Trước đó, vua đã biết chuyện này, bèn sai sư đến đền cầu đảo xin thần phù hộ. Quân giặc kinh sợ lui về giữ sông Hữu Ninh. Đến đây, bọn chúng lại thấy sóng gió nổi lên ùn ùn, giao long nhảy tung trên mặt nước, quân giặc sợ hãi tan chạy.

Năm Thiên Phúc thứ bẩy (986) nhà Tống sai Lý Giác (2) sang sứ nước ta. Bấy giờ pháp sư Đỗ Thuận cũng có danh tiếng lớn. Vua sai pháp sư cải trang làm giang lệnh đón tiếp sứ giả ở bến sông. Giác thấy giang lệnh có tài nói chuyện bèn làm thơ tặng, trong đó có câu “Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu” (ngoài trời lại có trời soi nữa). Vua bảo Đỗ pháp sư đưa cho Khuông Việt xem. Khuông Việt xem xong nói: “Sứ Bắc tôn kính bệ hạ không kém gì vua Tông”. Khi Giác trở về sư làm bài từ Ngọc lang quy đưa tiễn:

Tường Quang phong hào cẩm phàm trương

Thần tiên phục đế hương

Thiên trùng vạn lý thiệp thương lang

Cửu thiên quy lộ trường

Tình thảm thiết

Đối ly trường

Phan luyến sứ tinh lang

Nguyện tương thâm ý vị Nam cương

Phân minh báo ngã hoàng.

Dịch:

Nàng tươi gió thuận cánh buồng giương

Thần tiên lại đế hương

Vượt sóng xanh muôn dặm trùng dương

Về trời xa đường trường

Tình thắm thiết

Chén lên đường

Vin xe sứ vấn vương

Xin đem thâm ý vì Nam cương

Tâu vua tôi tỏ tường(1).
 
 

HÀ VĂN TẤN

(LSPGVN)
 
 

Về sau sư lấy cớ già yếu xin cáo quan trở về dựng chùa ở núi Du Hi thuộc quận nhà, rồi trụ trì ở đấy, người các nơi đến theo học rất đông. Một hôm đệ tử thân cận là Đa Bảo hỏi sư:

- Thế nào là thủy chung của đạo học?

Sư đáp:

- Thủy chung không vật thảy hư không

Hiểu được Chân Như, thể ắt đồng.

(Thủy chung vô vật diệu hư không

Hội đắc Chân Như thế tự đồng)

Đa Bảo hỏi:

- Lấy gì bảo chứng?

Sư đáp:

- Không có chỗ cho người hạ thủ.

Đa Bảo thưa:

- Hòa thượng nói rõ rồi.

Sư đáp:

- Người hiểu thế nào?

Đa Bảo bèn hết lên một tiếng.

Ngày mười lăm tháng hai niêu hiệu Thuận Thiên thứ hai (1011, đời Lý Thái Tổ), trước lúc quy tịch, sư gọi Đa Bảo đến đọc lời kệ rằng:

Mộc trung nguyên hữu hỏa

Nguyên hỏa phục hoàn sinh

Nhược vị mộc vô hỏa

Toàn toại hà do manh?

Dịch:

Lửa trong cây có sẵn

Dù tắt lại bùng ngay

Nếu bảo cây không lửa

Xát mạnh sao cháy cây?

Nói xong sư ngồi kiết già mà qua đời, thọ 52 tuổi (có người nói thọ 79 tuổi)(1)
 
 

*

* *

Thế hệ thứ năm
 

Thiền sư ĐA BẢO
 
 

Chùa Kiến Sơ, hương Phù Đổng, huyện Tiên Du.

Không biết sư người ở đâu, cũng không rõ họ gì. Bây giờ Khuông Việt đại sư giáo hóa ở chùa Khai Quốc, sư đến tham thiền học đạo, được đại sư khen là người lĩnh ngộ cơ vi, xử sự kính cẩn, riêng được đại sư nhận làm đệ tử thân tín. Sau khi đắc pháp, sư một mình theo bình bát đi vân du ngoại vật, sau đến trụ trì ở chùa Kiến Sơ.

