Chương
8: Sự lựa chọn
Từ
Vấn đề đi đến Quyết định
Đôi
khi có người đến trung tâm — nhất là người mới — nói
rằng, những gì họ thật sự muốn tìm ở đây là đời sống
tâm linh, hay đời sống của tuyệt đối, một đời sống
mà họ cảm thấy là, họ là một thể với tất cả thay vì
có phân cách. Điều đó không có gì là sai cả; đó là
những gì chúng ta làm ở đây.
Tuy
nhiên, tôi không nghĩ bất cứ ai trong chúng ta có thể nói
ra “đời sống tâm linh” là cái gì. Cho nên chúng ta
phần lớn nói về những gì không phải là nó. Có một
câu nói trong Thiền học: “Thiên đường và Địa ngục cách
xa nhau chỉ một sợi tơ tằm.” Điều đó muốn nói
gì? Cái khác biệt cách nhau chỉ một sợi tơ tằm là gì khi
“thiên đường và địa ngục cách xa nhau”, khi đời sống
chung thì rối loạn (hay chúng ta nghĩ là nó rối loạn)?
Từ góc độ tuyệt đối, không gì có thể làm cho nó rối
loạn, nhưng từ góc nhìn tương đối, cái gì đó dường như
không ổn. Cái thực chất của đời sống chung chừng
như không dùng được cho chúng ta. Thỉnh thoảng chúng
ta có một thoáng (nhanh như cái liếc mắt) của nó — ngoài
ra thì chúng ta không có.
Cho
một ví dụ: Vào mùa Giánh sinh, là thời gian, hoặc là người
ta cảm thấy vui vẻ hay trở nên cuồng nhiệt (nỗi loạn).
Đôi khi chúng ta có thể có cả hai! Đó là mùa khi chúng ta
có chiều hướng chú tâm những xáo trộn, sự rời rạc của
mình. Nhưng cũng cùng lúc chúng ta gần kề năm mới, chúng
ta cảm nhận rằng mùa lễ là thời gian cho những chỗ ngoặt,
và không một ai có thể đón nhận sự thay đổi đó một
cách hời hợt. Chúng ta chỉ có một số nhất định
cho mỗi bức ngoặt trong một năm trên hành tinh này. Đối
với người rất nhạy cảm, ngã rẻ của năm mới thì thật
là quan trọng. Chúng ta cần thấy được cái “chỉ một
sợi tơ tằm” khác biệt này — để thấy được nó là
gì, nó liên hệ ra sao với ngả rẻ trong cuộc đời mình.
Một
câu trong Kinh thánh nói, “Như một người suy nghĩ trong tâm,
hắn là người như thế.” Trạng thái không dễ này
mà chúng ta đang nói về, sự phân cách, “chỉ một sợi tơ
tằm” khác biệt đến từ phương cách một người “tư
duy trong tâm hắn.” (Chữ “Tâm” ở đây không phải ám
chỉ vào đặc tính của cảm giác, mà nó về tâm trạng, bản
chất của vấn đề, thực chất, như trong Bát Nhã Tâm Kinh.)
“Như một người suy nghĩ trong tâm, hắn là người như thế.”
— tương tự như một người bắt đầu thấy bản thể của
đời sống — rồi hắn là đời sống. Giờ đây, chúng
ta thấy thực chất của đời sống là gì nhiều bao nhiêu,
chúng ta thấy “chỉ một sợi tơ tằm” khác biệt bấy nhiêu.
Nó sẽ dẫn ta tới hai chữ quen thuộc và ta thường hay thay
phiên nhau để dùng: quyết định và vấn đề.
Cuộc
sống từ sáng đến tối không ngoài những quyết định.
Ngay trong phút giây thức giấc chúng ta đã quyết định: Ta
nên thức dậy bây giờ hay năm phút sau? Nhất là, ta nên
thức dậy và ngồi đây! Ta nên có một tách cà phê trước
tiên không? Ta nên có gì cho điểm tâm? Ta nên làm
gì trước tiên hôm nay? Nếu hôm nay là ngày nghỉ, ta
nên đến ngân hàng không? Hay là ta chỉ nên hưởng thụ?
Ta có nên viết lá thư mà ta chưa viết? Từ sáng tới
tối chúng ta quyết định từ việc này sang việc nọ và đó
là chuyện bình thường; không có gì là lạ cả. Nhưng
chúng ta lại thấy đời sống trong hình thức của vấn đề,
chứ không phải của quyết định.
Cụ
thể như, bạn có thể nói, “Vâng! Việc đi đến ngân hàng
hay chọn lựa đi siêu thị, chỉ là một quyết định đơn
giản. Nhưng những gì tôi có trong đời sống của tôi
là một vấn đề.” Nó có thể có dính dáng với việc
làm của ta; có thể là chúng ta đang làm một công việc mà
chúng ta thật sự không thích. Hay là có lẽ chúng ta đang
bị thất nghiệp.. hay bất cứ gì khác. Chúng ta không
nghĩ đó chỉ là một quyết định, chúng ta nghĩ nó là những
khó khăn. Tất cả chúng ta đều lo lắng về phương pháp
giải quyết vấn đề đời sống của mình; tất cả chúng
ta nhìn cuộc đời như là một vấn đề khó khăn, ít nhất
là trong một đoạn thời gian nào đó. Một ví dụ khác:
“Tôi có việc làm ở San Diego, tôi có người bạn gái ở
đây và tôi rất thích khí hậu nữa — nhưng oái oăm thay,
có một việc làm dành cho tôi với mức lương cao hơn ở Kansas
City.” Chúng ta cảm thấy chúng ta không thể nào chỉ
chọn lựa một quyết định — và vậy cho nên chúng ta có
vấn đề. Đây là nguyên nhân cuộc sống loài người
tự tắt nghẽn và “chỉ một sợi tơ tằm” khác biệt bắt
đầu hiện ra.
Chúng
ta nên làm gì về những vấn đề của mình — trong khi phản
kháng lại cơn nóng nảy, phân tích, bối rối, phẫn nộ?
Tôi không đang nói về những sự kiện nhỏ; chúng ta sẽ chọn
một số quyết định và tiếp tục từ đó. Nhưng khi
chúng ta có những sự việc trọng đại trong cuộc đời —
“Tôi có nên mắc vào mối quan hệ này không?” “Tôi có
nên cắt đứt mối quan hệ này không?” “Nếu tôi muốn
chấm dứt mối quan hệ này, tôi phải làm cách nào?” —
chúng
ta lấy làm rắc rối về những gì để làm. Đó là nơi
mà đoạn trích dẫn này được dùng: “Như một người suy
nghĩ trong tâm, hắn là người như thế.” Cái gì thật
sự quyết định cho vấn đề là phải từ sự suy nghĩ phát
ra từ Tâm. Từ những gì chúng ta thấy trong đời sống
của mình như-nó-là, rồi chúng ta quyết định.
Giả
thiết chúng ta đã tọa thiền trong hai năm qua; chúng ta có
thể không biết được, nhưng chúng ta có lẽ thấy một cách
khác hơn đối với những vấn đề về phương cách chấm
dứt một mối quan hệ hơn là chúng ta đã làm trước khi chúng
ta tu tập. Bởi vì chúng ta nghĩ về mình và người đối
tượng, ai là người thay đổi. Tu tập đúng đắn sẽ
thay đổi lối nhìn của chúng ta về cuộc đời, và vì thế
những gì chúng ta làm với đời cũng bắt đầu khác đi.
Người ta muốn có một hệ thống máy móc cho việc chọn quyết
định, cho giải quyết vấn đề. Không thể nào có một
hệ thống nhất định được. Nhưng nếu chúng ta biết
nhiều hơn về chúng ta như-nó-là, rồi từ đó chúng ta có
quyết định hơn (nếu không là tốt nhất).
Cụ
thể là: giả sử chúng ta nói tới mẹ Teresa, “Vâng! Như
mẹ Teresa, bạn có thể cân nhắc để sống ở San Francisco
hơn là ở Calcutta; đời sống về đêm thì tốt hơn.
