Thành
Tỳ Xá Ly
Câu
Thi Na
Đại
Tháp Niết Bàn
Tháp
Trà Tỳ Angrachaya
Viện
Bảo Tàng Câu Thi Na
Chùa
Linh Sơn Tại Câu Thi Na
Các
Chùa Khác Tại Câu Thi Na
Phần
4
Thành
Tỳ Xá Ly
(Bia
tưởng niệm Thánh tích Tỳ Xá Ly)

4:30
giờ sáng ngày 4 tháng 12, đoàn chúng tôi rời Bồ Đề Đạo
Tràng đi Tỳ Xá Ly (Vaishali), cách Bồ Đề Đạo Tràng khoảng
253 cây xố về hướng Bắc. Sau khi qua khỏi thủ phủ Patna
(ngày trước là thành Pataliputra, tức là Hoa Thị Thành) chừng
60 cây số, những mái tranh nghèo của Tỳ Xá Ly hiện ra trước
mắt chúng tôi. Lòng tôi bỗng chùng xuống, mới ngày nào đây
kinh thành này còn trù phú thịnh vượng. Thế mà ngày nay chỉ
còn trơ lại những mài tranh nghèo, có lẽ còn nghèo nàn hơn
miền quê nước Việt nữa là khác. Tuy nhiên, có đến đây
mới thấy được hết những nét đạo đức của người dân
miền quê Ấn Độ. Họ sống trong cảnh nghèo nàn cơ cực
và thiếu thốn đủ mọi bề, nhưng họ hiền hậu và dễ
thương. Lúc nào trên mặt họ cũng điểm sẵn một nụ cười
thân thiện với mọi người. Họ nghèo khổ về mặt vật
chất, nhưng tinh thần đạo đức của họ thật thâm thúy.
Dù đồng ruộng bao la, nhưng sông ngòi hiếm hoi, cả xứ Ấn
Độ chỉ có hai con sông lớn là Hằng Hà và Ấn Hà, nên đất
đai cằn cỗi và con người cũng khô cằn như mảnh đất nơi
họ sinh ra và lớn lên. Tỳ Xá Ly ngày trước đã từng là
một kinh thành trù phú, một trong những nước Cộng Hòa thịnh
vượng nhất trong vùng Bắc Ấn thời đó, dân cư đông đúc,
sinh hoạt sung túc, dân chúng vừa hiền lành vừa đạo đức,
nhưng hiện nay nó chỉ là một thị trấn nhỏ bé nghèo nàn.
Tuy khoảng cách không xa lắm, nhưng đường sá vừa hẹp vừa
xấu với rất nhiều ổ gà lởm chởm trong suốt đoạn đường
đi làm cho khoảng cách tưởng như bất tận. Chính vì vậy
mà trong khoảng giữa thế kỷ 20, rất nhiều người muốn
đi Tỳ Xá Ly mà không đi được. Tỳ Xá Ly còn là nơi có
nhiều sự kiện lịch sử liên quan đến Đức Phật và công
cuộc hoằng pháp của Ngài. Theo lịch sử Phật giáo, 5 năm
sau ngày thành đạo, Đức Phật đã du hóa đến vùng này.
Đây là thủ đô của một trong những nước Cộng Hòa đầu
tiên trên thế giới. Phía Nam Tỳ Xá Ly là dòng sông Hằng
thiêng liêng, phía Bắc về phía Népal thấp thoáng chân núi
Hy Mã Lạp Sơn, phía Tây là dòng sông Dangdak. Khi rời Tỳ Xá
Ly, Đức Phật đã ngoái đầu nhìn lại và tán thán: “Ôi
xinh đẹp thay thành phố Tỳ Xá Ly! Ôi xinh đẹp thay những
điện thờ và những khu lâm viên của Tỳ Xá Ly.” Thành phố
Tỳ Xá Ly còn là quê hương của Ngài Duy Ma Cật, một vị
cư sĩ nổi tiếng mà Đức Phật đã đề cập như một nhân
vật giác ngộ chính trong Kinh Duy Ma Cật. Thành phố này còn
là nơi nhận một phần tám xá lợi của Đức Phật ngay sau
lễ Trà Tỳ của Ngài. Những năm trước khi nhập diệt, Đức
Phật thường hay trú ngụ tại thành Tỳ Xá Ly này. Và đây
cũng chính là nơi ngài A Nan nhập diệt. Tại Tỳ Xá Ly, đoàn
thăm viếng nơi cất giữ xá lợi của Đức Phật, Giảng Đường,
hương thất của Kiều Đàm Di Mẫu và các thánh tích gần
đó. Sau khi khai quật Tỳ Xá Ly, người ta tìm thấy trụ đá
do vua A Dục dựng lên vào thế kỷ thứ 3 trước Tây Lịch
vẫn còn nguyên vẹn với tượng sư tử trên đầu trụ.
(Ngọn
tháp và trụ đá do vua A Dục dựng lên
vào
thế kỷ thứ hai trước Tây Lịch tại Tỳ Xá Ly)
Cách
trụ đá A Dục chừng 2 cây số là ngọn tháp kỷ niệm nơi
Đức Phật an trụ hằng ngày và được voi dâng mật và trái
cây. Tháp đã bị hư hại gần hết, chỉ còn trơ lại nền
tháp nên người ta cho xây dựng mái che bên trên để bảo
vệ phần còn lại của ngôi phế tháp này. Chính nơi này Đức
Phật đã dạy Tăng đoàn về pháp Lục Hòa (6 điều sống
chung tu học) và Thất Diệt Tránh Pháp (bảy pháp không tranh
cãi). Đây cũng chính là nơi đánh dấu Đức Phật lần đầu
tiên cho phép người nữ xuất gia.
(Phế
tích những ngôi tháp trong thành Tỳ Xá Ly)
Còn
một sự kiện lịch sử quan trọng khác xảy ra tại thành
Tỳ Xá Ly vào thời Đức Phật còn tại thế. Chính tại nơi
đây một bà hoàng trong thành Ca Tỳ La Vệ là bà di mẫu Ma
Ha Ba Xà Ba Đề đã được Đức Phật cho phép xuất gia và
thành lập Ni đoàn đầu tiên. Và cũng chính tại đây, Đức
Phật đã cho phép Ni đoàn thu nhận nàng Amrapali, một ca nữ
bị xã hội khinh khi nhất vào thời đó. Theo truyền thuyết
Phật giáo thì khi Đức Phật đang ở tại thành Tỳ Xá Ly
(Vaishali) thì di mẫu của Ngài là bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề (Mahapajapati)
và 500 cung nữ thuộc dòng họ Sakya đã kiên nhẫn đi bộ từ
thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) đến thành Tỳ Xá Ly, thỉnh
cầu Ngài cho phép nữ giới xuất gia. Dù trước đó đã bao
lần Đức Phật từ chối. Khi đến Tỳ Xá Ly, bà di mẫu nhờ
A Nan bẩm Phật với lời thỉnh cầu chấp nhận bất cứ điều
kiện gì mà Phật sẽ đặt ra. Khi ra mắt Đức Phật, Đại
Đức A Nan thưa: “Bẩm Đức Thế Tôn, đệ tử vừa gặp
lệnh bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề và khoảng 500 cung nữ đến từ
thành Ca Tỳ La Vệ, họ đang đứng phía ngoài cách tịnh xá
của Thế Tôn không xa lắm. Ai nấy đều đã xuống tóc và
khoát y vàng, mặt mày đầy bụi và chân cẳng sưng vù, trông
rất thảm não. Xin Đức Thế Tôn hứa khả cho họ!” Đức
Phật im lặng không nói, vì Ngài đã biết rất rõ câu chuyện
xảy ra như thế nào, và chính Ngài đang tìm phương cách giải
quyết cho vấn đề. Khi đó Đại Đức A Nan thắc mắc hỏi
Ngài: “Bẩm Đức Thế Tôn, người nữ xuất gia tu hành có
thể nào đắc được những Thánh quả hay không?” Đức Phật
trả lời ngay là ‘được’. Vì không hiểu ý của Đức
Thế Tôn nên Đại Đức A Nan hỏi tiếp: “Như vậy thì tại
sao Đức Thế Tôn không bằng lòng cho người nữ xuất gia?”
Thấy Đức Phật vẫn im lặng không nói gì, nên A Nan thưa
tiếp: “Bẩm Thế Tôn, lệnh bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề là người
đã nuôi nấng Đức Thế Tôn ngay từ khi Ngài mới sanh ra có
7 ngày và thương yêu Ngài không khác chi Mẫu Hậu Maya. Hôm
nay vua cha không còn nữa nên lệnh bà chán cảnh đời tan hợp
hợp tan và quyết chí xuất gia tu hành. Lệnh bà đã cởi bỏ
tất cả những trang sức, tất cả quần là áo lụa và đi
chân đất từ kinh thành Ca Tỳ La Vệ đến đây chỉ để
cầu xin Thế Tôn hứa khả cho lệnh bà và các cung nữ xuất
gia. Xin Thế Tôn từ bi hứa khả cho lệnh bà được xuất
gia tu hành theo giáo pháp của Ngài.” Đại Đức A Nan cứ
tiếp tục khẩn khoản, trong khi Đức Phật vẫn lặng yên
suy nghĩ. Sau đó Ngài cho thị giả sang mời các vị đại đệ
tử khác như Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, A Nậu
Lâu Đà, Phú Lâu Na... đến hội ý với Ngài. Thời Đức Phật,
chuyện Ngài san bằng giai cấp đã làm cho ngoại đạo vô cùng
bất mãn rồi, huống là chuyện giải phóng phụ nữ và cho
phép họ xuất gia là khất sĩ như nam giới! Ngoài những khó
khăn đó thì lệnh bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề còn từng là một
hoàng hậu tiền hô hậu ủng, cả đời chỉ biết ra lệnh
chứ chưa từng nhận sự chỉ giáo từ bất cứ một ai. Còn
nữa, cả đời bà đã sống trong cung vàng điện ngọc, bây
giờ nếu gia nhập giáo đoàn, liệu lệnh bà có thể vượt
qua những khó khăn cực kỳ đang chờ trước mắt bà hay không?