Khi Lý Công Uẩn còn nhỏ tuổi, sư thấy dáng mạo tinh anh tuấn tú khác thường, bèn nói: “Cậu bé này cốt tướng chẳng phải tầm thường, ngày sau làm vua ắt là người này”. Lý Công Uẩn cả sợ nói: “Ngày nay thánh đế đang trị vì, trong nước yên bình, sư nói thế không khéo gây họa tru di cho cả họ nhà tôi”. Sư nói:

- Mệnh trời đã định như thế, dù muốn trốn tránh cũng không được. Nếu quả đúng như lời, mong đừng nhau!

Sau khi lên ngôi, Lý Thái Tổ nhiều lần vời sư về kinh thỉnh vấn yếu chỉ của Thiền tông, ân lễ tiếp đãi trọng hậu, các việc chính sự triều đình đều mời sư dự bàn định đoạt. Vua từng xuống chiếu cho trùng tu chùa Kiến Sơ là nơi sư trụ trì. Về sau không biết sư tịch ở đâu.

*

* *
 

Thế hệ thứ sáu

3 người, chép thiếu 1 người
 

Trưởng lão ĐỊNH HƯƠNG

(?-1051)
 
 

Chùa Cảm Ứng(1), núi Ba sơn, phù Thiên Đức.

Trưởng lão họ Lã, người hương Chu Minh, suốt đời tu hành thanh tịnh. Xuất gia từ lúc còn nhỏ, theo hầu học đạo với thiền sư Đa Bảo hơn hai mươi năm. Môn đồ của Đa Bảo có đến hơn một trăm người mà chỉ Định Hương và Quốc Bảo Hòa(2) được chọn là giỏi nhất, về yếu chỉ của Thiền tông thì Định Hương thấu hiểu sâu sắc hơn. Một hôm sư hỏi Đa Bảo:

- Làm sao thấy được chân tâm?

Đa Bảo đáp:

- Chính ngươi phải tự phát hiện lấy!

Định Hương khoát nhiên tỉnh ngộ nói:

- Tất cả đều như thế, đâu phải chỉ riêng đệ tử.

Đa Bảo hỏi:

- Ngươi đã hiểu chưa?

Đáp:

- Đệ tử hiểu rồi, nhưng cũng giống như chưa hiểu.

Đa Bảo nói:

- Phải lấy tâm ấy mà bảo nhậm.

Sư ôm tai đứng quay lưng lại:

Đa Bảo bèn quát bảo:

- Đi đi!

Định Hương sụp xuống lạy ta. Đa Bảo nói:

- Về sau giao tiếp với người, ngươi phải làm như kẻ điếc.

Ở kinh đô, có viên Đô tướng Thành hoàng sứ là Nguyễn Tuân kính mộ danh đức của sư, mời sư về trụ chùa Cảm Ứng, học trò đến theo học rất đông. Đối với người đời, sư có công dạy bảo cảm hóa không nhỏ. Ngày ba tháng năm Canh dần niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1051) đời Lý Thái Tông, sự lâm bệnh, gọi đệ tử đến đọc bài kệ vĩnh biệt.

Bản lai vô xứ sở

Xứ sở thị chân tông

Chân tông như thị ảo

Ảo hữu tức không không

Dịch:

Xưa nay không xứ sở

Xứ sở ấy chân tông

Chân tông hư ảo thế

“Có” ảo tức “không” không.

Nói xong sư im lặng mà quy hóa.
 
 

*

* *

Thiền sư THIỀN LÃO
 
 

Chùa Trùng Minh, núi Thiên Phúc, huyện Tiên Du.

Trước sư đến tham vấn sư Đa Bảo ở chùa Kiến sơ lĩnh hội được tâm yếu của Thiền tông. Sau sư đến trụ trì ở núi này(1) có tiếng là bậc cao tăng đương thời. Học trò đến theo học đông có tới hơn nghìn người. Chùa Trùng Minh trở thành một thiền viện sầm uất trong chốn tùng lâm. Khoảng niên hiệu Thông Thụy (1034 – 1038) vua Lý Thái Tông thường đến thăm chùa. Vua hỏi:

- Hòa thượng trụ ở núi này đã bảo lâu?

Sư đáp:

- Tháng ngày rày biết rõ

Xuân thu cũ ai hay.

