PHẦN
I
Nghiên
Cứu Về Thiền Uyển Tập Anh
Trong công
tác nghiên cứu lịch sử dân tộc ta, vấn đề khai thác những
tư liệu phản ảnh quan điểm và lập trường đấu tranh của
dân tộc ta là cần thiết. Và việc đó càng trở nên cần
thiết và quan trọng hơn nữa, khi ta đi vào lĩnh vực nghiên
cứu cổ sử và trung sử. Bởi vì về giai đoạn đó, các
chính sử ta thường chép rất sơ sài, thậm chí chép lại
những gì do những ngòi bút thù địch với dân tộc và chống
lại nước ta viết ra, đưa đến tình trạng một bộ chính
sử ta đã công nhiên ngợi ca sự nghiệp của một tên xâm
lược đầu sỏ đầy tội ác đối với nước ta như Cao Biền.
Trong số
những tư liệu hiện còn loại đấy, ta chỉ có vỏn vẹn
ba tác phẩm đó là Việt điện u linh tập, Lĩnh nam trích
quái truyện và Thiền uyển tập anh. Về hai
tác phẩm đầu, trước đây chúng đã được phiên dịch và
in lại nguyên văn, dẫu rằng những công tác ấy chưa đạt
được tiêu chuẩn khoa học đáng muốn. Còn lại Thiền uyển
tập anh thì kể từ ngày Trần văn Giáp phát hiện và giới
thiệu nó với học giới trong bài Phật giáo ở Việt nam
từ khởi nguyên đến thế kỷ thứ 13 (Trần văn Giáp,
Le Bouddhisme en Annam dès origines aux XIIIè siècle, BEFEO XXXII (1932)
191-268), tính chất quan trọng của tác phẩm này không những
đối với môn cổ sử và lịch sử giải phóng dân tộc, mà
còn đối với các môn học khác từ văn học nghệ thuật
cho đến khoa học kỹ thuật đã được nhiều người chú
ý tới.
Như một
bộ sử chuyên môn không thuộc loại chính sử về lịch sử
Phật giáo Thiền tôn Việt nam, nó có thể ở vào địa vị
phản ảnh phần nào quan điểm và lập trường đấu tranh
của dân tộc cùng tình tự và ý chí của họ trong liên hệ
với lịch sử vận động giải phóng và chống ngoại xâm
mà điển hình nhất là những truyện Ðịnh Không và La Quí
cùng các truyện Khuông Việt, Pháp Thuận và Vạn Hạnh. Những
truyện Ðịnh Không và La Quí kể lại những mẩu tin rất
ly kỳ, nhưng cũng rất thực tế trong công tác tuyên truyền
vận động độc lập của những người yêu nước sống rải
rác trong các mạng lưới của làng mạc Việt nam dưới những
hình thức sấm vĩ, tín ngưỡng chùa chiền. Chúng vạch cho
thấy họ đã vận động cho cuộc chiến đấu ấy như thế
nào, đã lãnh đạo cuộc vận động đó với một lý thuyết
gì. Các truyện Khuông Việt, Pháp Thuận và Vạn Hạnh đã
diễn tả một cách khá rõ rệt tính chất dân tộc của những
cuộc chiến tranh chống ngoại xâm do dân ta thực hiện trong
những ngày đầu của thuở mới lập quốc qua sự tham dự
tích cực và trực tiếp của hầu hết mọi tầng lớp người.
Nhưng Thiền
uyển tập anh không chỉ là một tác phẩm phản ảnh quan
điểm và thái độ quần chúng trong một cách thể nào đó.
