Chương
4: Mối quan hệ
Sự
tìm kiếm
Mỗi
thời khắc trong đời sống chúng ta đều có mối tương quan.
Không có gì có thể ở ngoài sự liên hệ. Giây phút
này, mối liên hệ của tôi là tấm thãm, căn phòng, cơ thể,
âm thanh của giọng nói. Không có gì khác cả ngoại trừ
sự liên hệ trong từng giây. Khi ta tu tập, cái mà tăng
trưởng trong cuộc sống của ta là: một, sự hiểu biết rằng,
không có gì cả chỉ là mối liên quan tới những gì đang
xảy ra trong hiện tại; hai, lòng nhiệt tình cả ta tăng cao
cho mối tương quan này. Rõ là quá đơn giản — vậy
cái gì đã cản trở? Cái gì đã làm trở ngại lòng
nhiệt tình của ta trong mối tương quan với một người, hoặc
trong nghiên cứu, trong việc làm, trong lúc giải trí? Cái gì
là vật ngăn cách?
Bởi
vì chúng ta không luôn luôn hiểu ý nghĩa là gì trong sự tương
quan với giây phút hiện tại, cho nên chúng ta mãi tìm kiếm.
Khi tôi nhận cú điện thoại gọi đến trung tâm, tôi hỏi,
“À! Bạn đang nghĩ gì?” Họ có thể nói, “Tôi là
người đang đi tìm kiếm.” Họ nói rằng, họ đang đi
tìm cầu một đời sống tâm linh. Những người mới
đến trung tâm nói với tôi, “Tôi đến đây để đi tìm
kiếm.” Đó cũng là một điều tốt tương tự như phần
giới thiệu cho tu tập; ta sẽ tìm kiếm nếu ta cảm nhận
ra cuộc đời mình đang thiếu một thứ gì đó. Theo ngôn
từ truyền thống, ta đang tìm Thượng đế; hoặc ngôn ngữ
thời đại là tìm “Thật Ngã”, “Chân lý cuộc đời”
hay là bất cứ từ ngữ gì nếu ta muốn gọi. Nhưng điều
quan trọng là hiểu được ý nghĩa của cái đang đi tìm.
Nếu ta muốn một đời sống hài hòa, trong sáng, thanh bình,
ta phải hiểu rõ cái gì ta đang đi tìm.
Vậy
chúng ta đang đi tìm cái gì? Tùy vào trường hợp mỗi
người, bối cảnh quá khứ, điều kiện chung quanh, thì cái
cầu tìm có thể khác nhau cho từng người; nhưng rốt ráo,
tất cả chúng ta đều tìm một đời sống hoàn mỹ.
Chúng ta có thể định nghĩa đời sống đó như: một người
hôn phối toàn diện, một việc làm tốt, và một nơi đầy
đủ tiện nghi để sống. Ngay cả những điều hoàn mỹ
kia có vẽ xa vời đối với chúng ta, chúng ta biết thế, nhưng
chúng ta vẫn muốn được nó. Cho nên, chúng ta đang luôn
luông đang đi tìm.
Trong
lối tu tập như thế này, chúng ta có khuynh hướng tìm kiếm
thứ gì đó mà ta gọi là trạng thái “giác ngộ.”
Đó là một dạng tìm kiếm rất vi tế. Nhưng ta phải
biết tìm nơi đâu chứ. Nếu bạn nhìn bầu trời San
Diego về đêm, để hy vọng sẽ thấy được sao Nam cực, bạn
sẽ không bao giờ thấy nó. Bạn cần phải qua Úc châu thì
mới có thể. Chúng ta phải biết ý nghĩa của cái mà
mình muốn tìm. Chúng ta phải biết xoay chiều cái quan
niệm của mình trong sự tìm kiếm này. Và tu tập là
một loại xoay chiều. Giác ngộ không phải là thứ gì
mà ta có thể tìm, nhưng ta lại nghĩ rằng ta phải tìm một
thứ gì đó. Vậy chúng ta đang tìm gì đây?
Mặc
dù tôi đang sống với đời sống của mình, trôi giữa dòng
đời không phải là điều mà làm tôi hứng khởi. Chừng
như có cái gì đó thiếu vắng ở đây, cho nên tôi có ý muốn
ra công tìm phần thiếu sót này. Tôi thơ thẩn bên ngoài
trung tâm giống như tia ánh sáng trên bánh xe lăn. Đầu
tiên, tôi đi đây, rồi tôi đi đó. Tôi thử cái này
vào, rồi tôi từ bỏ cái kia. Cái này thì tốt, cái kia thì
không. Tôi đi tìm, tìm, tìm.. Có lẽ tôi tìm một người
hôn phối lý tưởng: “A! người này có nhiều điểm thích
hợp, nhưng cô ta chắc chắn vẫn còn thiếu nhiều mặt khác.”
Tùy thuộc vào mức khó khăn của chúng ta, ta tìm, ta đi tìm,
ta tiếp tục đi tìm.. Chúng ta có thể nghĩ, chúng ta không
bao giờ có một công việc làm thích hợp. Cho nên, chúng
ta tìm và quan trọng hóa vấn đề. Thay vì, chúng ta có
thể làm tốt hơn công việc của mình đang có, hoặc là chúng
ta nghĩ, “Tôi không nói cho ai biết cả, nhưng tôi sẽ không
làm việc này dài lâu.” Theo chiều hướng này, điều
này cũng không có vấn đề gì cả. Tôi không nói phải
làm một việc làm mãi mãi. Hành động nông nỗi không
phải là vô giá trị. Sự thật là, chúng ta luôn nghĩ,
thực chất của sự đi tìm là có giá trị.
Nếu
ta dừng lại (tạm không nhìn, tìm), ta còn lại những gì?
Chúng ta còn lại với những gì ta đang có ở đây từ bao
giờ. Ẩn tàng phía dưới của tất cả sự tìm, có nhiều
lo lắng, khó chịu. Thời điểm ta nhận ra rằng, điều
quan trọng không phải là sự tìm kiếm, mà là chính nỗi
đau đớn và lo sợ đã thúc đẩy cho sự tìm kiếm này.
Đó là phút giây kỳ diệu — khi chúng ta hiểu biết ra được
sự tìm kiếm bên ngoài ta thì không phải là cách. Trước
tiên, nó lóe ra trong chúng ta một đầu mối của vấn đề.
Dần dần nó càng trở nên tỏ rỏ theo thời gian khi ta chịu
đựng khổ đau. Bạn thấy không, những gì chúng ta tìm
kiếm sẽ làm cho chúng ta thêm thất vọng. Bởi vì vốn
không có trạng thái lý tưởng, công việc hoàn hảo, nơi sống
tuyệt vời. Do đó, sự tìm kiếm sẽ kết thúc đúng
vào một nơi; đó là … thất vọng. Một nơi tốt đẹp.
Nếu
chúng ta có chút tư duy thì nó cuối cùng cũng bừng tỉnh:
“Tôi đã từng làm thế này.” Và ta bắt đầu thấy rằng,
nó không phải là sự tìm; có gì đó sai lầm về nơi chốn
chúng ta nhìn. Rồi chúng ta trở lại lần này sang lần khác
với nỗi tuyệt vọng luôn luôn tồn tại ở đây. Cái
gì nằm phía dưới tất cả những tác động đi tìm? Nỗi
sợ hãi. Nỗi bất an. Nỗi đau buồn. Cảm giác
bất hạnh. Chúng ta trong cơn đau và chúng ta dùng sự
tìm kiếm để làm giảm bớt cơn đau. Chúng ta bắt đầu
thấy được cơn đau đến bởi vì chính chúng ta ngắt nhéo
lấy chính mình. Chỉ cần hiểu biết này cũng đã làm
cho ta khuây khỏa, hoặc hơn nữa là bình an. Sự bình
an chúng ta luôn luôn tìm kiếm khó khăn vốn luôn luôn nằm
trong sự nhận biết sự thật này. Tôi đang đánh đấm
lấy tôi; không có ai khác làm cho tôi đau khổ.
Do
đó, tất cả mọi sự kiếm tìm nên bỏ đi. Khi nào ta
dừng lại, ta sẽ thấy rằng sự tu tập không phải là sự
tìm kiếm. Tu tập là có mặt với quá trình chịu đựng
(chính sự chịu đựng thúc đẩy sự tìm, là bất an, đau
buồn). Đây là lúc quay trở lại.
Nó
không phải tất cả xảy ra ở một lần. Tham ái đeo
đuổi theo dục lạc có một sức quyến rũ mãnh liệt làm
cho ta choáng ngợp. Không cần biết tôi nói gì, sau khi
tất cả rời khỏi nơi đây, chỉ năm phút, mọi người chúng
ta sẽ đi tìm thứ gì có thể giúp ta. Giống như một
lời nguyền, “Tham vọng không bao giờ cạn kiệt.”
Nhưng bạn sẽ không cạn kiệt lòng tham muốn bằng sự tìm
kiếm; mà bạn sẽ sa thải chúng bằng cách kinh nghiệm những
gì nằm ẩn kín bên dưới chúng.
Thế
là chúng ta bắt đầu có hiểu biết về sự cần thiết của
tu tập. Tu tập không phải khóa học, ví như lớp bơi
lội. Nhiều người nói với tôi, “Tôi không có thời
giờ cho sự tu tập của tôi trong khóa này. Joko, tôi bận
quá. Khi nào tôi có thời gian rộng rãi, tôi sẽ trở lại
sự tu tập của tôi.” Đó là vì họ không hiểu biết
đúng đắn về tu tập là gì. Tu tập là luôn luôn bận
rộn, luôn bị phiền toái — mà chính ta luôn kinh nghiệm trạng
thái đang có.
Cho
nên có hai câu hỏi. Một là, ta có hiểu được sự cần thiết
của tu tập chăng? Trong đây, không có nghĩa là chỉ nói đến
Tọa thiền. Tôi có hiểu được sự cần thiết tu tập
cho cả cuộc đời của tôi? Hai là, tôi có biết tu tập
là gì không? Tôi có thật sự biết không? Tôi từng gặp
nhiều người, họ vẫn còn làm trong suốt hơn hai-mươi năm
những gì mà gọi là tu tập. Nếu thời gian này họ bỏ ra
để luyện nghệ thuật đánh gôn có lẽ sẽ có lợi ích hơn
cho
họ.
Bây
giờ đây, mỗi người trong chúng ta có thể nhìn vào cuộc
đời của chính mình. Chúng ta sẽ tìm kiếm những gì?
Nếu chúng ta có thể nhìn xuyên thấu qua sự lục soát, chúng
ta có thấy được nơi mà ta phải tìm chăng? Chúng ta
thấy những gì ta có thể làm không? Sự tu tập có tính
tự nguyện sẽ xảy ra từ lý lẽ là không có gì khác cần
làm. Loại quyết định này có thể phải mất hai-mươi-lăm
năm mới có. Vậy hai câu hỏi là: Tôi có hiểu được sự
cần thiết của tu tập? và Tôi có biết tu tập là cái gì
không?
Hỏi:
Theo tôi nghĩ, tu tập là từng giây phút mở lòng ra đón nhận
tất cả những cảm xúc giác quan đến với tôi cũng giống
như tư tưởng của tôi.