(Đản tri kim nhật nguyệt

Thùy thức cựu xuân thu)

Vua lại hỏi:

- Hàng ngày hòa thượng làm gì?

Đáp:

- Trúc biếc hoa vàng đâu ngoại cảnh

Trăng trong mây trắng rõ toàn chân

(Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh

Bạch văn minh nguyệt lộ toàn chân)

Vua hỏi:

- Có ý chỉ gì?

Đáp:

- Nhiều lời vô ích!

Vua bừng tỉnh ngộ. Sau đó sai sứ đến mời sư về kinh thỉnh vấn, nhưng khi sứ giả đến nơi thì sư đã quy tịch rồi. Vua rất thương tiếc, làm thơ viếng, sai trung sứ đem lễ vật phúng điếu, dựng dàn hoả táng, xây tháp xá lị ở trong chùa. Lại cho sửa sang mở rộng chùa, cho môn đồ lo đèn hương thờ phụng.
 
 

*

* *

Thế thứ bẩy
 

Thiền sư VIÊN CHIẾU

(999-1090)
 
 

Chùa Cát Tường, kinh đô Thăng Long.

Thiền sư họ Mai, tên Trực, người huyện Long Đàm(1), châu Phúc Đường, là con người anh thái hậu Linh Cảm đời Lý(2). Thuở nhỏ ông thông minh mẫn tuệ, hiếu học. Nghe tiếng trưởng lão ở chùa Mật Nghiêm giỏi xem tướng, ông bèn đến nhờ xem hộ. Trưởng lão xem kỹ tướng mạo rồi nói: “Ngươi có duyên với Phật pháp, nếu xuất gia tất sẽ là vị Thiện Bồ tát; nếu không thì thọ yểu chưa biết thế nào”. Sư cảm ngộ rồi từ biệt thân quyến tìm đến thụ nghiệp với thiền sư Định Hương ở núi Ba Tiêu. Trong những năm ấy, sư suy cứu thiền học, chuyên chủ trì tụng kinh Viên Giác, tinh thông phép Tam quán(3). Một đêm sư đang ngồi thiền định thì mơ thấy Văn Thủ Bồ Tát cầm dao mổ bụng lôi ruột sư ra rửa, rồi trao cho diệu dược để chữa vết thương. Từ đó sư hiểu sâu ngôn ngữ Tam muội, thuyêt giảng trôi chảy. Sau sư đến vùng gần kinh kỳ dựng chùa trụ trì, người đến theo học đông nườm nượp. Có vị tăng hỏi:

- Nghĩa của Phật và thánh như thế nào?

Sư đáp:

- Cúc trùng dương dưới giậu

Oanh xuân ấm đầu cành.

(Ly hạ trùng dương cúc,

Chi đầu thục khí oanh)

Lại hỏi:

- Đa tạ hòa thượng, nhưng kẻ học này chưa hiểu, xin hòa thượng chỉ giáo thêm cho.

Sư đáp:

- Ngày qua vầng ô chiếu

Đêm đến bóng thỏ soi.

(Trú tắc kim ô chiếu

Dạ lại ngọc thố minh)

Hỏi:

- Đệ tử hiểu ý thầy

Huyền cơ là gì đây?

(Dĩ hoạch sư chân chỉ

Huyền cơ thị như hà?)

Đáp:

- Nước đựng đầy thau bưng bất cẩn

Vấp chân soài ngã hối làm chi.

(Bất thận thủy bàn kình mãn khứ

Nhất tao tha điệt hối hà chi?)

Thiền tăng nói:

- Đa tạ lời chỉ giáo của hòa thượng

Sư nói:

- Chớ rửa trên mặt nước

Thân gieo nước tự chìm.

(Mạc trạc giang ba nịch

Thân lại khước tự trầm)

Hỏi:

- Thiếu Thất (1), Ma Kiệt(2) rất huyền diệu, từ xưa đến nay ai kể nối làm chủ?

Đáp:

- Tượng trời nhật nguyệt thay sáng tối

Mạch đất quanh co nối Nhạc Hoài(3).

(U minh kiền tượng nhân ô thố

Khuất khúc khôn duy vị Nhạc Hoài)

Hỏi:

- Thế nào là đạo lớn

Nguồn căn một lối về?