Bạn sẽ có những nơi tốt hơn để chọn ăn buổi tối.
Khí hậu dễ chịu hơn.” Nhưng bà đã quyết định như
thế nào? Làm sao bà chọn một quyết định ở nơi cực
kỳ khốn khổ nhất của Calcutta để làm việc? Cái quyết
định đó từ đâu mà bà có? “Như một người suy nghĩ
trong tâm, hắn là người như thế.” Bà có lẽ gọi
nó là lời cầu nguyện khẩn thiết: từ nhiều năm của bà
với chính tự thân, bà thấy nơi nào bà làm việc hay những
gì bà làm không giống như là một vấn đề, mà chỉ
là một quyết định.
Chúng
ta biết chúng ta là ai nhiều hơn, là những vấn đề của
chúng ta cũng thay đổi nhiều hơn, “Tôi là thế này
cho nên tôi làm thế, hay tôi có mức độ nào đó sẳn lòng
để làm việc ấy.” Thỉnh thoảng chúng ta chọn lựa
chỉ nhìn người khác rất miễn cưỡng, rất khó chịu. “Bạn
nghĩ gì mà sẽ làm cái đó? Nếu là tôi thì tôi không làm
thế.” Nhưng nếu đối với tôi, từ trong tận đáy
lòng mà đó là những gì tôi cảm nhận về tôi và cuộc đời
tôi đang biểu lộ chính nó như-nó-là, thì nó không còn
là một vấn đề nữa.
Vậy
khi điều gì đó trong cuộc đời mình dường như không thể
giải quyết được, có nghĩa là chúng ta nghĩ rằng, có một
vấn đề ngoài kia mà chúng ta nhìn vào như một vật thể,
như là một quả bưởi. Chúng ta đã không nhìn vấn đề
như là tự thân. Một cách để biến chế một vấn đề
trở thành một sự giải quyết là, ngồi xuống với nó, tọa
thiền. Cho một ví dụ cụ thể, sự quyết định về
nơi tôi sẽ làm việc: nếu tôi ngồi với nó, những tư tưởng
sẽ trôi dạt tới về tất cả những điều e ngại của tôi,
cái này hay chuyện kia về một việc làm ở tiểu bang khác.
Tôi cứ lập Niệm (đặt tên) từng tư tưởng một, rồi để
chúng bềnh bồng trôi qua; tôi lo lắng, phân tích, hay náo động
không cần thiết. Tôi duy trì để trở về lại với
kinh nghiệm trực quán trong thân thể mình là một sự thật
của vấn đề trong hiện tại. Tôi chỉ ngồi với căng
thẳng và co rút, mà thở xuyên qua chúng. Trong khi làm
việc này, tôi va chạm nhiều hơn với “tôi là ai” và sự
quyết định trở nên rõ ràng ra. Nếu tôi cảm thấy
hoàn toàn xáo trộn thì đó không phải là do có vấn đề
gì để cho tôi phải tìm một phương cách giải quyết, mà
là vì tôi chỉ không biết được “tôi là ai” trong sự
liên hệ với vấn đề đó.
Cho
một ví dụ, giả sử tôi không biết là tôi nên gã cho một
người có nhiều tiền hay cho một người khác mà không có
lý do gì — tôi chỉ thích anh ta thôi. Nếu câu hỏi đó
chưa bao giờ nảy sinh cho tôi, thì không có gì về bản thân
tôi mà tôi không biết. Vấn đề thì không phải ngoài
kia. Vấn đề thì ở đây: Tôi không biết “tôi là ai”.
Khi tôi biết được “tôi là ai”, giống như mẹ Teresa tôi
sẽ không có vấn đề gì về những gì phải làm. Trong
khi tôi biết nhiều hơn về “tôi là ai”, tôi bắt đầu
tháo gỡ bớt đời sống của mình xuống mức độ những
gì mà cuộc đời tôi thật sự cần. Tôi không còn thấy
bất ngờ là, tôi nhất định phải có cái đó, cái kia.
Đó không phải là tôi từ bỏ chúng, mà chỉ là tôi
không thật sự thấy cần chúng nhiều nữa. Nhiều
người tọa thiền qua nhiều năm thấy cuộc đời của họ
trở thành đơn giản một cách đáng kể — không phải vì
đức hạnh, mà là mong cầu ít lại, lòng tham tự nhiên bị
trôi dạt mất. Những người quen biết tôi hiện tại,
không tin rằng, nhiều năm về trước tôi không thể nào đi
làm nếu màu sơn móng tay không trùng hợp với màu son trên
môi: Tôi thật rất lấy làm khó chịu với vấn đề
này. Dù cho tôi không bao giờ có nhiều tiền, tôi vẫn
luôn luôn có áo quần thật sang trọng. Thật ra, không
có gì là sai với việc chưng diện sang trọng; tôi không nói
là thế. Tôi muốn nói rằng, khi lòng ham muốn Tự
ngã là sự quan tâm chính, thì bạn sẽ có rất nhiều khó
khăn với sự quyết định của mình. Và những
khó khăn đó sẽ trở thành vấn đề nữa. Nhưng khi bạn
tu tập, sự quan tâm chính của bạn, về những gì bạn thật
sự mong muốn cho cuộc đời mình, sẽ thay đổi; tham vọng
và sự thiếu quyết đoán dần dần mất đi.
Cho
nên chúng ta có khó khăn vào Giáng sinh, lăng xăng không ngừng
để thỏa mãn tham muốn của những người khác. Chúng
ta phải biết cho bản thân cái gì là quan trọng nhất.
Rồi sau đó, chúng ta biết chừng mực là bao nhiêu để làm
cho thích hợp. Dĩ nhiên sự hiểu biết này về “tôi
là ai” thì luôn luôn rời rạc, không trọn vẹn, thậm chí
còn rất sơ cấp. Tuy nhiên, trong khi chúng ta tu tập càng
nhiều, thì đời sống càng ít đi vấn đề hay than phiền.
Tôi
không muốn ám chỉ rằng, chúng ta không bao giờ nên vui vẻ.
Chúng ta sẽ có một khát vọng, mà khát vọng ấy thì cũng
đầy nét vui vẻ mà lại hài hòa với điều kiện hiện tại
của chình mình. Nếu chúng ta cần nhiều thời gian lẫn
tránh, đó chỉ là cách mà chúng ta nhìn bản thân và đời
sống của mình. Nhưng theo thời gian, quá trình đó sẽ
thu nhỏ lại. Bởi vì chúng ta không thể tiếp xúc được
với cái cốt lõi — tâm của chính mình — mà không có sự
thay đổi những gì chung quanh nó. T.S. Eliot đã viết về
cái điểm tựa mà vũ trụ xoay quanh. Điểm tựa đó không
phải là một cái gì cả. Trong khi chúng ta tu tập, chúng
ta biết càng nhiều về nó là cái gì. Nhưng không có
sự kiên trì liên tục, kiên nhẫn công phu, thì đối với
phần lớn trong chúng ta đều có khuynh hướng lầm lẫn về
tu thiền. Ví dụ, chúng ta có lẽ đòi hỏi tự thân rất
nhiều sự tự từ bỏ; nhưng đôi khi từ bỏ chính mình cho
người khác có thể là không tốt cho người đó. Đôi
khi chỉ là những việc để làm. Khi nào chúng ta đối
diện với một quyết định cần phải chọn lựa hoặc là
làm hay không một việc gì đó cho người, rồi cuối cùng
nói, “Không! Tôi sẽ không làm điều đó cho bạn” —
quyết định này từ đâu ra, từ khả năng để lập một
quyết định sáng suốt? Nó đến từ sự trong sáng tăng
trưởng về “chúng ta là ai” và cuộc đời của chúng ta
về cái gì. Trãi qua nhiều năm, tôi làm việc giúp người
khác càng ít hơn, theo cái ý nghĩa mà tôi thường hay nghĩ.
Cho đến khi nào bất kỳ ai có khó khăn gì đến gõ cửa,
thì tôi cảm thấy là tôi phải nói chuyện với họ lập tức.
