.
49.THIỀN SƯ VẠN HẠNH
(1) Ba học là giới, định,
tuệ của giáo dục Phật giáo. Trăm luận chỉ các tác phẩm
của Bách gia chư tử trong nền giáo dục truyền thống của
nước ta.
(2) Tổng trì tam ta địa, cũng
gọi đà la ni tam muội, Phạn: Dhàrani-samàdhi, một lối thiền
định thực hiện bằng cách đọc các khẩu quyết Phạn ngữ.
Kinh Ðại phẩm bát nhã viết: "Sao gọi là đà la ni tam muội?
Vì trụ trong tam muội đó thì có thể giữ hết những tam
muội, nên gọi đà la ni tam muội". Luận Ðại trí độ viết:
"Ðà la ni tam muội vì được sức của tam muội đó thì các
đà la ni văn và trì đều tự nhiên mà được". Xem Ðại trí
độ luận 40 tờ 398b24 và 401c27-28.
(3) Ðại Việt sử lược
1 tờ 19a8-9: Thiên phúc năm thứ nhất, mùa xuân tháng ba, quân
Hầu Nhân Bảo đến Lãng sơn, Trần Khâm Tộ đến Tây kết,
Lưu Trừng đến Bạch đằng giang". Toàn thư B1 tờ 14a1-3:
"Thiên Phúc năm thứ 2 mùa xuân tháng 3, Hầu Nhân Bảo, Tôn
Toàn Hưng đến Lạng Sơn, Trần Khâm Tộ đến Tây kết, Lưu
Trừng đến Bạch Ðằng Giang".
(4) Ðại Việt sử lược
1 tờ 19b1-3: "Thiên phúc năm thứ 2, vua sai Từ Mục v.v…đi
sứ Chiêm thành, bị Chiêm thành bắt. Vua nổi giận, tự làm
tướng đem quân đi đánh, chém đầu vua Chiêm là Bề Mi Thuế
tại trận, xẻo tai không thể kể xiết, bắt kỹ nữ trong
cung Chiêm vài trăm người, dời trọng khí của Chiêm, thu lấy
vàng bạc và đồ quý tới số muôn, phá tan thành trì Chiêm".
Toàn
thư B1 tờ 16a2-6: "Thiên Phúc năm thứ 3, vua thân chinh Chiêm
thành, thắng. Trước đó, vua sai Từ Mục và Ngô Tử Canh đi
sứ Chiêm thành, bị Chiêm thành bắt, vua nổi giận, đóng
chiến thuyền, đúc khí giới, tự làm tướng đem quân đi
đánh, chém đầu Bề Mi Thuế tại trận, Chiêm thành đại
bại, bắt giết sĩ tốt không thể kể xiết, bắt kỹ nữ
trong cung Chiêm tranm người và thầy tu Ấn độ một người,
dời trọng khí của Chiêm, thu lấy vàng bạc và đồ quý tới
số muôn, phá tan thành trì Chiêm".
(5) Nguyên văn: Thổ mộc tương
sinh ngân bạn kim. Ðọc theo lối chiết tự thì Thổ mộc là
chữ Ðỗ. Nguyên câu này chỉ Ðỗ Ngân. Ðỗ Ngân này là
ai, không thấy sách sử nào nói tới cả.
(6) Nguyên văn: Ðương thời
ngụ khẩu thu tâm tuyệt. Ðọc theo lối chiết tự, ngũ với
khẩu là chữ ngô là "ta", thu với tâm là chữ sầu. Bồ Ðề
Ðạt Ma tiên đoán cho Thái thú Dương Huyền về sự mình bị
đầu độc sau này với những câu:
Giang tra phần ngọc
lãng
Quản cự khai kim toả
Ngũ khẩu tương cọng thành
Cửu thập vô bỉ ngã.
Xem Truyền đăng lục 6 tờ
220a.
(7) Ðại Việt sử lược
2 tờ 2b5-7: "Nguyên trước đó chùa Ứng thiên làng Cổ pháp
sinh một con chó trắng, trên lưng mọc lông đen thành chữ
"Thiên tử", đến lúc ấy vua sinh nhằm năm Giáp tuất". Toàn
thư B2 tờ 1b 6-2a1: "Nguyên trước đó viện Cảm tuyển
chùa Ứng thiên tâm, châu Cổ pháp sinh một con chó trắng có
lông đen viền thành hai chữ "Thiên tử". Người biết việc
nói rằng bởi đó là cái điềm của người sinh nhằm năm
Tuất. Ðến lúc ấy Vua sinh nhằm năm Giáp tuất mà làm Thiên
tử, nên điều ấy quả đúng". Việt sử tiêu án 1 tờ
77a9-b1 nói chuyện này xảy ra tại chùa Thiên tâm.
(8) Ðại Việt sử lược
2 tờ 1a9-b3: "Trong làng vua ở có một cây bông gạo bị sét
đánh, dấu để lại thành văn rằng:
Gốc cây nhiều công
Cơn lá xanh xanh
Hòa đao mộc rụng
Thập bát tử thành
Cung chấn trời hiện
Cung đoài sao chênh
Trong sáu bảy ngày
Thiên hạ thái bình
Vạn Hạnh bèn gọi vua bảo: "Tôi
gần đây thấy sự lạ của sấm, biết nhà Lê đương mất,
nha Nguyễn đương lên. Họ Nguyễn không ai là có sự nhân
từ, khoan thứ rất được lòng người như ông. Tôi tuổi
70 hơn rồi, chỉ sợ không kịp thay sự thịnh trị mà lấy
làm hận".
Toàn thư , tờ 31a7-32a5:
"Trước đó, cây bông gạo làng Diên uẩn, châu Cổ pháp bị
sét đánh. Người trong làng thấy rõ dấu sét có văn rằng:
Gốc cây thăm thẳm
Cơn lá xanh xanh
Hoà đao mộc rụng
Thập bát tử thành
Ðông a vào đất
Cây khác tái sanh
Cung chấn trời hiện
Cung đoài sao chênh
Khoảng sáu bảy năm
Thiên hạ thái bình.
Thầy Vạn Hạnh riêng tự mình
bình rằng: "Gốc cây thăm thẳm, gốc là cái cội thì giống
như vua vậy. Diểu là âm đồng với chữ yểu, nên viết chữ
yểu. Một biểu thanh thanh, biểu là ngọn mà ngọn thì giống
như bề tôi, còn thanh và thiên, âm chúng gần nhau, nên viết
chữ thiên có nghĩa là thịnh vượng. Hòa đao mộc là chữ
Lê, Thập bát tử là chữ Lý. Ðông a là họ Trần. Vào đất
là người phương bắc vào ăn cướp. Cây khác tái sinh là
họ Lê lại sinh ra. Cung chấn trời hiện, chấn chỉ phương
đông, hiện là ra, trời tức là thiên tử vậy. Cung đoài
sao chênh, đoài chỉ phương tây, chênh cũng như mất đi, sao
thì giống như dân thường. Cả bài trên muốn nói vua yểu,
tôi thịnh, Lê rụng, Lý thành, phương đông Thiên tử ra đời,
phương tây thứ dân chìm mất đi, trải khoảng sáu bảy năm
thiên hạ thái bình vậy". Bèn gọi Lý Công Uẩn nói rằng:
"Gần đây, tôi thấy sự lạ của phù sấm, biết họ Lý tráng
thịnh thì việc dấy nghiệp là một chắc chắn vậy. Nay xem
thiên hạ họ Lý rất nhiều nhưng không có ai khoan từ nhân
thứ, rất được lòng người mà tay nắm binh quyền như Thân
vệ. Làm tôn chủ muôn dân, mà bỏ Thân vệ thì ai sẽ cáng
đáng cho. Tôi nay tuổi hơn 70, mong sao cho đừng mau chết, để
thấy được sự đức hóa ra sao thì thật là sự may ngàn
năm một lần vậy".
Việt sử tiêu án 1 tờ
75a-76b cũng chép sự việc và bài thơ như Toàn thư nhưng
rút ngắn lời bàn của Vạn Hạnh lại thành: "Gần đây, tôi
xét phù sấm, thì họ Lý đang lên, mà không có ai như Thân
vệ cả". Song lại thêm một lời bàn khá dài nói: "Xét một
cơn sét đánh thành văn chỉ bốn chục chữ, mà trong khoảng
1100 năm, sự phế hưng của các đời, tên họ đều bao gồm
gần hết. Trời có nói gì đâu. Ðó là bởi Vạn Hạnh giỏi
việc xét bói, nhân sét đánh cây bông gạo, thác văn vào đó
để tỏ ra thần dị, Lý Nhân Tôn tặng thơ nói:
Thật hiệp sấm trời
xưa
Quê hương tên Cổ pháp
Chống gậy trấn kinh vua
Xem mấy câu bình văn trên cây
ở trước, biện bạch rõ ràng không sai việc. Hạnh bình luận
cả bài cho tới câu"Dị mộc tái sinh" thì sự biện luận
đó rõ ràng không sai. Từ câu "Chấn cung…" trở xuống, lời
văn hàm hồ, riêng có ý sâu huyền diệu, không chịu tỏ hết.
Gần đây, có kẻ hiếu sự, riêng đem ý mình suy diễn, mê
hoặc trí người, đến nỗi thứ gian phu dối toan làm việc
phi phận, binh loạn không thôi. Cái hại của sấm cũng thật
mãnh liệt thay".
(9) Mộ Hiển Khánh đại vương
tức mộ của cha Lý Công Uẩn. Khi lên ngôi, Uẩn truy phong
cho cha mình là Hiển Khánh Vương. Xem Ðại Việt sử lược
2 tờ 2a1 và Toàn thư B1 tờ 34a6. Về những tiếng đọc
tụng xung quanh mộ này, xem nguyên chú ở cuối truyện đây.
(10) Chùa Song lâm đây tức
là chùa Song lâm, làng Phù ninh phủ Thiên đức, nơi ở chính
thức của Thiền ông, thầy của Vạn Hạnh.
(11) Ðại Việt sử lược
2 tờ 2b3 nói: "Tháng 11 nguyên niên (1009) vua lên ngôi…lấy
anh vua Mỗ làm Vũ Uy Vương, em vua là Dực Thánh Vương". Toàn
thư B1 tờ 34b5-6 viết: "…lấy Hoàng huynh làm Vũ Uy Vương,
Hoàng thúc làm Vũ Ðạo Vương, con của Vũ Uy Vương là Trưng
Hiển làm Thái úy, con của Dực Thánh Vương là Phó làm Tổng
quản". Cương mục chính biên 2 tờ 8a4-7 chép lại Toàn
thư thấy rõ Dực Thánh Vương không biết là ai, mà con
cũng được phong làm Tổng quản, nên đã chua thêm là: "Thiên
nam trung nghĩa lục của Phạm Phi Hiển nói Dực Thánh Vương
là con thứ của Thái Tổ". Nhưng rõ ràng theo Ðại Việt
sử lược thì Dực Thánh Vương là em của Lý Công Uẩn.
Cứ vào truyện Vạn Hạnh đây
thì Lý Công Uẩn còn có chú và bác, và đều được phong
vương. Bằng vào những dẫn chứng trên, thì chỉ Toàn thư
và
những sử chép theo nó mới ghi phong hiệu của người chú
của Uẩn, đây là Vũ Ðạo Vương, còn trong đây thì không
thấy nói. Ðoạn sử khoảng này của nhà Lý có nhiều ám
muội chưa rõ.
(12) Tật Lê và hạt Lý là
ý muốn chỉ họ Lê và họ Lý.
(13) Cả hai bản đời Lê lẫn
bản đời Nguyễn đều ghi Vạn Hạnh mất vào ngày 15 tháng
5 năm Thiên Ứng thứ 9, tức năm 1002. Nhưng đây dĩ nhiên là
một khắc sai, bởi vì với một cuộc đời như vừa đọc,
Vạn Hạnh tất không thể chết, trước khi Lý Công Uẩn lên
ngôi vào năm 1010 được. Do thế, một số tác giả như Trần
Văn Giáp (Le Bouddhisme en Annam, BEFEO XXXII (1932) 239 và Lược
truyện các tác giả Việt Nam, nhà xuất bản Sử học, Hà
nội, 1962, tr. 183) đã sửa Ứng Thiên thứ 9 thành năm Thuận
Thiên thứ 9 và nói Vạn Hạnh mất vào năm 1018. Song sửa như
thế là chưa chính xác cho lắm, bởi vì năm mất của Vạn
Hạnh các bộ sử khác ghi rất kỹ và nó nhất định không
phải năm Thuận Thiên thứ 9. Trái lại, cứ Ðại Việt
sử lược 2 tờ 4a7 và Toàn thư B2 tờ 10a3-4 thì "năm
Thuận Thiên thứ 16 thầy Vạn Hạnh hóa thân". Như vậy, Vạn
Hạnh mất năm 1025, chứ không phải năm 1018, như từ trước
tới nay thường chép. Từ đó, Ứng Thiên cửu niên là một
chép sai của Thuận Thiên thập lục niên. Chữ thuận bị đoán
lộn thành chữ ứng, còn chữ thập lục bị đọc rút thành
cửu.
(14) Việt sử tiêu án
1 tờ 83a7-b1, nhân ghi "thầy Vạn Hạnh chết", viết: "Vạn
Hạnh không bệnh mà chết. Người bây giờ gọi đó là hóa
thân. Vạn Hạnh thường có thơ.
Thân như điện ảnh
hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu
khô
Tùy vận thạnh suy hưu
bố ủy
Thịnh suy như lộ thảo đầu
phô.
Vua thân hành đến điếu viếng,
lập đàn siêu độ". (Những chữ in đậm là khác với bản
ở đây).
(15) Kiến văn tiểu lục
4 tờ 13a4-5 và Việt sử tiêu án 1 tờ 76b2-3 chép nguyên
bài thơ. Tam tế, mà đây dịch là "ba cõi", tức chỉ cho quá
khứ, hiện tại và vị lai. Xem Kiến văn tiểu lục 9
tờ 12a6-7 về chữ Tam tế. Vạn Hạnh dung tam tế, có nghĩa
Vạn Hạnh thấu suốt tất cả sự việc của quá khứ, thời
hiện tại và thời vị lai.
(16) Nguyên văn:
"Khánh vạn tường nham
dự Quế Phong
Dương trường long thế dực
tương tùng
Ðông liệt triều tôn thế
tam bách
Lục tuất (thiếu hai chữ)
đối thiên bồng".
Khánh vạn, Tường nham và Quế
phong, chúng tôi nghi là ba tên đất. Ðại Việt lịch triều
đăng khoa lục 2 có ghi một làng tên Khánh duệ thuộc huyện
Tiên du, quê hương của Nguyễn Ðán, tiến sĩ khoa 1580. Khánh
vạn từ đó rất có thể là Khánh duệ đấy, nhưng chúng
tôi chưa có bằng chứng gì đích xác. Còn Tường nham và Quế
phong thì chưa thể khảo được. Ðông liệt và Triều tôn,
chúng tôi cũng nghĩ là những tên đất, song chưa tìm thấy
tài liệu chứng thực. Trong một cuộc nói chuyện riêng, cụ
Nguyễn Ðăng Thục, quê Bắc ninh, bảo tỉnh Bắc ninh hiện
có làng tên Ðông liệt. Với những tên đất như thế, thì
rõ ràng đây là một bài thơ nói về mạch đất của các
nhà địa lý thời xưa với những từ địa lý rõ rệt như
dương trường (chúng tôi nghi chữ dương, đúng ra phải đọc
là ngưu) long thể. Thực thể, nếu câu thứ hai đọc "Ngưu
trường long thể dực tương tùng", thì ý nghĩa địa lý của
bài thơ trên khá phù hợp với quẻ tả huyệt thứ 6 trong
Tả Ao chân truyền địa lý tờ 7b:
Ðiều điều phát tổ
khỉ căn nguyên
Uyển chuyển hồi hoàn mạch
khúc huyền.