Vân vân và vân vân. Còn nữa! phụ nữ từ ngàn xưa chưa bao
giờ được phép sống chung với nam giới nơi công cộng, bây
giờ nếu được cho phép, chắc chắn sẽ có những xáo trộn
không tránh khỏi cho cả hai bên. Sau khi tôn giả Xá Lợi Phất
đề nghị một số giới luật đặt thêm cho người nữ nếu
Thế Tôn muốn hứa khả cho người nữ xuất gia. Đức Phật
cũng gật đầu đồng ý với Ngài Xá Lợi Phất Như vậy
sau khi hội ý với các đại đệ tử, Đức Phật chấp nhận
lời thỉnh cầu của ngài A Nan, bằng lòng cho nữ giới xuất
gia, tuy nhiên, Ngài đặt ra Bát Kính Giới và dạy rằng mãi
mãi nữ giới xuất gia phải tuân theo luật này. Như vậy thành
Tỳ Xá Ly là nơi chứng kiến cảnh xuất gia đầu tiên của
nữ giới để gia nhập vào giáo đoàn. Đại Đức Xá Lợi
Phất được Đức Phật ủy thác cho việc hướng dẫn và
giảng dạy cho các vị tân nữ tu này. Và kể từ đó, giáo
đoàn của Đức Phật bao gồm tứ chúng: Tỳ Kheo, Tỳ Kheo
Ni, cư sĩ nam và cư sĩ nữ. Sau khi cho phép người nữ xuất
gia, Đức Phật lại bị một làn sóng chống đối mạnh mẽ
khác từ khắp nơi trong xứ, ngay cả việc vu khống bậy bạ
cho Ngài. Từ đó người ta mới thấy được lòng từ bi bao
la của Đức Phật khi Ngài cân nhắc trong việc cho phép người
nữ xuất gia. Khu hương thất của Kiều Đàm Di Mẫu đã được
làm bằng gạch, nhưng đã bị thời gian tàn phá nên chỉ còn
trơ lại một nền gạch vụn. Theo truyền thuyết Phật giáo
thì về sau này bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề cũng chứng quả A La Hán.
Đó là những sự kiện lịch sử cực kỳ quan trọng, chẳng
những cho Phật giáo, mà còn cho lịch sử tiến bộ của nhân
loại, vì nó đánh dấu sự kiện san bằng sự kỳ thị giữa
nam và nữ, một sự kiện chứng tỏ cho thế giới thấy rõ
tư tưởng Phật giáo chẳng những san bằng giai cấp trong thời
cổ Ấn Độ, mà nó còn san bằng mọi cách biệt nghèo giàu,
nam nữ, gốc gác... Phải nói Phật giáo đã làm một cuộc
cách mạng vô tiền khoáng hậu ngay trên cái nôi sanh ra nó,
vì trong xã hội Ấn Độ theo Ấn giáo từ ngàn xưa, người
phụ nữ chỉ bị xem như là nô lệ, họ không được phép
làm bất cứ chuyện gì ngay cả chuyện giao dịch thương mại
hằng ngày. Chính Phật giáo đã mở ra cho họ một quang lộ
thênh thang. Tuy nhiên, lịch sử không may đã tạo ra đạo quân
Hồi giáo oan nghiệt, triệt tiêu Phật giáo ngay trên quê hương
của chính nó.
Ngoài
ra, truyền thuyết dân gian tại đây còn ghi lại, vào thời
Đức Phật còn tại thế, thành Tỳ Xá Ly đã có lần bị
hạn hán và bệnh dịch lan tràn khắp nơi, giết hại vô số
sanh linh. Đức Phật đã đáp lời vua xứ này làm lễ cầu
nguyện và dân trong thành thoát nạn. Lần sau cùng Đức Phật
về Tỳ Xá Ly năm đó Ngài đã 80 tuổi. Ngài đã ghé lại
khu vườn xoài của nàng Amrapali. Tại đây Ngài đã ôn lại
với tôn giả A Nan về cuộc đời của Ngài: “Cuộc đời
của một kiếp qua đi thật nhanh, mới ngày nào đây chàng
thiếu niên Tất Đạt Đa còn trai trẻ, tham dự các cuộc tranh
tài, rồi xuất gia, rồi 6 năm khổ hạnh... Tất cả như mới
xảy ra hôm qua. Sau bốn mươi lăm năm hoằng hóa, đã đến
hồi ta phải bỏ lại xác thân vô thường. Đời người trôi
qua như một giấc mơ. Với ta nhân duyên nay đã đủ, người
đáng được độ ta đã độ xong. Thật chẳng còn gì để
luyến tiếc. Ta cảm thấy hài lòng mãn nguyện.” Sau khi rời
khỏi Tỳ Xá Ly và khu vườn xoài của nàng Amrapali, Đức Phật
đã tuyên bố với chúng Tăng: “Ở nơi đây ta đã thực hiện
xong hành động tôn giáo sau cùng và chẳng bao lâu sau ta sẽ
nhập Niết Bàn.” Sau đó Ngài cùng A Nan và Tăng chúng đi
về hướng thành Câu Thi Na.
Một
sự kiện lịch sử quan trọng nổi bậc tại đây là 100 năm
sau ngày Đức Phật nhập Niết Bàn, cuộc kết tập kinh điển
lần thứ hai đã diễn ra, do trưởng lão Da Xá (Yassa) triệu
tập 700 chư Tăng từ khắp nơi về đây. Từ đó mới bắt
đầu phân ra Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ. Thượng
Tọa Bộ chủ trương bảo thủ, giữ lấy những nguyên tắc
giới luật thời Đức Phật còn tại thế. Trong khi Đại Chúng
Bộ có phần phóng khoáng và du di hơn. Họ chủ trương tùy
duyên hóa độ, những nguyên tắc của Giáo đoàn có thể thay
đổi nhằm thích ứng với hoàn cảnh sống của thời đại
đó, miễn không đi ngược lại những lời Phật dạy là được.
(Đại
Tháp tại thành Tỳ Xá Ly,
nơi
xảy ra cuộc kết tập kinh điển lần thứ hai,
100
năm sau ngày Phật nhập Niết Bàn)
Trong
các cuộc đào xới vào những thế kỷ 18, 19 và 20, các nhà
khảo cổ đã tìm thấy ngôi tháp do vua A Dục xây dựng vào
thế kỷ thứ 2 trước Tây Lịch, có đường kính trên mười
chín thước và chiều cao bốn thước, được xây kế bên
trụ đá có tượng sư tử trên đầu. Người ta tin rằng đây
là ngôi tháp được xây trên nền tháp nguyên thủy, nơi những
người Lichavi đã thờ xá lợi của Đức Phật. Cách ngôi
tháp thờ xá lợi không xa có ngọn tháp được dựng lên nhằm
đánh dấu ngôi nhà của nàng kỷ nữ Amrapali ngày trước.
Đặc biệt trụ đá vua A Dục xây dựng tại đây có hình
con sư tử trên đỉnh, và đến nay trụ vẫn còn nguyên vẹn.
Trụ cao khoảng bảy thước, đứng sừng sững giữa trời
mây bao la, quanh đó là một hàng cổ thụ già nua với những
nền phế tháp như thách thức với thời gian. Theo truyền thuyết
Phật giáo, 300 năm sau ngày Đức Phật nhập Niết Bàn, vua
A Dục đã đến chiêm bái Tỳ Xá Ly. Để tưởng nhớ đến
ân đức của Đức Thế Tôn, nhà vua đã cho dựng lên một
trụ đá trắng, trên đỉnh có hình sư tử và một tháp thờ
xá lợi của Đức Phật.