Giờ thì tôi thường hay đặt bản thân mình trước tiên trong
nhiều lúc; đó không hẳn là vì tính ích kỹ, mà có
thể là vì đó là việc làm tốt nhất để làm thế.
Sự
hiểu biết về những gì cần làm thì từ từ rõ ràng với
quá trình tu tập. Sự quyết định trở thành bản chất
của sự quyết định (tự nó biểu thị mà không có sự đắn
đo), không có vấn đề thương tâm. Một khóa tu là một
phương thức đẩy chúng ta vượt qua giai đoạn làm cho ta hốt
hoảng về những vấn đề của mình. Bằng cái cấu trúc hướng
dẫn chúng ta, dù cho ta có muốn hay là không, trong không gian
mà có thể giúp ta thấy rõ ràng hơn. Nhưng điều quan
trọng nhất vẫn là tọa thiền mỗi ngày. Tôi không phải
nói về lối ngồi theo những lề lối cũ. Nếu cách ngồi
đó không tốt, thì nó còn tệ hơn là không ngồi gì cả.
Chúng ta phải biết chúng ta làm gì. Bằng không, chúng
ta xây dựng một thế giới tưởng tượng, mà có thể có
hại nhiều hơn là không tọa thiền gì cả.
Hỏi:
Dường như là, nếu ta có ý tưởng về đúng và sai, nó quấy
rầy liền.
Joko:
Chắc chắn là vậy! Bởi vì những thứ này là tư tưởng,
và tư tưởng trong đầu ta về cái gì đúng và sai là cái
nhìn cá nhân của ta — và thường hay dựa trên cảm giác
— nó ngăn cản với sự thấy của ta về bản thân hay người
khác một cách rõ ràng.
Hỏi:
Tôi nghĩ câu trả lời sẽ là nhìn sự thật theo chiều hướng
như-nó-là.
Joko:
Đó cũng tốt. Một lần nữa, đó có nghĩa là gì theo
thuật ngữ của tình trạng tu tập thật sự có thể không
quá đơn giản như là lúc nói. “Sự khác biệt chỉ
một sợi tơ tằm” … nó là gì?
Hỏi:
Nếu điều gì đó mà tôi dự định làm và thứ gì khác chợt
phát sinh bất ngờ, cho nên có hai thứ tôi phải chọn — trong
cái khoảng trống đó, tôi bắt đầu tức giận và có tư
tưởng vị kỷ…
Joko:
Bạn có một “vấn đề” phải không?
Hỏi:
Hơn “chỉ một sợi tơ tằm”!
Joko:
Hơn “chỉ một sợi tơ tằm”! Phải rồi!
Hỏi:
Sự khác nhau có lẽ có liên quan đến nhận thức ra những
gì đến với tôi, trách nhiệm đến với tôi.
Joko:
Bạn có luôn biết chúng là gì không?
Hỏi:
Không!
Joko:
À! Những thứ tạo ra sự khác biệt hai bên của “chỉ một
sợi tơ tằm”, đã làm cho chúng ta không thể thấy là cái
gì? Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm và bổn phận,
nhưng chúng ta lại lầm lẫn giữa chúng với nhau nữa, rồi
biến hóa (do sự lầm lẫn) chúng thành vấn đề cho mình.
Những gì chúng ta làm (sự lầm lẫn?) đã tạo ra sự khác
biệt của hai hiện tượng cách nhau chỉ một sợi tơ tằm?
Hỏi:
Chúng ta ham muốn.
Joko:
Đúng thế!
Hỏi:
Chúng ta có tư tưởng về cho những gì cho ra.
Joko:
Chúng ta chỉ có thể thật sự bố thí khi chúng ta không cần
đền trả. Đúng không? Tôi muốn, muốn, muốn.
Chỉ nhận diện là tôi muốn, muốn, muốn đời sống của
tôi thế này, không phải thế nào khác hơn — đó có nhiều
dính dấp với sự khác biệt giữa hai bên “chỉ một sợi
tơ tằm”. Tất cả chúng ta đều muốn đời sống xảy
ra theo ý của mình, thích thoải mái hơn. Thú vị. Còn gì nữa?
Tương lai đầy hy vọng? Không có tương lai! “Rồi đây
nó sẽ tốt đẹp hơn vài một ngày nào đó.” Ai đoán
biết được?
Hỏi:
Đối với tôi, đó là sự qui hàng. Nếu tôi có thể
qui phục những gì đang xảy ra, thì tôi không còn phải nuôi
dưỡng những thứ mà tôi phải đâm xầm vào.
Joko:
Nếu chúng ta có thể thật sự đầu hàng, thì cũng là điều
tốt. Nhưng những gì đứng cản trên bước đi của người
qui hàng kia? Ta. Và cái “Ta” gồm có những gì?
Hỏi:
Giận dữ. Tôi muốn nó theo cách khác! Đó không phải là những
gì mà tôi dự định.
Joko:
Đúng thế! Và những thứ này đều là tư tưởng.
Nếu chúng ta (nhận) thấy những tư tưởng này chỉ là những
tư tưởng (làm được hay không?) thì chúng ta có thể trở
về với những gì cần phải làm.
Hỏi:
Khi chúng ta thấy một vấn đề, chúng ta có nên dùng nghị
lực, ý chí của mình để thay đổi nó không?
Joko:
Bạn đang nói về sự khác biệt giữa quyết định và vấn
đề. Nếu bạn thật sự thấy ra bất cứ vấn đề như
là bản thể của mình, thay vì nhìn nó như là một vấn
đề cần phải giải quyết, bạn có thể tự hỏi,
“Cái gì đang xảy ra đây?” Những gì bạn thấy đang
xảy ra thường là cơn giận của chính mình, hay là nỗi sợ
hãi, hay chỉ là tư tưởng. Bạn càng làm quen với chúng
nhiều hơn, thì cũng quen với sự đi theo của những căng thẳng
sinh lý, dù có muốn hay là không thì sự chọn lựa muốn thay
đổi hay không của bạn trở thành tỏ rõ ra đó. Tôi
không nói là, đừng bao giờ thay đổi bất cứ gì. Nhưng
nó sẽ trở nên rõ ràng, cũng giống như là đối với mẹ
Teresa.
Hỏi:
Đó là một phương pháp giải quyết mọi vấn đề phải không?
Joko:
Giải quyết vấn đề? Không có sự giải quyết vấn đề
gì cả; nhưng cái phút giây mà bạn ôm lấy cuộc đời và
thể hợp với nó, bạn thấy được nó là gì, những gì đang
xảy ra. Rồi khoảng “cách chỉ một sợi tơ tằm”
kia biến mất, bạn có hiểu không? Bởi vì vấn đề
không có ở đó. Chỉ có bản thể của bạn. Nó không
có gì đáng sợ cả. Trong khi chúng ta tọa thiền một
cách kiên nhẫn, chúng ta có khuynh hướng thấy nhiều hơn những
gì để làm. Nó không còn gì là huyền bí cả. Chúng
ta biết khi nào để thay đổi sự việc và khi nào thì không.
Như đã nói, chúng ta thu thập thêm khả năng chấp nhận sự
việc mà chúng ta không thể thay đổi, dũng cảm thay đổi
những gì cần phải đổi và trí tuệ để biết sự khác
biệt giữa đổi hay không.
Hỏi:
Cái gì tạo cho chúng ta muốn làm sự việc thích hợp?
Joko:
Chúng ta luôn luôn muốn làm những điều thích hợp khi chúng
ta tiếp xúc với thực chất của mình. “Như một người
suy nghĩ trong tâm, hắn là người như thế.” Không chỉ
là “Hắn là người như thế.” Mà “Hắn là thế”
cho nên hắn làm thế.
Bức
Ngoặc
Tất
cả chúng ta đều muốn một đời sống tự do và thông cảm,
một đời sống trọn vẹn đầy ý nghĩa. Một đời sống
đầy ý nghĩa trọn vẹn thì không bị trói buộc vào bất
cứ gì cả, không vào sự tu tập, không vào một pháp tu, không
vào một đạo sư, thậm chí không vào Chân lý — nếu chúng
ta bị trói buộc vào Chân lý, thì chúng ta không thể thấy
nó.