Joko:
Một cách kinh nghiệm thì đúng, nhưng vẫn cần
phải thêm. Theo đường lối tu tập thì vậy cũng tạm
đủ cho bây giờ rồi.
Hỏi:
Tôi nghĩ rằng, tu tập là có mặt trong những nỗi đau buồn,
bất an nằm bên trong, và an bày cũng như kết hợp chúng vào
những mối tương quan của ta.
Joko:
An bày và kết hợp với chúng nghĩa là thế nào?
Hỏi:
Ví dụ như, khi ta thật sự hờn giận: ta là cơn giận, kinh
nghiệm nó xem nó tác động nơi thân thể ta ra sao; đồng thời
cũng nhận xét xem những tư tưởng phát sinh do cơn giận tạo
ra.
Joko:
Đúng thế! Nhưng thỉnh thoảng nhiều người nói với tôi
những gì họ nên làm, trái lại đó là những thứ họ không
làm.
Hỏi:
Đó bởi là vì ta không ở trong trạng thái thật sự cho phép
ta cảm nhận và kinh nghiệm những nỗi đau buồn ở trong thời
điểm nó xảy ra.
Joko:
Tôi rất tán thành. Nhưng thí dụ ngay bây giờ, bạn đang
ở trong lúc khởi trình một khóa hội thảo mới. Nếu
bạn nói những điều trên, thì sẽ có người nhìn vào bạn
và nói, “À! Tôi không biết bạn đang muốn nói cái gì?”
Hoặc họ có thể nói, “Tốt, tôi đã là cơn giận của tôi
nhưng đâu có gì xảy ra đâu.” Thật ra không phải dễ
dàng để hiểu những lý luận này.
Hỏi:
Tu thiền là học thế nào ta có thể thể nhập với phút giây
hiện tại hoặc cái gì mà ta gọi là “bây giờ.” Học
thế nào để có thể có mặt ở đây, bây giờ.
Joko:
Vấn đề là, đa phần trong chúng ta diễn giải phút giây hiện
tại theo nhiều cách khác nhau. “Làm thế nào sống trong phút
giây hiện tại” nghe thì rất là hấp dẫn. Nhưng nếu
có ai đó nói, “Buối thuyết trình của ngài hôm nay thật
là tệ, Joko,” thì tôi không muốn sống trong phút giây hiện
tại này, vì không ai muốn kinh nghiệm cảm giác bẻ bàng phải
không?
Hỏi:
Dường như là vậy, nếu tôi thật sự sống với cơn giận
của mình, tôi có thể trở nên náo động và trong kinh nghiệm
trực tiếp như thế, tôi có thể sẽ làm những hành động
tai hại kẻ khác.
Joko:
Không phải thế! Nếu chúng ta thật sự kinh nghiệm cơn giận,
ta sẽ không hành xử như thế. Nếu chúng ta tin vào ý
nghĩ giận dữ của mình thì ta có thể sẽ phản ứng theo
nó để làm hại người khác. Nhưng kinh nghiệm thuần
túy không có thành phần của mệnh lệnh, cho nên sẽ không
có những gì cần phải làm để thực hành mệnh lệnh trên.
Nguyên chất của cơn giận thì rất êm lặng và bạn sẽ không
bao giờ hại ai khi có nó cả.
Tu
tập không có nghĩa là, ngay trong khi đang đấm đá với một
ai đó, ta dừng lại và nói, “Tôi sẽ kinh nghiệm cái này.”
Khi sự tu tập của ta càng tiến triển hơn thì ta có thể
kinh nghiệm tự nhiên hơn, mỗi lần cơn giận nổi lên.
Nhưng phần lớn người ta, khi họ giận dữ, hành động theo
chiều hướng ý tưởng của họ sai khiến; và rồi họ mới
quay trở về lúc sau đó để kinh nghiệm cơn giận qua ký ức;
bởi vì họ không có được cái khả năng để tỉnh giác
lúc cảm giác đang làm chủ họ.
Hỏi:
Tu tập có liên hệ gì với sự chú tâm. Khi tôi hoàn
toàn chú tâm vào một sự việc gì — như là tôi đang bàn
luận với con trai của tôi — sự việc xảy ra rất sôi động
nhưng không bắt nguồn từ cá tính của tôi hay quan niệm nào
cả.
Joko:
Vâng! đúng vậy. Bởi vì không nhị nguyên. Trong
kinh nghiệm trọn vẹn, vốn không có người đang kinh nghiệm,
chỉ có thể của kinh nghiệm. Khi sự phân
biệt vắng bóng, thì “có” nguồn năng lượng và trí tuệ
để biết cái gì nên làm. Giống như những gì bạn đã
nói, sự việc xảy ra không ngừng. Nhưng thông thường
ta lại không kinh nghiệm được những gì cả. Chúng ta
biết hết tất cả mọi phương cách cần phải làm gì khi
đối diện những hoàn cảnh này, nhưng lại rất ít khi xử
dụng được vì tâm ta luôn luôn trở về theo lề lối cũ
mỗi khi đối diện với cảm giác đau khổ.
Hỏi:
Một phần của sự tìm kiếm của tôi trong giai đoạn này
là cố gắng hòa hợp để học hỏi trong những điều kiện
không thoải mái hoặc những cảm giác không hài lòng bên trong,
với phấn đấu để trở nên thân thiện với những quan niệm
sai lầm về phút giây hiện tại.
Joko:
Thật là đúng, nếu theo lập trường khái niệm.
Hỏi:
Thông thường là thế!
Joko:
Vâng! Đối với phần lớn trong chúng ta, là vậy. Chúng
ta có thể nói thẳng ra như thế trong lúc này, đó là một
trong những lý do tại sao người ta hay nói những học sinh
cao cấp thì bao giờ cũng khó huấn luyện. Họ nghĩ rằng
họ đã biết; nhưng thật ra họ chưa biết (làm). Họ
chỉ biết nói thôi.
Hỏi:
Những từ ngữ mà tôi tiếp nhận được về tu tập thì “dễ
thương tổn” và “sống với.” Đó là sự cố gắng
sống mà không có một hệ thống phương pháp tự bảo tồn,
hoặc ít ra cũng phải cảnh giác về điều kiện chung quanh.
Joko:
Đó là sự thật. Nhưng phần lớn chúng ta, tự bảo vệ
là phản ứng tự nhiên. Những phản ứng đó là nơi
phát sinh sân hận. Có một cách nói nào khác hơn về
sự dễ bị thương tổn không?
Hỏi:
Ta vẫn chưa thể đóng cái cửa của Ý căn.
Joko:
Dễ bị thương tổn có nghĩa là tôi không phải đóng cả
các Căn ngay cả khi tôi đang bị đau khổ. Lý do tôi muốn
để cánh cửa mở rộng là khi tôi cảm nhận khổ đau, tôi
sẽ thoát khỏi nó. Điểm quan trọng là, khi tôi cảm
thấy đau khổ, nhưng tôi sẽ không bỏ cuộc chỉ vì lý do
tôi không thể hàng phục nó. Hãy để ý xem, người ta
khi đứng dậy từ chiếc ghế ở nơi sân sau nhà, họ không
để ý đến việc cần phải đẩy chiếc ghế vào lại gần
cái bàn. Đó là vì họ không có sự cam kết với chiếc
ghế. Họ cảm thấy, “cái ghế không quan trọng, tôi
phải trở lại thiền đường để nghe về Chân lý.”
Nhưng chân lý đang là chiếc ghế, là cái nơi chốn mà chúng
ta đang hiện diện. Khi chúng ta để cánh cửa mở rộng,
một phần là ta không muốn có sự liên hệ với bất cứ
sự kiện gì, vậy ta thoát khỏi sự khống chế của nó.
Chúng ta tìm chân lý thay vì chấp nhận ở chung với bất an
và lo lắng mà ta đang có.
Tu
tập với mối quan hệ
Tâm
quá khứ bất khả đắc;
Tâm
tương lai bất khả đắc;
Tâm
hiện tại bất khả đắc.
Kinh
Kim Cang
Bây
giờ là mấy giờ? Sự thật có thời gian hay không?
Chúng ta có thể nói gì về đời sống hàng ngày của ta trong
sự liên hệ với thời gian, với vô thời gian, vô ngã?
Chúng ta có thể học gì từ mối liên hệ với cái vô thời
gian, vô ngã này chăng?
Thông
thường, chúng ta nghĩ một buổi pháp thoại hoặc hòa nhạc
hay một sự kiện nào trong cuộc sống luôn luôn có sự bắt
đầu, đang tiến hành, và phần kết thúc. Nhưng ở bất
kỳ thời điểm nào trong buổi nói chuyện này, ví dụ như
nếu tôi dừng lại ở ngay nơi đây, thì những gì tôi đã
nói đang ở đâu? Chúng vốn không hiện hữu. Nếu
tôi dừng lại ở một điểm nào đó sau này, thì những lời
tôi đã nói ở đâu? Chúng không còn tồn tại. Khi
buổi pháp thoại đã qua, thì lời nói ở đâu? Không
có lời nói. Tất cả chỉ còn lại một luồng ký ức
trong bộ não của chúng ta mà thôi. Những điều nhớ
này, bất cứ điều gì, chỉ là những mảnh vụn và không
trọn vẹn; chúng ta chỉ nhớ đôi phần của những kinh nghiệm
thật sự. Cùng dạng đó cho buổi hòa nhạc — thật
ra, ta có thể nói tương tự cho một ngày hay cả cuộc sống
của chúng ta cũng như thế. Ở giây phút này đây, quá
khứ của ta ở đâu? Nó không còn tồn tại nữa rồi.
Vậy
tất cả những lý luận này có liên quan ra sao tới mối quan
hệ, tới sự liên đới giữa ta với bất cứ sự việc hay
con người — tới sự liên hệ giữa ta với cái tọa cụ,
với buổi ăn sáng, với một người, với văn phòng, hay con
cái của mình?
Cách
thức mà chúng ta thường hay nắm giữ một mối quan hệ là
như thế này, “Mối quan hệ này là đó, ngoài kia (thân và
tâm), và nó cần phải cung cấp cho tôi sự thích thú.
Tối thiểu nhất, nó không gây ra cho tôi phiền toái.”
Nói một cách khác, chúng ta biến mối quan hệ thành một ly
kem. Cái ly kem ngoài kia, cho chúng ta niềm vui thích, và
làm cho chúng ta thoải mái. Rất ít người trong chúng
ta nhận định mối tương quan ở vào khía cạnh khác hơn là,
“Thế này nhé! Tôi đã chọn bạn và bạn phải biết bạn
nên làm gì.” Cho nên, khi chúng ta lo lắng về mối
liên hệ, chúng ta không phải đang hướng về khía cạnh tốt
đẹp; dù cho phần tốt đẹp này đang là phần lớn của toàn
bộ mối liên hệ. Nhưng cái chúng ta luôn luôn để ý
đến là phần không dễ chịu: “Nó không nên có ở đây.”
Và khi tôi nói “không dễ chịu,” nó có thể là từ mức
độ quấy nhiễu cho tới mức độ nghiêm trọng hơn.