Hữu kiên đáo tả nhi chuyển
hữu
Bàn vu cục thế tợ ngưu niên
Ðương khai nội ngoại giai
kỳ huyệt
Sơn chiếu quần tinh phúc vĩnh
miên
Xa xa phát tổ nỗi căn nguyên
Uyển chuyển quanh co mạch khúc
huyền
Hữu kiên đến trái mà rẽ
phải
Nằm vào thế cục trâu lim
dim
Trong ngoài nên mở đều huyệt
thiệt
Núi soi sao lắm phước liên
miên.
Qua bài thơ này, ta có thể thấy
bài thơ trên là một thứ bói quẻ đất. Việt sử tiêu
án 1 tờ 128b1, trong khi bình luận về việc nhà Lý mất
ngôi,có dẫn viết: "Lại Cổ pháp địa quyết chép: Ngôi truyền
tám lá, lá rụng âm sinh. Thì sự hưng vong cũng có do đất".
Như thế, cái gọi là Cổ pháp địa quyết đấy phải chăng
gồm những bài thơ loại thơ mộ Hiển Khánh đại vương ở
truyện Vạn Hạnh đây? Phải chăng Cổ pháp địa quyết là
một tác phẩm của Vạn Hạnh? Và bốn bài thơ ở mộ Hiển
Khánh đại vương đây là rút ra từ nó? Chúng tôi nghĩ đấy
là những có thể. Ðiều chắc chắn là bài thơ trên cùng
với ba bài thơ tiếp theo là những bài địa quyết do Vạn
Hạnh sáng tác.
(17) Nguyên văn:
Chính nam phù ninh hộ
trạch thần
Vinh thế nam nữ đa xuất nhân
Thiên đức phú quý mãn ốc
thành
Bát vạn hội nữ thường xuất
quân.
Phù ninh như đã thấy là một
tên làng. Truyện Thường Chiếu tờ 37b7 nói Chiếu "người
làng Phù ninh". Rồi đến truyện của La Quý tờ 48a7 và truyện
Thiền Ông tờ 51a8 thì chúng xác định rõ ràng là làng Phù
ninh đấy là "làng Phù ninh, phủ Thiên đức". Ðại Việt
lịch triều đăng khoa lục cũng ghi một làng tên Phù ninh
thuộc hạt Ðông ngạn là quê hương hay trú quán của một
số người đậu trạng tiến sĩ dưới thời Lê như Phạm
Ngữ khoa 1463, Nguyễn Khắc Trung khoa 1523, Lê Diêu khoa 1557,
Ðào Quốc Hiển khoa 1691 v.v…Ngày nay, tỉnh Bắc ninh hiện
đang có một làng mang tên Phù ninh và ở đúng chính phía nam
của làng Ðình bảng, tức đất Cổ pháp xưa. Vĩnh thế, chúng
tôi nghi cũng là một tên làng. Ðại Việt lịch triều đăng
khoa lục có ghi một làng tên Vĩnh thế thuộc hạt Siêu
loại, quê hương của Nguyễn văn Hiển tiến sĩ khoa 1502, Nguyễn
Bỉnh Khuê tiến sĩ khoa 1526, Nguyễn Ðịch Khanh khoa 1532, Nguyễn
Thừa Hựu khoa 1535, Nguyễn Ðình khoa1580 v.v…Vĩnh thế, nghi
là Vinh thế đổi ra, nhưng chúng tôi hiện chưa có bằng chứng
gì rõ rệt. Làng này rất có thể là quê hương của Ðào
Cam Mộc hay một trong những khai quốc công thần của triều
Lý Thế Tổ. Thiên đức trong câu thứ ba và Bát vạn trong
câu thứ 4 thì cả bản in đời Lê lẫn bản đời Nguyễn
đều viết là Ðại đức và Bát phương. Chúng tôi sửa Ðại
đức thành Thiên đức, không những bởi vì hai bài thơ tiếp
theo đến câu thứ 3 thì bắt đầu bằng chữ Thiên đức,
mà còn vì sau đó vài dòng thì có câu "đổi Cổ pháp là Ðại
đức", nhưng ai cũng biết rằng Lý Công Uẩn đổi Cổ pháp
làm Thiên đức, chứ không phải Ðại đức. Ðại đức trong
câu ấy và Ðại đức trong bài thơ trên do thế là những
chép sai của Thiên đức như vậy rõ ràng là một tên đất,
và nó cũng rõ ràng "phú quý mãn ốc thành", như bài thơ nói,
với sự lên ngôi của Lý Công Uẩn. Và chữ bát vạn, mà
những bản in đời Lê và đời Nguyễn đều viết là Bát
phương, chúng tôi sửa chữ phương thành chữ vạn, không những
vì chữ vạn viết tắt rất dễ biến thành chữ phương, nếu
người ta bất cẩn thêm trên đầu nó một chấm, mà còn vì
tại huyện Siêu loại trước đây, tức huyện Thuận thành
ngày nay, có núi tên Bát vạn. Ðại nam nhất thống chí,
tỉnh Bắc ninh, mục Sơn xuyên nói: "Núi Bát vạn ở phía Ðông
nam huyện Tiên du hai dặm, tương truyền Cao Biền đời Ðường
dựng tháp Bát vạn, để yểm nó nên có tên đó". Chúng tôi
hiện chưa biết có phải Lê Thánh Tôn đi cầu tự tại núi
Bát vạn này, mà gặp Ỷ Lan trên đường đi không" Nhưng với
văn ý của câu thứ 4 thì đó là một có thể. Dẫu sao chăng
nữa, chúng tôi nghĩ chữ bát vạn hợp nghĩa hơn chữ bát
phương.
(18) Nguyên văn:
Tây vọng viễn vọng
khán Thiên Trụ
Dao thế nam nữ thượng tướng
thủ
Thiên đức phú quý dự viễn
thế
Quân vương thọ mạng cửu
thập cửu.
Thiên trụ là một từ của khoa
địa lý bói huyệt đất. Sự liên hệ của Thiên trụ với
việc sống lâu, mà bài thơ đây nói đến, Thiên địa tạo
sơn thủy phú trong Tả Ao chân truyện địa lý tờ 27a10-b1
nói:
"Càn sơn cao như Thiên
trụ, thọ tỷ Thương nham
Tốn thủy tụ tợ uyên minh,
lộc hữu đỉnh nãi.
(Núi càn cao như Thiên Trụ,
sống lâu như núi Thương
Sông Tốn họp tợ uyên minh,
lộc vua có đỉnh chung)
Trong một cuộc nói chuyện riêng,
cụ Nguyễn Ðăng Thục nói núi Tiên du có một tên Thiên trụ.
Như thế, một mặt Thiên trụ chỉ cho sự sống lâu, và mặt
khác nó lại chỉ một ngọn núi của Tiên du. Chỉ có vấn
đề là, nếu Thiên trụ quả ở núi Tiên du, mà trên thực
tế núi Tiên du ở về phía đông của làng Ðình bảng hiện
nay, thì làm sao đứng ở Ðình bảng ngó về phía tây, ta lại
thấy được núi Tiên du? Phải chăng Thiên trụ muốn chỉ
một ngọn khác ở phía tây làng Ðình bảng, nơi chúng tôi
giả thiết có mộ của Hiển Khánh đại vương? Chúng tôi
nghĩ, Thiên trụ có thể chỉ là một gò đất hay ngọn núi
ở phía tây, nhưng hiện chưa có những bằng chứng rõ rệt.
Cao thế và Viễn thế trong hai câu 2 và 3 chắc chỉ những
tên đất, những làng xóm, song chúng tôi chưa truy cứu được.
Thượng tướng là tên ngôi sao thứ nhất trong cung Văn xương
thuộc Trung cung thiên văn học cổ đại Trung Quốc. Xem chẳng
hạn Sử ky 27 tờ 3a13. Nó nhằm chỉ uy vũ.
(19) Nguyên văn:
Chính bắc Phù cầm
đương bạch hổ
An lạc nam nữ thường vô khổ
Ðại đại Thiên đức trường
thọ lạc
Thế thế quân vương kỳ Lục
tổ.
Phù cầm là một tên làng, mà
chính Thiền uyển tập anh xác nhận trong truyện Minh
Trí và truyện Nguyện Học, khi nó bảo cả hai người này
đều quê quán làng Phù cầm. Ðại nam nhất thống chí,
tỉnh Bắc ninh, mục Tân lương, cũng có ghi một bến đò tên
Phù cầm trong 17 bến đò của sông Nguyệt Ðức, nằm giữa
hai bến đò Phù yên và Ðấu hàn. Ðấu hàn là quê quán của
Ðỗ An Vĩnh tiến sĩ 1499 và Phù yên là quê quán của Lê Doãn
Chấp tiến sĩ 1505, như Ðại Việt lịch triều đăng khoa
lục đã ghi lại. Và cả hai làng đó đều thuộc hạt
Yên phong" nghĩa là thuộc huyện Yên phong, tỉnh Bắc ninh ngày
nay. Làng Phù cầm do thế cũng phải thuộc huyện đấy.
Còn chữ Bạch hổ nó có thể
là tên riêng chỉ một cây cầu hay bến đò hay ngọn núi nào
đấy. Nhưng nó cũng có thể là một từ thuần túy địa lý
bói huyệt. Về trường hợp trước, chúng tôi hiện chưa tìm
thấy một địa danh Bạch hổ nào xung quanh Phù cầm, nên không
thể trả lời được. Về trường hợp sau, thì trong cách
bói huyệt thứ 13, Tả Ao chân truyền địa lý tờ 14b2-4 có
viết:
Tổ phát tả kiên nhập
hữu kiên
Sơn cao huyền vũ thủy chi huyền
Nhật minh nguyệt chiếu đường
triều nội
Thử địa vinh hoa phú quý tuyền.
Rồi nó chú tiếp thế này "Mạch
bắt đầu từ cung Rồng, rồi chuyển đến cung phải lại
đến cung trái mới vào huyệt. Cung rồng là án chầu phía
trước. Cát bạch hổ trùng điệp, núi Huyền Vũ dốc cao,
sông Minh đường nước đọng, nếu soi sáng vào trong huyệt
thì con gái sinh nhiều phú quý. Ðây là một quý cách". Nếu
hiểu từ "bạch hổ" theo lối đây, thì dĩ nhiên mặt đất
của Phù cầm có những ngôi mộ làm sinh ra những người con
gái có nhiều phú quí. Nếu vậy, phải chăng mẹ của Lý Công
Uẩn là người Phù cầm? Sử không ghi rõ nên ta không biết
được.
Cuối cùng, về chữ Lục tổ,
đấy là đọc theo bản đời Lê, còn bản đời Nguyễn viết
thành Ðại tổ. Nó hiển nhiên nhằm chỉ chùa Lục tổ, nơi
Vạn Hạnh sống và dạy dỗ Lý Công Uẩn, và là nơi Uẩn
trưởng thành.
(20) Bốn câu thơ này để xác
định ngôi mộ của Hiển Khánh đại vương. Nhưng vị trí
nó ngày nay ta chưa thể khảo được, bởi vì những tên đất
đến tên ao như: Vũ long, Hạc lâm, và Trấn hải, ta hiện
chưa phát ra vị trí của chúng. Riêng về Hạc lâm, nó có
thể là chùa Hạc lâm của Pháp Thông, người đã cùng Huệ
Sinh thờ Ðịnh Huệ làm thầy, như truyện Huệ Sinh tờ 57b11
đã ghi.
(21) Nguyên văn: Thập khẩu
thủy thổ khứ. Ðây là nhắc lại việc Ðịnh Không làm chùa
Quỳnh lâm tại làng Ðình bảng, đào gặp 10 cái khánh, mà
khi đem đi rửa chìm mất một cái xuống sông. Từ đó Không
đề nghị đổi làng mình thành làng Cổ pháp. Chữ cổ là
do chữ thập và khẩu ghép lại, mà hai chữ đó có nghĩa "mười
cái". Chữ Pháp là do chữ thủy và chữ khứ ghép lại, và
chúng có nghĩa "chìm xuống nước". Xem truyện Ðịnh Không
ở trên.
(22) Ðại Việt sử lược
2 tờ 2b10 và Toàn thư B3 tờ 3a3 viết: "Năm Thuận Thiên
thứ 1 (1010) cải Cổ pháp làm phủ Thiên đức". Việt sử
tiêu án 1 tờ 79b8 và Cương mục chính biên 2 tờ
11a1 cũng chép vậy.
(23) Quốc sử chắc chỉ Ðại
Việt sử ký của Trần Chu Phổ và Lê Văn Hưu. Ðại
Việt sử lược và Toàn thư hiện tại chỉ ghi lại
trong hai ba việc, mà tác giả Thiền uyển tập anh giả
thuyết Quốc sử phải ghi đủ, đấy là chuyện chó
chùa Thiên ứng tâm có lông thành chữ "Thiên tử" và chuyện
sét đánh thành văn thôi. Còn chuyện sâu ăn cây đa chùa Song
lâm thì bây giờ không thấy cuốn sử nào ghi tới. Nó chắc
đã bị các tác giả sau Lê Văn Hưu tước bỏ.
50. Thiền sư ÐỊNH HUỆ
(1) Làng An trinh, phủ Thiên
đức này chúng tôi hiện chưa khảo được đích xác là làng
nào thuộc huyện nào của tỉnh Bắc ninh ngày nay. Bắc thành
địa dư chí lục 2 có ghi một làng tên An trinh thuộc tổng
Văn thai, huyện Cẩm giàng, trấn Hải dương. Chúng tôi chắc
làng An trinh này không phải là làng An trinh của Ðịnh Huệ
ở đây, nhưng cứ ghi ra, bởi vì huyện Cẩm giàng theo Ðại
nam nhất thống chí, tỉnh Hải dương, mục Kiến trí diên
cách thì huyện Cẩm giàng "đời thuộc Minh thuộc vào châu
Thượng hồng, phủ Lạng giang".
(2) Tức thuộc phần đất tỉnh
Vĩnh phú ngày nay. Xem chú thích (6) truyện Pháp Hiền. Về Cẩm
điền, bảng danh sách các tổng xã của hai tỉnh Sơn tây và
Vĩnh yên trong Ðại nam nhất thống chí, tỉnh Sơn tây,
mục Tục khảo, không có tổng xã nào tên Cẩm điền cả.
