Lâm
Tỳ Ni
Trụ
Đá Vua A Dục Tại Lâm Tỳ Ni
Giếng
Thiêng Tại Lâm Tỳ Ni
Tháp
Thờ Hoàng Hậu Ma Da Tại Lâm Tỳ Ni
Hình
Ảnh Tại Lâm Tỳ Ni
Các
Chùa Quanh Vùng Lâm Tỳ Ni
Ca
Tỳ La Vệ (Népal)
Cửa
Thành Đông
Ca
Tỳ La Vệ Bên Nào? Népal Hay Ấn Độ
Xá
Vệ Thành
Ca
Tỳ La Vệ Bên Phía Ấn Độ
Đức
Phật Tranh Luận Với Lục Sư Ngoại Đạo
Phần
5
Lâm
Tỳ Ni
(Bản
đồ hướng dẫn du lịch tại khu Lâm Tỳ Ni,
được
treo trước cổng vào khu Thánh tích Lâm Tỳ Ni)
1:00
giờ chiều cùng ngày, đoàn khởi hành đi Nepal. Từ trên xe
buýt nhìn qua khung cửa, càng đến gần Nepal những cánh đồng
càng xanh mát hơn, có lẽ nhờ khí hậu mát mẻ của vùng chân
núi Hy Mã Lạp Sơn. Tuy nhiên, dân chúng trong vùng này cũng
nghèo không kém gì dân Ấn Độ. Đoạn đường từ thành Câu
Thi Na đến Vườn Lâm Tỳ Ni khoảng 100 cây số đường chim
bay, nhưng chúng tôi phải vượt qua biên giới Ấn Độ-Népal
và đường sá quá xấu nên đến chiều tối chúng tôi mới
đến vùng biên giới. Thủ tục làm chiếu khán (visa) từ Ấn
Độ qua Népal quả là không đơn giản như chúng tôi tưởng,
nhưng không có gì hơn được “thủ tục đầu tiên” nên
rồi việc gì cũng qua và chúng tôi cũng đến khách sạn mà
chúng tôi muốn đến. Chúng tôi dự định nghỉ đêm
tại khách sạn Mansarover, nhưng vì khách sạn không đủ tiện
nghi nên sau đó chúng tôi dọn qua một khách sạn khác cũng
thuộc địa phận Sonali, Belahiya, Siddhartha Nagar, Lumbini, Nepal.
(Bản
đồ vùng Lâm Tỳ Ni về phía Népal,
gần
biên giới Ấn Độ Ngày nay)
(Cây
Bồ Đề trong Vườn Lâm Tỳ Ni)
5:00
giờ sáng ngày 6 tháng 12, đoàn thăm viếng vườn Lâm Tỳ Ni
và thành Kapilavastu (Ca Tỳ La Vệ) bên phía Nepal. Khoảng đường
từ biên giới đi Lumbini chỉ khoảng độ 30 cây số, nhưng
đường quá xấu nên phải mất trên một giờ đồng hồ chúng
tôi mới đến được Lâm Tỳ Ni (Lumbini). Lâm Tỳ Ni nằm trên
một ngọn đồi thấp ngay dưới chân dãy Hy Mã Lạp Sơn. Ngày
nay Lâm Tỳ Ni thuộc vương quốc Népal. Vừa đến nơi là Hòa
Thượng đã hướng dẫn phái đoàn tụng kinh cầu an cũng như
tưởng niệm công đức của Đức Phật, và cầu mong cho khu
Lâm Tỳ Ni sớm được trùng tu lại theo đúng quy cách của
nó. Chúng tôi thăm viếng Lâm Tỳ Ni, một thánh tích quan trọng
trong lịch sử Phật Giáo. Tuy nhiên, dòng thời gian trên 25
thế kỷ với bao nhiêu vật đổi sao dời, bao nhiêu là tang
điền thương hải, bao nhiêu cuộc chiến tranh tôn giáo... đã
biến khu Thánh tích thiêng liêng này trở thành rừng rậm hoang
dã.
(Quang
cảnh buổi sáng sớm bên ngoài Vườn Lâm Tỳ Ni)
(Lâm
Tỳ Ni)
Chúng
tôi đến Lâm Tỳ Ni vào buổi ban mai của một ngày đầu Đông,
thế mà cảnh vật ở đây trong rất thảm hại. Tôi bật thành
tiếng tự hỏi lòng tôi: “Lâm Tỳ Ni đây sao? Không lý nào
đâu? Không lẽ nơi này lại là Lâm Tỳ Ni? Không đâu, Lâm
Tỳ Ni từng là khu vườn thượng uyển của những bậc đế
vương kia mà?” Lúc này đủ thứ tự hỏi khởi lên trong
lòng tôi chỉ vì ba chữ ‘Lâm Tỳ Ni.’ Theo truyền thuyết
Phật giáo thì dưới thời vua Tịnh Phạn, Lâm Tỳ Ni là một
khu vườn đầy hoa thơm cỏ lạ. Trong vườn đầy những cây
xanh bóng mát. Chính vẻ đẹp ấy mà bà hoàng Ma Da đã ra lệnh
cho đoàn tùy tùng hạ trại nghỉ ngơi và thưởng cảnh trước
khi trở về quê mẹ.
Trong
các thánh tích, có lẽ vườn Lâm Tỳ Ni và Thành Ca Tỳ La
Vệ là hai nơi tiêu điều nhất. Khu vườn tuyệt mỹ, nơi
Đấng Giác Ngộ đản sanh, hôm nay chỉ còn trơ lại một khu
vườn hoang với một vài nền tháp đổ nát. Trong khi Dấu
vết của bốn cửa thành của kinh thành Ca Tỳ La Vệ
chỉ còn trơ lại một dãy gạch vụn mà thôi. Cửa thành phía
Đông có một tấm bảng ghi lại: “Đây chính là nơi Thái
Tử từ bỏ kinh thành, từ bỏ ngôi vị đế vương, vợ đẹp,
con ngoan... vượt thành xuất gia để tìm con đường cứu khổ
nhân sanh.” Bên trong thành người ta tìm được một trụ
đá mà vua A Dục đã cho xây dựng lên vào thế kỷ thứ hai
trước Tây Lịch. Tuy trụ đá không còn nguyên vẹn, nhưng
những dòng chữ cũng như niên đại của đá cho thấy đây
chính là nơi Đức Phật đản sanh. Khi vua A Dục đến
chiêm bái Vườn Lâm Tỳ Ni, Thánh tích đản sanh của Đức
Phật, thì lúc đó nơi này vẫn còn là một làng quê sung túc,
có nhiều cảnh đẹp thiên nhiên. Nhà vua đã cho xây dựng
bốn ngọn tháp và một trụ đá bằng sa thạch, trên đầu
trụ có hình con sư tử. Mặc dù ngày nay trụ đá đã gãy
mất một phần nhưng vẫn còn lưu lại dòng chữ như một
chứng tích lịch sử sau đây: “Sau hai mươi năm lên ngôi,
vua Piyadasi, người được chư Thiên yêu mến đã thân hành
viếng thăm, cúng dường và lễ bái nơi đây. Bởi vì Đức
Phật, Thánh nhân của dòng họ Thích đã được sanh ra nơi
đây và dân làng này đã được miễn một phần tám số thuế
lợi tức làm chứng tích lịch sử.”
