MỤC
LỤC
Lời
Tựa
Lời
Bạt
Lời
Giới Thiệu
Thiền
Uyển Tập Anh Tự
THIỀN
PHÁI VÔ NGÔN THÔNG
Thiền
sư VÔ NGÔN THÔNG
Thiền
sư CẢM THÀNH
Thiền
sư THIỆN HỘI
Thiền
sư VÂN PHONG
Đại
sư KHUÔNG VIỆT
Thiền
sư ĐA BẢO
Trưởng
lão ĐỊNH HƯƠNG
Thiền
sư THIỀN LÃO
Thiền
sư VIÊN CHIẾU
Thiền
sư CỨU CHỈ
Thiền
sư BẢO TÍNH
Thiền
sư MINH TÂM
Thiền
sư QUẢNG TRÍ
Quốc
sư THÔNG BIỆN
Đại
sư MÃN GIÁC
Thiền
Sư NGỘ ẤN.
Thiền
sư ĐẠO HUỆ
Thiền
sư BIỆN TÀI
Thiền
sư BẢO GIÁM
Thiền
sư KHÔNG LỘ
Thiền
sư BẢN TỊNH
Thiền
sư MINH TRÍ
Thiền
sư TÍN HỌC
Thiền
sư TỊNH KHÔNG
Thiền
sư ĐẠI XẢ
Thiền
sư TINH LỰC
Thiền
sư TRÍ BẢO
Thiền
sư TRƯỜNG NGUYÊN
Thiền
sư TỊNH GIỚI
Thiền
sư GIÁC HẢI
Thiền
sư NGUYỆN HỌC
Thiền
sư QUẢNG NGHIÊM
Thiền
sư THƯỜNG CHIẾU
Cư
sĩ THÔNG SƯ
Thiền
sư THẦN NGHI
Thiền
sư TỨC LỰ
Thiền
sư HIỆN QUANG
Cư
sĩ ỨNG VƯƠNG |
THIỀN
PHÁI TÌ NI ĐA LƯU CHI
Thiền
sư TÌ NI ĐA LƯU CHI(1)
Thiền
sư PHÁP HIỀN
Thiền
sư THANH BIỆN
Thiền
sư ĐỊNH KHÔNG
Trưởng
lão LA QUÝ AN(1)
Thiền
sư PHÁP THUẬN
Thiền
sư MA HA
Đạo
giả THIỀN ÔNG
Thiền
sư SÙNG PHẠM
Thiền
sư VẠN HẠNH
Thiền
sư ĐỊNH HUỆ
Thiền
sư ĐẠO HẠNH
Thiền
sư TRÌ BÁT
Thiền
sư THUẦN CHÂN
Tăng
thống HUỆ SINH
Thiền
sư THIỀN NHAM
Thiền
sư BẢN TỊCH
Tăng
thống KHÁNH HỶ
Thiền
sư GIỚI KHÔNG
Thiền
sư PHÁP DUNG(1)
Thiền
sư TRÍ THIỀN
Thiền
sư CHÂN KHÔNG
Thiền
sư ĐẠO LÂM
NI
SƯ DIỆU NHÂN
Thiền
sư VIÊN HỌC
Thiền
sư TỊNH THIỀN
Quốc
sư VIÊN THÔNG
Thiền
sư Y SƠN
THIỀN
PHÁI THẢO ĐƯỜNG
Thiền
sư THẢO ĐƯỜNG |
LỜI
TỰA
THIỀN
UYỂN TẬP ANH, một cuốn sách cổ của Phật giáo Việt Nam
ghi lại các tông phái Thiền học và sự tích các vị Thiền
sư nổi tiếng vào cuối thời Bắc thuộc cho đến thời Đinh,
Lê, Ly một số ít vị lớp sau còn sống đến đầu triều
Trần.
Đây
là tác phẩm không những có giá trị về lịch sử Phật giáo
mà còn là một tác phẩm truyện ký có giá trị về mặt văn
học, triết học và văn hóa dân gian.
Cho
đến nay chúng ta chỉ có bản trùng san in năm Vĩnh Thịnh thứ
11 (1715) thời Hậu Lê là bản in cổ nhất được hòa thượng
Thích Như Tri và các môn đồ của Ngài khắc in ở chùa Tiên
Sơn (Từ Sơn, Hà Bắc).
Tuy
cuốn THIỀN UYỂN TẬP ANH không ghi rõ tên soạn giả nhưng
qua các tài liệu tham khảo chúng ta có thể xác định tác
phẩm này đã được Ngài Thông Biên Thiền sư khởi thảo
từ thời Lý đến Ngài Biên Tài, Thường Chiếu, Thần Nghi.
Trải qua một quá trình biên soạn rồi đến Thiền sư Ẩn
không là người hoàn tất việc biên soạn cuối cùng.
Qua
bao phen binh hỏa, trải mấy cuộc thăng trầm, chúng ta may mắn
còn giữ được truyền bản của tác phẩm.
Vì
lẽ đó, ông Ngô Đức Thọ, chuyên viên Viện Hán – Nôm và
các nhà nghiên cứu trong và ngoài Phật giáo tại thủ đô
Hà Nội đã dày công nghiên cứu văn bản, dịch thuật, chú
giải để tác phẩm sớm được công bố.
Với
mong muốn tác phẩm đến được với đông đảo người đọc
trong và ngoài nước, đáp ứng yêu cầu tham khảo nghiên cứu
của giới Phật giáo nước ta. Phân viện nghiên cứu Phật
học phối hợp với nhà xuất bản Văn học tổ chức xuất
bản cuốn sách cổ có giá trị này, nhằm góp phần vào sự
nghiệp Hoằng đương chính pháp và nghiên cứu văn hóa cổ
dân tộc.
Hà
Nội, tháng 01 năm 1990
Thượng
tọa THÍCH THANH TỨ
LỜI
BẠT
Trong
những ngày đầu Xuân Canh Ngọ, tôi có nhận được bản dịch
THIỀN UYỂN TẬP ANH của nhà nghiên cứu Ngô Đức Thọ, công
tác tại Viện Hán Nôm thuộc Ủy ban khoa học xã hội Việt
Nam, với yêu cầu xem lại và bổ chính bản thảo lần cuối
cùng, trước khi xuất bản.
Mặc
dù thời gian cấp bách và công việc rất khó khăn, nhưng tôi
vẫn phát tâm làm với sự cố gắng tối đa. Bởi vì đây
là một công tác đáng lẽ Ban Phật Giáo Việt Nam thuộc Viện
nghiên cứu Phật học phải làm, nhưng hiện nay chưa làm được
gì nhiều.
Ông
Ngô Đức Thọ là nhà Hán Nôm học, rất quan tâm và hứng
thú với Phật giáo và Phật học. Công việc của ông đáng
khích lệ và hoan nghênh. Ông lại đang công tác tại một cơ
quan Nhà nước có chức năng lưu trữ, nghiên cứu các văn
bản Hán Nôm, trong đó có nhiều văn bản Phật giáo quan trọng.
