Ngày
14 – 8 đến 20 – 8 – Đỉnh Sửu (97).
Hỏi:
“Đạo
khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh”.
Xin Sư Phụ giải thích?
Đáp:
Câu
này là Đạo Đức kinh của Lão Tử, ý nghĩa gần giống với
Phật pháp; nhưng vẫn còn tư tưởng chấp thật, Phật pháp
phá chấp thật. Vì tất cả do tâm tạo, nếu tâm tạo chẳng
phải thật; cái chân thật thì không thể tạo. Cho nên, không
có sanh khởi, không có bắt đầu; cũng là nghĩa vô sanh. Người
chứng quả là ngộ pháp vô sanh, chứng vô sanh pháp nhẫn.
Tất
cả vốn sẵn có, chứ không thể kiến lập; luôn cái biết
của mình cũng không thể kiến lập, nhưng 2 câu Đạo Đức
thì có kiến lập rồi. Họ chấp có đạo thật.
Danh
là tên gọi, nhưng thật tế là khác. Họ nói thì giống, nhưng
phải thì chẳng phải. Ai cũng biết tâm là danh từ mà ai cũng
nói được, nhưng tâm là cái gì, không có ai biết! Tâm như
hư không vô sở hữu. Mọi người cho có hư không mới dung
nạp, như nói “hư không quảng đại vô biên dung nạp tất
cả vật”. Thật tế chẳng phải vậy, không có (vô sở hữu)
hư không mới dung nạp tất cả vật.
Nếu
không có hư không thì lấy gì nói là quảng đại! Đó là
thật tế, như nhà cửa, đất đai, cây cối, mặt trời, mặt
trăng,… bất cứ cái gì đều ở trong vô sở hữu này. Bây
giờ, ngồi đây cũng phải nhờ vô sở hữu mới ngồi được.
Cuộc sống hàng ngày là ăn cơm, mặc áo, nói năng, tiếp khách,
làm việc đều nhờ vô sở hữu này. Cho nên, nói đạo và
không phải đạo hay tên (danh) với không phải tên đều không
đúng.
Vì
tên chẳng phải thật, thật chẳng đúng tên; nhưng cũng phải
nhờ cái tên cho người truyền dạy để hiểu phần nào. Ngày
xưa, người Trung Quốc rất sùng bái Lão Tử, đến chừng
Phật Giáo truyền sang Trung Quốc, người ta mới biết đạo
ấy giống thì giống, nhưng chẳng phải.
Hỏi:
Thế
nào là Giáo môn và Thiền tông?
Đáp:
Giáo
môn có nghĩa lý giải thích căn cứ theo kinh điển của Phật.
Tu chứng từ cấp, như phổ thông có 52 cấp: Thập Tín, Thập
Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa (5 quả vị
này gồm có 50 cấp), Đẳng Giác và Diệu Giác.
Tổ
Sư thiền không có cấp bậc, từ địa vị phàm phu tu chứng
đến Đẳng Giác. Tuy có nói Sơ quan, Trùng quan, Mạt hậu lao
quan; nhưng có người (Lâm Tế) không cần phải qua Sơ
quan, Trùng quan, mà thấu luôn Mạt hậu lao quan. Cho nên, 3 quan
này không phải cấp bậc. Thiền môn không có nghĩa lý để
giải thích.
Giáo
môn giải thích là hiểu theo bộ óc, không phải thật tế;
Thiền môn là muốn ngộ thật tế.
Hỏi:
Tại
sao dùng cái biết để tu thì chậm kiến tánh hơn dùng cái
không biết?
Đáp:
Vì
cái biết là vọng, biết cái gì đều chẳng phải thật. Qua
lục căn tiếp xúc lục trần nhận biết được là chẳng
phải thật, không phải thật tế. Phải lìa khỏi những thứ
căn, trần, thức mới ngộ được thật tế.
Cho
nên, Bát Nhã Tâm Kinh phá ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành,
thức), dùng chữ “vô” để phá lục căn, lục tần, lục
thức; không phải không có, có nhưng không thật; tức là lục
căn, lục trần, lục thức đều không thật. Cho đến Tứ
Diệu Đế (khổ, tập, diệt, đạo) cũng không thật, đến
Thập Nhị Nhân Duyên (từ vô minh…lão tử) cũng không thật.
Bát
Nhã Tâm Kinh có 262 chữ, nhưng dùng 17 chữ “vô” để phá
hết tất cả tri kiến của bộ óc. Cuối cùng thêm 2 chữ
“viễn ly” để quét sạch tri kiến Phật. Vì không phải
thật bởi do tâm tạo, tức là tâm có kiến lập.
4
bài kệ của ngài Vĩnh Gia nói về chữ tri (biết): Cái biết
cũng không thể kiến lập, nếu kiến lập thành 2 cái biết;
như trên đầu mọc thêm đầu, phải mời bác sĩ cắt bỏ
một cái thì khôi phục lại sức khỏe.