Tôi
xem thấy một câu chuyện qua tin tức trên màn ảnh về một
người đàn ông, ông tìm thấy thật nhiều thùng chứa đồ
phụ tùng xe. Ông ta không có một hiểu biết gì về những
thứ này dùng vào việc gì, nhưng ông vốn là người có hứng
thú làm những việc lấp ráp đồ vật với nhau. Và cũng
chính vì cái ẩn số kia càng tạo ra nhiều nét kỳ thú hơn.
Cho nên ông bắt đầu công việc tay chân này. Ông đã
phải mất gần mười năm thời gian để lấp ráp hàng ngàn
bộ phận nhỏ, lớn lại với nhau. Khi ông hoàn thành
công việc, thì ông mới biết đó là một chiếc xe Ford kiểu
T mới toanh, bóng loáng và thật đẹp. Nhưng (rõ ràng
là ông chưa có vợ! Vì nếu có không đã không có mười năm
làm cái công việc này?) ông đã lấp ráp chiếc xe này ngay
trong căn phóng khách của ông. Cho nên, sau nhiều lúc đắn
đo suy nghĩ, ông phá vỡ vách phía trước của căn phòng và
đẩy chiếc xe ra mái hiên nhà — một sự cải tiến dứt
khoát. Mái hiên nhà thì cao đến bốn bộ tây, cho nên
ông lại phải xây một cái dốc để xuống cái sân.
Cuối cùng, ông mới có thể chạy chiếc xe ra đường lộ.
Một chiếc xe Ford kiểu T thật sự, hoạt động tốt.
Đây
là một câu chuyện tuyệt diệu, bởi vì nó giống như những
gì chúng ta muốn cuộc đời của chúng ta xảy ra tương tự
vậy. Chúng ta xây dựng lên một tác phẩm kỳ lạ mà
chúng ta gọi là “Tôi”. Thật là không may mắn, chúng
ta lại không khéo léo lắm trong việc kiến trúc cái “Tôi”
này; vì trong khi chúng ta xây dựng nó, chúng ta có cái cảm
nhận không ổn lắm rằng, cái “Tôi” (giống như chiếc
xe Ford kia) thì bị giam giữ bên trong những bức tường.
Cái “Tôi” có thể trông như thật bóng bẫy, thậm chí rất
bề thế, nhưng vẫn cảm thấy bị xiết chặt một cách khó
chịu đối với chúng ta.
Giờ
thì tới sự chọn lựa mấu chốt: có hai cách để đi, mỗi
khi chúng ta cảm thấy bị tù túng và bồn chồn về cái “Tôi”.
Một là giả bộ rằng, không gian chúng ta đang sống thì thật
sự tương đối đủ chổ cho chiếc xe và chúng ta trang trí
những bức tường hay tạo ra mánh khóe bằng những tấm kính
để làm cho ta thấy như có nhiều không gian, từ đó ta có
ảo tưởng là thoải mái và rộng rãi. Hai là nhận thức
rằng, cái “Tôi” cứng ngắt, tù túng này, bằng cách này
hay cách khác phải dời nó đi, vậy chúng ta vượt qua nó để
tới một nơi có nhiều ánh sáng và không khí hơn.
Ở
vào điểm này (khi chúng ta bắt đầu nghiên cứu cái “Tôi”
(chiếc xe) mà chúng ta đã gầy dựng lên) sự tu tập của
chúng ta thật sự mới bắt đầu. Chúng ta không còn hy
vọng để sửa chữa sự kiện, hoàn cảnh chung quanh nữa;
thay vì chúng ta dời chiếc xe (cái Tôi) ra để chúng ta có
thể xem xét kỹ nó. Dĩ nhiên đây cũng không phải là
giai đoạn cuối cùng; giai đoạn cuối của đời sống đâu
phải là xem xét và phân tích cái Ngã, để tìm xem nó kêu
như thế nào; mà là đem cuộc đời của ta ra phố chợ nơi
mà nó có thể vận hành trọn vẹn.
Nỗi
đau khổ bị giam giữ trong những bức tường là sự khích
lệ tiên khởi cho phần lớn chúng ta di chuyển; chúng ta biết
chúng ta phải làm điều gì đó về những bức tường giam
kia. Nó là một bước quan trọng to lớn khi dời chiếc
xe ra mái hiên, nơi mà chúng ta có thể có một chút ánh sáng
vô nó, một chút không gian và tầm nhìn. Trong tu tập,
nó là một ngã quẹo rất quan trọng. Vậy những gì chúng
ta phải làm đây để đến được cái ngã quẹo này?
Hãy
xem xét cái quan niệm về “Nguyện từ bỏ”. Chúng ta thường
cảm thấy rằng, đời sống của chúng ta phải có một khởi
điểm mới, còn điểm cũ phải đoạn tuyệt đi. Xét
xem
chúng ta từ bỏ cái gì? Chúng ta có thể từ bỏ thế
gian vật chất, giống như quan điểm chúng ta nhận thức nó;
hay là chúng ta có thể từ bỏ thế giới cảm giác và tâm
linh.
Nhiều
truyền thống khuyến khích từ bỏ tất cả những sở hữu
vật chất. Những nhà sư theo truyền thống chỉ giữ
một hộp nhỏ đựng những thứ cần thiết. Đây là
sự tự nguyện từ bỏ không? Theo tôi thì đó là không
phải; mặc dù là nó ích lợi cho sự tu tập. Nó tương
tự như là, nếu chúng ta cảm thấy là buổi ăn tối chưa
trọn vẹn nếu không có tráng miệng; để rồi chúng ta sống
theo phương cách là buổi ăn tối không có món tráng miệng
(giống như không có tư hữu) trong một thời gian để học
cái tâm ra sao trong khi buổi ăn tối không trọn vẹn; và đó
là một cách tu tập tốt.
Kế
đó chúng ta có thể cảm thấy rằng, những gì đang diễn
tiến trong tư duy và cảm giác của chúng ta thì không ổn:
“Tôi nên có khả năng từ bỏ tất cả những cái đó; tôi
nên có khả năng dẹp bỏ nó. Tôi thật không tốt khi
suy nghĩ hay cảm giác thế này.” Nhưng đó cũng không
phải là sự nguyện từ bỏ nữa; nó là sự đùa giỡn với
quan niệm tốt và xấu.
Vài
người trong chúng ta làm một sự cố gắng tối hậu.
Bởi vì chúng ta lầm lẫn và nản lòng về đời sống hàng
ngày của mình, chúng ta cuối cùng quyết định, “Tôi phải
đi tới Chứng ngộ — tôi phải sống một đời sống tâm
linh tròn đầy và từ bỏ tất cả những thứ khác.”
Đó thật là tốt nếu chúng ta hiểu nó có ý nghĩa là gì.
Nhưng với tất cả những hiểu biết sai lầm về sự tự
nguyện từ bỏ, những tiềm ẩn nhất ở lãnh vực này được
gọi là huấn luyện tâm linh, trong đây chúng ta có những ý
niệm như là “Tôi nên trong sạch, thánh thiện, khác biệt
hơn những người khác.. có lẽ nên sống một nơi hẻo lánh,
một vùng yên tỉnh.” Và những thứ đó cũng không có
dính dấp gì với sự tự nguyện từ bỏ cả.
Vậy
cái gì là sự tự nguyện từ bỏ? Có tình trạng như thế
tồn tại không? Có lẽ chúng ta có thể làm sáng tỏ vấn
đề này tốt nhất bằng cách xem xét một từ ngữ khác, “không
ràng buộc”. Chúng ta thường nghĩ rằng nếu chúng ta
lãng phí thời gian với những sự kiện hời hợt của cuộc
sống mình, cố gắng thay đổi chúng, lo lắng về chúng hay
về bản thân, chúng ta đang thỏa thuận với tình trạng của
“sự tự nguyện từ bỏ” — nơi chốn mà thật tế chúng
ta không cần “từ bỏ” bất cứ gì, chúng ta chỉ cần nhận
thức là, sự từ bỏ chân chính là tương đương với “không
ràng buộc”.