Tôi
hy vọng sau khi xuất bản dịch THIỀN UYỂN TẬP ANH này, ông
Ngô Đức Thọ sẽ tiếp tục cộng tác với Ban Phật giáo
Việt Nam chúng tôi (thuộc Viện nghiên cứu Phật học Việt
Nam), trong công việc sưu tầm, khảo đính, phiên dịch và công
bố toàn bộ những văn bản Phật giáo Việt Nam bằng chữ
Hán Nôm hiện có trong nước và ngoài nước, góp phần xây
dựng một “Tục tạng Phật giáo Việt Nam” sẽ là bộ phận
quan trọng của Bộ Đại tạng Phật giáo Việt Nam tương lai.
Ngày
mồng Tầm xuân Canh Ngọ, tức mồng 3 tháng 2 Tây lịch năm
1990.
MINH
CHI
Trưởng
Ban Phật giáo Việt Nam, thuộc
Viện
nghiên cứu phật giáo học Việt Nam.
Chủ
nhiệm bộ môn Phật giáo sử Việt Nam tại Trường
Phật
học cao cấp thành phố Hồ Chí Minh.
LỜI
GIỚI THIỆU
(Quá
trình hình thành tác phẩm văn bản và giá trị văn hiến của
Thiền uyển tập anh)
Trong
di sản Hán Nôm của nước ta, cuốn Thiền uyển tập anh
là một tác phẩm truyện ký có giá trị không chỉ riêng về
văn học mà cả về sử học, triết học, văn hóa dân
gian v.v... Cả về mặt văn bản, tác phẩm này cũng có một
giá trị đặc biệt, bởi vì nó là một trong số rất hiếm
tác phẩm khởi thảo từ cuối đời Lý, hoàn chỉnh và ổn
định đầu đời Trần, cách nay đã trên bẩy thế kỷ mà
vẫn còn có truyền bản trọn vẹn lưu lại đến ngày nay.
Trong
thiên Nghệ văn chỉ, ở loại truyện ký, Lê Quý Đôn viết:
“Thiền uyển tập anh, một quyển, người đời Trần soạn,
ghi tông phái Thiền học và sự tích các nhà sư nổi tiếng
ở nước ta từ đời Đường, Tống, trải đến các đời
Đinh, Lê, Lý, Trần”(1). Trong Văn tịch chí, Phan Huy Chú cũng
ghi về Thiền uyển tập anh với nội dung tương tự. Qua bao
phen binh lửa, số thư tịch, bi ký đời Lý, Trần được ghi
trong thư mục của hai nhà Lê, Phan chỉ còn lại một số rất
ít, trong đó may mắn có tác phẩm Thiền uyển tập anh. Tuy
văn bản hiện có không phải là bản in đời Trần mà là
một bản trùng san (khắc in lại) vào năm Vĩnh Thịnh thứ
11 (1715), đó cũng là một trong số thư tịch đầu thế kỷ
XVIII trở về trước còn giữ được văn bản – hiện vật
đến nay. Bài tựa của một nhà Nho (không ghi tên) đặt ở
đầu sách cho biết một nhà sư đã đem một bản cũ, hẳn
là có nhiều chỗ mờ mòn, rách nát đến nhờ ông chỉnh lý
câu chữ để trùng san. Có thể nói hòa thượng Thích Như
Trí, các môn đồ cùng các thiện nam tín nữ có tên hiệu
ghi ở đoạn cuối bài tựa là những người đã có công in
khắc để truyền lại cho chúng ta một di sản văn hóa quý
của nước nhà.
Ngoài
Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú, khoảng thời gian này cũng không
thấy mấy tác giả dẫn dụng Thiền uyển tập anh. Phải đến
đầu thế kỷ XX, nhà thiền học có tiếng là Phúc Điền
hòa thượng (thời Minh Mệnh) đã nhìn thấy ý nghĩa của tác
phẩm này đối với việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo
ở nước ta. Có nhiều khả năng là PHúc Điền cũng chỉ có
trong tay bản in thời Vĩnh Thịnh như đã nói ở trên, mà ông
nhận xét rằng trong đó có nhiều sai lầm. “Tựu trung lỗ
ngư bất nhất, vận suyển san danh” (trong đó có nhiều chỗ
lầm từ chữ này sang chữ nọ, sai lầm khó đọc ra chữ gì).
Để lưu truyền văn bản cho đời sau, Phúc Điền lại một
lần nữa hiệu chỉnh, cho khắc in lại. Đó là tập sách mang
tên: Trùng khắc Đại Nam thiền uyển truyền đăng tập lục.
Quyền thượng, với dòng phụ chú: “Thất tập nhân danh,
cựu bản Tiên Sơn tự” (tên người biên tập đã thất truyền,
căn cứ theo bản cũ ở chùa Tiêu Sơn). Đối chiếu nội dung
thì thấy tập sách mà Phúc Điền đề là “... Truyền đăng
tập lục”, quyền thượng, thì toàn bộ “ quyền thượng”
ấy chủ yếu là khắc in lại Thiền uyển tập anh (bản Vĩnh
Thịnh) trong đó Phúc Điền viết lại truyện thiền sư Không
Lộ, còn các truyện khác chỉ sửa đổi một ít câu chư.
Phúc Điền ghi “quyển thượng” trong tương quan với một
cuốn khác là Đại Nam thiền uyển kế đăng lược lục (gọi
tắt là Kế đăng lục) mà ông gọi là quyển hạ.
Từ
sau Phúc Điền, việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt
Nam cũng không có tiến triển mấy. Và Thiền uyển tập anh
cả bản Vĩnh Thịnh và bản Phúc Điền cũng không thấy mấy
ai nhắc tới. Đến thời hiện đại, Thúc Ngọc Trần Văn
Giáp có lẽ là học giả chú ý đến Thiền uyển tập anh
khá sớm và đã sử dụng có hiệu quả nguồn tư liệu của
tác phẩm này vào chuyên khảo Phật giáo ở Việt Nam. Ông
cho biết: năm 1927, ông có thấy trong tủ sách của một nhà
nho ở Hải Phòng một tập sách mang tên Thiền uyển tập anh
ngữ lục mà ông nhận xét: “Đó là một tác phẩm quý, rất
ít người biết tới và chưa được dịch ra thứ tiếng châu
Âu nào”. Sau khi ở Pháp về, ông lại thấy trong số sách
mới nhập của trường Viễn Đông Bắc Cổ có quyển Thiền
uyển truyền đăng lục quyển thượng, tức là tập sách do
Phúc Điền in lại đã nói ở trên.(2)
Soát
lại theo những chỉ dẫn của Trần Văn Giáp thì thấy cả
hai bản Thiền uyển đó hiện nay đều còn có đủ cả ở
Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Chúng ta có thể biết là bản Vĩnh
Thịnh của nhà nho ở Hải Phòng ít lâu sau cũng đã được
nhượng lại cho trường Viễn Đông Bác Cổ, mang ký hiệu
A. 3144 (mất tờ 65, như đã mô tả). Tại Viện Nghiên
cứu Hán Nôm hiện nay còn có một bản khác mang ký hiệu VHv.