Năm
409 sau Tây Lịch, ngài Pháp Hiển, một nhà hành hương Trung
quốc đã ghi lại trong Tây Vực Ký như sau: “Cách năm mươi
lý về phía Đông của cung thành là một vườn thượng uyển
tên Lâm Tỳ Ni. Chính nơi đây Hoàng Hậu đã tắm rửa và
sau đó đi về phía Bắc khoảng hai mươi trượng, vịn vào
một nhánh cây, khi bà đưa mắt nhìn về phương Đông thì
Thái Tử đản sanh.” Trong khi đó vào năm 629, ngài Huyền
Trang đã ghi lại trong Đại Đường Tây Vực Ký như sau: “Từ
cái giếng (nơi mũi lao của Thái Tử Tất Đạt Đa ghim vào
và tạo thành giếng) đi về phía Bắc 80 hay 90 lý chúng ta
sẽ gặp vườn Lâm Tỳ Ni. Nơi đây có một hồ tắm của
dòng họ Thích Ca, nước trong hồ chói sáng và trong suốt như
một tấm gương, trên mặt hồ có nhiều loại hoa nở xinh
tươi. Cách hồ khoảng 24 hay 25 trượng về phía Bắc là một
cây hoa Vô Ưu, mà bây giờ đã tàn lụi; đây chính là nơi
Thái Tử đản sanh vào ngày 8 tháng 3 âm lịch. Phía Bắc của
cây hoa Vô Ưu là một cái tháp do vua A Dục dựng lên, chính
là nơi mà hai con rồng đã tắm cho Thái Tử. Khi Thái Tử hạ
sanh, ngài đã đi không cần ai dìu dắt về bốn hướng, mỗi
hướng bảy bước và thốt rằng ‘Trên trời dưới trời
chỉ có Ta là bậc tối tôn.’ Đối với Ta, đây là đời
sống cuối cùng, không còn tái sanh nữa. Nơi nào mà bước
chân Ngài chạm đến nơi đó nảy sanh một hoa sen lớn. Hơn
tất cả, hai con rồng bay bổng lên và lượn trên không, từ
đó phun ra một dòng nước lạnh và một dòng nước ấm để
tắm Thái Tử. Phía Đông của tháp là hai vòi nước tinh khiết,
bên cạnh đó có hai ngôi tháp được xây lên ngay tại chỗ
hai con rồng từ đất vọt lên. Phái Nam cũng có một cái tháp
đánh dấu nơi vua trời Đế Thích đón chào Thái Tử lúc đản
sanh. Bên hông tháp này không xa lắm là trụ đá do vua A Dục
dựng lên, bên trên trụ là tượng một con sư tử. Bên hông
trụ đá là một dòng sông nhỏ chảy theo hướng đông nam,
dân ở đây gọi đó là sông Dầu. Theo truyền thuyết thì
đây là dòng nước sạch mà chư thiên đã hóa ra cho hoàng
hậu tắm sau khi sanh Thái Tử.”
Trụ
Đá A Dục Tại Vườn Lâm Tỳ Ni
(Trụ
đá do vua A Dục dựng lên tại Vườn Lâm Tỳ Ni
khi
Ngài chiêm bái khu vườn này vào thề kỷ thứ
hai
trước Tây Lịch)
Sau
đó sư cô Liên Phụng đã thuyết minh về lịch sử của Vườn
Lumbini như sau: “Lâm Tỳ Ni, tức là vùng Rummindei thuộc xứ
Népal ngày nay, nằm trên một ngọn đồi nhỏ dưới chân dãy
Hy Mã Lạp Sơn hùng vĩ. Lâm Tỳ Ni nằm cách thị trấn biên
giới Sonali ngày nay khoảng 30 cây số về phía Tây Bắc, cách
thành Ba La Nại trên 150 cây số về phía Bắc. Chính nơi này,
hơn 2.500 về trước, vào khoảng năm 624, Thái Tử Tất Đạt
Đa, con vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Maya đã đản sanh. Sau
đó Ngài đã thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Theo truyền
thuyết Phật giáo thì khoảng 300 năm sau ngày Đức Phật nhập
Niết Bàn, vua A Dục của triều đại Mauryan sau khi trở thành
Phật tử, ngài đã từ bỏ những cuộc xâm lăng các lân bang.
Ngược lại, ngài thiết lập sự chinh phục bằng ‘chánh
kiến.’ Từ đó ngài thực hiện nhiều cuộc chiêm bái các
Thánh địa Phật giáo. Ngài đã đến đây chiêm bái và đảnh
lễ Thánh tích thiêng liêng này. Lâm Tỳ Ni trong thời kỳ đại
đế A Dục đến chiêm bái hãy còn là một thôn làng thịnh
vượng, có nhiều cảnh trí rất nên thơ. Nhà vua đã cho dựng
một trụ đá tại đây để ghi dấu nơi đấng Chí Tôn đản
sanh. Khu vườn Lâm Tỳ Ni đã bị bỏ hoang trong nhiều thế
kỷ, mãi đến năm 1895, một nhà khảo cổ người Đức tên
Fuhrer mới phát hiện được trụ đá của vua A Dục tại đây
làm chứng tích cho khu vườn lịch sử này. Không ai biết đích
xác nguyên thủy trụ cao bao nhiêu, nhưng phế tích còn lại
của trụ cao khoảng 5 mét, đường kính khoảng 0.5 mét, làm
bằng sa thạch trắng. Sau đó người ta cho rào quanh trụ để
bảo vệ địa điểm nơi Thái Tử Tất Đạt Đa đản sanh.
Bên trái trụ đá có một cây phượng vĩ già nhưng cành lá
xum xuê, trổ bông đỏ cả một góc vườn. Hiện vòng rào
sắt cũng bị thời gian làm rỉ sét gần hết. Vào thập niên
1960s, Tổng Thơ Ký Liên Hiệp Quốc là U Than tháp tùng vua Mahendra
của xứ Népal đã đến viếng Thánh địa Lâm Tỳ Ni. Vua Mahendra
đã hiến tặng một trăm ngàn rúp cho việc trùng tu Lâm Tỳ
Ni và cơ quan Unesco của Liên Hiệp Quốc đã chính thức công
nhận và tài trợ chi phí trùng tu và bảo trì khu di tích quan
trọng này. Và trong Đại Hội Phật Giáo Thế Giới tại Nhật
Bản vào năm 1979 người ta đã chính thức công nhận Lumbini
là di tích chung của Phật Giáo thế giới, cần phải được
bảo vệ.”
Sau
đó Hòa Thượng nhắc lại về sự thị hiện của Đức Phật:
“Đức Phật cũng là một con người như bao nhiêu con người
khác, nhưng Ngài là một con người phi thường. Ngài thị hiện
nơi cõi Ta Bà vì lợi ích và vì hạnh phúc của hết thảy
chúng sanh. Ngài thị hiện với mục đích khai thị cho chúng
sanh ngộ nhập tri kiến Phật hay biết được những gì mà
Ngài đã biết. Ngài đi vào cõi Ta Bà nhiễm trược mà Ngài
không nhiễm trược. Ngài luôn thanh khiết như đóa sen mọc
từ bùn mà vẫn thơm ngát tinh khiết. Sự đản sanh của Thái
Tử Tất Đạt Đa là một sự kiện đầy ý nghĩa trong lịch
sử nhân loại. Cuộc đời Đức Phật là một tấm gương
sáng ngời cho chúng ta noi theo.”
Sau
đó đoàn chúng tôi ghé lại chùa Việt Nam của Thầy Huyền
Diệu để ăn trưa. Chùa đang xây dựng với nhiều công trình
thật qui mô. Tuy nhiên, nghe nói ngày 14 tháng 12 là ngày khánh
thành với sự tham dự của nhiều quan khách cũng như chư Tăng
Ni và Phật tử khắp nơi trên thế giới. Tại Vườn Lâm Tỳ
Ni, ngoài Việt Nam Phật Quốc Tự còn có chùa Linh Sơn, trong
hệ thống giáo hội của cố Hòa Thượng Huyền Vi tại Pháp.
Ngoài ra, vùng Lâm Tỳ Ni hiện nay còn có nhiều chùa viện
của nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả Bắc tông, Nam
tông, Thiền tông và Tịnh Độ tông như Đại Hàn, Miến
Điện, Nhật Bản, Thái Lan, Tích Lan, Trung Hoa vàViệt Nam...đã
góp phần tạo cho Lâm Tỳ Ni có một khuôn mặt hứa hẹn mới.
