Khổ
Hạnh Lâm
Hình
Ảnh Khổ Hạnh Lâm
Sông
Ni Liên Thiền
Làng
Sujata
Những
Ngôi Chùa Tại Bồ Đề Đạo Tràng
Thành
Vương Xá-Đỉnh Kỳ Xà Quật
Tháp
Hòa Bình
Phần
2
KHỔ
HẠNH LÂM
Sáng
sớm ngày 1 tháng 12, chương trình có phần thay đổi, thay vì
đi thăm Thành Vương Xá và núi Linh Thứu như đã dự tính,
đoàn đi thăm Khổ Hạnh Lâm (Uruvela), làng Sujata và sông Ni
Liên Thiền (Naranjana). Khổ Hạnh Lâm cách Gaya không xa lắm,
nhưng đường sá gồ ghề xấu xí nên đoàn phải mất gần
2 giờ mới tới làng Bakraur. Xe buýt cố gắng chạy len lỏi
vào những con đường rất hẹp và rất xấu cho đoàn hành
hương đỡ phải đi bộ. Tuy nhiên, gần đến đồi Pragbodhi,
xe không còn vào được nữa, nên chúng tôi phải đi bộ khoảng
10 phút sau mới đến đỉnh Uruvela. Chính nơi đây Đức Phật
đã rời bỏ năm người bạn đồng tu để chuyển sang con
đường “Trung Đạo.” Ngài đã từng trú ngụ trong hang đá
Dungeswari trong một thời gian dài. Ngày đó, sau khi rời bỏ
kinh thành Ca Tỳ La Vệ, thái tử Tất Đạt Đa đã phi ngựa
qua vùng quê hương của dòng họ Thích Ca, rồi vượt qua xóm
làng của bộ tộc Malla. Ngài đã cùng Sa Nặc (Sarnath) đến
bên bờ sông A Nô Ma, tại đây Ngài đã cắt mớ tóc nhờ
Sa Nặc Mang về trao lại cho phụ vương, cởi bỏ áo hoàng
bào để đổi lấy chiếc áo rách cũ kỹ của người thợ
săn, rồi chia tay trong tiếng khóc nức nở của Sa Nặc. Kể
từ đó Thái tử Tất Đạt Đa đã trở thành vị sa môn khổ
hạnh, cô thân vạn lý du tìm chân lý giải thoát cho nhân loại.
Mỗi sáng Ngài ôm bình bát ra đi, Ngài đi một cách lặng lẽ,
đến trưa thì dừng chân lại trước nhà của những dân làng
để chờ sự cúng dường của họ, sau khi thọ trai, Ngài dừng
lại một bóng cây nào đó để tu tập khổ hạnh. Ngài tìm
hết thầy này đến thầy khác, từ thầy Bạt Già Bà (Bhagava),
rồi đến thầy A Ra La Ca Lan (Aralakalama), rồi lại đến thầy
Uất Đầu Ka La Ma Tử (Udraka-Ramaputta)... để thọ giáo, nhưng
không có vị nào vượt qua được sự thông thái của Ngài,
nên Ngài tiếp tục đi về xứ Ma Kiệt Đà, vào kinh thành
Vương Xá.
(Hòa
Thượng Giác Nhiên và
đoàn
hành hương vừa mới tới khu Khổ Hạnh Lâm)
Tại
đây Ngài hạnh ngộ với vua Tần Bà Sa La, và cũng tại đây
Ngài gặp năm anh em A Nhã Kiều Trần Như trong khu rừng Khổ
Hạnh Lâm, nơi mà Ngài đã cùng họ tu tập ròng rã trong 6
năm liền. Ngày nay ngọn đồi này có tên là Dhongra, cách làng
Bakraur chừng 1.6 cây số về phía Đông Bắc, dọc theo bờ
sông Ni Liên Thiền. Trên ngọn đồi này ngày nay có một ngôi
chùa Tây Tạng. Khách hành hương leo lên tới đỉnh thường
được các vị sư Tây Tạng đãi trà. Hòa Thượng cùng đoàn
leo lên hang Khổ Hạnh nằm trong khu khổ hạnh lâm. Sau đó
đoàn bố thí tài vật cho những người nghèo trong khu quanh
rừng Khổ Hạnh trước khi đến làng Sujata.