1267. Bản này có vết chấm sâu bằng bút son, đủ từ đầu
đến cuối. So với bản A.3144 thì bản này ở đầu sách,
sau bài tựa, có ba tờ in hình vẽ Trúc Lâm, Pháp Loa và Huyền
Quang kèm theo tiểu truyện của ba vị tổ phái Trúc Lâm đó.
Xét nội dung thì các hình vẽ tiểu truyện đó không thuộc
nội dung của Thiền uyển tập anh, nó chỉ là 3 tờ 8,9,10
của sách Thiền uyển truyền đăng, quyển hạ của bản Phúc
Điền. Có thể nhà bán sách hoặc chủ nhân cũ của bản sách
đó thấy cả hai phần đều nói về các vị tổ Thiền tông
Việt Nam nên đóng gộp thêm vào. Điều thứ hai, sau tờ 72
mà dòng cuối cùng của cả hai bản đều có dòng chữ “Thiền
uyển tập anh tất, quyển hạ chung”, thì ở bản VHv.1267
còn có thêm 2 tờ (73 và 74) nội dung in bài Bạt và ghi tên
các tín chủ đã đóng góp tiền của cho việc in kinh, tên
người đứng đầu là bà Nguyễn Thị Thưởng người xã Trung
Mâu (xã này thuộc huyện Tiên Du, phú Từ Sơn). Ngoài hai điểm
đó thì hai bản A.3144 và VHv.1267 hoàn toàn giống nhau, và có
thể xác định là cũng được in ra từ bộ ván in của Thích
Như Trí (gọi chung là bản Vĩnh Thịnh) đã nói ở trên. Và
liên hệ với lời ghi chú của Phúc Điền hòa thượng (đã
dẫn) có cơ sở để xác định chùa Tiêu Sơn chính là nơi
khắc in và tăng bản của sách.
Đáng
chú ý là ở tiêu đề của bài Tựa đề là Trùng san thiền
uyển tập anh tự ( Bài tựa của lần khắc in lại sách Thiền
uyển tập anh). Nói là “trùng san” có nghĩa là văn bản
đó từ trước đã có bản in, nay đem ra in khắc lại. Ngoài
một số chỉnh lý ở mức độ không nhiều bởi một nhà
nho không ghi tên – người đã viết bài Tựa – có những
chứng cớ cho thấy ván khắc bản in đời Trần, như: họ
của các vua Triều Lý ( Thái Tổ, Thái Tông v.v...) đã
được khắc in đúng chữ “Lý”, còn họ của nhiều nhân
vật khác thì chữ Lý vẫn in là “Nguyễn”, ví dụ Thái
uý Lý Thường Kiệt in là Nguyễn Thường Kiệt (tờ 65a), sứ
giả nhà Tống là Lý Giác chép là Nguyễn Giác (tờ 49a). Việc
đổi chép họ Lý thành họ Nguyễn là theo lệnh kiêng huý
của nhà Trần ban bố năm 1232. ở truyện thiền sư Tịnh lực
có câu thơ “Tự thị [....] tiên huý bất tòng” (tờ 30b).
ở vị trí chữ bỏ trống đó được thay bằng ba chữ chú
thích cỡ nhỏ: “Thái tổ huý”. Điều đó cho thấy rằng
bản lĩnh Vĩnh Thịnh đã được phỏng theo cách viết kiêng
huý từ một văn bản đời Trần: tránh chữ “Thừa”
là tên huý của Trần Thừa ( cha Trần Thánh Tông) - ông này
không làm vua nhưng sử nhà Trần vẫn tông xưng là Thái tổ(1).
Lại ở truyện Pháp Dung, nói vị thiên sư này trụ trì ở
chùa Hương Nghiêm núi Ma Ni, phủ Thanh Hoá (nay thuộc xã Phủ
Lý huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá) thì văn bia ở chùa này
(thác bản No 20957) dựng năm 1124 đời Lý Nhân Tông, đề rõ
là “Kiền Ni sơn Hương Nghiêm tự bi văn”.Như vậy,vì đến
đời Trần kiêng huý chữ “Kiền” (theo lệnh năm 1299) là
tên tước của Phụng Kiền vương Trần Liễu nên tên núi
Kiền Ni đổi gọi là Ma Ni(3)
Lại
ở truyện “Thông sư cư sĩ” (tờ 39b) nói: sư thị tịch
năm “Hoàng triều Kiến Trung tứ niên (1228)”, cách viết
“Hoàng triều” (triều vua ta) cho thấy đó là cách viết
trong bản in gốc đời Trần.
Có
một điều khá quan trọng: đó là văn bản đời Trần truyền
lại làm gốc cho các bản Trùng san, dường như bị mất tờ
bìa, do đó có thể đã mất luôn cả những điều ghì liên
quan đến soạn giả hoặc người biên tập và năm in chính
xác của bản in lần đầu. Riêng bản Phúc Điền đã ghi chú
rõ là “Thất tập nhân danh” như đã dẫn ở trên. Cũng
vì lý do đó mà hai nhà thư tịch học Lê Quý Đôn, Phan Huy
Chú chỉ có thể ghi là “Người đời Trần soạn”.
Tuy
vậy, liệu chúng ta có thể tìm được cứ liệu gì liên quan
đến soạn giả của Thiền uyển tập anh hay không? Trước
chúng tôi, những người từng sử dụng Thiền tuyển tập
anh hẳn là đã chú ý tìm hiểu vấn đề này. Nhưng đến
nay, sau sáu bẩy thế kỷ, dường như rất ít hy vọng tìm
thấy những cứ liệu cho phép đưa ra câu trả lời chuẩn
xác về soạn giả của sách này.
Tuy
vậy, chúng ta cũng không hẳn hoàn toàn thất vọng: chính tác
phẩm hiện còn cho phép tìm hiểu được ít nhiều điều liên
quan về vấn đề này. Đến đây cần phải trình bầy trước
đôi nét về nội dung của sách Thiền uyển: sách này đứng
về phía người soạn mà nói thì nó được làm ra để ghi
chép thế kỷ, từ cuối thế kỷ Thiền tông Việt Nam trong
khoảng bẩy thế kỷ, từ cuối thế kỷ thứ VI đến đầu
thế kỷ thứ XIII. Một số điều liên quan đến quá trình
du nhập Phật giáo vào Việt Nam thì hiểu biết của người
viết sách còn mở rộng về trước ba, bốn thế kỷ nữa.