Giếng
Thiêng Tại Vườn Lâm Tỳ Ni
Bên
phải trụ đá là “Giếng Thiêng” nơi Hoàng Hậu Maya trước
khi Đức Phật đản sanh trong vườn Lâm Tỳ Ni. Đây là một
cái hồ hình chữ nhật dài khoảng 10 mét, ngang 6,7 mét. Trong
hồ vẫn còn đầy nước. Bốn phía đều có bậc tam cấp
bước xuống hồ. Cạnh hồ có một cây Bồ Đề tàng lá xum
xuê, tỏa bóng mát cả một bờ hồ. Theo truyền thuyết thì
thuở đó bất cứ vị vua trong dòng họ Thích Ca nào trong thành
Ca Tỳ La Vệ lên ngôi đều phải đến làm lễ tắm tại giếng
thiêng này. Vào thế kỷ thứ 14, vua Ripu Malla cai trị xứ Népal
có đến đây chiêm bái và khắc tên ông lên trụ đá. Nhưng
từ đó Lâm Tỳ Ni đi vào quên lãng cho mãi đến thế kỷ
thứ 19, những nhà khảo cổ Anh quốc đã tìm được một
tảng đá xác quyết nơi đản sanh của Đức Phật. Những
nền đá của ngôi tự viện xưa cũng được khai quật. Khoảng
giữa Vườn Lâm Tỳ Ni là một hồ nước lớn, gió núi Hy
Mã Lạp Sơn thổi nhẹ làm mặt hồ lăn tăn trong ánh nắng
ban mai, làm cho cảnh trí nơi đây thêm phần sinh động. Chính
tại hồ nước thiêng này, Hoàng Hậu Maya tắm trước khi đi
vào vườn Vô Ưu để hạ sanh Thái Tử. Sau khi Thái Tử đản
sanh Ngài đã được các thị nữ tắm gội tại chính giếng
nước thiêng này. Ngày nay người ta xây gạch quanh hồ để
bảo trì di tích lịch sử của Phật giáo này. Cạnh bờ hồ
là một cây Bồ Đề rậm mát, soi bóng xuống mặt hồ.
(Giếng
thiêng nơi Hoàng Hậu Maya tắm sau khi
Đức
Phật đản sanh trong vườn Lâm Tỳ Ni bên Nepal)
Tháp
Thờ Hoàng Hậu Ma Da tại Vườn Lâm Tỳ Ni
Trung
tâm sinh hoạt và chiêm bái tại khu Lâm Tỳ Ni là Tháp thờ
Hoàng Hậu Ma Da vì ai ai về đây chiêm bái đều đến lễ
bái bà hoàng hậu kính mến, thân mẫu của Thái Tử Tất Đạt
Đa. Tuy nhiên, đền thờ nguyên thủy của Hoàng Hậu Maya đang
được các nhà khảo cổ khai quật nên hiện bàn thờ được
trang trí tạm tại cửa vào khuôn viên Vườn Lâm Tỳ Ni, nằm
về phía Đông của ngôi tháp nguyên thủy. Bức phù điêu trên
tường tạc hình Hoàng Hậu và Thái Tử lúc Ngài đản sanh
vẫn còn sống động như việc mới vừa xãy ra ngày nào đây.
Đây là bức hình chạm nổi hoàng hậu Ma Da lớn bằng người
thật đang vịn vào cành Vô Ưu, Thái Tử sơ sinh đang đứng
bên hông phải một tòa sen, có vòng hào quang trên đỉnh đầu.
Hai góc trái và phải có hai thiên nữ rưới nước và rải
hoa cúng dường. Bức phù điêu này do vua Malla của triều đại
Naga xứ Népal dâng cúng (triều đại này kéo dài từ thế
kỷ thứ 11 đến thế kỷ thứ 15 tại Népal). Theo các nhà
khảo cổ thì tháp thờ này được dựng ngay trên nền tháp
mà vua A Dục đã xây vào thế kỷ thứ 2 trước Tây Lịch.
Những chứng tích thực nhắc nhở cho chúng ta hình ảnh của
Đức Phật đản sanh gần 26 thế kỷ về trước.
Theo
tục lệ của người Ấn Độ thì người đàn bà phải trở
về quê mình để sanh con, rồi sau đó mới trở về lại quê
chồng. Trên đường về quê, Hoàng Hậu Maya đã hạ sanh Thái
Tử Tất Đạt Đa tại ngôi Vườn Lâm Tỳ Ni này. Theo truyền
thuyết Phật giáo thì vừa khi chào đời, Thái Tử đã bước
đi bảy bước và từ mặt đất bảy đóa sen đã nở hoa để
đỡ bước chân Ngài. Khi bước đến bước thứ bảy thì
Ngài đã tuyên bố: “Thiên thượng Thiên hạ, duy ngã độc
tôn. Vô lượng sanh tử, ư kim tận hỉ.” Thuở ấy Ca Tỳ
La Vệ tuy không phải là một vương quốc lớn, nhưng rất
trù phú, dân chúng an cư lạc nghiệp nên sau khi Đức Phật
đản sanh, vua cha Tịnh Phạn cho triệu vời tất cả những
nhà tiên tri nổi tiếng đến hoàng cung để tiên đoán vận
mạng cho Thái Tử. Chính nhà tiên tri nổi tiếng thời đó
là A Tư Đà đã phải ngậm ngùi rơi lệ cho chính mình khi
nhìn thấy Thái Tử, vì ông biết rằng về sau này Thái Tử
sẽ trở thành một bậc Chuyển Luân Thánh Vương mà mình không
có cơ may sống sót đến đó để nghe được giáo pháp của
Ngài.
Lâm
Tỳ Ni là một trong những nơi quan trọng nhất trong lịch sử
của nhân loại chứ không riêng gì cho Phật giáo. Riêng đối
với những người Phật tử thì Lâm Tỳ Ni cũng giống như
Thánh địa Jerusalem của người Do Thái, hay Mecca-Madina của
người Hồi giáo, Bethlehem của người Thiên Chúa giáo, và
Kashi (Varanasi) của Ấn Độ giáo... Lâm Tỳ Ni là trung tâm
hành hương thiêng liêng cho mọi người Phật tử khắp nơi
trên thế giới. Thế nhưng mãi đến thập niên 1960s các nhà
khảo cổ bắt đầu những cuộc khai quật và bảo toàn Thánh
tích thiêng liêng này. Và hiện nay vùng đất Lâm Tỳ Ni vẫn
là vùng đất bị lãng quên gần như hoang địa. Trong khi các
quốc gia trên thế giới đang nỗ lực phục hoạt Lâm Tỳ
Ni thì tình hình chính trị tại Népal ngày càng trở nên xấu
hơn với những rối ren liên tục. Trong khi ngân quỹ của Hội
Trách Nhiệm Lâm Tỳ Ni do hoàng gia Népal phụ trách phải chi
số tiền trả lương cho nhân viên nhiều hơn là những hoạt
động phục hoạt và trùng tu Thánh tích này. Hiện tại ngôi
tháp thờ hoàng hậu Ma Da đã bị giật sập để giành ưu
tiên cho việc khai quật, nhưng lại không có một kế hoạch
xây cất một ngôi tháp mới để thay thế, nên cảnh trí của
Lâm Tỳ Ni vốn dĩ đã hoang tàn, nay trở nên hoang tàn hơn.
Nói gì thì nói, chắc chắn một ngày không xa nào đó, Lâm
Tỳ Ni cũng sẽ được phục hoạt tương xứng với vị trí
thiêng liêng hàng đầu trong các Thánh tích khác trên thế giới.
Chính từ những kinh điển Phật giáo, những dấu tích văn
hóa từ các thời Maurya, Sunga, Kushuwa, Gupta, Pala, những trụ
đá của hoàng đế A Dục, cũng như những tập ký sự của
các nhà hành hương nổi tiếng như Pháp Hiển, Nghĩa Tịnh,
Huyền Trang đã hỗ trợ đắc lực cho các nhà khai quật từ
các thời đại Khadga Samesher Rana và Fuhrer lần lượt đưa
ra ánh sáng một Thánh tích đã bị lãng quên trong nhiều thế
kỷ. Và mới đây, những nhà khảo cổ Nhật Bản và Népal
cũng đã khai quật được những di vật liên hệ trực tiếp
đến nơi đản sanh của Đức Phật. Hiện tại Lâm Tỳ Ni
đã phát triển thành một khu thị tứ tương đối có đầy
đủ tiện nghi cho khách hành hương cũng như các nhà nghiên
cứu và khảo cổ như khách sạn, phòng trọ, nhà hàng, những
sạp bán đồ pháp khí... Lâm Tỳ Ni hiện có Viện Bảo Tàng,
và Thư Viện với đầy đủ tài liệu cho việc khai quật.