Vào
thế kỷ thứ 5, khi đến Tỳ Xá Ly chiêm bái, ngài Pháp Hiển
có ghi lại rằng: “Về phía Bắc thành phố Tỳ Xá Ly có
ngôi tháp hai tầng. Đức Phật khi đến Tỳ Xá Ly đã từng
lưu lại nơi này. Tại đây cũng có một ngôi tháp tưởng
niệm ngài A Nan. Bên trong thành phố, nàng Amrapali cũng có xây
một tháp cúng dường Đức Phật, và ngày nay nền tháp ấy
vẫn còn đó. Khoảng 3 lý về phía Nam thành phố, mặt Tây
của con đường là một khu vườn nơi nàng Amrapali cúng dường
cho Đức Phật. Khi Đức Phật sắp sửa nhập diệt, Ngài và
Tăng chúng đã rời Tỳ Xá Ly nơi cổng thành phía Tây.” Đến
thế kỷ thứ bảy (629), Ngài Huyền Trang đã ghi lại trong
Đại Đường Tây Vực Ký như sau: “Vương quốc Tỳ Xá Ly
có chu vi rộng khoảng 5.000 lý. Đất đai ở đây phì nhiêu
màu mỡ; hoa trái đủ loại rất phong phú. Xoài và chuối đầy
dẫy ở khắp mọi nơi và giá cả rất rẻ. Người dân ở
đây rất trong sạch và thành thật. Họ thích triết lý tôn
giáo và hiếu học. Ngoại đạo và Phật giáo sống chung rất
hài hòa. Có hàng trăm ngôi chùa nằm rải rác khắp nơi, nhưng
đa số đã bị hư hoại. Chỉ có ba hoặc năm ngôi tịnh xá
là còn nguyên vẹn, nhưng có rất ít Tăng sĩ tu tập tại những
nơi đó. Tại đây cũng có rất nhiều đền đài ngoại đạo,
phần nhiều thuộc phái Ni Kiền Tử. Kinh thành Tỳ Xá Ly đã
bị hư hại nhiều. Những nền móng xưa có chu vi từ 60 đến
70 lý. Khu nội cung dành cho hoàng gia rộng khoảng 4 hoặc 5
lý. Có rất ít người sống tại đây. Về hướng Tây Bắc,
cách hoàng thành chừng 5 hay 6 lý, có một ngôi chùa với một
số Tăng sĩ tại đây. Họ theo truyền thống nguyên thủy,
thuộc Chánh Lượng Bộ. Cạnh đó là một ngôi tháp. Chính
ở nơi đây Đức Phật đã thuyết kinh Duy Ma Cật, và có một
vị trưởng giả tên Ranakara cùng bạn hữu của ông đã cúng
dường lên Đức Phật những chiếc lọng báu để che nắng
mưa cho Ngài. Về hướng Đông là ngôi tháp, nơi ngài Xá Lợi
Phất đã chứng quả A La Hán. Về hướng Đông Nam, có một
ngôi tháp do tổng thống của xứ Cộng Hòa Tỳ Xá Ly xây dựng
vì sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, vua nước này đã nhận
một phần xá lợi của Ngài.”
Ngày
nay phế tích của cả hai nơi này đã được ghi dấu và được
cơ quan UNESCO công nhận. Trụ đá thì còn gần như nguyên vẹn.
Tuy nhiên, ngôi tháp thờ xá lợi chỉ còn trơ lại nền và
hầm tháp, vì thế người ta phải cất lên một mái tôle để
bảo vệ cho Thánh tích thiêng liêng này. Theo bảng ghi chú bên
ngoài tháp, thì ban đầu ngôi tháp này chứa đựng một số
xá lợi rất lớn (một phần tám tổng số xá lợi của Đức
Phật), đến thời vua A Dục, ngài cho lấy chín mươi phần
trăm số xá lợi tại đây để chia cho tám mươi bốn ngàn
tháp nhỏ khác trong khắp xứ Ấn Độ. Về sau có một vị
vua khác cũng muốn mở lại ngôi tháp, nhưng khi vừa bắt đầu
đào đất lên, thì khắp nơi chấn động khiến nhà vua ngưng
ngay công việc chứ không dám tiến hành đào thêm nữa.
(Phế
tích ngôi tháp thờ xá lợi của Đức Phật đã đổ nát.
Ngày
nay người ta phải cất lên một mái tôle để bảo vệ
phần
phế tích còn lại bên dưới)
(Phần
còn lại phía bên dưới của phế tích ngôi tháp thờ
xá
lợi của Đức Phật tại Tỳ Xá Ly)
Về
hướng Nam trụ đá A Dục có một hồ nước khá lớn. Tương
truyền đây là cái hồ do 500 con khỉ đào cúng dường cho
Đức Phật để Ngài tắm giặt hằng ngày trong thời gian Ngài
lưu lại thành Tỳ Xá Ly, và cũng chính tại đây ngày ngày
đàn khỉ đều mang mật ngọt đến cúng dường cho Đức Phật.
Theo tài liệu đích xác của các nhà khảo cổ thời cận đại
thì tất cả những phế tích tại làng Pesa ngày nay, cách thủ
phủ Patna (Pataliputra) khoảng 60 cây số là phế tích của thành
Tỳ Xá Ly, và những ngôi phế tháp rải rác được bộ tộc
Lichavi xây dựng để thờ xá lợi của Đức Phật mà họ
nhận được từ bộ tộc Mallas.
Gần
khu phế tích Phật giáo ở Tỳ Xá Ly có một ngôi chùa và
một tháp Hòa Bình (Darjeeling Peace) cũng giống như Tháp Hòa
Bình trên núi Linh Thứu, cũng do phái Nhật Liên của người
Nhật Bản xây dựng. Đoàn chúng tôi cũng ghé thăm chùa
Tích Lan bên cạnh ngôi chùa Nhật Bản.
Riêng
tại Viện Bảo Tàng Tỳ Xá Ly vẫn còn lưu giữ rất nhiều
cổ vật đào được qua các cuộc khảo cổ tại thành Tỳ
Xá Ly. Tại đó dưới nhiều tầng đất sâu hơn, người ta
tìm thấy một pho tượng Phật đang tu khổ hạnh có kích thước
như hình người thật. Đây là những chứng tích xác thực
về cuộc đời tu hành của Đức Phật.
(Trụ
đá do vua A Dục dựng trong thành Tỳ Xá Ly
-Trên đầu trụ hãy còn nguyên hình tượng sư tử—
Vaishali-Asoka’s
stone pillar)
(HT
Thích Giác Nhiên chụp hình kỷ niệm tại trụ đá A Dục-Tỳ
Xá Ly)
Câu
Thi Na
(Đường
vào Câu Thi Na buổi bình minh)
3:00
giờ chiều cùng ngày, đoàn rời Tỳ Xá Ly đi Câu Thi Na (Kushinagar),
đi trên con đường mà Đức Phật đã cùng tôn giả A Nan đã
đi trên đường về chỗ Ngài đã nhập Niết Bàn tại khu
rừng Ta La song thọ. Do một tình cờ của thiên nhiên hay do
chính sự lựa chọn của Đức Phật mà Câu Thi Na gần như
nằm ngay giữa những Thánh địa khác như Lâm Tỳ Ni, thành
Xá Vệ, Tỳ Xá Ly, và vườn Lộc Uyển... Hiện nay thành Câu
Thi Na tên là Kasia, thuộc bang Uttar Pradesh, cách Vườn Lâm Tỳ
Ni khoảng 180 cây số, và cách thành Ca Tỳ La Vệ bên phía
Ấn Độ khoảng 150 cây số. Đây là một thị trấn yên tĩnh
nằm cách Bồ Đề Đạo Tràng trên 300 cây số đường chim
bay về hướng Tây Bắc, nhưng vì đường sá gồ ghề xấu
xí nên từ Tỳ Xá Ly chúng tôi phải mất trên 6 giờ mới
đến được Câu Thi Na. Dù khoa học kỹ thuật hôm nay có những
tiến bộ đáng kể, dù khắp nơi trên xứ Ấn bụi bay đầy
trời, Câu Thi Na vẫn còn giữ được vẻ thanh u tịch tĩnh,
nơi mà gần 26 thế kỷ về trước Đức Phật đã chọn làm
nơi nhập Niết Bàn. Tôi đã đến Đề Li để thấy không
khí choáng ngộp tại đó, rồi về Bồ Đề Đạo Tràng cũng
với không khí không hơn gì Đề Li. Tôi không dám chê khen
gì Ấn Độ vì ngày xưa nơi quê tôi ở có giàu chi hơn Ấn
Độ đâu! Nhưng tôi phải thật tình thương cảm cho người
dân ở đây, trong thế kỷ 21 này mà họ vẫn sống trong thiếu
thốn đủ mọi bề. Có người cho rằng văn minh vật chất
Tây phương làm hư con người. Riêng tôi, tôi không nghĩ như
vậy. Tôi là người con Phật nên quyết chí đi theo con đường
“Trung Đạo” của Ngài, không thái quá mà cũng không bất
cập. Tôi không làm nô lệ cho phương tiện vật chất, nhưng
tôi thọ hưởng những phương tiện ấy để giữ cho thân
này được khang kiện, từ đó có thể làm được những điều
lợi lạc cho người khác. Con người hư hay không là do nơi
mình, chứ đừng đổ thừa cho cuộc sống vật chất làm mình
hư. Thử hỏi những người dân Ấn nghèo khổ cùng cực ở
các nơi mà tôi đã đến tận nơi, thấy tận mắt, nếu không
muốn mánh mung để tìm phương sống hằng ngày cũng không
được. Theo tôi, không nói không rằng gì cả, không ai chối
cãi là Ấn Độ là một xứ sở của tâm linh sâu thẳm, nhưng
cũng không ai chối cãi được thảm trạng xã hội hiện tại
tại Ấn Độ là hệ quả tất yếu của một xã hội mà trong
đó đầu óc người ta còn phân định giai cấp quá nặng nề.