Như vậy có thể tin được rằng soạn giả Thiền uyển tập
anh là một người có học vấn uyên bác. Hơn nữa tác phẩm
đó phải là công trình biên soạn của một nhà sư quan tâm
đến đề tài lịch sử Phật giáo tại Việt Nam. Đọc Thiền
uyển tập anh chúng ta có thể nhận ra, rất nổi bật, một
nhà sư có đủ khả năng như vậy. Ngươi đó là thiền sư
Thông Biện, được phong quốc sư thời Lý Nhân Tông.
Thiền
sư Thông Biện (? – 1134) họ Ngô, người hương Đan Phượng
(nay thuộc vùng Hoài Đức, Đan Phượng, ngoại thành Hà Nội)
được triều đình thỉnh về trụ trì chùa Khai Quốc ở kinh
đô Thăng Long. Bấy giờ vua Lý Nhân Tông và hoàng thái hậu
Linh Nhân rất tôn sùng đạo Phật, trước sau đã cho xây dựng
hơn một trăm chùa tháp, trong đó có nhiều chùa nổi tiếng
như chùa núi Lâm Sơn (tức chùa Giạm) Quế Võ, Hà Bắc (1086),
trùng tu mở rộng chùa Diên Hựu (tức chùa Một Cột, 1105),
chùa Sùng Phúc (Thuận Thành Hà Bắc, 1115), tháp Sùng Thiên
Diên Linh (núi Đọi, Duy Tiên, Hà Nam Ninh, 1118) v.... Đối với
các thiền sư có tài đức, vua và hoàng thái hậu lại càng
kính trọng, thường đích thân đến tận nơi thăm viếng hoặc
thỉnh về triều để tham vấn, không chỉ riêng về Phật
pháp mà cả những vấn đề quốc kế dân sinh. Thông Biện
được mời về trụ trì chùa Khai Quốc là một ngôi chùa
lâu đời, nổi tiếng ở kinh đô Thăng Long, là nơi các vua
và hoàng tộc nhà Lý thường đến tham thiền lễ Phật. Ngày
rằm tháng hai năm Hội Phong thứ năm (1096) Linh Nhân Hoàng thái
hậu đến chùa thiết lễ trai tăng. Trong cuộc đàm đạo sau
đó cùng các bậc kỳ túc cao tăng, thái hậu có ý muốn hỏi
về lịch sử các tông phái Phật giáo ở nước ta. Bà hỏi:
“Đạo Phật đến nước ta từ bao giờ? Việc truyền đạo
ai trước, ai sau? Mà người niệm tên Phật, đạt tâm ấn
của Tổ chưa rõ là những ai?”. Các nhà sư có mặt đều
im lặng cả, chỉ một mình sư Thông Biện trả lời thái hậu.
Đoạn trả lời của thiền sư Thông Biện chỉ trong khoảng
vài trang nhưng đã trở thành nổi tiếng mà bất cứ những
ai nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam cũng không thể
bỏ qua. Đó là cả một pho sử truyền giáo của đạo Phật
đã thu gọn lại trong lòng của thiền sư Thông Biện. Dù là
trong ngôn ngữ đối thoại, Thông Biện cũng đưa ra những
trích dẫn cần thiết để phác họa những bước chân truyền
giáo đạo Phật đầu tiên trên đất nước ta. Thông Biện
dẫn lời nhà sư Đàm Thiên (Trung Quốc) nói “Xứ Giao Châu
có đường thông với Thiên Trúc, khi Phật pháp mới đến
Giang Đông chưa khắp thì ở Luy Lâu (thủ phú thời Sĩ
Nhiếp, 187 – 266) đã có tới hai mươi ngôi bảo tháp, độ
được hơn năm trăm vị tăng và dịch được mười lăm quyển
kinh rồi” (4). Đó quả thật là một trung tâm Phật học
khá phát triển! Tiếp theo, Thông Biện kể tên một số nhà
sư Ấn Độ và Trung Á như Ma Ha Kỳ Vức (Mahajivaka), Tăng Hội
(người gốc nước Khương Cư, tức Sogdiane, Trung Á), Chi Cương
Lương (Kalaruci) v.v... Thông Biện cũng đã nhắc đến một
vài người đại diện trong đương đại để tóm tắt phả
hệ của các thiên phái Tì Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) và Vô Ngôn
Thông ở nước ta. Có thể thấy rõ đó là nhà sư có tài
sử học nổi bật trong số các thiền sư được nói đến
trong Thiền uyển tập anh. Với một hiểu biết phong phú như
vậy, có cơ sở để tin rằng, bằng cách nào đó ông cũng
sẽ ghi chép lại để cho các thế hệ mai sau tìm hiểu về
những người có công lai danh tiếng trong vườn thiền. Mà
quả thật ông đã làm một việc như vậy: ở truyện thiền
sư Biện Tài có chú lưỡng cước cho biết ông là người
“nối” pháp tự của quốc sư Thông Biện, từng vâng sắc
chỉ biên sửa sách Chiếu đối lục(5). Lại một chỗ khác,
ở truyện thiền sư Thần Nghi (? – 1216) đệ tử của Thường
Chiếu, có đoạn cho biết khi Thường Chiếu sắp viện tịch,
nhân Thần Nghi khẩn thiết muốn biết rõ các đời truyền
pháp, Thường Chiếu “bèn lấy tập sách Chiếu đối lục
của sư Thông Biện và những điều (tự mình) ghi chép các
tông phái để phân biệt thế thứ nối pháp của các dòng”
(6) đưa cho Thần Nghi xem. Liên Hệ với đoạn ghi thiền sư
Biện Tài vâng sắc chỉ biên sửa sách Chiếu đối lục (đã
dẫn) ta biết rõ hơn sách Chiếu đối lục ấy là do quốc
sư Thông Biện biên soạn. Trải qua các đời truyền nối,
tập sách ấy đã đến tay Thường Chiếu, một thiền sư cũng
có hứng thú đặc biệt đối với việc nghiên cứu lịch
sử truyền thừa.