Quá
trình của sự tu tập là nhìn xuyên thấu, chứ không phải
loại bỏ, bất cứ gì mà chúng ta chấp chặc vào. Chúng
ta có thể có nhiều tài sản và không bị nó ràng buộc, hay
là chúng ta có thể không có gì cả nhưng lại rất chấp chặc
vào tình trạng “không có” này. Thông thường, nếu
chúng ta thấy thông suốt cái thực chất của chấp thủ, chúng
ta sẽ có khuynh hướng sở hữu ít hơn, nhưng đó là một
tình trạng không cần thiết. Phần lớn sự tu tập bị
kẹt ở giai đoạn này do lãng phí thời gian cho hoàn cảnh
chung quanh và cái tâm lơ đảng. “Tâm của tôi nên yên lặng.”
Tâm của chúng ta không phải là vấn đề; vấn
đề ở đây là không bị ràng buộc bởi những hoạt động
của tâm. Những tình cảm
của chúng ta thì vô hại ngoại trừ chúng điều khiển ta
(ngay chỗ này, nếu chúng ta chấp vào chúng) — để rồi cho
chúng có cơ hội tạo ra sự bất hòa cho mọi người.
Vấn đề trước tiên trong tu tập là để thấy rằng chúng
ta đang chấp thủ. Trong khi chúng
ta kiên định, nhẫn nại tu thiền, chúng ta bắt đầu biết
rằng, chúng ta không là gì cả ngoại trừ sự chấp thủ:
chúng (sự chấp thủ) cai trị đời sống của chúng ta.
Nhưng
chúng ta chưa bao giờ dứt bỏ được dù chỉ một chấp thủ
qua lời nói, nó phải bị dứt bỏ. Chỉ khi nào chúng
ta đạt được sự tỉnh giác về thực chất của nó (chấp
thủ), thì nó sẽ lắng dịu xuống và nhỏ dần đến mức
không đáng kể, rồi héo tàn; giống như một lâu đài cát
bị những đợt sóng dập lên nhiều lần, cuối cùng nó cũng
bị xóa tan và bằng phẵng — bấy giờ ta không còn thấy
nó đâu nữa, hay nhớ nó hình dạng ra sao nữa.
Câu
hỏi được đặt ra không phải là làm thế nào để dứt
khoát hay từ bỏ những chấp thủ; mà là làm sao để nhận
thấy ra cái thực chất của nó, vô thường, thay đổi, và
trống rỗng. Chúng ta không cần phải dứt bỏ gì cả.
Điều khó nhất, ngủ ngầm nhất, là sự chấp thủ vào những
gì mà chúng ta nghĩ là sự thật “tâm linh”. Chấp thủ
vào cái mà chúng ta gọi là “tâm linh” thì rất linh động,
làm cản trở đời sống tâm linh. Nếu chúng ta bị vướng
mắc vào bất cứ gì, chúng ta không thể có tự do hay tình
cảm chân thật.
Chừng
bao lâu chúng ta có định kiến về phong cách mà chúng ta phải
ra sao hay người khác phải như thế nào, thì chúng ta còn đang
bị trói buộc; mà đời sống tâm linh chân chính thì đơn
thuần chính là sự vắng bóng của những thứ này. “Để
học hỏi về cái ngã, là phải quên đi cái Ngã.” là những
lời của thiền sư Đạo Nguyên Hy Huyền.
Trong
khi chúng ta tiếp tục tọa thiền hôm nay, hãy chú ý về vấn
đề trung tâm: tu tập về không ràng buộc. Hãy tiếp
tục một cách cần cù, nhận biết nó có thể là rất khó
và biết sự khó khăn đó thì không phải là điểm muốn bàn.
Mỗi người trong chúng ta có một sự lựa chọn. Nó sẽ
là cái gì? Một đời sống tự tại và sự cảm thông
— hay là gì khác?
Đóng
lại Cánh cửa
Vào
thập niên 1960, lão sư Bạch Vân An Cốc bắt đầu chuyến
viếng thăm mỗi năm để giảng pháp ở Mỹ. Trong mỗi
lần viếng thăm, ngài hướng dẫn khóa tu học trong một tuần
ở đây miền nam California. Giống như những người khác
bắt đầu tu thiền với lão sư Bạch Vân trong những lần
ghé sang, tôi tu tập một cách tập trung với ngài trong bảy
ngày mỗi năm, và cho phần còn lại trong năm thì tiếp tục
tọa thiền riêng một mình. Những khóa tu này thật là
khó khăn tột đỉnh đối với tôi, và tôi phải nói rằng,
nếu từng có một sự tu tập xáo trộn thì đó là sự tu
tập của tôi. Nhưng có cơ hội để theo học với ngài, mặc
dù chỉ một tuần cho mỗi năm, và thấy cái phong thái của
ngài — khiếm nhường, hòa nhã, đầy nghị lực, và không
gò bó — thì cũng đủ cho tôi bền lòng đi tới.
Ngài
đã quá lớn tuổi khi tôi biết ngài, ở vào tuổi tám-mươi
và có nhiều khó khăn trong sự đi lại. Khi ngài lê chân
vào trong thế tọa thiền, tôi không biết là ngài có thể
hoàn chỉnh vào bộ vị ngồi hay không. Chỉ từng chút,
ông lão lưng còng, xê dịch vào chỗ ngồi. Nhưng khi ngài
bắt đầu buổi pháp thoại, thì tôi không thể nào tin tưởng
được! Nó giống như một tia chớp chạy xuyên qua căn phòng
— đầy sức sống, tự nhiên, sự dâng hiến toàn diện.
Không cần biết ngài nói những gì, hay ngài có người thông
dịch. Sự hiện diện của ngài đã biểu lộ pháp: không
thể nào quên nếu đã có một lần đối diện.
Hai
phẩm chất ưu tú của lão sư Bạch Vân gây ấn tượng sâu
đậm trong tôi nhiều nhất. Tôi muốn nói là ngài thật
sáng ngời và lại rất bình thường ở trong cùng một lúc.
Nhìn vào đôi mắt của ngài trong buổi nói chuyện nghiêm trang,
giống như nhìn vào hố thẳm ngàn dặm — không có gì ở
đó cả. Thật là kỳ diệu. Nhưng có gì đó trong
khoảng không gian bao la, có đầy sức xoa dịu mãnh liệt.
Ngoài
buổi tọa thiền, ngài chỉ là một người đàn ông nhỏ con
bình thường, chạy lòng vòng với cây chổi trên tay và ống
quần xăn cao, ăn cà rốt. Ngài rất thích cà rốt.
Lão
sư Bạch Vân đã cho tôi kinh nghiệm đầu tiên của tôi về
những gì mà một thiền sư chân chính là thế nào, và nó
là một kinh nghiệm khiêm nhường bởi vì ngài rất ư là khiêm
nhường. Tỏa ra từ ngài là tự tại, tự nguyện, và
lòng bi mẫn, những báu vật mà tất cả chúng ta tìm kiếm
trong sự tu tập của mình. Nhưng chúng ta phải cẩn thận
là chúng ta đừng tìm kiếm những thứ quí giá này không đúng
chỗ, bên ngoài ta, lầm lẫn không thấy rằng, thực chất
cuộc sống của ta chính là phẩm vật vô giá — có lẽ chưa
đánh bóng, nhưng nó đã hoàn hão, trọn vẹn và đầy đủ.
Khi
bạn đi thẳng vào nó, pháp thì thật là đơn giản và luôn
luôn sẳn sàng; nhưng khó khăn là chúng ta không biết thế
nào để nhìn nó. Vì bởi chúng ta không biết, cho nên
ngọc báu này, tự do này, ở ngoài tầm với của chúng ta.
Tự
do như là một thứ gì rất khó khăn để diễn tả. Phương
thức thông thường để tìm kiếm tự do của chúng ta là nhìn
nó như một thể trạng độc lập, như muốn đến một nơi
nào đó, hay làm một việc gì đó. Chúng ta hy vọng rằng,
cái gì “ngoài kia” sẽ cho chúng ta tự do; khi chúng ta nằm
trong cảnh ngộ không vừa lòng và tù túng, chúng ta luôn có
một cánh cửa mở toang để chúng ta có thể chạy ra để
tìm một hy vọng và tự do mới. Tất cả chúng ta ai cũng
làm qua thế, không ai là ngoại lệ; nó mang cho chúng ta một
chữ khó diễn tả khác, “lời ủy thác”.