Nhưng một số làng hai huyện Tam dương và Yên lạc có những
tên bắt đầu bằng chữ "cẩm" hay chữ "điền", hay kết thúc
bằng chữ "điền". Ðấy là xã Ðiền trù của tổng Bình
hòa, xã Cẩm trạch của tổng Ðạo tú và xã Ðại điền
của tổng Quan ngoại thuộc huyện Tam dương, và những xã
Cẩm la, Cẩm trạch và Cẩm viên của tổng Nhật chiếu thuộc
huyện Yên lạc. Chúng tôi nghĩ Cẩm điền có lẽ gồm phần
đất của hai tổng Ðạo tú và Quan ngoại vừa thấy.
51.Thiền sư ÐẠO HẠNH
(1)Ðại nam nhất thống chí,
tỉnh Sơn tây, mục Tự quan, viết: "Chùa Thiên phúc tại xã
Sài tây, huyện Yên sơn, xưa gọi là am Hương giang (nên đọc
hải, Lê Mạnh Thát chú) lại gọi là viện Phổ đà. Chùa
bên trái thờ Từ thiền sư bên phải thờ tượng Lý Thần
Tôn, ở giữa thờ tượng Phật. Thiền sư họ Từ tên Lộ,
tự Ðạo Hạnh, người An lãng huyện Vĩnh thuận, tỉnh Hà
nội, là bậc cao tăng của thời đó đến trác tích ở đây.
Lý Nhân Tôn tuổi đã cao mà chưa có con nối dõi. Em vua là
Sùng Hiền Hầu cũng chưa có con, cùng với Ðạo Hạnh nói
việc cầu tự. Ðạo Hạnh hẹn ngày kia khi phu nhân sắp sanh
thì nên báo trước cho biết. Sau đó, khi phu nhân sắp sinh,
bèn đi báo. Ðạo Hạnh tức khắc thay quần áo tắm rửa,
vào trong động mà thi giải. Phu nhân liền sinh một người
con trai ấy là Thần Tôn. Người làng cho đó là điều lạ,
đem thây bỏ vào trong khám mà thờ. Mỗi năm đến ngày 7 tháng
3, tục truyền đó là ngày kỵ của Sư, sĩ nữ tụ họp đông
đảo, làm thành một chỗ du ngoạn đẹp đẽ của địa phương.
Văn nhân danh sĩ phần nhiều có làm thơ vịnh. Thâycủa Sư
đến khoảng Minh Vĩnh Lạc thì bị người Minh đốt cháy.
Người làng lại đúc tượng Sư mà thờ. Trong khoảng Lê Quang
Thuận, cha của Hoàng hậu Trường Lạc là Nguyễn Ðức Trung
đi cầu tự cho hậu ở trong động chùa đó thì có một mảnh
đá bay tới. Bèn cầm về tạc thành một tượng Phật mà
thờ. Khi đã làm vậy, thì sau đó hậu mộng thấy rồng vàng
vào sườn bên trái, bèn sinh ra Hiến Tôn. Trong khoảng Cảnh
Thống, bàn lập bia am Hiển thụy khắc vào đá nay còn. Triều
ta phong thần Từ Ðạo Hạnh đại thiền sư ".
(2) Lịch triều hiến chương
loại chí 3 tờ 8a6b1 viết: "Núi (Nguyên văn viết chùa,
Lê Mạnh Thát sửa) Phật tích ở xã Thủy khê, huyện Yên
sơn, một tên là Sài sơn, lại gọi là Cổ sài. Cảnh núi
đẹp đẽ trông ngang xuống mặt hồ trên núi có hang sâu là
chỗ Từ Ðạo Hạnh thi giải. Vách hang đang còn có dấu đầu
và dấu chân. Trên đó có am Hương hải và viện Phổ đà
đều do Từ Công dựng nên, nay là chùa Thiên phúc".
Kiến văn tiểu lục 6
tờ 2a7-3a1 viết: "Sài sơn của huyện Yên sơn, đời Lý gọi
là núi Phổ đà lạc, đời Trần gọi là núi Phật tích. Trên
núi có chùa và tiên động các nơi. Trong động có tám chỗ
lõm, như dấu đầu người va vào, lại có dấu chân như của
người khổng lồ. Dưới núi có chùa Thiên phúc, trước có
hồ lớn, sau có lầu chuông, có chuông do Thiền sư Vạn Hạnh
đúc thành, vào năm Long Phù Nguyên Hoá thứ 9 (1109) triều Lý,
đệ tử Huệ Hưng soạn ký, trước tác lang Nghiêm Thường
khắc chữ. Trên chuông có khắc hình cây bồ lao, dùng dây
sắt mà treo. Ðấy là vật xưa 700 năm đến nay. Dưới lời
ký có khắc sắc chỉ của Vua Trần Anh Tôn cấp ruộng thờ
cúngvào năm Hưng Long thứ 12 (1304). Bên cạnh có Hiển thụy
dựng trong khoảng Cảnh Thống, có bia ký do Thượng thư Nguyễn
Bảo soạn. Xét An nam chí có nói rằng: Núi Phật tích
có một tảng đá, trên có dấu chân người khổng lồ. Dưới
chân núi có hồ, chu vi hơn ba dặm. Hai bên hồ và núi có dựng
nhà thủy tạ. Tháng 5 tháng 6 hoa sen nở đầy hồ, mùi thơm
sặc cả người. Trên núi có chùa Thiên phúc, sơn phết rực
rỡ, thực là danh thắng một phương, chỉ nói trên núi Phật
tích có chùa Tư phúc, có am Biện tài và am Cực lạc. Người
của châu và những con em của phường du lịch thường mỗi
năm vào tháng 3 đến dạo chơi xem lễ, đèn nhang chất đống,
xe ngựa dập dìu, văn nhân danh sĩ phần nhiều đều có đề
thơ vịnh cảnh. Tức là núi đó".
Xem thêm Ðại nam nhất thống
chí, tỉnh Sơn tây, mục Sơn xuyên và mục phụ khảo về
núi.
(3) Làng Yên lãng đây tức
là làng Yên lãng thuộc huyện Vĩnh thuận của Bắc thành
địa dư chí lục 1 và Ðại nam nhất thống chí,
tỉnh Sơn tây, mục Từ miếu và Tự quán, tức làng Láng ở
gần phía tây Thủ đô Hà nội ngày nay. Làng này hiện có
chùa thờ Ðạo Hạnh, tục gọi là chùa Láng. Bắc thành
địa dư chí lục 1 chép chuyện đấy vào thế kỷ 19 như
sau: "Chùa Yên lãng tại trại Yên lãng, huyện Vĩnh thuận,
thế truyền là chỗ tu hành của Thiền sư Từ Ðạo Hạnh
triều Lý. Thiền sư là kẻ có thù với Thiền sư Ðại Ðiên
xã Dịch vọng. Ðạo Hạnh sau đó đi Tây vức học đạo,
trở về giết Ðại Ðiên, nên lệ chùa Yên lãng mỗi năm
vào tháng 3 phải rước thần qua chùa hai xã Yên quyết và
Dịch vọng, đốt pháo múa gậy, giống như có việc đánh
nhau, để diễn lại chuyện đó. Nay chùa Yên lãng có một
hòm gỗ trong đựng một miếng đồng có chữ phạn viết bằng
son. Ðó là di tích của Sư. Sau Ðạo Hạnh đến tu đạo tại
Sài sơn, tỉnh Sơn tây, rồi đầu thai làm Lý Thần Tôn".
Ðây như vậy chỉ nói tên
cha và trú quán, nhưng không nói tên mẹ và nguyên quán của
Từ Ðạo Hạnh. Ðại nam nhất thống chí, tỉnh Sơn
tây, mục từ miếu, nhân viết về đến Từ Ðạo Hạnh Thiền
sư ở chân núi Sài sơn huyện Yên sơn, nói: Xét trong đền
thì bên trái thờ tượng Từ Ðạo Hạnh, bên phải thờ tượng
Lý Thần Tôn, ở giữa thờ tượng Phật. Một thuyết nói
rằng Ðạo Hạnh là người thôn Ðồng bụt, huyện Yên sơn,
cha là Từ Vinh mẹ là Tăng thị Loan. Nay tương truyền ở Ðồng
bụt có nền cũ nhà họ Từ, trước chùa có 70 mẫu ruộng
là ruộng họ Từ, nay đem làm tự điền cho thôn ấy".
Cứ đây thì nguyên quán của
Ðạo Hạnh là thôn Ðồng bụt, huyện Yên sơn tỉnh Sơn tây.
Truyện Ðạo Hạnh ở đây nói rõ Yên lãng là trú quán của
Hạnh, nên ta khỏi phải đặt nghi vấn về chuyện đâu là
quê quán của Hạnh, như Ðại nam nhất thống chí đã
làm.
(5) Ðại Việt sử lược
2 tờ 16a10 viết: "Năm Quảng Hựu thứ 7 (1091) kiến quan Lê
Toàn Nghĩa dâng rùa năm sắc". Toàn thư B3 tờ 12a9 cũng
ghi chuyện này, nhưng không ghi chức quan của Nghĩa.
(6) Truyện Từ Ðạo Hạnh trong
Lĩnh
nam trích quái truyện tờ 28-31 chép hoàn toàn giống truyện
Từ Ðạo Hạnh ở đây, nhưng sau câu "hậu ứng tăng quan ngự
thí trúng", nó lại thêm 7 chữ "Bạch liên khoa, vị cơ phụ
Vinh", trước khi viết tiếp "dĩ tà thuật ngỗ Diên Thành Hầu".
Truyện Ðạo Hạnh ở đây, sau câu "hậu ứng tăng quan ngự
thí trúng", lại bỏ trống một đoạn đúng chỗ cho 7 chữ,
rồi viết tiếp "dĩ tà thuật ngỗ Diên Thành Hầu". Chúng
tôi nghĩ rằng khoảng trống 7 chữ đây đúng là chỗ của
7 chữ hiện còn chép trong Lĩnh nam trích quái mà để
bản của bản in Thiền uyển tập anh năm 1715 đã bị
rách hay mọt ăn mất, nên người hiệu đính cho bản in đây
đã để trống đúng 7 chỗ cho những chữ mất đó. Ðây là
một ưu điểm lớn của bản in năm 1715 giữa những ưu điểm
khác của nó. Bản in đời Nguyễn không để một khoảng trống
nào cả, nên dù có bản của Lĩnh nam trích quái chăng
nữa, ta cũng không thể nào nhận ra khoảng đấy thiếu mấy
chữ. Chúng tôi do thế đề nghị thêm 7 chữ trên vào chỗ
trống ở tờ 53b10 của Thiền uyển tập anh, để cho
ý nghĩa của câu "hậu ứng tăng quan ngự thí trúng…" và
câu "dĩ tà thuật ngỗ Diên Thành Hầu" ở trước và sau khoảng
trống đấy được rõ hơn. Nếu chấp nhận, hai câu ấy bây
giờ đọc: "Hậu ứng tăng quan thí trúng Bạch liên khoa. Vị
cơ phụ Vinh dĩ tà thuật ngỗ Diên Thành Hầu", mà ta có thể
dịch thành: "Sau đó Sư ứng thi điện thí tăng quan, trúng
khoa Bạch liên. Chẳng bao lâu, cha Sư là Vinh dùng tà thuật
làm mích lòng Diên Thành Hầu…"
Khoa Bạch liên là khoa gì vào
thời Lý, chúng tôi hiện chưa thể khảo được.
(7) Diên thành hầu (? – 1117)
là con của Lý Thánh Tôn và em của Nhân Tôn. Tính tình của
vị hầu này chắc nóng nảy lắm. Ðại Việt sử lược
2 tờ 20a3 ghi lại một chứng sau: "Năm Long Phù Nguyên Hóa thứ
4 (1104), mùa thu tháng 9 ngày mồng một. Diên Thành Hầu lấy
hốt đánh Trung Nghĩa Hầu ở điện Thiên an". Trung Nghĩa Hầu
(? – 1117) cũng là con của Thánh Tôn và chắc là em của Diên
Thành, và điện Thiên an là nơi thị triều của vua. Thế mà,
giữa mặt bá quan văn võ, Diên Thành đã lấy hốt đánh Trung
Nghĩa.
(8) Tức Nguyễn Ðại Ðiên,
mà truyện Thần Nghi tờ 40a11 nói tới như đại biểu cho một
Thiền phái thứ 4 của thời Lý. Cứ vào truyện Ðạo Hạnh
ở đây, ta có thể đoán Ðại Ðiên bị Ðạo Hạnh đánh
chết vào khoảng năm 1110 bởi vì cuối truyện có chua câu:
"Giác Hoàng, hoặc có người nói là Ðại Ðiên ấy vậy".
Mà Giác Hoàng theo Ðại Việt sử lược 2 tờ 21a4, thì
vào năm Hội Tường Ðại Khánh thứ 3 (1112) là đã 3 tuổi
rồi. Vậy Hoàng phải sinh năm 1110. Bấy giờ, nếu bảo Giác
Hoàng là Ðại Ðiên thì đương nhiên Ðiên phải chết vào
năm Hoàng sinh, tức năm 1110 ấy, mới đầu thai thành Hoàng
được, tối thiểu là bằng vào sự tin tưởng huyền thuật
đương thời. Cho nên, việc liên hệ Ðại Ðiên với sự sinh
của Giác Hoàng phải giả thiết rằng Ðiên chết vào năm
Hoàng sinh.
Về nguyên quán của Ðiên,
Ðại
nam nhất thống chí, tỉnh Sơn tây, mục Tăng thích, có
ghi một vị sư tên Nguyễn Ðạo Hạnh và nói: "Sư người
huyện Tiên phong là miêu duệ của Thiền sư Thái Ðiên, bình
sanh cùng sư Nguyễn Minh Không và Từ Ðạo Hạnh làm bạn,
học thuật tu luyện, sau hóa thân ở xã Chiêu nhân thổ nhân
bèn lập đền thờ". Thái Ðiên đây, chúng tôi nghi cũng là
Ðại Ðiên, bởi vì Việt sử tiêu án 1 tờ 108b9 dẫn
Ngoại truyện nói: "Cha Ðạo Hạnh là Từ Vinh vì pháp thuật
bị sư Thái Ðiên đánh giết". Như vậy quê hương của Ðại
Ðiên là vùng đất huyện Tiên phong, tức huyện Quảng oai,
tỉnh Sơn tây bây giờ. Kiến văn tiểu lục 9 tờ 16a1
17a2 viết rất là dài về cuộc đời nhà sư Nguyễn Ðạo
Hạnh đây và nói: "Ông người xã Vịnh phệ, huyện Tiên phong".
Nếu vậy Ðiên là người xã Vịnh phệ.
Cuối cùng, về ngôi chùa trú
trì của Ðiên, Bắc thành địa dư chí lục 1 nhân viết
về chùa Yên lãng dẫn trước nói "Ðạo Hạnh có thù với
Thiền sư Ðại Ðiên xã Dịch vọng". Như thế, vào thế kỷ
thứ 19 người ta coi Ðiên sống ở xã Dịch vọng. Làng Dịch
vọng này, Toàn thư B3 tờ 3a3-8 nói là nơi có chùa Thánh
chúa. Ở đây đã có vị sư dạy Nguyễn Bông cái thuật đầu
thai thành Lý Nhân Tôn. Dã sử về thần tích của Ỷ Lan nói
rõ ra vị sư chùa Thánh chúa, đấy không ai khác hơn là Ðại
Ðiên. Từ đó, ngôi chùa Ðại Ðiên ở chắc không chùa nào
khác hơn là Thánh chúa, làng Dịch vọng, huyện Từ liêm ngày
trước, tức huyện Hoài đức, tỉnh Hà đông ngày nay. Sự
việc Nguyễn Bông xảy ra vào năm 1063. Thế thì, Ðiên sống
tại chùa đấy vào khoảng từ năm đó.
