Chương
3: Cảm giác
Sự
tự chế cao hơn
(Lòng
Khoan dung/Chịu đựng)
Ở
vào tuổi chín-mươi-năm, thiền sư Genpo, một đại thiền
sư thời hiện đại, đã nói về cái cửa “Vô môn”, và
ngài chỉ ra rằng, không có cái cửa nào thật sự mà chúng
ta cần phải đi qua để nhận thấy được cuộc đời của
mình ra sao. Tuy nhiên, ngài nói, từ quan điểm của tu
tập, ta phải đi qua một cái cửa, cái cửa của lòng tự
trọng (tự mãn, tự cao) của chính ta. Mỗi người chúng
ta, từ sáng cho đến tối đều luôn đối diện với lòng
tự trọng của mình. Ta phải tự vượt ngang qua cái cửa
“Tự trọng” này, thì mới có cơ hội đi xa hơn.
Lòng
tự trọng thì hay bực tức. Bực tức đây tôi muốn
chỉ là đủ loại chán nản, bao gồm khó chịu, phẫn uất,
ganh tị. Tôi nói nhiều về bực tức để tìm hiểu nó
và học cách làm sao đối trị nó trong tu tập để có thể
đến gần cửa “Vô môn”.
Trong
đời sống hàng ngày, chúng ta biết ý nghĩa thế nào là lùi
lại một chút để nhận diện vấn đề. Thí dụ:
Tôi nhìn Laura đang cắm một chậu bông. Cô ta kéo và
khều những bông hoa rồi đứng lui ra sau, ngắm nhìn xem chậu
hoa có cân đối hay cần điều chỉnh thêm hay không. Nếu
bạn là người may áo, trước tiên, bạn đo, cắt, may, rồi
thử mặc, đứng trước gương soi xem nó như thế nào, vai
có vừa dặn không, đường lai ra sao, v.v.. Cùng thế đó,
để đưa đời ta vào viễn cảnh của cuộc đời, ta nên lùi
lại và nhìn xem hiện cảnh của ta ra sao.
Tu
thiền là giúp ta phát triển khả năng dừng lại để nhìn.
Hãy chọn một ví dụ cụ thể: tranh cãi. Cái nguyên nhân
quan trọng nhất cho sự tranh cải chỉ là lòng tự trọng.
Giả sử tôi có gia đình và có sự tranh cải với chồng tôi.
Ông ấy đã làm một việc mà tôi không lấy làm vừa lòng
— số là ông ấy đã phung phí số tiền dành dụm của gia
đình vào chiếc xe mới — trong khi chiếc xe đang có vẫn còn
dùng được. Tôi nghĩ — sự thật là vậy mà — rằng
tôi thì đúng. Tôi nổi giận, điên tiết lên, muốn la
hét. Vậy tôi có thể làm gì với cơn giận của tôi?
Việc ích lợi gì tôi có thể làm? Đầu tiên, tôi nghĩ
ý kiến hay nhất là dừng lại một phút giây và bước lùi
một bước: hành động và nói năng càng ít càng tốt
trong phút giây này. Trong khi rút lui một chút, tôi
tự nhắc nhỡ mình rằng, tôi thật sự muốn cái gì, có khả
năng tự chế cao hơn. Khi làm thế nghĩa là ta bước vào
một lãnh vực mới, nếu cần phải đặt một cái tên thì
hãy gọi, lãnh vực tâm linh.
Hãy
nhìn vào chuỗi nối tiếp của những bước tu tập. Nên
biết rằng, trong khi cơn giận đang dâng cao, thật sự rất
ư là khó khăn cho ta tu tập niệm Pháp khi nó xảy ra.
Nhưng cố gắng lùi một vài bước, làm và nói thật ít, hay
rời đi nơi khác (nếu có thể, hãy xem mình là một người
khác còn xác thân kia là của người đang trong cơn giận).
Khi ta đã có được khoãng cách đối với hiện trạng, chỉ
(ngồi một mình) trong yên lặng mà quan sát. Ý tôi muốn
nói là, quan sát hay xem cuốn phim đang trình diễn trong tâm
mình: ông ấy đã nói gì, đã làm gì, tôi đã nói gì về
việc ấy, tôi nên làm gì về việc đó… những thứ này
đã xảy ra đều là hoang tưởng. Nó không là sự thật
của những gì đã xảy ra. Nếu có thể (rất khó làm
trong lúc giận) hãy niệm những tư tưởng này. Tại sao
lại khó? Vì khi giận, có một chướng ngại vật đứng
chắn ngang con đường tu tập: Thật sự ta không muốn tu tập
— ta thích thõa lòng tự trọng của mình, thích là người
đúng trong cuộc tranh cải, vấn đề. Ta không muốn tìm
sự thật — ta chỉ muốn bảo thủ quan điểm của mình.
Đó là lý do tại sao, trước hết là phải lùi lại, nói ít
lại. Phải mất rất nhiều tuần lễ hoặc nhiều tháng
thời gian tu tập tích cực mới có thể nhận thấy và làm
được sự kiện này. Cái chúng ta muốn không phải là
người đúng (người kia sai), mà chúng ta muốn xây dựng khả
năng tự chế cao hơn. Lùi lại và quan sát. Đặt
tên (niệm) tư tưởng của cơn sôi động: vâng, ông ấy không
nên làm thế; vâng, tôi không thể chịu đựng được việc
làm đó của ông; vâng, tôi sẽ làm cái gì đó để trả đủa
— phương thức này tuy thô thiển, nhưng nó cũng diễn tả
trọn vẹn một màn kịch.
Nếu
chúng ta thật sự lùi bước và quán sát — như đã nói, rất
khó làm trong khi giận — chúng ta sẽ (có lúc nào đó) có
khả năng thấy được tư tưởng chỉ là tư tưởng (không
thật) và nó không phải là sự thật. Đôi khi, ta phải
trãi qua tiến trình (lùi bước và quán sát) này mười, hai-mươi,
ba-mươi lần mới có thể thấy được tư tưởng bắt đầu
dịu xuống. Khi chúng hạ xuống, thì ta còn lại những
gì? Chỉ còn lại cho ta kinh nghiệm trực quán của những
phản ứng vật lý trong cơ thể, những cặn bả (sự căng
thẳng, sự co rút). Trong kinh nghiệm trực quán không có
nhị biên, ta sẽ có cơ hội đi vào sự tĩnh lặng. Ở
trong trạng thái này, ta tự biết phải làm gì, hành xử ra
sao; cách hành xử tốt nhất cho bản thân ta và cho người
khác. Trong quá trình tạo dựng khả năng tự chế cao
hơn, ta có thể kinh nghiệm trực tiếp được bản thể Chân
như.
Chúng
ta có thể nói về Chân như khi nào con trâu về đến nhà.
Nhưng làm cách nào chúng ta thật sự tách rời bản thân khỏi
những thứ khác? Thế nào? Lòng tự trọng làm phát sinh
cơn giận là cái phân chia ta. Giải pháp duy nhất là tu
tập. Khi tu tập, chúng ta sẽ kinh nghiệm được là, cảm
giác cách ngăn chỉ là một trạng thái rõ ràng của thân.
Lúc đó, lòng bao dung rộng mở.
Những
thứ đã phát sinh và tăng trưởng là mức độ chịu đựng
(tự chế) những thăng trầm đời sống mà không làm cho ta
dao động hay mất thăng bằng. Lúc ban đầu, mức độ
chịu đựng này rất nhỏ có giới hạn, sau đó nó sẽ lớn
rộng hơn, và rồi nó sẽ lớn thêm mãi. Nó sẽ không
ngừng lớn rộng hơn. Trạng thái giác ngộ thì rất bao
la và từ bi. Nhưng bao giờ ta vẫn còn sống, ta vẫn thấy
có sự giới hạn của mức chịu đựng này và đó cũng là
lý do ta phải luôn tu tập. Làm sao ta biết mức chịu
đựng này tới đâu? Khi ta cảm được cơn giận thì
ta nên biết rằng ta đang tới giới hạn cao nhất của mình
rồi; không có gì là bí mật cả. Sức mạnh của sự
tu tập là cái khả năng tự chế tăng trưởng đến mức độ
tương ưng.
Trong
khi tu tập, chúng ta cần nên khoan dung đối với chính mình.
Chúng ta cần phải nhận ra lúc nào tâm của ta không muốn
tu tập. Thật ra không có ai muốn tu tập luôn luôn và
đó cũng không phải là điều xấu gì khi chúng ta không tu
tập. Chúng ta thường hay làm những gì khi chúng ta đã
sẳn sàng để làm việc đó.
Tu
tập để tạo ra khả năng tự chế cao hơn thì có tính cách
tâm linh, bởi vì nó vốn không hình tướng. Cái khả
năng này không phải là một vật; sự nhận biết đâu phải
là một vật; sự chứng kiến đâu phải là một vậy hay một
người. Đâu có một người nào đang chứng kiến.
Hơn nữa, ai đây có thể chứng kiến được thân và tâm của
ta ngoài thân và tâm của chính mình. Nếu tôi có thể
quán sát thân và tâm của tôi trong cơn giận dữ, vậy ai là
người đang quán sát (và ai đang lên cơn giận)? Từ đó
cho thấy, tôi khác với cơn giận của tôi và tôi lớn hơn
nó (vì tôi thấy nó mà nó không chuyển tôi.) Sự hiểu
biết này sẽ giúp tôi phát triển cái khả năng tự chế (sức
chịu đựng) cao hơn lên. Vậy cái mà cần phải tăng
là khả năng quán sát. Cái bị (đối tượng) quán sát
là thứ hai. Chúng ta nổi giận thì không có gì lạ (ta
vẫn là con người mà), nhưng có được khả năng quán
sát cái cơn giận trong lúc nó phát sinh rồi diệt đi mới
là quan trọng.
Khi
khả năng tăng trưởng dần, ban đầu ta chỉ quán sát
(cơn giận), rồi đi đến kinh nghiệm (cơn giận), thì
sẽ có hai yếu tố đồng thời cũng lớn mạnh lên: Trí tuệ,
là khả năng nhìn được thực chất cuộc đời (theo đường
lối vận hành của nó, chớ không phải đường lối ta muốn
nó ra sao), và lòng thương cảm chân thật, tình cảm phát sinh
từ cái nhìn hài hòa với bản chất cuộc đời. Ta không
thể có lòng thương cảm chân thật với bất cứ vật hay
người nào, nếu lòng tự trọng và cơn giận luôn bám víu
theo ta và phát tác bất ngờ; điều đó không thể nào xảy
ra. Lòng thương cảm gia tăng theo độ cao khả năng tự
chế của ta.