Thường
Chiếu “? – 1203), họ Phạm, người hương Phù Ninh (nay là
xã Phù Ninh, huyện Gia Lâm, Hà Nội). Ông là vị thiền sư
thế hệ thứ 12 dòng Vô Ngôn Thông, đã đến trụ trì ở
chùa Lục Tổ hương Dịch Bảng (này là xã Đình Bảng, huyện
Từ Sơn, Hà Bắc), vốn là một trung tâm cổ xưa của phái
Tì Ni Đa Lưu Chi. Chính nhờ vậy, ngoài thế thứ, tiểu truyện
của các thiền sư thuộc doanh minh, Thường Chiéu có có
điều kiện để sưu tập tiểu truyện của các vị khác thuộc
phái Tì Ni Đa Lưu Chi. Và ngoài việc được truyền giữ tập
Chiếu đối lục của Thông Biện, Thường Chiếu còn tự mình
“ ghi chép các tông phái để phân biệt thế cứ nối pháp
của các doành” (đã dẫn). Đó là cơ sở để Thường Chiếu
soạn tập Nam tông tư pháp đồ. Tác phẩm này đã được
ghi trong Nghệ văn chỉ (7) và Văn tịch chí, mặc dầu ngày
nay không còn, nhưng có thể biết là nó cũng thuộc thể loại
ghi chép các thế hệ truyền thừa, Lê Quý Đôn ghi vào loại
PHương kỹ có lẽ chỉ là vì thuận tiện ghi tiếp sau sách
Thích đạo khoa giáo của cùng một soạn giả.
Thiền
sư Thần Nghi (? – 1216) đã gìn giữ cả hai tập tài liệu
quý báu đó (Chiếu đối lục của Thông Biện và Nam tông
tự pháp đồ của Thường Chiếu). Trước khi viên tịch,
Thần Nghi đã truyền lại cho đệ tử là Ẩn Không thiền
sư. Ẩn Không người huyện Na Ngạn (nay là huyện Lụ Ngạn
tỉnh Hà Bắc) người đương thời thường gọi là Na Ngạn
đại sư.
Đến
đây nguồn tư liệu ghi chép lịch sử truyền thừa hầu như
dồn lại cả ở thiền sư Ẩn Không. Và vị này có khả năng
là người đã hoàn chỉnh cuốn sách, thực hiện ý nguyện
biên soạn tập tiểu truyện các thế hệ truyền thừa ở
nước ta mà thiền sư Thông Biện đã khởi thảo. Một điều
đáng tiếc, nhưng cũng thú vị, là trong tập Thiền uyển không
thấy có tiểu truyện của Ẩn Không là người định cảo
tập sách này nên ông không tự viết tiểu truyện về bản
thân minh. Trong một chú thích liên quan đến tiểu sử Thần
Nghi và Ẩn Không, nhà sử học Hoàng Xuân Hãn cũng từng nêu
ý kiến: “Phải chăng tác giả sách Thiền uyển tập anh là
vị này?” (8) (Chỉ Ẩn Không). Có thể tin chắc Ẩn Không
đệ tự của Trần Nghi còn sống đến đầu đời Trần.
Do đó Ẩn Không còn có thể chép được tiểu truyện
của Thông Sư cư sỉ mất năm Mậu Tí, niện hiệu Kiến Trung
thứ (1228) đời Trần Thái Tông. Và khi Ẩn Không ngừng
việc biên soạn thì ứng vương cư sĩ (tức Đỗ Văn, thuộc
thế hệ thứ 15 dòng Vô Ngôn Thông, người cuối cùng của
thiền phái này được chép trong Thiền uyển) còn sống bởi
vì không thấy chép năm mất của Ứng vương, nhưng cho biết
Ứng vương từng “làm quan Trung phẩm phụng ngự dưới triều
Chiêu Lăng”. Chiêu Lăng là tên lăng của vua Trần Thái Tông,
do đó ta còn có thể biết thêm Ẩn Không đã thực hiện việc
biên soạn sách này khoảng thời gian không lâu sau khi Trần
Thái Tông mất - (1277).
Nói
tóm lại, chúng ta chúng ta có thể hình dung cuốn Thiên uyển
tập anh này đã trải qua một quá trình biên soạn: khởi thảo
bởi thiền sư Thông Biện, chuyển tiếp qua các thiền sư Biện
Tài, Thường Chiếu, Thần Nghi, đến ẩn Không (tức Na Ngạn
đại sư) là người cuối cùng hoàn thanhf việc biên soạn.
Theo
cách nhìn nhận đó, có thể đoán định rằng sau khi ẩn Không
biên soạn xong, tập sách đó vẫn tồn tại ở dạng bản
thảo chép tay trong một thời gian khá dài, tương ứng với
một thời kỳ hưng thịnh mới của Phật giáo đầu đời
Trần. Ngày nay chúng ta có thể biết Thiền phái Trúc Lâm Yên
Tử đời Trần có ngọn nguồn từ Thiền phái Vô Ngôn Thông.
Nhưng với uy tín lớn của Trúc Lâm đệ nhất tổ (tức Trần
Nhân Tông) cũng như các vị tổ tiếp theo ( Pháp Loa, Huyền
Quang) và các thiền sư nổi tiếng khác đầu đời Trần, tập
Thiền uyển chỉ bao gồm tiểu truyện của các thiền sư từ
đời Lý trở về trước có thể chưa tìm thấy một thời
điểm thích hợp để vấn thế. Do đó Thiền uyển tập anh
tuy đã có định bản vẫn còn phải do các đệ tử thân tín
của ẩn Không cất giữ trong khoảng 50-60 năm nữa mới được
khắc ván in để lưu hành.
Đọc
bản Trùng san đời Vĩnh Thịnh ở cuối truyện Vô Ngôn Thông
(tờ 5a) sau dòng ghi năm tháng viên tịch của vị thiền sư
này, chúng ta thấy hơn một dòng, gồm 22 chữ: “Nhị thập
bát niên hựu chí Khai Hựu Đinh sửu nhị thập tứ niên, ngã
Việt thiền học tự sư chi thuỷ” (hai mươi tám năm, lại
đến [hoặc cho đến] năm Đinh Sửu niệm hựu Khai Hựu hai
mươi bốn năm [hoặc năm thứ 24], (Thiền học nước
ta từ Sư là người mở đầu). Đấy quả thật là một dòng
ghi chép rất khó hiểu, vì tính từ khi Vô Ngôn Thông mất
(năm 820), các số năm kê trên dù ghép với bất cứ sự kiện,
niện đại nào cũng thấy không khớp. Trong phần khảo luận
ở trước tập Thơ văn Lý Trần tập I, khi viết về Thiền
uyển tập anh ông Nguyễn Huệ Chi đã chú ý đến câu này,
nêu rõ trong đó có đến mấy điều vô lý, như từ Vô Ngôn
Thông đến niên hiệu Khai Hựu (1329 – 1341) mà chỉ cách nhau
28 năm? niên hiệu Khai Hựu chỉ có 13 năm mà ở dòng ấy lại
ghi năm thứ 24?, đã phải nhận xét rằng: “Có thể câu văn
này đã bị chép lẫn lộn đến mức sai lạc cả cú pháp
lẫn nội dung. Tuy vậy hai chữ Khai Hựu thì không thể sai
được”(9). Có điều khác là ông Nguyễn Huệ Chi cho đó
là năm biên soạn tác phẩm, còn chúng tôi qua việc tìm hiểu
quá trình hình thành tác phẩm mà nhận định rằng Thiên uyển
tập anh đã được biên soạn xong năm sau chục năm trước
đó, còn năm Khai Hựu Đinh Sửu (1337) chỉ là năm tác phẩm
được in ra, lúc này ẩn Không thiền sư đã qua đời và công
việc khắc in là do các đệ tử thân tín của ông thục hiện.