(9) Bắc thành địa dư chí
lục 1 viết: "Sông Tô lịch ở phía đông của thành (Hà
nội) phân lưu từ sông Nhị, theo thành từ phía Bắc mà chảy
qua phía tây gặp sông Hà liễu và sông Nhuệ, hai sông cùng
chảy đổ vào. Sông này, mùa đông và xuân thì khô cạn, mùa
thu và hạ thì thuyền đi được…Quốc sử của Ngô
Sĩ Liên nói: "Sông này hễ khi có mưa lớn thì nước đầy
ứ mà chảy ngược. Họ Ngô nói: "Sông Tô lịch chảy đi ra
từ sông Nhị bắt đầu từ phường Hà khẩu chảy qua Tây
hồ, Thụy Chương, Yên hoa và Yên quyết thì cạn thuyền đi
không được, vì dân ở hai bên sông cứ để ngói đá lấp
đầy, khi mưa to nước ứ lại không chảy được, nên phải
chảy ngược lại thì không có gì là lạ".
(10) An nam chí lược 1
tờ 24 viết: "Sông Tô lịch chảy quanh La thành. Sông có năm
cầu đều rất đẹp". Nhưng nó không cho biết năm cầu đó.
Ta ngày nay có thể truy nhận tối thiểu tên của ba cầu, đấy
là cầu Tây dương, cầu Yên quyết và cầu Nhân mục. Toàn
thư B10 tờ 21b 2-5 trong khi mô tả diễn tiến của chiến
dịch Tốt động, Chúc động, đã viết về những hướng
xuất quân của Vương Thông từ thành Ðông quan như sau: "Ngày
mồng 6, Vương Thông v.v.…của nhà Minh đem lính cũ lính mới
10 vạn người phân làm ba đạo quân đánh ta. Vương Thông
do ngã Khâu ôn qua cầu tây dương đến đóng ở bến Cổ sở,
dựng cầu nổi cho quân đi. Phương Chính xuất quân từ cầu
Yên Quyết, đóng ở cầu Sa đôi. Sơn Thọ và Mã Kỳ đi ra
từ cầu Nhân mục, đóng ở cầu Thanh oai. Chúng dựng doanh
trại vài chục dặm, cờ xí rợp đồng, giáp trượng sáng
trời, tự bảo rằng chúng chỉ một lần đánh là bắt hết
nghĩa quân".
Cầu Nhân mục, tên nôm gọi
là cống Mọc, ngày nay thuộc làng Nhân chính, huyện Hoài đức,
tỉnh Hà đông, và vết tích của nó hiện còn là chiếc cầu
bắc ngang sông Tô lịch tại làng đấy.
Còn cầu Yên Quyết, tên nôm
nó gọi là cống Cót, ngày nay là chiếc cầu bắc ngang sông
Tô lịch tại địa phận làng Yên quyết huyện Hoài đức,
tỉnh Hà đông. Vì cầu Yên quyết có tên nôm là cống Cót,
cho nên chữ Quyết kiều ở đây đúng ra phải dịch là cống
Cót, nhưng vì không chắc chữ Cót phát âm như thế nào vào
thời Lý, nên chúng tôi vẫn để nguyên và dịch là: "cầu
Quyết". Hoàng Xuân Hãn trong Lý Thường Kiệt tr.499 vì chấm
câu lộn, nên đã đọc thành cầu Vu quyết. Về cầu Tây dương
thì cứ trên đường hành quân của Vương Thông, nó phải
là cầu Giấy, bởi vì để đi từ Ðông quan tới Cổ sở,
người ta phải đi qua cầu Giấy ở sông Tô lịch, rồi qua
cầu Diễn hay Phù diễn ở sông Nhuệ thì tới bến Cổ sở
trên sông Ðáy thuộc làng Yên sở ngày nay. Như vậy, cầu
Tây dương không gì khác hơn là cầu Thượng yên quyết, mà
Ðại
nam nhất thống chí, tỉnh Hànội, mục Tân lương, nói
là "tục gọi cầu Giấy, cầu dài ba trượng, có lợp ngói
ở về huyện Từ liêm".
(11) Mọi răng vàng hay Kim xỉ
man là tên một dân tộc ít người, vào thời Ðường thì
đang còn ở phần đất thuộc Vương quốc Pyu, nhưng đến
đời Nguyễn và cho tới nay thì phần đất ấy thuộc tỉnh
Vân nam của Trung Quốc. Xem Nguyên sử 16 tờ 8a4.
Gọi là mọi răng vàng dân
tộc ấy dùng vàng lá mà trang sức răng mình, "khi ăn thì lấy
ra". Họ có nhiều giống, mà Tân đường thư 222 hạ tờ 15b-16a
liệt ra như giống Tú cước, giống Tú diện, giống Ðiêu
đề, giống Xuyên tỷ. An nam chí lược 1 tờ 19 nói:
"Ðà Giang Lộ tiếp giáp với Kim xỉ". Kim xỉ đây đương
nhiên là Kim xỉ man. Và nếu như vậy, thì Ðạo Hạnh vừa
mới vượt khỏi biên giới nước ta thôi.
(12) Tức Tứ Thiên Vương, đấy
là Trì Quốc ở phía đông, Tăng Trưởng ở phía nam, Quảng
mục ở phía tây, và Tỳ Sa Môn ở phía bắc của tầng thứ
tư núi Tu di, quản thủ bọn Dạ xoa và La sát. Chúng có nhiệm
vụ bảo vệ thế giới, theo vũ trụ quan thần thoại của
một số trường phái Phật giáo. Xem chú thích (7) truyện Khuông
Việt, và Khỉ thế nhân bản kinh 6 tờ 394c.
(13) Chú thích (10) trên cứ
vào đường hành quân của Vương Thông do Toàn thư ghi
lại, đã đồng nhất cầu Tây dương với cầu Giấy. Mà cầu
Giấy theo Ðại nam nhất thống chí, tỉnh Hà nội, mục
Tân lương là tên nôm của cầu Thượng yên quyết. Làng Yên
quyết thực ra có hai, đấy là làng Thượng yên quyết và
Hạ yên quyết. Ðại Việt lịch triều đăng khoa lục
có ghi một số tiến sĩ xuất thân từ hai làng đó như Ðặng
Công Toản khoa 1520, Nguyễn Sằn khoa 1554, Nguyễn Dụng Ngãi
khoa 1574, của làng Thượng yên quyết, Hoàng Quản Chí khoa
1393, Nguyễn Như Uyên khoa 1409, Nguyễn Khiêm Quang khoa 1523, Nguyễn
Nhật Tráng khoa 1595, Nguyễn Dụng Triêm khoa 1602 v.v… của
làng Hạ yên quyết. Vậy thì, cầu Quyết hay cầu Yên quyết
của truyện đây là cầu Hạ yên quyết, còn cầu Tây dương
hay cầu Giấy là cầu Thượng yên quyết. Bến Quyết cũng
ở làng Hạ yên quyết. Xác định như thế, bây giờ nó trở
thành rõ ràng là Ðại Ðiên trụ trì chùa Thánh chúa làng
Dịch vọng ở sát làng Thượng yên quyết, thì khi đánh chết
Từ Vinh, xác Vinh tất ném xuống sông Tô lịch từ khoảng
cầu Tây dương, trôi xuôi cho đến cống Cót, nơi có nhà Diên
Thành Hầu rồi dừng lại. Tới khi Ðạo Hạnh ném gậy mình
từ bến Cót, nếu trôi ngược nó tất nhiên phải lên đến
cầu tây dương hay cầu Thượng yên quyết, chứ không thể
cầu nào khác.
Cầu Tây dương gọi là cầu
Giấy tối thiểu bắt đầu từ thời Lý, bởi vì gần cầu
đó có xóm chuyên chế tạo giấy, tên là xóm Chỉ tác hay
xóm làm Giấy. Xem Ðại Việt sử lược 3 tờ 29a11.
(14) Thái bình đây chắc là
phủ Thái bình, nơi có chùa Khai thiên do Nguyễn Quang Lỵ dựng,
và Ma Ha trụ trì. Xem chú thích (10) truyện Ma Ha. Tuy nhiên,
trong vùng Hưng yên, đất của phủ Thái Bình cũ, không thấy
có làng nào thờ Ðạo Hạnh cả. Trái lại, theo Ðại nam
nhất thống chí, tỉnh Nam định mới có một số làng
thờ Ðạo Hạnh thuộc huyện Nam chân như làng Chân nguyên,
làng Vân chàng, làng Kinh lủng…rồi nó viết tiếp: "Hạnh
thuở nhỏ ưa đi chơi đến xã Chân nguyên, dựng chùa Ðại
bi, ở đấy trú trì, sau dân làng tôn làm Tổ sư. Thế thì,
vùng Thái bình do Kiều Trí Huyền giáo hóa phải chăng nằm
tại đất tỉnh Nam định? Ðây là một có thể. Về Kiều
Trí Huyền, nay ta không biết gì hết về tông tích tôn phái
của ông.
(15) Cơ xan khát ẩm, cách ngữ
của Thiền gia chỉ đạo lý thiền không ở đâu xa, mà ở
ngay trong chính những công tác thường nhật nhất. Sư Nguyên
Tân đến hỏi Thiền sư Ðại Châu Huệ Hải: "Hòa thượng
tu đạo có dụng công không?". Hải đáp: "Dụng công". Hỏi
"Dụng công ra sao?". Ðáp: "đói đến thì ăn cơm mệt lại
thì đi ngủ". Xem Truyền đăng lục 6 tờ 247c 1-3.
(16) An nam chí nguyên tờ
209 dẫn ý chính của đoạn này về Ðạo Hạnh: "Thiền sư
Ðạo Hạnh là vị sư huyện Thạch thất, thường đi khắp
tòng lâm tìm tòi bậc trí thức, khi duyên đạo đã chín, pháp
lực có thêm, Sư có thể sai sử chim rừng thú nội họp nhau
đến chịu phục. Sư cầu mưa trị bệnh, không gì là không
ứng nghiệm, nay xác thịt đang còn".
Việc sử dụng những ngữ
cú và văn ý đồng nhất với Thiền uyển tập anh như
đây chứng tỏ tác giả An nam chí nguyên hay tác giả
một cuốn sách khác mà ông vẫn phải sử dụng Thiền uyển
tập anh. Do vậy, trước bản in năm 1715, Thiền uyển
tập anh phải có in một lần nào đó. Chính qua bản in
hay tối thiểu bản chép trước năm 1715 mà An nam chí nguyên
hay một cuốn sách trước nó đã rút những dẫn trên về
Ðạo Hạnh.
(17)Ðại Việt sử lược
2 tờ 21 a4-b5: "Hội Tường Ðại Khánh năm thứ 3 tháng 2 người
Thanh hóa nói rằng: "ở Hải tân có một đứa bé lạ lùng,
tuổi mới lên ba, mà hiểu được tiếng nói, tự xưng là
đích tử của Hoàng đế, gọi mình là Giác Hoàng, hễ vua
cử động thì không gì là nó không biết trước. Vua sai Trung
sứ đến hỏi xem thì những gì người ta nói đều đúng cả,
bèn rước về ở tại chùa Báo thiên. Vì sự linh dị của
nó, vua thương yêu nó càng nhiều. Bấy giờ, vua không có người
nối dõi, muốn lập nó làm Thái tử, quần thần không chịu,
mới thôi. Bèn liền lập trai hội ở trong cung cấm, muốn
khiến Giác Hoàng đầu thai vào làm con mình.
Có nhà sư núi Phật tích là
Từ Lộ Ðạo Hạnh nghe việc ấy mà không vui bèn sai người
chị mình là Từ Thị đến phó hội, lén lấy vài hạt châu
có kết ấn rồi trao cho, bảo: "Ðến chỗ hội thì hãy nhét
vào đầu mái diềm, đừng để cho ai thấy biết". Từ Thị
làm theo lời dặn của sư. Giác Hoàng bỗng chốc mắc bệnh
sốt trẻ con, bèn nói với người ta rằng: "Tôi thấy khắp
cả nước đều có lưới sắt bao phủ, không có ngõ nào mà
thác sinh vào cung được". Vua ra lệnh mở một cuộc lùng soát
lớn thì bắt được những hạt châu do Từ Thị giấu, bèn
bắt Lộ trói ở làng Hưng thánh, muốn đặt vào tội xử
tử. Gặp khi Sùng Hiền Hầu vào chầu, Lộ gào khóc thảm
thiết nói rằng: "Xin Hầu ra tay cứu vớt bần tăng nếu may
mà được thoát chết thì sẽ vào làm con của Hầu để đáp
lại ân đức". Hầu bằng lòng, nên khi vào gặp vua, Hầu mưu
cứu bằng trăm lối, nói rằng: "Giác Hoàng nếu thật có thần
lực mà lại bị Lộ thư giải thì rõ ràng Lộ hơn Giác Hoàng
vậy. Thần nghĩ không gì hơn là cho Lộ thác sanh vậy". Vua
bèn xá tội Lộ Toàn thư không ghi chuyện này.
(18) Toàn thư B3 tờ 16a2-6:
"(Hội Tường Ðại Khánh) năm thứ ba, bây giờ tuổi vua đã
cao, mà không có con nối dõi, xuống chiếu chọn con tôn thất
vào làm nối dõi. Em vua là Sùng Hiền Hầu cũng chưa có con
nối dõi. Gặp lúc nhà sư núi Thạch thất là Từ Ðạo Hạnh
đến nhà Hầu để cùng nói chuyện cầu tự, Ðạo Hạnh nói:
"Ngày kia khi phu nhân lâm bồn thì nên trước báo cho biết,
bởi vì tôi đã vì Ngài đến cầu xin ở thần núi rồi".
Ba năm sau, phu nhân nhân thế mà có thai, sinh ra con trai Dương
Hoán".
(19) Toàn thư B3 tờ16b6-17a4:
"(Hội Tường Ðại Khánh) năm thứ bảy, mùa hạ tháng sáu,
thầy Từ Ðạo Hạnh thi giải ở chùa núi Thạch thất…Trước
đó, phu nhân của Sùng Hiền Hầu là Ðỗ thị có thai. Ðến
lúc đó, khó sanh, Hầu nhớ lại lời nói ngày trứơc của
Ðạo Hạnh, sai người chạy đến báo. Ðạo Hạnh tức khắc
tắm rửa thay áo, vào trong hang thi giải mà mất. Phu nhân liền
sanh được người con trai, tức là Dương Hoán vậy. Người
làng cho là truyện lạ, đem thi bỏ vào trong khám mà thờ.
Núi Phật tích ngày nay tức là chỗ của nó vậy. Mỗi năm
đến ngày 7 tháng 3 mùa xuân, sĩ nữ tụ hội lại ở chùa,
làm nó trở nên một nơi du ngoạn nổi tiếng. Người sau ngoa
truyền đó là ngày kỵ của Thầy". Ðại Việt sử lược
2 tờ 22a5: ("Hội Tường Ðại Khánh thứ 7) mùa hạ tháng 6
thầy Ðạo Hạnh hóa thân – Thần Tôn sinh ra".