Hình
Ảnh Tại Khổ Hạnh Lâm
(Xe
buýt lòn lách qua những con đường gồ ghề
đưa
đoàn hành hương đến Khổ Hạnh Lâm)
(HT
Thích Giác Nhiên đang hướng dẫn đoàn hành hương lên Hang
Khổ Hạnh )
(Không
biết thời Đức Phật còn tại thế như thế nào chứ hiện
giờ thì
người
dân ở khu Khổ Hạnh Lâm cũng không khá gì hơn cái tên của
nó)
(Đoàn
đang được Hòa Thượng Thích Giác Nhiên hướng dẫn đi lên
Hang
núi nơi Đức Phật đã từng trú ngụ lúc Ngài tu Khổ
Hạnh)
(Đoàn
hành hương đang thăm viếng Khổ Hạnh Lâm)
(Hang
Khổ Hạnh Dungeswari trong rừng Khổ Hạnh Lâm)
(Những
người dân nghèo khổ tại Khổ Hạnh Lâm đang chờ được
ủy lạo)
(Trên
đường từ Hang Khổ Hạnh đi xuống, một số vị trong đoàn
đang
bố
thí tiền bạc cho những người nghèo trong khu Khổ Hạnh Lâm)
(Những
người dân nghèo khổ tại Khổ Hạnh Lâm
vẫn
còn luyến tiếc với khách hành hương)
(Khổ
Hạnh Lâm ngày nay chỉ còn lác đác những dân nghèo)
(Đoàn
hành hương chụp hình lưu niệm tại Khổ Hạnh Lâm)
Sông
Ni Liên Thiền (Naranjana)
Sông
cách Đại Tháp khoảng 200 mét về phía Đông. Ngày nay sông
này có tên là Lilajan. Sông rộng trên 1 cây số. Vào mùa nắng,
sông khô cạn gần như không còn một giọt nước. Đến mùa
mưa thì nước chảy rất mạnh. Hiện nay chánh phủ Ấn Độ
đã bắt ngang qua sông này một cây cầu thật dài, rất thuận
tiện cho việc giao thông qua lại với làng Bakraur. Theo truyền
thống Phật giáo thì chính tại nơi này Đức Phật đã tắm
gội sạch sẽ, sau đó Ngài nhận bát cháo sữa do nàng Sujata
cúng dường, rồi Ngài nhận thêm bó cỏ kiết tường làm
gối ngồi thiền từ một nông dân trong vùng, trước
khi Ngài đi về cội Bồ Đề bắt đầu thiền định.
Hình
Ảnh Sông Ni Liên Thiền
(Chụp
hình lưu niệm tại bờ sông Ni Liên Thiền)
(Cây
Bồ Đề bên bờ sông Ni Liên Thiền)
(Sông
Ni Liên Thiền khô cạn)
Làng
Sujata
(Chính
tại gốc cây này bên bờ sông Ni Liên Thiền, nàng Sujata
đã
dâng cúng bát sữa cháo lên Đức Phật)
Làng
Sujata-Kuti, nơi nàng Tu Xà Đa (Sujata) đã dâng bát cháo sữa
lên Đức Phật. Vị trí của làng nằm khoảng 2 cây số về
phía Nam bờ sông Ni Liên Thiền, thuộc địa phận làng Bakraur
bây giờ. Tại đầu làng có một ngôi miếu nhỏ thờ hình
Đức Phật ngồi thiền và cô gái chăn cừu Tu Xà Đa dâng
sữa để ghi nhớ chính nơi đóThái Tử Tất Đạt Đa đã
nhận bát cháo sữa do nàng Tu Xà Đa cúng dường. Không biết
ngày xưa làng Sujata thế nào, nhưng chắc là sung túc hơn bây
giờ nhiều vì thuở ấy nhà của nàng Sujata hãy còn có
sửa để cúng dường Đức Phật, chứ ngày nay ngôi làng ấy
xơ xác điều hiu, dân làng nghèo nàn thê thảm, nên họ chỉ
biết có xin chứ không hề biết đến chuyện “cho” ai thứ
gì. Còn sông Ni Liên Thiền, một chứng tích lịch sử trong
việc Đức Phật chuyển sang “Trung Đạo,”con sông ấy hãy
còn đây trên bản đồ, nhưng trên thực tế nó chỉ còn là
một bãi cát bao la, không còn lấy một chút nước nào nữa.
Chính nơi đây, sau khi vượt sông Ni Liên Thiền, Thái Tử Tất
Đạt Đa đã nhận bát cháo sữa của nàng Sujata, nhờ đó
mà sức khỏe của Ngài hồi phục dần dần. Rồi tiếp đó
Ngài nhận bó cỏ cúng dường của một người nông dân để
làm gối tọa thiền. Sau đó Ngài tìm đến gốc cây Bồ Đề,
tại Bồ Đề Đạo Tràng, và quyết chí thiền định cho đến
khi đạt thành đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Theo
truyền thuyết Phật giáo, thì hôm đó nàng Sujata đang vừa
đi vừa dệt mộng cho một buổi cơm trưa ngon lành với túi
mật ngọt mà cha cô đã mua khi bán hết củi khi sớm. Khi ấy
nàng thấy thấp thoáng một sa môn đang ngồi dưới một gốc
cây. Dù sau sáu năm tu khổ hành, thân thể của Thái tử Tất
Đạt Đa đã gầy tóp, má hóp sâu, nhưng nơi Ngài toát ra một
cái gì vô cùng cao quý, mà theo cô nghĩ phải là dáng vẻ của
một vị trời. Cô nghĩ mình phải cúng dường cho vị trời
này mới được. Thế là nàng lấy túi cháo sữa trên vai xuống