(Như hà thi đại đạo

Căn nguyên nhất lộ hành)

Đáp:

- Gió thốc non cao hay cỏ cứng

Nước mà nguy biến biết tôi trung.

(Cao ngạn tật phong tri kính thảo

Bang gia bản đăng thức trung lương)

Hỏi:

- Tất cả chúng sinh từ đây tới, trăm năm sau về đâu?

Đáp:

- Rùa mù đào vách núi

Trạch que ngược núi cao.

(Manh quy xuyên thạch bích

Phả miết thướng cao sơn)

Hỏi:

- Trúc biếc xanh xanh cũng đều là Chân như. Như vậy cái “dụng” của Chân như là thế nào?

Đáp:

- Tặng người đi nghìn dặm

Cười đưa một ấm trà.

(Tặng quân thiên lý viễn

Tiếu bả nhất bình trà)

Hỏi:

- Thế nào là “uổng công đến mà chẳng ích gì?”

Đáp:

- Ai biết lên gò núi

Trên đường đã bạc đầu

(Thùy thức đông a khứ

Đồ trung tái bạch đầu)

Hỏi:

- Nhà sâu hiên im vắng

Ai biêt bọn ta tìm

(Dã hiên nhất thâm hộ

Thùy thức đáng nhàn xao?)

Đáp:

- Kim cốc(1) tiêu điều hoa cỏ xác

Trâu dê sớm tối mặc ra vào.

(Kim Cốc tiêu sơ hoa thảo loạn

Nhi kim hôn hiểu nhậm ngưu dương)

Hỏi:

- Sao lại như thế?

Đáp:

- Phú quý không dè xẻn

Lâu đài nối biển khơi

(Phú quý kiêm kiêu thái

Phiên linh bại thị lâu)

Hỏi:

- Long Nữ(2) dâng châu thành Phật quả

Đàn Na(1) bố thí phúc hằng bao?

(Long nữ hiến châu thành Phật quả

Đàn Na xả thí phúc như hà)

Đáp:

- Quế trong trăng muôn thuở

Xum xuê vẫn một vầng.

(Vạn cổ nguyệt trung quế

Phù sơ tại nhất luân)

Hỏi:

- Thế nào là “vất vả mà chẳng nên công”?

Đáp:

- Trời cao như gương sáng

Người đời chốn chốn thông

(Thiên thượng như huyền kính

Nhân gian xứ xứ thông)

Hỏi:

- Qua sông dùng bè mảng

Đến bền bỏ ghe thuyền

(Độ hà tu dụng phiệt

Đáo ngạn bất tu thuyền)

Vậy không sang sông thì thế nào?

Đáp:

- Ao khô cá mắc cạn

Sống được ắt muôn xuân.

(Hạc trì ngư tại lục

Hoạch hoạt vạn niên xuân)

Lại hỏi:

- Thế nào là “theo dòng thì mới được diệu lý”?

Đáp:

- Chuyện cũ Kinh Kha đấy

Một đi chẳng trở về.

(Kiến thuyết Kinh Kha lữ

Nhất hành cánh bất hồi)

Hỏi:

- Quặng vàng lẫn lộn đều nguyên khí

Xin sư phương tiện luyện cho tinh

(Kim khoáng hỗn giao nguyên nhất khí

Thỉnh sư phương tiện luyện tinh hình)

Đáp:

- Chẳng phải Tề quân(1) khách

Nào hay cá biển to.

(Bất thị Tê quân khách

Ná trì hải đại ngư)

Hỏi:

- Quách ông(2) chẳng chịu hiểu

Cán gián có làm chi?

(Quách quân nhược bất nạp

Gián ngữ diệc hề vi)

Đáp:

- Nếu muốn uống rượu trước

Đừng vẽ rắn thêm chân

(Nhược dục tiên đề ấm

Hưu vi xảo họa xà)

Hỏi:

- Rắn sắp chết giữa đường, xin thầy cứu sống?

Sư hỏi lại:

- Ngươi là người phương nào?

Đáp:

- Vốn là người ở núi.

Sư nói:

- Núi xưa về ẩn gấp

Đừng gặp Hứa chân quân(1)

(Cấp hồi cựu nham ẩn

Mạc kiến Hứa chân quân)

Thầy tăng lại hỏi:

- Kho biển mênh mông chẳng màng đến

Khe tào róc rách, ý sao đây?