Nó còn là một cuốn sử giúp ta nhiều tài liệu nghiên cứu
về cổ sử Việt nam từ thế kỷ thứ 6 cho đến thế kỷ
thứ 13. Thực vậy, ngày nay nó chứa đựng nhiều chi tiết,
nhiều tên người, tên đất, nhiều sự việc mà các chính
sử có quyển ghi, có quyển không ghi, thậm chí, đôi khi không
có quyển nào ghi cả. Chẳng hạn, cái tên Khúc Lãm xuất hiện
trong truyện La Quí. Lãm chắc chắn là một trong những người
lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thời kỳ manh
nha của nó với các vị khác như Khúc Hạo, Khúc Thừa Dụ,
Khúc Thừa Mỹ v.v…nhưng ngày nay không thấy sử sách nào
khác chép tới. Hay Cương giáp, nơi đóng quân của tên tướng
Hầu Nhân Bảo trong trận đọ sức đầu tiên giữa dân tộc
ta với quân xâm lược Tống, mà các chính sử không thấy
đâu ghi cả. Trong liên hệ này, ta có thể nói rằng đối
với môn địa lý học lịch sử, Thiền uyển tập anh
có một cống hiến thật đặc sắc, bởi vì nó là một tác
phẩm đời Trần duy nhất còn lại chứa đựng nhiều tên
ấp, tên làng, tên quận, tên phủ và tên châu đời Lý cũng
như đời Trần hơn bất cứ tác phẩm nào khác, kể cả bộ
chính sử Ðại Việt sử lược. Khai thác kho tàng những tên
đất đấy và xác định lại vị trí của chúng, nếu hoàn
thành, có thể nói ta đã vẽ lại được một phần bản đồ
địa lý chi tiết của nước ta vào thời Lý một cách cụ
thể, nhờ vào tên của các ngôi chùa gắn liền với các tên
đất ấy.
Không những
thế, do chính sách văn hóa nô dịch thô bạo và thâm độc
của bọn xâm lược Minh hồi đầu thế kỷ thứ 15, tất cả
những sách vở nứơc ta trước thế kỷ đó hầu hết đều
bị chúng hủy hoại, dẫn cuối cùng đến tình trạng là,
một nền văn học rực rỡ và phong phú như nền văn học
đời Lý đã không còn để lại vết tích nào, nếu ta không
nói đến Thiền uyển tập anh và một số bi ký ở các
chùa hiện đã phát hiện được. Thực vậy, ngay từ những
năm 1433, sau khi đã thu hồi lại độc lập và ổn định được
đời sống của nhân dân, những nỗ lực thu thập thi văn
các đời Lý, Trần của những học giả đời Lê chỉ chủ
yếu ghi l5I được các tác giả đời Trần mà thôi, còn tuyệt
đại bộ phận các tác giả đời Lý thì hoàn toàn vắng bóng.
Sự trạng ấy, ta chỉ cần dở Việt âm thi tập của
Phan Phù Tiên, Quần hiền phủ tập của Hoàng Tuỵ Phu
cùng Tinh tuyển chư gia luật thi của Dương Ðức Nhan
thì cũng đủ thấy. Việt âm thi tập hoàn thành sau khi
thu hồi độc lập khoảng 6 năm, tức vào năm 1433, đã tuyệt
nhiên không ghi lại một tác gia đời Lý nào hết. Quần
hiền phủ tập viết xong khoảng năm 1457 cũng vậy. Ðến
Tinh
tuyển chư gia luật thi của Dương Ðức Nhan đỗ tiến
sĩ khoa 1463 với một nhan đề quyển sách như thế, ta không
cần phải nói là, không có một tác giả đời Lý nào được
kể tới. Cả mấy trăm năm văn học của một dân tộc đã
bị bỏ quên. Sự trạng ấy ta phải đợi đến Lê Quí Ðôn
mới được chấn chỉnh lại trong bộ Toàn Việt thi lục
và Kiến văn tiểu lục của ông. Nhưng Lê Quí Ðôn làm
được như vậy chủ yếu là nhờ vào Thiền uyển tập
anh, mà ông đã biết khai thác một cách có phương pháp
và hệ thống. Rõ ràng, đối với lịch sử văn học dân tộc
ta, Thiền uyển tập anh đóng một vai trò hết sức quan trọng
và thiết yếu. Thiếu nó, thì cả mấy trăm năm lịch sử
văn học dân tộc phai mờ tiêu tán đi không phải ít.