Trong
khi tu tập, chúng ta đang giải phẩu đời sống của mình đồng
thời đang học nó. Tiến trình và lợi ích có sự khác
biệt tùy vào trường hợp của mỗi người. Một số
người, tùy thuộc vào điều kiện sống và bối cảnh gia
đình, quá trình này có thể rất thuận lợi và sự giải
thoát thì xảy ra chậm. Những người khác, tiến trình
có nhiều sóng gió, những cơn sống tình cảm to lớn, nó nổi
cuộn lên như một cái đập cao bị vỡ, ta có thể bị choáng
ngợp hay bị nhận chìm. Chính trong những khổ đau, nghịch
cảnh đó đưa dồn họ vào trạng thái cực đoan tương tự
như thế nước cao của cái đập ngay bên bờ đại dương,
chỉ cần đập bị vỡ thì nước trên đập có thể hòa nhập
vào đại dương bao la một cách nhanh chóng.
Tuy
thế, tôi nghĩ rằng, thật là quan trọng cho một tiến trình
đều đặn (đừng lẹ lắm). Nếu nó đi lẹ quá, ta nên
chậm lại. Dĩ nhiên khóc than, dao động, giận dữ không
là điều con người muốn có. Cái đập rồi cũng sẽ
bể, nhưng không cần thiết phải vỡ đập quá sớm, tốt
hơn nên chậm lại. Còn như không thể chậm lại được
thì để nó tự nhiên — ta không cần thiết phải thay
đổi nó. Chúng ta không giống nhau về căn cơ, bối cảnh
cuộc đời, khó khăn trong quá khứ, những thứ này là những
xúc tác quan trọng cho việc cái đập bể chậm. Nhưng
không cần biết là thế nào (dù trắc trở hay trơn tru) thì
bao giờ cũng phải có một cái đập nước tồn tại và sẽ
phải vỡ ra ở một thời điểm nào đó.
Cũng
nên nhớ rằng, một chút ví dõm về tất cả những thứ này
chưa hẳn là điều không tốt. Từ trong tầng sâu thẳm
tâm hồn, chúng ta đâu có từ bỏ một cái gì đâu. Chúng
ta không cần phải từ bỏ những thói quen đã bị ám ảnh
bấy lâu nay; cái chúng ta làm là, thấy được chúng rõ ràng,
và nhận ra chúng ta thật là ngộ nghĩnh (tại sao mình lại
lầm nghĩ và có khuynh hướng như thế trong quá khứ), và đó
cũng là một phần của đời sống thế gian. Thậm chí,
đôi khi ta có cảm tưởng là, toàn thể (người và vật) đều
là điên khùng hết (gồm cả ta trong đó); nhưng khi xưa ta
có bao giờ nghĩ rằng là ta cũng khùng như thế (hay là hơn
nữa) bởi vì đó là lòng tự trọng đã tạo cho ta có ý nghĩ
như thế.
Mở
ra chiếc hộp kỳ bí
Chất
lượng của sự tu tập thì luôn được phản ảnh trong chất
lượng đời sống của chúng ta. Nếu chúng ta thật sự
tu tập đúng đắn thì chắc chắn sẽ có sự thay đổi theo
thời gian. Giờ đây, chúng ta có thể có một ảo tưởng
về sự tu thiền của mình là, tu tập sẽ làm cho mọi sự
việc trong đời sống của mình thoãi mái hơn, trong sáng hơn,
thuận lợi hơn, hạnh phúc hơn, v.v… Không có gì hơn
qua sự thật. Trong khi uống cà phê sáng hôm nay, đột
nhiên có hai câu chuyện thần thoại xuất hiện lên trong đầu
tôi. Tôi nghĩ rằng phải có một lý do gì đó. Chuyện
thần thoại luôn luôn được thể hiện những sự thật căn
bản về con người. Đó là lý do nó vẫn tồn tại theo
thời gian.
Câu
chuyện thần thoại đầu tiên mà tôi nghĩ đến là chuyện
về nàng công chúa và hạt đậu: xa xưa có sự thử thách
cho nàng công chúa là, nếu nàng ngũ trên một cái giường
lót bằng ba-mươi tấm nệm chất lên nhau, cô ta có thể nào
cảm giác được nếu có một hạt đậu nằm dưới tấm nệm
dưới cùng. Bây giờ nếu bạn nghĩ là, tu thiền sẽ
chuyển hóa ta thành những công nương, hoàng tử. Không,
ta sẽ trở nên dễ thông cảm và nhạy bén hơn; chúng ta sẽ
biết nhiều điều về ta và người khác mà ta không biết
trước kia. Chúng ta trở nên truyền cảm hơn nhưng đồng
thời đôi khi dễ cáu kỉnh, hay bực bội nữa.
Câu
chuyện kia nói về cái hộp kỳ bí. Bạn nhớ — người
nào đó tò mò về cái gì ở bên trong một cái hộp kỳ dị
và cuối cùng nhịn không nỗi, đã mở nó ra — và những
đồ vật, rác rến tuông ra, tạo nên không gian rối loạn,
không trật tự. Tu tập đối với ta cũng thường xảy
ra như thế. Mở cái hộp (Tâm) ra.
Mọi
người chúng ta cảm giác là, chúng ta và đời sống thì phân
cách nhau; giống như có một bức tường bao lấy chung quanh
ta. Dù là bức tường vô hình, nhưng nó hiện hữu.
Khi nào ta còn cảm giác phân cách với đời sống là ta có
cảm giác bức tường tồn tại. Người giác ngộ thì
không có bức tường đó. Tôi thì chưa có hân hạnh gặp
được một người như thế. Thế nhưng, với sự tu tập,
bức tường đó sẽ từ từ mờ nhạt đi và sẽ hoàn toàn
biến mất.
Bức
tường đã giữ cho chúng ta bị biệt lập. Chúng ta có
thể bồn chồn, có những tư tưởng xáo trộn, nhưng chính
bức tường che khuất làm cho chúng ta không nhận thức ra được
những cảm giác đó. Nhưng khi ta tu tập (và nhiều bạn
đã biết điều này), giống như chúng ta bắt đầu tạo ra
những cái lỗ trên bức tường này. Trước kia nó bao
quanh ta một cách liền lạc và kín mích, còn bây giờ thì
nó có nhiều lỗ, vì sự tu tập giúp cho ta ý thức và nhạy
bén hơn. Ta không lý gì ngồi bất động ra đó trong nửa
giờ mà không học được điều gì. Ngày lại ngày qua,
ba-mươi phút mỗi ngày, ta học và học không cần biết ta
có thích hay không.
Khi
sự bít bùng không còn bởi đã có những lỗ hỗng, âm thanh
và màu sắc có thể xuyên qua bức tường. Dĩ nhiên mục
đích của bức tường là ngăn cách không cho chúng ta biết
những gì về mình. Nhưng khi những lỗ đã xuất hiện thì
cũng giống như cái hộp kỳ bí kia sắp bật mở ra.
Điều lý tưởng của tu thiền là làm cho cái hộp (Tâm) đừng
bật mở tung ra. Bời vì sự giải thoát là một điều
gì không thể đoán trước được. Cho nên, nếu cái hộp
mở sớm quá — mọi sự sẽ phơi bày ra lúc này (những thứ
trong hộp hay những sự thật về bản tâm ta). Nếu tâm
ta đủ trưởng thành để đón nhận hiện trạng thì mọi
sự trở nên hoàn hảo; bằng ngược lại, có khi kết quả
còn tệ hại hơn.
Cái
hộp kỳ bí là tất cả những hoạt động của cái vị kỷ,
và những cảm xúc tương ứng mà nó tạo ra. Ngay cả
khi ta tu tập thật tốt, cũng có lúc (trong vài trường hợp)
cái hộp muốn nổ tung ra — và bất ngờ như một cơn bảo
xảm xúc cuốn xoáy quanh ta. Nhiều người không thích
ngồi khi sự cố này xảy ra. Nhưng những người có lòng
quyết tâm cao, họ sẽ vượt qua một cách dễ dàng và tiếp
tục tọa thiền. Trong đời tôi, sự từ bỏ xảy ra rất
vi tế, chắc có lẽ bởi vì tôi tọa thiền nhiều và dự
nhiều lần nhập thất.
Ở
trung tâm Thiền, tôi đã chứng kiến nhiều thiền sinh trưởng
thành trong tu tập và bắt rễ đi vào đời sống của họ.
Như thế không có nghĩa là cái hộp kỳ bí kia không mở; cả
hai đang biến chuyển: sự hình thành và sự khó chịu.
Đối với một số người, đây là khoãng thời gian nhức
nhối khi cái hộp đang chuẩn bị mở. Ví dụ, một cơn
giận bất ngờ xuất hiện. Nó trái ngược lại cái ảo
tưởng mà mình đang có là, trong khi tu tập là ta luôn có hạnh
phúc và tình thương. Cái hộp kia có mở hay không là
do điều kiện chung quanh (cần hay không cần), thì là chuyện
bình thường; không xấu cũng không tốt; nó chỉ vậy.
Tương tự như, chúng ta rất muốn cuộc sống của mình được
tự chủ và không phải bị trói buộc trong lề lối chỉ biết
phản ứng lại môi trường chung quanh; thay vì đáp ứng lại
nó. Do đó, chúng ta cần phải tu tập vào những
thời điểm mà ta đang phản ứng lại môi trường, đó mới
là chính yếu.
Tu
tập thì không dễ tí nào cả. Nó sẽ chuyển biến đời
sống của ta. Nhưng nếu ta có một ý tưởng khờ dại
là sự chuyển đổi có thể hoàn thành mà không phải trả
một cái giá (không tốn công sức), thì rõ là ta đang tự
lừa dối chính mình. Đừng thực hành ngoại trừ bạn
cảm thấy không còn việc gì khác để làm. Nếu bạn
thấy đi lướt sóng, tập thể lực, rèn luyện khả năng âm
nhạc là điều bạn muốn (hay thích) làm, thì nên làm thế.
Đừng tu tập trừ khi bạn cảm thấy mình cần làm vậy.