Sau
kháng chiến chống Minh thắng lợi, các bậc danh nho như Nguyễn
Trãi, Phan Phu Tiên, Lý Tử Tấn nhặt nhạnh trong giấy tàn
sách nát, gắng sức sưu tập di tác thơ văn của người xưa,
nhưng chưa thấy nói đến mảng thư tịch của nhà phật. Đến
Trích diễm thi tập đã thấy Hoàng Đức Lương nhận xét:
“Sách vở về Đời Lý, Trần, loại được truyền bá rộng
rãi phần nhiều chỉ là sách chép việc nhà Phật...” (10)Nhưng
trong Trích diễm thi tập không có thơ văn thời Lý thì chứng
tỏ Hoàng Đức Luơng không tìm thấy hoặc không chú ý đến
Thiền uyển tập anh. Và tác phẩm này vẫn nằm trên giá sáchcủa
những thiền viện nào đó cho đến tận đầu thế kỷ XVIII.
Bây giờ văn bản Thuyền uyển tập anh đã rất hiếm, và
may mắn là một bản đã đến với nhà sư Thích Như Trí để
làm gốc cho bản Trùng san đời Vĩnh Thịnh.
Gần
60 năm sau, trong thời gian soạn Toàn Việt thi lục (1768) Lê
Quý Đôn đã dùng Thiền uyển tập anh có phần chắc đó là
bản Vĩnh Thịnh. Là nhà văn hiến học lỗi lạc, Lê Quý Đôn
phát hiện ngay tác phẩm này là một kho chứa văn học đời
Lý. Trong lời Lệ ngôn của Toàn việt thi lục ông viết:
“Nước
ta từ khi gây dựng, văn minh không kém gì Trung Quốc. Bài Từ
vua Tiền Lê tiễn Lý Giác nhà Tống, lời lẽ nõn nà, có thể
vốc được... Hai vua Thánh Tông, Nhân Tông nhà Lý đều giỏi
sách, hay thơ, nhưng nay không biết tra tìm vào đâu, chỉ thấy
sách Thiền uyển tập anh còn chép được của Thái Tông hai
bài của Nhân Tông hai bài”(11).
Kết
quả là trong tập thi tuyển đồ sộ đó, nhờ sử dụng Thiền
uyển tập anh Lê Quý Đôn đã sưu tập được 14 bài của
11 tác giả hầu hết là các thiền sư đời Lý như Vạn Hạnh,
Không Lộ, Mãn Giác v.v... là một thành quả đầu tiên trong
việc sưu tập thơ văn đời Lý, dù Lê Quý Đôn chỉ đặt
nó vào phần phụ lục ở cuối quyển 4, nhưng không vì thế
mà sự mở đầu đó kém phần quan trọng.
Sau
này trong một hợp tuyển gọn hơn, là Hoàng Việt thi tuyển
(1825), Bùi Huy Bích, căn cứ vào Toàn Việt thi lục tuyển lại
7 tác phẩm của 7 nhà thơ đời Lý. Cho đến lúc chữ hán
kết thúc sứ mệnh lịch sử ở nước ta (1919), lại bắt
đầu một quá trình mới để giới thiệu di sản thơ văn
của người xưa. Từ Đinh Văn Chấp trên Nam Phong năm 1927 đến
Ngô Tất Tố trong Văn học đời Lý (Nxb. Mai Lĩnh, 1942),
chủ yếu đã dựa vào Thiền uyển tập anh đ giới thiệu
thi phẩm của các tác giả đời Lý. Nhưng phải đến bộ
Thơ văn Lý Trần do Viện Văn học chủ trì thì di sản thơ
văn của thời kỳ này mới thực sự được sưu tập, giới
thiệu trên quy mô lớn. Đến nay, tuy sách chưa xuất bản đủ
bộ, nhưng về thơ văn đời Lý thì đã thực hiện xong ở
tập I. Các soạn giả không chỉ sử dụng những bài Lê Quý
Đôn đã chép trong Toàn Việt thi lục, mà trực tiếp nghiên
cứu, dịch thuật từ nguyên bản Thiền uyển tập anh, trong
đó gồm 75 bài (và đoạn) thơ, kệ của 41 tác giả.
Sơ
lược một vài nét về việc sưu tập giới thiệu di sản
văn học đời Lý như trên, chúng ta cũng đủ thấy giá trị
lớn lao như thế nào của sách Thiền uyển tập anh đối với
việc chuyển tiếp, giữ gìn di sản văn học của dân tộc.
Một
giọt sương lung linh trên đầu ngọn cỏ (Vạn Hạnh), cành
mai bật nở trắng xoá trong đêm xuân (Mãn Giác), đến vầng
trăng vắng lặng soi con thuyền vượt biển giữa không gian
mênh mông (Huệ Sinh) v.v... vừa là những cảnh vật của đời
thường, mà cũng là những hình tượng sâu lắng của thơ
ca thiền học. Cách thiền sư – thi sĩ đã hòa tan cảm xúc
của mình với thiên nhiên, đất nước và con người. Họ
đã diễn tả được những khái niệm rất trừu tượng nhiều
khi chỉ trong một bài kệ ngắn. Chẳng hạn Thế giới Tâm,
đồng nghĩa với Như Lai tạng, tức là bản thể vũ trụ,
là một khái niệm khá phức tạp nhưng vẫn được Thường
Chiếu suy ngẫm bằng những hình tượng bình dị mà sâu sắc:
Tại
thế vi nhân thân
Tâm
vi Như Lai tạng
Chiếu
diệu thả vô phương
Tâm
chi cánh tuyệt khoáng.
(Ở
thế là nhân thân
Tâm
là Như Lai tạng
Chiếu
dọi khắp muôn phương
Nừu
tìm không thấy bóng)
Cả
khái niệm không gian, thời gian vô cùng vô tận, chuyển hóa,
trường tồn đã đọng lại trong bốn câu thơ nổi tiếng
của thiền sư Mãn Giác (1052 – 1906):
Xuân
khứ bách hoa lạc
Xuân
đáo bách hoa khai
Sự
trục nhãn tiền quá
Lão
tòng đầu thượng lai
Mạc
vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình
tiền tạc dạ nhất chi mai.
(Xuân
ruồi trăm hoa rụng
Xuân
tới trăm hoa cười
Trước
mắt, việc đi mãi
Trên
đầu, già đến rồi
Đừng
tưởng xuân tàn, hoa rụng hết
Đêm
qua, sân trước, một nhành mai).
Ngô
Tất Tố dịch.