đổ vào bình bát, sau đó cô trút hết túi mật mà cô đang
mong thèm cho buổi cơm trưa hôm đó. Rồi với tất lòng thành
kính cô quỳ xuống và cúng dường cho Thái tử và thầm vái
là đang cúng dường cho một vị trời. Lúc đó Thái tử
bèn ra định và bảo nàng là Ngài chỉ là một vị sa môn
chứ không phải là một vị trời. Nàng Sujata với lòng kính
ngưỡng vô biên đã bẩm với Ngài rằng: “Dù Ngài là một
vị trời hay chỉ là một đạo sĩ, cũng xin Ngài nhận nơi
con sự cúng dường này. Con nguyện cầu cho Ngài được giải
thoát giác ngộ như mục tiêu hành đạo của Ngài.” Sau khi
Thái tử chấp nhận sự cúng dường này thì nàng Sujata hết
sức sung sướng, đứng dậy ra về. Trong khi đó, năm anh em
Kiều Trần Như thấy hết cớ sự, tưởng rằng Thái tử đã
phá bỏ lời nguyện tu hành năm xưa, và đầu hàng trước
sự hành xác, nên họ quày quả quay lưng bỏ Ngài mà đi. Lúc
đó Thái tử mới nhận chân rằng “không thể nào thái quá,
mà cũng không thể nào bất cập được.” Vì vậy sau khi
thọ nhận xong bát cháo sữa, Ngài liền đặt cái bát xuống
dòng Ni Liên mà thệ nguyện: “Ta nguyện đạt được giác
ngộ rốt ráo, nếu lời nguyện của ta thành sự thật thì
chiếc bát này sẽ trôi ngược dòng.” Mà thật vậy, lúc
ấy một luồng nước xoáy đã làm cho chiếc bát trôi ngược
dòng. Sau đó Thái tử đã băng qua bên kia dòng Ni Liên Thiền,
được một anh nông dân cúng dường bó cỏ Kusa (một loại
cỏ thơm), Ngài bèn dùng bó cỏ làm gối lót tọa thiền, rồi
đến ngồi tại một gốc cây mà phát nguyện: “Nếu không
đạt thành đạo quả, ta quyết không đứng dậy và không
rời khỏi chỗ này.” Sau 49 ngày đêm liên tuc tọa thiền
Ngài đã đạt thành đạo quả Cháng Đẳng Chánh Giác.
Tại
khu làng Sujata, Hòa Thượng Thích Giác Nhiên cũng hướng dẫn
đoàn thăm viếng khu trường học và ủy lạo một số học
sinh và thầy cô nghèo tại đây. Khoảng giữa trưa, chúng tôi
từ giã dân làng Sujata và lên đường trở về Bồ Đề Đạo
Tràng.
Sau
khi rời khu làng Sujata, chúng tôi trở về lại Bồ Đề Đạo
Tràng. Khoảng 1:00 giờ trưa ngày 1 tháng 12, 2005, đoàn
dự lễ Hòa Thượng làm lễ xuất gia cho hai vị cư sĩ tại
Bồ Đề Đạo Tràng, rồi thăm viếng một vài ngôi chùa lớn
tại đây. Tối đêm đó Phật tử chúng tôi được tự do
thăm viếng Đạo Tràng.
(Lễ
quy-y tại Bodhgaya trưa 3/12/05)
(Sau
lễ quy-y Hòa Thượng hướng dẫn tụng kinh cầu an)
Những
Ngôi Chùa Tại Bồ Đề Đạo Tràng
Có
thể nói Bồ Đề Đạo Tràng là một trong những Thánh tích
hãy còn khá nguyên vẹn. Chung quanh khu vực Đạo Tràng, các
quốc gia trên thế giới đến đây xây những ngôi chùa thật
uy nghiêm và to lớn. Buồi chiều ngày 1 tháng 12 năm 2005, đoàn
chúng tôi được Hòa Thượng Thích Giác Nhiên và các Tăng
Ni sinh hướng dẫn đi thăm các chùa quanh vùng như chùa Việt
Nam Phật Bảo Tự, chùa Nhật Bản, Tích Lan, vân vân. Tất
cả đều uy nghi đồ sộ. Vì không đủ thì giờ nên chúng
tôi chỉ ghé lại một số chùa do Tăng Ni sinh giới thiệu,
chứ chúng tôi không đến được từng nơi để thăm viếng.
Tuy nhiên, trên đường đi, Sư Cô Liên Phụng và Thầy Minh
Thành thay phiên nhau thuyết minh về tất cả những ngôi chùa
trong vùng này.
Hội
Đại Bồ Đề-Mahabodhi Society
Sau
đó chúng tôi ghé qua thăm Hội Mahabodhi Society nằm kế bên
chùa Tây Tạng, không xa Đại Tháp bao nhiêu. Hội được ngài
Anagarika Dharmapala người Tích Lan sáng lập vào năm 1891, là
một Hội có tầm vóc lớn có trụ sở khắp nơi trên thế
giới, như tại Hoa Kỳ, Anh, Tích Lan, Nhật Bản, Népal...
và hoạt động rất mạnh ở Ấn Độ. Trụ sở Hội tại
Bồ Đề Đạo Tràng được chính phủ Sri Lanka tài trợ xây
cất và do các vị sư người Tích Lan quản trị. Đây còn
là trung tâm thiền quán, cơ sở giáo dục, trạm y tế từ
thiện xã hội cho dân làng. Ngoài ra, phía sau Hội còn xây
nhiều phòng khách xá cho khách hành hương nhằm tạo ngân quỹ
cho các lớp cấp I cho học sinh nghèo tại địa phương.