Bởi vì, tu tập thật sự cần lòng dũng cảm cao độ; bạn
sẽ phải đối diện mọi thứ về bản thân đang được giấu
kín trong chiếc hộp kỳ bí đó, bao gồm những khó chịu nhất
mà bạn không muốn biết tí nào cả.
Tu
thiền ta phải gầy dựng một phương thức sống. Theo
từ ngữ truyền thống, đời sống đó đặt căn bản trên
những lời nguyện, nó vượt lên trên điều yêu cầu cá nhân:
ta phải lập nguyện rằng, cuộc đời ta sẽ gầy dựng theo
tiêu chuẩn chung và cũng sẽ làm mẩu mực cho người khác.
Nếu chúng ta đang sống với ý thức hệ (hãy bỏ qua vấn
đề tốt hay xấu, nó chỉ là một ý thức hệ) là chỉ vì
mình, chỉ quan tâm về “ta cảm giác ra sao”, hay là “ta
muốn những gì”, thì tu thiền sẽ là một việc rất khó
khăn. Có lẽ chúng ta nên chờ một thời gian. Là
một người hướng dẫn, tôi có thể súc tiến sự tu tập
và khuyến khích hành giả tinh tấn, nhưng tôi không thể sống
cho người khác, bởi vì trong đời sống thì sự tu tập mới
là nơi chốn để thiền tập có tác dụng.
Cái
hộp thì đang hé mở cho một số người ở đây — bạn phải
làm thế nào với những thứ rác rển đó? Đây là những
thứ bạn nên biết vì nó sẽ làm xáo trộn giai đoạn tu tập
của bạn. Một là, đối với những người đi trên con đường
này, nó rất là bình thường — thật ra, rất cần thiết.
Hai là, nó sẽ không tồn tại lâu dài. Và ba là, nó sẽ còn
trở lại nữa vào lúc khác, vào lúc khi ta cần hiểu biết
sự tu tập của mình và biết kiên nhẫn là cái gì. Nhất
là trong thời gian nhập thất. Nếu bạn đã tọa thiền
hai-mươi, ba-mươi năm, tu học hay không thì không còn là quan
trọng nữa. Nhưng ở vào một giai đoạn nào đó, tu học
hay nhập thất rất ư là quan trọng, và bạn nên tham gia càng
nhiều, khi hoàn cảnh sống cho phép, thì càng lợi ích.
Lời khuyên đó hàm ý cái sức mạnh để duy trì cường độ
của tu tập. Nếu chúng ta không muốn loại “dành riêng
cho tu tập”, thì cũng không là một điều xấu, tôi muốn
nhấn mạnh rõ ở điểm này. Đôi khi người ta cần mười-năm
hay là dài hơn lang thang, thơ thẫn, chờ cho cuộc đời dạy
cho mình những bài học thực tiễn, trước khi sẳn sàng để
cam kết cho một sự tu tập nồng nhiệt.
Vậy
cái hộp kỳ bí đó đã làm đão lộn và quấy rầy ta, đã
làm trồi lên những thứ mà chưa hề nhận thức được từ
trước: sự oán hận của ta đối với cuộc đời. Nó
(sự oán hận) sẽ thiêu cháy ta sớm hay muộn. Đây là
cái Ngã, cơn oán hận cuộc đời bởi vì cuộng đời không
xảy ra theo chiều hướng chúng ta muốn. “Nó không chìu
theo ý ta! Nó không cho tôi cái mà tôi mong muốn! Tôi muốn
đời phải ưu đãi tôi hơn!” Nó là sự phẫn nộ của
ta khi con người hay sự kiện trong cuộc đời không cho những
gì chúng ta mong muốn.
Có
lẽ cái hộp của bạn giờ đây đang mở ra giửa chừng rồi.
Ở một lúc nào đó, tôi muốn bạn chia sẽ những gì ích
lợi mà bạn đã tìm thấy trong sự tu tập lúc này. Là
thiền sinh, trên vài phương diện, có thể ích lợi cho bạn
đạo hơn so với người như tôi; vì tôi có thể không còn
nhớ gì những kinh nghiệm vào giai đoạn này nữa. Tôi hiểu
về sự xung đột nhiều hơn, nhưng kinh nghiệm về những khó
khăn có thể nhạt dần. Đó là một trong những điều
tốt về giáo đoàn; vì nó là một nhóm người có cùng một
đường lối tu tập chung. Trong giáo đoàn, ta có thể
thành thật, ta không cần phải giấu kín những khó khăn, trở
ngại của mình. Điều đau đớn nhất là khi mình có
ý nghĩ, tôi thật không bình thường, và không ai lại có quá
nhiều trắc trở như tôi. Dĩ nhiên, đó không phải là
sự thật.
Đừng
Giận
Khi
tôi giảng, tôi cố gắng làm sáng tỏ vấn đề bằng mọi
phương tiện thiện xảo đã xảy ra chính vào bản thân tôi,
hầu mong giúp được người khác rút tỉa cho riêng họ, để
đả phá mê lầm. Nói về vấn đề này thật là khó
khăn. Tôi không bao giờ thích giảng pháp, bởi vì ngôn
từ không thể nào diễn đạt hết sự thật: tôi luôn có
chiều hướng đi xa trọng tâm của vấn đề, hoặc dùng không
đúng từ, làm người khác lẫn lộn… Nhưng một lần nữa,
đây cũng là một phần của tu học. Pháp thoại không
nhất thiết phải được hiểu; nếu nó làm cho bạn phản
ứng và lờ mờ, đôi khi đó lại là điều tốt. Ví
dụ: Chúng ta có thề nói, mọi người trên thế gian ở giây
phút này, đang là tốt nhất với tất cả khả năng của họ.
Chính cái từ “tốt nhất” tạo ra vấn đề. Tương
tự như câu nói, “mọi sự như nó đang là, thì hoàn hảo”
cũng có rắc rối nữa. Hoàn hảo? Làm tốt nhất?
Ý của bạn là, khi một người làm một điều đồi bại,
là lúc họ đang làm tốt nhất? Chỉ nhận thức qua từ
ngữ ta dùng cũng đủ nói lên sự xáo trộn kinh khủng trong
đời sống và sự tu tập cùa ta như thế nào rồi.
Sự
thật cuộc sống của chúng ta thì mập mờ bởi vì chúng ta
có sự xáo trộn khái niệm (thay vì kinh nghiệm tuyệt đối)
về thực tại. Cho nên, pháp thoại có chiều hướng đã
phá khái niệm tương đối của ta. Khi dùng từ theo lối
cụ thể tạo ra nhiều nghi vấn cũng là điều ích lợi.
Hôm nay, tôi muốn tạo ra thêm nhiều sự mơ hồ. Tôi
sẽ kể cho bạn nghe một mẫu chuyện và rồi đánh lạc hướng
vấn đề để xem chúng ta sẽ đi đến đâu. Ở trung
tâm này, chúng ta không nói nhiều về Kinh tạng hoặc Bát Chánh
Đạo, vì lý do: người giảng sai ý Kinh tạng là phạm luật.
Đó không phải là lý do chính và duy nhất. Tuy nhiên,
hôm nay tôi muốn nói về lời Kinh dạy “Đừng giận”.
Tôi sẽ không nhắc lại, nhưng đề tài của bài giảng là:
“Đừng giận.”
Giả
sử, chúng ta đang ở trong một cái hồ rộng bao phủ bởi
nhiều (không quá dày đặc) sương mù và đang bơi nhẹ chiếc
thuyền con một cách nhàn hạ. Bổng bất chợt từ trong
sương mù, chiếc thuyền con khác xuất hiện và xâm xâm đâm
thẳng vào con thuyền của chúng ta. Và rồi… rầm!
A, trong giây phút này, ta thật sự nổi cơn lên — cái tên
ngu xuẩn nào thế? Tôi mới vừa sơn chiếc thuyền xong,
thế mà giờ lại bị đụng như vầy. Nhưng khi quay qua
thì thấy chiếc thuyền kia không có người. Cái gì xảy
ra cho cơn giận? Nó sẽ như cái bong bóng xì hơi.. Tôi lại
phải sơn chiếc thuyền thêm một lần nữa, vậy thôi.
Nhưng nếu có một người hiện diện trên chiếc thuyền kia
thì sự thể sẽ ra sao? Bạn biết cái gì sẽ xảy ra!
Những sự va chạm bất ngờ với cuộc đời, con người, sự
kiện, cũng giống như cái tống mạnh không kềm thắng của
con thuyền trống kia thôi. Nhưng khổ thay ta lại không
kinh nghiệm cuộc đời bằng lối dẫn giải này. Ta kinh
nghiệm những va chạm kia giống như luôn luôn có người hiện
diện trên chiếc thuyền kia, và ta thật sự bị những kẻ
đó nện liên tục từng đòn này sang đòn khác. Ý của
tôi chỉ muốn nói, tất cả những đụng độ trong cuộc đời
chỉ là sự va chạm với chiếc thuyền trống không có người
trên đó. Thế thôi!
Hãy
để câu hỏi đó qua một bên một chút. Người ta thường
hỏi rằng, “Bạn học (có) được gì từ sự tu tập?”
Cái thay đổi là gì? Cái chuyển hóa là gì? Tu thiền
là việc làm gian khổ, giới hạn và khó khăn. Ta đã
được dạy là phải ngồi mỗi ngày. Ta sẽ được gì
từ những thứ này? Người ta thường nghĩ, “Tôi sẽ
tiến bộ. Tôi sẽ tốt hơn. Nếu tôi dễ mất bình
tỉnh, có lẽ sau thời gian tọa thiền tôi sẽ không dễ dàng
mất bình tỉnh.” Hoặc là, “Thành thật, tôi không
là thiện nhân, có lẽ sau thời gian tu tập, tôi sẽ thành
người tử tế.” Tất cả những ý tưởng này không
hoàn toàn đúng. Cho nên tôi muốn kể cho bạn nghe vài
sự kiện nhỏ để là sáng tỏ thêm vấn đề một chút.
Tôi
muốn nói về cái chảo phẵng trong nhà tôi, nơi tôi sống
với Elizabeth. Tôi về hưu, nên ở nhà cả ngày.
Sau mỗi lần tôi xả hết nước trong bồn rữa chén, tôi hay
đặt cái chảo phẵng trong đó, dùng nó như là một cái dĩa
úp những cái ly cần dùng trong ngày, vừa tiện lợi.