Cái không may cho Ấn Độ là những đạo quân ngoại xâm đã
tiêu diệt một chơn lý “xóa bỏ giai cấp” đáng lý phải
được trân trọng và phát triển tại đất nước này.
Sau
khi đến Câu Thi Na, đoàn chúng tôi nghỉ đêm tại Japan-Srilanka
Buddhist Center, ở Kushinagar, thuộc bang Uttar Pradesh. Đây là
một trung tâm Phật giáo Tích Lan do chính phủ Nhật Bản tài
trợ. Cảnh trí tại đây thật yên tĩnh và trầm mặc. Không
khí thanh u ở đây làm cho tôi liên tưởng đến cũng không
khí này trên 25 thế kỷ về trước, Đấng Cha Lành đã về
đây trong cuộc hành trình cuối cùng để khởi đầu cho một
cuộc yên nghỉ. Trí óc tôi hồi này lan man hình ảnh Đấng
Từ Phụ trong xác thân tứ đại già nua nhưng lúc nào cũng
bước đi những bước rắn chắc và quyết định bên cạnh
ngài A Nan với nét ủ rũ như con sắp xa mẹ. Lại nữa, hồi
này thì hai vị đại đệ tử của Đức Phật là Xá Lợi
Phất và Mục Kiền Liên đều đã nhập diệt trước đây
ba tháng, và các vị đại đệ tử khác thì đang hoằng hóa
phương xa. Nên dù A Nan là một bậc tu hành, lại được theo
Thầy trong suốt gần 25 năm thì làm gì ngài không biết được
tình thương nào rồi cũng đến hồi mai một chia ly, cuộc
hợp nào rồi cũng tan theo định luật vô thường tất yếu,
nhưng trong cảnh đó, lại không có các sư huynh sư đệ bên
cạnh, ai có thể cầm lòng cho được? Liên tưởng đến phút
đó, cảnh đó, lòng tôi bỗng lâng lâng một nỗi buồn man
mác, chưa đi đến Đại Tháp Niết Bàn mà lòng mình đã xót
xa, một nỗi xót xa khó tả.
(Vùng
biên giới Bắc Ấn và Népal-Nơi có Vườn Lâm Tỳ Ni,
thành
Ca Tỳ La Vệ, thành Xá Vệ, và thành Câu Thi Na)
6:00
giờ sáng ngày 5 tháng 12, 2005, đoàn thăm viếng khu thánh tích
Câu Thi Na, tháp Đức Phật nhập Niết Bàn, tháp trà tỳ, các
phế tháp chung quanh khu Đại Tháp Niết Bàn và các chùa Phật
giáo tại đây. Câu Thi Na, một trong những Thánh địa quan
trọng của Phật giáo, một trong tứ động tâm mà trước
khi nhập diệt, Đức Phật đã nhắc nhở ngài A Nan: “Sau
khi ta nhập diệt, nếu các thiện nam tín nữ có đạo tâm
nghĩ tưởng đến Như Lai, cách hay nhất là đến chiêm bái
bốn động tâm quan trọng nhất, những nơi có liên quan trực
tiếp đến cuộc đời và sự nghiệp hoằng hóa của Như Lai.
Đó là vườn Lâm Tỳ Ni, Bồ Đề Đạo Tràng, vườn Lộc
Uyển và thành Câu Thi Na. Nếu vị thiện tâm nào đến bốn
nơi này thành tâm chiêm bái và đảnh lễ sẽ được nhiều
phước báu và duyên lành như được gặp lại chính Như Lai
vậy! Lại nữa, nếu có vị thiện tâm nào có duyên được
trút hơi thở cuối cùng tại một trong những Thánh địa này,
chắc chắn người ấy sẽ được tái sanh vào cảnh giới
thanh nhàn để tiếp tục tu tập giải thoát.” Hôm nay chúng
tôi về đến tận nơi để chính mắt thấy được những
di tích ngàn xưa vẫn còn hiện hữu, dù trong hoang tàn đổ
nát, hay dù đã được người đời sau phục hoạt, trùng tu...
chúng tôi vẫn cảm thấy lòng mình lâng lâng một niềm hạnh
phúc khó tả. Đây chính là nơi mà hơn 25 thế kỷ về trước,
một bậc đạo sư của người và trời sau khi mang giáo lý
giác ngộ tối thượng mà mình đã chứng ngộ ra ban rải hết
cho chúng sanh, đã về đây an nhiên thị tịch. Hôm nay chúng
ta đến đây, tính ra đã gần 26 thế kỷ, thế mà nhìn cảnh,
rồi nhìn những phế tích còn sót lại lòng chúng ta cũng cảm
thấy lâng lâng nỗi niềm cảm xúc như chính mình đang được
gần gũi với Đức Thế Tôn, nhưng bên cạnh đó niềm xúc
cảm xót xa cũng trào dâng khi nghĩ đến phận mình phước
kém duyên mỏng, không được sanh ra vào thời có Phật.
Đại
Tháp Niết Bàn
(Đại
Tháp Niết Bàn và chùa Niết Bàn tại thành Câu Thi Na)
(Tượng
Phật Nhập Niết Bàn bên trong Đại Tháp Niết Bàn tại thành
Câu Thi Na)
Đường
vào Đại Tháp Niết Bàn không còn thanh u tĩnh mịch như được
diễn tả trong các kinh điển thời Đức Phật nhập diệt
nữa, không còn là khu rừng Sa La ngày ấy với toàn rừng là
rừng. Tuy nhiên, hai bên đường cây cối vẫn còn xanh tươi
mát mẻ. Ngày nay người ta đã trải đá đỏ trên con đường
đi vào Đại Tháp Niết Bàn. Đây là ngôi Đại Tháp Niết
Bàn (Mahaparinirvana), là một ngôi tháp lớn, trên nóc có hình
vòm cũng giống như nhiều tháp khác tại Ấn Độ. Tuy nhiên,
quanh tháp kín mích, không có cửa, cũng không có cửa sổ.
Ngôi tháp cao hơn chùa Niết Bàn nhiều, có lẽ cao đến gấp
đôi. Đây mới chính là nơi Đức Thế Tôn nhập Niết Bàn,
đây mới chính là một trong những nơi thiêng liêng nhất của
Phật giáo. Theo lịch sử các Thánh tích Phật giáo, thì ngôi
Đại Tháp này đã được những người ngưỡng mộ Phật
giáo thuộc sắc dân Mallas xây lên để thờ xá lợi của Đức
Phật, có lẽ họ xây kín vì sợ quân Hồi giáo đến đánh
phá để cướp xá lợi của Đức Phật, nhưng rồi sau đó
tháp cũng bị những thế lực tàn bạo muốn tiêu diệt Phật
giáo tàn phá, cứ như vậy không biết đến bao nhiêu lần.
(Bảng
đặt trước khu phế tích Câu Thi Na)
Trước
khi vào đến Đại Tháp, về phía bên trái có hai tấm bảng,
một bằng tiếng Anh, và một bằng chữ Ấn Độ (có lẽ là
chữ Bhrami ngày nay), nội dung nói về phế tích thành Câu Thi
Na đã được đào lên: “Câu Thi Na đã từng là kinh đô của
người Mallas. Theo văn học Phật giáo, thì Câu Thi Na là một
trong tứ động tâm, được chính Đức Phật tuyên thuyết
như vậy. Chính tại nơi đây Đức Phật đã thở hơi cuối
cùng và nhập Niết Bàn vào ngày trăng tròn tháng Vaishakha,
khoảng tháng tư hay tháng năm dương lịch. Người ta tin rằng
kim thân của Ngài đã được hỏa táng với đủ nghi
cách vinh dự của một Đấng Thế Tôn. Thành Câu Thi Na gần
Makutabandhana Chaitya sau gần hai thế kỷ bị lãng quên đã được
các vị vua dưới triều Maurya xây dựng lại và đạt đến
tuyệt đỉnh huy hoàng của nghệ thuật dưới thời Gupta. Nhiều
chùa tháp và tự viện đã được xây dựng trong thời kỳ
này. Các nhà hành hương người Trung Hoa như Pháp Hiển, Huyền
Trang và Nghĩa Tịnh đã chiêm bái nơi này vào những thế kỷ
thứ 5, 7 và 8. Các vị đã ghi lại trong các bút ký rất nhiều
về dấu tích của những ngôi phế tháp. Những phế tích đào
lên được tại đây là do thành quả của những cuộc khai
quật rộng lớn bởi nhà khảo cổ Carlleyle vào năm 1876, và
về sau này do các nhà khảo cổ Ấn Độ từ năm 1904 đến
năm 1912. Quần thể này bao gồm một ngôi tháp chính, ngôi
chùa Niết Bàn trên một cấu trúc cao, được bao bọc bởi
một nhóm phế tích các tự viện về phía Tây, một nhóm các
nền tháp nhỏ với những viên gạch có chạm trỗ và những
cột trụ được trang trí về phía Nam. Nền Đại Tháp nằm
về phía Đông với những nền tháp nhỏ nằm về phía Bắc.
Tất cả đều có niên đại từ thời Khổng Tước (Mauryan)
đến thế kỷ thứ 10 sau Tây Lịch. Có rất nhiều những bảng
khắc chữ trên đất sét nung được tìm thấy trong các cuộc
đào xới này.”
