III.
VẤN ÐỀ SOẠN NIÊN VÀ TÊN TÁC GIẢ
Kể từ ngày Lê Quí Ðôn ghi
Thiền
uyển tập anh vào bản thư tịch đầu tiên của nước
ta hiện còn trong Ðại Việt thông sử 3 và nói: "Nó do người
đời Trần soạn, chép chuyện các cao tăng từ cuối đời
Ðường qua Ðinh, Lê, Lý, Trần", vấn đề soạn niên và tác
giả của nó vẫn chưa được giải quyết một cách ổn thỏa.
Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí 45 thì
chỉ bằng lòng chép lại những gì Ðôn đã viết. Ðến khi
Trần Văn Giáp phát hiện ra và giới thiệu nghiên cứu nó,
ông đã tiến thêm một bước tới việc đề nghị năm soạn,
nhưng với những lý cứ hết sức yếu kém, dẫn đến tình
trạng là đề nghị ấy dù đúng đắn, đã bị Gaspardone nghi
ngờ và bác bỏ. Thực tế, đề nghị ấy của Trần Văn Giáp
gồm hai bước. Bước thứ nhất, đề nghị
Thiền uyển
tập anh là một tác phẩm đời Trần, một điều ai cũng
biết từ thời Lê Quí Ðôn, nhưng chưa được chứng minh.
Ở bước này, ông chỉ trưng được hai chứng cớ duy nhất,
đó là: 1, Niên đại các vị Sư trong Thiền uyển tập anh
không sống quá năm 1228, và 2, Họ của viên sứ nhà Tống,
Lý Giác bị đổi thành Nguyễn trong truyện Khuông Việt.
Bây giờ chứng cớ thứ nhất,
Gaspardone đã dựa vào ghi chú trên của Lê Quí Ðôn, theo đấy,
Thiền
uyển tập anh chép truyện các cao tăng cho đến Lý, Trần,
mà ông hiểu là phải bao gồm cả truyện của những cao tăng
đời Trần nữa để vạch ra rằng, có thể tự nguyên ủy
Thiền
uyển tập anh có một quyển về các vị Thiền sư đời
Trần, nhưng "hình như bị Phúc Ðiền loại khỏi
Thiền
uyển tập anh". Ðương nhiên, kết luận ấy của Gaspardone
là không thể chấp nhận được, vì Gaspardone đã cứ vào
môt suy luận không thực, đấy là chuyện Phúc Ðiền loại
khỏi Thiền uyển tập anh một quyển các thiền sư đời
Trần, trong khi đó chưa bao giờ có một điểm chỉ nào hết
về sự hiện diện thực sự của một quyển như thế. Câu
ghi chú của Lê Quý Ðôn trong Nghệ văn chí, mà sau này Phan
Huy Chú lập lại, không nhất thiết cho phép ta giả thiết
sự hiện diện của một quyển như vậy, trái lại, nó chỉ
ghi lại một sự thực, ấy là một số Thiền sư trong Thiền
uyển tập anh đã sống qua tới thời Trần không phải
chỉ ở năm 1228 chậm nhất, mà còn ở những năm chậm hơn
nữa. Chẳng hạn, Tức Lự học trò của Thông Thiền và Ứng
Thuận, học trò của Tức Lự, Thiền uyển tập anh dầu
không cho ta biết năm mất, ta cũng có thể đoán phải mất
khoảng tối thiểu những năm 1230 cho đến 1250. Do thế, không
cần phải giả thiết một cách vô căn cứ sự có mặt của
một quyển viết về các Thiền sư đời Trần trong Thiền
uyển tập anh, như Gaspardone đã làm, ta cũng có thể vạch
ra một cách dễ dàng rằng năm 1228 không phải là năm chậm
nhất trong nó, và ta không thể dùng niên đại năm 1228 đó
để xác định năm viết ra nó.