(Hải tạng thao thao ưng bất vấn

Tào Khê trích trích thị như hà)

Đáp:

- Thông reo trước gió tiếng buồn thay

Mưa tạnh sau chân biết lối lầy

(Phong tiền tùng hạ thê lương vận

Vũ hậu đồ trung thiền trọc nê)

Hỏi:

- Như thế nào là “không khác ngày nay”?

Đáp;

- Cúc trùng dương dưới giậu

Oanh ngày ấm đầu cành

(Ly hạ trùng dương cúc

Chi đầu noãn nhật oanh)

Hỏi:

- Rõ ràng giữa chốn sắc thân

Chói lọi ở trong tâm mục

(Chiêu chiêu tâm mục chi gian

Lãng lãng sắc thân chi nội)

Vậy mà lý không phân biệt được, hình không trông thấy được. Tại sao không thể thấy?

Đáp:

- Trong vườn hoa rực rỡ

Trước bến, cỏ lơ phơ

(Uyển trung hoa lạn mạn

Ngạn thượng thảo li phi)

Hỏi:

- Lạnh trời mầm cây rụng

Lấy gì để khoe tươi?

(Tuế hàn quần miêu lạc

Hà di khả tuyên dương)

Đáp:

- Mừng ông đã thấu đạt

Chẳng cũng vui lắm sao?

(Hỉ quân lai tự đạt

Bất diệc thả hoan ngu)

Tăng nói:

- Được lời thầy chỉ giáo

Từ này thoát ưu phiền.

(Hạnh văn kim nhất quyết

Từng thứ miễn hốt vô)

Sư đáp:

- Vũng cạn vừa lên khỏi

Quay đầu vạn dặm sâu.

(Thiển nịch tài đề xuất

Hồi đầu vạn trượng đàm)

Hỏi:

- “Niết Bàn thành nội thượng do nguy”. (Lời kinh nói: “Ở chốn Niết Bàn nguy còn đến”). Vậy biết nơi nào hết hiểm nguy?

Đáp:

- Xây tổ trên màn trướng

Tóc râu xoã cành lau

(Doanh sào liêm mạc thượng

Tu phát vi thiều kinh)

Hỏi:

- Nếu gặp khi bức bách

Hai đường theo nẻo nào?

(Nhược tao thì bách cận

Lưỡng cứ thị hà vi)

Đáp:

- Phóng đãng tùy ý thích

Tiêu dao với gió trăng

(Trượng phu tùy phóng đăng

Phong nguyệt thả tiêu dao)

Hỏi:

Tất cả chúng sinh, điều nói là Phật, Lý ấy chưa rành. Xin thầy chỉ giáo (Nhất thiết chúng sinh; Giai ngôn thị Phật, Thử lý vị minh, thỉnh sư thùy thị)

Đáp:

- Chăm bón nông tang ngươi hãy gắng

Chớ học ôm cây đợi thỏ qua

(Khuyến quân thả vu nông tang khứ

Mạc học tha nhân đãi thố lao)

Tăng nói:

- Được lời thầy chỉ giáo

Ngoài chẳng hỏi ai chi.

(Hạnh mông sư hiển quyết

Chung bất hướng tha cầu)

Sư nói:

- Đáng thương người nấc nghẹn

Ngồi đói chịu quên ăn.

(Khả lân tao nhất ế

Cơ tọa khước vong xan)

Tăng nói:

- Ngọc vàng cất giấu trong rương đẫy

Rành rõ giờ đây được ngắm xem.

(Kỷ niên cửu tích nang trung báu

Kim nhật đương trường địch diện khan)

Sư nói:

- Đợi trung thu trăng sáng

Ngờ đâu mây tối trời

(Chỉ đãi trung thu nguyệt

Khước tao vân vũ xâm)

Tăng nói:

- Tuy nghe thầy thuyết giảng

Lẽ ấy chưa rõ ràng.

(Tuy văn sư ngữ thuyết

Thử lý vị phân minh)

Sư đáp:

- Cười kẻ ôm cột cầu

- Chết đuối giữa dòng sâu

(Tiếu tha đồ bão trụ

Nịch tử hướng trung lưu)

Hỏi:

- Thế nào là “nhất pháp”?