Đó
là vài nét về thành tựu văn học đời Lý mà phải có nhiều
chuyên khảo mới có thể phát hiện, khám phá hết cái hay,
cái đẹp. Và khác với một vài ngộ nhận, một trong những
cái hay cái đẹp đó phải chăng là sự lạc quan, niềm tin
đợi ở sự bừng sáng của mặt trời trí tuệ trong tâm mình?
Ngày
nay đọc Thiền uyển tập anh mà thấy tập ấy ghi chép tiểu
truyện và tác phẩm của các nhà sư – thi sĩ đời Lý thì
không có gì lạ. Lê Quý Đôn viết: “Đinh tiên Hoàng lúc
mới bình định được cả nước liền xếp đặt phẩm cấp
tăng và đạo, Ngô Chân Lưu và Trương Ma Ni làm tăng thống,
tăng lục; Đặng Huyền Quang làm uy nghi. Sau đó Lê Đại Hành
kế tiếp cũng rất tôn trọng tăng đạo... Câu thơ của sư
Thuận làm cho sứ thần nhà Tống phải kinh phục, văn từ
của Chân Lưu vang tiếng trong một thời, Vạn hạnh biết
lời sấm thay đổi ngôi vua...” (12) các nhà sư có đức vọng
được vua phong làm quốc sư, đại sư như Viên Thông, Minh
Không, Thông Biện, Mãn Giác... Hộ là những người đã góp
phần thực hiện những chủ trương chính trị được lòng
dân trong các đời vua đầu triều Lý, có ảnh hưởng lớn
đến việc hình thành và phát triển nền văn hóa, văn minh
Đại Việt thời đại Lý Trần. Không chỉ riêng tín ngưỡng
đã ăn sâu hàng nghìn năm trong dân gian, mà cả tâm lý, phong
tục, tập quán, văn học bác học, văn học dân gian cũng mang
những dấu ấn không thể phai mờ của Pháp giáo.
Về
phương diện sử học, Thiền uyển tập anh cũng là một tài
liệu quý giá để nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam.
Sách
ghi chép các tông phái Phật giáo Thiền tông ở Việt Nam trong
khoảng bẩy thế kỷ (từ cuối thế kỷ VI đến đầu thế
kỷ XIII). Nhưng không chỉ có thế, qua lời kể của quốc
sư Thông Biện (đã dẫn ở trên) chúng ta có thể biết được,
dù sơ lược, tình hình du nhập Phạt giáo vào Việt nam từ
giữa thế kỷ thứ II trở về sau. Lời kể của sư Thông
Biện là một tư liệu bản địa rất quan trọng để từ
đó chúng ta có thể sử dụng những tài liệu tham khảo khác
của Trung Quốc như Lý hoặc luận của Mâu Bác (cuối thế
kỷ II), Hoằng minh tập của Tăng Hựu, Quảng Hoằng minh
tập của Đạo Tuyên (đời Đường) v.v.. để bổ túc sử
liệu Phật giáo trong giai đoạn này. Nhưng một thời kỳ dài
từ cuối thế kỷ thứ VI, nói chính xác hơn là từ năm 580
khi Thiền sư Ấn Độ Tì Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) đến chùa
Pháp Vân (tức chùa Dâu) cho đến trước đời Trần thì nguồn
sử liệu tổng hợp về Phật giáo Việt Nam quan trọng nhất
chính là bộ Thiền uyển tập anh này. Nhờ việc ghi chép các
thế hệ truyền thừa tương đối chi tiết, phân định dòng
phái khá rõ ràng cùng những chi tiết về tiểu sử sự nghiệp
và phương pháp tu trì của các thiền sư, chúng ta có thể
có một sự hình dung có hệ thống và không đến nỗi mờ
nhạt về tình hình Phật giáo ở nước ta trong giai đoạn
nói trên. Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi (cũng gọi là dòng Thiền
Nam Phương) phát triển sớm qua hai mươi thế hệ từ sư tổ
sáng lập dòng phái đến thiền sư Y Sơn (? – 1213) đã gây
được một ảnh hưởng sâu rộng trong lịch sử truyền thừa,
đã cống hiên những thiền sư có công với đất nước như
Sùng Phạm (1004 – 1087), Vạn Hạnh (? – 1018), Huệ Sinh (?
– 1063). Minh Không (1066 – 1141), Khái Hỷ (1067 – 1140), Viện
Học (1050 – 1113), Viên Thông (1080 – 1151), v.v...
Thiền
Sư Vô Ngôn Thông đến chùa Kiến Sơ (xã Phù Đổng, huyện
Gia Lâm, Hà Nội) sau Tì Ni Đa Lưu Chi 240 năm, nhưng ngôi chùa
này từ đó trở nên nổi tiếng vì dòng Thiền mang tên ông,
tuy muộn nhưng lại có con đường riêng để phát triển ảnh
hưởng ngày một sâu rộng, và có thể nói càng về sau càng
có thế lực hơn. Qua 16 thế hệ truyền thừa, chỉ kể từ
thời độc lập, Thiền phái này đã có những nhà sư nổi
tiếng như Khuông Việt đại sư (Ngô Chân Lưu), Thiền lão,
Viên Chiếu (999 – 1090), Chứu Chỉ, quốc sư Thông Biện (?
– 1134), đại sư Mãn Giác (1052 – 1096), Đạo Huệ (? – 1172),
Bảo Giám (? – 1173), Quảng Nghiêm (1122 – 1190), Thường Chiếu
(? – 1203), Hiệu Quang (? – 1221), đặc biệt vị thiền sư
cuối cùng này là người mở đầu cho dòng thiên Yên Tử sẽ
phát huy ảnh hưởng rực rỡ dưới triều Trần, tạo ra những
đỉnh cao mới đáng tự hào nhất của Thiền học Việt Nam.
Thiền
uyển tập anh cũng ghi chép cả thiền phái Thảo Đường với
6 thế hệ truyền thừa. Dòng thiền này chỉ phát triển dưới
triều Lý với phạm vi hoạt động hạn hẹp, nhưng lại có
ảnh hưởng khá quan trọng tại cung đình, vì chính vua Lý
Thánh Tông (ở ngôi: 1054 – 1072) là người trực tiếp kế
thừa và có ý thức truyền lập riêng một tông phái. Đáng
tiếc là Thiền uyển tập anh chỉ dành chưa đến hai tờ để
kê sơ lược các thế hệ của Thiền phái này mà thôi.
Gần
20 thế kỷ tồn tại và phát triển, lịch sử Phật giáo là
một bộ phận không thể tách rời của lịch sử văn hóa,
lịch sử tư tưởng mà các nhà khoa học ngày nay quan tâm nghiên
cứu. Cuốn Thiền uyển tập anh vì thế đã được các nhà
viết lịch sử Phật giáo Việt nam chú ý tham khảo sử dụng.