Về chứng cớ thứ hai, việc
đổi tên Lý Giác thành Nguyễn Giác cũng không nhất thiết
cho phép ta kết luận Thiền uyển tập anh là một tác
phẩm đời Trần, bởi trong nó đang còn có một số người
mang tên họ Lý, mà rõ ràng nhất là Lý Thái Tổ ở truyện
Ða Bảo tờ 9b10, Lý Thái Tôn ở truyện Thiền Lão tờ 10b11,
Lý Linh Cảm thái hậu ở truyện Viên Chiếu tờ 11a10, Lý Nhân
Tôn cũng ở truyện Viên Chiếu tờ 15b9 v.v…Với những người
mang tên họ Lý còn nhiều như vậy, đương nhiên việc đổi
Lý Giác thành Nguyễn Giác tất không có một giá trị làm
chứng lịch sử nào cả.
Với hai dẫn chứng nhỏ vừa
nêu, Trần Văn Giáp dĩ nhiên không thể nào chứng minh được
sự ra đời của Thiền uyển tập anh vào thời Trần
và do đó không thể thuyết phục được ai chấp nhận một
thuyết như thế. Dẫu vậy, ông đã tiến thêm một bước
nữa, để đưa ra một niên đại cho sự ra đời đó, bằng
cách dựa vào một câu viết trong truyện Vô Ngôn Thông tờ
5a7, theo đấy "lại đến năm Ðinh sửu Khai hựu thứ 24, Thiền
học nước Việt ta bắt đầu từ Sư trở đi". Nhưng Gaspardone
đã vạch ra, câu ấy chứa đựng nhiều sai lầm và nghi vấn,
song Trần Văn Giáp đã bỏ lơ đi và không bàn tới. Ví dụ,
niên đại Khai Hựu đời Trần Hiền Tôn chỉ kéo dài 12 năm
thôi, chứ không có 24 năm hay 14 năm. Từ đó, nếu không giải
quyết những khó khăn bao vây câu ấy, ta không thể nào đề
nghị năm Khai Hựu Ðinh sửu là năm Thiền uyển tập anh
ra đời.
Phê bình những lý cứ trên
của Trần Văn Giáp, chúng tôi tất không nhằm đến cùng một
kết luện kiểu Gaspardone, đấy là than phiền về tình trạng
văn bản Thiền uyển tập anh đã bị thiếu sót và sửa
thêm ở bản in năm 1715 xưa nhất hiện còn. Dĩ nhiên, người
hiệu đính bản in năm đó đã có những sửa thêm, mà chú7ng
cớ rõ ràng nhất là họ các vị vua nhà Lý đã bị sửa thành
Lý, trong khhi đó đùng ra nó phải có Nguyễn, như trường
hợp Lý Giác bị đổi thành Nguyễn Giác, Lý Thường Kiệt
bị đổi thành Nguyễn Thường Kiệt. Dẫu vậy, một cuộc
nghiên cứu tỉ mỉ vẫn cho phép ta kết luện Thiền uyển
tập anh là một tác phẩm đời Trần và nó ra đời vào
chính năm 1337, tức năm Ðinh sửu Khai Hựu.
1.
