.THIỀN
UYỂN TẬP ANH BẠT HẬU
Có lúc nghe Phật vốn vô hình,
chân kinh không quyển, ra đi không dấu, bay lên không vết.
Nhưng pháp nhờ có dạng hình, phép tắc mở ra, tông phái mới
liên tục, thiền môn mới có ý chỉ. Trên từ vô thủy, dưới
tới vô chung, Phật tổ minh mông, vào ra chẳng dứt, lặng
chiếu mười phương, vị lai quá khứ. Chúng sanh mọi chỗ
lăn quay nơi chốn hữu vi, lớp lớp ngờ mê, đề hồ trở
thành độc dược, nghiệp nghiệp nối vây, thì cỏ trắng
trở thành cỏ dại. Do vì một đại sự nhân duyên, chứng
đủ ba không, rộng mở thể dụng, nên Ðức Phật xuất hiện
ở đời, muốn khiến chúng sinh có bốn tri kiến. Một kệ
nhờ thiêng mà vườn thiền là đầu mối, tập trung một trăm
tám mươi anh tú. Tây phương hai mươi tám tổ, Ðông độ sáu
hiền, cũng không có con đường khác. Ðạt Ma tứ mục nhìn
nhau, Thích Ca ngũ nhãn thường sáng, Chuyết Công ấn Phật
tâm tông, diễn khai kinh sách. Ðèn đèn nối nhau. Chúng sinh
mê hoặc, tùy thuận quân ma ngoại đạo, nghiệp nghiệp nối
thân, gọi là duyên giác thanh văn, chân như tánh hải, mà ba
độc không trừ. Tuy là chẳng có chẳng không, giết mầm giống
Phật, nói dối nói thêu, dụ dỗmọi người, bảo Phật đã
độ Niết bàn. Chúng thực như kẻ mù mà nói là không có
mặt trời mặt trăng. Thời tiết nhân duyên đã tới, thì
quả vị viên thành. Trí Phật là trí sáng, là trí tự nhiên.
An nam tứ khí do năm hành của trời đất mà sanh. Sông Ðức
núi Từ, đất Tiên du sản xuất ra Phật, các vị Bồ tát
hộ vệ, cửa ngỏ thần phù, đồng tử hải chu bắc ngọc.
Ðạo sư rồng càn quấy cấn (đông bắc), kim la bàn nhắm
dấu khôn (tây nam) ở Ðông sơn. Khảm (bắc) chẳng có năm
Ly (nam). Tượng Phật như trời trăng, đề hồ đông sữa.
Sắc mầu nhiệm tròn đủ kim thân, thân thường tại hướng
về, chẳng đi chẳng tới, rõ thấu mọi tầng giai. Bánh xe
pháp chuyên chở pháp Phật, có khai thị, có ngộ nhập, vô
cùng vô tận, lấy vô niệm làm tông chỉ, thường có thường
trụ, soi khắp cả hữu tình vô tình, đều tròn chủng trí.
Cúi mong các vị đàn na trong hội kinh chủ cõi pháp sạch lòng
xuất lấy của nhà gánh vác việc chép in sách Tổ Như Lai,
như phúc trước ra đời, cúng dường in cho mười phương để
làm hưng thịnh Tam bảo. Có những tên tuổi xin liệt khai như
sau: 1. Xã Trung mâu, kinh chủ: Nguyễn thị Thạng hiệu Diệu
Năng, Nguyễn thị Ngọc Súy hiệu Diệu Tài, Nguyễn Công Kính
tự Tính Trác, Ký Dự tự Ðức Tôn, Hiển Khảo tự Trung Túc;
2. Kinh chủ: Nguyễn Công Vận tự Tính Chuyên, vợ Nguyễn thị
Thu hiệu Diệu Phóng, cháu Nguyễn Công Kỳ tự Tính Dị, thân
mẫu hiệu Diệu Duyệt, hiệu Diệu Ức. 3. Xã Tử Nê, hội
chủ: Trần Tuấn Ðức tự Tính Tì, Trần thị Sam hiệu Diệu
Bạch, con trai Trần Tuấn Gia tự Tính Ðạo, vợ Nguyễn thị
Ðợi, thân mẫu hiệu Diệu Côn; 4. Hội chủ Trần Tuấn Vượng
tự Tính Duệ, vợ Nguyễn thị Vang hiệu Diệu Chỉnh. 5. Hội
chủ Ðoàn Ðình Khôi tự Tính Pháp, vợ Nguyễn thị Minh hiệu
Diệu Quang. 6. Hội chủ Trần Văn Thạch tự Tính Kim, vợ Trần
thị Cẩm hiệu Diệu Quyên, cháu Trần Văn Thát tự Tính Xan,
Trần Văn Thản. 7. Hội chủ Võ thị Tín hiệu Diệu Thọ,
con gái Trần Thị Phó hiệu Diệu Chúc, Lê Ðức. 8. Hội chủ
Trần Văn Bãi tự Tính Trị, vợ Trần Thị Tồn. 9. Hội chủ
Trần Ðăng Minh tự Tính Thường, vợ Phạm Thị Phiên hiệu
Diệu Lai, cháu Trần Ðăng Huyên tự Tính Ðắc, Thái Thủy
hiệu Diệu Thông. 10. Hội chủ xã Ðông Sơn: hiệu Diệu Thuận,
hiệu Diệu hòa, hiệu Diệu Duyên, hiệu Diệu Tập, hiệu Diệu
Chiếu. 11. Hội chủ Nguyễn thị Kế hiệu Diệu Tịnh, Nguyễn
Hạo tự Tính Khoan, hiệu Mẫn Ðạt, vợ Nguyễn thị Lãng,
Nguyễn thị Ly hiệu Diệu Trân, Nguyễn Sỹ Chinh, con trai Nguyễn
Sỹ Giai, Nguyễn thị Nhặt hiệu Diệu Châu. 12. Xã Lễ Xuyên,
hội chủ: Nguyễn Tánh Tính tự Tính Liễn, vợ Nguyễn thị
Lụy hiệu Diệu Ðà.
HẾT