Vậy
tất cả những thứ này có liên hệ ra sao với vô thời gian,
vô ngã?
Hãy
chọn một cuộc tranh cãi trong buổi ăn sáng. Đến giờ
ăn trưa, chúng ta vẫn còn phiền muộn; không những chỉ phiền
muộn mà chúng ta còn đi than van và kể cho nhiều người biết
về vấn đề đó, để mong có được niềm an ũi, cảm thông,
đồng tình — trong khi trong đầu của chúng ta thì đã suy
tính. “Khi tôi thấy anh ta tối nay, tôi sẽ nói rõ ràng
cái vấn đề này; tôi sẽ làm cho sáng tỏ đến nơi chốn
của vấn đề.” Vậy thì, chỉ có một bất đồng ý
kiến trong buổi ăn sáng, rồi sinh ra nỗi phiền muộn chiếm
hết buổi ăn trưa, rồi thêm những thời gian kế đến —
Ta làm gì với cái nỗi phiền muộn này.
Nhưng
thật ra, cái gì mới là đang ở đây? Cái gì mới thật sự
là bây giờ? Trong khi ta ngồi đây ăn buổi ăn trưa, thì
cái cuộc tranh cãi trong buổi ăn sáng đang ở đâu? “Tâm
quá khứ bất khả đắc.” Vậy nó ở đâu? Buổi ăn
tối mà ta đang chuẩn bị để giải quyết vấn đề (dĩ nhiên
là để thỏa mãn ta) đang ở đâu? “Tâm tương lai bất khả
đắc.” Nó vốn không hiện hữu.
Vậy
thì cái gì hiện hữu đây? Cái gì mới là thật đây?
Chỉ là cơn bực tức ngay bây giờ trong buổi ăn trưa.
Câu chuyện tôi diễn tả những gì xảy ra trong buổi ăn sáng,
thì không phải là “cái đã xảy ra” — nó đã diệt, mà
là câu chuyện tôi kể lại thôi — nó không thật (không có
thực chất, chứ không phải là tôi đang nói dối). Vậy
cái gì là thật? Là cơn đau đầu của tôi đang có, trạng
thái bối rối đang sôi trong bụng của tôi. Và chính
lời nói huyên thuyên của tôi đã biểu lộ ra những năng
lượng vật lý đó. Ngoài những kinh nghiệm vật lý đó
ra thì không còn cái gì khác nữa là thật cả. Và tôi
không biết đó có là thật hay không, nhưng đó là tất cả
mà tôi có thể nói đến.
Cách
đây vài tuần, có một cô gái trẻ (không phải là thiền
sinh) đến nói chuyện với tôi và muốn kể tôi nghe về những
gì mà chồng của cô đã đối xử với cô vào ba tuần lễ
trước đó. Cô ta rất ư là giận đến nỗi không thể
nói ra thành lời. Cho nên tôi đã hỏi, “Vậy chồng
của cô hiện giờ ở đâu?” “Ồ! Anh ấy đang ở sở làm.”
“Vậy thì cơn giận của cô đâu, cuộc tranh cãi đâu?”
“A! Thì tôi đang kể cho thầy nghe đây.” Tôi lại hỏi,
“Nhưng mà nó đâu, chỉ cho tôi.” “A! Tôi không thể chỉ
cho thầy, nhưng tôi kể cho thầy nghe về nó. Đây này,
nó xảy ra như thế này.” “Nhưng xảy ra khi nào?”
“Ba tuần trước.” “Nó ở đâu?” …. Cô ta càng trở
nên cáu gắt. Cuối cùng, cô ta có thể thấy ra, cơn giận
kia không có thật tí nào cả. Sau đó cô nói, “Nhưng
nếu đó là những gì xảy ra, tôi phải làm thế nào để
đối xử với anh ta?”
Cái
điểm cốt yếu là, chúng ta gầy dựng một hệ thống tỉ
mỉ, cảm xúc, những tình tiết xuất phát từ niềm tin dựa
vào thời gian — quá khứ, hiện tại, và tương lai. Mọi
người đều làm vậy và hãy tin tôi, làm thế không phải
là một việc tầm thường. Con người hay tự đặt mình
— tôi từng làm thế — vào trong một tình trạng làm cho
mình khó mà xoay trở; họ không thể nào thi hành bổn phận
của họ, và dần dần tạo cho họ chứng bệnh về tâm cũng
như sinh lý.
Bây
giờ hãy nói về, ý nghĩa ra sao là chúng ta không cần làm
gì cả khi chúng ta đang lên cơn giận? Không! Chúng ta
làm những gì chúng ta cần nên làm. Chắc chắn, chúng
ta chỉ làm những gì chúng ta nên làm vào mỗi thời điểm,
và làm tốt nhất với khả năng của mình.
Nhưng
hành động dựa trên sự mập mờ và thiếu hiểu biết sẽ
đưa đến càng mập mờ, đảo lộn, và u tối hơn. Hãy
để tốt và xấu qua một bên, tất cả chúng ta đều làm
thế cả không có ai ngoại lệ. Vì trong sự thiếu hiểu
biết, lòng tin dựa vào kinh nghiệm sống trong quá khứ của
chúng ta — Cái đó xảy ra hôm qua, và bây giờ đây và rồi
… — chúng ta sống trong một thế giới đầy những than phiền,
như là một nạn nhân hoặc là người xâm lấn, trong tất
cả những thứ này tạo nên một môi trường không thân thiện
tí nào cả.
Chỉ
có một thứ, duy nhất một thứ tạo nên cái thế gian thù
địch này. Đó là Tư tưởng của chúng ta — những viễn
ảnh và tưởng tượng của chúng ta. Chúng sản xuất
ra không gian, thời gian, và đau khổ. Nhưng nếu chúng
ta cố gắng tìm quá khứ và tương lai nơi mà cái mà tư tưởng
của chúng ta đang cư ngụ, thì đó là một việc bất khả
thi — chúng bất khả đắc.
Có
một thiền sinh kể cho tôi nghe rằng, anh ta bị bí lối từ
khi anh nghe tôi nói về thời gian, bởi vì anh luôn muốn tìm
quá khứ của anh. Anh nói, “Nếu không có quá khứ, không
tương lai, và tôi không thể nắm bắt hiện tại — nghĩa
là tôi cố gắng nấng níu với hiện tại nhưng nó cứ ra
đi — vậy tôi là ai?” Đây là câu hỏi rất hay; là câu
hỏi mà ai cũng muốn hỏi. “Tôi là ai?”
Hãy
chọn một ý tưởng tiêu biểu mà ai cũng có thể có làm ví
dụ, “Bill làm cho tôi phát chán.” Ở đây, có “Tôi”,
“Bill”, và một cảm giác (nhàm chán). Mọi thứ ở
đây. Bây giờ tôi dựng lên một cái “Tôi”, tạo ra
một cái “Bill”, và thế nào đó một cái “chán” phát
sinh.
Hãy
nói thế này: “Tôi/Bill/chán.” Chung lại thành một. “TôiBillchán.”
Rồi kinh nghiệm như vậy, bây giờ. Lúc nào cũng thế,
chúng ta sẽ thấy rằng, nếu chúng ta chỉ kinh nghiệm, thì
có ngay cái giải đáp trong đó. Thật ra, thực chất kinh
nghiệm và giải đáp không phải là hai thứ riêng biệt.
Nhưng trong giây phút ta nói, “Cô ta làm cho tôi phát ghét,”
“Anh ta gây phiền nhiễu cho tôi.” “Chúng ta đã làm cái
này,” “Cô ta đã làm cái kia.” “Nó làm cho tôi muốn bệnh,
làm cho tôi cáu gắt; xúc phạm cảm giác của tôi,”
thì chúng ta có cái “Tôi”, “người kia”, cái gì đó mà
ta đã bào chế xong. Thay vì: không có gì cả — ngoại
trừ phút giây hiện tại không thể bắt của tôi-anh-giận
hờn. Thể nhập vào đó, lúc đó giải đáp trở nên
hiển lộ.
Nhưng
chừng nào chúng ta còn đánh xoáy tư tưởng của mình, như
là “Bill làm cho tôi phát bực.” thì chúng ta còn có vấn
đề. Bạn sẽ nhận ra rằng cái câu nói có đoạn đầu,
đoạn giữa, và đoạn cuối; và đi đến thế gian: thù nghịch,
đe dọa, và phân chia.
Bạn
thấy không! Không có gì là sai đối với câu nói.
Chúng ta sống trong một thế giới tương đối; tương tự
như: buổi ăn sáng, trưa, và tối. Không có gì là quan ngại
cho một thế gian tương đối trên phạm trù khái niệm.
Nhưng cái gì làm cho nó “sai lệch”? Đó là, chúng ta không
bằng lòng nhìn nó với thái độ “như-nó-là”. Chúng
ta không chịu chấp nhận nó “như-nó-là,” mà chúng ta luôn
có chiều hướng chọn bạn hay người yêu giống như thái
độ khi xem TV.
Ví
dụ, chúng ta gặp một người con gái dễ nhìn và, “Hừm,
cô ta giống như đài số 4 và tôi thì luôn luôn bình thản
và thoải mái với băng tầng số 4; tôi biết cái gì có trong
đài này; một phạm vi nhất định vài tiết mục này vài
phim truyện kia, và một ít tin tức — Tôi có thể thoải mái
với người đài số 4.” Rồi chúng ta cùng tụ hợp
và sinh hoạt trong một thời gian, mọi thứ đều tốt.
Có nhiều tiện lợi và thỏa hợp. Rõ ra đây là một
mối tương quan tốt.
Nhưng
thật là lạ, cái gì xảy ra sau một thời gian? Khi không bất
ngờ, đài số 4 chợt nhảy qua đài số 63, có nhiều sự khó
chịu và giận dữ; đôi khi nhảy qua đài 49, những mơ mộng
và ảo tưởng. Tôi làm gì với những lúc này? Thấy
không, tôi đang giả vờ chung sống với (người) đài số
4. Nhưng không, (bên trong) tôi lại thích hưởng thụ một
ít thời gian với đài 33, có hoạt họa trẻ con, nói nhiều
về giấc mơ thời thơ ấu có công nương và hoàng tử.
Kế đó, tôi muốn có chút ảm đạm, chán chường, mặc cảm
ở đài số 19. Trong khi tôi đang muốn co rút trong buồn
chán và cô đơn, thì cô ta lại đang muốn nổi bật và nổi
loạn; thật không tiết tấu chút nào cả. Hoặc là đôi
khi, tất cả các đài cùng kéo lên một lúc. Chúng ta
bị đảo lộn, ồn ào, và một hay cả hai bên bắt đầu đấm
đá hoặc ngoảnh mặt quay đi.
Làm
gì bây giờ? Chúng ta giờ đây đang ở trong phối cảnh hỗn
loạn mà ta thường hay có; chúng ta phải cố gắng dọn dẹp
nó phải không? Dù thế nào, nó cũng đã có một thời
gian tốt đẹp. Vậy chúng ta phải làm gì. Quá rõ
ràng, cả hai đều trở về đài số 4. Chúng ta nói với
cô, “Cô phải nên thế này, cô nên làm thế kia: Đó là người
mà tôi đã yêu.” Trong giai đoạn tạm thời, hai bên
có sự cố gắng tích cực, bởi vì có một sự hòa bình giả
tạo ở đài số 4 (và nhiều cơn buồn chán.) Thật ra,
phần lớn những cuộc hôn nhân đều như thế này cả sau
một thời gian. Có người nói, bạn có thể nhìn ra ai
là người đã lập gia đình trong nhà hàng — đó là cặp
không nói chuyện với nhau.