Từ lĩnh
vực văn học bước sang lĩnh vực tư tưởng triết lý không
xa. Cho nên nếu Thiền uyển tập anh đóng một vai trò quan
trọng như thế nào đối với lịch sử văn học dân tộc,
thì nó cũng đóng một vai trò tương tự trong lịch sử tư
tưởng triết lý. Và vai trò đấy, thực tế, có một tầm
quan trọng hơn nhiều, khi ta nhớ rằng nó tự bản chất là
một bộ sử chuyên môn về lịch sử Phật giáo Thiền tôn
Việt nam. Mà Phật giáo Thiền tôn Việt nam vào những mấy
trăm năm đấy, nếu không nói là hệ tư tưởng chỉ đạo
thì nó cũng ở vào địa vị của một hệ tư tửơng chiếm
ưu thế trong giai đoạn lịch sử đó. Trong giai đoạn ấy,
dân tộc ta đã làm nên những chiến công hiển hách, đưa
cả dân tộc lên đỉnh cao của thời đại, đứng vào hàng
những đội quân tiên phong của loài người chống xâm lược
và áp bức, dân tộc ta đã xây dựng được một nhà nước
vì dân, một nền kinh tế vững mạnh và một nền khoa học
kỹ thuật tiến bộ nhất định. Làm nên được những kỳ
tích như thế trong một tình huống như tình huống của nứơc
ta sau khi Ngô Quyền đánh bại quân xâm lược Nam hán và Ðinh
Tiên Hoàng thống nhất tổ quốc về một mối thì phải kể
là những kỳ tích vô tiền khoáng hậu, hiếm có trong lịch
sử loài người. Hệ tư tưởng chủ đạo nào đã hướng
dẫn họ trên bước đường đưa cả dân tộc đi tới vinh
quang đó? Ðiều này rõ rệt đòi hỏi ta phải giải quyết
vấn đề lý luận dân tộc nào đã giúp nhân dân ta đoàn
kết một lòng một dạ với nhau, cùng nhau chống giặc ngoại
xâm và xây dựng đất nước. Nó đòi hỏi ta phải đặt thành
vấn đề hệ tư tưởng chủ đạo của dân tộc ta vào thời
Ðinh, Lê, Lý, Trần và bắt buộc ta phải nghiên cứu nghiêm
túc, nhằm rút tỉa những tinh hoa của truyền thống, đóng
góp vào việc xây dựng con người mới Việt nam hôm nay. Ðể
giải quyết những vấn đề đấy, công tác nghiên cứu lịch
sử tư tưởng Việt nam tất không thể nào không tìm đến
Thiền uyển tập anh. Có thể nói, nó là nơi tập đại thành
những luồng tư tưởng chủ yếu của dân tộc từ thời nhà
Trần trở về trước.
Ðây là mấu
chốt của vấn đề nghiên cứu hệ tư tưởng chủ đạo thời
Ðinh, Lê, Lý, Trần, và trước đó. Phân tích và nắm được
những điểm chủ yếu của vấn đề ấy, ta có thể nói là
đã giải quyết được nó về mặt cơ bản. Trong chiều hướng
cung cấp tư liệu và mẫ hình cho công tác phân tích đấy,
Thiền uyển tập anh với tiểu sử của 68 Thiền sư hầu hết
đều có ghi thành phần gia đình, giai cấp và sống trải dài
trên một khoảng thời gian gần 700 năm, rõ ràng có thể giúp
xác định tư tưởng Phật giáo Thiền tôn Việt nam, mà họ
là những đại diện chân chính và được thừa nhận. Trong
viễn tượng đấy, vai trò của Thiền uyển tập anh trở nên
hết sức trọng yếu cho những ai muốn nghiên cứu lịch sử
tư tưởng dân tộc và hệ tư tưởng chủ đạo của Việt
nam từ thời Trần trở về trước. Ðương nhiên, với số
lượng 68 người có tiểu sử, nó chưa cung cấp cho ta một
mẫu xác suất tốt nhất đáng muốn. Nhưng trong tình trạng
sử liệu ngày nay, ta không mong gì hơn. Qua họ, hệ tư tưởng
họ đại biểu, có thể xác định một cách khá đúng đắn
và cụ thể. Từ đó, vấn đề bản chất củaPhật giáo Thiền
tôn Việt nam tất nhiên phải bộc lộ.