Một
khía cạnh quan trọng trong sự tu tập của chúng ta là tìm
kiếm một cách trung thực ở sự diễn tiến đều đặn của
hy vọng, sợ hãi, và tất cả những ý đồ, những thứ này
là một nét phản ảnh về sự thiếu tận tụy với cuộc
sống của mình. Để làm được điều này cần chúng
ta phải đóng cánh cửa mà chúng ta thích mở rộng kia, và
quay mặt lại đối diện với bản tâm như-nó-là. Đây
là sự ủy thác, và không có nó thì sẽ không có tự do.
Xuyên
qua quá trình tu tập, chúng ta làm hao mòn những ảo tưởng
về ý muốn chạy ra ngoài để tới một thứ gì ở ngoài
kia. Chúng ta đặt phần lớn sự cố gắng của chúng
ta vào việc duy trì và bảo vệ cái Ngã; chính cái Ngã này
tạo ra cái nhìn thiếu hiểu biết là “Ta” tồn tại riêng
biệt từ tất cả trong đời sống. Chúng ta phải trở
nên chú tâm về cái kiến trúc giả tạo này và quan sát xem
nó hoạt động ra sao, bởi vì — mặc dù nó không thật và
không có thực tánh — ngoại trừ khi chúng ta hiểu thấu nó,
bằng không chúng ta sẽ tiếp tục hành động theo sợ hãi
và ngạo mạn. Ngạo mạn, ý tôi muốn nói là, cảm thấy
mình đặt biệt, không bình thường như người khác.
Chúng ta có thể kiêu căng về bất cứ việc gì: về thành
quả của mình, về trở ngại của mình, thậm chí về thái
độ khiêm nhường của mình. Từ nỗi lo sợ và lòng
kiêu ngạo, chúng ta bám víu vào tất cả mọi thứ về thái
độ, phán xét tự ngã, và từ đó tạo ra không biết bao nhiêu
là khốn khổ cho bản thân và người khác.
Tự
do thì có dính dáng mật thiết với mối quan hệ của chúng
ta để đưa đến đau đớn và đau khổ. Tôi muốn phân
chia sự khác biệt giữa đau đớn và đau khổ. Đau
đớn đến từ kinh nghiệm đời sống mà phát sinh như-nó-là,
mà không có bị tô điểm. Chúng ta có thể gọi
nó là niềm vui về kinh nghiệm trực giác.
Nhưng khi chúng ta cố gắng trốn chạy và vượt thoát từ
kinh nghiệm đau đớn của mình, thì chúng ta đau khổ.
Vì bởi nỗi sợ hãi về đau đớn, tất cả chúng ta gầy
dựng lên một kiến trúc Ngã để bảo bọc mình, và do đó
chúng ta đau khổ. Tự do là sự chấp nhận mạo hiểm
có thể bị thương tổn bởi cuộc đời; nó là cái kinh nghiệm
của bất cứ gì phát khởi trong mỗi phút giây hiện tại,
nhức nhối hay dễ chịu. Trạng thái này đòi hỏi sự
ủy thác toàn diện và triệt để cho đời sống của mình.
Khi chúng ta có thể trao trọn vẹn cho tự thân, không giữ
lại một điều gì và không một tư tưởng trốn khỏi cái
kinh nghiệm ở phút giây hiện tại, thì sẽ không có khổ
đau. Lúc ấy chúng ta hoàn toàn kinh nghiệm đau đớn của
mình, nó thì rất hạnh phúc.
Tự
do và sự ủy thác thì liên kết rất gần với nhau. Khi
hai người lập sự ủy thác với nhau trong sự kết hôn, họ
đóng cánh cửa trong tim của họ, cũng như khóa chặc cái cơ
hội trốn chạy khi có sự bùng cháy và sức ép cuộc đời
làm cho mối quan hệ của họ bị gãy đổ. Nhưng khi chấp
nhận như một phần của sự ủy thác, sự thiêu đốt và
sức ép làm cho họ trưởng thành và mối quan hệ nở hoa.
Tôi không đang nói rằng, con người nên ủy thác bản thân
với bất cứ mối quan hệ đến với họ — đó là điều
điên rồ. Ý tôi là sự tu tập của chúng ta là sự ủy
thác tự thân cho kinh nghiệm trong mỗi phút giây hiện tại
của mình. Giống như sự ủy thác hôn nhân đặt chúng
ta dưới sức nóng và sức ép, tọa thiền cũng thế ấy.
Chúng ta có thể nói rằng, việc đầu tiên chúng ta phải làm
trong tu thiền là kết gã tự thân. Chúng ta đóng cánh
cửa và ngồi êm lặng với những gì như-nó-là, cảm giác
sức nóng và sức ép.
Thường
thì người ta có ý niệm rằng, khi họ bắt đầu tu tập nó
sẽ tốt đẹp và dễ chịu. Nhưng tu thiền trạng thái
nào thì cũng có nhưng ngoại trừ thú vị. Bằng cách
ngồi đó trong giây phút hiện tại, những bức tường của
cái kiến trúc bảo vệ cái Ngã đang bị sụp dần, và tiến
trình này có thể mơ hồ và đau đớn. Kinh nghiệm sinh
lý những cảm giác mơ hồ và đau đớn hơn là lẫn tránh
chúng là mấu chốt đi tới tự do. Chúng ta phải ôm chầm
lấy nỗi khốn khổ, làm cho nó trở thành người bạn tốt
nhất của mình, và đi thẳng vào nó để tới tự do.
Quí
báu của tự do là đời sống của ta như-nó-là, nhưng nếu
chúng ta không hiểu mối quan hệ giữa đau đớn và tự do,
chúng ta có thể tạo ra đau khổ cho chính mình và người khác.
Chúng ta phải sẳn lòng nằm dưới lưỡi con dao, ở đó và
sống với bất cứ những gì phát sinh trong từng phút giây.
Sự hãnh diện, tham vọng, kiêu ngạo, đau đớn, niềm vui —
đừng cố gắng thử lôi kéo những gì sinh khởi trong lúc
tọa thiền. Ngồi với sự chú tâm ở mức độ cao nhất
mà ta có thể đến, sự chấp thủ đến lúc thì sẽ héo tàn
đi.
Khi
lão sư Bạch Vân ở tuổi tám-mươi-tám, trong ngày sinh nhật
cuối cùng của ngài trước khi tịch, ngài có viết, “Những
ngọn đồi phát triển cao hơn.” Càng thấy rõ ràng hơn, chúng
ta nhận ra rằng không có gì là cần phải hoàn tất cả, mà
chúng ta càng thấy rằng cần làm hơn. Đó là điều kỳ
lạ; khi chúng ta thật sự chia sẽ những gì chúng ta có —
thời gian của mình, vật sở hữu, và quan trọng nhất là
tự thân — thì đời sống của ta lại vận hành thật suông
sẽ. Có một câu chuyện về cái giếng nước được
nuôi dưỡng bởi một dòng nước suối thật nhỏ; nó luôn
luôn cung cấp lượng nước tốt. Một ngày kia, cái giếng
kia bị đóng nắp và lãng quên cho đến khi một người nào
đó mở nắp nó ra sau nhiều năm. Bởi vì không ai lấy
nước từ cái giếng, cho nên dòng suối nhỏ kia đã ngừng
cung cấp nước cho cái giếng, và rồi cái giếng bị khô cạn.
Nó cũng tương tự như chúng ta: chúng ta có thể cho ra chính
mình và mở lòng ra thêm, hoặc là chúng ta có thể giữ lại
và khô héo đi.