Bên cạnh đó, Lâm Tỳ Ni hiện có rất nhiều ngôi chùa lớn
của nhiều quốc gia trên thế giới như Ấn Độ, Đài Loan,
Đại Hàn, Miến Điện, Nhật Bản, Thái Lan, Tích Lan, Trung
Quốc, Việt Nam...Đây là một khích lệ lớn lao cho công cuộc
khai quật hiện tại. Bên cạnh đó, cơ quan UNESCO của Liên
Hiệp Quốc cũng đã chính thức công nhận địa điểm lịch
sử này, và hiện cơ quan này đang giúp đỡ chẳng những tài
chánh mà còn nối kết sự hợp tác giữa các quốc gia giàu
mạnh trong việc phục hoạt Thánh tích này. Dẫu biết rằng
không có thứ gì trên đời này có thể chạy ra ngoài định
luật vô thường. Dẫu biết rằng giờ này có làm gì đi nữa
thì cả Lâm Tỳ Ni lẫn Ca Tỳ La Vệ cũng chỉ là những đống
gạch vụn, nhưng những đống gạch vun vỡ ấy chính là nơi
dung chứa di sản văn hóa cao thượng đã thấm nhuần trong
lòng của những người con Phật khắp nơi trên địa cầu
này.
Những
Hình Ảnh Khác Tại Khu Lâm Tỳ Ni
(Tilaurakot-Lâm
Tỳ Ni)
(Bên
trong vòng rào Lâm Tỳ Ni)
(Phế
tháp tưởng niệm nơi Phật đản sanh-Lâm Tỳ Ni)
(Bên
ngoài vòng rào Lâm Tỳ Ni)
(Nhà
kỷ niệm nơi Phật đản sanh-Lâm Tỳ Ni)
(Trụ
đá A Dục-Lâm Tỳ Ni)
(Nơi
Đức Phật đản sanh-Lâm Tỳ Ni)
Các
Chùa Quanh Vùng Lâm Tỳ Ni
Hiện
tại tại làng Lâm Tỳ Ni có một khu vực tọa lạc các chùa
của các quốc gia trên thế giới như chùa Ấn Độ, Đại
Hàn, Népal, Nhật Bản, Tây Tạng, Tích Lan, Trung Hoa và Việt
Nam. Riêng chùa Việt Nam Phật Quốc Tự là một quần
thể khá lớn với ngôi chánh điện uy nghi đồ xộ, một dãy
khách xá cả trăm phòng. Ngoài cổng bước vào là bức tượng
Quán Thế Âm Bồ Tát thật to, được đặt trên một hồ sen
rộng. Một tuần sau khi chúng tôi rời khỏi Népal cũng
là lúc thầy Huyền Diệu khánh thành ngôi già lam này (khoảng
14 hay 15 tháng 12 năm 2005).
Dù
nhiều quốc gia trên thế giới, Phật giáo cũng như không Phật
giáo, đã cố gắng nỗ lực trùng tu và phục hoạt lại khu
Thánh tích thiêng liêng này. Chính phủ Népal cũng đang có chương
trình xây dựng phi trường quốc tế nối liền Kathmandu với
Lâm Tỳ Ni. Tuy nhiên, cho đến giờ phút này, Lâm Tỳ Ni vẫn
còn là một phế tích chưa được chăm sóc đúng mức nên
cảnh trí hãy còn quá điêu tàn.
(Chùa
VN Phật Quốc Tự tại Lâm Tỳ Ni—Népal)
(Quang
cảnh bên trong chùa VN Phật Quốc Tự tại Lâm Tỳ Ni)
Ca
Tỳ La Vệ Phía Bên Népal
Sau
khi viếng thăm vườn Lumbini, đoàn đi thêm gần 30 cây số
về phía Tây trong đất Nepal để tới thành Ca Tỳ La Vệ.
Phía Népal cho rằng đây mới đích thị là quê hương của
Đức Phật, vì theo truyền thuyết Phật giáo thì quê hương
của Ngài nằm về phía Bắc của Châu Diêm Phù Đề (Jambudvipa),
tức là xứ Thiên Trúc thời các ngài Pháp Hiển và Huyền
Trang, hay là xứ Ấn Độ ngày nay.
(Quang
cảnh thành Ca Tỳ La Vệ vào buổi bình minh)
Hai
bên đường là cảnh đồng quê với những mái tranh nghèo
đơn sơ mộc mạc, nằm chơ vơ giữa những cánh đồng khô
cháy, không thấy một giọt nước. Tuy đoạn đường không
xa lắm nhưng vì đường sá gồ ghề lởm chởm nên xe buýt
đưa chúng tôi đi phải mất gần một tiếng đồng hồ mới
tới nơi. Quanh khu thành Ca Tỳ La Vệ là một làng quê thật
nghèo, giống như những làng quê ở Việt Nam, nhưng có lẽ
nghèo hơn Việt Nam nhiều. Hai bên đường là những bụi tre
đong đưa trong gió. Những chú trâu chú bò tranh nhau đi với
dân làng trên những con đường nhỏ hẹp. Mà hình như mấy
chú trâu bò lúc nào cũng thắng thế, vì đa số người dân
ở đây đều nhường bước cho trâu bò đi trước. Dọc theo
hai bên con đường chúng tôi đi qua, đầy những đống phân
trâu, phân bò, làm cho đường sá ở Ấn Độ, từ thành thị
đến thôn quê, có một sắc thái đặc biệt mà có lẽ chúng
ta sẽ không tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới.
Đây chính là quang cảnh của thành Ca Tỳ La Vệ về phía Nepal
(vì bên phía Ấn Độ cũng cho rằng thành Ca Tỳ La Vệ nằm
bên Ấn Độ). Phế tích kinh thành Ca Tỳ La Vệ về phía Népal
cũng giống như những phế tích khác, cũng hoang tàn điều
hiu. Đó là những phế tích của những nền móng có hình chữ
nhật lớn. Theo truyền thuyết Phật giáo, Ca Tỳ La Vệ thuở
ban sơ là một khu rừng hoang vu, lúc ấy trong vùng núi Hy Mã
Lạp Sơn có một vương quốc do vua Okkaka Raja trị vì, nhà
vua và hoàng hậu có cả thảy bốn vị thái tử và năm công
chúa. Sau khi bà chánh hậu qua đời, vua lập một thứ phi lên
làm hoàng hậu. Bà này sanh cho vua một vị hoàng tử,
sau đó bà thứ phi này âm mưu chiếm đọat ngôi báu cho đứa
con của chính mình nên bàn mưu lập kế đày các vị thái
tử và công chúa con của bà hoàng hậu trước ra vùng hoang
địa. Khi đó có một vị Thánh giả tên Kapila Gautama khuyên
một trong các vị thái tử tên Ikshwaku đến đây lập quốc.
Vị thái tử đó chính là vị đã khai sáng ra vương quốc
Ca Tỳ La Vệ cho dòng họ Thích Ca (Shakya). Đến thời vua Tịnh
Phạn thì Ca Tỳ La Vệ là một kinh thành nguy nga tráng lệ,
dân cư trong thành ai nấy đều có cuộc sống sung túc thạnh
vượng. Ôi! Bài hát về kinh thành Ca Tỳ La Vệ mà một tác
giả nào đó đã sáng tác lúc tôi còn rất nhỏ, quả tình
không phải là những bức tường loang lổ, những nền tháp,
những đống gạch vụn hay những miếng gạch bể nằm rải
rác ngay trước mặt tôi bây giờ!