Có
một điều lý thú là không một ai có câu hỏi, khi cái đài
trở nên lộn xộn, là “Ai đã bật lên những đài này?
Ai là nguồn gốc của tất cả những thăng trầm, chuyển biến,
tiết mục này?” Nên nhớ, không có gì là sai trái về
các đài này. Nhưng chúng ta không bao giờ đặt vấn đề là
ai là người đã bật những đài này lên. Ai là người
tác động hành động của chúng ta? Nguồn gốc là gì?
Đây là câu hỏi rất quan yếu.
Nếu
chúng ta không hỏi câu hỏi này và chịu đựng nỗi khổ đau
cho đến cùng cực, thì chúng ta sẽ quyết định tách rời
sự quan hệ để đi tìm một đài số 4 khác — bởi vì nếu
chúng ta đã thích mẫu đài số 4, thì ta sẽ có chiều hướng
đi tìm loại đó. Toàn bộ tiến trình sẽ lập lại không
những cho mối quan hệ hôn nhân, mà cả trong việc làm, trong
những cuộc nghĩ hè, hay bất cứ cái gì. Đây là những
gì chúng ta hay làm.
Sau
những đoạn tình tiết không trọn vẹn, chúng ta bắt đầu
nhìn vào toàn thể bức tranh cuộc đời của mình. Thỉnh
thoảng, có một vài người may mắn thật sự, bắt đầu cứu
xét câu hỏi tổng thể về ta sẽ làm những gì với cuộc
sống của mình, và cũng bắt đầu hỏi những câu hỏi căn
bản, “Tôi là ai? Tôi từ đâu đến? Tôi sẽ về đâu?”
Đôi
khi rất là buồn thãm, chúng ta nhận ra rằng, sau khi chung sống
với một người trong khoảng thời gian dài, mà như là chưa
gặp hay biết qua người ấy. Tôi đã gặp tình huống
đó trong suốt mười-lăm năm. Có người sống chung cả
đời mà vẫn chưa hề gặp. Tầng số thỉnh thoảng có
va chạm, nhưng gặp gỡ thì không.
Chúng
ta có thể may mắn và đụng độ một phương pháp tu học
tốt. Trong Kinh tạng, đức Phật có dạy, “Hiểu rõ
ràng tất cả mọi đau khổ. Đây là sự thật, không
phải là gian dối.” Chúng ta có thể không hiểu ý nghĩa
của lời này là gì; nhưng nếu chúng ta là một trong những
người may mắn, chúng ta có thể bắt đầu tu tập trí tuệ
theo một tiến trình đầy nổ lực, thì chúng ta có thể hiểu
được.
Tu
Tuệ có nghĩa là làm sự chuyển đổi vi tế liên tục, từng
bước một; ban đầu từ mức độ thô thiển tới tế nhị,
và rồi càng trở nên tế nhị hơn. Ở vào mức độ
vi tế cao độ, ta bắt đầu thấy xuyên thấu qua cái mà ta
gọi là phẩm cách của ta, đây là những gì mà chúng ta vẫn
thường hay nhắc đến. Chúng ta bắt đầu thật sự nhìn
vào tâm, thân, tư tưởng, nhận thức giác quan, mọi thứ mà
chúng ta nghĩ rằng đó là chúng ta.
Giai
đoạn khởi đầu của sự tu tập là, trong khi chúng ta ở
ngay giữa cơn bối rối, con lộ đông đảo, chúng ta khó mà
tìm thấy một khoảng trống và xe cộ thì túa ra khắp nơi.
Nó rất là lộn xộn và đe dọa. Đó là lối sống mà
phần lớn chúng ta cảm nhận qua. Chúng ta quá bận rộn
với những gì đang liên tục lao vào chúng ta, nên không thể
nào nhận ra được những cạm bẫy đang chờ đợi mình khắp
nơi. Nhưng nếu chúng ta xem xét kỹ càng một lúc, chúng
ta sẽ nhận ra những hang lỗ chung quanh ta. Chúng ta vẫn
có thể bước sang bên lề để có một cái nhìn thoáng hơn.
Không cần biết giao thông có bận rộn ra sao, chúng ta vẫn
có thể thấy nơi nào có thông lộ.
Bây
giờ thì bước kế tiếp của chúng ta là đi vào một tòa
biệt thự cao và ra ngoài lang cang của tầng thứ ba để quan
sát giao thông từ nơi đó. Nó thật có khác phải không?
Chúng ta có thể thấy được chiều hướng của dòng xe cộ
luân lưu về theo hướng nào. Chúng ta nhìn theo phong cách
là, sự chuyển động kia không có dính dáng gì đến
ta. Nó vận hành theo chiều hướng của riêng nó.
Rồi
nếu chúng ta đi càng lên cao hơn, chúng ta sẽ thấy rằng giao
thông chỉ là một mô hình; nó có đẹp chứ không có gì đe
dọa cả. Nó chỉ là một luồng chảy và chúng ta bắt
đầu thấy được nó như một bức địa đồ lớn. Chúng
ta cũng thấy nơi nào có khó khăn so với nơi khác trong phong
cảnh chung, mà không cần phải phân ra tốt hay xấu; nó chỉ
là một bộ phận của toàn bộ — giống như đời sống của
chúng ta. Sau nhiều năm tu tập, chúng ta có thể đạt
tới trình độ mà lúc nào chúng ta cũng có thể vui vẽ đối
với bất cứ những gì mà chúng ta thấy; vui vẽ với bản
thân, với mọi vấn đề như nó là. Chúng ta có thể
lạc quan và thưởng thức chúng nhưng không bị vướng mắc
vào chúng, và ta thấy được tính vô thường và luôn thay
đổi của chúng.
Rồi
chúng ta lại đi xa hơn nữa, đi tới lãnh vực mà ta chỉ là
nhân chứng cho cuộc đời của ta. Tất cả vẫn vận
hành, thú vị; chúng ta không còn bị ràng buộc bởi bất kỳ
những gì. Để rồi sau cùng, chúng ta trở ra lại đường
phố, vào lại chợ đông, ngay trong lòng của sự ồn ào, hỗn
loạn; để thấy những mơ hồ, bối rối như-nó-là mà không
bị nó chuyển giống như khi trước. Chúng ta có thể
yêu thích nó, hưởng thụ nó, phục vụ nó, và cuộc đời
ta được thấy như-nó-là tự bao giờ — tự tại và giải
thoát.
Vậy
vào lúc ban đầu, nơi chúng ta bị vướng buộc ngay trung tâm
của hỗn loạn và mơ hồ, cũng là nơi mà nhiều người trong
chúng ta bắt đầu sự tu tập. Đó cũng là nơi mà đa
phần trong chúng ta thấy mối quan hệ của mình đang mập mờ,
rối ren, thậm chí có phần cay đắng. Bởi vì, chúng
ta mong rằng mối quan hệ của chúng ta sẽ mang lại cho ta bình
an từ những rối loạn.
Nhưng
trong khi chúng ta nổ lực tu tập với mối quan hệ, chúng ta
bắt đầu thấy được rằng, chính những mối quan hệ là
phương tiện tốt nhất cho ta phát triển khả năng thực hành;
ta có thể thấy cái gì là tâm, thân, cảm xúc, và tư tưởng
thật sự là gì. Tại sao những mối tương quan lại hữu
ích cho tu tập? Tại sao chúng giúp cho chúng ta đi vào
cái mà chúng ta gọi là cái chết dần của bản ngã?
Bởi vì, ngoài việc tọa thiền ra, không có con đường nào
là thù thắng hơn, có thể từ trong mối quan hệ, giúp cho
thấy ra nơi nào ta bị vướng mắc, những gì ta bị ràng buộc.
Chừng nào ta chợt nhận diện ra được, là ta có cơ hội
học hỏi và tiến triển hơn. Cho nên mối quan hệ là
một món quà tốt, không phải vì nó làm cho ta vui vẻ — nó
thường thì không làm vậy lâu dài — nhưng bởi vì bất cứ
mối quan hệ cá nhân được đưa vào ánh sáng tu tập, thì
nó sẽ tỏ rỏ như tấp gương.
Bạn
có thể nói rằng mối quan hệ là cánh cửa dẫn đến Thật
tánh của chúng ta, tới vô ngã. Trong nỗi sợ hãi của
chúng ta, chúng ta luôn gõ vào cánh cửa mà đã được dựng
lên bởi những ước mơ, hy vọng, ham muốn của chính mình;
chúng ta lại xa lánh nỗi khổ đau của cái cửa “Vô môn”,
cái cửa rộng mở cho bất cứ ai, bất cứ những gì như-nó-là,
bây giờ và ở đây.
Thật
là ngộ nghĩnh khi thấy rằng, người ta không nhìn thấy được
mối liên hệ nào giữa niềm khốn khổ và sự phàn nàn của
họ — cảm giác là một nạn nhân, cảm giác là mọi người
đều là tác nhân cho niềm khốn khổ của họ. Thật
là không thể tin nổi. Có được bao nhiêu lần sợi dây
liên hệ này được mổ sẻ trong những buổi pháp thoại?
Bao nhiêu? Tại sao thế? Bởi vì nỗi sợ cho nên chúng ta không
dám nhìn thẳng.
Chỉ
những con người có thông tuệ, năng lực, và kiên nhẫn mới
có thể tìm thấy được cái điểm tựa mà vũ trụ dùng để
xoay. Thật không may mắn, cuộc sống của những người
không thể nhận diện ra giây phút hiện tại thì rối loạn
và căng thẵng; không thân thiện; không lân mẫn. Căn
bản của sự thật là, không phải đời sống mang đến những
điều trắc trở cho họ, mà chính họ mới là người tạo
ra cái cảnh khốn khó cho chính mình. Nhưng nếu chúng
ta chối từ không nhìn vào những gì chúng ta đang làm — đó
là một điều đáng lấy làm hối tiếc — thì chúng ta sẽ
phải nhận lấy từ những gì do cuộc sống mang đến.
Để rồi chúng ta lấy làm bâng khuâng tại sao đời mình sao
lại có nhiều gian khổ. Nhưng đối với những ai tu tập
kiên trì trong cuộc sống, thì sẽ càng hưởng được nhiều
niềm vui trong mối quan hệ trên tinh thần Vô ngã (hay nói cách
khác, trong tinh thần cởi mở.) Tuy là hiếm hoi nhưng nó
vẫn xảy ra. Khi nó có xảy ra, lúc đó ta không biết
có còn gọi nó là mối quan hệ nữa hay không. Ai là người
có liên hệ với ai khác? Bạn không thể nào nói là vô
ngã quan hệ với vô ngã. Cho nên, ở lãnh vực này thì
ngôn từ không thể nào diễn đạt được. Đây là tình
cảm và lòng bi mẫn không biên giới, như lời của Tam Tổ
Tăng Xáng, “Không có hôm qua, không có ngày mai, và không có
hôm nay.”