Chùa
Ấn Độ MahaBodhi Mahavihara at Bodhgaya
Ngôi
chùa Maha Bodhi Mahavihara, nằm đối diện với Đại Tháp, được
chính phủ Ấn Độ tài trợ xây cất và đặt dưới sự quản
trị của Ban Quản Trị Đại Tháp Bồ Đề (Buddha Gaya Temple
Management Committee). Được biết ủy ban này do quận trưởng
Gaya làm chủ tịch, cùng với tám thành viên, bốn thuộc Ấn
giáo và bốn vị sư Phật giáo. Chùa Maha Bodhi Mahavihara
được đặt làm trụ sở ủy ban. Chùa còn là trụ sở thông
tin chính thức cho toàn khu Bồ Đề Đạo Tràng. Bên trong chùa
có phòng nghỉ ngơi cho khách hành hương. Các vị sư Ấn Độ
tại ngôi chùa này luôn túc trực tại Bồ Đề Đạo Tràng
để hướng dẫn khách hành hương.
Chùa
Thái Lan-Thai Temple at Bodhgaya
Kế
bên Hội Mahabodhi Society là ngôi chùa Thái Lan, với dáng vẻ
uy nghi sừng sững, tạo cho khu vực quanh Bồ Đề Đạo Tràng
một vẻ đặc thù riêng của nó. Bên trong chánh điện là
tượng Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni bằng vàng, tạc đúc theo
kiểu Thái Lan. Theo tài liệ lịch sử ngôi chùa thì pho tượng
này được Thái Tử Thái Lan tên Hanon Kittikheaenhern dâng cúng
60.000 mỹ kim để đúc vào năm 1956. Năm 1957, hoàng gia Thái
Lan tài trợ cho việc xây cất ngôi chùa này. Toàn bộ chùa
được xây cất theo kiến trúc và vật liệu đặc biệt của
người Thái Lan. Chùa có một khuôn viên rộng rải, nằm về
hướng Tây của khu Đại Tháp. Mái chùa có những đường
nét cong đặc biệt, mái lợp ngói vàng rất công phu. Phía
sau chánh điện là hai dãy phòng nghỉ, xây theo hình chữ U,
có thể chứa trên 300 khách hành hương.
Chùa
Nhật Bổn-Japanese Temple at Bodhgaya
Cách chùa Thái Lan một quãng không xa mấy là chùa Nhật Bản.
Cũng như dân Tây Tạng, Nhật Bản có rất nhiều chùa tại
Bồ Đề Đạo Tràng vì hầu như mỗi tông phái đều muốn
có một ngôi chùa riêng cho mình tại đây. Ngôi chùa này do
Tông Nhật Liên xây dựng vào năm 1973, nằm sát bên chùa Tây
Tạng, tọa lạc trên một khu đất cao. Muốn lên chánh điện
phải bước lên hàng chục bậc cấp. Chùa được lót bằng
một loại gạch rất đặc biệt, được lau chùi bóng loáng,
có thể thấy bóng mình in trên đó. Tuy nhiên, chánh điện
chùa rất nhỏ, thờ Đức Bổn Sư và hình ngài Nhật Liên.
Cũng như các chùa khác tại đây, phía sau chùa là phòng nghỉ
cho khách hành hương. Sau đó chúng tôi đến thăm một ngôi
chùa khác của Nhật Bản, tên là chùa Đại Phật, với một
pho tượng Phật vĩ đại. Tuy nhiên, chúng tôi không vào được
vì chùa đang còn trong thời kỳ xây cất. Ngoài ra, Nhật Bản
còn ngôi chùa Kim Cang Thừa nằm gần chùa Nhật Bổn Sơn, do
Hội Daijokoyo xây dựng vào năm 1983, nhưng chúng tôi không có
thì giờ thăm viếng ngôi chùa này. Nghe nói tại chùa Kim Cang
Thừa, tiếng chuông “Hòa Bình” ngày hai thời sáng chiều
vang dậy cả một góc trời.
(Chùa
Đại Phật do chánh phủ Nhật tài trợ đang xây cất,
dự
trù hoàn thành vào năm 2007 )
Việt
Nam Phật Quốc Tự-
Vietnam
Phat Quốc Tu at Bodhgaya
Riêng
chùa Việt Nam Phật Bảo Tự, nằm trong một ngôi làng cách
Bảo Tháp chừng 7 cây số, là một quần thể lớn, gồm ngôi
Chánh Điện, ngôi khách xá thật lớn và một khu vườn rậm
mát. Đây là ngôi chùa Việt Nam đầu tiên trên đất nước
Ấn Độ do thầy Thích Huyền Diệu xây dựng vào tháng 5 năm
1987. Chùa được xây trên một khu đất rất rộng, khoảng
hai mẫu tây, giữa khu đất bao la. Khi bước chân vào sân chùa
là chúng ta biết ngay đó ngôi chùa Việt Nam vì tất cả đều
mang dáng dấp Việt Nam. Trên đường trải sỏi đi vào chánh
điện là hai hàng bông dừa, đủ các màu trắng, chen lẫn
đỏ, hồng và màu tím thẳm. Trong sân chùa là những
đám rau muống, rau đay pha lẫn với rất nhiều loại bông
hoa khác, hòa lẫn với nhiều tiếng chim hót líu lo, tạo cho
sân chùa một sắc thái thật đặc biệt của một vùng thôn
dã Việt Nam. Chính khu đất rộng rãi này đã làm cho cảnh
chùa càng thanh u tĩnh mịch hơn. Khu chánh điện vuông cạnh
16 mét, cao 24 mét gồm 3 tầng. Tầng dưới đất gồm trên
30 phòng khách xá, mỗi phòng đều có bia khắc tên một vị
Thánh Tăng. Tầng nhì dùng để trưng bày những di tích và
kinh sách. Tầng ba thờ Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.