(Nhà
tưởng niệm ngài Huyền Trang-Câu Thi Na)
Chùa
thờ tượng Phật nhập Niết Bàn được xây trên một nền
gạch cũ cao khoảng trên 2 thước. Chùa có lối kiến trúc
hết sức đặc biệt, không giống bất cứ ngôi chùa nào cả.
Từ xa nhìn trên nóc, nó giống như là hai khối lăng trụ
màu vàng lợt giao nhau, phía trước hành lang là bốn cây cột
lớn, sơn màu đỏ. Càng nhìn chúng ta càng thấy nét là lạ
của ngôi chùa. Trước mặt và phía sau chùa là những rừng
cây cao bóng mát cùng với nhiều hồ sen bao bọc chung quanh.
Tuy nhiên, có lẽ lúc này là mùa đông, trời quá lạnh nên
không thấy có sen nở. Ngay bên trong chùa Niết Bàn là một
pho tượng Phật nằm nghiêng, mặt hướng ra cửa chánh phía
Nam, đầu quay về hướng Bắc, tay phải của Ngài lót gò má
phải, còn cánh tay trái được đặt xuôi trên hông, còn hai
chân của Ngài chồng lên nhau rất ngay thẳng. Tượng có chiều
dài khoảng trên 6 mét, được đặt trên một cái bệ chữ
nhật cao trên nửa mét. Theo truyền thuyết Phật giáo thì tượng
Phật Niết Bàn được Hòa Thượng Haribhadra tạc từ một
tảng đá nguyên thủy có tên là Chunar dưới triều Kumargupta
(413-455). Dù đã bị đập nát và chỉ được ráp nối lại
về sau này, nhưng pho tượng Phật Niết Bàn quả là một tuyệt
tác nghệ thuật từ thời đó và cho mãi đến bây giờ. Tượng
chẳng những là một tuyệt tác mỹ thuật, mà nó còn có vẻ
uy nghiêm mà từ bi của một Đấng Từ Phụ, và đầy đủ
hảo tướng của Đức Phật. Khi đến tận đây chiêm ngưỡng
tôn tượng Phật Niết Bàn, hình như ai trong chúng ta cũng đều
có cảm giác như là chúng ta đang đứng trước Đức Thế
Tôn trong những giây phút sắp nhập diệt của Ngài. Phía sau
chùa Niết Bàn là ngôi Đại Tháp Niết Bàn là nơi Đức Phật
nhập diệt 25 thế kỷ về trước. Chùa Niết Bàn được nhà
khảo cổ Carlleyle phát hiện lần đầu tiên vào năm 1876. Theo
các nhà khảo cổ thì nền móng của ngôi chùa Niết Bàn không
phải là nền móng chùa nguyên thủy mà ngài Huyền Trang đã
mô tả trong Đại Đường Tây Vực Ký. Đây có thể là nền
móng thứ hai được được xây trên nền cũ vào khoảng thế
kỷ thứ 11 hay 12. Còn ngôi tháp được xây ngay trên gò đất
chính nơi Đức Phật nhập Niết Bàn, giữa hai cây Sa La song
thọ. Giống như các phế tích khác, khu Đại Tháp Niết Bàn
gồm nhiều ngôi tháp khác nhau, cái này xây chồng lên cái
kia. Ngôi tháp bên trong cùng hãy còn nguyên vẹn. Có những
hàng gạch bị cháy đen, chứng tỏ nơi đây đã từng là nơi
được dùng để hỏa táng. Khi nhà khảo cổ Carlleylé khai
quật được ngôi tháp này lên thì nó đang trong tình trạng
sắp sụp đổ. Ngôi tháp cao khoảng 45,72 mét. Tháp có cùng
chung nền với chùa Niết Bàn, cao khoảng 2,74 mét. Trên đỉnh
tròn của tháp là một hình trụ cao khoảng 5,50 mét, có một
hàng hoa văn và một tấm bia bằng đồng khắc kinh Nhân Duyên
(Nidana) bằng tiếng Phạn (Sanskrit) và có những dòng chữ ghi
lại lịch sử pho tượng Niết Bàn của Đức Phật: “Hòa
Thượng Haribadhra đã đúc tuợng Đức Phật Nhập Niết Bàn
nổi tiếng ở Câu Thi Na. Đại Tháp Niết Bàn cũng được
Hòa Thượng Haribadhra xây ra lớn hơn trên gò nền nguyên thủy
của nó. Sau khi tạc xong bức tượng, Hòa Thượng Haribhadra
đã cho an vị vào trong ngôi đại tháp. Trong thời Đức Phật
thì Câu Thi Na là một thị trấn nhỏ nằm trong xứ Cộng Hòa
Malla, một trong những xứ Cộng Hòa trong vùng Bắc Ấn thời
đó. Dân cư đông đúc, phồn thịnh, và đa số dân chúng trong
vùng này thời Đức Phật còn tại thế đều rất mộ đạo,
dù họ tín ngưỡng Bà La Môn hay Phật giáo. Sau khi Đức Phật
nhập diệt thì Cộng Hòa Malla bị sáp nhập vào vương quốc
Ma Kiệt Đà, và đến thế kỷ thứ 2 trước Tây Lịch, nó
thuộc vương triều Khổng Tước (Maurya) của hoàng đế A Dục.
Chính vì vậy mà sau khi trở thành một quân vương Phật tử,
vua A Dục đã thân hành đi chiêm bái hầu hết các Thánh tích
Phật giáo để tưởng niệm Đức Thế Tôn. Ngài đến Câu
Thi Na, cho xây tháp và trụ đá để đánh dấu và tưởng niệm
Thánh địa nơi Đức Phật nhập Niết Bàn.
Năm
409, ngài Pháp Hiển đến chiêm bái Câu Thi Na và đã ghi lại
trong Tây Vực Ký của ngài như sau: “Câu Thi Na có nhiều tháp
và tự viện. Bấy giờ Câu Thi Na là một trung tâm tu học
rất phồn thịnh.” Trong các triều vua dưới triều đại
Gupta, Câu Thi Na phát triển mạnh, nhất là về mặt mỹ thuật
Phật giáo. Thời Kumargupta (413-455), một nhà sư tên Haribhadra
đã tạc tượng Phật Niết Bàn. Khi ngài Huyền Trang đến
chiêm bái Câu Thi Na vào thế kỷ thứ 7 thì nơi đây đã hoang
phế điêu tàn. Ngài đã ghi lại về câu Thi Na trong Đại Đường
Tây Vực Ký như sau: “Thủ đô nước này đã bị tàn phá
và xóm làng đều hoang tàn đổ nát. Những nền gạch của
dãy tường thành xưa có chu vi khoảng 10 lý. Đường phố ở
đây hư nát và có rất ít dân cư. Về phía Bắc, có một
trụ đá do vua A Dục dựng lên ngay trên nền nhà cũ của ông
Thuần Đà (Chunda). Giữa khu vực có một giếng nước được
đào lên vào thời gian ông cúng dường đến Đức Phật. Mặc
dù đã trải qua bao thế kỷ, nước trong giếng vẫn còn trong
và còn rất ngọt. Về phía Bắc kinh thành khoảng ba bốn dặm,
ngang qua dòng sông Ajivati, không xa phía tây ngạn dòng sông
này, chúng tôi đến khu rừng Sala. Nơi đây còn bốn cây có
chiều cao lạ thường, đánh dấu nơi Đức Phật nhập diệt.
Nơi đây có một ngôi tịnh xá lớn, được xây bằng gạch,
bên trong có một tượng Phật trong tư thế nhập Niết Bàn.