Đáp:

- Chỉ thấy xuân qua hè lại đến

Mới vào thu chín, gật đông về

(Thốn kiến xuân sinh kiêm hạ trưởng

Hựu phùng thu thục cập đông tàng)

Hỏi:

- Như thế nào là nhiều người được thành Phật?

Đáp:

- Thủy Hoàng tìm Tiên mỏi

Từ Phúc mãi chẳng về

(Tổ Long khu tự chỉ

Từ Phúc viễn đồ lao)(1)

Lại hỏi:

- “Kiến tính thành Phật” (thấy được bản tính thì thành Phật) nghãi là thế nào?

Đáp:

- Cây héo vào xuân hoa nở rộ

Gió đưa nghìn dặm nức hương thần

(Khô mục phùng xuân hoa canh phát

Phong suy thiên lý phức thần hương)

Tăng nói:

- Đệ tử chưa hiểu, xin thầy giảng lại cho.

Sư đáp:

- Vạn năm cây cà ấy

Tươi tốt vút tầng mây

(Vạn niên già tử thụ

Thương thúy tủng vân đoan)

Hỏi:

- Ma Ni cùng các sắc

Chẳng hợp cũng chẳng rời

(Ma Ni dữ chúng sắc

Bất hợp bất phân ly)

Đáp:

- Hoa xuân cùng bướm trắng

Lúc luyến hay chia ly?

(Xuân hoa dữ hồ điệp

Kỷ luyến kỷ tương vi)

Tăng hỏi:

- Thế nào là “Tuy hóa hỗn tạp”?

Đáp:

- Chẳng phải sư Thiên Trúc

Uổng ngắm ngọc Biên châu

(Bất thị Hồ tăng nhân

Đồ lao sính Biện châu)

Lại hỏi:

- Thế nào là “xúc mục bồ đề”? (Chân lý gần ngay trước mắt).

Đáp:

- Cây cong chim hoảng sợ

Thổi mãi lạnh cóng người

(Kỷ kinh khúc mục điểu

Tân xuy lãnh tê nhân)

Hỏi:

- Kẻ học này chưa hiểu, xin thầy đổi cho thí dụ khác.

Đáp:

- Kẻ điếc nghe đàn sáo

Người mù ngắm trăng sao

(Tủng nhân thính cầm hưởng

Manh giả vọng thiềm thừ)

Hỏi:

- Vốn đã có hình thì có bóng

Phải chăng lại có bóng không hình?

(Bản tự hữu hình kiêm hữu ảnh

Hữu thời ảnh dã lý hình phầu?)

Đáp:

- Nước đổ về đông chừ, đua chảy vạn dòng.

Sao chầu hướng bắc chừ, muôn thuở cùng lòng.

(Chúng thủy triều đông hề, vạn phái tranh lựu,

Quần tinh củng bắc hề, thiên cổ quy tâm)

Hỏi:

- Thế nào là “một câu rõ hết hơn cả muôn câu”?

Đáp:

- Xách bổng Thái Sơn về Bắc Hải

Ngước tung thiền trượng tới cung trăng

(Viễn phù Thái son siêu Bắc hải

Ngưỡng phao trụ trượng nhập thiềm cung)

Hỏi:

- Chỉ sự ấy là thực

Ngoài ra chẳng phải chân?

(Duy thử nhất sự thực

Dư nhị tức phi chân)

Vậy thế nào là “chân”?

Đáp:

- Gió dễ lay đầu gậy

Đường đi mưa sinh lầy

(Trượng đầu phong dị động

Lộ thượng vũ thành nê)

Hỏi:

- Không hướng Như Lai xin diệu tạng

Nối đèn lửa tổ chẳng cầu xin

(Bất hướng Như lai thì diệu tạng

Bất cầu tổ diệm tục đăng chi)

Ý chỉ câu ấy là thế nào?

Đáp:

- Trong tuyết mẫu đơn nở

Trời thu oanh hót vang

(Thu thiên đoàn thử lệ

Tuyết cảnh mẫu đơn khai)

Hỏi:

- Thế nào là câu tuyệt diệu?