Cửa
Thành Đông
(Tấm
bảng treo trước cửa thành phía Đông, nơi Đức Phật
và
Sa Nặc đã cỡi ngựa Kiền Trắc rời bỏ cung điện)
Tại
cửa thành Đông có một tấm bảng ghi như sau: “Đây là cửa
thành Đông, nơi Thái tử vượt thành xuất gia.” Đây chính
là nơi lịch sử trọng đại vào bậc nhất của Phật giáo,
vì chính từ nơi này Thái tử Tất Đạt Đa đã rời bỏ cung
vàng điện ngọc ra đi tìm phương cứu độ chúng sanh, và
cũng chính nơi đây đã xoay chuyển một Thái tử thành một
vị Phật, mang giáo lý giải thoát tuyệt vời đến cho nhân
loại. Theo truyền thuyết Phật giáo thì sau khi rời bỏ kinh
thành Ca Tỳ La Vệ trong một đêm tối trời, Thái tử cùng
Sa Nặc phi ngựa Kiền Trắc vượt qua sông Anoma, đến gần
sáng thì Ngài dừng ngựa lại bên bờ sông, rồi tự tay cắt
tóc cạo râu, rồi trao xiêm y và mớ tóc lại nhờ Sa Nặc
đem về cho phụ hoàng, còn tự mình khoác áo một nhà tu khổ
hạnh tiếp tục rảo bước. Ngài không có chỗ ở thường
trực, mà chỗ ở của Ngài có thể là một tàng cây, một
hang đá chỉ để che mưa tránh gió mà thôi. Chân không giày,
đầu không nón, một mình cô thân vạn lý du dưới ánh nắng
chói chan hay trong sương đêm lạnh lẻo. Mường tượng đến
những gian lao khổ nhọc mà một Thái tử cành vàng lá ngọc
phải chịu đựng, rồi nhìn cảnh hoang phế của thành Ca Tỳ
La Vệ hôm nay mà lòng chúng tôi buồn rười rượi. Thời gian
vô tình xóa mờ đi tất cả, xóa mờ cả một dĩ vãng vàng
son của cung thành Ca Tỳ La Vệ. Đây là kinh thành của dòng
họ Thích Ca (Sakya), nơi Đức Phật đã sống trong suốt 29
năm dài. Tôi tự trầm ngâm, hay là họ đã lầm khi áp đặt
cho chỗ này là kinh thành Ca Tỳ La Vệ, chứ thành Ca Tỳ La
Vệ ngày nào của Đức Phật mà như thế này ư? Nhưng
không, chỉ một giây sau là tôi lấy lại thăng bằng trong
tâm tưởng khi nhớ tới những lời dạy của Đức Thế Tôn
về luật “sanh trụ dị diệt” của vạn hữu. Đứng trước
cảnh điêu tàn đổ nát, lòng tôi bỗng chạnh nhớ đến hai
câu thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương:
“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Lầu cũ lâu đài bóng tịch dương.”
(Phế
tích trong thành Ca Tỳ La Vệ bên phía Nepal)
Ca
Tỳ La Vệ, mới ngày nào là một vương quốc phồn thịnh
trù phú, thành quách kiên cố, dân chúng an cư lạc nghiệp,
mà bây giờ chỉ còn trơ lại một đống gạch vụn hoang tàn
đổ nát với những túp lều xiêu vẹo. Ôi thành quách kiên
cố mà còn bị chiếc búa thời gian nghiền nát, huống là
con người! Chính nơi những phế tích của các cung điện này,
cả ba vị là Đức Phật, Đông Cung Thái Tử Nan Đà (con
ruột của bà di mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề), và La Hầu La đã
chứng kiến cảnh vua Tịnh Phạn trong giờ phút lâm chung, thiết
tha muốn một trong ba người thân thương của ông ta đứng
ra chấp chánh, nhưng cả ba đều kiên quyết giữ vững sự
tu hành và thành đạo của mình. Cuối cùng nhà vua phải nhường
ngôi lại cho hoàng thân Mahanama, con của hoàng đệ Sukkodana
của vua Tịnh Phạn. Sau khi vua Tịnh Phạn băng hà, nhìn cảnh
đời tan hợp hợp tan, nên nhiều lần di mẫu Ma Ha Ba Xà Ba
Đề đã khẩn cầu Đức Phật cho phép mình được xuất gia
tu hành, nhưng cả ba lần Đức Phật đều từ chối, không
phải Ngài không muốn cho người nữ xuất gia, vì Ngài biết
nếu tu hành tinh chuyên người nữ cũng có thể đắc quả
A La Hán như mọi người, thế nhưng người nữ nặng nghiệp
khi được cho vào giáo đoàn chính họ sẽ làm cho giáo pháp
mai một đi sớm hơn. Chính vì thế mà Ngài rất do dự không
quyết định việc cho người nữ xuất gia.
Thật
tình mà nói, nếu ngày ấy Thái Tử Tất Đạt Đa không quyết
chí từ bỏ cung vàng điện ngọc, ra đi tầm đạo thì có
lẽ giờ này tiếng tăm của Ngài cũng đã bị chiếc búa thời
gian nghiền nát từ lâu như những lầu cũ lâu đài trong cung
điện Ca Tỳ La Vệ của Ngài vậy. Nơi đây bây giờ nào khác
chi hoang địa? Nhìn những mái tranh tàn tạ, những thân hình
gầy guộc xanh xao của cư dân ở đây lòng chúng tôi bỗng
chùng xuống. Theo sự thuyết minh của sư cô Liên Phụng thì
theo truyền thuyết Phật giáo, kinh thành này bị tàn phá và
sụp đổ từ sau khi vua Tỳ Lưu Ly, con vua Ba Tư Nặc, bấy
giờ là vua của xứ Kosala, vì lời thề mà tàn sát cả dòng
họ Thích Ca. Mặc dù Đức Phật đã hai lần can ngăn, nhưng
chính Ngài cũng biết nghiệp lực của dòng họ mình chẳng
những khiến cho dòng họ bị tiêu diệt, mà kinh thành nguy
nga tráng lệ cũng sẽ biến thành nhà tranh vách đất, đất
nước trù phú thịnh vượng sẽ trở nên nghèo nàn suy sụp
và khổ sở, tang điền sẽ biến thành thương hải. Đây là
một tấn bi kịch nói lên những cực đoan trong một xã hội
Ấn Độ giai cấp thời cổ đại. Theo chánh sử Phật giáo
thì vua Ba Tư Nặc (Prasenajit), cũng thuộc dòng dõi Ikshvaku,
vì muốn bang giao với dòng họ Thích Ca nên cho người đến
để cầu hôn. Ngược lại, thời đó dòng họ Thích Ca lại
cho rằng vua Ba Tư Nặc không thuộc dòng dõi Sát Đế Lợi
nên không muốn gã công chúa dòng Thích Ca, nhưng vì thời đó
Kosala là một cường quốc nên đã cho một thị nữ tên Vasbhaktiya
cải trang làm công chúa về với vua Ba Tư Nặc. Vua Ba Tư Nặc
đã phong nàng làm hoàng hậu và ít lâu sau đó thì nàng Vasbhaktiya
hạ sanh thái tử Tỳ Lưu Ly. Khi trưởng thành, thái tử Tỳ
Lưu Ly muốn về thăm quê ngoại, bà Vasbhaktiya hết sức cản
ngăn nhưng không được. Thái tử Tỳ Lưu Ly cũng được dòng
họ Thích Ca tiếp đón như một quốc khách và cho ngụ tại
sứ quán. Tuy nhiên, khi thái tử ra về thì người ta cho rữa
sứ quán bằng sữa tươi. Một người hầu của Thái tử vì
bỏ quên đồ trở lại lấy, thấy được cảnh này, trở
về báo cho thái tử Tỳ Lưu Ly cớ sự. Vì thế mà thái tử
tức giận thề rằng: “Ta sẽ không những rữa sứ quán,
mà sẽ rữa cả kinh thành Ca Tỳ La Vệ bằng máu.” Sau đó
thái tử âm mưu đoạt ngôi vua cha khi vua Ba Tư Nặc đang đi
nghe Đức Phật thuyết pháp. Khi hay tin thoán nghịch này nhà
vua phải chạy sang xứ Ma Kiệt Đà để lánh nạn, nhưng đến
giữa đường thì băng hà vì tức tối. Sau đó Tỳ Lưu Ly
đã ba lần cất quân sang đánh Ca Tỳ La Vệ, nhưng hai lần
đầu nhờ có Đức Phật cản ngăn, đến lần thứ ba thì
Tỳ Lưu Ly đã tắm máu cả dòng họ Thích Ca, chỉ một số
ít người chạy thoát về Kathmandu. Theo Huyền Trang trong Đại
Đường Tây Vực Ký, số tử vong lên 9999. Tỳ Lưu Ly tàn sát
đến đứa trẻ sơ sinh cũng không tha. Kể từ đó, kinh thành
Ca Tỳ La Vệ trở nên hoang vu dù có một số người nhớ ân
đức của Đức Phật, có trở về đây xây dựng lại một
số đền đài, nhưng ngày nay kinh thành Ca Tỳ La Vệ không
còn gì ngoài những nền tháp, những đống gạch vụn, những
hàng cây mọc không trật tự và vô số cỏ dại vì thiếu
người chăm sóc. Năm 1898, nhà khảo cổ người Đức tên Fuhrer
đã khai quật được một cái hồ hình chữ nhật, mà người
ta tin rằng đây chính là nơi vua Tỳ Lưu Ly đã tắm máu dòng
họ Thích Ca. Tại đây có 17 ngọn tháp, người ta cũng
tìm thấy những tảng đá có hình hoa sen và những loại vũ
khí thời xa xưa. Nhà khảo cổ Smith và nhiều người khác
cho rằng nơi đây có thể là những ngôi tháp được những
người kính ngưỡng dòng họ Thích Ca dựng lên để tưởng
niệm những người đã bỏ mình trong cuộc chiến với vua
Tỳ Lưu Ly.