Hỏi:
Hàng
ngày dùng bộ óc để học hỏi ghi nhận, nếu họ tu Tổ Sư
thiền là dùng cái không biết thì bị cản trở trên sự học
vấn. Vậy họ phải làm sao?
Đáp:
Ngày
đêm có 24 giờ, 8 giờ làm việc thì ngưng tham thiền; còn
lại 16 giờ tập tham thiền được thuần thục, lúc 8 giờ
làm việc thì nghi tình tự động nổi lên. Lúc đó bộ óc
không biết, nhưng vẫn làm xong công việc của bộ óc; lại
nhanh hơn và tốt hơn. Việc ấy có nhiều Phật tử đã chứng
tỏ.
Như
có thanh niên vô mực nguyên tử, trước kia dùng bộ óc để
ý vô mực, mỗi ngày hơn 40 cây nhưng mực ra không đều; sau
này y đang tham thiền, bộ óc không làm việc nhưng vô mực
hơn 80 cây, mực ra đều.
Có
người hỏi tôi: Con rất thích tham thiền, nhưng trong lu gạo
con hết làm sao tu được?
Tôi
nói: Tôi dạy tham thiền, chứ đâu bảo ông đừng kiếm gạo!
Làm nghề gì vẫn làm như cũ. Tham thiền còn giúp cho ông còn
kiếm gạo nhiều hơn.
Thật
tế là vậy, tại vì người ta đuổi theo bộ óc nên nói
như thế.
Hỏi:
Thoại
đầu không còn, công phu còn không? Đáp:
Nếu
vậy, người ấy không tin tự tâm, thoại đầu không còn là
kiến tánh thì không còn công phu. Thoại đầu cũng gọi là
vô thỉ vô minh, đầu sào trăm thước, nguồn gốc ý thức.
Sát na lìa khỏi ý thức gọi là kiến tánh thành Phật. Lúc
ấy không còn thoại đầu, nếu còn thoại đầu thì chưa kiến
tánh.
Hỏi:
Các
vị kiến tánh rồi, sao còn tu nữa?
Đáp:
Đó
không phải tu, gọi là bảo nhậm; như Lục Tổ kiến
tánh rồi, phải còn bảo nhậm 15 năm để dứt tập khí từ
lâu đời.
Hỏi:
Người
kiến tánh thì dụng khắp không gian thời gian. Vậy dụng của
tiểu ngộ và đại ngộ khác nhau thế nào?
Đáp:
Người
này hỏi còn chưa tin tự tâm, đã biết tự tâm là vô sở
hữu; ngộ được tự tâm gọi là kiến tánh. Tuy mình chưa
ngộ, nhưng tự tâm mình cũng khắp không gian thời gian. Do
kiến lập nên dụng tự tâm bị che khuất. Như mặt trời
đang chiếu soi, nhưng bị mây hay trái đất che khuất nên không
thấy ánh sáng.
Hỏi:
Chúng
sanh đều có Phật tánh đồng nhau. Tại sao là Phật? Tại
sao là chúng sanh? Các ngài kiến tánh rồi, tại sao không đủ
32 tướng tốt như Phật? Vậy phải tu cách nào để được?
Đáp:
Câu
hỏi này cũng chứng tỏ là chưa tin tự tâm. Trống rỗng vô
sở hữu thì lấy cái gì để làm tướng tốt? Lấy cái gì
để làm chúng sanh? Lấy cái gì để làm Phật? Khi kiến tánh
thành Phật thì thấy không có Phật để thành. Vì ngộ được
tự tâm vô sở hữu.
Hỏi:
Tham
“khi chưa có trời đất ta là cái gì?” cho nghi tình, hỏi
thêm câu hỏi khác được không?
Đáp:
Không
được! Hỏi câu thoại là để kích thích không hiểu không
biết, rồi nhìn chỗ không biết.
Tôi
hỏi ông: Khi chưa có trời đất ông là cái gì?
Không
biết.
Không
biết là đúng rồi, nhìn chỗ không biết; hỏi và nhìn song
song, không phải hỏi trước nhìn sau; không phải hỏi sau nhìn
trước, giữ chỗ không biết được kéo dài là được.
Có
phải cái không biết là….?
Đừng
suy nghĩ cái ấy, không hiểu không biết gọi là nghi tình.
Biết là không phải tham thiền.
Hỏi:
Các
vị nhận được bản lai diện mục, rồi khởi tu. Sao Sư Phụ
nói kiến tánh rồi khỏi tu?
Đáp:
Tất
cả Phật pháp đều hiển bày tâm của chính mình. Tâm là
danh từ mà ai cũng nói được, nhưng tâm là thế nào không
ai biết? Ngài Long Thọ nói: “Tâm như hư không vô sở hữu
dung nạp và ứng dụng tất cả vật”.
Nếu
có sở hữu thì dùng không được, ví dụ tay cầm vật gì
thì dụng của tay bị mất, nên lấy cái gì không được nữa.