Ngoài ra,
Thiền uyển tập anh còn cần thiết cho những khoa học khác
từ kinh tế học, dân tộc học, xã hội học v.v…cho đến
mỹ nghệ và kỹ thuật. Chẳng hạn, nghiên cứu về tập tục
và đời sống của dân ta ở những vùng biên giới, ta có
những truyện Ma Ha, Giới Không v.v…ghi lại lối sống, lối
tín ngưỡng của họ. Hay tìm hiểu về lai nguyên của nghề
in tại Việt nam, ta có truyện Tín Học xác định thành phần
gia đình Học là "đời đời làm nghề in kinh". Hay khảo sát
về thành phần xã hội thời Lý và hệ thống cấu trúc của
nó, ta có truyện nhiều Thiền sư ghi lại thành phần gia đình
của họ v.v…
Thiền uyển
tập anh như vậy chứa đựng nhiều tài liệu phong phú và
đặc sắc cho công tác nghiên cứu lịch sử cũng như nhiều
khoa học kỹ thuật và mỹ thuật khác. Dẫu thế, cho đến
nay chưa có một bản dịch nghiêm chỉnh và đầy đủ nào
về nó xuất hiện, nên những người nghiên cứu, dù nhắc
tới nó nhiều, ít ai có dịp đọc toàn bộ bản văn đó.
Bản dịch hiện nay của chúng tôi là nhằm cung ứng cho những
người nghiên cứu ấy một bản dịch như thế. Trước đây,
một số người cũng có ý muốn dịch nó và họ quả đã
dịch, hay đúng hơn phỏng dịch một phần nào hay toàn bộ
nó và xuất bản dưới những tên khác nhau {Thanh Từ, Thiền
sư Việt nam, Tu viện Chân không xuất bản, Saigon, 1973, tr11-195
phỏng dịch đủ Thiền sư cả hai phái Pháp vân và Kiến sơ;
Khánh Vân Nguyễn Thuỵ Hòa, Tiểu truyện các Thiền sư VN (phái
Vô Ngôn Thông), Saigon 1974, chỉ dịch lướt phần đầu của
phái Võ Ngôn Thông. Ông Nguyễn Ðổng Chi có cho tôi hay vào
khoảng 1938 Nguyễn Trọng Thuật có dịch Thiền uyển tập
anh đăng trong báo Ðuốc Tuệ, nhưng cũng chỉ dịch lướt.
Tôi chưa có dịp thấy bản dịch ấy}. Nhưng tất cả đều
chưa đạt yêu cầu. Tình trạng này xuất phát từ hai nguyên
cớ chính, đấy là : 1, Họ chưa nắm vững lịch sử truyền
bản của bản văn, nên đã không chọn được một truyền
bản chính xác để làm đề bản cho công tác hiệu thù và
phiên dịch, và 2, Họ chưa phân tích kỹ nội dung bản văn,
nên tới những đoạn khó, họ hoặc đa số lướt qua không
dịch, hoặc nếu bắt buộc quá mà phải dịch, họ thường
phạm phải những sai lầm. Ðể khắc phục tình trạng sai
trái vừa nêu, bản dịch hiện nay bao gồm có phần nghiên
cứu về tự thân bản văn và phần chú thích bản văn đó.
Phần nghiên cứu về tự thân văn bản nhằm giải quyết những
vấn đề truyền bản của bản văn, tên gọi nó, soạn niên
và tác giả nó cùng vấn đề sử liệu nó dùng và vấn đề
hiệu bản cho bản dịch của chúng tôi. Phần chú thích, vì
nhằm cung ứng tài liệu cho những người nghiên cứu ở nhiều
bộ môn khác nhau, chúng tôi đã cố gắng chú thích rất kỹ
và nói rõ nguyên lai những chú thích cho tiện việc tra cứu.
[LINKS]
[PHẬT GIÁO THẾ GIỚI]
[NHẠC PHẬT GIÁO] [PHÁP
THOẠI] [CHÙA VIỆT NAM]
E-MAIL:banbientap@thuvienhoasen.org