Ngài
Pháp Hiển, hành hương Ấn Độ năm 409 đã ghi lại như sau:
“Từ những ngọn núi đầy tuyết trắng xóa của dãy Hy Mã
Lạp Sơn nhìn xuống thành Ca Tỳ La Vệ, một thành phố
nằm dọc theo bờ sông. Những bức tường đổ nát bằng gạch
được bao bọc bởi một hào sâu. Những bức tường của
cung thành thì lớn hơn và biểu hiện một trung tâm văn hóa
cao.”Khi Ngài Pháp Hiển đến kinh thành Ca Tỳ La Vệ, thì
nơi đó là một nơi không có vua và không có cả thần dân,
chỉ có một vài Tăng sĩ đang trụ xứ tại đó. Ranh giới
của kinh thành được nhận biết qua những bờ thành mục
nát. Đây nơi Thái Tử mục kích cảnh sanh, lão, bệnh, tử.
Kia là cửa thành Đông, nơi Thái Tử Tất Đạt Đa rời bỏ
kinh thành ra đi tìm đạo giải thoát. Còn đằng kia là chỗ
ngài A Tư Đà thiền định. Đó là chỗ Đề Bà Đạt Đa đã
giết chết con voi. Xa xa đàng kia là chỗ mũi tên của Thái
Tử ghim xuống sau đoạn đường bay đi hơn 30 lý (tức là
4.8 dặm Anh). Còn đây chính là nơi đã phun lên một vòi nước,
cũng là nơi mà 500 người trong dòng họ Thích Ca quy-y theo Phật.
Những nơi đất chấn động sáu lần, nơi Đức Phật gặp
vua Tịnh Phạn sau khi Ngài giác ngộ, nơi Đức Phật giảng
pháp cho chư Thiên, nơi Trời Đế Thích đứng hầu Phật, nơi
Thái tử Tỳ Lưu Ly sát hại dòng họ Thích Ca, tất cả những
nơi ấy đều được Phật tử xây tháp kỷ niệm.
(Phế
tích những nền đá tại thành Ca Tỳ La Vệ phía bên Népal)
Trong
Đại Đường Tây Vực Ký, Ngài Huyền Trang ghi chép tường
tận hơn: “Thành Ca Tỳ La Vệ có một chu vi khoảng 4.000 lý.
Trong đó có trên 10 thành phố, tất cả đều hoang phế và
điêu tàn tột độ. Thủ đô cũng bị đất lấp và đổ nát.
Cấm cung nằm trong thủ đô và có chu vi khoảng 14 hay 15 lý.
Hoàng cung được xây dựng bằng gạch đỏ. Những nền tường
vẫn còn vững chắc và cao. Nơi này có lẽ đã bị bỏ phế
từ lâu. Nhưng làng mạc có dân cư rất là ít và tiêu điều.
Nơi đây hiện giờ không có ai trị vì cả. Mỗi một phố
có một trưởng phố riêng. Đất đai rất là màu mỡ và được
khai thác theo từng mùa. Người dân ở đây rất hiền lành
và cần mẫn. Có lẽ có trên 1.000 Tăng xá bị bỏ hoang. Gần
nơi cung thành vẫn còn một Tăng xá có khoảng 3.000 Phật tử
đang tu học theo truyền thống Tiểu Thừa. Ở đây cũng có
một số đền Đế Thích được cúng tế thịt sống. Bên
trong hoàng thành còn những tường nhà đổ nát. Có lẽ đây
là cấm cung của vua Tịnh Phạn vì một ngôi tháp với hình
ảnh nhà vua đã được dựng lên nơi đây. Không xa mấy là
tàn tích của nơi mà hoàng hậu Ma Da cư ngụ. Trên nền
đá cũ người ta đã xây một ngôi tháp có hình hoàng hậu.
Phía Đông Bắc của hoàng cung là một ngôi tháp, kỷ niệm
nơi nhà tiên tri A Tư Đà đã tiên tri cho Thái Tử... Nơi cổng
Nam của hoàng cung có một ngôi tháp , nơi đánh dấu Thái Tử
ném con voi đi xa sau khi thắng cuộc thi đấu với các hoàng
thân khác. Bên hông nơi này là một ngôi tháp có hình Thái
Tử. Kế bên ngôi tháp này là một ngôi tháp nơi hoàng phi
và thái tôn nghỉ ngơi. Trong đó có hình của hoàng phi Da Du
Đà La và thái tôn La Hầu La. Bên hông ngôi tháp này lại là
ngôi tháp có hình chú bé đang học tập. Phía Đông Nam của
kinh thành là một ngôi tháp thờ tượng Thái tử đang cỡi
một con tuấn mã trắng. Đây là nơi Thái tử đã rời kinh
thành. Bên ngoài mỗi cổng thành đều có một ngôi tháp, mỗi
ngôi tháp đều có tượng một cụ già, một người bệnh,
một người chết và một sa môn. Đó chính là những nơi mà
Thái tử trên đường ngoạn cảnh đã nhìn thấy các cảnh
sanh, lão, bệnh, tử và chiêm ngưỡng bậc sa môn. Phía Đông
Bắc cách kinh thành khoảng 40 lý có một ngôi tháp đánh
dấu sự kiện Thái tử trong một ngày lễ hạ điền đã ngồi
dưới gốc cây và đạt được sơ thiền. Phía Đông Nam cửa
thành có trăm ngàn ngọn tháp, đánh dấu nơi dòng họ Thích
Ca bị sát hại. Vua Tỳ Lưu Ly đã đánh chiếm và bắt tất
cả dòng họ Thích 9999 người, sau đó ra lệnh xử chém tất
cả. Thây họ chất thành đống như rơm và máu của họ chảy
thành hồ. Các vị Đế Thích đã kích động lòng người để
họ đến thu thập xương tàn mà đem chôn. Phía Tây Nam của
nơi dòng họ Thích Ca bị vua Tỳ Lưu Ly sát hại có bốn ngôi
tháp nhỏ. Phía Nam của thủ đô khoảng 3 hay 4 lý là một
vườn cây Ni Câu Đà (Nyagrodha) nơi Đức Phật sau khi thành
đạo đã hội ngộ với vua cha và giảng dạy giáo pháp. Cách
bên hông Tăng xá không xa là một ngôi tháp kỷ niệm nơi Đức
Phật khi ngồi dưới gốc cây lớn hướng mặt về phương
Đông đã nhận một tấm y bằng chỉ kim tuyến của bà di
mẫu Ba Ha Ba Xà Ba Đề dâng cúng. Không xa nơi đó là một
tháp đánh dấu nơi Đức Phật cảm hóa tám vị vương tử
cùng 500 người trong dòng họ Thích. Bên trong cổng thành Đông
phía bên trái cũng có một ngôi tháp, nơi Thái tử thường
chơi thể thao lúc nhỏ. Bên ngoài thành là một ngôi đền
Đế Thích (Isvara). Trong đền có một bức tượng Đế Thích
trong tư thế đang quỳ và đứng dậy. Đây là ngôi đền mà
khi Thái tử còn sơ sanh đã được đưa vào theo tập tục
xưa của người Ấn. Bên ngoài cửa thành Nam, phía bên trái
là một ngôi tháp đánh dấu nơi Thái tử đã cùng các hoàng
tử khác tranh tài và mũi tên của Ngài đã chẻ đôi cái đích
bằng sắt. Từ nơi tháp này đi về phía Đông Nam 30 lý có
một ngôi tháp khác. Nơi đây có một vòi nước và nước
trong vắt như mặt gương. Đây chính là mũi tên nơi Thái tử
sau khi chẻ đôi cái đích đã ghim sâu xuống, từ đó một
vòi nước đã chảy ra, người địa phương gọi là ‘Tiễn
Tỉnh.’”