Tôi nghĩ cách này là tốt nhất. Nhưng mỗi lần Elizabeth
rữa chén, cô ta rữa cả cái chảo phẵng và úp nó xuống
cho ráo nước. Vào buổi trưa, tôi ở nhà một mình, nhưng
cô ta về nhà vào mỗi ngày lúc năm giờ chiều. Vậy
tôi hay nghĩ, “A, tôi là người hay là con chuột? Tôi
nên làm sao về cái chảo phẵng? Tôi nên đặt nó theo cách
của Elizabeth muốn hay không?” Tôi làm cái gì đây? Thật
ra, tôi thường hay quên bẵng cả vấn đề và làm theo thói
quen.
Có
vấn đề khác về Elizabeth. Tôi sống chung với Elizabeth
và cô ta thì rất tốt, nhưng tính tình cô ấy thì hoàn toàn
khác với tính tôi. Một điều thú vị trong cuộc sống
của tôi là tìm thấy một món đồ gì trong phòng chứa đồ
mà tôi có thể bỏ.. đi. Elizabeth thì khác, cô ta có nhiều
cái cho một thứ và không muốn bỏ đi bất cứ món gì.
Vậy thì, khi tôi muốn tìm thứ gì cũ, tôi thường không thể
bởi gì tôi đã liệng bỏ hết. Còn cô ta thì không thể
tìm được món cô muốn tìm, bởi vì cô ấy có quá nhiều
món trong một lúc.
Thêm
một ví dụ nữa rồi ta sẽ trở lại vấn đề: Tôi kể bạn
nghe cái cảnh trạng khi tôi đi xem xi-nê với con gái của tôi:
“Mẹ! mẹ đã biết những cuốn phim mẹ chọn thì thật là
tệ!” Và tôi nói, “À! con không nhớ cái cuốn phim
mà con chọn lần trước chúng ta xem sao? Thế nào?” Rồi
tranh cãi, đưa đẫy… rồi cuối cùng chúng tôi xem đại một
cuốn phim nào đó.
Ý
nghĩa của những mẫu chuyện này là gì? Căn bản đó
chỉ là những vấn đề vụn vặt, nhưng ta đừng để mất
đi thói quen tỉnh giác từ sự tu tập. Tôi và con gái
tôi thật ra không quan trọng hóa gì về cuốn phim nào, nhưng
cãi cọ với nhau cũng là một phần của đời sống.
Đó chỉ là mặt vui nhộn của cuộc đời, bạn có nghĩ vậy
không? Ta không cần phải phân tích nó, chia xén nó, hoặc
nghị luận về nó. Kỳ diệu của đời sống với mọi
hoàn cảnh là .. gì? Sự hoàn hảo của bản chất hiện
trạng của nó như-nó-là.
Bây
giờ bạn có thể đang nói rằng, đó chỉ là sự kiện tầm
thường ở mức độ thô thiển. Còn những vấn đề
quan trọng hơn như phiền não, sân hận? Tôi sẽ trả
lời là, chúng thì cũng không khác. Nếu bạn có người
thân mới từ trần, thì thực chất của nổi buồn chính là
kỳ diệu của cuộc sống, và là trạng thái của bạn lúc
đó. Và trong trạng thái đó theo phong cách của bạn chứ
không phải của tôi. Tu tập là sẳn sàng cho cái hiện
trạng của đời sống — từ ngữ “sẳn sàng” cũng không
diễn tả đúng. Phần lớn cuộc đời, như trong câu chuyện
tôi kể, thì khôi hài, ta chỉ có thể nói thế; nhưng ta thì
không chịu nhìn nó với khía cạnh khôi hài. Ta luôn nghĩ
rằng người chung quanh ta nên khác đi: “Tôi nghĩ họ nên
là thế này.” Khi ta đến điểm mà ta gọi là “điểm
nóng” trong cuộc đời, nó không thú vị gì cả — tôi thì
không nói thế — nhưng cũng vẫn “như-nó-là”, nó vẫn
hoàn hảo.
Tôi
muốn thêm một điểm nữa: Tôi nghĩ sự tu tập vững vàng
là khả năng thể nhập với đời sống và sống trong nó với
“như-nó-là”. Đó không có nghĩa là, bạn không có
quyền duyệt xét, mọi thứ lăng xăng về đời. Bạn
vẫn có! Nhưng đó không phải là điểm quan trọng. Nó
giữ vai trò theo một cách khác. Tất cả phương pháp
tu tập là để vời cái “điểm nóng” ra xa hơn, có thế
ta có thể chịu đựng (hay tự chế) lâu và nhiều hơn.
Ban đầu ta chỉ có thể giữ (bình thản đối với) vài sự
kiện trong một chừng mực nào đó. Nhưng sau sáu tháng
tu tập thì cái “điểm nóng” đó kéo dài xa hơn, rồi một
năm, mười năm, lâu hơn… Nhưng khi nào ta còn sống thì ta
vẫn còn “điểm nóng” đó, và tùy vào thành tựu trong tu
tập mà nó xa hay gần mà thôi.
Trong
lúc sự thực hành của chúng ta trở sang giai đoạn phức tạp,
chúng ta sẽ cảm giác được cái lòng tham to lớn, sự tàn
nhẫn kinh khiếp của chính mình. Chúng ta thấy ra nhiều
thứ trong đời sống mà ta ngoãnh mặt làm ngơ, rồi những
thứ mà ta không chịu bỏ qua; thêm những thứ mà ta ghét bỏ;
cũng như những điều mà ta không thể chấp nhận. Và
nếu chúng ta tu tập một thời gian dài, chúng ta sẽ có nỗi
buồn về những điều đó. Nhưng cái mà ta bỏ qua (vô
tình) không thấy là lãnh vực mà sự tu tập tiến bộ —
lãnh vực mà ta có sự đồng cảm với cuộc sống như-nó-là.
Chỉ là sự dễ thương, nhiệt tình của Elizabeth như chính
là bản thân cô ta, chứ không phải là gì khác mà cô nên
là; cô ta tốt đẹp với như cô-ta-là vậy, cũng như chính
tôi, chính bạn, chính tất cả mọi người. Cái phạm
trù này lan rộng, nhưng luôn luôn có một điểm mà nơi ấy
ta không thể nào thấy được sự toàn mỹ. Và đó là
cái điểm mà ta cần tu tập. Nếu bạn là hành giả sơ
cơ, thì “điểm nóng” đó đang ở ngay đây. Không sao
cả! Tại sao nó lại phải ở nơi khác? Theo thời gian
của dòng đời, cái “điểm nóng” đó di động, không bao
giờ biến mất, nó luôn hiện hữu. Đó là lý do tại
sao chúng ta ở đây hôm nay. Ngồi như chúng ta đang ngồi,
và mặc cho cái gì sinh ra rồi diệt đi bên trong chúng ta.
Sinh ra, trụ đó, rồi diệt mất. Nhưng khi ta tới “điểm
nóng” thì ta không còn nhớ gì nữa những gì ta đang cần
phải làm. Bởi vì rất ư là khó khăn khi ta đang ở nơi
điểm này. Tu tập thật là không phải dễ dàng gì.
Những
thứ vụn vặt trong đời không làm tôi bận lòng. Ngược
lại nó còn làm tôi thấy vui vui. Thỉnh thoảng, tôi còn
thấy thích tranh cãi với con gái của tôi nữa. “Mẹ!
bao nhiêu năm qua rồi mà mẹ vẫn không thể nào buộc giây
an toàn khi ngồi trên xe?” “À! tôi không thể.”
Đó cũng là cái thú vui, khi sinh hoạt với người khác.
Nhưng còn về cái “điểm nóng” thì sao? Đó là nơi dành
cho tu tập. Và để hiểu cũng như thực hành nó, hay nhớ
áp dụng nó vào mọi thời, nhất là lúc ta không muốn thực
tập — đó cũng chính là lúc thực tập trở nên cần thiết
nhất. Chúng ta không muốn trở thành thánh nhân, mà là
một con người thật sự, với tất cả mọi thứ thăng trầm
trong đời sống và cũng hòa nhập với những buồn vui cuộc
đời của người chung quanh. Khi chúng ta không thể làm
được thế, thì chúng ta nên nhận ra đó là dấu hiệu báo
cho ta biết, đây là lúc tu tập. Tôi biết thế — tôi
đã gặp điểm này vào tuần trước. Nó thật không dễ.
Nhưng tôi đã đi qua nó và bây giờ tôi chờ đợi cho điểm
đó sẽ xảy ra lần nữa và rồi lần nữa. Đó là sự
tu tập của tôi.
Đồng
thời chúng ta có thể nhạy bén hơn đối với đời sống
của mình và bản chất thật của đời sống, chúng ta không
thể nào trốn chạy. Chúng ta có thể thử tránh né một
lúc và phần lớn con người cố gắng càng lâu càng tốt;
nhưng thật ra, chúng ta không thể nào chạy mãi được.
Nếu ta tọa thiền vài năm, thì ta chạy trốn càng khó khăn
hơn. Vì vậy tôi mong rằng các bạn hãy tri ơn sự tu
tập của mình, cuộc đời mình, và người khác. Chỉ
thế thôi, không có gì là phức tạp; và nhận thức được
“điểm giới hạn” của mình. Ai cũng có “điểm nóng”
đó cả. Bạn có lẽ ngoãnh mặt nơi khác và chối từ
nhìn nó, nhưng nếu bạn làm thế thì bạn sẽ không bao giờ
trưởng thành và hoàn cảnh chung quanh bạn cũng không tốt
hơn. Nhưng chắc chắn là bạn không thể nào tránh né
hơn khoảng thời gian nhất định.
Hỏi:
Thỉnh thoãng khi tôi đọc về thiền, dường như là ta chỉ
là một khán giả.
Joko:
Không! Chắc chắn không phải là một khán giả. Bản
thân của Thiền là hành động.
Hỏi:
Chừng như có liên hệ đến “điểm hạn chế”. Khi ta ở
ngay vào “điểm hạn chế” đó, thì hành động mà ta chọn
luôn có vẽ không được sáng suốt như là cách ta nên làm…
Joko:
Hãy trở lại chiếc thuyền. Giả như, phần lớn chúng
ta đã kinh nghiệm qua khi quây quần với nhiều trẻ con có
thể thấy những sự việc chúng hay làm — ngay cả nếu chúng
chạy đến gần và đá vào ống quyễn của bạn — đó là
một chiếc thuyền trống không, phải không? Bạn phải
chấp nhận vậy. Tôi nghĩ đức Thế tôn có nói, “Tất
cả chúng sanh là con ta.” Điều muốn nói là, để cho
cái “điểm giới hạn” đó di chuyển, ta cần phải tu tập
những khi ta không thể xem “Tất cả chúng sanh là con ta.”