THIỀN UYỂN TẬP ANH
LÀ
MỘT TÁC PHẨM ÐỜI TRẦN
Bộ sử xưa nhất của nước
ta hiện còn là Ðại Việt sử lược. Nó bị bọn xâm lược
Minh vơ vét đem về Trung quốc khoảng những năm 1407 – 1428,
trong khi đang chiếm đóng nước ta, nên những sử gia từ năm
sau 1428 trở đi không một ai biết đến nó cả. Ở Trung quốc,
Ðại Việt sử lược chuyền qua nhiều tay, để cuối cùng
tên tuần phủ tỉnh Sơn đông đã bắt gặp và dâng nó lên
cho vua Càn Long nhà Thanh khoảng năm 1776. Càn Long cho chép ra,
mà một bản tàng trữ tại Văn lan các ở Hàng Châu. Tiền
Hy Tộ đã dùng bản chép Văn lan các mà in nó ra trong Tùng
thư Thủ sơn các của mình, từ đó bộ sử xưa nhất của
ta mới trở nên phổ cập. Ðại Việt sử lược như vậy
là một sử liệu đời Trần chưa từng qua tay người nước
ta từ thế kỷ thứ 15 trở đi. Mặc dù ở Trung quốc, nó
không phải không bị những sử gia phong kiến Trung quốc sửa
đổi, như trước đây, có người đã lầm tưởng. Song sự
sửa đổi ấy, chúng tôi nghĩ phần lớn giới hạn vào những
việc và văn từ có xúc phạm tới danh dự và hệ ý thức
của những người lãnh đạo phong kiến Trung quốc mà thôi,
chứ không phải lan tràn đến những việc khác. Do thế, Ðại
Việt sử lược đã giữ lại một phần lớn bộ mặt lịch
sử của mình, lúc mới ra đời dưới thời Trần. Vì thế,
để chứng minh Thiền uyển tập anh là một tác phẩm
đời Trần ta thử truy cứu xem nó có chứa đựng những sử
kiện nào trùng hợp với Ðại Việt sử lược, mà không thấy
các sử liệu khác của ta ghi lại hay ghi khác đi. Thực hiện
một cuộc truy cứu như vậy, đã cung hiến cho ta những kết
quả sau:
(a). Truyện Khuông Việt tờ
8b9-10 nói: "Năm Thiên Phúc thứ nhất, quân Tống vào đánh
cướp". Truyện Vạn Hạnh tờ 52a1 – 2 viết: "Năm Thiên Phúc
thứ nhất, Hầu Nhân Bảo của nhà Tống đến đánh cứơp,
đóng quân ở Cương giáp, Lãng sơn". Việc Hầu Nhân Bảo đem
quân đến đánh nước ta, theo Thiền uyển tập anh như
vậy xảy ra vào năm Thiên phúc thứ nhất. Năm đấy, theo Ðại
Việt sử lược 1 tờ 19a8 cũng là năm Hầu Nhân Bảo đánh
vào nước ta và đóng quân ở Lãng sơn. Nó viết: "Năm Thiên
Phúc thứ nhất, mùa xuân tháng ba quân Hầu Nhân Bảo đến
Lãng sơn, Trần Khâm Tộ đến Tây Kết, Lưu Trừng đến Bạch
đằng giang". Trong khi đó, Toàn Thư B1 tờ 14a41 lại ghi việc
ấy xảy ra và năm Thiên Phúc thứ hai và tại Lạng sơn. Nó
viết: "Năm Thiên Phúc thứ hai mùa xuân tháng ba Hầu Nhân Bảo
và Tôn Toàn Hưng đến Lạng sơn, Trần Khâm Tộ đến Tây
kết, Lưu Trừng đến Bạh đằng giang".
(b). Truyện Viên Chiếu tờ
11a9 – 10 nói Viên Chiếu "họ Mai, tên Trực, là con người
anh bà Thái Hậu Linh Cảm nhà Lý". Trước đây, Hoàng Xuân
Hãn đã tưởng lầm thái hậu Linh Cảm là thái hậu Linh Nhân
nên đã hai lần viết "Sư Viên Chiếu cháu thái hậu Linh Nhân"
hay "Sư Viên Chiếu là con anh thái hậu Ỷ Lan" {Hoàng Xuân Hãn,
Lý Thường Kiệt, Saigon: Tu thư Ðại học Vạn Hạnh, 1966,
tr.422-432}. Thế thì, thái hậu Linh Cảm là ai? Củ soát lại
những tư liệu lịch sử nước ta thì không thấy một tài
liệu nào ghi tên thái hậu Linh Cảm cả. Nhưng Ðại Việt
sử lược 2 tờ 11a1 nói Lý Thánh Tôn lúc đã lên ngôi, "tôn
mẹ là Mai thị làm thái hậu Linh Cảm" vào năm Long Thụy Thái
Bình thứ nhất (1054). Như vậy thái hậu Linh Cảm họ Mai tức
là mẹ của Lý Thánh Tôn, chứ không phải là thái hậu Linh
Nhân vợ của Lý Thánh Tôn và mẹ của Nhân Tôn. Trong khi đó,
Toàn Thư B2 tờ 39b1 lại ghi mẹ của Lý Thánh Tôn là thái
hậu Kim Thiên". Nó viết: "tôn mẹ Mai Thị làm hoàng thái hậu
Kim Thiên". Ta thật không biết Toàn thư đã lấy tên Kim Thiên
đấy ra từ đâu.