(20) Tam thập tam thiên (Phạn:
Trayastrimsà), một tên gọi khác của cõi trời Ðao lợi hay
Ðâu suất đà (Phạn: Tusita), nơi ngự trị của Ðế Thích
theo huyền thoại Phật giáo. Xem Trường a hàm 20 và Câu xá
luận 11 .
(21) Toàn thư B3 tờ 17a4-5:
"Xác của Sư đến khoảng năm Vĩnh Lạc đời Minh mới bị
người Minh đốt. Người làng đúc lại tượng của Sư mà
thờ như xưa, nay còn". Thì rõ ràng, xác của Ðạo Hạnh đang
còn vào thời Trần, khi tác giả Thiền uyển tập anh
viết tác phẩm của mình. An nam chí lược 15 tờ 147-148
cũng nói: "Sư nhục thân kim thượng tồn". An nam chí nguyên
3 tờ 209 viết: "Kim chân hình thượng tồn".
(22) Nguyên văn: "Án Quốc
sử, Hội Tường Ðại Khánh bát niên, (nhân) Sùng hiền,
Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Kỳ, Hầu tử,
nghênh nhập trung cung giáo dưỡng. Sùng Hiền (Khánh thọ bát
niên đông thập nhị nguyệt đế băng) Hầu tử, niên phương
nhị tuế, đế thâm ái chi, toại lập vi Hoàng thái tử, chi
Thiên Phù Khánh Thọ nguyên niên đông thập nhị nguyệt đế
băng, Thái tử tức vị, xuân thu nhị thập nhất niên, tại
vị phàn thập nhất niên, thuỵ viết Thần tôn, tức Sư thị
giả, Giác Hoàng hoặc Ðại Ðiên thị giả".
Những chữ để trong vòng ngoặc
là những chữ chúng tôi coi như diễn tự và loại bỏ không
dịch, cứ vào lời chiếu tìm con tôn thất tìm con vào nuôi
dưỡng trong cung của Lý Nhân Tôn trong Toàn thư B3 tờ
18a8-b3: "Hội Tường Ðại Khánh thứ 8 mùa đông tháng 10…xuống
chiếu nói rằng: "Trẫm trị muôn dân, đã lâu không có con
nối dõi, ngôi thứ của thiên hạ, thì có thể truyền lại
cho ai. Vậy phải nên nuôi dưỡng con của Sùng Hiền, Khánh
Thành, Thành Quảng, Thành Chiêu và Thành Hưng Hầu, rồi chọn
đứa tốt nhất trong chúng mà lập lên". Bấy giờ con của
Sùng Hiền Hầu là Dương Hoán, tuổi mới lên hai mà đã thông
minh lanh lợi, vua rất thương yêu, bèn lập làm hoàng thái
tử".
(23) Lĩnh nam trích quái
tờ 28-31 chép truyện của Từ Ðạo Hạnh hoàn toàn đồng
nhất với truyện đây, trừ một sai khác đáng chú ý là việc
Ðạo Hạnh thi trúng khoa Bạch liên, mà Thiền uyển tập
anh không nói rõ. Còn Từ Ðạo Hạnh đại thành sự tích
thật lục do "Ðạo nhân tam quán Tam Thanh" chép phụ vào Việt
điện u linh tập tờ 221-225, tuy cốt truyện vẫn giống,
nhưng có một số chi tiết khá lôi cuốn đáng ghi, nên đề
nghị dịch lại sau:
"Xưa Từ Ðạo Hạnh, họ Từ
tên Lộ cha là Vinh, dùng đạo Thích làm giáo tôn, làm quan
triều Lý đến chức Tăng quan đô sát, trước thường (qua
chơi) làng An lăng, cưới con gái họ Tăng tên Loan, làm nhà
ở xóm Láng nam, làng An lãng, gặp được chốn đất làm nhà
là quí địa, nên bẩm sinh Ðạo Hạnh có tiên phong đạo cốt.
Hạnh lúc nhỏ ham chơi, tính
tình hào hiệp, có chí lớn, hành động cử chỉ, người ta
không thể lường. Thường cùng nhà nho Phí Sinh, Ðạo sĩ Lê
Toàn Nghĩa và người hề Phan Ất cùng nhau làm bạn. Ban đêm,
Hạnh siêng năng chịu khó đọc sách, nhưng ban ngày thì đánh
cầu, thổi sáo, đánh bạc làm vui. Cha Hạnh thường quở trách
Hạnh hoang chơi biếng nhác. Một hôm, ông lén nhìn vào phòng
Hạnh, thấy ngọn đèn leo lét như hạt đậu, sách vở chất
đống, Ðạo Hạnh tựa vào bàn ngủ, mà tay vẫn chưa buông
sách. Ông do thế không còn lo lắng nữa. Sau Hạnh ứng thí
khoa Bạch liên, đỗ đầu, nhưng không thích ra làm quan, ngày
đêm chỉ nghĩ tới việc báo thù cho cha.
Cha Hạnh nguyênngày trứơc
dùng diệu thuật xúc phạm đến Diên Thành Hầu. Nhà Hầu
có Pháp sư Ðại Ðiên dùng phù yếm giết chết, quăng thây
xuống sông Tô lịch. Trôi đến cầu Tây dương, chỗ nhà Diên
Thành Hầu, cái thây dừng lại đó, suốt ngày không chịu
trôi đi. Hầu sợ, chạy báo cho Ðiên. Ðiên đến nói kệ
rằng: "Tăng giận không đầy đêm sao? Vả sống là trường
du hý, chết mới thành đạo Bồ đề". Thây đáp lại lời
nói mà trôi đi, đến chỗ Hàm rồng làng Nhân mục cựu thì
dừng lại. Người ta thấy nó có linh dị, xã đó xây lăng
miếu, đúc tượng phụng thờ, mỗi năm kỵ vào ngày 10 tháng
giêng. Bấy giờ mẹ Hạnh táng tại chùa Ba lăng, xã Thượng
an. Nay chùa Hoa lăng phụng thờ cả hai vị Thánh cha và Thánh
mẹ.
Ðạo Hạnh chỉ nhằm phục
thù, mà không tìm ra kế. Một hôm rình lúc Ðại Ðiên đi
ra sắp làm pháp thuật, bèn lấy gậy sắp đánh Ðại Ðiên,
bỗng nghe trên không có tiếng mắng bảo thôi. Ðạo Hạnh
bèn quăng gậy, trở về nhà, buồn rầu tức giận, muốn đi
Tây thiên Ấn độ, tìm học phép lạ, để chống Ðại Ðiên.
Bèn liền cùng Minh Không, Giác Hải ra đi, đến nước Răng
vàng đường đi hiểm trở, muốn trở về thì thấy một ông
già cỡi một thuyền con, thảnh thơi đi trên sông. Họ cùng
đến hỏi: "Tới Tây thiên còn bao xa". Ông già trả lời: "Ðường
núi hiểm cao, đi bộ không được. Lão có chiếc thuyền nhỏ,
xin giúp chở đi, lại có cây gậy nhỏ đây, nhắm thẳng Tây
quốc mà tới thì chẳng xa, lão xin bằng lòng ngay". Lại nói
bài kệ:
Cùng đi đường đạo
lẽ đương nhiên
Nhiều ông xa học quyết nên
danh
Mênh mông muốn ngả sao nhọc
trải
Chỉ nhắm Hoàng giang thấy
thánh sanh.
Nói kệ xong, trong khoảng nháy
mắt, bỗng chốc đã đến bờ sông Tây thiên có nhiều thần
thông phép thiêng. Ðạo Hạnh giữ thuyền. Giác Hải và Minh
Không lên bờ, học được phép thiêng, liền tự trở về
trước. Ðạo Hạnh giữ thuyền ba ngày, không thấy tin tức
hai người bạn , tự nhiên gặp một bà lão đến bên bờ
sông, bèn chèo đến hỏi: "Lão bà có từng thấy hai người
đến cầu đạo không?" bà lão trả lời: "Hai đứa đó đã
nhận phép thiêng do ta dạy, đắc đạo trở về rồi". Ðạo
Hạnh liền vái, vừa kể lại chuyện ba người cùng đi, bây
giờ bỏ nhau, rất lấy làm buồn. Bà lão nghe nói, tức sai
Ðạo Hạnh gánh hai thùng nước về nhà, ta sẽ dạy cho ngươi
vài phép thiêng cùng phép cho rút đất chân truyền và đà
la ni.
Ðạo Hạnh tự hiềm hai người
bạn đã thất ước, bèn tụng chú. Giác Hải và Minh Không
đi đến nửa đường thì bị chú làm đau tim, khó di động
được. Hai người bạn nhìn nhau kinh hãi. Bên ngoài tuy họ
bị quấy rầy, nhưng bên trong nhờ đã học được linh thuật,
nên đang hoàn toàn tỉnh táo, biện biệt được hư thật,
biết rằng nó quả do Ðạo Hạnh tạo ra. Họ nhìn nhau nói:
"Ngươi muốn biết hậu thân của thân này, thì hãy nhắm ta
mà nói". Ðạo Hạnh nhân thế đáp: "Chúng ta cùng học đạo
Thế Tôn, đạo quả đã thành hậu thân sẽ sinh lại thế
gian làm bậc nhân chủ, lại sinh mắc bệnh, quyết không thể
tránh, các ngươi có duyên với ta, xin đến cứu nhau".
Từ đó, hận xưa hết sạch,
cùng nhau truyền bá Phật pháp. Ði mặt nước, bay trên không,
hàng rồng phục cọp, lên trời rút đất, muôn quái nghìn
kỳ, xuất quỷ nhập thần, chẳng lường được mầu nhiệm.
Họ bèn nhượng Ðạo Hạnh làm anh cả, Minh Không làm anh thứ
và Giác Hải làm em. Chỗ đó nay gọi là cầu Beo ấy vậy.
Minh Không và Giác Hải giã từ trở về chùa Giao thủy. Ðạo
Hạnh ở lại tu luyện tại chùa Thiên phúc núi Thạch thất.
Trước chùa có đôi cây tùng già, người ta gọi là long thụ.
Ðạo Hạnh thường ngày chuyên trì chú Ðại bi tâm đà la
ni đủ ức vạn ngàn biến thì một nhánh cây rơi xuống. Khi
đọc chú xong thì cả đôi cây đều trụi. Hạnh tưởng được
đức Quan Thế Âm đã đến ứng giúp, sức chú gia trì đã
thấu tới thiên đường. Một hôm, thấy thần nhân hiện đến
trước mặt, chân không đạp đất, Hạnh hỏi: "Thần nào
đó?" Vị thần trả lời: "Ðệ tử là Tứ trấn thiên vương,
cảm động đức trì kinh của Sư, nên đến hầu hạ, để
tiện việc sai sử". Ðạo Hạnh biết lục trí của mình đã
viên thành, thù cha có thể trả. Bèn trở về ở tại An lãng
làng xưa, thân hành đến cầu An quyết sông Tô lịch, quăng
một cây gậy xuống sông. Cây bỗng trên mặt nước, trôi
ngược lên như bay, đến cầu Tây dương mới dừng lại. Ðạo
Hạnh vui mừng nói: "Phép ta thắng Ðại Ðiên rồi vậy". Bèn
đi thẳng đến chỗ Ðiên. Ðiên thấy, nói: "Mày không nhớ
chuyện ngày trước sao?". Ðạo Hạnh ngửa mặt ngó lên trời,
vắng vẻ không thấy gì cả, nhân thế đánh mạnh. Ðiên chết,
lại quăng xác vào sông Tô lịch để trả thù xưa.
Thù xưa rửa sạch, niềm tục
lắng trong, Hạnh lại đi khắp tòng lâm, cầu xin ấn quyết.
Nghe Cao Trí Huyền hóa đạo ở Thái bình, Hạnh lễ phép đến
tham yết, tỏ hết chân tâm, có bài kệ rằng:
Lâu mắc bụi đời
chưa biết vàng
Chẳng hay đâu chỗ, ấy lòng
chân
Nguyện xin chỉ dạy bày phương
tiện
Nương thấy Bồ đề khỏi
nhọc tìm.
Trí Huyền đáp lại lời kệ:
Bí quyết chân truyền
giả vạn kim
Rõ ràng cái đó ấy thiền
tâm
Hà sa thế giới nên thôi nói
Chẳng phải Bồ đề cách vạn
tầm.
Từ Ðạo Hạnh mang nhiên không
hiểu, bèn đến pháp hội của Sùng Phạm tại chùa Pháp vân,
thong dong hỏi rằng: "Thế nào mới là chơn tâm?" Phạm đáp:
"Chỗ nào lại không là chân tâm". Ðạo Hạnh bỗng nhiên tự
ngộ, bèn lại trở về chùa Thiên phúc núi Thạch thất tu
đạo luyện pháp xưa. Từ đó, pháp lực càng thêm, lòng thiền
càng thục, có thể sai sử chim rừng thú nội đều bay đến
nép phục xung quanh. Hễ dân các phương có ai bị tật dịch
, bùa bay giấy chạy, phép Hạnh lập tức có nghiệm. Ðem cứu
người, người đều thấm ơn.
Bấy giờ vua Lý Nhân Tôn không
có con nối dõi, cầu đảo không nghiệm. Em vua là Sùng Hiền
Hầu mời Ðạo Hạnh về nhà cùng nói chuyện cầu tự. Từ
Công nguyện thác thai để tạ ân đức của Hầu. Lúc đó,
phu nhân đang tắm ở nhà sau bỗng thấy Ðạo Hạnh hiện ở
trong thau nước. Phu nhân sợ, đem nói với Hầu. Hầu rõ biết
ý Hạnh, lén gọi phu nhân nói: "Bóng hiện trong thau nước,
ấy là chân nhân đã nhập vào trong tử cung rồi, cẩn thận
chớ sợ hãi nghi ngờ. Phu nhân trong lòng cảm thấy mình có
thai. Từ Công bèn từ tạ mà về, dặn rằng : "Lúc lâm bồn
thì nên đi báo cho ta". Ðến khi thai đủ tháng, phu nhân cảm
thấy chuyển bụng muốn đẻ, nhưng rất khó. Hầu bảo: "Nên
mau đi báo cao tăng". Từ Công thấy người đi báo đến, bèn
gọi đồ đệ đến nói: "Nhân xưa chưa hết, ta tạm phải
ra đời làm con cõi người để làm vua, thọ hết lại làm
(chúa) cõi trời Tam thập tam. Nếu thấy chân thân ta hoại
diệt thì ta mới vào Niết bàn, không còn ở trong sinh diệt
nữa. Môn nhân nghe nói, không ai là không cảm động đến
rơi nước mắt. Bèn lải rải nói kệ rằng:
Thu qua không báo nhạn
về đây
Dễ khiến người đời thương
xót thay
Tỏ dấu người đời không
ý tiếc
Thầy xưa bao thuở vẫn thầy
nay.