Ngày
nay về hướng Tây Nam của Taulihawa khoảng 6,5 cây số
có ngôi làng tên Baradhawa, nơi người ta khai quật được một
số di tích xưa, trong đó có một ngôi tháp chứa xá lợi của
Đức Phật, không xa nơi này là một cái giếng nhỏ mà người
ta tin là nơi mũi tên của Thái Tử Tất Đạt Đa đã ghim xuống
trong cuộc tranh tài ngày xưa. Tuy nhiên, chưa có bằng chứng
cụ thể nào về những khám phá mới này cả. Hiện tại các
nhà khảo cổ dự tính tiếp tục cho khai quật những vùng
phụ cận kinh thành Ca Tỳ La Vệ, nơi người ta tin rằng sẽ
đào lên được những di tích lịch sử liên quan đến kinh
thành Ca Tỳ La Vệ cũng như dòng họ Thích Ca như làng Hardewa
cách Taulihawa khoảng 5 cây số về phía Nam, làng Bikuli cách
Taulihawa khoảng 13 cây số về phía Đông Bắc, làng Chatradei
cách Taulihawa khoảng 5 cây số về phía Tây Bắc, và làng Araurakot
các Ca Tỳ La Vệ bên Népal khoảng 9 cây số về phìa Đông
Bắc...
(Dòng
sông chảy quanh hướng Đông Thành Ca Tỳ La Vệ)
(Dòng
sông nằm bên cửa thành Đông tại Ca Tỳ La Vệ)
Thành
Ca Tỳ La Vệ Nào?
Bên
Phía Népal hay bên phía Ấn Độ?
Năm
1896 nhà khảo cổ Alexander Cunningham đã dựa vào những tài
liệu của các ngài Pháp Hiển, Huyền Trang, cũng như dựa theo
các kinh điển khác của Phật giáo, đã tìm ra được gần
như chính xác địa điểm của kinh thành Ca Tỳ La Vệ. Theo
ông Cunningham thì kinh thành Ca Tỳ La Vệ nằm bên bờ sông
Bhagirathi, cách Rishi Kapila không xa. Theo những phế tích của
thành Ca Tỳ La Vệ hiện đang nằm bên bờ sông và phía Đông
là Vườn Lâm Tỳ Ni. Tuy nhiên, cho đến ngày nay chưa ai trong
giới khảo cổ học có thể xác định vị trí chính xác của
kinh thành Ca Tỳ La Vệ, vì vậy mà cả hai phía Ấn Độ và
Népal đều cho rằng kinh thành này nằm trong địa phận của
quốc gia mình. Bên phía Népal thì cho rằng thành Ca Tỳ La Vệ
nằm cách Vườn Lâm Tỳ Ni khoảng 27 cây số về hướng Tây.
Trong khi bên phía Ấn Độ lại cho rằng thành Ca Tỳ La Vệ
nằm trong địa phận Pipprahwa, thuộc vùng Basti của bang Uttar
Pradesh, cách nhà ga Naugarh trên tuyến đường xe lửa Gorakpur
Gonda 25 cây số, và cũng cách thành Ca Tỳ La Vệ bên Népal
khoảng 25 cây số. Hiện tại các nhà khảo cổ đang nỗ
lực nghiên cứu xem vị trí nào chính xác. Tuy nhiên, cho đến
ngày nay thì đa số đều tin rằng thành Ca Tỳ La Vệ bên Népal
có phần chính xác hơn nên hầu như đa số khách hành hương
đều đổ xô về đây chiêm bái.
Nói
gì thì nói, bốn chữ Ca Tỳ La Vệ luôn có một chỗ đứng
rất trang trọng trong lòng người Phật tử. Thành Ca Tỳ La
Vệ, dù nằm bên phía nào, dù bên Ấn Độ hay bên Népal, vẫn
là một di tích, một Thánh tích rất quan trọng trong lịch
sử Phật giáo. Nhưng đối với Phật tử chúng ta, làm sao
khỏi chạnh lòng đau xót khi nhìn thấy cảnh hoang tàn đổ
nát của thành Ca Tỳ La Vệ (cả hai bên Népal và Ấn Độ).
Hiện tại Phật tử khắp nơi đang ráo riết vận động trùng
tu lại khu Thánh tích này. Hy vọng trong những thập niên sắp
tới, con cháu chúng ta sẽ nhìn thấy Thánh tích một Ca Tỳ
La Vệ quang đản hơn những gì mà chúng ta đang thấy ngày
hôm nay.
Thành
Xá Vệ
2:00
giờ chiều cùng ngày, đoàn vượt biên giới Nepal-India đi
Xá Vệ (Sravasti). Trong thời Đức Phật còn tại thế, bên
thành Vương Xá thuộc xứ Ma Kiệt Đà do vua Tần Bà Sa La (Bimbisara)
cai trị, thì bên Xá Vệ Quốc thuộc vương quốc Câu Sa La
do vua Ba Tư Nặc (Prasenajit) trị vì. Theo truyền thuyết Phật
giáo thì vua Ba Tư Nặc cũng là một trong những vị vua đầu
tiên hộ trì Phật giáo rất chí tình. Ông là một vị đại
thí chủ của Đức Phật và Tăng đoàn trong những ngày đầu
khai sanh của Phật giáo. Và ông cũng là một trong những vị
quân vương Phật tử đầu tiên trong lịch sử Phật giáo.
Cũng theo truyền thuyết Phật giáo thì phần lớn sự tôn kính
và tín ngưỡng Phật giáo của nhà vua là do bà chánh hậu
Mallika. Bà rất sùng đạo, lại thiên phú cho tánh tình thông
minh hiền diệu. Bà rất thông thạo giáo lý, nên trong nhiều
trường hợp bà đã hướng dẫn và giúp đỡ chồng trên đường
đạo đức. Ngày trước, thành Xá Vệ là một kinh thành thịnh
vượng trù phú, với những cánh đồng bao la bát ngát. Chính
vì vậy mà Đức Phật đã ghi lại trong một bài kinh về Xá
Vệ như sau: “Dòng sông Achiravati (bây giờ là sông Rati) chảy
ngang qua những cánh đồng lúa mạch phì nhiêu. Chúng vây bọc
thành phố vĩ đại này, hòn ngọc của vương quốc Câu Sa
La cổ kính, và trong thành phố này có 57.000 dân cư trú ngụ,
người dân sống trong sự thịnh vượng trù phú.” Nhưng ngày
nay thì hoàn toàn ngược lại, dân chúng trong thành Xá Vệ
ngày nay nghèo nàn xơ xác với những mái nhà tranh vách đất
dọc hai bên đường. Trong khi tại thị trấn, chỉ có những
xây cất tạp nhạp, dường như không có kế hoạch gì cả.