(c). Truyện Ðại Xá tờ 29a
10-11 chép: "Kiến Ninh Vương và công chúa Thiên Cực tôn kính".
Một lần nữa, Kiến Ninh Vương, và công chúa Thiên Cực không
thấy các sử ta nói tới, trừ Ðại Việt sử lược. Về
Kiến Ninh Vương, Ðại Việt sử lược 3 tờ 11: 6-8 viết:
"Năm Trinh Phù thứ 10 (1185) mùa xuân, Kiến Ninh Vương Long Ích
đem quân hơn 12 ngàn người đi đánh Lào núi ở Linh sách để
trả thù trận La sách…". Kiến Ninh Vương như vậy theo Ðại
Việt sử lược là phong tước của Long Ích, con của Lý Anh
Tôn. Bây giờ theo Toàn thư B4 tờ 21a8 thì Long Ích, có tước
là Kiến Khương Vương. Nó viết "Năm Trinh Phù thứ 10 mùa
thu tháng 7, vua sai Kiến Khương Vương Long Ích đem quân đi
đánh các bọn mọi ở Viêm sách, bình định được".
Về công chúa Thiên Cực thì
Toàn thư không màng ghi lại ngay cả tên cô. Nhưng Ðại Việt
sử lược 3 lại ghi chép rất rõ cuộc đời đầy đào hoa
và sinh sát của cô công chúa này. Tờ 7a2-3 ghi việc cô lấy
Hoài Trung Hầu, Châu mục Lạng sơn làm chồng vào năm 1176.
Tờ 19b4-7 ghi chuyện cô thông dâm với Phạm Du, dẫn tới cái
chết của Du vào năm 1209. Rồi tờ 22a7-8 chép việc cô thông
dâm với Tô Trung Tự, làm cho Tự bị chồng cô là Vương Thượng
giết chết vào năm 1211. Cuối cùng tờ 24a1-2 ghi chuyện Ðinh
Cối đánh Lạng châu rồi lấy của cải ở nhà cô vào năm
1212.
(d). Truyện Tịnh Giới tờ
34a5-6 nói: "Năm Trinh phù thứ tư chùa Chân giáo núi Vạn bảo
làm thành, vua sai các bậc kỳ đức đến hội khánh thành".
Việc này Toàn thư và các sử sách khác không thấy ghi, trừ
Ðại Việt sử lược 3 tờ 9b9-10. Nó viết: "Năm Trinh Phù
thứ tư (1179) tháng năm, sửa thêm chùa Chân giáo, vua xuống
chiếu lấy chùa đó làm nơi hành hương vào ngày kỵ của
Anh Tôn".
(đ). Truyện Hiện Quang tờ
41b5 nói Quang "vì nhận sự cúng dường của công chúa Hoa Dương,
mà sự chê bai thời bấy giờ nổi lên như ong". Công chúa
Hoa Dương này, Toàn thư và các sách sử không thá6y nói tới
trừ Ðại Việt sử lược 3 tờ 10a11. Nó viết: "Năm Trinh
Phù thứ 5 (1180) mùa đông cho thủ lãnh châu Vị Long Hà Công
Phụ cưới công chúa Hoa Dương".