Nói xong, đi lên Ðộng tiên, va
đầu vào vách đá, dẫm chân lên bàn đá nghiễm nhiên thi
giải mà mất. Ấy là năm Bính thân Hội Tường Ðại Khánh
thứ 3 mùa xuân tháng 3 ngày mồng 7. Ðạo Hạnh Niết bàn,
ra đời làm con của Sùng Hiền Hầu, không phiền nuôi nấng
mà mau lớn, không nhọc dạy dỗ mà thông minh, nhan sắc đẹp
đẽ, tài năng hết sánh. Vua xuống chiếu đem vào nuôi dưỡng
ở trong cung, sau phong làm Hoàng thái tử. Nhân Tôn băng vua
lên ngôi, ấy là Thần Tôn…".
Từ Ðạo Hạnh đại thánh
sự tích thật lục này, Ðại nam nhất thống chí, tỉnh
Sơn tây, mục Tục biên chép với một vài sai khác không đáng
kể cho lắm. Trừ việc nó thiếu bài thơ thị tịch của Hạnh
và thêm bài thơ báo mộng cho Lý Nhân Tôn cùng chuyện nhờ
Minh Không sau này chữa bệnh hộ mình.
An nam chí lược 15 tờ
147-148 viết: "Từ Ðạo Hạnh là Nho sinh, ưa thồi sáo ngày
cùng bạn leo núi du ngoạn, đêm đọc sách đến sáng. Một
hôm, Hạnh vào núi Phật tích thấy trên đá có dấu bàn chân
bên phải, bèn lấy bàn chân mình án lên trên thì giống như
một. Bèn trở về nhà, giã từ mẹ mình, vào núi dựng am
tu hành. Vua Lý vô tự, sai danh tăng cầu đảo. Có một vị
tăng không dự, dùng thuật yểm đi. Vua nghe được sai bắt
các vị tăng trong nước. Sư cũng bị hạ ngục. Vị Hoàng
tử đem sức ra cứu, nên Sư khỏi được. Vị hoàng tử nói:
"Tôi cũng không có con nối dòng, xin Sư cầu đảo dùm tôi".
Sư bèn nói với vị Hoàng tử nên sai phu nhân vào trong nhà
tắm. Sư đi qua ngoài nhà. Phu nhân cảm được mà có thai.
Ðến khi sinh, vị Hoàng tử cho mời Sư, nhưng Sư đã ngồi
mà hóa. Phu nhân bèn sanh một người con trai kỳ vĩ. Vua Lý
lấy làm người nối dõi. Nhục thân Sư nay vẫn còn".
Việt sử tiêu án 1 tờ
101a1-16 chép: "Xét phu nhân Sùng Hiền Hầu có thai gặp Sư núi
Thạch thất là Từ Ðạo Hạnh đến nhà cùng bàn việc cầu
tự. Sư hẹn khi sắp đẻ, nên trước báo cho Sư biết. Ðến
lúc ấy phu nhân đẻ khó, Hầu nhớ lời Sư, sai người đi
báo. Sư liền thay áo tắm rửa, vào trong hang thi giải mà chết.
Phu nhân liền sanh một người con trai, tức Dương Hoán. Núi
Thạch thất ở tại làng Lật Sài, huyện Yên sơn, cao vút
xanh đẹp, mọc lên giữa một đám đất bằng. Ðộng đá
có in dấu đầu và dấu chân, hình như rồng lân, tục truyền
là nơi thi giải. Người làng cho đó là điềm lạ, bỏ thây
vào trong khám mà thờ. Mỗi năm đến ngày 7 tháng 3 là thắg
hội của một địa phương. Sau trong khoảng Vĩnh lạc, người
Minh đốt thây đó. Dân làng mới đắp tượng cùng thờ với
Thần Tôn, Trong khoảng Lê Quang Thuận, sai Nguyễn Ðức Trinh
đến cầu tự ở trong động thì điềm lạ là có một mảnh
đá bay tới. Bèn cung kính rước về dâng lên. Khi đã vậy,
Thái hậu Trường Lạc mộng thấy rồng vàng vào hông bên
phải mình, bèn sinh ra Hiến Tôn. Từ đó dấu thiêng càng hiện
rõ".
Rồi nó nhận xét thế này:
"Xét Dã sử thì Ðạo Hạnh là con của Từ Vinh, dòng dõi nổi
tiếng về pháp thuật, chẳng phải là một cao tăng. Việc
thi giải đầu thai của ông quái đản không thường. Cao tăng
minh tâm kiến tánh, tất không dùng pháp thuật mê hoặc mọi
người. Sách sử nên bỏ chuyện lạ lùng, chỉ ghi lại việc
thường, mà không nên đem chuyện thần quái mà mê hoặc đời".
Dẫu vậy, với dẫn chứng vừa đọc, ta cũng thấy Việt
sử tiêu án đã không quên bước chân theo Toàn thư và
Ðại
Việt sử lược để ghi lại những việc làm có vẻ quái
đản của Ðạo Hạnh. Chỉ Cương mục chính biên là
đã làm theo lời giáo huấn của Ngô Thời Sĩ, và từ đó
đã tự làm giảm giá trị của chính mình thôi.
52.Thiền sư TRÌ BÁT
(1) Việt sử tiêu án
1 tờ 101b2 nói Từ Ðạo Hạnh là "nhà Sư núi Thạch thất"
nhưng cứ truyện Ðạo Hạnh tờ 53b2 ở trên thì Hạnh sống
ở Phật tích. Vậy Phật tích đời Lý phải chăng là núi
Thạch thất thời Ngô Thời Sĩ, tác giả Việt sử tiêu
án. Ðây là một có thể vì dù Ðại nam nhất thống
chí, mục Sơn xuyên có ghi núi Phật tích ở huyện Yên
sơn đi chăng nữa thì ở mục Kiến trí diên cách nó lại
dẫn Ðại thanh nhất thống chí nói rằng núi Câu lậu ở
huyện Thạch thất, núi Phật tích cũng ở huyện Thạch thất".
Rồi nó bình luận: "Nay núi Phật tích ở huyện Yên sơn là
một huyện đời nào mới phân ra chưa rõ". Nhưthế ta có chứng
cứ mà nghĩ rằng núi Phật tích và núi Thạch thất là một.
Tuy nhiên, theo Ðại Việt
sử lược 3 tờ 31 b4 thì núi Phật tích ở Ngoại trại,
trong khi cứ truyện Trì Bát đây thì núi Thạch thất lại
ở Tân trại. Tân trại đương nhiên không phải là Ngoại
trại được. Từ đó núi Thạch thất không thể là núi Phật
tích, vấn đề này Ðại nam nhất thống chí, tỉnh Sơn
tây, mục Sơn xuyên, đã cung cấp sẵn một giải đáp. Nó
dẫn Lê chí đời Minh nói rằng: "Núi Phật tích là một danh
sơn trong 21 núi ở An nam, năm Hồng Vũ thứ 3 (1371) sai sứ
sang tế, lại vẽ hình nó mang về. Phía đông bắc núi độ
một dặm có sông Hát chạy vòng quanh. Phía tây nam độ hai
dặm có một khe nước nhỏ chảy khuất khúc hơn 10 dặm đổ
vào sông Tích. Núi chuyển hướng đông thuộc thôn Thiên phúc
làm núi Long đẩu, thuộc xã Sài khê thì làm núi Hoa phát,
làm núi Lộc, làm núi Long, đến xã Khánh tân thì làm núi
Hương, núi Mộng, núi Phụng Hoàng và thôn Ô cách, xã Cù Sơn
thì làm núi Lân, núi Tượng, lại chuyển hướng nam làm núi
Ma yên, thuộc thôn Trung, xã Cù Sơn làm núi Dương. Xã Quảng
động có núi Âm. Hai núi ấy đối ngọn nhau. Núi Dương không
có cỏ cây. Núi ÂM có cây rất tốt, nên có tên đó".
Cứ vào những mẫu tin vừa
dẫn của Lê chí thì núi Phật tích "chuyển hương đông đến
thôn Ô cách, xã Cù sơn thì làm núi Lân, núi Tượng, lại
chuyển nam thuộc thôn Trung, xã Cù Sơn là núi Dương". Xã Cù
Sơn nói đây chúng tôi nghĩ nó là phần đất làng Ðại cù,
mà truyện Trì Bát nói tới. Từ đó, núi Thạch thất nơi
có
ngôi chùa Tổ phong của Trì Bát phải là núi Lân, núi Tượng
ở thôn Ô cách, xã Cù sơn. Chúng tôi không kể đến ngọn
Dương sơn của xã này, bởi vì nó là một ngọn núi: "không
cây cỏ" thì khó lòng là nơi làm cảnh dựng chùa được.
Về núi Lân và núi Tượng, Ðại nam nhất thống chí,
tỉnh Sơn tây, mục Sơn xuyên, có nói về núi Phục tượng
như sau: "Núi Phục tượng tại huyện Yên sơn, nó từ Sài
sơn mà đến, một chi phía nách trái có núi Phụng hoàng và
núi Qui tích". Nó không nói gì đến núi Lân hết, thế cũng
có nghĩa núi Lân chắc không có gì đặc sắc cho lắm. Núi
Tượng như vậy cũng là núi Phục tượng. Và giống Phục
tượng là đến từ Sài sơn, thì núi Thạch thất, tức núi
Phục tượng, cùng là núi Phật tích, hay đúng hơn từ Phật
tích "mà tới".
Ðất Tân trại do đó phần
lớn gồm trong huyện Quốc oai, tỉnh Sơn tây ngày nay.
(2) Tức phần đất làng Khương
Tự và Ðại Tự huyện Thuận thành, tỉnh Hà bắc ngày nay.
Toàn
thư B4 tờ 19b1-20a1 viết: "Năm Thiên Tư Gia Thụy thứ 3
(1188) mùa hạ tháng 5 hạn. Vua thân hành đến chùa Pháp vân
của Luy lâu (Nguyên văn có Luy bà, Nhưng bà chắc chắn là
một viết sai của lâu, Lê Mạnh Thát chú) cầu mưa, nhân đó
rước tượng Phật Pháp vân về chùa Báo thiên". Cương
mục chính biên 5 tờ 23b3 cũng chép việc đấy, Nhưng không
ghi tên đất nơi có chùa Pháp vân. Mà chùa Pháp vân, ta đã
biết là ở hai xã Khương tự và Ðại tự ngày nay. Thì Luy
lâu tất cũng phải vậy.
(3) Tức Lý Thường Kiệt (1019-1105).
Kiệt được phong chức Thái úy năm 1075.
(4) Thiền sư Viên Quang, có
người hỏi: "Nếu không dính dáng đến chuyện đàn tràng
nữa thì Sư có tiếp chăng?" Sư trả lời: "Tô rô tô rô".
Tô rô tô rô hay nói cho đủ, tô rô tô rô tất rị là một
phiên câu chú chữ Phạn: surà-suràsrì nghĩa là: Sự vinh quang
của người anh hùng và không anh hùng.
53.Thiền sư THUẦN CHÂN
(1) Tây kết là một địa danh
lịch sử nổi tiếng. Bọn xâm lược đời Tống thời Lê
Hoàn đã đến đóng quân ở đó. Bọn xâm lược Nguyên Mông
dưới quyền chỉ huy của tên tướng khét tiếng tàn ác Ô
Mã Nhi cũng đến đóng quân ở đó. Tuy thế, Cương mục
chính biên 1 tờ 18a1 đã phải chú là "Tây kết thất tường".
Dẫu vậy, bây giờ cứ vào mô tả của Toàn thư 5 tờ
48a2-49b8 về những chiến thắng Hàm tử, Chương dương và
Tây kết, ta thấy đầu tháng 3 năm 1285 Toa Ðô đem 50 vạn
quân đến đóng ở Tây kết. Tháng 4 "vua sai Chiêu Thành Vương,
Hoài văn hầu Quốc Toản và tướng quân Nguyễn Khoái đem
tiệp binh đón đánh giặc ở đầu bến Tây kết. Quan quân
cùng với người Nguyên đánh nhau ở cửa Hàm tử, các quân
đều ở đó. Chỉ quân của Chiêu Văn Vương Nhật Duật là
có người Tống mặc áo người Tống cầm cung nỏ chiến đấu…Người
Nguyên thấy vậy, đều thất kinh nói: "Có người Tống đến
giúp", nhân đó thua chạy về Bắc. Ngày 10 có tiệp báo "Thượng
tướng Quang Khải, Hoài Văn Hầu Quốc Toản và Trần Thông,
Nguyễn Khả Lạp cùng em Nguyễn Phó đem dân binh các lộ đánh
bại giặc ở các nơi Kinh thành và Chương dương". Ngày 17
Toa Ðô cùng với Ô Mã Nhi từ biển mơi vào đến đánh sông
Thiên mạc. Ngày 22 vua tiến lên đóng ở bến Ðại mang, Tổng
quản Trương Hiển của quân Nguyên đến hàng. Ngày đó, đánh
bại giặc ở Tây kết, giết chết và làm bị thương rất
nhiều, chém đầu tên Nguyên soái Toa Ðô. Nửa đêm Ô Mã Nhi
trốn qua cửa sông Thanh hóa. Hai vua đuổi theo không kịp, bắt
dư đảng của y hơn 5 vạn mà trở về".
Cứ vào những diễn tiến của
chiến dịch Tây kết đây và cứ vào những chú thích của
Cương
mục chính biên 7 tờ 39b6 và 41b4 và vị trí của cửa Hàm
tử va bến Chương dương cùng việc thoát thân của Ô Mã
Nhi, thì Tây kết phải là một tên làng nằm trên bờ sông
Hồng tại huyện Ðông anh, tỉnh Hưng yên, tức huyện Khoái
châu, tỉnh Hải hưng ngày nay. Bắc thành địa dư chí lục
3 có ghi một tổng và xã tên Ðông kết thuộc huyện Ðông
yên của trấn Sơn nam hạ. Tây kết chắc nằm phía tây của
tổng xã đó, nhưng nó không ghi một tổng xã nào tên Tây
kết hết.
Chúng tôi nghi Tây kết có thể
nằm về hữu ngạn sông Hồng trên địa phận của huyện
Thượng phúc, tỉnh Hà đông trước đây, bởi vì cứ truyện
Thuần Chân ở đây thì làng Tây kết thuộc về Thượng nghi.
Thượng nghi này, chúng tôi nghi là tên thời Lý của châu Thượng
phúc thời Trần, tức huyện Thượng phúc đời Lê cho tới
ngày nay. Huyện này ở đúng về tây huyện Ðông yên. Mà huyện
Ðông yên, theo Ðại nam nhất thống chí, tỉnh Hưng yên,
mục Kiến trí diên cách, là huyện Ðông kết đời Trần và
thuộc Minh. Ðến đời Lê Quang Thuận mới đổi ra Ðông yên.
Khảo những tên tổng xã của huyện Thượng phúc trong Bắc
thành địa dư chí lục 3 không thấy có một tên nào có
thể điểm chỉ cho biết có một làng tên Tây kết ở huyện
đó. Vấn đề này cần được nghiên cứu thêm, đặc biệt
bằng nghiên cứu hiện địa.