Kinh
nghiệm và Trạng thái
(cách
cư xử)
Theo
kinh nghiệm, tôi muốn nói là, giây phút ban đầu khi chúng
ta cảm nhận cuộc đời trước khi một chập tâm phát sinh.
Ví dụ: trước khi suy nghĩ, “Ồ! Đó là chiếc áo màu đỏ,”
thì có “Cái thấy” (hay kinh nghiệm thấy, sự thấy.)
Chúng ta cũng có thể nói, “Cái nghe”, “Cái va chạm”,
“Cái vị”, “Cái biết.” Đây là chân lý tuyệt đối:
gọi nó là Thượng đế, Phật tánh, hay là bất cứ gì bạn
thích. Kinh nghiệm này, bị lọc qua hệ thống quan điểm
giới hạn của con người để tạo ra cái thế giới của
chúng ta. Chúng ta không thể nào chỉ ra bất cứ gì trong
thế gian này, chừng như ở ngoài hay ở bên trong chúng ta,
mà ta không cách nào kinh nghiệm được. Nhưng chúng ta
không thể nào có cái mà ta gọi là đời sống con người
nếu ta không thể biến chuyển cái kinh nghiệm đó thành trạng
thái. Bằng trạng thái thì sự việc vận hành theo mọi
điều kiện chung quanh. Ví dụ, là một cá thể như chúng
ta: ta ngồi, ăn, đi lại, nói. Trong chừng mực này thì
ngay cả tấm thảm cũng có cái trạng thái: như là nằm trãi
ra đó. (Nếu chúng ta nhìn nó dưới một kính hiển vi cực
mạnh, ta sẽ thấy nó không bất động tí nào cả. Nó
là một dòng năng lượng đang di động ở một vận tốc kinh
khủng.)
Vậy
chúng ta có thể phân biệt sự phát sinh — chính là Thượng
đế, Phật tánh, chân lý, hay là gì đó — là đối cực của
cái thế gian được tạo thành nhanh chóng bởi điều kiện.
Thật ra, cả hai chỉ là một: sự phát sinh và thế gian vốn
không khác. Nếu chúng ta có thể thật sự nhận chân
(hiểu thấu bằng kinh nghiệm) vấn đề này thì chúng ta sẽ
không còn có trở ngại khó khăn gì nữa trong cuộc đời của
mình, bởi vì nó quá rõ ràng là không có quá khứ hay tương
lai — chúng ta thấy được ra rằng, tất cả những thứ mà
chúng ta lo lắng đều không thật.
Phần
lớn trong cuộc sống, chúng ta chỉ lờ mờ nhận thức được
kinh nghiệm của mình. Chúng ta chỉ hao hao biết một khía
cạnh nào đó, ở chừng mực nào đó, cách cư xử của ta
và cái kinh nghiệm có mối liên quan mật thiết với nhau.
Nếu chúng ta có cơn nhức đầu và có thái độ cau có; chúng
ta có thể nhận ra là, có sự ảnh hưởng giữa những cái
đập như búa bổ trong đầu và cái trạng thái quạo quọ
đang có của mình. Vậy ngay cả khi chúng ta không thể
trọn vẹn nhận thức cái kinh nghiệm của mình, ít ra chúng
ta không hoàn toàn có cái nhìn bản thân ta độc lập hẳn
hoi với kinh nghiệm của chính ta. Nhưng nếu người nào
khác cau có, chúng ta lại phán xét họ theo lề lối trái ngược
(thái độ và kinh nghiệm của họ bị tách ra; nói khác đi,
họ không thể được thông cảm như là, vì họ đang kinh nghiệm
đau khổ cho nên họ có trạng thái hành xử không thân thiện).
Chúng ta không thể nào cảm được kinh nghiệm của họ,
cho nên chúng ta chỉ phán xét cái lối cư xử của họ
trong lúc ấy (cộng thêm cái thành kiến sẵng có của
chúng ta đối với cá nhân đó trong quá khứ, thì lại đưa
ta đi xa hơn). Nếu chúng ta nghĩ, “Cô ấy không nên có
thái độ ngạo mạn,” chúng ta chỉ nhìn vào cách hành xử
và phán định, bởi vì chúng ta không có sự nhận thức thật
sự về kinh nghiệm, cảm giác lo sợ của cô ta đang có.
Chúng ta đã vội vã kết tội về thái độ kiêu căng của
cô ta theo quan điểm biên kiến của mình rồi.
Thái
độ cư xử là những gì mà chúng ta luôn luôn quan sát.
Chúng ta không thể quan sát kinh nghiệm. Lưu ý là, chúng ta
có một sự quan sát về một sự kiện. Sự
kiện đi qua rồi vào quá khứ; còn kinh nghiệm thì không bao
giờ nằm trong quá khứ.
Đó là lý do tại sao trong Kinh Phật có nói, chúng ta không
thể đụng, không thể thấy, không thể nghe, và không thể
nghĩ về nó — vì bởi trong phút giây chúng ta dự định
làm thế, thời gian và sự phân định nhị nguyên đã tạo
ra cái thế giới hiện tượng tương đối rồi. Khi tôi
quán sát cánh tay của tôi đang được nâng lên, thì nó (cánh
tay hay cái tâm biết đó) không phải là tôi. Khi tôi quán
sát tư tưởng của tôi, thì chúng nó (tư tưởng hay tâm đang
suy nghĩ) không phải là tôi. Khi tôi nghĩ, “Đây là tôi,”
thì tôi cố gắng bảo vệ cái “tôi” đó. Sự thật,
những gì mà tôi đang quán sát về mình (ngay cả những hiện
tượng mà tôi ưa thích và gần gủi nhất) đều không phải
là tôi. Đó chỉ là trạng thái của tôi trong lúc ấy, là
hiện tượng thế gian. Tôi là ai, chính là lãnh vực
kinh nghiệm tự thân, vĩnh viễn không bao giờ xác định
được. Phút giây tôi đặt tên nó, nó đã diệt rồi.
Trạng
thái hành xử và kinh nghiệm trên căn bản không riêng rẽ.
Khi tôi kinh nghiệm bạn (thấy, đụng, nghe bạn), thì bạn
đang là kinh nghiệm của tôi, như-nó-là. Nhưng khuynh hướng
nhân bản thì không chịu dừng lại ở đây; thay vì tôi chỉ
thể nhập kinh nghiệm của mình, tôi lại cộng thêm cái quan
niệm của mình về cái mà chừng như (không chắc chắn) bạn
đang làm — để rồi tôi phân cách giữa tôi và bạn.
Khi thế gian có sự cách biệt, tôi nghĩ rằng nó cần phải
nghiên cứu, phân tích, và phán đoán. Chính vì chúng ta
sống theo lối sống như thế, thay vì kinh nghiệm tự thân,
cho nên chúng ta luôn có vấn đề. Chúng ta lệ thuộc
vào ký ức, khái niệm; nhưng nếu chúng ta không hiểu biết
tường tận nguồn gốc những thứ này, chúng ta sẽ không
áp dụng nó đúng đắn, cho nên chúng ta tạo ra hỗn loạn.
Cũng
giống như chúng ta, người khác chỉ đơn thuần kinh nghiệm,
mà trông có vẻ như là phong cách hành xử. Nhưng chúng
ta lại nhìn họ bằng phong cách hành xử; chúng ta chỉ chú
trọng vào khía cạnh của lối hành xử của họ mà bỏ qua
kinh nghiệm đang có của họ. Kinh nghiệm thiết thực
là tổng thể bởi vì đó là cái mà tất cả chúng ta là.
Chừng nào chúng ta có thể thấy ra sự câu thúc ngu xuẩn của
mình về tư tưởng, quan niệm, thì chúng ta có thể dùng thời
gian cho kinh nghiệm trong cuộc sống, lúc đó chúng ta mới có
thể cảm nhận hơn được thực chất đời sống — kinh nghiệm
thật sự — của người khác. Một đời sống mà không
bị điều khiển bởi quan niệm, mà là thể nhập kinh nghiệm
hiện tiền, là chúng ta bắt đầu chăm sóc cho mọi người
— bản thân và mọi người. Từ đó chúng ta không còn
nhìn người như là một đối tượng, con khỉ có lối xử
thế thì không gì hơn là bản thể của lối xử thế đó.
Tất
cả sự tu tập đều không ngoài mục đích đưa chúng ta về
lại với kinh nghiệm đơn thuần. Từ những kinh
nghiệm đơn thuần này sẽ làm nảy sinh tư duy và hành động
thích ứng. Thông thường chúng ta không thể nào làm được
vậy; bởi vì chúng ta hành động theo sự thao túng của tư
tưởng và những quan niệm đang xoay cuồng trong đầu chúng
ta — đi ngược lại mục đích tu tập của chúng ta.
Gần
như luôn luôn chúng ta nhìn người khác ở vào khía cạnh của
phương cách hành xử của họ. Chúng ta không bao giờ
hứng thú đến sự thật rằng, cách hành xử của họ vốn
bị ảnh hưởng vào kinh nghiệm đang có của họ. Với
bản thân, chúng ta có ý thức phần nào về sự ảnh hưởng
này, nhưng không trọn vẹn. Trong tọa thiền, chúng ta
thấy rằng, chỉ một phần tự thân thì có thể hiểu biết;
khi khả năng nhận thức về kinh nghiệm tăng trưởng, thì
hành động của chúng ta cũng chuyển biến: không còn bị lệ
thuộc nhiều nữa vào điều kiện, ký ức, mà phản ánh từ
đời sống như-nó-là trong từng sát na thời gian.
Đây
là lòng bi mẫn chân chính. Bao giờ chúng ta sống với
kinh nghiệm của chính mình, chúng ta thấy là, trong khi chúng
ta có cái thân và cái tâm vận hành theo một đường lối
riêng, mà không có gì là bền vững. Chúng ta cũng nhận
thức qua trực giác được là những người khác cũng đều
như thế. Mặc dù, cách xử thế của người khác có
thể là vô trách nhiệm, và chúng ta có thể cần thiết phải
phản đối lại lối cư xử như thế một cách cứng rắn,
nhưng thực chất giữa ta và họ đều như nhau. Chỉ ở
chừng mức nào đó, chúng ta sống bằng kinh nghiệm cho nên
chúng ta có thể hiểu được đời sống của người khác.
Lòng bi mẫn vốn không phải là một ý tưởng hay một tiêu
chuẩn, nó không có thể dạng nhất định, nhưng nó phát triển
một không gian to lớn và đầy năng lực trong tu thiền.
Cái
không gian này thì luôn luôn hiện hữu. Chúng ta không
cần phải tìm kiếm và cố gắng đạt được. Nó chính
là chúng ta, bởi vì nó là kinh nghiệm của chính chúng ta.
Chúng ta không thể là gì khác hơn — nhưng chúng ta có thể
bao phủ nó bằng vô minh của chính mình. Chúng ta không
phải “tìm” gì cả — đó là tại sao đức Phật nói rằng,
sau bốn-mươi-năm ngài không đạt được gì cả. Có
gì để mà đạt đến? Nó luôn ở ngay nơi đây.