(e). Truyện Ðạo Hạnh tờ
55a6-56a3 kể chuyện Giác Hoàng bị phù phép của Ðạo Hạnh
làm chết và chuyện Hạnh bị vua bắt và Sùng Hiền giải
cứu. Chuyện này Ðại Việt sử lược 2 tờ 21a4-b5 chép hoàn
toàn giống hệt, hầu như không sai một chữ. Nhưng Toàn thư
và các sách sử khác không thấy nói đến, trừ truyện Ðạo
Hạnh trong Lĩnh nam trích quái truyện tờ 29, mà chúng tôi cho
là một trích dẫn trực tiếp và hoàn toàn từ Thiền uyển
tập anh chứ không gì khác. Có người dựa vào cách viết
chữ trích trong Lĩnh nam trích quái truyện để nói rằng tất
cả những truyện trong tác phẩm ấy là do chính tác giả chúng
viết. Song thực sự là, tối thiểu bốn truyện trong chúng
đã hoàn toàn đồng nhất với bốn truyện trong Thiền uyển
tập anh. Mà Thiền uyển tập anh lại viết vào khoảng
năm 1337, như sẽ thấy, và Lĩnh nam trích quái thì không thể
viết trước năm 1346, vì đấy là năm xảy ra truyện Hà Ô
Lôi do nó chép lại. Từ đó, ta phải kết luận rằng Lĩnh
nam trích quái quả đã trích bốn truyện vừa nêu từ chính
Thiền
uyển tập anh. Sự đồng nhất không những về cốt truyện
mà còn về văn tự và ngữ cú không cho phép ta giả thiết
nó đã trích dẫn bốn truyện ấy từ một nơi nào khác được,
ngay cả từ những nguồn sử liệu của Thiền uyển tập
anh.
(g). Truyện Thiền Nham tờ 59a8
viết: "Trong khoảng Ðại Thuận, có hạn, vua xuống chiếu
mời sư đến kinh cầu mưa". Truyện Giới Không tờ 62b8 cũng
ghi một nạn dịch lớn xảy ra vào năm Ðại Thuận thứ 8.
Chữ thứ 8, chúng tôi nghi là một viết sai của chữ thứ
hai, tức chữ bát là một viết sai của chữ nhị, một điều
tương đối dễ xảy ra, nhưng vì cả Ðại Việt sử lược
lẫn Toàn thư, không thấy sách nào ghi một vụ dịch xảy
ra vào khoảng Ðại Thuận cả nên chúng tôi đề nghị giả
thiết vừa nêu. Truyện Viên Thông tờ 69a5 viết: "Năm Ðại
Thuận thứ 3 (1130) Lý Thần Tôn mời Thông vào điện Sùng
Khai.
Niên hiệu Ðại Thuận đây
của Lý Thần Tôn chỉ xuất hiện trong Ðại Việt sử lược
3 tờ 1a7-b11 mà thôi, kéo dài từ năm Mậu thân (1128) đến
năm Nhâm tý (1132). Còn Toàn thư B3 tờ 28b2-37a4 thì có niên
hiệu Thiên Thuận, các sách sử khác của ta đều chép theo
Toàn thư.
(h). Truyện Bản Tịch tờ 60b9
nói: "Tịch mất vào ngày 14 tháng 6 mùa hè năm Kỷ Mùi Thiệu
Minh thứ 3" (1139). Theo Toàn thư B4 tờ 1a7 và các sử sách khác
thì năm Kỷ mùi phải là năm Thiệu Minh thứ 2, còn năm Thiệu
Minh thứ 3 phải là năm Canh Thân. Nhưng Ðại Việt sử lược
3 tờ 3a2 ghi năm Kỷ mùi đúng là năm Thiệu Minh thứ 3 đời
Lý Anh Tôn.