Ngài nằm trong tư thế đầu hướng về phương Bắc. Cạnh
bên tịnh xá có một trụ đá do vua A Dục dựng lên, mặc
dù đang trong tình trạng nghiêng đổ, nó vẫn còn có chiều
cao trên 50 mét. Trước đó là một trụ đá ghi khắc những
dữ kiện nhập diệt của Đức Phật, nhưng không đề cập
đến ngày tháng năm. Đây đó quanh Câu Thi Na có nhiều đền
tháp đánh dấu những sự tích xa xưa thời Đức Phật cũng
như đánh dấu tiền thân của Ngài khi còn là một vị Bồ
Tát. Đây là tháp đánh dấu lúc Bồ Tát còn mang thân chim,
còn kia là tháp đánh dấu thời Bồ Tát còn mang thân nai. Rồi
những ngôi tháp khác đánh dấu nơi nhập diệt của Tu Bạt
Đà La, người đệ tử già nhất (120 tuổi), xuất gia với
Đức Phật trước khi Ngài nhập Niết Bàn.” Tuy nhiên, sau
thời kỳ chiêm bái của ngài Huyền Trang thì Phật giáo tại
thành Câu Thi Na ngày càng mất dần ảnh hưởng. Vua chúa không
còn ủng hộ và nơi này trở lại tiêu điều vắng vẻ. Từ
thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 12, sử liệu Ấn Độ không
hề đề cập gì đến nơi này nữa. Rồi đến thế kỷ thứ
13, sau cuộc xâm lăng của đạo quân Hồi giáo, loạn lạc
khắp nơi, Câu Thi Na hoàn toàn đi vào quên lãng. Bên cạnh
đó quân Hồi sẵn sàng đập phá bất cứ hình tượng phật
nào mà họ khám phá được trên bước đường viễn chinh
của họ. Như vậy, số phận Thánh tích Câu Thi Na cũng như
các Thánh tích khác, bị tàn phá tan tành trong khoảng thế
kỷ 12 và 13. Mãi đến thế kỷ thứ 19, nhà khảo cổ người
Anh tên Wilson (1854) tình cờ khám phá được dấu tích thành
Câu Thi Na. Sau đó các nhà khảo cổ Cunningham và Carlleyle dựa
vào tài liệu trong ký sự của Ngài Huyền Trang, tiến hành
những cuộc khai quật chính thức và sau đó người ta mới
khai quật được chùa và tháp Niết Bàn trên cùng một nền
gạch. Ngoài ra, có rất nhiều xương người và đồ vật cả
bên trong lẫn bên ngoài khu Đại Tháp. Năm 1856 người ta hoàn
thành việc tái thiết chùa Niết Bàn. Năm 1956 Phật giáo Nhật
Bản lại hợp cùng các hội Phật giáo khác tài trợ trùng
tu toàn bộ ngôi chùa Niết Bàn, và kiến trúc ấy vẫn được
giữ cho đến ngày nay. Ngày trước đường kinh hành quanh chùa
chỉ rộng khoảng trên 0.5 mét, nhưng ngày nay nó được mở
rộng hơn nhiều. Đến những năm đầu thế kỷ 20 (1904, 1907,
1910 và 1912), nhà khảo cổ Vogell đã tìm thêm được một
số di tích khác tại làng Câu Thi Na. Hiện nay, Thánh tích Câu
Thi Na được Liên Hiệp Quốc công nhận và được Phật tử
cũng như các nhà nghiên cứu đổ xô về đây chiêm bái và
nghiên cứu. Gần đây nhất, trong các cuộc khai quật vào
năm 1976 người ta đã tìm ra nhiều mảnh xương vụn, mẫu
than củi và những miếng sọ người, cho thấy nơi này đã
từng bị người Hồi giáo đốt phá và bách hại nhiều lần
trước khi toàn vùng rơi vào quên lãng trong suốt 6 thế kỷ
sau đó.
Ngày
nay Kushinagar là một thị trấn nhỏ, cách khu vực Kasia chừng
3 cây số về hướng Tây Nam, và cách thành phố Gorakhpur chừng
50 cây số, trong bang Uttar Pradesh, thuộc vùng Bắc Ấn Độ.
Dân cư ở đây rất thưa thớt, nên cảnh trí vẫn còn thanh
u, yên tĩnh như ngày nào.
Dù
chúng tôi đến nơi rất sớm, nhưng khi chúng tôi đến nơi
thì đã có các đoàn Đại Hàn và Tây Tạng tại đây. Tuy
nhiên, vì đoàn Việt Nam quá đông nên hai đoàn kia nhường
cho chúng tôi làm lễ trước. Sau khi chúng tôi khoác chiếc
áo cà sa mới lên kim thân tôn tượng Phật Niết Bàn thì Hòa
Thượng bắt đầu hướng dẫn đoàn tụng một thời kinh,
sau đó chúng tôi theo chân Hòa Thượng Thích Giác Nhiên cũng
như những tu sĩ khác của hai phái đoàn Đại Hàn và Tây Tạng,
đi nhiễu một vòng quanh tượng Phật. Không khí lúc chúng
tôi đi nhiễu quanh tôn tượng Phật Niết Bàn thật là cảm
động. Ở đây mọi ý tưởng về chánh tín, thờ phượng
và mê tín đều không có ngằn mé. Người ta vừa đi vừa
niệm hồng danh Đức Bổn Sư theo ngôn ngữ của mình, khi đi
ngang qua chân Phật, thấy ai cũng ráng quỳ xuống phủ phục
đầu mình dưới chân Ngài, rồi anh Thiện Minh và Thiện Tài
cũng quỳ, rồi tôi cũng quỳ phủ phục dưới chân Ngài, chỉ
với một ước nguyện duy nhất là cho chúng con được theo
gót chân giải thoát của Ngài. Vì số người đi vào chùa
ngày càng đông nên chúng tôi phải đi ra bên ngoài đi nhiễu
quanh tháp. Trong khi đi nhiễu quanh tháp thì sư Minh Thành thuyết
minh về sự kiện lịch sử trong ngày Đức Phật nhập Niết
Bàn. Năm ấy Đức Phật đã 80 tuổi. Dù là một bậc đại
giác, một bậc chí Thánh, nhưng thân tứ đại của Ngài cũng
đã mòn mỏi với thời gian. Ngài từng ví thân mình như một
cỗ xe cũ kỷ. Tại thành Tỳ Xá Ly Đức Phật tuyên bố trong
một thời pháp là Ngài sẽ nhập Niết Bàn và nơi Ngài thị
tịch sẽ là thành Câu Thi Na yên tĩnh. Ngài bắt đầu cuộc
hành trình cuối cùng từ núi Linh Thứu trong thành Vương Xá,
kinh đô của xứ Ma Kiệt Đà, đi đến Na Lan Đà, rồi vượt
qua sông Hằng để đi đến thành Tỳ Xá Ly. Tại đây Đức
Phật nhập mùa an cư kiết hạ sau cùng cùng chư Thánh Tăng.
Sau gần ba tháng du hành, hôm ấy Đức Phật cùng tôn giả
A Nan đang trên đường tiến về thành Câu Thi Na, đến làng
Pava Đức Phật được ông Thuần Đà thỉnh về nhà để cúng
dường. Sau khi ăn bát cháo nấm, Đức Phật biết mình không
còn hiện hữu bao lâu nữa nên Ngài bảo A Nan cùng Ngài gấp
rút đi bộ từ Pava về Kushinagar. Theo truyền thuyết Phật
giáo, sau khi thọ dụng bát cháo nấm của ông Thuần Đà thì
bệnh tình của Đức Thế Tôn ngày càng nặng, nên trên đoạn
đường ngắn tới Câu Thi Na mà Ngài phải nghỉ lại tới
hai mươi lăm nơi. Tại một nơi nọ, Đức Phật đến ngồi
dưới một gốc cây to và bảo A Nan đi xuống dòng nước trước
mặt lấy nước uống cho Ngài. A Nan bẩm Phật: “Bạch Đức
Thế Tôn, đây là một dòng nước nhỏ, lại có khoảng 500
cỗ xe vừa đi qua, làm nước nổi cặn không thể uống được.
Bạch Đức Thế Tôn, sông Kakuttha cách đây không xa, nước
trong trẻo và mát mẻ. Ngài có thể uống nước ở đó được.”
A Nan cứ bẩm Phật như vậy đến lần thứ ba, mà Đức Phật
vẫn bảo A Nan xuống dòng sông này lấy nước cho Ngài uống.
A Nan đành phải vâng lời, lấy bát đi xuống lấy nước.
Nước trong dòng sông hiện giờ đang bị quấy lên đục ngầu,
nhưng ngay khi Đại Đức A Nan vừa đến, nước liền trở
nên trong vắt. A Nan tự nghĩ: Thật là kỳ diệu, hy hữu quá!
Thần túc và oai lực của Đức Thế Tôn! Dòng sông mới vừa
bị khuấy đục đó mà tức thì trở nên trong trẻo.”
Đêm
đó có một người tên Pushkasa, thuộc dòng Mallas, một trong
những đệ tử của Ngài Alara Kalama, đang đi từ Câu Thi Na
đến Pava, biết Phật đang ở đây ông bèn đến xin quy-y Tam
Bảo và cúng dường Đức Phật một tấm y vàng. Khi A Nan khoác
tấm y lên kim thân Đức Phật thì màu da của Ngài sáng chói
thanh tịnh lạ thường. A Nan liền thưa hỏi nguyên do. Đức
Phật bảo A Nan có hai trường hợp làm cho màu da của Như
Lai sáng chói, đó là đêm Như Lai chứng quả vô thượng và
đêm Ngài nhập diệt. Nhân đó Đức Phật cũng nhắc nhở
A Nan và Thánh chúng rằng vào lúc canh ba Ngài sẽ nhập diệt
trong khu rừng Ta La của sắc dân Mallas. Đức Phật cùng đại
chúng tỳ kheo đi đến sông Kakuttha, tắm lần sau cuối tại
con sông này, sau đó qua sông, lên ngự tại khu vườn xoài
và khi nghỉ ngơi, Đức Phật đã dạy đại đức A Nan như
sau: “Chuyện sau đây có thể xảy ra, này A Nan. Có người
sẽ làm cho ông Thuần Đà bứt rứt khó chịu vì họ cho rằng
chính vì Thế Tôn thọ thực lần cuối cùng với các món của
ông dâng cúng. Này A Nan, mỗi lần Thuần Đà bứt rứt khó
chịu hay hối hậnnhư thế, con phải giải thíhc như vầy:
‘Này Thuần Đà, ông có rất nhiều phước báu. Ông sẽ hưởng
nhiều lợi lộc vì Đức Phật đã thọ thực lần cuối cùng
với các vật thực do ông dâng cúng. Này Thuần Đà, bần Tăng
có nghe chính Đức Phật dạy rằng có hai vật thực cúng dường
đem lại phước báu như nhau, tạo quả bằng nhau, và vô cùng
quý báu hơn tất cả. Hai vật ấy là gì? Đó là vật thực
cúng dường mà vị Bồ Tát thọ dụng lần cuối cùng trước
khi chứng ngộ Đạo Quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác,
và vật thực cúng dường mà Đức Phật thọ dụng lần cuối
cùng trước khi Ngài nhập diệt..’Này A Nan, con hãy an ủi
khuyên lơn Thuần Đà như thế ấy!” Sau đó Ngài dạy A Nan
chọn một nơi giữa hai cây Ta La để Ngài nằm yên nghỉ.