Mối
quan hệ không có kết quả
Tôi
vừa mới trở về từ Úc châu. Tôi qua đó với niềm
hy vọng sẽ hưởng được thời tiết tốt — vậy mà trong
hai ngày đầu tiên trời mưa tầm tã mà lại vui vẻ.
Rồi năm ngày còn lại của khóa tu học ở Brisbane, lại có
một cơn bảo biển lạnh buốt. Cuồng phong thì thật
mạnh đến nỗi chúng tôi khó mà thẳng người lên khi chạy
từ tòa biệt thự này sang bên kia. Chúng tôi phải vất
vã lắm chỉ giữ cho khỏi bị ngã. Gió rú như còi xe
trên những mái nhà trong mọi thời. Dù thế nào đi nữa,
đó là một khóa tu học thật giá trị, và tôi gặt hái được
(tôi luôn luôn thu hoạch) là, không cần biết là tôi đi đến
đâu, con người vẫn là con người: đầy những kỳ diệu
và cũng đầy vẫy vấn đề. Nơi nào có con người, vấn
đề quấy rầy người Úc cũng giống như quấy rầy chúng
ta. Họ có khó khăn đầy ắp với mối quan hệ cũng giống
như chúng ta. Cho nên tôi muốn nói một chút về những
ảo tưởng mà chúng ta có về mối tương quan tốt đẹp sẽ
xảy ra. Bạn thấy không! Nó không bao giờ có kết quả
như ta mong muốn cả. Bạn có thể nói, “À! Thế tại
sao chúng ta lại bỏ công sức cho sự tu tập này nếu lời
đó là đúng.” Thật ra, chúng ta muốn có một cái gì
đó tốt đẹp xảy ra, nhưng chính “cái muốn” kia làm cho
mối quan hệ trở nên không tốt đẹp.
Cuộc
sống có thể tốt đẹp — nhưng nó không phải bắt nguồn
từ quan điểm là, chúng ta sẽ làm gì đó để cho nó tốt
đẹp. Trong bất cứ điều gì chúng ta làm trong sự liên
hệ với người khác, luôn luôn có một kỳ vọng — rõ ràng
hay vi tế. Chúng ta nghĩ, “Bằng cách nào đó, tôi sẽ
nghĩ ra cách làm cho mối quan hệ này có kết quả tốt, và
sau đó tôi sẽ có được những cái mà tôi mong muốn.”
Tất cả chúng ta đều muốn thứ gì đó từ người mà ta
có quan hệ với. Không ai có thể nói, tôi không muốn
bất cứ gì từ những người mà tôi đang có liên hệ.
Ngay cả khi chúng ta từ chối một mối quan hệ, thì đó cũng
là một cách của “muốn một thứ gì đó”. Cho nên
mối quan hệ không bao giờ mang lại kết quả.
Nếu
vậy thì cái gì mang lại kết quả đây? Một thứ có
thể mang đến kết quả tốt đẹp (nếu chúng ta thật sự
tu tập) là một ước muốn “không muốn gì cho bản thân
cả, mà chỉ giúp đỡ cho tất cả mọi đời sống, trong đó
có những mối quan hệ cá nhân.” Bây giờ thì bạn có
thể đang nghĩ, “À! Nghe có vẽ hay hay, được tôi sẽ làm
thế!” Nhưng không ai thật sự muốn làm vậy cả.
Chúng ta không muốn ủng hộ người khác, vì chân thành
ủng hộ một người có nghĩa là bạn phải cho họ mọi thứ
mà không kỳ vọng gì cả. Bạn có lẽ sẽ cho
họ nhiều thời gian của mình, ra sức giúp đỡ, phân chia
tiền tài, bất cứ thứ gì. “Nếu anh cần gì, tôi sẽ
cho anh.” Tình cảm không mong đợi đền trả. Thay
vì thế, chúng ta lại chơi cái trò đùa: “Tôi sẽ tâm sự
(với anh/chị) để cho mối quan hệ của chúng ta tốt đẹp
hơn.” có nghĩa là, “Tôi sẽ tâm sự để cho bạn biết
tôi muốn cái gì.” Tiềm ẩn phía dưới sự mong chờ,
chúng ta đem tới những trò chơi để tạo cho mối quan hệ
có vấn đề. Nếu chúng ta thật sự thấy thế, thì vài
người trong chúng ta sẽ bắt đầu hiểu ra những bước kế
tiếp, và có thể thấy tình trạng sẽ đi về đâu. Chúng
ta có lẽ nhìn thoáng nhanh vấn đề ngay bây giờ, để rồi,
“Vâng, tôi có thể làm việc này cho bạn, tôi có thể nâng
đỡ đời sống của bạn và không mong đợi một sự đền
trả nào cả. Hoàn toàn không.”
Có
một câu chuyện có thật về một người đàn bà, mà chồng
bà đi viễn chinh ở Nhật trong thời chiến tranh. Khi ở
Nhật, ông sống với một người đàn bà Nhật bản và có
được hai đứa con. Ông yêu người vợ Nhật này thật
nhiều. Khi ông trở về Mỹ, ông đã không kể lại cho
vợ của mình (người vợ ở Mỹ) về cuộc tình này.
Nhưng trong phút giây hấp hối trước khi chết, ông đã tỏ
thật cùng bà về mối tình này và những đứa con. Lúc
ban đầu, bà thật là giận dữ. Nhưng sau đó, không biết
có những biến chuyển gì bên trong đã xảy ra, và bà đã
đối diện với cảm giác sân hận của mình. Trước
phút giây chồng bà từ giả cõi đời, bà đã nói, “Tôi
sẽ chăm sóc cho họ. Ông hãy yên lòng ra đi.” Thế rồi,
bà đã đi Nhật (sau khi tang sự cho ông hoàn tất), tìm kiếm
người đàn bà trẻ kia và lo mọi thủ tục để mang bà ấy
cùng hai con về Mỹ. Họ xây dựng một gia đình chung
và người vợ lớn kia đã tận toàn khả năng mình để giúp
người đàn bà trẻ kia, dạy tiếng Anh, giúp bà có việc làm,
giúp đỡ chăm lo cho hai đứa con, mà không bao giờ nghĩ gì
đến một kỳ vọng gì cho mình. Đó là cái mà ta nên
gọi là tình yêu đúng nghĩa.
Tu
thiền không phải là một việc làm không thực tế, mà là
một phương cách để có thể tiếp xúc với đời sống của
chúng ta. Khi chúng ta thực hành, chúng ta càng thấy rõ
ràng hơn thế nào là cách sống khác hơn, và chúng ta sẽ không
còn tiếp tục sống theo nề nếp sống theo tự ngã — không
phải chọn một điểm tựa khác thay vì tự ngã, bởi vì nó
vẫn bao gồm chúng ta — mà là sống theo chiều hướng của
tổng thể. Nếu chúng ta tu tập mà vẫn không tiến dần
theo chiều hướng này, thì sự tu tập của chúng ta đang hành
là sai lầm. Chừng khi nào chúng ta muốn bất cứ gì,
chúng ta nên biết là sự tu tập cần phải tiếp tục.
Tôi đã thực hành trong một thời gian khá dài, nhưng tôi nhận
ra rằng, trong lần đi khóa tu học vừa qua (đó là một chuyến
đi dài đối với người ở lứa tuổi của tôi, mặc dù đó
là một khóa tu rất tốt, và có tầm ảnh hưởng lớn rộng
cho nhiều người), tôi đã nói, “À! Chuyến đi này thật
đã ảnh hưởng khá nhiều cho tình trạng sức khỏe của tôi,
tôi không biết là tôi sẽ đi vào năm tới. Có lẽ tôi
cần nhiều thời gian nghĩ ngơi.” Cái tâm con người
là thế đó. Giống như tất cả mọi người, tôi muốn được
thoãi mái, thích dễ chịu, không thích bị mệt mõi. Bạn
có thể đang nghĩ, “À! Có gì sai trái đâu, khi muốn một
tí thoãi mái cho bản thân?” Không có gì là sai cả khi
có ý muốn như thế, trừ khi cái ý muốn kia bất đồng với
định hướng cuộc đời của tôi — cái này còn quan trọng
hơn cái cảm giác thoãi mái mà tôi đang muốn. Nếu cái
định hướng cuộc đời không xuất hiện ra từ sự tu tập,
thì sự tu tập không còn có một giá trị gì. Nếu chúng
ta biết định hướng cuộc đời của mình, nó sẽ ảnh hưởng
sâu đậm vào mỗi cơ bắp đời sống của ta, vào mối quan
hệ, công việc làm, tất cả. Nếu có một cái gì đó
không lộ ra từ sự tu tập, thì đó chỉ là thứ mà ta “muốn”,
những thứ sẽ làm cho cuộc sống của ta thêm thú vị.
Vậy cái đó không phải là tu tập.
Nhưng
đừng đơn giản hóa vấn đề. Trong khi chúng ta ngồi như
thế này, chúng ta phải xây dựng hai, ba, bốn hình thái của
sự tu tập. Chỉ ngồi với sự tập trung cao độ là
đã có giá trị rồi. Nhưng chúng ta phải coi chừng, chúng
ta có thể, một cách vô tình, dùng phương thức này để trốn
tránh đời sống. Sự thật, con người có thể dùng loại
tiềm năng này để gầy dựng một năng lượng theo chiều
hướng không tốt. Định là một phần của tu thiền;
chúng ta không muốn nhấn mạnh điều này ở đây, nhưng cái
năng lực sẽ đạt được ở giai đoạn nào đó trên tiến
trình tu tập. Thiền Minh Sát (tôi lúc nào cũng thích hơn)
dạy chúng ta trong mọi lúc nên chú ý, quán sát, nhận diện,
thì rất là giá trị và tôi nghĩ rằng, nó là pháp hành tốt
nhất mà lại căn bản nhất trong tất cả pháp hành.
Nhưng, nó lại có thể dẫn hành giả (như tôi cũng đã có
một giai đoạn qua) trở nên hoàn toàn lạnh cảm. Không
còn một thứ gì làm cho tôi xúc động bởi vì tôi đã trở
thành một cái máy quan sát. Đó có thể gọi là một
giới hạn (hay trở ngại) cho pháp tu tập này. Có rất
nhiều phương pháp tu tập. Mỗi pháp môn đều có điểm
hay, và cũng có điểm giới hạn. Cũng tương tự như
những phương pháp trị liệu tâm lý hay sinh lý, đều có tác
dụng tốt lẫn xấu. Đường lối phát triển nhân sinh tốt
nhất cho một con người phải bao gồm: Phong thái trung dung,
trí tuệ sáng suốt, đầy lòng bi mẫn. Thế thôi, thật
là đơn giản, phải không?
Trong
mối quan hệ, bất cứ khi nào chúng ta cảm thấy khó chịu
— đó là nơi không thích hợp cho ta — câu hỏi lớn nên
được mang ra chất vấn, những gì đang xảy ra trong ta.