Chùa
Viên Giác-Viên Giác Temple
Chùa
Viên Giác là ngôi chùa Việt Nam thứ hai tạo Bồ Đề Đạo
Tràng. Chùa do Thượng Tọa Thích Như Điển tại Đức thành
lập. Chùa hoàn thành vào năm 2002 trên một khu đất khang trang
rộng rải, với nhiều phòng nghỉ cho khách hành hương. Hiện
tại trong chùa có một nhà hàng chuyên làm các món ăn chay
Tàu và Việt Nam để phục vụ khách hành hương.
Ngoài
ra, tại Bồ Đề Đạo Tràng còn có nhiều ngôi chùa khác của
các xứ Trung Quốc, Đài Loan, Tây Tạng thuộc nhiều tông phái
khác nhau như phái Gelukpa, phái Karmapa, chùa Shechen Tennyi Dargyeling,
trung tâm Root, một trung tâm thiền thất của ngài Zopa Rinpoche,
chùa Bhutan, chùa Népal, chùa Đại Hàn, chùa Miến Điện, vân
vân. Tuy nhiên, đoàn chúng tôi rất tiếc không có thì giờ
thăm viếng từng chùa một.
Tối
ngày 1 tháng 12, Hòa Thượng lại hướng dẫn cả đoàn ra đảnh
lễ Đại Tháp. Đêm đó có nhiều vị hữu duyên hữu phúc
lưu lại Bồ Đề Đạo Tràng để thiền định như các anh
Thiện Tài, Thiện Phước... Cảnh Bồ Đề Đạo Tràng về
đêm vừa kỳ vĩ, vừa huyền bí làm sao ấy. Những ánh đèn,
những khuôn mặt thành kính dâng tấc lòng thành cúng dường
lên Đức Bổn Sư. Những đoàn người đi kinh hành với những
ánh đèn cúng Phật... tạo cho cảnh trí của Đạo Tràng một
sắc thái thật đặc biệt, vừa uy nghi, vừa cảm động.
Thành
Vương Xá Đỉnh Kỳ Xà Quật
(đường
lên núi Linh Thứu trong Thành Vương Xá)
Sáu
giờ sáng ngày 2 tháng 12, đoàn khởi hành đi thăm thành
Vương Xá (Rajgir), thăm đỉnh Kỳ Xà Quật, và thăm núi
Linh
Thứu (Hill of Vultures). Từ Bodhgaya đi về phía đông bắc
khoảng 50 cây số là đến thành Vương Xá. Thành này nằm
về hướng Đông Nam thành Hoa Thị (Pataliputra nay là thủ phủ
Patna của bang Bihar). Ngày trước Vương Xá là một kinh thành
trù phú vào bậc nhất trong vùng Bắc Ấn, nhưng nay chỉ còn
trơ lại một bức tường thành nằm trơ trọi giữa những
túp lều tranh lụp sụp. Vương Xá là một trong những thành
phố lâu đời nhất ở Ấn Độ. Thành Vương Xá là nơi gắn
liền với cuộc đời hoằng pháp của Đức Thế Tôn trong
nhiều năm. Chính nơi đây đã diễn ra nhiều pháp hội quan
trọng và Đức Phật cũng đã về đây an cư kiết hạ nhiều
lần. Thời Bình Sa Vương thì thành Vương Xá chính là kinh
đô của vương quốc Ma Kiệt Đà. Ma Kiệt Đà thời đó là
một vương quốc hùng mạnh với một địa thế hết sức
đặc biệt. Vương quốc này đã tuần tự được cai trị
bởi những quân vương Phật tử như Tần Bà Sa La, A Xà Thế,
trong thời Đức Phật, rồi về sau này đến vua A Dục dưới
triều đại Khổng Tước... Ngày đó Vương Xá thật sầm uất,
dân cư đông đúc, sinh hoạt nhộn nhịp, kinh tế trù phú.