(2) Tức huyện Văn Giang, tỉnh
Hưng yên ngày nay. Huyện Văn giang thời Nguyễn là thuộc tỉnh
Bắc ninh. Viết về lai lịch nó, Ðại nam nhất thống chí,
tỉnh Bắc ninh, mục Kiến trí diên cách nói: "Huyện Văn giang
đời Trần về trước gọi là Tế giang. Sử ky chép
Lữ Ðường chiếm cứ Tế giang, tức huyện đây đời thuộc
Minh do châu Gia lâm thống lĩnh thuộc phủ Bắc giang. Ðời
Lê Quang Thuận đổi thuộc phủ Thuận an. Sau đổi tên Văn
Giang. Năm Minh Mạng 13 (1832) triều ta đặt riêng phân phủ
kiêm lý huyện".
Ðại Việt sử lược
3 tờ 29a1 nói: "Tự Khánh dẫn quân đồn Cứu liên, chia tướng
sĩ đồn Cửu cao và Cửu ông để ngăn Nộn". Cửu ông ở
đây tức Cửu ông, quê của Thuần Chân.
(3) Pháp Bảo chùa Tịnh quang
này có thể là Pháp Bảo chùa Phúc diên tư thánh có hiệu
là Hải Chiếu đại sư, tác giả bài bia chùa Linh xứng viết
năm 1126 nổi tiếng hiện đã phát hiện được, và cũng là
tác giả một bài bia khác cho chùa Sùng nghiêm diên thánh viết
năm 1118, mà Lê Quí Ðôn đã phát hiện và ghi lại trong Kiến
văn tiểu lục 4 tờ 2a8, nhưng đã không chép lại toàn
văn bản bia.
(4) Nguyên văn: Long Phù nguyên
niên Ất dậu. Nhưng cứ Ðại Việt sử lược 2 tờ
19b1 và 20a5 và Toàn thư B3 tờ 13b6-14b5 thì không có năm
nào Long Phù nguyên niên mà lại Ất dậu hết. Long Phù ngũ
niên thì phải là Tân tỵ, còn Ất dậu thì phải là Long Phù
nguyên niên. Chúng tôi nghĩ, chữ nguyên trong Long Phù nguyên
niên ở đây là một chép sai của chữ ngũ, bởi chữ ngũ
và chữ nguyên dễ viết lộn nhau lắm, và bởi Long Phù ngũ
niên thì quả đúng năm Ất dậu. Như vậy, nămmất của Thuần
Chân chính là năm Long Phù thứ năm Ất dậu.
54. TĂNG THỐNG HUỆ SINH
(1) Bắc thành địa dư chí
lục 3 có ghi một xã của tổng Nam phù liệt, huyện Thanh
trì, trấn Sơn nam thượng tên Ðông phù liệt. Làng Ðông phù
liệt như vậy ở vào huyện Thanh trì, tỉnh Hà đông ngày
nay.
(2) Vũ an là tên một châu huyện
thời Ðường. Tân đường thư 43 thượng tờ 11a11 nói châu
Vũ an có hai huyện là Vũ an và Lâm giang. Ðến thời Ngô Quyền,
tên ấy vẫn dùng, bởi vì truyện của Phạm Cự Lượng trong
Việt
điện u linh tập tờ 20 nói ông nội của Lượng là Phạm
Chiêm từng giữ chức Châu mục châu Vũ an. Ðến thời Lý,
tên Vũ an đang lưu hành. Nhưng Vũ an nằm ở địa phận nào
thì đấy là cả một vấn đề. Cứ truyện Huệ Sinh đây
thì tại Vũ an có Trà sơn. Trà sơn nay chắc chắn là tên làng,
chứ không phải là tên ngọn núi, như sẽ nhìn thấy dưới
chú thích (4) sau đây. Khảo Bắc thành địa dư chí lục
2 có ghi một xã thuộc tổng Dưỡng Chân, huyện Thủy đường,
trấn Hải Dương tên Trà sơn. Chúng tôi nghi Trà sơn quê của
Huệ sinh tức làng Trà sơn này. Nếu vậy, đất châu Vũ an
đời Lý tất phải bao gồm đất huyện Thủy đường đời
Nguyễn, tức huyện Thủy nguyên, tỉnh Kiến An ngày nay.
(3) Chùa Hạc lâm này nghi là
đền Hạc lâm truyện Vạn Hạnh tờ 53a7 nói tới trong bài
thơ ghi giới hạn ngôi mộ của Hiển Khánh đại vương:
Ðông hữu Vũ long hạng
Nam hữu Vũ long pha
Tây hữu Hạc lân quán
Bắc hữu Trấn hải trì.
Nếu vậy chùa này ở phía tây
ngôi mộ tại làng Ðình bảng?.
(4) Tức núi Nguyệt thường
hay núi Bạch sắc ở huyện Tiên du tỉnh Bắc ninh. Ðại
nam nhất thống chí, tỉnh Bắc ninh, mục Sơn xuyên nói:
"Núi Nguyệt thường, tại phía tây nam huyện Tiên du ba dặm,
một tên là núi Bạch sắc, cũng gọi là núi Trà. Tương truyền
Lý Thánh Tôn đến chơi núi đó và cho tên Nguyệt thường.
Núi hơi cao, đá đất lẫn lộn. Trên núi có liễu, dưới
núi có đền Cao sơn. Năm Tự Ðức thứ 3 (1850) triều ta liệt
vào hạng danh sơn, chép vào sách cúng".
Núi này hiện có đỉnh Bồ
Ðề không, chưa thể biết được.
(5) Ðại sĩ là một tên gọi
khác các vị Bồ tát. Xem Ðại trí độ luận. Nó đôi khi
cũng để gọi Phật, như trong Kim quang minh kinh Tứ nghi tập
giải quyển thượng nói: "Ðại sĩ, đại là không phải nhỏ,
sĩ là việc, vì vận dụng được lòng rộng lớn làm nên
việc Phật nên gọi Ðạisĩ, cũng gọi Thượng sĩ". Du già
sư địa luận xác định rõ hơn nội dung của từ Thượng
sĩ thế này: "Người làm không lợi mình mà lợi người, ấy
là hạ sĩ, làm lợi mình không lợi người, gọi là trung sĩ,
làm lợi cả mình lẫn lợi người gọi là thượng sĩ". Nội
dung của từ Ðại sĩ cũng thế.
Ðại sĩ nhục thân như vậy,
có nghĩa vị Bồ Tát hay Phật bằng xương thịt.
(6) Trang tử, "Liệt ngự khấu":
"Hoặc sinh ư Trang tử, Trang Tử ứng kỳ sử viết: "Tử kiến
phù hy ngưu hồ? Y dĩ văn tú, thực dĩ sồ thúc, cập kỳ khiên
nhi nhập thái miếu, tuy dục vi cô độc, kỳ khả đắc hồ".
Xem Trang tử 10 tờ 12a12b1.
(7) Ðại tống tăng sử lược
quyển hạ tờ 250a 4-10: "Nội cung phụng là chức quan trao cho
thầy tu. Từ khi Ðường Túc Tôn nhóm binh ở Linh Vũ vào năm
Chí đức thứ nhất (756), rồi trở về Phú phong, sư Nguyên
Hạo nhận được khẩu sắc, đặt đạo tràng Dược sư, vua
sai những người đi theo xa giá đến để cầu công nghiệm.
Tới chùa Khai nguyên, phủ Phụng dương, đạo tràng Dược
sư có ba nhóm, mỗi nhóm bảy người, sáu thời hành đạo.
Bấy giờ trong đạo tràng bỗng mọc lên một cây mận. Sư
phụng mệnh kiểm xem hư thực thời cây mận có 49 cành. Nguyên
Hạo dâng biểu mừng. Vua phê đáp: "Cây mận lành sum xuê,
đó là điềm nước thịnh, mà nó lại mọc trong già lam thì
biết mặt trời Phật pháp đang nổi lên trở lại. Cảm được
cái điềm lành đặc biệt này, trẫm xin chia vui với Sư".
Lý Nhượng Quốc lại đọc sắc nói: "Sắc sư Nguyên hạo
là nội cung phụng". Ðặt ra chức Nội cung phụng đây, như
vậy là bắt đầu với Nguyên Hạo. Sau Hạo có Tử Lân là
người tuyền châu kế tiếp. Ðến thời Hiến Tôn thì Ðoan
Phổ, Hạo Nguyên và Hoàn Bạch nối nhau giữ chức. Qua tới
thời Chu, Lương, Hậu Ðường, Tấn, Hán, Chu và Ðại Tống
ta thì chức đấy không còn nghe tới nữa".
Ðấy là lai lịch chức Nội
cung phụng tăng ở Trung Quốc. Ở nước ta, chức này được
phong cho một pháp sư tên Ðịnh sống vào những năm 800, mà
Dương Cự Nguyên đã làm bài thơ tặng nhan đề: "Cung phụng
định pháp sư quy An nam". Xem Toàn đường thi 333 tờ 3722. Ðến
đời Lê Ðại Hành có Nguyễn Kha làm Nội cung phụng đô úy.
(8) Tức Phụng Càn vương, tước
do Lý Thái Tôn phong cho con mình là Lý Nhật Trưng vào năm 1035.
Xem Ðại Việt sử lược 2 tờ 6a8 và Toàn thư B2
tờ 23a5.
(9) Có lẽ là Vũ Uy. Năm 1009,
khi mới lên ngôi, Lý Công Uẩn phong cho anh mình là Vũ Uy Vương.
Xem Ðại Việt sử lược 2 tờ 2b3 và Toàn thư B1
tờ 34b5.Nhưng Vũ Uy đây không phải là Vũ Uy Vương,mà là
Vũ Uy Hầu, con của Lý Thái Tôn và em của Phụng Càn Vương.
Ðại
Việt sử lược 2 tờ 8a4 có ghi một Vũ Uy Hầu đã cùng
với Quách Thịnh Dật đi đánh Nùng Trí Cao vào năm 1048, mà
những sử khác không ghi. Vũ Uy Hầu này là Vũ Uy của chúng
ta ở đây.
Về tước Thái tử, thì các
sử ta đều nói trừ con trưởng ra, các con khác của các vua
đời Lý đều phong Hầu. Nhưng cứ Lĩnh ngoại đại đáp,
thì các con vua đời Lý đều được phong thái tử hết. Những
Thái Tử Vũ Uy, Hỷ Từ v.v…chắc đều là con của Lý Thái
Tôn.
(10) Có lẽ là Vương Hành,
người giữ chức hữu thanh đạo, do Lý Thánh Tôn phong lúc
mới lên ngôi vào năm 1054, mà Ðại Việt sử lược
2 tờ 10a5 nói tới, còn các sử khác không thấy có. Chữ Hành
rất dễ viết lên thành chữ Cường.
(11) Lúc mới lên ngôi vào năm
1028, Lý Thái Tôn "lấy Lương Nhiệm Văn làm Thái sư (…) Ðào
Xử Trung làm Thái bảo…Kiều Bỗng làm Hữu tham tri chính
sự. Xem Ðại Việt sử lược 2 tờ 5a3-5 và Toàn thư
B2
tờ 16a7-9.
(12) Về sự liên hệ giữa
Huệ Sinh và Lý Thánh Tôn, Báo Cực truyện do Việt điện
u linh tập tờ 30-31 dẫn lại trong truyện Ứng thiên hóa
dục nguyên trung hậu thổ địa kỳ nguyên quân có viết rằng:
"Xưa Lý Thánh Tôn nam chinh Chiêm
thành, đến cửa Hoàn bỗng bị gió lớn mưa to, sóng nước
cuộn lên, thuyền vua tròng trành muốn lật, nguy cấp xảy
ra không thể lường được. Vua rất lo sơ. Trong lúc bàng hoàng,
vua bỗng thấy một người con gái, tuổi ước trên dưới
hai mươi, mặt tựa hoa đào, mày đượm dương liễu, mắt
sáng như sao, cười như hoa nở, mình mặc áo trắng quần lục,
nai nịt gọn gàng, đi thẳng đến trước Vua, nói rằng: "Thiếp
là tinh của đại địa Nam quốc, sống nhờ ở làng Thủy
vân đã lâu, xem thời mà ra, may gặp dịp tốt, hân hạnh được
thấy long nhan, thì sở nguyện bình sinh của thiếp thật đã
thỏa. Chỉ mong bệ hạ chuyến đi này thông suốt, hoàn toàn
thu hoạch thắng lợi. Thiếp tuy bồ liễu mong manh, cũng xin
đem sức mọn, lặng lẽ phò tá. Ðến ngày khải hoàn, thiếp
xin đợi ở đây để bái yết". Nói xong thì không thấy nữa.
Vua tỉnh dậy kinh hãi nhưng
vui, cho mời tả hữu, kể hết những gì đã thấy trong mộng.
Tăng thống Lâm Huệ Sinh nói : "Thần nói thác sinh vào một
cây ở tại làng Thủy vân. Nay nên tìm thần cây đó, có thể
có linh nghiệm". Vua đồng ý, sai tùy tùng đi tìm ở bãi và
bờ sông thì được một cây gỗ, đầu rất giống hình người
qua dạng người đã thấy trong mộng. Vua bèn đặt hiệu là
Hậu Thổ phu nhân. Sai đặt hương án ở trong ngự thuyền.
Giây lát, sóng gió lặng im, cây cối hết động. Tới khi qua
đến Chiêm thành xáp trận thì giống như có sức thần giúp.
Trận đó quả đại thắng.
Ðến ngày khải hoàn, thuyền
vua đến đậu lại chỗ cũ, ra lệnh xây miếu, thì mưa gió
lại nổi lên lại như xưa. Lâm Huệ (Sinh) tâu rằng: "Ðể
xin một keo có phải muốn về kinh sư chăng". Thì quả được.
Mưa gió lại im lặng. Ðến khi về tới kinh sư, vua chọn đất
dựng miếu tại làng An lãng, rất nổi tiếng linh dị. Có
kẻ bài báng chú trở thì liền bị tai họa…
Ðấy là chuyện Lâm Huệ Sinh
tùng chinh Chiêm thành với Lý Thánh Tôn nguyên bản chép tay
viết Huệ Lâm Sinh hay Huệ Lâm, nhưng đó rõ ràng là chép
ngược và thiếu cái tên của Huệ Sinh họ Lâm. Suốt đời
mình Lý Thánh Tôn chỉ đi đánh Chiêm thành có một lần, ấy
là vào năm 1069, nhưng như sẽ thấy, Huệ Sinh theo Thiền
uyển tập anh thì mất vào năm 1063 hay 1064. Vậy làm sao
lại có thể tùng chinh? Xem chú thích tiếp theo.
(13) Nguyên văn: Gia Khánh ngũ
niên Giáp thìn. Nhưng cứ Ðại Việt sử lược 2 và
Toàn
thư B3 thì Chương Thánh Gia Khánh ngũ niên phải là Quý
mão, chứ không phải Giáp thìn. Nếu Giáp thìn thì phải là
Chương Thánh Gia Khánh lục niên (1064). Chữ ngũ và chữ lục
cũng rất dễ lẫn. Vậy Huệ Sinh mất năm 1064? Nhưng như thế
làm sao Huệ Sinh có thể tùng chinh Chiêm thành với Lý Thánh
Tôn trong cuộc chinh phạt xảy ra vào năm 1069. Phải chăng Huệ
Sinh đã tùng chinh với Lý Thái Tôn trong cuộc chinh phạt năm
1044, mà Việt điện u linh tập viết lộn thành Lý Thánh
Tôn? Chúng tôi nghĩ đấy là một có thể, nhất là khi vấn
đề truyền bản của Việt điện u linh tập đưa nhiều
điểm khá nghi ngờ, mà những cái tên Huệ Lâm Sinh và Huệ
Lâm là những thí dụ. Tuy nhiên không nhất thiết loại bỏ
những sai lầm niên đại có thể do sự truyền bản của Thiền
uyển tập anh tạo ra, mà trường hợp Khánh Hỷ và Pháp
Dung là những thí dụ.