Tu
thiền là đóng cái cửa của cái nhìn nhị nguyên của đời
sống, và để làm được việc này cần phải có sự ủy
thác. Khi bạn thức dậy vào một buổi sáng và không
muốn tọa thiền, đóng cái cửa đó lại. Đưa chân ra
khỏi giường và bước đi. Nếu bạn cảm thấy lười
trong khi làm việc, đóng cái cửa đó lại và làm cho tốt
nhất. Trong mối quan hệ, đóng cái cửa của sự chỉ
trích và khắc khe, tàn nhẫn lại. Trong tọa thiền, đóng
cái cửa của nhị nguyên lại và cởi lòng ra cho cuộc đời
như-nó-là. Dần dần, trong khi chúng ta học kinh nghiệm
đau khổ của mình, thay vì bỏ chạy cho xa, đời sống sẽ
phơi bày ra cho chúng ta, cũng như niềm vui.
Sự
ủy thác
Ngày
xưa, có một chàng trai trẻ yêu điên cuồng một người đàn
bà trẻ đẹp nhưng rất ư là độc ác. Người đàn bà
trẻ đẹp và độc ác kia muốn anh chàng này không được
nghĩ gì cả ngoại trừ về nàng, và nàng đã tuyên bố, “Tôi
sẽ trao trọn bản thân cho chàng chỉ khi nào chàng cắt cái
đầu của mẹ chàng và mang nó đến cho tôi.”
Bấy
giờ, chàng trai trẻ kia rất yêu mến mẹ của mình. Nhưng
anh ta đã bị làm cho cuồng dại bởi người đàn bà độc
ác đến nổi anh không thể đợi cho đến khi nàng yêu cầu
lần thứ hai. Cho nên chàng trai kia vội vã trở về nhà
và cắt đầu của mẹ mình. Anh ta túm lấy tóc của chiếc
đầu và vội vàng ra đi vào trong bóng đêm, bởi vì anh ta
không thể đợi được để gặp lại người yêu độc ác
của mình. Với chiếc đầu của mẹ trong tay, anh ta phóng
nhanh ngựa theo con đường với hết khả năng của mình.
Khi ấy, chiếc đầu cất tiếng nói với anh: “Đừng vội
vã, con của ta; coi chừng bị té và gây thương tích cho mình.”
Câu
chuyện kể về tình thương bất diệt của người mẹ và
sự ủy thác không hề thay đổi của bà. Sự ủy thác
và tình thương chân thật là hai chị em sinh đôi. Từ
ngữ “ủy thác” là bắt nguồn từ Latin committere, có nghĩa
là “nối liền”, giao phó, tiếp nối. Nó có nghĩa là
chuyển giao một người hay một vật cho một đối tượng
chăm nom.
Để
hiểu sự ủy thác, chúng ta phải tăng thêm nhận thức qua
trực giác về bản chất thực tế — không chỉ trong đầu,
mà trong tận gân cốt của ta: Ta là ai và mọi vật là cái
gì. Chúng ta có thể cảm giác rằng chúng ta đã ủy thác
rồi cho một công việc làm nào đó hay một người nào đó;
nhưng sự ủy thác chân chính là những gì thật sâu thẳm.
Sự ủy thác của chúng ta sẽ thiếu sức mạnh và quyết tâm,
ngoại trừ khi chúng ta hiểu lời nguyện cơ bản của ta, đó
là sự ủy thác cho tất cả khả năng cảm thụ, chứ không
phải chỉ một số nào đó. Trong quan niệm thông thường
của sự ủy thác, chúng ta có chiều hướng nghĩ sự việc
như là, “Được! Bây giờ chúng ta đã ủy thác cho nhau; một
cách rõ ràng là, nàng chỉ nên hành xử một lề lối nhất
định: nàng nên yêu chỉ một mình tôi thôi, nàng chỉ nên
luôn luôn bên cạnh tôi thôi, nàng nên luôn đặt tôi trước
hết tất cả mọi thứ..” Nếu chúng ta ủy thác hết
cho công việc của mình thì chúng ta trở nên chiếm giữ nó:
công việc của tôi, hay kế hoạch của tôi, hay công ty của
tôi, hay lợi nhuận của tôi. Chúng ta có lẽ nói, “Bởi
vì tôi được ủy thác, tôi phải có cách hành xử nhất định
trong sự ủy thác này.” Theo quan niệm thông thường
của chúng ta về sự ủy thác, đối tượng của sự ủy thác
trở nên — trong lối nhìn của ta — đối tượng chúng ta
sở hữu, một sự đầu tư nên cho ta sự an toàn và hạnh
phúc.
Thật
ra sự ủy thác của chúng ta thường là một sự hỗn hợp
của Phật tánh — phần của chúng ta có thể nói, giống như
người mẹ trong câu chuyện trên, “Dù cho nàng có làm bất
cứ điều gì, tôi vẫn yêu nàng, tôi mong những gì tốt nhất
cho nàng” — và phần kia của chúng ta thì nói, “Tôi giao
phó tình cảm của tôi cho nàng nếu …” Cái “nếu”
độc hại kia là gì! Sự ủy thác chân thành và tình cảm
thật sự không có những cái “nếu”. Chúng không bị
lung lay bởi hoàn cảnh đi qua. Như nhà văn Shakespeare đã
viết, “Tình yêu không phải là tình mà thay đổi khi nó bị
sự đổi thay tìm gặp.”
Sự
ủy thác không thể nào bị cưỡng chế bởi sự la rầy, bởi
giận dữ, bởi đột kích, bởi bất kỳ mưu mẹo để làm
vui lòng, dù chúng ta cố gắng tất cả những thứ này.
Nó không thể ép buộc dù bất cứ phương thức nào.
Để thêm đậm nét sự ủy thác của mình, chúng ta phải là
chứng nhân của những mánh khóe và mưu mẹo của mình, là
chứng nhân của mưu đồ vi tế và thô thiển để được
những gì mình muốn; những thứ này thì luôn là sự an toàn
và bảo đảm cho bản thân. Người mẹ trong câu chuyện
trên chắc chắn đã không có sự an toàn và bảo đảm; bà
chỉ có cái đầu. Nhưng ngay cả trong lúc đã chết, bà
vẫn mong điều tốt nhất cho con trai của bà. Dĩ nhiên
chúng ta không giống như thế. Chúng ta là con người bình
thường.
Tôi
không bao giờ bảo bất kỳ một ai, “Chỉ ủy thác bản thân
cho ai đó — rồi chiến đấu ra từ đó.” Ngay cả nếu
chúng ta trãi qua nhiều tháng, nhiều năm quyết định là “chính
là người này,” chúng ta có lẽ chỉ bắt đầu ủy
thác mình cho người đó. Chúng ta tự lừa gạt lấy chính
mình và người khác nếu chúng ta nghĩ rằng, bởi vì chúng
ta lập vài lời hứa hẹn, chúng ta phải lập một sự ủy
thác.
Trong
sự ủy thác chúng ta sẽ đóng cái cửa. Kể từ chúng
ta không nhận diện ra Phật tánh, chúng ta không thể (hay sẽ
không) ủy thác cho chỉ bất cứ ai. Dù thế, sau nhiều
lo lắng và phân vân, cuối cùng chúng ta ủy thác cho một người
hay một vật. Mỗi lần chúng ta làm vậy chúng ta phải
đóng cánh cửa của cái lò và nấu nó. Sự ủy thác
có nghĩa là, chúng ta không để sẳn cho ta một khung cửa tẩu
thoát. Bất kỳ mối hôn nhân nào, bất kỳ mối quan hệ
nào — bao gồm sự ủy thác cho con cái của ta, cho cha mẹ
của ta, cho bạn bè của ta — là về loại chọn lựa này.
Khi
chúng ta “đóng cái cửa” thì chúng ta sẽ hạnh phúc không?
Đôi khi thôi! Nhưng đó không phải là điểm trọng yếu.
Điểm quan trọng của sự ủy thác không phải là nó có làm
hài lòng chúng ta hay không. Dĩ nhiên, thỉnh thoảng thì
có, nhưng đừng kỳ vọng vào đó.
Sự
ủy thác thì không luôn luôn cho một người khác. Chúng
ta có thể lập một sự ủy thác cho tình trạng cô độc.