Tôi nghĩ đó là cái bạn vừa muốn nói.
Hỏi:
Tương tự nhưng xa hơn một chút: thay vì nói đứa trẻ sắp
đá vào ống quyễn ta, mà là sắp châm lửa đốt nhà.
Joko:
Vâng, ngăn cản nó! Lấy que diêm đi! Nhưng mà nó làm thế
vì có một lý do nào đó (theo nó đang nghĩ vào lúc ấy).
Cố gắng tìm cách giúp nó hiểu để học từ cái vấn đề
đang xảy ra.
Hỏi:
Nhưng khi ta ngăn cản nó, thầy sẽ làm gì khác hơn nếu thầy
cảm thấy hành động đó có tính cách xúc phạm cá nhân.
Joko:
Nếu vậy, thì đành chấp nhận thôi. Với trẻ con thường
thường ta thấy đó là xúc phạm cá nhân, đúng vậy không?
Nhưng nếu ta suy nghĩ trong mười giây, ta sẽ biết rằng ta
phải có lối hành xử thích hợp với một đứa trẻ; ta có
thể làm vậy trừ khi ta cảm thấy lòng tự trọng của ta
bị đe dọa bởi hành động của đứa bé. Lúc đó chiếc
thuyền không còn trống không nữa. Tất cả bậc cha mẹ
đều có loại phản ứng này. Chúng ta muốn con cái của
chúng ta hoàn hảo; chúng nên là những đứa con gương mẩu
nếu không người ta sẽ chê cười và chê trách chúng ta. Nhưng
chúng chỉ là những đứa trẻ. Chúng ta không hoàn toàn
và chúng cũng không hoàn toàn.
Hỏi:
Thầy có nhắc qua, “Đừng giận dữ.” Tôi có thắc
mắc về điểm này. Thầy nói rằng, khi cơn giận trổi lên,
hãy để nó tự nhiên! chỉ chứng kiến và để nó đi qua.
Nhưng nếu tôi có thói quen phản ứng bằng cách này hay cách
khác trong cơn giận qua khoảng thời gian, thì làm cách tôi
để nó đi qua?
Joko:
Theo kinh nghiệm cơn giận không có lời nói hay hình tướng.
Bạn không thể nào bắt buộc nó đi, nhưng bạn đâu cần
bắt buộc phải trút lên đầu người khác.
Hỏi:
Tôi muốn suy diễn thêm trường hợp tương tự của chiếc
thuyền. Nếu ta thấy chiếc thuyền kia đang đi về phía
chúng ta và có người trên đó, ta có lẽ la hét lên, “dừng
lại và giữ một khoãng cách!” Ngay cả nếu đó là
chiếc thuyền trống, ta có lẽ chỉ vớ mái chèo và chống
chiếc thuyền qua một bên, không cho nó đụng vào thuyền của
chúng ta.
Joko:
Đúng, ta sẽ phải làm hành động thích hợp vào lúc ấy.
Hỏi:
Tôi không dám chắc là vậy, bởi vì thông thường ta sẽ hét
lớn, ngay cả nếu nó là một chiếc thuyền trống; ta đổ
thừa cho ông trời hay bất cứ gì khác.
Joko:
Vâng, nó giống như trường hợp cái chảo phẵng. Bạn
có thể la to, nhưng có sự khác biệt giữa lúc đó và sự
suy nghĩ về sự kiện này vào lúc ở mười dặm sau đó.
Hỏi:
Mặc dù không có ai trong đó, ta vẫn viện lý do để đổ
cho tạo hóa đã làm ra vấn đề cho chúng ta. Ngay cả
khi nó là chiếc thuyền trống, ta vẫn đặt một người nào
đó vào đó.
Joko:
Vâng! Đúng vậy. Nó thì luôn luôn là con thuyền trống.
Điểm chính một lần nữa, càng tu tập lâu thì nó xảy ra
ít đi. Không phải vì ta nói, “Tôi sẽ không giận”
— phản ứng thì không có đó. Ta cảm thấy khác hơn
và ta có thể không biết là tại sao.
Hỏi:
Nếu chúng ta kinh nghiệm cơn giận đang lên cấp, thì có phải
đó là dấu hiệu của điểm giới hạn của ta?
Joko:
Vâng, đó là lý do tại sao tôi nói cái đề tài của cuộc
nói chuyện này là “đừng giận dữ.” Lại một lần
nữa, điểm chính yếu là hiểu được ý nghĩa của tu tập
đối với cơn giận; nó không phải là một luật cấm (hay
là giáo điều) đơn giản, nó sẽ không có ích lợi gì.
Hỏi:
Rõ ràng là tôi vẫn phải thực hành thêm nữa. Cái gì
xảy ra cho tôi, khi những tai họa bộc phát như là: “Tôi
không nên bị trắc trỡ này.” “Bạn tôi không bị thế.”
“Làm thế nào nó lại xảy ra?” Tôi bị trói buộc trong
sự bất công và cứ lần mò theo đường hướng chống trả
lại sự không công bằng mà tôi nghĩ.
Joko:
Không sao. Nó thật là rất khó, vô cùng khó khăn. Nhưng nó
cũng là cơ hội cho sự tu tập.
Hỏi:
Tôi bị mập mờ khi nghe nói về sự giác ngộ bất chợt.
Nếu đây là một quá trình, thì thế nào là trạng thái giác
ngộ?
Joko:
Tôi đã không có nói là có. Nhưng kinh nghiệm giác ngộ
— thình lình thấy Chân lý như-nó-là — chỉ có nghĩa là,
trong giây phút đó cái tư tưởng tương đối về cuộc đời
đang vắng mặt. Và trong phút giây đó người ấy nhận
diện được Chân lý. Cái nguy hiểm đối với kinh nghiệm
giác ngộ là người ta bám víu vào nó, trân quí nó, để rồi
nó trở thành một chướng ngại. Điểm quan trọng không
phải là sự kinh nghiệm — mà là hòa nhập nó với dòng sống
của ta. Nếu có giá trị, thì kinh nghiệm đó chỉ có
giá trị bên trong ta, ta không cần phải lo lắng gì về nó.
Cho phần lớn chúng ta, chiếc thuyền đó luôn đầy ắp người,
ít khi nào nó trống không. Và do vậy.. “điểm giới
hạn” của ta là ở đây. Ta chỉ cần làm việc từ
nơi đây. Còn nhớ không hai bài kệ từ thời Ngũ tổ
— một nói về không ngừng lau chùi cái gương, bài kia nói
về cái gương vốn không có thật thì cần gì phải lau chùi.
Nhiều người lý luận rằng, nếu bài kệ sau đúng thì bài
kia sẽ không có ích lợi gì. Nhưng thật ra không phải
thế, sự tu tập của chúng ta trước tiên là nghịch lý.
Lau chùi tấm gương. Cái điểm giới hạn là nơi lau chùi
tấm gương. Cho nên đó là điều cần thiết. Bởi
vì khi làm việc này (tọa thiền) ta sẽ thấy được nét hoàn
mỹ của sự vật như-nó-là. Ta không thể nào thấy được
ngoại trừ khi ta trãi qua sự tu luyện khắc khe, khó chịu.
Hỏi:
Vậy! Đó là điều tốt để kinh nghiệm cơn giận.
Joko:
Nếu bạn học được từ nó. Tôi không nói gì về việc
trút cơn giận lên người khác. Đó là vấn đề khác.
Ta hay làm điều đó. Tôi không nói ta không làm điều
đó; nhưng đó là việc làm không mang lại lợi ích gì cả
(nếu không muốn nói là có hại). Cái kinh nghiệm về
cơn giận thì rất là vi tế, nó không om sòm tí nào cả.
Hỏi:
Tôi nghĩ là, vấn đề phát sinh lúc thầy nói, “Đừng giận”,
rồi lại nói, “Cứ giận.”
Joko:
Ta nên thận trọng ở chỗ này.. Tôi nói rằng, nếu cơn giận
là bạn, thì kinh nghiệm nó. Cuối cùng nó chỉ còn là thực
chất của phút giây hiện tại. Vậy, nếu ta giả vờ
như là cơn giận không có nổi lên và che đậy nó với cách
tự điều khiển chính mình như là “Đừng giận,” thì ngay
đó, ta không có cơ hội để nhận ra cái thực chất của
cơn giận như-nó-là ra sao. Cái mặt trái của cơn giận,
nếu ta kinh nghiệm sự trống rỗng của nó và đồng hành
với nó, luôn là sự đồng cảm. Nếu ta thật sự cùng đi
chung với nó suốt con đường.
Nỗi
Sợ hãi không thật
Bởi
vì chúng ta là con người, chúng ta có chiều hướng tạo ra
nhiều vấn đề không thật. Sở dĩ, có vấn đề là
vì chúng ta không có sự chọn lựa, mà chỉ biết sống theo
sự cá biệt và tư tưởng kỳ hoặc của tâm. Cái lối
suy nghĩ của chúng ta thì không giống như lối của con mèo,
hay con ngựa, hay là của con cá heo. Bởi vì cách xử dụng
đầu óc không đúng của chúng ta, làm cho chúng ta trở nên
lẫn lộn giữa hai loại sợ hãi. Loại một là loại
thông thường: nếu có sự đe dọa vật lý rõ ràng thì ta
phản ứng bằng cách làm một điều gì — bỏ chạy, chống
trả, gọi cảnh sát. Đây là những gì ta làm một cách
tự nhiên đối với nổi sợ hãi thông thường. Nhưng
phần lớn của cuộc sống bồn chồn của chúng ta thì không
dựa vào loại này, mà dựa vào nổi lo sợ không có thật.
Nỗi
sợ giả tạo tồn tại bởi vì ta dùng sai cái tâm của mình.