Và đó cũng chính là nơi Ngài nhập Niết Bàn. Ngay trước
lúc Đức Phật sắp nhập Niết Bàn thì có một ông già tên
Tu Bạt Đà La (Subhdda), đã 120 tuổi, đệ tử của phái Ni
Kiền Tử, đến thỉnh cầu Đức Phật giảng giải cho một
nghi nan mà ngoại trừ đấng Đại Giác ra không ai khác có
thể giải thích nổi. Tuy nhiên, cả ba lần thỉnh cầu đều
bị ngài A Nan từ chối vì sợ làm quấy động Thế Tôn. Nhưng
Thế Tôn biết được cơ duyên chuyển hóa nên Ngài bảo A
Nan cho phép Tu Bạt Đà La vào. Sau khi nghe vi diệu pháp Bát
Chánh Đạo, Tu Bạt Đà La đắc được pháp nhãn và xin quy-y
Phật ngay trước khi Phật nhập Niết Bàn. Sau đó bộ tộc
Mallas đem nhục thân của Như Lai đến làm lễ trà tỳ tại
một nơi gần đó (bây giờ là phế tháp trà tỳ). Ngay khi
nghe tin Đức Thế Tôn nhập diệt, vua A Xà Thế của xứ Ma
Kiệt Đà, vì tôn kính Thế Tôn nên cử người đến Câu Thi
Na để thỉnh một phần xá lợi về thờ. Rồi sau đó sứ
giả của các bộ tộc Licchavi ở thành Tỳ Xá Ly, bộ tộc
Sakya ở thành Ca Tỳ La Vệ, người Buli ở Allakappa, người
Koli ở Ramagama, người Vethadipaka, và người Malla ở Pava. Tất
cả bảy bộ tộc đều tranh giành phần xá lợi. Trong khi đó
thì bộ tộc Mallas ở Câu Thi Na nhất quyết không chịu chia
xá lợi cho ai cả. Họ nói Đức Phật nhập diệt trong phần
đất của họ, xá lợi thuộc về họ, chứ không ai có quyền
dành cả. Trong lúc đang tranh cãi ấy, có một vị Bà La Môn
tên Dona đưa ra đề nghiï: “Đức Phật vừa mới nhập diệt,
chúng ta nên học lấy hạnh nhẫn nhục hy sinh của Ngài, chứ
tranh giành như thế này quả là không tốt. Chúng ta hãy hoan
hỷ chia xá lợi ra làm tàm phần rồi cùng nhau đem về dựng
tháp thờ xá lợi của Ngài khắp mọi nơi.” Mọi người
đều hoan hỷ đồng ý với đề nghị ấy, và xá lợi của
Ngài được chia ra làm tám phần đồng đều. Có đến tận
nơi, có thấy tận mắt mới cảm nhận được cái không khí
hết sức tĩnh mịch của thành Câu Thi Na. Riêng tôi, tìm đến
quỳ trong một góc trong tháp để lắng nghe sự xúc động
thật mạnh của lòng mình, môi tôi thấm mặn tự lúc nào
với những dòng cảm xúc và phảng phất đâu đây những lời
di huấn cuối cùng của Ngài: “Các pháp hữu vi là vô thường,
các con hãy mau tinh tấn, chớ nên phóng dật. Các con nên nhớ
rằng giới luật còn thì đạo pháp còn.” Đại Tháp Niết
Bàn, nơi thờ tượng Phật nhập Niết Bàn. Tượng Phật đã
được một vị Tăng tên Hari Badhra tạc vào khoảng giữa thế
kỷ thứ 5 (khoảng từ năm 415 đến năm 456) theo nghệ thuật
dưới triều đại Gupta. Trong cuộc đào xới năm 1876 chính
nhà khảo cổ Carlleyle đã tìm thấy những mảnh vụn của
một pho tượng Phật, ông phát tâm cho người ráp lại mới
biết đây là pho tượng Phật Nhập Niết Bàn. Sau khi phục
hoạt xong pho tượng Phật Niết Bàn, ông Carlleyle đã cho an
vị trở về vị trí cũ. Theo các nhà khảo cổ thì sự tàn
phá các Thánh tích tại Câu Thi Na cũng như tại các nơi khác
có lẽ do vào cuối thế kỷ thứ 11, khi Hồi giáo bách
hại Phật giáo thì tượng này cũng bị đập nát ra từng
mảnh vụn. Sau đó năm 1927, tháp được trùng tu toàn bộ với
sự đóng góp của hai vị Phật tử người Miến tên Upokya
và Upihliang. Đến năm 1972, Phật tử Miến Điện lại đóng
góp tài vật trùng tu ngôi tháp này lần nữa. Ngày nay khách
hành hương đến đây lúc nào cũng thấy pho tượng được
choàng lên những tấm y màu vàng rực rỡ do các Phật tử
từ khắp nơi cúng dường.
Trước
khi rời khu Đại Tháp và chùa Niết Bàn để tiếp tục đi
chiêm bái những nơi khác, chúng tôi quay lại nhìn những cây
Sa La đang vi vu trong tiếng gió, có lẽ mới được trồng về
sau này nên toàn là cây non. Nhìn con đường dẫn vào Đại
Tháp Niết Bàn, và nhìn những phế tháp quanh vùng. Dù đây
chỉ là những cây lá, gạch ngói và sỏi đá vô tình, nhưng
đối với chúng tôi kể từ giờ phút này chúng đã trở thành
những người bạn hữu cảm. Tôi cứ nhìn, nhìn mãi những
cây sa la cũng như hết thảy cây cối và những phế tháp trong
vùng Đại Tháp Câu Thi Na như muốn nhắn gởi với chúng “Kể
từ giờ phút này chúng tôi xin kết Bồ Đề quyến thuộc
với quý vị, xin quý vị hãy ngàn đời che chở cho đại tháp.
Dù ở nơi xa xôi, chúng tôi luôn nghĩ đến quý vị với tất
cả lòng thành.”
Nền
Tháp Matha-kuar
Nơi
Đức Phật Ban Lời Di Huấn Cuối Cùng
Chúng
tôi ghé lại nền Matha-Kuar mà theo truyền thuyết Phật giáo
thì chính tại nơi này Đức Thế Tôn đã ban lời di huấn
cuối cùng trước khi nhập diệt. Nền Matha-Kuar cách Đại
Tháp Niết Bàn chừng 200 mét về phía Tây Nam. Đây là một
khu vực hiện đang được các nhà khảo cổ tiếp tục khai
quật. Từ Đại Tháp Niết Bàn đi về phía Nam, xuống con lộ
chính là nền tháp Matha-kuar, nơi thờ tượng Phật ngồi kiết
già bằng đá đen, cao khoảng 3 mét, có niên đại vào thế
kỷ thứ 5 sau Tây Lịch. Dân địa phương gọi tượng Phật
này là Matha-kuar, có nghĩa là ‘Hoàng tử mất.’ Theo truyền
thuyết Phật giáo, có lẽ người trong dòng họ Thích Ca vẫn
xem Đức Phật là một vị hoàng tử của dòng họ, nên họ
đã lập tháp kỷ niệm với tên ‘Hoàng Tử Mất.’ Tượng
trong tư thế địa xúc ấn (Bhumisparsha mudra) diễn tả giây
phút Thái tử kêu vị thần đất lên chứng kiến sự thể
hiện thần thông của Ngài sau khi Ngài giác ngộ. Lúc nhà khảo
cổ Carlleyle khai quật được thì pho tượng đã bị gãy đôi,
nhưng sau đó người ta cho ráp tượng lại và đem về thờ
tại tháp Matha-kuar do Phật tử hành hương Miến Điện xây
vào năm 1927.
(Nền
tháp Matha-kuar tại Câu Thi Na)
Tháp
Trà Tỳ Angrachaya
Nơi
Hỏa Táng Kim Thân Của Đức Phật
Sau
khi rời Đại Tháp Niết Bàn, Hòa Thượng hướng dẫn đoàn
qua thăm tháp Trà Tỳ Angrachaya, nơi hỏa táng kim thân của
Đức Phật. Tháp Trà Tỳ nằm về hướng Đông của Đại
Tháp Niết Bàn khoảng 1,6 cây số, nằm trên con đường đi
từ Kasia đến Deoria.