(14) Công án thiền. Thiền sư
Vô Trước nói chuyện với Văn Thù trên Ngũ Ðài Sơn. Vô trước
hỏi về sinh hoạt của các nhà sư ở đấy và con số của
nó. Văn Thù trả lời: "Trước ba ba, sau ba ba" (Tiền tam tam,
hậu tam tam). Xem Bích nham lục 4 tờ 173b29-174a7.
(15) Ðiển Thiện tài đi học
đạo, được Văn Thù chỉ đi hướng nam tham học với 53 vị
thiện tri thức, mà từ Phật học Trung Quốc thường gọi
"Thiện Tài đồng tử ngũ thập tam tham", trong kinh Hoa nghiêm.
Xem Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh 62.
(16) Ðại Việt sử lược
2 tờ 11a1 và Toàn thư B3 tờ 2a3-4 nói: "Năm Long Thụy
Thái Bình thứ tư (1057) mùa đông tháng 12 dựng chùa Thiên
phúc và chùa Thiên thọ, dùng vàng ròng đúc tượng Phạm Vương,
Ðế Thích hai pho để thờ". Toàn thư còn chua thêm: "Ðó
là nơi đời Trần làm lễ yết chùa".
(17) Ðại Việt sử lược
2 tờ 11a8 nói: "Năm Long Thụy Thái Bình thứ sáu (1059) dựng
chùa Sùng nghiêm báo đức ở châu Vũ ninh". Vậy thì, chùa
Diệu nghiêm báo đức ở truyện Huệ Sinh đây tức chùa Sùng
nghiêm báo đức. Chữ Diệu có thể là viết sai của chữ
Sùng, hay ngược lại. Chúng ta ngày nay chưa có nghiên cứu
hiện địa để xác định đâu là đúng. Chùa Sùng nghiêm
báo đức này cũng gọi tắt là chùa Báo đức và là nơi tu
hành của Ðại Xả. Xem truyện Ðại Xả ở trước.
(18) Nghệ văn chí và Văn tịch
chí đều ghi: "Pháp sự trai nghi một quyển, Sư Huệ Sinh soạn,
người Ðông phù liệt, huyện Thanh trì". Còn Chư đạo tràng
khánh tán văn không thấy sách nào ghi tới cả. Ta không hiểu
Lê Quý Ðôn đã dựa vào tiêu chuẩn gì để ghi hay không ghi
một cuốn sách.
55. THIỀN SƯ THIỀN NHAM
(1) Chùa Trí quả hiện nay
ở làng Phương quan trên hữu ngạn sông Dâu đối diện với
làng Văn quan. Chùa đấy là nơi thờ Pháp Ðiện, một trong
Tứ pháp. Nếu cứ vào địa điểm làng này, thì vị trí làng
Cổ châu thời Lý không phải chỉ gồm có làng Khương tự
và Ðại tự mà thôi. Trái lại, nó phải bao gồm phần lớn
những làng xung quanh hai làng đấy, mà chính yếu là những
làng Lũng khê, Thanh tương, Văn quan, Phương quan và Công hà.
Vì chùa Trí quả là chùa làng
mình, nên Thiền Nham đúng ra là người Phương quan, tức người
làng Dâu ngày nay. Ta không biết làng này hiện còn ai họ Khương
không?
(2) Phạn bối, tức một thứ
ca hát tán tụng dùng một số nốt giới hạn nào đó của
âm nhạc Ấn độ, sau này trở thành lễ nhạc của Phật giáo
tại các xứ phương Ðông. Về ý nghĩa và nguồn gốc chữ
bối, xem chú thích (2) truyện Ma Ha.
(3) Trong khoảng Hội Phong (1092-1099)
không thấy sử ghi một cuộc điện thí nào. Nhưng truyện
Viên Thông tờ 68b9-10 ghi một cuộc thi Tam giáo xảy ra vào
năm Hội Phong thứ 6 (1097), mà Viên Thông đỗ hạng đầu.
Như thế, Thiền Nham và Viên Thông rất có thể là hai người
đồng khoa.
(4) Chùa Thành đạo nghi là
chùa Thành đạo hiện ở tại làng Ðông cốc, huyện Thuận
thành, tỉnh Bắc ninh ngày nay, nơi có thờ Pháp Vũ, một trong
Tứ pháp, bởi vì chùa Trí quả, nơi trú trì của Thiền Nham
là nơi thờ Pháp Ðiện, thì tất Nham phải có một liên hệ
nào đó với các chùa có thờ Tứ Pháp khác. Tuy nhiên, tại
làng Văn giáp, huyện Thượng phúc, tỉnh Hà đông cũng có
chùa Thành đạo và chùa đấy cũng thờ Pháp Vũ. Dẫu thế,
chúng tôi vẫn nghĩ, chùa Thành đạo của Pháp Y tức chùa
Thành đạo tại làng Ðông cốc.
(5) Trong khoảng Ðại Thuận,
Ðại
Việt sử lược 3 tờ 1b7-8 chỉ viết: "Ðại Thuận năm
thứ 3 (1130) tháng 6 hạn, cầu thì mưa. Nhưng theo Toàn thư
B3 thì trong khoảng Thiên Thuận từ năm 1128 đến 1132 không
năm nào là không có hạn nên Việt sử tiêu án 1 tờ
110a6, khi nhận xét về biện pháp chống hạn của triều Lý
Thần Tôn, đã phải nói: "Xét trong khoảng 10 năm (trị vì
của Thần Tôn) thì không năm nào là không có hạn".
(6) An nam chí nguyên 3
tờ 210 viết: "Thiền sư Thiền Nham là vị sư huyện Siêu loại,
giới hạnh tinh nghiêm, ăn lá cây, uống nước suối, xác chết
rồi vẫn còn tươi như khi sống. Người bấy giờ gọi là
Phật sống".
56. QUỐC SƯ MINH KHÔNG
(1)Tức đất huyện Yên khánh,
tỉnh Ninh bình ngày nay. Xem chú thích (2) truyện Tịnh Giới,
chùa Quốc thanh hiện chưa truy cứu được.
(2) Tức xã Ðàm xá, huyện
Gia viễn, tỉnh Ninh bình ngày nay. Ðại nam nhất thống chí,
tỉnh Ninh bình, mục Từ miếu, viết: "Ðền Nguyễn Minh Không
ở tại huyện Gia viễn, xưa hai xã Ðàm Xá và Ðiềm giang
cùng thờ. Thần người Ðàm xá, họ Nguyễn, tự Chí Thành.
Xét Sử ngoại truyện thì thầy đi du học và được tâm ấn
từ Ðạo Hạnh, hiệu là Thiền sư Minh Không, ở chùa Quốc
Thanh. Trong khoảng Hội Tường Ðại Khánh đời Lý Nhân Tôn,
Ðạo Hạnh khi sắp tạ thế, dặn Minh Không rằng: "Ta sẽ
ở ngôi nhân chủ, mắc bệnh khó tránh, ông nên cứu ta". Sau
Thần Tôn bị bịnh hóa thành hình cọp. Trẻ nít ca nói: "Muốn
chữa Lý cửu trùng, phải tìm Nguyễn Minh Không". Mời đến,
Không nói tiền duyên cho vua nghe. Vua giác ngộ, Minh Không nấu
dầu một trăm cân, lấy tay khuấy rửa cho vua. Bệnh lành,
phong làm Quốc sư, cho thuế vài trăm hộ. Ðến năm Ðại Ðịnh
thứ 2 (1141) đời Anh Tôn, Sư mất, thọ 76 tuổi. Người trong
ấp lập đền thờ. Trước đền có một cây đèn đá cao
độ một thước, tương truyền là đèn tụng kinh của Sư.
Ðền nổi tiếng là linh ứng. Nay các chùa ở Giao thủy và
Phổ lại đều đắp tượng Sư mà thờ".
(3) Những tình tiết diễn tiến
cho tới lúc này, nghi là một phụ hội, bởi vì năm năm trứơc
khi Minh Không đến chữa bệnh cho Thần tôn, tức năm Ðại
Thuận thứ 4 (1131), Toàn thư 3 tờ 36a9 đã ghi việc vua
"dựng nhà cho Ðại sư Minh Không". Như vậy, chắc chắn không
có chuyện Minh Không "về quê cày cấy 20 năm hay chuyện trẻ
nít phải hát và phải sai sứ đi khắp dân gian mới gặp Sư".
(4) Toàn thư B3 tờ 39a7-9:
"(Thiên Chương Bảo Tự) năm thứ 4 (1136) vua bệnh nặng, thuốc
men không bớt, thấy Minh Không chữa lành, phong làm Quốc sư,
cho thuế hộ vài trăm". Rồi chua tiếp: "Ðời truyền rằng
thầy Từ Ðạo Hạnh khi sắp thi giải, trong lúc bị bệnh,
đenm thuốc và chú giao cho đệ tử Nguyễn Chí Thành tức Minh
Không, nói rằng: "Hai mươi năm sau thấy Quốc Vương gặp bệnh
lạ thì đến chữa". Bởi nó bắt nguồn từ việc này vậy".
(5) Nguyên văn có Ðại Ðịnh
nhị niên Tân sửu. Nhưng cứ Toàn thư 4 tờ 1b8 và 2b8-9
thì Ðại Ðịnh nhị niên phải là năm Tân dậu, và tháng
8 mùa thu năm đấy Minh Không mất.
(6) Lĩnh nam trích quái
tờ 31-33 chép một tiểu sử của Minh Không hoàn toàn đồng
nhất với bản đây. Nhưng sau đó, nó lại ghi thêm một tiểu
sử hoàn toàn khác và nói là lấy từ Minh Không biệt truyện.
Truyện như sau: "Làng Giao thủy có chùa Không lộ, xưa có nhà
sư tên…trong khoảng Trị Bình (1064-1067) xuất gia trụ trì
chùa đó, nổi tiếng là đức hạnh. Một hôm, Minh Không từ
ngoài đi vào, nhà sư cùng phòng, tức Ðạo Hạnh núp trong
cửa nhảy ra, giả tiếng cọp để nhát Minh Không. Minh Không
cười nói: "Người tu hành mà muốn làm cọp sao? Ta sẽ cứu
ngươi".
Sau nhiều năm, nhà Sư ấy bỗng
chốc chết, hóa làm Quốc vương, chẳng bao lâu bỗng hoá ra
mọc lông, vùng vẫy gào thét, mặt giống như cọp, khắp tìm
thầy thuốc, thầy bói, nhà sư, đạo sĩ, nhưng đều bó tay.
Nghe Minh Không có pháp thuật, sai người chèo thuyền đến
mời. Minh Không lấy một chiếc om nhỏ, nấu cơm cho thủy
thủ ăn. Vị sứ giả cười nói: "Sợ khó đủ hết". Minh
Không trả lời: "Không phải, để cho họ ăn mỗi người một
ít, xem chút hậu tình của ta". Rồi thủy thủ bốn năm chục
người, ăn mãi mà không hết. Mọi người đều làm lạ. Ðến
chiều, họ sắp ra thuyền thì Sư lại bảo thủy thủ hãy
ngủ ngon một đêm, đợi sáng mai rạng đông, bần tăng gọi
dậy thì mới có thể bắt đầu ra thuyền. Nếu không thì
ta sẽ không đi. Sứ giả nài nỉ không được, bèn nằm yên
giả ngủ, thì chỉ nghe dưới thuyền tiếng gió thổi veo veo.
Lúc lâu mặt trời mọc, Sư gọi dây thì thuyền đã cập bến
ở kinh đô.
Minh Không bay lên trời mà vào
cung, đun nước tắm cho vua, lập tức lông rụng, thân thể
bình phục. Vua hỏi lý do. Sư đáp: "Người tu hành, nếu một
niệm mê thì sám hối là xong, không khó khăn gì hết". Lại
hỏi: "Sư làm sao có thần thông mà làm được như vậy?" Minh
Không trả lời: "Ðấy chẳng phải phép thuật gì hết. Thần
xưa có bệnh phong, phát ra thì không thấy, nên nhiều ít không
biết thì cái gì cũng trống, mình cứ tin mà bước đi, chẳng
phải thần thông gì thảy". Bèn lại đi bằng đường không
mà trở về, cho thưởng gì cũng không nhận, vua bèn ban hiệu
là Thần tăng để khen ngợi".
Tiểu truyện này của Minh Không,
tuy Lĩnh nam trích quái bảo là rút từ Minh Không biệt
truyện, nhưng chắc chắn là xuất phát từ truyện Minh Không
thần Dị trong Nam ông mộng lục, và nhất là bởi vì nó hoàn
toàn giống với truyện kể trong đó.
Việt sử tiêu án 1 tờ
108b7-109b9 cũng chép lại gần giống truyện trên và bảo là
từ Ngoại truyện. Nó viết: "Thế truyền Ðạo Hạnh khi sắp
thi giải, đem thuốc có làm phù chú, giao cho đệ tử Nguyễn
Chí Thành, tức Minh Không nói rằng: "Sau 20 năm quốc vương
có bệnh thì đem mà trị". Thuyết này xuất phát từ Lĩnh
nam trích quái. Lại xét Ngoại truyện thì cha Ðạo
Hạnh là Từ Vinh dùng pháp thuật nên bị sư Thái Ðiên giết.
Ðạo Hạnh nghĩ cách báo thù cha, đến tu đạo tại tịnh
xá Hương tích. Trên đường gặp Khổng Minh Không, bèn kết
làm bạn cùng đi đến chùa Vân mộng. Vị thầy dạy cho thần
thông quyết. Sau 3 năm, hai người giã từ trở về. Ðạo Hạnh
muốn thử thuật mình chơi, nấp vào một nơi hiểm, giả làm
con cọp để dọa Minh Không. Minh Không biết, trách Hạnh dùng
tà hạnh lại gồm có chú ngữ. Ðạo Hạnh hổ thẹn và hối
hận, đến tạ lỗi, vừa nói: "Nghiệp đời sau chưa trừ
hết, xin phiền giải thoát cho". Ðạo Hạnh về am, Minh Không
về Giao thủy. Sau đó nghe Ðạo Hạnh thi giải, MK cười, nói
rằng: "ông Hoà thượng ấy còn mê phú quý trần gian sao?".
Ðến lúc ấy, Thần Tôn bị bệnh kêu gầm, muốn biến thành
cọp. Thuốc chữa không chịu. Trẻ con hát rằng: "Muốn chữa
Lý cửu trùng, phải được Khổng Minh Không". Thái hậu nghe
được cho mời đến. Khi đã đến, bèn giảng chuyện nhân
quả đời trước cho vua. Vu abèn giác ngộ. Bệnh liền bớt.
Minh Không có nói kệ:
Kỳ lân đồ hậu mạc
Nguyệt vọng đáo trung thiên.