Bởi vì ta thấy có cái “Ta” hoặc cái “Tôi” như là một
thực thể biệt lập, cho nên chúng ta tạo nên đủ vấn đề
với cái “Tôi” như là một chủ thể. Tất cả mọi
vấn đề đều vây quanh hay xảy ra ảnh hưởng đến cái “Tôi”,
hoặc là những sự kiện này có tác dụng gì — và tất cả
những suy diễn, liên đới, tưởng tượng không ngừng, rồi
dẫn đến phân định cho bản thân và cho người khác.
Bởi
vì tất cả niềm sợ hãi phát sinh từ một diễn cảnh trừu
tượng, cho nên chúng ta không cách nào hành động một cách
đúng đắn; nỗi sợ hãi đó làm cho chúng ta gắng gượng
lánh né, vùng vẫy, lôi kéo. Khi nào chúng ta dựng lên
một sự kiện nào đó, hay một người nào, ta có thể hành
động. Nhưng hành động này lại được đặt trên quan
điểm sai lầm — sự sai lầm của ý niệm là có một cái
“Tôi” riêng biệt từ cái hành động. Ta có thể có
tư tưởng như, “Tôi không thể nào đạt đến mức độ
đó.” “Tôi không thể nào có tác động gì.” “Cuối
cùng rồi tôi không là gì cả.” “Rữa chén không thể
nào là việc làm cho một người như tôi.” Những
cái ý niệm từ cái “Tôi” đó, một hệ thống đo lường
kỳ hoặc, lạ đời được phát sinh và tăng trưởng.
Chúng ta có chiều hướng quí trọng những ai, hay những sự
kiện mà ta nghĩ rằng sẽ duy trì hay củng cố thêm sự an
toàn hay bảo vệ cho sự tồn tại của cái “Tôi”.
Ta nhận xét bản thân và dựng lên trăm ngàn phương cách để
bảo tồn cái “Tôi” này. Tâm lý chung của người vùng
nam Cali hay nói, “Ta phải thương lấy chính mình.” Nhưng
ai là người thương và ai là kẻ được thương? Làm
cách nào cái “Tôi” có khả năng thương yêu cái “chính
mình”? Chúng ta cảm thấy rằng, “Tôi phải thương
chính mình, Tôi phải tữ tế đối với chính mình, Tôi phải
tữ tế đối với bạn.” Có một sự sợ hãi to lớn
nằm phía dưới những suy xét này, cái sợ hãi rằng không
làm được việc gì. Chúng ta có cái “Tôi” hư cấu mà chúng
ta cố gắng bảo vệ và yêu thương. Ta hao tốn gần cả
cuộc đời để đùa vui với cái trò đùa không kết quả
này. “Cái gì sẽ xảy ra? Nó sẽ đi như thế nào? Ta sẽ
có được gì từ những thứ này?” Tôi, Tôi, Tôi — Nó là
trò chơi tâm lý của ảo tưởng và ta đang lạc vào trong đó
không thấy lối thoát.
Chúng
ta có thể giả định rằng, một khi ta nhận thức được
cái trò đùa đó thì nó chấm dứt — nhưng không phải thế.
Đó cũng giống như bảo một người đang say rượu, đừng
say rượu nữa. Chúng ta đang say, say một cách dai dẵng.
Nhưng bắt nạt, hâm dọa, kêu gọi bản thân, không tạo nên
tác dụng gì cả. “Tôi sẽ không làm thế này nữa”
thì không phải là câu trả lời. Vậy câu trả lời là
gì? Ta phải đi tới vấn đề từ một góc độ khác,
đi vào bằng cửa sau. Trước tiên, ta phải trở nên cảnh
giác về ảo tưởng của mình, cái say của mình. Sách
người xưa có dạy, muốn soi sáng tâm thay vì cho nó ánh đèn,
ta đưa nó sự lưu ý. Đây không giống như làm lớn mạnh
thêm cái Ngã, mà là cố gắng điều chỉnh cuộc sống mình.
Nó là shikan — chỉ ngồi đó, chỉ kinh nghiệm, chỉ nhận
biết cái ảo tưởng (những thứ vây quanh cái “Tôi”) như-nó-là.
Cái
“Tôi” kia không thể nghe tiếng chim, chỉ có sự nghe đang
nghe tiếng chim hót. Hãy để bạn là sự thấy, sự nghe,
sự hành. Đó là những thứ mà ta gọi là tu thiền.
Vì cái không có thật “Tôi” kia đã che lấp mất tất cả
những huyền diệu cuộc đời bằng tham vọng liên tục, để
suy tính và thỏa mãn cái “Tôi”. Trong khi tất cả kỳ
diệu cuộc đời đang xảy ra: tiếng chim ca, xe chạy, cảm
xúc liên tục, tiếng nhịp tim — cuộc sống là những gì
kỳ diệu trong từng giây; nhưng mãi mơ mộng với cái “Tôi”
hão huyền sẽ làm cho ta đánh mất cơ hội để nhận diện
những gì trong đời. Vậy hãy ngồi với những thứ mà
ta cảm thấy mơ hồ. Chỉ cần cảm giác nó, hòa hợp
với nó, tri ơn nó. Sau đó ta có thể thấy xuyên qua cái
giấc mộng không thật kia đã bao phũ cuộc đời ta một cách
triền miên bất tận. Và để thấy cái gì ở đó?
Không
Hy vọng
Cách
đây vài ngày, tôi được báo tin buồn về một người bạn
đã tự tử, một người mà tôi đã từ lâu không gặp.
Mặc dù lúc đó — chừng mười-hai năm trước — tự tử
luôn là đề tài mà anh ta bao giờ cũng nói tới, vì vậy tôi
không mấy lấy làm ngạc nhiên khi nhận được tin này.
Tôi không nghĩ chết là một thảm kịch của đời sống.
Chúng ta ai rồi cũng sẽ phải chết; đó không phải là tai
họa. Có lẽ không có gì là tai họa cả, nhưng đó là
lối tôi nghĩ. Ta có thể nói rằng, sống mà không biết
thưởng thức và cám ơn cuộc sống này thì ít nhất đó là
một điều đáng thẹn thùng.
Chúng
ta có một cơ hội rất ư là quí giá để sống một kiếp
con người. Đây là một cơ hội giống như nhặt được
một hột gạo từ một bờ biển cát. Nó là một cơ
hội rất hiếm hoi, nhưng không biết bằng cách nào, như trường
hợp người bạn của tôi, những ý tưởng sai lầm lại xuất
hiện. Những ý tưởng sai lầm kia đều hiện hữu trong
mỗi người chúng ta — không hoàn toàn tri ân những gì ta
đang có trong những phút giây ta đang sống.
Cho
nên hôm nay những gì tôi muốn nói là về trạng thái “không
hy vọng”. Nghe qua có vẽ khủng khiếp quá phải không?
Thật ra, nó không có chút nào là kinh khủng cả. Một
đời sống với “không hy vọng” thì rất là êm đềm, sung
sướng, cảm thông với người khác. Khi nào ta còn phân
biệt thân tâm của mình với người khác — và tất cả chúng
ta là vậy — thì ta vẫn còn có hy vọng về những thứ mà
có thể mang lại lợi ích cho thân và tâm này. Ta hy vọng
thành công, hy vọng sức khỏe tốt, hy vọng đạt đến giác
ngộ. Ta có mọi thứ để hy vọng. Dĩ nhiên, những
hy vọng này gầy dựng từ quá khứ phác họa cho tới tương
lai.
Bất
cứ ai ngồi qua một thời gian đều có thể thấy rằng, quá
khứ và tương lai không hiện hữu ngoại trừ cái tâm của
ta. Không có gì cả, chỉ có cái Ngã luôn hiện diện trong
lúc này. Nó không trốn tránh đâu cả. Chúng ta chạy
ngược xuôi như một tên khùng để tìm cái mà ta gọi là
“Ta”, cái “Ta” tốt đẹp đang lẫn trốn. Nhưng nó
trốn nơi nào? Chúng ta hy vọng về những thứ mà nó
có thể bảo tồn cái “Ta” nhỏ xíu này, bởi vì chúng ta
không nhận ra rằng, chúng ta chính là cái “Ta” đó, là cái
mà ta luôn tìm kiếm điên đảo luôn.
Một
thiền sinh vừa cho tôi mượn một quyển sách tựa đề “Điển
tọa giáo huấn” viết bởi thiền sư Đạo Nguyên. Trong
đó, thiền sư viết, theo ông một người huấn luyện viên,
một đầu bếp chẳng hạn, nên hướng dẫn bằng phẩm chất
và lối sống của mình.
Theo
quan điểm của Đạo Nguyên thiền sư thì người hướng đạo
phải là người chững chạc và tỉ mỉ nhất trong tu viện.
Nếu sự thực hành của người này không thể hiện được
chức năng của một người hướng đạo nên là, thì theo góc
nhìn của ngài, cả sinh hoạt của toàn thiền viện bị tổn
hại. Nhưng rõ ràng trong sự diễn đạt cái chất lượng
và lề lối hành xử của người giáo thọ nên làm, không
chỉ nhắm vào phương pháp hướng dẫn. Ngài muốn nói
về đời sống của thiền sinh, người phật tử. Đó
mới là điều hữu ích và xứng đáng để đọc quyển sách
của ngài.
Vậy
ta tìm thấy được những gì trong khi ngài Đạo Nguyên diễn
tả đời sống của người hướng đạo tỉnh thức?
Hình ảnh huyền bí chăng? Những trạng thái sung sướng chăng?
Tất cả đều không phải. Có nhiều đoạn nói về cách
đãi cát ra khỏi gạo hoặc gạo ra khõi cát. Rất ư là
tỉ mỉ. Không có một chi tiết nhỏ nào xảy ra trong
nhà trù mà ngài bỏ qua; ngài viết về chổ nào là nơi đặt
cái giá, làm cách nào để máng cái giá, và vv..
Để
tôi đọc cho bạn nghe một đoạn văn. “Sau đó, bạn
không nên bất cẩn đổ đi phần nước vo gạo. Trong
thời xưa, một cái bao vải được dùng để lọc nước khi
nó được đổ đi. Khi bạn vo gạo xong, để gạo vào
trong nồi nấu cơm. Phải thật là thận trọng vì sợ
rằng một con chuột bị tai nạn rơi vào đó. Không thể
nào, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, cho phép một ai vô tình
đi ngang qua nhà trù có thể chạm vào hay nhìn vào bên trong
cái nồi.”
Thiền
sư Đạo Nguyên muốn kể cho chúng ta nghe những gì? Ngài
đã không có viết gì về cách hướng đạo. Tất cả
chúng ta có thể học cái gì?