Chỉ kể thời gian hơn một thập kỷ gần đây đã có cuốn
Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang (13) và cuối
Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Viện Triết học vừa được
xuất bản (14). Trong công trình mới nhất này những phần
liên quan đến Thiền uyển tập anh đã được nhà nghiên cứu
Phật học Minh Chi và giáo sư Hà Văn Tấn giới thiệu sử
dụng, qua đó đưa ra những phân tích, nhận định về đặc
thù của các dòng phái Thiền tông, ảnh hưởng qua lại giữa
các dòng phái đó, cùng những ý kiến đánh giá ý nghĩa quá
trình phát triển Phật giáo thời Lý Trần trong lịch sử nước
ta.
Qua
một số ý kiến trình bày trên đây, có thể thấy rằng dù
Thiền uyển tập anh chỉ khiêm tốn là một tập truyện ký
về các vị thiền sư nhưng giá trị văn hiến của nó lớn
lao biết chừng nào! Có thể nói nó đã góp phần quan trọng
để đạt tới những thành tựu nghiên cứu, biên khảo về
văn học, sử học thời Lý Trần mà chúng tôi đã giới thiệu
ở trên. Tuy vậy, chính tác phẩm Thiền uyển tập anh thì
từ trước đến nay lại chưa có điều kiện xuất bản dịch.
Vì vậy nhà xuất bản Văn học đã ủy thác công việc đó
cho chúng tôi. Thực hiện công việc này, chúng tôi có điều
kiện thuận lợi là đã tham khảo, sử dụng được các bản
dịch thơ của các nhà thơ, nhà nghiên cứu đã công bố trong
mấy chục năm gần đây mà ở phần trên chúng tôi đã nói
tới, và về sử học thì những công trình đã giới thiệu
cũng là nguồn tham khảo giúp ích nhiều cho công việc của
chúng tôi. Nhân đây xin trân trọng cám ơn chang các tác giả
những công trình đó. Riêng đối với các bản dịch thơ,
chúng tôi chọn lấy bản dịch nào đều xin trân trọng đề
tên dịch giả và kèm theo chữ tắt ghi xuất xứ(15). Một
số ít chưa có bản dịch được công bố, hoặc cần có bản
dịch theo đúng thể thơ của nguyên bản thì do chúng tôi thực
hiện (không ghi tên dưới bản dịch như các bản khác).
Chuyển
mã một văn bản cổ hàm chứa những tư tưởng triết học,
văn học sâu sắc tinh tế như Thiền uyển tập anh tất là
công việc khó, nhiều trường hợp vượt quá tầm hiểu biết
của chúng tôi. Mừng thay là bản dịch đã được nhà nghiên
cứu Phật học Minh Chi, Trưởng Ban Phật giáo Việt Nam thuộc
Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam góp ý, sửa chữa, nhuận
chính cho một lần cuối. Xin phép được ghi tại đây công
đức của Cư Sĩ cùng là sư khích lệ, giúp đỡ của các
đồng chí Nguyễn Bỉnh Khôi ở Nxb. Văn học, Mai Xuân Hai ở
Viện Hán Nôm đối với nhóm dịch chúng tôi. Tuy vậy có thể
vấn còn sai sót do trách nhiệm của nhóm dịch, kính mong quý
vị cao minh chỉ chính cho.
Trong
điều kiện kinh phí dành cho việc in ấn loại sách giới thiệu
di sản văn hóa cổ còn hạn chế, chúng tôi đặc biệt cảm
ơn Hòa thượng Thích Thanh Tứ, Đại đức Thích Thanh Ninh,
Đại đức Thích Thanh Quyết và các vị công tác tại cơ quan
Trung ương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã phối hợp
với Nhà xuât bản Văn Học để có thể xuất bản cuốn Thiền
uyển tập anh này trong đầu Mùa xuân năm 1990, năm hứa hẹn
nhiều triển vọng tốt đẹp của đất nước.
NGÔ
ĐỨC THỌ
(1)
Lê Quý Đôn - Đại Việt thông sử. NXB Khoa học xã hội, 1987,
tr.111.
(2)
Xem: Trần Văn Giáp – Le Bouddhisme en Annam des origines au XVIIIe
siecle. Bulletin de l’Ecole Frâncise d’Extrême – Orient. Tom XXXII
Fasc 1. H, 1932; p.193.
(3)
Trong Lý Thường Kiệt (H. Sông Nhi. 1949) ông Hoàng Xuân Hãn
cũng đã xác định tên núi Ma Ni trong TUTA chính là
núi Kiền Ni.
(4)
Xem truyện Quốc sư Thông Biện trong sách này.
(5)
: Xem truyện thiền sư Biện tài và thiền sư Thần Nghi trong
sách này.
(6)
: Xem truyện thiền sư Biện Tài và thiền sư Thần Nghi trong
sách này.
(7)
Đại Việt thông sử (Sđd) tr.112; chưa rõ tại sao lại ghi
“Thường Chiếu người đất Minh Hương” (?), chắc không
nhầm do Lê Quý Đôn vì ông dùng TUTA, biết rõ quê quán của
Thường Chiếu.
(8)
Xem: Hoàng Xuân Hãn. Văn Nôm và chữ Nôm đời Lê. Tập san
Khoa học xã hội, số 7 (Paris, 10-1980) tr.106.
(9)
Xem: Thơ văn Lý Trần, Tập I, Nxb. Khoa học xã hội, 1977,tr.117.
(10)
Xem Tựa Trích diễm thi tập, trong thơ văn lý Trần, tập I
(sách đã dẫn) tr.17.
(11)
Toàn Việt thi lục Lệ ngôn; Thơ văn Lý Trần Tập I (Sđd),
tr.24.
(12)
Lê Quý Đôn – Kiến văn tiểu lục, Phạm Trọng Điềm dịch.
H., Nxb. Sử học, 1962. tr.453.
(13)
Xem: Nguyễn Lang – Việt Nam Phật giáo sử luận. Tập I. Sài-Gòn,
NXB. Lá Bối, 1974.
(14)
Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Nguyễn Tài Thư chủ biên. Hà
Nội, NXB. Khoa học xã hội, 1988.
(15)
Chúng tôi sử dụng các chữ tắt sau đây: VHĐL (Văn học đời
Lý của Ngô Tất Tố, Sdd); TVLT1 (Thơ Văn Lý Trần, Tập 1,
Sđd); LSPGVN (Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Viện Triết
học, Sđd); TSVN (Thiền sư Việt Nam của Thanh Từ; Tu viện
Chơn Không xb., S., 1973); cũng dùng chữ tắt TUTA để chỉ văn
bản Thiền uyển tập anh (bản Vĩnh Thịnh ĐNTU để chỉ bản
Đại Nam Thiền uyển truyền đăng của hòa thượng Phúc Điền
(đã nói ở trên)