Theo truyền thuyết Phật giáo thì sau khi Thái Tử xuất gia,
Ngài đã gặp vua Bình Sa Vương, và vị sa môn trẻ tuổi Cồ
Đàm đã hứa với nhà vua là trở về đây độ vua khi đắc
đạo. Bảy năm sau đó, kinh thành Vương Xá tưng bừng nhộn
nhịp mở hội đón một bậc Đại Giác đến đây. Đây là
một trong những biến cố quan trọng trong lịch sử của thành
này. Vương Xá còn có những tên khác như Girivraja, Vasumati,
Barhadrathapura, Kusagrapura, và Rajagriha. Có lẽ vì Vương Xá được
bao quanh bởi núi đồi nên nó có tên là Girivraja, có nghĩa
là đồi núi chung quanh. Còn tên Vasumati có lẽ được đặt
để tưởng nhớ đến vua Vasu khi ông lấy thành này làm kinh
đô. Barhadrathapura đặt theo Brihadratha, tên của một vị vua
sáng lập ra một triều đại tại kinh thành này. Trong Đại
Đường Tây Vực Ký ngài Huyền Trang đã gọi thành này là
Kusagrapura, có lẽ vì lúc này tại kinh thành này có nhiều
loại cỏ thơm, nhưng theo truyền thuyết Ấn Độ thì tên này
được đặt theo tên vua Kusagra, người kế vị vua Brihadratha.
Còn tên Rajagriha, âm theo Hán tự là Vương Xá, có nghĩa là
nơi vua chúa ngự trị, có lẽ vì nơi đây đã trở thành kinh
đô trong nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, theo Ngài Huyền Trang
trong Đại Đường Tây Vực Ký thì tên Rajagriha dùng để gọi
thành Vương Xá mới nằm về phía Bắc của khu Vương Xá thời
Đức Phật còn tại thế: “Đi về phía Đông của dòng sông
Mahi là một khu rừng lớn, sâu trong rừng là ngọn núi Cam
Túc (Kukkutapadagiri), còn gọi là núi Chân Gà. Triền núi cao
và dốc, với những vực thẳm rất nguy hiểm, không thể nào
vào được. Những tảng đá lở thường lăn từ trên xuống,
trong những vực thẳm này có nhiều cây cao. Trên cao có ba
đỉnh, mây mù thường che khuất các đỉnh ấy. Từ trên những
hang động này, ngài Ma Ha Ca Diếp đã triệu tập cuộc kết
tập kinh điển lần thứ nhất dưới sự bảo trợ của vua
A Xà Thế. Nơi này có động đá A Tu La, từ động này đi
về phía Đông khoảng 60 lý sẽ đến thành phố Kussagara, có
nghĩa là thành phố vua chúa của loại cỏ thơm. Đây chính
là thủ đô của nước Ma Kiệt Đà. Những vị vua trước
đã thành lập kinh đô tại đây. Xứ này sản xuất loại
cỏ thơm rất tốt, và cỏ này là biểu tượng của sự may
mắn. Những ngọn núi cao bao bọc thành phố như một tường
thành kiên cố.Về phía Tây có một con đường nhỏ đi xuyên
giữa núi. Về phía Bắc là con đường vượt trên triền núi.
Thành rộng từ Đông sang Tây, nhưng lại hẹp về hước Bắc
Nam. Chu vi thành khoảng 150 lý. Những tàn tích của thành nội
có chu vi khoảng 30 lý. Những cây nguyệt tác dọc hai bên đường
có bông hoa vàng óng ả, tỏa ra một mùi thơm đặc biệt.
Về phía Bắc thành phố là một tháp. Chính nơi này Đề Bà
Đạt Đa và A Xà Thế đã toa rập nhau để hãm hại Đức
Phật. Phía Đông Bắc nơi này cũng có một ngôi tháp. Đây
chính là nơi ngài Xá Lợi Phất lần đầu tiên được nghe
ngài A Thuyết Thị (Asvajita) nói pháp nên sau đó tìm tới quy-y
với Đức Thế Tôn. Về phía Bắc ngôi tháp này có một cái
hồ rất sâu, bên bờ hồ có một cái tháp. Nơi đây Thắng
Mật (Srigupta), một đệ tử của Ni Kiền Đà, đã thiết bị
một hầm lửa âm mưu hại Phật. Thế nhưng Thắng Mật đã
được Đức Thế Tôn độ và về sau cũng chứng được quả
A La Hán. Phía Đông Bắc của kinh thành khoảng 14 hay 15 lý
là Linh Thứu Sơn. Linh Thứu Sơn có hình như con chim và trên
đó loài kênh kênh đã dùng làm nơi trú ngụ. Trong gần 45
năm hoằng hóa, Đức Phật thường về núi này thuyết giảng
những giáo lý cao siêu. Vua Tần Bà Sa La đã cho lấp những
hố sâu để làm con đường lên núi. Đỉnh núi chạy dài
từ hướng Đông sang Tây và rộng từ Nam lên Bắc. Trên đỉnh
có một tịnh xá bằng gạch, cửa thất quay về hướng Đông.
Chính nơi đây Đức Phật đã giảng những bài kinh quan trọng
của Phật giáo. Về phía Đông của tịnh xá là một tảng
đá dài nơi Đức Phật dùng làm đường đi kinh hành.