Phần lớn con người, loại ủy thác như vậy là sự tu tập
tốt, ít nhất thỉnh thoảng cũng một lần. Có thể chúng
ta ủy thác bản thân cho tình trạng một mình trong sáu tháng,
hay một năm, hay năm năm. Vài người trong chúng ta thấy
tình trạng cô độc chỉ là một mình; chúng ta thấy nó như
là cô đơn và khốn khổ. Nhưng tôi không phải đang nói
về kiểu rút lui vào trong một hang động. Tôi có ý là
tình trạng cô độc để cho chúng ta có thể tu tập, dâng
hiến tự thân cho mọi loài và mọi người. Nếu chúng
ta thực hiện sự tu tập như vậy, chúng ta phải thành thật
về những gì kín đáo đi kèm theo nó. Không ai muốn dâng
hiến bản thân cho mọi loài và mọi người. Đó là một
mức độ sâu thẳm, đòi hỏi sự tu tập mà không có nhiều
người thiết tha để làm.
Jesus
có nói, “Ngay trong khi các người đã làm nó cho một số
ít, trong đó cũng có ta.” Chúng ta không thể ủy thác
cho bất kỳ gì hay bất cứ ai ngoại trừ chúng ta ủy thác
cho tất cả. Đó không có nghĩa là chúng ta phải ưa thích
nó, hoặc là chúng ta có thể làm nó để được trọn vẹn.
Mà đó là do sự tu tập. Nó rất quan trọng cho mỗi người
trong chúng ta nhận thức ra những gì, trong đời sống cá nhân
của mình, là “một số ít”. Chúng ta lập tức nghĩ
về những người nghèo đói. Nhưng “một số ít” là
những gì ít nhất cho “tôi”, hay cho “bạn”.
Cái ít nhất cho bạn là gì? Những gì trong đời sống
của bạn mà bạn ít quan tâm tới nhất? Đối với phần
lớn trong chúng ta “một số ít” là những người mà chúng
ta không thích hay có phiền phức với họ: những người mà
chúng ta xem như là không cần thiết (cho mình). “Một
số ít” này cũng có thể là những người mà chúng ta e sợ,
những người gây cho chúng ta lo lắng khi gần họ. Một
cách tế nhị hơn, họ có thể là nhóm người mà chúng ta
cảm thấy rằng chúng ta phải chỉ thị, hướng dẫn họ,
hay soi đường dẫn lối cho họ, hay cần giúp họ.
Bạn
có thể không tán đồng, “Hãy nên thực tế một chút.
Làm thế nào tôi có thể hy sinh bản thân cho một người mà
tôi không thể nào chịu đựng được? Sự thật mà nói,
nếu tôi ở gần hắn trong phạm vi ba mươi bộ Anh thì đã
là quá sức chịu đựng của tôi rồi.” Bằng cách nào
chúng ta có thể làm được việc đó? Thế này! Chúng
ta học cách tu tập với nó.
Có nghĩa là, hãy tuyệt đối thành thật với chính mình: nhận
biết ra rằng chúng ta không thích người đó và không muốn
gần gũi hắn, và dĩ nhiên (ta sẽ cũng luôn luôn) quan sát
tất cả cảm giác tư tưởng phát sinh chung quanh mối quan hệ
này. Chúng ta cũng dùng phương pháp này với công việc
của mình kia mà. Vài người trong chúng ta đang làm những
công việc mà lại cảm giác bên trong (hay che dấu ẩn tàng
phía dưới nét mặt) “Tôi có bằng cấp đại học.
Tại sao tôi chỉ sắp xếp những cái hộp vào trong kệ?
Làm thế nào tôi có thể dâng hiến bản thân cho một công
việc như đày tớ này?”
Người
ta muốn sự tu tập thì nhẹ nhàng, dễ dàng. Nhưng nó
không dễ dàng chút nào cả. Tuy nó không khó để nói,
“Ô! Tôi sẳn lòng ủy thác cho thế gian, cho pháp.”
Nhưng nó lại rất khó để làm. Thế gian, pháp, thì phơi bày
khắp nơi cho chúng ta bằng mỗi tạo vật và hoàn cảnh mà
chúng ta đang đối diện. Chúng ta có ủy thác cho người
trên đường đang nôn mửa vào rảnh nước kia không? Chúng
ta có ủy thác cho người bán hàng trong cửa tiệm khi nãy đã
vừa thối tiền thiếu cho ta, hay cho người đang có hành động
trịch thượng đối với ta hay không?
Chúng
ta vốn sẳn có Phật tánh, cho nên chúng ta biết rằng có hạnh
phúc là quyền kế thừa của chúng ta. Nhưng nó ở đâu?
Nó đang đợi chờ chúng ta trong mỗi buổi tu tập mà chúng
ta đang nói. Chỉ khi trãi qua sự tu tập như thế chúng
ta mới có thể đi đến hạnh phúc hay sự ủy thác chân thật
cho công việc, mối quan hệ của chúng ta, trong tất cả phương
diện của đời sống của chính mình.
Bởi
vì sự khó khăn to lớn của chúng ta là đối với con người,
chúng ta không nói rõ ràng được về sự ủy thác của mình
(hay là thiếu sự ủy thác) cho đối tượng. Ví dụ:
Nếu chúng ta để cho căn phòng của mình hổn loạn và dơ
bẩn, vậy thì chúng ta thì không ủy thác rồi. Chúng
ta đang báo hiệu ra rằng, có gì đó quan trọng đối với
chúng ta hơn là những gì trong đời sống của chúng ta. (Tôi
đã được nuôi dưỡng bởi một người mẹ hoàn hảo, và
trong nhiều năm tôi chống đối lại tình trạng ăn mặc bê
bối.) Chúng ta không phải đang nói về sự gọn gàng
bất thường. Dù thế, sự tu tập của chúng ta nên bao
gồm mỗi người và vật, con mèo, bóng đèn, tấm giấy chà
nhám, cọng rau, miếng tả. Nếu chúng ta không chăm sóc
cẩn thận, thì chúng ta không biết sự ủy thác là cái gì.
Sự ủy thác không phải là những thứ xảy ra ngẫu nhiên.
Sự ủy thác là một năng lực. Và nó phát triển giống
như bắp thịt phát triển: bằng cách huấn luyện.
Tôi
không muốn lập ra một bảng điều lệ cho những gì “nên”.
Tôi không nói nhiều về lời dạy hay châm ngôn bởi vì người
ta hay hiểu sai về chúng: “Tôi nên ăn mặc lịch sự. Joko
nói thế.” Nhưng chúng ta cần nhìn vào khuynh hướng
của mình hay liệng đồ vật tứ tung, để đèn sáng không
cần thiết, lấy nhiều thức ăn vào dĩa nhiều hơn mình có
thể dùng. Tại sao? Nếu sự ủy thác của chúng
ta không trọn vẹn, vậy những gì chúng ta gọi tên cho sự
ủy thác của mình về hôn nhân, con cái, công việc, tu tập,
phật pháp, sẽ bị làm suy yếu đi. “Ngay trong khi các
người đã làm nó cho một số ít, trong đó cũng có ta.”
Nếu chúng ta muốn biết hạnh phúc, chúng ta không thể nói
ra, “Không sao! Tôi chỉ hơi bất cẩn thế thôi.” Sự
tu tập của chúng ta là luôn luôn cho “Một số ít” kia.
Sự
ủy thác là một công năng. Bởi vì chúng ta cố gắng
tránh né hoạt động, chứng nhân phải luôn sắc bén như mũi
đinh. Tôi không cần biết bao nhiêu kinh nghiệm giác ngộ
bạn víu bám vào. Không có chi cả ngoài đời sống hàng
ngày. Vùng rộng lớn này chính là pháp.
Ngày hôm qua thì đầy bụi bặm; hôm nay thì bụi bặm đang
vẫn được lau chùi. Chúng ta đang đi đến cuối đoạn
đường của một khóa tu. Nhưng đừng tự dối lừa mình:
Khóa tu khó khăn (thật sự) bắt đầu lúc ta trở lại đời
sống hàng ngày của mình kia.