Làm thế nào chúng ta có thể tu tập với những cảm giác
bất an này? Tôi không có nói là tất cả các mối quan
hệ đều nên kéo dài đến mãi mãi. Bởi vì, nguyên
nhân của mối quan hệ vốn không dính dáng gì đến bản chất
của mối quan hệ cả. Cái nguyên nhân chỉ cộng
thêm sức mạnh cho đời sống của chúng ta; nhất là trong
lúc đời sống đang đối diện với mối quan hệ, cũng giống
như bắt vào một làn sóng đài phát hình vậy thôi. Một
mối quan hệ tốt sẽ cho đời sống nhiều năng lượng hơn
(thấy hình rõ hơn). Nếu hai người có mối quan hệ tốt,
thì cuộc đời có nguồn năng lượng (có một đài tốt);
so với hai người không có mối quan hệ (không có đài nào
cả) hoặc là có nhưng mà không tốt (có đài nhưng mà yếu
không thấy hình) thì không có năng lượng hay có nhưng mà
yếu. Cứ thế mà suy ra, hai, ba, … vô số đài. Có nhiều
đài cùng băng tầng thì hợp lại thành một đài chung thật
lớn. Đó là những gì mà cuộc đời muốn tìm; nó đâu
có cần biết đến là, chúng ta có “vui vẻ” trong mối quan
hệ hay không; nó chỉ muốn tìm mối quan hệ (băng tầng),
và nó muốn nguyên nhân của mối quan hệ tốt (cộng thêm
năng lực). Nếu mối quan hệ nào không còn đủ năng
lực (mất đi nguyên nhân tồn tại) thì cuộc đời sẽ loại
bỏ đi (mối quan hệ chấm dứt). Cuộc đời đâu cần
nghĩ đến mối quan hệ của chúng ta; nó chỉ đi tìm những
mối quan hệ có nguyên nhân tốt (đài có năng lực) để nó
có thể vận hành ở mức tối đa. Cái giòng vận hành
này là những gì chúng ta tùy thuộc vào. Còn tất cả
những tình tiết, lâm ly, sôi động của bạn, của tôi, của
anh ấy, của cô ta, thì cuộc đời không có hứng thú biết
tới. Cuộc đời chỉ đi tìm những mối tương quan (đài
phát), giống như một luồng gió mạnh, nó sẽ dùi dập vào
những mối quan hệ để thử thách nó. Nếu mối quan
hệ chịu đựng không nỗi thử thách, thì hoặc là mối quan
hệ cần phải phát triển lớn mạnh hơn để còn chịu đựng,
bằng ngược lại nó sẽ phải bị phân hũy để một cái
gì mới và tươi tốt hơn có thể phát sinh từ sự điêu tàn
này. Dù cho nó có đổ vở hay không thì không quan trọng
bằng những gì mà chúng ta học được từ tiến trình này.
Nhiều người lập gia đình trong khi không có gì để làm căn
bản (không có nguyên nhân — không có năng lượng) để phục
vụ cho mối quan hệ. Dĩ nhiên, tôi không tán thành người
khác đoạn tuyệt hôn nhân của họ. Tôi chỉ đơn giản
nói rằng, chúng ta thường hay hiểu lầm ý nghĩa của hôn
nhân là gì. Khi mối quan hệ không tốt đẹp, có nghĩa là
cả hai người đều ám ảnh bởi cái “Tôi”: “Những thứ
tôi muốn là …” hoặc “Cái này không thích hợp cho tôi.”
Nếu có vương vấn một chút gì đòi hỏi, mong muốn, thì
dẫn đến mối quan hệ trở nên gắng bó và vận động trơn
tru hơn. Đó là lý do tại sao cuộc đời thật kỳ thú.
Là một tự ngã riêng biệt với tham vọng tách rời, thì bạn
không có giá trị gì cho cuộc đời này cả. Và tất
cả mối quan hệ không ra hồn, phản ánh được sự thật
rằng họ chỉ muốn những thứ cho bản thân của ông ta hay
bà ta.
Đây
là những câu hỏi mà tôi luôn nghĩ đến, và bạn có thể
không đồng ý với những gì tôi đang nói. Tuy nhiên,
tu thiền là đi vào trạng thái Vô ngã, là nhận thức ra rằng,
con người là không có cái Ngã. Đó không có nghĩa là
một người tầm thường. Nó có nghĩa là một người
vững mạnh. Nhưng vững mạnh không có nghĩa là cứng
ngắt. Tôi có nghe về một phương cách thiết kế nhà
ở bờ biển, nơi mà những trận bảo lớn có thể làm ngập
lụt nhà cửa: khi nhà bị ngập, phần đồ đạt trong nhà
bị sụp đổ. Còn dòng nước thay vì lôi cuốn cả căn
nhà, nó chỉ đột phá qua và trôi đi những thứ bên trong
và để lại căn nhà trống trơ trọi. Mối quan hệ tốt
cũng giống như thế. Nó có một kiến trúc uyển chuyển
và một khả năng làm giảm bớt chấn động và căng thẵng,
cho nên nó có thể giữ nguyên vẹn và tiếp tục tồn tại
vận động. Nhưng khi mối quan hệ xây dựng phần nhiều
trên “tôi muốn”, thì đó là một loại kiến trúc cứng
ngắt. Khi nó cứng thì nó không thể nào chịu nổi sức
ép của cuộc đời, và nó không thể phục vụ đời sống
tốt được. Đời sống cũng giống như con người, rất
uyển chuyển, cho nên đời sống có thể dùng con người cho
những gì nó cố gắng hoàn thành.
Nếu
chúng ta hiểu về tọa thiền và sự thực hành của mình,
chúng ta có thể bắt đầu làm quen dần với bản thân mình,
và cũng hiểu được cảm xúc đớn đau luôn tàn phá cuộc
sống của ta như thế nào. Nếu chúng ta thật sự tu tập,
thì từ từ theo thời gian, sức mạnh sẽ được tích lũy.
Đôi khi có giai đoạn thật là khó khăn khủng khiếp.
Nếu có ai nói với bạn một cách khác — không khó khăn,
không trở ngại, hay là rất dễ dàng nhanh chóng … — thì
họ không phải nói với bạn về phương pháp tu thiền đúng
đắn. Tu thiền đúng đắn thì không phải là một tiến
trình tu tập cầu kỳ, hạnh phúc. Nhưng nếu chúng ta
thực hành đúng trong một thời gian, chúng ta sẽ biết được
những gì chúng ta đang đi theo; chúng ta bắt đầu thấy ta
là ai. Vậy tôi muốn bạn nên thưởng thức sự tu tập
của mình và thực hành nó một cách nghiêm chỉnh. Tu
tập không phải là cắt tỉa gọn gàng cuộc đời mình.
Tu tập chỉ là dựng nền tảng. Nếu không phải vậy
thì không có thứ gì khác cả. Vậy hãy giữ sự trong
sáng rõ ràng những gì ta tu tập trong giây phút hiện tại.
Ai biết được, vài người trong chúng ta có thể thấy ra bản
thân mình, thể nhập vào một mối tương quan mỹ mãn — mối
tương quan có một nền tảng khác biệt. Đó cũng tùy
thuộc vào mỗi người chúng ta tạo dựng ra cái nền tảng
đó. Cho nên, chỉ lo cố gắng tu tập.
Mối
quan hệ
thì
không phải chỉ dành cho người và người
Chúng
ta tọa thiền là để biết chúng ta là ai. Chúng ta có
tâm và thân; nhưng những phần này không thể nào giải thích
được đời sống mà ta đang sống. Shakespeare’s Polonius
có nói, “Đối với cái Ngã của anh thì phải theo nó cả
ngày lẫn đêm, nếu anh không thể thì thất bại cho người
khác.” Chúng ta muốn biết Chân như của mình. Chúng
ta có thể gầy dựng lên một hình ảnh nào đó và đặt tên
“Bản thể”, và nếu nó quả là một thật thể, rồi
nó cũng sẽ phải liên tục thay đổi. Chúng ta tọa thiền
để khám phá, để thể nhập Chân như của mình. Nhưng
nó là cái gì?
Nếu
bạn phải định nghĩa “Chân như” thì bạn sẽ nói gì?
Hãy nghĩ một giây. Cái gì tôi có thể nghĩ đến?
Những thứ như: sự vận hành của một cá nhân mà không
bị điều khiển hay chi phối bởi lòng vị kỷ. Thật
là khó mà thấy loại người như thế được chấp nhận như
một con người theo khía cạnh nhân sinh mà ta thường hay gặp.
Nhưng từ một góc độ nhìn khác, loại người như vậy thì
thật sự là một con người hoàn hảo — nhưng không theo cách
mà chúng ta thường hay nghĩ về bản thân mình hay người khác.
Loại người như vậy giống như không phải là một người
nào cả.
Trong
khi chúng ta vật lộn trong đời sống và có cảm giác thiếu
sót gì đó từ những mối quan hệ với người này hay người
nọ, hoặc đối với việc làm hay một sự kiện nào đó;
vì bởi một trong những lỗi lầm mù quáng của chúng ta là
có cái quan niệm rằng, “tôi có liên hệ với người đó
hay sự kiện đó.” Ví dụ, giả như tôi là người có
gia đình. Thông thường chúng ta nghĩ hôn nhân là, “Tôi
là hôn phối của anh ta.” Nhưng chừng nào tôi còn nói,
“tôi là vợ của anh ta,” thì có hai cá nhân và trong
thật thể không thể có hai được. Thật
thể không biết có sự phân biệt. Nhìn bề ngoài
thì tôi đám cưới với anh ấy, nhưng thật thể — gọi nó
là tiềm năng vô hạn — không thấy có sự phân biệt.
Thật thể hình thành ở nhiều dạng khác nhau nhưng cốt yếu
nó vẫn ở trong điều kiện của một thể, một tiềm năng
lực. Khi tôi nói tôi kết duyên cùng bạn, hoặc tôi sở
hữu chiếc xe Toyota hay là tôi có bốn người con, trong ngôn
ngữ hằng ngày là vậy. Nhưng chúng ta cần phải nhìn
ra rằng, đó không phải là sự thật rốt ráo. Thật
tế, tôi không có kết duyên với bất cứ ai hay vật gì; tôi
chính là người ấy, tôi mới là vật ấy. Bản thể
vốn không biết có sự khác biệt.
Vậy
bây giờ bạn có thể đang tự nhũ, tất cả những thứ đó
thì tốt; nhưng nói theo thực tế, chúng ta làm gì về những
vấn đề khó khăn xảy ra trong cuộc sống của ta? Tất
cả mọi người đều biết, đó là một sự thử thách rất
ư là to lớn; cũng như con cái, cha mẹ, mối quan hệ.
Giả sử tôi kết duyên với một người vô cùng khó chịu.
Và những đứa con thì đang bị quản thúc rất là gắt gao.
Tôi thường hay nói về sự thật rằng, khi chúng ta chịu đựng
khổ đau, thì chúng ta phải trở thành cơn chịu đựng đó.
Đó là phương thức chúng ta tiến bộ, và hoàn toàn đúng.
Nhưng bây giờ thì làm sao áp dụng vào hoàn cảnh khó khăn
này khi nhiều người đều chịu đựng chung một nổi khổ?