(i). Truyện Viên Thông tờ 68b10
nói: "Năm Long Phù Nguyên Hóa thứ 8, thăng Thông làm Thiên hạ
hoằng tài, điền vào chân thiếu người trong giai tăng đạo",
dù trước đó chuyện Thuần Chân tờ 57a10 nói Chân mất vào
"ngày 7 tháng hai năm Ất dậu Long Phù thứ nhất". Long Phù
Nguyên Hóa là một niên hiệu của Lý Nhân Tôn kéo dài từ
năm Tân tỵ (1101) đến năm Kỷ sửu (1109) gồm cả thảy 9
năm. Ðại Việt sử lược 2 tờ 19a1 – 20b6 đã ghi niên hiệu
ấy đúng tên như vậy, trong khi Toàn thư B3 tờ 13b6 – 15b5
và các sử sách khác của ta đều chỉ ghi tên Long Phù mà
thôi. Trước truyện Viên Thông, truyện của Thuần Chân ở
tờ 57a10 nói Chân mất vào năm "Long Phù nguyên niên Ất dậu".
Nhưng khảo Toàn thư B3 tờ 13b6 thì Long Phù nguyên niên không
phải là năm Ất dậu mà là năm Tân tỵ. Trái lại, năm Ất
dậu phải là năm Long Phù ngũ niên. Do thế, chúng tôi nghĩ
rằng chữ niên trong Long Phù nguyên niên là một hiệu đính
sai hay khắc sai của chữ Hóa. Từ đó, đúng ra ta phải đọc
Long Phù Nguyên Hoá Ất dậu, chứ không phải Long Phù nguyên
niên Ất dậu.
Như vậy có cả thảy chín
sự kiện trùng hợp giữa Thiền uyển tập anh và Ðại
Việt sử lược. Và như đã nói, cuốn Ðại Việt sử lược
cho đến thế kỷ 20 này các sử gia ta mới biết tới và sử
dụng, chứ trước đó trở lên tối thiểu tới lúc Ngô Sĩ
Liên hoàn thành bộ Ðại Việt sử ký toàn thư của ông vào
năm 1479, nó hoàn toàn không bao giờ được nhắc đến. Do
thế, bằng chín sự trùng hợp đó, chúng ta bắt buộc phải
kết luận, trừ phi tác giả Thiền uyển tập anh sống
cùng thời với tác giả Ðại Việt sử lược mới có thể
ghi lại chín sử kiện có sự trùng hợp ở trên. Nói cách
khác, Thiền uyển tập anh đã có cơ hội sử dụng cùng
những thứ tài liệu mà tác giả Ðại Việt sử lược đã
dùng, liên quan tới những sự việc lịch sử khác, mà ngày
nay ta hiện chưa có thể truy ra nơi xuất xứ, nhưng chắc chắn
là những việc có thật. Ví dụ truyện Tịnh Không tờ 28a3
ghi lại tên công chúa Nam Khương đi xuất gia, song ta hiện
chưa biết công chúa Nam Khương đó là ai. Hay truyện Bản Tịch
tờ 60b3 nói Tịch là hậu duệ của Nội cung phụng đô úy
Nguyễn Kha triều Tiền Lê v.v…Thêm vào đó, tác giả Thiền
uyển tập anh ở những truyện Tịnh Giới tờ 34b7, Vạn
Hạnh tờ 53a8, Khánh Hỷ tờ 62a11 đều nói tới chuyện so
với Quốc sử hay Sử ký. Nhưng ngày nay phần nhiều những
chi tiết chép trong các chuyện đó ta không thể so sánh hay
tra cứu lại đầy đủ trong các bộ sử của nước ta hiện
còn, tức Ðại Việt sử lược và Toàn thư. Bằng chính chín
chứng cớ trùng hợp trên, Thiền uyển tập anh chắc
chắn phải là một tác phẩm đời Trần không thể nào chối
cãi khác được.