Kế bên tảng đá này là một tảng đá khác, cao khoảng 5
mét và rộng khoảng 10 mét. Đây chính là nơi Đề Bà Đạt
Đa đã đứng để lăn đá xuống hãm hại Phật. Phía Nam nơi
này có một ngôi tháp nằm bên dưới mỏm đá. Chính nơi này
Đức Thế Tôn đã giảng kinh Pháp Hoa. Phía Nam của tịnh xá
là một mỏm đá, có một ngôi nhà đá mà theo truyền thuyết,
Đức Phật đã ngồi nhập định lúc Ngài còn là Bồ Tát
trong một kiếp xa xưa. Phía Tây Bắc của ngôi nhà đá về
phía trước là một tảng đá. Nơi đây A Nan đã bị ma vương
làm sợ hãi. Theo truyền thuyết khi ngài A Nan nhập định tại
đây, ma vương đã hiện hình làm chim kênh kênh vào giữa đêm
tối trời, đậu trên tảng đá và cất tiếng kêu thảm thiết.
Sau đó nhờ Đức Phật dùng thần lực đưa tay chẻ đôi mỏm
đá và trấn an ngài A Nan và nói: ‘Con không cần phải sợ
cái phép thuật của ma vương.’ Nhờ đó mà A Nan trụ tâm
vào định trở lại dễ dàng. Hiện mỏm đá hình con chim và
vết nứt của đá vẫn còn đó. Gần bên tịnh xá còn có
một số các nhà đá, nơi ngài Xá Lợi Phất và những đại
A La Hán khác nhập định. Phía trước hang động của ngài
Xá Lợi Phất là một cái giếng đã cạn nước. Phía Đông
Bắc của tịnh xá nơi giữa các mỏm đá là một tảng đá
dài và phẳng. Đây là nơi Đức Phật dùng để phơi y áo.
Bên hông tảng đá phơi y là một mỏm đá hãy còn in lại
dấu chân Phật. Mặc dù bìa của dấu chân không còn rõ, nhưng
chúng ta vẫn còn có thể nhận ra được. Trên đỉnh của
ngọn núi về phía Bắc có một cái tháp. Từ đây Đức Phật
đã nhìn xuống toàn xứ Ma Kiệt Đà và đã thuyết pháp xuyên
suốt bảy ngày đêm. Phía Nam của cửa thành Bắc là ngọn
núi Vipula. Theo truyền thuyết thì tại đây có 500 nguồn nước
nóng, nhưng hiện giờ chỉ còn lại khoảng 10 suối mà thôi,
một số ấm, một số lạnh, chứ không có suối nào nóng
cả. Từ cửa thành Bắc đi khoảng một lý sẽ đến Trúc
Lâm Tịnh Xá, nơi đây hiện còn những nền và tường của
ngôi tịnh xá cũ với cửa hướng về phía Đông. Trong thời
Như Lai còn tại thế, Ngài thường về trụ tại đây. Hiện
vẫn còn một pho tượng Phật lớn bằng cỡ Ngài. Về phía
Đông của Trúc Lâm Tịnh Xá là ngôi tháp do vua A Xà Thế dựng
lên sau khi Thế Tôn nhập diệt. Sau khi vua A Dục của triều
đại Khổng Tước (Maurya) lên ngôi, ngài cũng đã đến đây,
mở tháp ra để lấy xá lợi và xây nhiều tháp khác để
thờ. Hiện tháp vẫn tỏa ra một thứ ánh sáng kỳ diệu.
Kế bên tháp xá lợi do vua A Xà Thế xây, còn một tháp khác
chứa xá lợi của ngài A Nan. Theo truyền thuyết, khi ngài A
Nan sắp sửa thị tịch, ngài đã rời khỏi xứ Ma Kiệt Đà
để đi về Tỳ Xá Ly. Khi nghe tin hai nước đã tranh nhau cất
quân đi giành xá lợi, ngài A Nan đã phân đôi thân mình, phần
trên ở Tỳ Xá Ly, còn phần mình được vua của xứ Ma Kiệt
Đà đem về xây tháp thờ. Không xa ngôi tháp này là nơi mà
hai ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đã dừng lại an
cư. Phía Tây Nam của Trúc Lâm tịnh xá khoảng 5 lý, có một
khu rừng trúc, giữa rừng là một ngôi nhà đá to do ngài Ca
Diếp và 999 vị A La Hán đã kết tập kinh điển (không hiểu
sao ngài Huyền Trang lại có 999, khác với con số 500 trong các
kinh điển) sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Trước kia nơi
này có những nền tường cũ, dấu tích nơi vua A Xà Thế đã
xây đại sảnh cúng dường cho kỳ kết tập kinh điển lần
thứ nhất.” Tại vùng này có năm ngọn núi, trong đó có
núi Linh Thứu (Gijjakutta), nơi Đức Phật thường tới giảng
kinh. Tuy khoảng cách không xa, nhưng đường sá gồ ghề xấu
xí nên đoàn chúng tôi phải mất trên hai giờ đồng hồ mới
đến được Vương Xá. Từ Vương Xá, đi thêm 12 cây số nữa
là đến núi Linh Thứu. Bây giờ phương tiện lên núi đã
được cải tiến bằng dây cáp điện do người Nhật thiết
bị, đi nhanh và khỏe hơn thời Đức Phật nhiều, thế mà
chúng tôi vẫn cảm thấy mệt. Càng nghĩ càng thấy cảm kích
Đức Phật, thời đó phương tiện duy nhất chỉ là đôi chân,
thế mà Ngài đã đặt bước đi khắp các vùng Bắc Ấn. Nhờ
dây cáp điện mà mọi người đều lên đến đỉnh Kỳ Xà
Quật một cách nhanh chóng. Lên đến đỉnh Kỳ Xà Quật, phải
đi bộ một đoạn nữa mới đến Tháp Hòa Bình.