Trong
quyển sách này, Đạo Nguyên Hy Huyền lập lại nhiều lần
một câu chuyện nổi tiếng. Nếu ta hiểu câu chuyện
này, ta thật sự hiểu ra tu thiền là cái gì. Lúc còn
trẻ, Đạo Nguyên đến Trung Quốc để viếng thăm nhiều thiền
đường để xin tu học. Một ngày kia trong chuyến đi, vào
một buổi chiều rất ư là thiêu đốt, ngài thấy một hòa
thượng thật lớn tuổi đang làm việc một cách cực nhọc
bên ngoài một nhà trù. Ông đang trãi nấm rơm ra để
phơi trên một manh chiếu.
Ông
vác trên vai cây đòn tre nhưng trên đầu của ông không có
đội nón. Ánh nắng gắt gao gọi xuống một cách khốc
liệt làm nung nóng những miếng gạch lót theo lối đi, như
muốn đốt bỏng những bàn chân trần bước lên trên nó.
Ông hăng say làm việc và cả người tắm mồ hôi. Tôi
không thể giúp đỡ nhưng cảm thấy công việc thật là ngoài
khả năng của một người ở tuổi như ông. Lưng ông
cong như một càn cung đang căng quá mức, hàng đôi mài bạc
như hai con nghê trắng nghển cao cổ.
Tôi
lại gần và hỏi tuổi của ông. Ông trả lời là ông
đã sáu-mươi-tám tuổi. Tôi liền hỏi tại sao ông không
dùng người giúp việc.
Ông
trả lời, “Người khác thì không phải là tôi.”
“Ông
nói đúng.” Tôi nói; “Tôi có thể thấy rằng công việc
của ông là phật sự, nhưng tại sao ông phải làm việc cực
nhọc trong khi mặt trời đang đốt cháy thế này?”
Ông
trả lời, “Nếu tôi không làm nó bây giờ, thì lúc nào tôi
mới có thể làm nó.”
Tôi
không còn gì có thể nói được nữa. Trong khi tôi đi
dọc theo lối nhỏ, tôi bắt đầu cảm giác được một chuyển
biến thật sự bên trong khi nhìn thấy ra thực chất của một
hành giả.
Vị
trưởng lão nói, “Người khác không phải là tôi.”
Hãy nghiên cứu câu này. Cái mà ông muốn nói là, cuộc
đời của tôi là tuyệt đối. Không một ai có thể sống
cho tôi. Không một ai khác có thể cảm giác
nó cho tôi. Không ai có thể đáp ứng nó cho tôi.
Việc làm của tôi, nổi khổ đau của tôi, cảm giác sung sướng
của tôi là tuyệt đối. Không có cách nào dù
một phút giây, bạn có thể cảm giác được cơn đau nơi
ngón chân của tôi; hoặc tôi có thể cảm giác được nổi
đau nơi ngón chân của bạn. Không có cách nào. Bạn
không thể ăn thay tôi, ngũ thay tôi. Đó là vấn đề
nghịch lý: Gánh lấy trách nhiệm cho cuộc sống của mình
bằng cách ôm trọn vẹn niềm đau và cơn vui của mình —
nếu thấy được điểm này rõ ràng — thì ta giải thoát.
Ta đạt đến “không hy vọng”, “không cần những gì khác”
cả.
Nhưng
ta thường hay sống trong niềm hy vọng hảo huyền về sự
kiện hay con người nào đó sẽ giúp cho đời ta dễ dàng hơn,
vui thú hơn. Ta hao phí gần cả đời mình để cố gắng
xây dựng cuộc sống theo lề lối sẽ thành sự thật như
mình mong ước; trong khi sự thể thì trái ngược lại những
gì ta nghĩ: sinh thú của đời sống là trong lúc hết
lòng làm việc và đang ở trong trạng thái vận hành, ở trong
lúc làm những gì cần phải làm. Nó không dính dáng gì
đến “cái việc cần phải làm”; mà là “cái trạng thái
đang làm” cho nên chúng ta làm, vậy thôi.
Thiền
sư Đạo Nguyên nói về Tự tánh nằm trong Tự ngã. Ý
của ngài là gì về câu này? Ngài có ý là, chỉ có bạn
mới có thể kinh nghiệm nổi đau và niềm vui của mình.
Nếu có một cảm tưởng đi vào đời mình mà ta không
nhận được, thì ta đã chết đi một phút giây đó rồi.
Không ai trong chúng ta hoàn toàn sống như thế, nhưng ít nhất,
ta đừng để mất đi chín-mươi phần trăm của phần kinh
nghiệm đời mình.
“Nếu
tôi không làm xong bây giờ, thì lúc nào tôi mới có thể làm
đây.” Chỉ có tôi chăm sóc cái Ngã từ sáng đến tối.
Chỉ có tôi tiếp nhận đời sống. Sự va chạm từng
giây mà thiền sư Đạo Nguyên muốn nói khi ngài diễn tả
một ngày của hành giả. Chăm lo cái này; săn sóc cái
kia.. Không chỉ vo gạo mà làm một cách thận trọng, từng
hột một. Không chỉ đổ nước đi; mà từng miếng chúng
ta ăn, từng lời chúng ta nói, từng lời bạn nói, từng va
chạm, từng giây.. không tụng kinh với tâm lang thang; không
thể nào người ở đây đang làm việc mà tâm lang bạt nơi
phương trời khác.
Tôi
vẫn nhớ thời gian tôi thường sống trong mộng bốn hay năm
giờ mỗi lần. Và bây giờ — thấy buồn khi tôi thấy
rất nhiều người phí cuộc đời mình trong cơn mộng dài
như thế. Đôi khi, một người (đàn ông hay đàn bà)
mơ về một người bạn đời lý tưởng, họ mơ và mơ thật
lâu. Nhưng khi ta sống một đời sống trong mơ và hy vọng,
thì những gì cuộc đời có thể cho ta, người đàn ông hay
đàn bà đang ngồi cạnh ta — bình thường, không quyền rũ
— sự huyền diệu của cuộc đời bỏ ta mà ra đi, cũng bởi
vì ta chỉ hy vọng những gì mà ta cho là đặt biệt (theo cách
ta tưởng tượng). Mà những thứ thiền sư Đạo Nguyên
nói cho ta nghe là sự tu tập thật sự, nó không có dính dáng
gì với những thứ ta nghĩ.
Tôi
nói thêm một lần nữa là, tọa thiền là sự giác ngộ.
Tại sao? Bởi vì từng giây trong lúc ta ngồi, ta đang ngồi,
thế thôi. Vị trưởng lão đang sàng rong biển — đó
là cuộc sống đầy tình tương, dùng đời mình để tạo
thức ăn cho người. Sự thật, tất cả chúng ta đang
không ngừng chuẩn bị thức ăn cho người khác. Loại
thức ăn này có thể là đánh máy chữ; nó có thể là làm
toán học hay vật lý học; nó có thể là chăm sóc con cái.
Nhưng chúng ta có sống với quan điểm tri ân cho việc làm
của mình không? Hay là chúng ta luôn hy vọng rằng, “A! Nơi
nào khác, ta có thể có nhiều thứ hơn ở đây? Đúng
vậy, tất cả chúng ta luôn luôn hy vọng.
Chúng
ta không chỉ hy vọng, mà chúng ta còn trao cả vận mệnh cuộc
đời cho hy vọng ấy, cho những tư tưởng vĩ đại và hoang
đường. Đến khi chúng không mang lại kết quả chúng
ta mong muốn, chúng ta bồn chồn, rồi cuối cùng tuyệt vọng.
Một
thiền sinh gần đây có kể cho tôi nghe một chuyện vui.
Câu chuyện kể về một người đàn ông ngồi trên mái nhà
của ông bởi vì cơn thủy triều dâng cao qua làng của ông.
Khi mực nước dâng lên gần tới mái nhà thì có nhóm người
cứu tai chèo thuyền nhỏ đến cứu ông. Họ vất vã
tìm phương cách đến gần ông và gọi to, “Lẹ lên, hãy
từ từ cẩn thận leo vào thuyền.” Ông nói, “Không!
Không! Thượng đế sẽ đến cứu tôi.” Nhóm người
đành phải lo đi cứu người khác. Nhưng nước lại vẫn
tiếp tục dâng cao hơn, ông ta đành phải tìm cách leo lên
chỗ cao hơn trên mái nhà. Mặc dù sức nước rất ư
là chảy xiết, nhưng một chiếc thuyền khác đã cố gắng
đến được nơi gần ông. Lại lần nữa họ khuyên ông
hãy leo lên thuyền để tự cứu mình. Nhưng một lần
nữa ông lại từ chối, “Không! Thượng đế sẽ cứu tôi!
Tôi đã khấn nguyện. Ngài sẽ cứu tôi.” Cuối cùng
rồi nước dâng tới vai ông. Một chiếc trực thăng đến
cứu, “Mau lên, đây là cơ hội cuối cùng cho ông, hãy ráng
leo lên.” Nhưng ông vẫn giữ vững lòng tin của mình,
“Không! Thượng đế sẽ cứu tôi kia mà. Lời của ngài đã
ghi trong Thánh kinh.” Thế rồi nước tiếp tục hững
hờ dâng lên và người đàn ông kia đành phải chịu chết
đuối. Khi ông về cõi vô hình, thì ông than phiền tới
Thượng đế, “Thượng đế, tại sao ngài đã không cứu
tôi?” Và Thượng đế trả lời rằng, “Ta đã thử cứu
ông những ba lần. Ta đã gởi đến cho ông hai chiếc thuyền
và một chiếc trực thăng.”
Chúng
ta tốn quá nhiều thời gian đi tìm một điều gì đó, được
gọi là sự thật tuyệt đối. Thật ra không bao giờ
có điều đó, ngoại trừ trong mỗi sát na thời gian, trong
từng đợt vận hành của đời sống. Nhưng hy vọng lớn
lao của ta mong muốn một nơi chốn an nghĩ nào đó; điều
này đã tạo cho ta sự kém hiểu biết và không biết trân
quí những gì đang có trong lúc này và ở đây. Vì vậy,
trong khóa tu học, trong tọa thiền, dạy cho ta đạt đến “không
hy vọng.”
Có
nghĩa là chỉ ngồi thôi, đây thật sự là tọa thiền.