Ðấy là chưa kể nnhững kỵ
huý của các vua đầu đời Trần đã thấy xuất hiện trong
Thiền
uyển tập anh một cách nhất loạt, nhưng không được
đồng đều và dứt khoát cho lắm, mà Trần Văn Giáp và Hoàng
Xuân Hãn đã có dịp vạch ra. Chủ yếu và rõ rệt nhất là
những miếu huý sau. Thứ nhất là chữ Lý. Vì nguyên tổ của
nhà Trần tên Lý, "nên dời triều Lý ra triều Nguyễn để
tuyệt lòng mong họ Lý của dân", như Toàn thư B5 tờ 7b6-7
ghi lại cái lệnh ban quốc húy vào năm Kiến Trung thứ 8 (1232).
Trong Thiền uyển tập anh, tên của Lý Giác ở truyện
Khuông Việt tờ 9a1, của Lý Thường Kiệt ở truyện Chân
Không tờ 65a10 bị đổi thành Nguyễn Giác và Nguyễn Thường
Kiệt, dẫu rằng tên các vị vua họ Lý hoàn toàn đã bị
một bản in trước bản in năm 1715 hay chính bản in đấy đổi
thành họ Lý như cũ, như chúng tôi đã vạch ở trên. Sự
không đồng đều và dứt khoát của bằng chứng húy kỵ nằm
chính tại những trường hợp hàm hồ như vậy. Tiếp đến
là chữ Càn. Toàn thư B6 tờ 30a2-3, trong khi ghi chuyện Trần
Anh Tôn đi đánh Chiêm Thành, đóng quân lại ở cửa Cần vào
năm 1312, có chua "Cửa Cần nó trước gọi là Cần, vì tránh
huý nên đổi làm Càn". Chữ Càn như thế là một miếu huý
của nhà Trần, dẫu ta không biết thuộc tên ai. Trong Thiền
uyển tập anh, vì tránh miếu húy ấy, nên tên Phụng Càn
Vương ở truyện Huệ Sinh tờ 58b2 và truyện Diệu Nhân tờ
66b9 bị đổi thành Phụng Yết Vương, núi Càn ni ở truyện
Pháp Dung tờ 63a7 bị đổi thành núi Ma ni. Ngay cả cái tên
Pháp Dung, nếu cứ theo bia chùa Hương Nghiêm viết vào năm
1124 thì phải gọi là Ðạo Dung, nhưng, như Hoàng Xuân Hãn
đã vạch ra một cách hợp lý chữ Ðạo bị đổi thành chữ
Pháp, vì huý kỵ của Trần Hưng Ðạo. Ngoài ba chữ miếu
huý vừa nêu, có thể còn một số miếu húy khác nữa đã
làm những tên người và tên đất trong Thiền uyển tập
anh thay đổi. Chẳng hạn, chữ Diệu trong tên của Diệu
Nhân trong truyện Chân Không tờ 66a6 ghi thành Mậu, để tránh
tên riêng của mẹ Trần Thái Tôn là Lê thị Diệu, như Toàn
thư B6 tờ 1a9 đã chép.
Dẫu thế, với những kỵ huý
ấy, dù tự bản chát chúng là có giá trị không đồng đều
và dứt khoát, nên những ai dựa vào chúng để lập luận
về niên đại của Thiền uyển tập anh tất không thể
không phạm những sai lầm nghiêm trọng, ta vẫn có thể nói
rằng chúng đã giúp soi sáng chín bằng cớ nêu trước, cũng
như chín bằng cớ đó giúp chúng bây giờ hết có tính chất
không đồng đều và không dứt khoát. Vấn đề Thiền uyển
tập anh là một tác phẩm đời Trần, đến đây, như vậy
không còn cần phải bàn cãi nữa. Thiền uyển tập anh dứt
khoát là một tác phẩm đời Trần. Nếu thế, ta có thể biết
nó viết vào năm nào không?
[LINKS]
[PHẬT GIÁO THẾ GIỚI]
[NHẠC PHẬT GIÁO] [PHÁP
THOẠI] [CHÙA VIỆT NAM]
E-MAIL:banbientap@thuvienhoasen.org