(Tháp
Trà Tỳ Angrachaya tại thành Câu Thi Na)
Sau
lễ trà tỳ, để tránh sự xung đột trong việc tranh giành
xá lợi của Đức Phật, bộ tộc Malla đã thu nhặt hết xá
lợi và đem chia đều cho tám vương quốc ấy đem về xây
tháp thờ. Dân địa phương còn gọi đó là tháp Ramabhar vì
nó tọa lạc kế bên hồ Ramabhar. Theo truyền thuyết Phật
giáo tháp trà tỳ là một ngôi tháp thật to, nhưng trải qua
một khoảng thời gian dài, ngày nay tháp chỉ còn là một ụ
đá thật lớn, nhìn như một cái trống thật lớn, có đường
kính khoảng 34,24 mét. Ụ đá cao khoảng 15,40 mét. Tuy tháp
tọa lạc trong một khuôn viên đầy hoa xinh đẹp, nhưng ai
đến đây cũng phải ngậm ngùi nhớ lại hình ảnh của gần
26 thế kỷ về trước. Nhìn ngôi Đại Tháp mà lòng chúng
tôi bỗng chùng xuống. Hòa Thượng Pháp Chủ thật sự xúc
động, ngài tự bẩm: “Kính bạch Đức Thế Tôn, gần 26
thế kỷ về trước, Ngài đã vì thương xót chúng sanh mà
từ bỏ cung vàng điện ngọc, xuất gia tầm đạo giải thoát.
Ngài đã thành đạo và trao truyền hết cho chúng sanh những
gì Ngài liễu ngộ. Và cuối cùng Ngài đã từ bỏ thân tứ
đại tại chính nơi này. Tuy xác thân tứ đại của Ngài đã
không còn, nhưng pháp thân Ngài vẫn hằng hữu với chúng con.
Những lời kim ngôn ngọc ngữ của Ngài vẫn còn đây. Hôm
nay chúng con có duyên may đến tận đây chiêm bái và ôn lại
những lời dạy vàng ngọc của Ngài. Nhưng vì nghiệp chướng
sâu dày nên mãi chìm đắm trong bể khổ. Xin Ngài gia hộ cho
chúng con dứt bỏ ràng buộc để sớm được giải thoát.”
Chung quanh Tháp và chùa Niết Bàn cũng như tháp Trà Tỳ hãy
còn rất nhiều nền móng của tu viện và chùa tháp cổ đang
được khai quật. Đa số nền móng của những phế tháp này
đều có niên đại vào khoảng thế kỷ thứ nhất sau Tây
Lịch. Trong khi có một số nền tháp tương đối mới là do
sự trùng tu kiến tạo của khách hành hương về sau này.
(Những
ông Đạo Sĩ Rắn vẫn còn nhan nhản
bên
trong Thành Câu Thi Na)
Viện
Bảo Tàng Câu Thi Na
Nửa
đường từ Nền Matha-kuar và Tháp Trà Tỳ, nằm về phía Bắc
con đường chính là Viện Bảo Tàng Câu Thi Na. Bên kia phía
Nam con đường là ngôi chùa Nhật Bản-Tích Lan (Japan-Srilanka
Monastery). Viện Bảo Tàng Câu Thi Na là một trong những viện
bảo tàng lớn, nằm giữa những hàng cây kiểng xanh mát. Bên
trong viện Bảo Tàng trưng bày rất nhiều cổ vật quý giá
do các nhà khảo cổ khai quật được trong khu vực Câu Thi
Na. Tuy nhiên, vì thì giờ eo hẹp nên chúng tôi không thể ghé
lại thăm được.
Chùa
Linh Sơn Tại Câu Thi Na
(Các
học sinh nghèo trong thành Câu Thi Na đang ngồi sắp hàng
chờ
nhận tặng phẩm của đoàn hành hương)
Sau
khi rời Tháp Trà Tỳ, đoàn đến thăm chùa Linh Sơn và thăm
viếng ủy lạo các học sinh nghèo trong vùng Kushinagar. Chùa
Linh Sơn nằm trên con đường đi đến Thánh địa Câu Thi Na.
Chùa này được xây vào khoảng những năm 1948-1950, trước
kia tên là Song Lâm Tự do một Ni sư người Hoa trụ trì. Sau
khi Ni sư viên tịch, chùa được giao lại cho Hòa Thượng Huyền
Vi, Viện chủ chùa Linh Sơn ở Pháp. Hòa Thượng đã phái Sư
Cô Trí Thuận về đây trụ trì. Từ ngày Sư Cô Trí Thuận
về đây, chùa được liên tục trùng tu. Hiện trước sân
chùa có một tôn tượng của Đức Quán Thế Âm, cao khoảng
2 mét. Chung quanh chùa là những mô hình được xây dựng phỏng
theo “Tứ Động Tâm” đầy mỹ thuật. Chùa cũng xây nhiều
khách xá dành cho khách hành hương. Bên cạnh đó chùa cũng
tham gia hoạt động từ thiện trong vùng rất tích cực. Đoàn
hành hương chúng tôi đến đây vào lúc giữa trưa nên chúng
tôi có rất nhiều thì giờ phối hợp với chùa Linh Sơn ủy
lạo và phát quà cho học sinh và dân nghèo trong vùng.
(Anh
chị em trong đoàn hành hương đang phân phối tặng vật đến
các
học sinh nghèo tại chùa Linh Sơn tại Câu Thi Na.
Phía
sau là những mô hình phỏng theo tứ động tâm)
Chúng
tôi đã từng sống trong cảnh nghèo, nghèo lắm ở Việt Nam,
nhưng không bao giờ chúng tôi có thể tưởng tượng được
sự nghèo khó của người dân vùng Bắc Ấn nếu không đến
tận nơi, thấy tận mắt sự nghèo nàn cơ cực quá sức tưởng
tượng này. Có một điều mà chúng tôi muốn chia sẻ cùng
quí vị là dù nghèo nàn cơ cực thế mấy, người dân xứ
Phật thà đi xin chứ không tham lam giựt dọc hay cướp bóc
bất cứ thứ gì của ai. Ngay cả khi họ thấy tiền trên túi
áo của mình sắp sữa rớt ra, họ chỉ cho chúng ta nhét vào
chứ họ không bao giờ có ý lấy bất cứ thứ gì không phải
là của người ta cho mình. Chúng tôi phát quà và tiền mặt
cho gần 200 học sinh và 8 thầy cô. Các em học sinh nhỏ nhận
những quyển vở và những cây bút với lòng lâng lâng mừng
rỡ của tuổi thơ. Chúng tôi rời chùa Linh Sơn mà lòng ngậm
ngùi thương cảm cho những người dân trong vùng đất đã
một thời là cái nôi của Phật Giáo.
Các
Chùa Khác Tại Câu Thi Na
Tại
Câu Thi Na, nhiều quốc gia khác trên thế giới cũng đến đây
xây chùa như Miến Điện, Tây Tạng, Tích Lan, Nhật Bản, vân
vân. Trong khu vực Đại Tháp Niết Bàn đi tới một chút là
chùa Tây Tạng. Đây là một ngôi chùa nhỏ, nằm trong một
khuôn viên khiêm tốn. Chánh điện chia làm hai tầng, tầng
dưới là giảng đường, còn tầng trên làm nơi thờ Phật.
Cũng như các chùa khác, chùa Tây Tạng cũng có nhiều khách
xá dành cho khách hành hương. Sân chùa trông vắng vẻ, đượm
nét tiêu điều vì cỏ dại mọc lên đầy sân trước và sân
sau chùa. Sát chùa Linh Sơn là một ngôi chùa do người Miến
Điện xây cất vào năm 1945, với những mái cong vút theo kiểu
các chùa Thái Lan. Chùa có một hồ sen hình chữ nhật rất
lớn, chính giữa là tháp một cột, trên tháp có thờ Phật.
Dọ theo bức tường rào bằng gạch có các bức bích họa
sắc màu rực rỡ mô tả những biến cố quan trọng trong cuộc
đời Đức Phật. Kế bên chùa Miến Điện là một ngôi chùa
Thái Lan đang xây cất. Đối diện với Viện Bảo Tàng Câu
Thi Na là chùa Nhật-Sri-Lanka do chánh phủ Nhật Bản tài trợ
và chư Tăng Tích Lan quản lý. Chùa có lối kiến trúc hình
vòm tròn, lấy từ kiểu Đại Tháp Niết Bàn trông rất
lạ mắt. Bên trong chánh điện có một tượng Phật tạc theo
nghệ thuật Nhật Bản. Quanh tường là những bức họa hình
Đức Phật và chư Bồ Tát, chư Tổ, cũng được họa theo
lối Nhật Bản. Trong chùa còn có một trung tâm thiền quán,
một trạm y tế và một guest house cho khách hành hương. Đoàn
hành hương chúng tôi đã lưu lại Guest House của chùa Nhật-Sri
Lanka này trong những ngày chiêm bái Thánh tích Câu Thi Na. Từ
chùa Nhật-Sri-Lanka đi về hướng Tây (về hướng Tháp Niết
Bàn) là ngôi chùa Thái, do chánh phủ Thái tài trợ xây cất.
Chu vi chùa rất lớn. Đây là một trong những khu khang trang
nhất tại Câu Thi Na. Chánh điện trên lầu hai, rộng lớn
và thoáng mát. Mái chùa cong vút với những đường nét kiến
trúc Thái Lan thật đặc sắc. Trong khuôn viên chùa người
ta trồng thật nhiều hoa với muôn màu muôn sắc trông thật
đẹp. Bên hông chùa được xây nhiều khách xá và phòng học
cho chư Tăng và Phật tử.