Mộng mơ và lãng mạn không phải là điều sai quấy; chỉ
có điều là đừng để nó trói buộc ta; có nó, thấy nó,
nhận diện nó là không thật và cho nó qua đi. Chỉ nên
sống với những gì thật có lúc này: kinh nghiệm về hơi
thở, về thân, về điều kiện chung quanh.
Bây
giờ không ai trong chúng ta muốn dứt bỏ hy vọng của mình.
Thật sự, không ai trong chúng ta sẽ muốn dứt bỏ tất cả
chúng trong cùng một lúc. Nhưng chúng ta có thể tạm dứt
bỏ chúng trong khoảng một thời gian — một vài phút hay vài
giờ — để kinh nghiệm giây phút hiện tại. Dần dần
ta có thể thể nhập với những gì ta đang có trong từng giây
phút hiện tại. Đó là cuộc sống của mình.
Vậy
nếu chúng ta tu tập như thế thì ta sẽ nhận được những
phần thưởng gì? Nếu ta thật sự tu tập như thế này,
nó sẽ lấy tất cả những gì ta có. Chúng ta sẽ có
lợi ích gì từ sự tu tập? Câu trả lời sẽ là, không
có gì cả. Do đó, đừng có hy vọng gì cả. Chúng
ta sẽ không được gì hết. Ta chỉ có cuộc sống của
mình, dĩ nhiên là ta đã có nó tự bao giờ rồi. Vậy
đừng như người bạn của tôi, không biết tri ân cuộc sống
của mình và sự tu tập của mình. Đời sống này là
Niết bàn. Chứ ta nghĩ nó ở nơi đâu?
Hãy
nhớ đến vị trưởng lão kia. Nếu ta tu tập theo cách ông
ấy sàng rong biển, thì ta có thể được phần thưởng với
“không có gì cả”.
Tình
yêu
Tình
yêu là từ ngữ rất ít được nhắc đến trong kinh điển
Phật giáo. Tình yêu (lòng bi mẫn) mà kinh ghi lại thì
không phải nói về loại rung động, hay ít nhất không phải
là loại rung động mà ta thường hay nghĩ. Nó chắc chắn
không phải là cái rung động mà ta gọi là “tình yêu lãng
mạn”. Cái “tình yêu lãng mạn” này có dính dáng
rất là ít tới Tình yêu trong Phật pháp. Đây cũng là
điều tốt để nghiên cứu “Tình yêu” là gì và nó có
liên hệ ra sao đối với sự tu tập, vì hai quả thơm của
sự tu tập là Trí tuệ và lòng bi mẫn.
Thiền
sư Menzan (1683-1769) là một học giả lớn của tông Tào động,
và vượt bậc hơn những thiền sư đời trước, ông đã giúp
cho đường lối tu tập rõ ràng hơn. Đôi khi chúng ta
đọc sử sách ghi lại và tạo nên hình ảnh của đường
lối tu tập mà không có dính dáng gì đến việc mua thức
ăn ở những tiệm thực phẩm. Lời của ngài thật là giản
dị, “qua quá trình tu tập, bạn sẽ biết được thực chất
của tu thiền thật uyên thâm, những khối băng phủ chặt
của cảm giác-tư tưởng đã phong kín từ muôn thưở sẽ
tan đi một cách tự nhiên. Nhưng ngài cũng nói: “Nếu
bạn nghĩ rằng, bạn phải cắt đứt những tư tưởng diễn
dông, thay vì làm sáng tỏ cách thức chảy tan cảm giác-tư
tưởng, thì chúng sẽ trổi dậy tiếp tục, tương tự
như là bạn cắt ngọn của cỏ hay thân của cây mà chừa
lại gốc còn sống.” Nhiều người hiểu lầm là,
tu tập giống như cắt đứt tư tưởng diễn dông. Dĩ
nhiên tư tưởng là hão huyền, như thiền sư Menzan đã nói,
nếu bạn cắt đứt chúng thay vì “rạn lọc để hiểu cách
nó tan biến”, thì ta sẽ học được rất là ít. Nhiều
người đã có một chút kinh nghiệm tự chứng; nhưng bởi
vì họ không chịu tìm hiểu cách làm cho tư tưởng cảm giác
tan đi, thì mùi vị đắng cay của tư tưởng cảm giác sẽ
là món ăn của họ trong những chuỗi ngày còn lại của cuộc
sống. Thiền sư Menzan viết, “Tư tưởng cảm giác là
nguồn gốc của Vô minh, một loại vướng mắc khó trị đối
với cái nhìn biên kiến đã được tạo ra bởi sự nhận
thức điều kiện của ta.
Trọng
tâm của lối tu tập ở đây là làm sáng tỏ cách nào cảm
giác-tư tưởng tan biến. Trước tiên, ta phải nhận thức
được nó là gì: cái tư tưởng cảm giác, vị kỷ mà ta luôn
quan trọng hóa trong mọi thời. Sự vắng bóng — những
tư tưởng này — theo ngài khẳng định, là trạng thái tự
chứng, bản chất giác ngộ. Không ngoại trừ một ai,
chúng ta đều bị câu thúc bởi những cảm giác-tư tưởng,
chỉ là ở chừng mực nào mà thôi. Có một sự khác
biệt lớn lao giữa người bị trói buộc chín-mươi-năm phần
trăm và người chỉ bị năm phần trăm.
Nói
thẳng ra, mối liên hệ là đối với mọi pháp hữu vi —
cái tách, tấm thãm, ngọn núi, con người. Trong buổi
nói chuyện hôm nay, chúng ta sẽ nói về mối liên hệ nhân
sinh, bởi vì đây là mối tương quan đã tạo ra nhiều phiền
phức nhất. Trừ khi ta sống xa lánh cuộc đời trong rừng
sâu núi thẳm suốt hai-mươi năm, chúng ta ai cũng có sự tương
quan với một số người. Trong mối liên hệ này, có
loại tình cảm chân thật, mà cũng có tình cảm không thật.
Tùy thuộc vào cách nào ta xử thế đối với tình cảm giả
dối, ta sẽ có được mức độ tương xứng tình cảm chân
thật; bởi vì chính do tình cảm giả dối là nguyên nhân sinh
ra yêu cầu, hy vọng, điều kiện của cảm giác-tư tưởng.
Khi cảm giác-tư tưởng còn tồn tại, ta luôn mong muốn là
mối quan hệ nên tạo cho ta cảm giác tốt đẹp. Bao giờ
liên hệ còn thõa mãn được những gì ta mong mõi, thì ta nghĩ
là: đây là mối tương quan tốt đẹp.
Nhưng
khi ta chung sống (hôn nhân) với một người, loại mơ ước
kia không còn có thể duy trì được. Thời gian trôi qua,
điều kiện tốt đẹp kia sẽ phải sụp đổ dưới sức ép
của cuộc sống, ta thấy rằng ta không thể nào bảo tồn
được hình ảnh tốt đẹp của đôi bên. Dĩ nhiên, chúng
ta rất muốn giữ gìn hình ảnh toàn vẹn của mình mãi mãi.
Tôi thật muốn tin rằng tôi là một người mẹ hiền: kiên
nhẫn, thông cảm, tinh tế. (Nếu con của tôi đều nghĩ như
thế thì tốt biết bao!) Nhưng khổ thay, tính chất không
thực tế của cái loại cảm giác-tư tưởng kia lại choáng
ngợp cả cuộc đời ta.
Đặt
dị nhất là trong lĩnh vực tình cảm lãng mạn, cảm giác-tư
tưởng càng trở nên hoang đường hơn hết. Tôi mong là
người tình của tôi thỏa mãn cái bức tranh hoàn mỹ mà tôi
đã dựng lên. Nhưng khi người ấy không làm thế (đã
có thời gian làm thế trước kia mà) thì tôi nói, “Tuần
trăng mật đã qua. Người ấy đã thay đổi? Tôi không
thể nào chịu nổi những việc người ấy làm.” Rồi
tôi lấy làm lạ, tại sao tôi cảm thấy bất hạnh thế này.
Người hôn phối của tôi không còn thích hợp với tôi nữa;
người đó không còn phản ảnh cái viễn cảnh tốt đẹp
mà tôi đã dựng lên, không còn ủng hộ niềm an lạc và hạnh
phúc của tôi nữa. Tất cả những đòi hỏi về cảm
giác trên kia vốn không có dính dáng một tí gì cả tới tình
yêu. Khi viễn ảnh đổ vỡ — thường xảy ra trong liên
hệ hôn nhân — loại “tình yêu” kia trở thành sự căm
ghét và xung đột.
Cho
nên, trong tình cảm hôn nhân, từ lúc này qua lúc khác, ta sẽ
bị khổ đau, bởi vì không có mối liên hệ nào sẽ vĩnh
viễn thích hợp hoàn toàn cho ta. Không có một người
nào có thể sống với ta và sẽ thỏa mãn trọn vẹn những
gì ta mong muốn cả. Vậy, bằng cách nào ta đối diện
với nổi thất vọng? Chỉ có cách là, ta phải tu tập
để tới gần hơn, để kinh nghiệm đau khổ của mình, thất
vọng của mình, mãnh vụn của niềm hy vọng, viễn ảnh tan
vỡ của mình. Kinh nghiệm đó thì, một cách cơ bản,
không thể nào diển tả bằng lời hết được. Ta phải
quan sát nội dung tư tưởng cho đến khi nào nó lắng đọng,
rồi ta mới có thể đi vào kinh nghiệm trực quán của thất
vọng và đau khổ. Khi ta kinh nghiệm được khổ đau một
cách trực tiếp, sự tan chảy của cảm giác-không thật kia
bắt đầu và lòng bi mẫn chân thành trổi dậy.
Hoàn
thành lời nguyện của chúng ta là một việc làm mà chúng
ta chỉ có thể làm cho người khác. Càng tu tập dài lâu,
cái tâm thương cảm và cởi mở càng tăng trưởng. Khi
sự phát triển toàn vẹn (nghĩa là không có gì trong cõi đời
này làm cho ta phê phán), thì đó là cảnh giới của lòng bi
mẫn và giác ngộ. Cái giá mà chúng ta phải trả cho trạng
thái này là cả một cuộc đời dài tu tập đối với những
vướng mắc vào cảm giác-tư tưởng, một hàng rào cản ngăn,
phân cách ta với Tình thương và lòng bi mẫn.