Thành
Ca Tỳ La Vệ Bên Phía Ấn Độ
Trên
đường đi từ Népal về phía Ấn Độ, đoàn chúng tôi dự
tính ghé lại thăm thành Ca Tỳ La Vệ bên phía Ấn Độ, nhưng
khi qua khỏi biên giới thì màn sương chiều đã bắt đầu
lãng đãng khắp nơi, nên chúng tôi phải ngồi trên xe quan
sát. Theo người Ấn thì thành Ca Tỳ La Vệ nằm trong địa
phận Pipprahwa, thuộc vùng Basti của bang Uttar Pradesh, cách nhà
ga Naugarh trên tuyến đường xe lửa Gorakpur Gonda 25 cây số,
và cũng cách thành Ca Tỳ La Vệ bên Népal khoảng 25 cây số.
Sau khi chúng tôi vừa qua khỏi biên giới Népal thì mặt trời
cũng bắt đầu ngã bóng. Thấp thoáng phía trước mặt chúng
tôi là thị trấn Pipprahwa, cũng nghèo nàn như hầu hết các
thị trấn khác trong vùng biên giới Ấn Độ-Népal. Nếu xuôi
về hướng Đông Nam thì chúng tôi sẽ gặp thành phố Gorakhpur,
nhưng không, xe chúng tôi tiếp tục chạy về hướng Tây Bắc
để đi đến thành Xá Vệ. Thành Ca Tỳ La Vệ bên phía Ấn
Độ cũng hoang tàn đổ nát không khác chi thành Ca Tỳ La Vệ
bên phía Népal. Nhìn cảnh hoang sơ hai bên đường, không biết
hai hàng nước mắt của tôi thấm mặn trên môi tự lúc nào.
Tôi tự nghĩ: “Sao mà ướt át quá vậy, Đức Từ Phụ đã
không từng nhấn mạnh về vô thường trong các kinh điển
của Ngài hay sao?” Dù nói gì đi nữa, thì tôi vẫn là một
con người hết sức phàm phu tục tử, nên không thể nào ngăn
được những cảm súc bình thường của một con người. Khi
đi ngang qua vùng phế tích Ca Tỳ La Vệ bên phía Ấn Độ thì
trời đã bắt đầu tối nên chúng tôi tiếp tục đi đến
Xá Vệ. Dù sương đêm đã phủ đầy hai bên đường, khi xe
buýt vượt qua thị trấn, chúng tôi vẫn thấy rõ hai bên đường
trong thành Xá Vệ ngày nay chỉ còn lại những mái tranh nghèo
nàn lụp sụp, những con người ốm o gầy mòn. Dù đoạn đường
từ biên giới Ấn Độ-Népal về thành Xá Vệ chưa đầy 300
cây số đường chim bay, mãi đến gần 10 giờ đêm chúng tôi
mới tới Xá Vệ. Sau đó đoàn nghỉ đêm tại thành Xá Vệ,
Sri Lanka Guest House, thuộc Distt Sravasti, bang Uttar Pradesh.
Thành
Xá Vệ--Đức Phật Tranh Luận
Với
Lục Sư Ngoại Đạo
Trong
thời Đức Phật còn tại thế thì tại Xá Vệ Quốc đã xảy
ra một cuộc tranh luận vô tiền khoáng hậu. Lý do là thời
đó tại thành Xá Vệ có rất nhiều ngoại đạo sư. Khi họ
thấy đạo Phật càng ngày càng mạnh và có uy thế ở đây,
họ đâm ra bực bội, tâu lên vua Ba Tư Nặc. Nhà vua cho tiến
hành một cuộc tranh luận. Đây là cuộc tranh luận giữa Đức
Phật và lục sư ngoại đạo. Sáu nhà sư ngoại đạo thuộc
sáu trường phái triết học nổi tiếng nhất tại Ấn Độ
thời bấy giờ đã gởi lời thách thức tranh luận đến Đức
Phật. Lúc ấy Đức Phật đang trụ tại thành Vương Xá bên
xứ Ma Kiệt Đà, khi nhận được thơ thỉnh cầu, Đức Phật
bằng lòng và tuyên bố rằng cuộc tranh luận sẽ được tiến
hành dưới một tàng cây xoài. Trong khi nhà vua muốn cuộc
tranh luận ấy diễn ra trong những đại sảnh lớn. Để làm
cho lời tuyên bố của Đức Phật phải bị sai nên lục sư
ngoại đạo cho người đi đốn hết những cây xoài trong thành
Xá Vệ. Nhưng theo truyền thuyết Phật giáo, khi đến nơi Đức
Phật đã cho ném một hột xoài xuống đất và dùng thần
thông làm cho cây xoài ấy lớn và đơm bông kết trái nhanh
như thổi, tàng của nó che mát cả một khoảng đất rộng
như sảnh đường. Cuối cùng Đức Phật đã thắng tất cả
lục sư ngoại đạo trong cuộc tranh luận này. Vào thế kỷ
thứ hai trước Tây Lịch, vua A Dục đã thân hành đến chiêm
bái Xá Vệ Quốc. Tại đây ngài đã cho dựng 2 trụ đá bên
cổng phía Đông để đánh dấu nơi Đức Phật và chư Tăng
thường trú tại đây trong 24 mùa an cư kiết hạ. Ngoài ra,
nhà vua còn cho xây một ngôi chùa để thờ xá lợi của Đức
Phật. Đến thế kỷ thứ nhất sau tây Lịch, vua Kushana đã
cho chạm khắc một số hình tượng Phật vào các tháp để
thờ tại Xá Vệ. Đến thế kỷ thứ 3 sau Tây Lịch khi Ấn
Độ giáo bắt đầu phục hoạt thì Phật giáo vẫn còn hưng
thịnh, nhưng đến thế kỷ thứ 5 khi ngài Pháp Hiển du hành
chiêm bái Phật tích vào năm 409, thì Phật giáo ở Ấn Độ
bắt đầu đi vào thời kỳ suy tàn, và các di tích chùa tháp
Phật giáo tại Xá Vệ Quốc chỉ còn là những bóng mờ. Trong
Phật Quốc Ký, ngài Pháp Hiển đã ghi: “Xá Vệ Quốc xưa
kia, nơi Đức Thế Tôn và Tăng đoàn đã trải qua 24 mùa an
cư kiết hạ, lúc bấy giờ chỉ còn một số tu viện với
vài trăm Tăng sĩ tu tập. Khi thấy ngài đến họ lấy làm
lạ thăm hỏi và biết rằng ngài từ Trung Hoa sang, họ tán
thán lên rằng: ‘lạ thay! Vị này từ một nơi xa xôi tận
cùng trái đất mà cũng đến đây tu học. Chúng ta và các
vị trưởng lão tại đây chưa từng được trông thấy như
vậy.’ Hồi này Xá Vệ Quốc dân cư rất thưa thớt, tổng
cộng chỉ có khoảng chừng 200 gia đình sống nơi xưa kia vua
Ba Tư Nặc trị vì. Đi về cổng phía Nam của thành khoảng
1.200 trượng, phía bên trái của con đường là nơi mà xưa
kia trưởng già Tu Đạt xây cất tịnh xá cúng dường cho Đức
Phật. Cửa chính đi vào nằm bên hông của hai dãy phòng lớn,
trước mặt là hai trụ đá, trên đỉnh trụ bên trái là tượng
bánh xe, và trên đỉnh trụ bên phải là tượng một con trâu.
Những hồ nước trong xanh chung quanh những khu rừng cây hoa
lệ và vô số các loài hoa trong Kỳ Viên Tịnh Xá.”