Chúng ta làm gì đây? Có nhiều dạng biến đổi của
vấn đề trong mối quan hệ. Ví dụ là, tôi có một người
hôn phối, mà người ấy thì đang làm việc trong một cuộc
nghiên cứu, và nơi thí nghiệm cho luận án này thì phải qua
Phi châu trong ba cho tới bốn năm — còn công việc của tôi
thì ở đây. Vậy thì làm sao? Tôi phải làm gì? Hoặc
tôi có cha mẹ già cần nhiều chăm sóc — nhưng nghề nghiệp
của tôi, trách nhiệm và bổn phận, cần tôi ở nơi khác,
tôi phải làm gì? Những vấn này là thiết thực trong
đời sống ngày nay. Dĩ nhiên không phải tất cả những
vấn đề đều khó khăn như thế này, nhưng những vấn đề
nhỏ nhặt hơn vẫn có thể làm cho chúng ta luôn luôn lo lắng.
Trong
bất kỳ hoàn cảnh nào, lòng hy sinh của chúng ta không nên
cho đến người khác như là cho một cá thể; mà nên là cho
đến một bản thể. Dĩ nhiên, người nhận đó cũng
nằm trong bản thể đó, nhưng vẫn có sự khác biệt giữa
hai tiêu điểm này. Nếu mỗi người của chúng ta là
một phần tử của một tổ hợp nào đó, thì mối liên hệ
của chúng ta thì không phải với những người trong tổ hợp,
mà là với cái “bản thể” của cái tổ hợp đó.
Nói đến cái Bản thể, tôi không phải chỉ ra một cái bóng
ma huyền bí nào đó đang quanh quẩn trên kia. Bản thể
không là gì cả, nhưng nó lại là thứ duy nhất luôn thao túng
đời sống của chúng ta. Nó là “chủ nhân ông”. Tu
thiền hay nhập thất đều nhằm mục đích để hiểu biết
hơn về bản thể của mình. Nếu chúng ta không hiểu
được, thì chúng ta sẽ bị mập mờ bởi mọi vấn đề và
sẽ không biết phải làm những gì cho đúng khi đối diện
với chúng. Cho nên, một thứ mà nên đáp ứng thật sự
thì không phải là một đạo sư, cũng không phải là một
trung tâm (thiền viện, chùa, nhà thờ..), cũng không phải là
một công việc (dĩ nhiên là cần cho đời sống tương đối,
nhưng ở đây đang nói về pháp chân đế), cũng không phải
là một người bạn đời, cũng không phải là một đứa con,
mà là cái Bản thể (hay bản lai diện mục, hay Chân như) của
ta. Vậy làm thế nào chúng ta biết cách để đáp ứng
với cái bản thể đó? Tất nhiên, đó không phải là
dễ dàng gì, và cần mất rất ư là nhiều thời gian, đi chung
với sự kiên nhẫn ngoại hạng để học hỏi.
Sự
tu tập chỉ cho ta thấy rất rõ rằng, phần lớn trong đời
sống của chúng ta, chúng ta không mấy hứng thú gì về bản
thể của mình; chúng ta thích thú với cái Ngã nhỏ bé tương
đối của ta hơn: chúng ta hứng khởi với những gì cái Ngã
đó muốn, những gì cái Ngã đó nghĩ đến, những gì cái
Ngã đó mong mõi, những gì làm cho cái Ngã đó cảm thấy sung
sướng, những gì bảo đảm cho sức khỏe của ta, sự sung
mãn của ta; đó là những lãnh vực mà chúng ta hao tốn hầu
hết năng lực vào. Tu tập tích cực từ từ chiếu sáng
cho thấy sự thật đó. Thật ra, đó không phải là vấn
đề tốt hay là xấu, khi chúng ta có chiều hướng sống theo
lề lối suy nghĩ như thế, nó vận hành theo chiều hướng
do điều kiện tạo ra vậy. Khi chúng ta có được một
chút manh nha về sinh hoạt của mình luôn nằm trong khuông mẩu
của vị kỷ; khi chúng ta nhận thức ra nỗi buồn và bao thống
khổ mà lề lối sinh hoạt này tạo ra, thì đôi khi chúng ta
có thể ngoảnh mặt làm ngơ với nó. Chúng ta có thể
thậm chí có một khoảnh khắc sống theo một chiều hướng
khác hơn: sống với bản thể (Chân như).
Nói
một cách cụ thể, cái gì là phương thức để tiếp xúc
với bản thể? Cách thức thì có thể rất thô thiển,
thậm chí rất ư tàn nhẫn — và đôi khi nó có thể là trái
ngược. Không có một công thức nhất định nào cả.
Có lẽ tôi bỏ công việc làm tương đối tốt của tôi ở
New York để ở nhà chăm sóc cha mẹ tôi. Hoặc lẽ là không.
Không ai, ngoại trừ bản thể của tôi, mới có thể bảo
tôi cái gì tôi nên làm. Nếu sự tu tập của chúng ta
lớn mạnh đến giai đoạn chúng ta không còn hay tự lừa dối
chính mình — bởi vì chúng ta thể nghiệm được bản chất
kinh nghiệm của mình — thì chúng ta biết nhiều hơn về cái
gì là hành động đầy lòng bi mẫn mà ta nên làm. Khi
chúng ta không là ai cả, Vô ngã (dĩ nhiên chúng ta sẽ không
bao giờ đạt đến trạng thái đó một cách hoàn toàn), thì
hành động chân chánh (Chánh Nghiệp) sẽ biểu lộ rõ ràng.
Bất
cứ mối quan hệ nào cũng có thể dạy cho chúng ta hoặc ít
hay nhiều; và một số mối quan hệ, một cách đáng tiếc,
là phải đi đến kết thúc. Đôi khi, cách tốt nhất
cho con người lại là sự phân hóa mối quan hệ để tiếp
tục khoảng đời còn lại. Không một ai có thể nói
cho tôi biết cách nào là tốt nhất; không ai có thể biết
ngoại trừ bản thể của tôi. Không cần biết là mẹ
tôi nghĩ như thế nào, hay dì tôi nghĩ ra sao; và chắc chắn
không cần biết tôi sẽ nói gì về vấn đề này. Có
một vị thầy từng nói, “Cuộc đời của bạn vốn không
mắc mớ gì đến bạn. Cho nên bạn đừng nên lo.” Nhưng
sự tu tập của ta thì chắc chắn là chuyện ta cần phải
làm. Sự tu tập là cách học những gì để giúp cho chúng
ta hiểu được những điều mà chúng ta không thể thấy, chạm,
nếm, hay ngữi. Theo thực chất, bản thể không là gì
cả, nhưng nó lại là ông chủ. Khi tôi nói, nó không
là gì cả, là tôi nói theo nghĩa thông thường; chủ nhân ông
không phải là một vật, nhưng nó lại là thứ duy nhất.
Khi chúng ta lập gia đình, chúng ta không phải kết hôn với
người hôn phối, mà là với cái bản thể. Khi chúng
ta dạy một nhóm trẻ em, chúng ta không phải đang dạy dỗ
những đứa trẻ, mà là chúng ta đang diễn tả cái bản thể
theo chiều hướng thích hợp tới cả lớp.
Những
thứ này vừa nghe qua có sắc thái của chủ nghĩa duy tâm và
xa vời; nhưng mỗi năm phút chúng ta có một cơ hội thực
hành nó. Ví dụ: sự giao tiếp với một người mà người
đó hay làm cho ta khó chịu; một sự kiện nhỏ không như ý,
khi chúng ta cảm thấy người khác nên biết rõ (đừng nên
làm). Cơn bực bội khi đứa con gái của tôi hứa sẽ
gọi điện thoại cho tôi nhưng rồi lại quên. Cái gì
là bản thể trong tất cả những dự kiện này? Thường
khi, chúng ta không thể nào nhận ra bản thể; chúng ta chỉ
có thể thấy ra cách nào mà chúng ta nắm bắt hụt nó.
Chúng ta có thể nhận thức ra nỗi bực bội, phiền muộn,
bồn chồn. Những loại tư tưởng như thế chúng ta có
thể Niệm được. Chúng ta có thể làm được một cách
kiên nhẫn; chúng ta có thể kinh nghiệm sự căng thẳng do tư
duy tạo ra. Nói khác đi, chúng ta có thể kinh nghiệm
được những gì mà chúng ta ép đặt giữa chúng ta và bản
thể của chúng ta. Khi sự tu tập cẩn thận như
vậy được đặt vào cuộc sống của chúng ta trên hết tất
cả mọi thứ khác, chính là lúc chúng ta phục vụ cho ông
chủ — và rồi chúng ta phát triển thêm sự hiểu biết về
những gì cần phải làm xong.
Chỉ
có một ông chủ. Ông chủ không phải là tôi, hoặc một
ai khác, không phải là người giác ngộ này hay là đạo sư
kia; không một người nào có thể là ông chủ cả. Thiền
viện cũng chỉ là một phương tiện cho ông chủ. Hôn
nhân, quan hệ hay bất cứ gì khác cũng như thế. Nhưng
để hiểu thấu được điều này, chúng ta phải chiếu rọi
mọi hoạt động của ta không chỉ một lần, mà là mười-ngàn
lần hay hơn nữa. Chúng ta phải đặt ánh sáng của chiếc
đèn pha (tỉnh giác) vào những tư tưởng không thân thiện
về người hay việc. Chúng ta phải lưu ý rõ ràng vào
những cảm thọ, ham muốn, kỳ vọng, phán xét về người
khác hay bản thân mình — những thứ này phũ kín mọi sự
vật. Chúng ta giống như là một con mực nhỏ, chúng ta
đã tinh nghịch xì ra chất mực làm cho chính bản thân mình
cũng không thể thấy được môi trường chung quanh. Khi
chúng ta thức dậy mỗi sáng, chúng ta lập tức nặn ra mực
rồi. Mực của chúng ta là gì? Mối bận tâm vị
kỷ, chính nó đã che tối tất cả những gì chung quanh ta.
Khi chúng ta sống một đời sống vị kỷ, chúng ta luôn luôn
tạo ra vấn đề. Chúng ta có thể khẳng định là, chúng
ta không thích những câu chuyện thần thoại khủng khiếp,
nhưng chúng ta lại hành động theo những sự khủng khiếp
đó. Có cái gì đó bên trong chúng ta đã luôn bị quyến
rũ bởi sự sôi động của ta và chúng ta bám víu vào nó (cái
gì đó) và làm cho chính mình lu mờ, bối rối.
Tu
tập đúng đắn sẽ đưa chúng ta đi vào sâu hơn vùng không
gian rõ ràng và thực tế (không có dấu vết của giả tạo
và sai lầm), nơi mà mọi sự là như-nó-là — chỉ có sự
vận hành. Sự vận hành này không thể bắt nguồn từ
trạng thái vị kỷ. Tọa thiền sẽ làm tăng vượt bực
cái cơ hội cho chúng ta an trụ trong không gian này nhiều hơn
trong cuộc sống còn lại của chúng ta. Nhưng chúng ta
phải có kiên nhẫn liên tục, và lập trường; chúng ta phải
giữ trạng thái bình thãn và ngồi. Bản thể không là
gì cả. Nó chỉ là sự vắng bóng của tất những thứ
khác. Đó là những thứ gì?