Tháp
Hòa Bình Trên Đỉnh Kỳ Xà Quật
(Cổng
vào Tháp Hòa Bình trên đỉnh Kỳ Xà Quật)
(Tháp
Hòa Bình Shanti trên đỉnh Kỳ Xà Quật)
(Quang
cảnh trên đỉnh Kỳ Xà Quật)
Vào
năm 1978 phái Nhật Liên Tông của Nhật đã cho xây dựng ngôi
tháp Hòa Bình to lớn sừng sững trên đỉnh núi Kỳ Xà Quật,
để cầu nguyện cho nhân loại luôn sống trong hòa bình an
lạc và hạnh phúc. Ngọn tháp hình bán cầu thật đẹp, chóp
tháp cao 38 mét, đường kính 144 mét, mái vòm 72 mét, toàn tháp
cao 125 mét. Tháp có năm tầng, bên trong có thờ xá lợi của
Đức Phật. Bên ngoài vòng tường Tháp có các tôn tượng
bằng vàng lay lát vàng, các tượng Phật Đản Sanh, Phật Thành
Đạo, Phật Chuyển Pháp Luân, và Phật Nhập Niết Bàn...Xung
quanh tháp có đường kinh hành hình trôn ốc, lót đá cẩm
thạch trắng sạch sẽ và tươi mát, nên dù trời nắng gắt,
chúng tôi lại đi chân không mà vẫn cảm thấy mát chân. Phía
sau tháp là một chánh điện, lúc nào cũng có người túc trực,
vừa đánh trống vừa niệm câu “Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa
Kinh.”Người Nhật đã chọn đỉnh Kỳ Xà Quật để xây
tháp Hòa Bình thật là đúng ý nghĩa của nó, vì từ đàng
xa người ta có thể thấy được mô tháp khổng lồ này.
Mẫu
tháp “Hòa Bình” này được người Nhật cho xây tại nhiều
Thánh tích khác trong vùng Bắc Ấn Độ. Đây là nét độc
đáo của người Nhật, vì bất cứ nơi đâu họ cũng đều
xây tháp theo kiểu kiến trúc này.
Gần
tháp Hòa Bình là một ngôi chùa Nhật Bản, được người
Nhật xây ngay trên nền tháp cũ của vua A Xà Thế. Chùa được
Đại Đức Nichi Dastu Fujai xây dựng vào năm 1978. Bến trong
chùa tôn trí các tượng Phật rất mỹ thuật. Đặc biệt
tiếng trống tại chùa này được đánh lên liên tục để
cầu nguyện cho hòa bình thế giới.
Sau
khi tụng một thời kinh cầu an, Hòa Thượng hướng dẫn đoàn
đi nhiễu quanh tháp, rồi cả đoàn cùng đi bộ lên núi Linh
Thứu. Từ đỉnh Kỳ Xà Quật qua núi Linh Thứu không xa lắm,
chỉ mất khoảng 30 phút đi bộ. Chính nơi đây, khi Đức Phật
còn tại thế, vua Bình Sa Vương đã cho xây dựng một con đường
ngoằn ngoèo từ chân lên đến đỉnh núi. Ngày nay con đường
ấy được xây lại với các bậc cấp bằng xi măng và
hai bên đều có cây to tỏa bóng mát, nên việc đi lại cũng
dễ dàng, tuy nhiên, đối với các cụ già thì thật là vất
vả. Người Nhật đã xây chiếc cầu Linh Sơn nối liền núi
Kỳ Xà Quật và Linh Thứu. Đây cũng chính là nơi đánh dấu
chỗ vua Tần Bà Sa La bước xuống ngựa, đích thân đi bộ
lên hương thất thăm viếng Đức Phật. Thời Đức Phật còn
tại thế, vua Bình Sa Vương đang cai trị vương quốc Ma Kiệt
Đà đã cho xây hai lớp tường rào bao bọc thành Vương Xá.
Lớp bên trong bao bọc nội điện, nơi vua và hoàng gia trú
ngụ. Lớp bên ngoài bao bọc toàn thành nơi trú ngụ của đình
thần. Thời ngài Phật Âm (Buddhaghosa) thì dân chúng thành Vương
Xá đã lên đến 18 triệu. Tuy nhiên, đến đời vua Udyin, vị
vua nối ngôi vua A Xà Thế, đã cho dời kinh đô về Pataliputra
(ngày nay là Patna, thủ phủ của bang Bihar), bên cạnh một
dòng sông với đất đai phì nhiêu màu mỡ, nên kể từ đó
vị thế của thành Vương Xá không còn nữa. Vào thế kỷ
thứ ba trước Tây Lịch, vua A Dục cho dựng tháp và trụ đá
tại đây để tưởng niệm Đức Phật và Tăng đoàn của
Ngài.