Đáp:

- Một người quay vào vách

Cả nhà uống mất vui

(Nhất nhân hướng ngung lập

Mãn tọa ẩm vô hoan)

Lại hỏi:

- Cổ kim việc lớn không nên hỏi

Thiền từ Tây tới hỏi nên chăng?

(Cổ kim đại sư ưng vô vấn(1)

Đặc địa tây lai ý nhược hà)

Đáp:

- Kẻ khéo mồm giả dối

Mai trơ ngói vỡ thôi(2)

(Xoả ngọn lệnh sắc giả

Toàn quy đả ngoã nhân)

Hỏi:

- Cả tâm và pháp đều quên, tính tức Chân, vậy thế nào là “Chân”?

Đáp:

- Mưa tươi non hoa, Thần nữ khóc(3)

Gió khua rặng trúc, Bà Nha đàn.

(Vũ trích nham hoa Thần nữ lệ

Phong xao đỉnh trúc Bá Nha cầm)

Lại hỏi:

- Thế nào là câu tuyệt diệu?

Đáp:

- Trong cổ còn vường hóc

Đừng ngồi có yên dâu.

(Hầu lý do tồn ngạnh

Thường cư bất khoái nhiên)

Hỏi:

- Còn “tu” còn “chứng” sinh bốn bệnh

Vươn đầu nào có thoát trần ra.

(Hữu tu hữu chứng khai tứ bệnh

Xuất đâu hà khả thoát trần lung)

Đáp:

- Biển rộng bao dung nhiều nguồn nhỏ

Non cao giữ mãi bụi hồng trần

(Sơn cao cánh tại dung trần trữ

Hải khoát năng thâm nạp tế lưu)

Hỏi:

- Trong sách nói: “Chỉ có Phật với Phật mới biết việc này”. Ấy là việc gì?

Đáp:

- Đường hẹp trúc um tùm

Gió reo nhạc tự thành

(Hiệp kính sum sum trúc

Phong xuy khúc tự thành)

Hỏi:

- Không theo bình thường, không theo thiên nhiên, không theo công dụng, vậy nay biết làm thế nào?

Đáp:

- Cỏ bồng chim sâu đậu

Biển biếc náu giao long.

(Bồng thảo thê đê yến

Thương minh ẩn cự lân)

Hỏi:

- Tứ đại(1) mang về từ nhiều kiếp

Thỉnh sư phương tiện thoát luân hồi.

(Tứ đại đới lai do khoáng kiếp

Thỉnh sư phương tiện xuất luân hồi)

Đáp:

- Tê giác là loài súc thú hiếm

Ăn bằng gai góc, ngủ trong bùn.

(Cử thế súc đồ tê thị bào

Xan ư kinh cức ngọa ư nê)

Hỏi:

- “Thủ” hay “xả” đều là ở trong vòng luân hồi; không “thủ”, không “xả” thì thế nào?

Đáp;

- Xưa nay hồng đẹp, sắc nay khác

Cành lá xum xuê chẳng có hoa

(Tòng lai hồng hiện thủ thường sắc

Hữu diệp sâm si bất hữu hoa)

Hỏi:

- Nói “Ngôn ngữ đạo đoạn” (dứt hết nói năng) là nghĩa thế nào?(1)

Đáp:

- Gió thổi sừng kêu xuyên rặng trúc

Vầng trăng vượt núi đến bên tường

(Giốc hưởng tùy phong xuyên trúc đáo

Sơn nham đái nguyệt quá tường lai)

Hỏi:

- Chư Phật thuyết pháp đều nhằm giáo hóa mọi loài, nếu hiểu thấu bản ý thì gọi là “xuất thế”. Như thế nào gọi là “bản ý”?

Đáp:

- Xuân dệt hoa như gấm

Thu sang đổ là vàng

(Xuân chức hoa như gấm

Thu lại diệp tự hoàng)

Hỏi:

- Như thế nào gọi là “một đường đưa thẳng đến nguồn gốc của đại đạo”?

Đáp:

- Đông tây xe ngựa ruổi

Sớm tối bụi trần bay

(Đông tây xa mã tẩu

Trần thổ hiểu hôn phi)

Hỏi:

- Có tâm có pháp sinh võng