Nếu không cầm cái gì hay không tự làm nắm tay thì lấy cái
gì cũng được.
Có
kiến lập sở hữu thì dụng hoạt bát vạn năng của tự
tánh bị mất. Cho nên, tham Tổ Sư thiền dùng nghi tình (không
hiểu không biết), tự động quét sạch sở hữu, khôi phục
lại dụng tự tánh được hoạt bát vạn năng. Sở hữu của
Phật đều hết, nên thần thông biến hóa có vô lượng vô
biên. Do mình có sở hữu, nên cái dụng bị hạn chế.
Kiến
tánh là tâm của mình hiện ra, tuy nói tu nhưng không tu không
chứng. Tại sao? Vì trống rỗng vô sở hữu không phải tu
mới thành, không phải chứng mới đắc! Vốn sẵn như vậy,
vô thỉ vô chung, vô sanh, vô diệt; nhưng lại dung nạp và
ứng dụng trước mắt rõ ràng.
Như
cái bàn để đầy đồ, muốn để đồ thêm cũng không được.
Có chỗ trống mới để đồ được. Chỗ các vị ngồi
cũng vậy. Đó là cái dụng thật tế trước mắt, mình đang
dùng. Phật pháp là thực dụng thật tế, chứ không phải
đuổi theo những danh từ đoán mò bậy bạ.
Vì
vô sở hữu là trống rỗng, nên gọi là tánh không; do tánh
không nên dung nạp tất cả, tánh không thì không chỗ trụ
gọi là vô sở trụ. Tánh không thì khắp không gian thời gian
không có gì chướng ngại. Khắp không gian chẳng có khứ lai,
nên gọi là Như Lai; khắp thời gian không có gián đoạn sanh
diệt, nên gọi là Niết Bàn; tâm mình có tánh giác ngộ, gọi
là Phật tánh.
Bồ
Đề, Niết Bàn, giác ngộ, giải thoát,… tất cả danh từ
khác biệt; nhưng nghĩa không khác, đều hiển bày dụng của
tâm. Những người làm tày khôn đuổi theo những danh từ đoán
mò bậy bạ, thành ra không biết được thật tế. Thật tế
mình đang dùng, dù mình đến chân trời góc biển, ngủ mê,
thật chết thì cũng đang dùng. Không giờ phút nào ngưng dùng,
vì kiến lập sở hữu nên dùng ít. Nếu sở hữu sạch hết
thì dụng không hạn chế bằng như Phật.
Hỏi:
Tụng
kinh, niệm Phật, trì chú kết hợp như vậy có đúng không?
Đáp:
Tụng
kinh là cách tu của Giáo môn, vừa tụng vừa thiền quán; tụng
đến đâu quán tới đó. Quán Tông tự của tông Thiên Thai
mỗi ngày 3 thời kinh, mỗi thời phải 2 giờ. Bây giờ các
chùa tụng kinh thường thường có 45 phút, tụng cho Phật nghe;
nhưng kinh là lời của Phật dạy mà! Ngày xưa tôi dạy học,
bắt học trò trả bài thì tôi phải nghe; mà tôi ngán quá
rồi cũng phải ráng nghe, vì tôi có lãnh lương.
Phật
dạy mình tu, chứ Phật đâu cần nghe! Mà nói tụng cho Phật
nghe là có công đức. Tụng kinh là để cho mình và khởi lên
thiền quán, đó là cách tu của Giáo môn. Như trong chùa có
20 chúng thì tụng kinh phải đủ, không phải chỉ vài người
tụng kinh rồi các người kia khỏi tụng! Tụng kinh là giờ
phút tu. Chúng của ngài Đế Nhàn, tụng kinh không đủ 2 giờ
của mỗi thời, thì bị ngài quở làm biếng.
Hỏi:
Nghi
tình là không biết thì chẳng có hình tướng, vậy làm sao
nhìn?
Đáp:
Bởi
vậy, nhìn không thấy gì vẫn còn không biết, giữ cái không
biết mới gọi là nghi tình; nếu thấy có gì là không đúng.
Hỏi:
Ở
thế gian, các Giáo chủ đều xưng mình là chánh pháp nhãn
tạng. Vậy đâu là chánh, tà?
Đáp:
Nếu
có Giáo chủ là tà, vì cõi Ta Bà là tam thiên đại thiên thế
giới chỉ có một Phật làm Giáo chủ. Quả đất này chỉ
là 1 đại bộ châu gọi là Nam Thiệm Bộ Châu, 1 tiểu thế
giới có 4 đại bộ châu (có 4 địa cầu), 1.000 thế giới
(tiểu thiên thế giới), 1.000 tiểu thiên thế giới (trung thiên
thế giới), 1.000 trung thiên thế giới (đại thiên thế giới).
Gọi chung là tam thiên đại thiên thế giới. Tại sao là tam
thiên? Là 3 cái thiên nhân với nhau.
Hỏi:
Phật
tánh vốn vắng lặng, sáng suốt do đâu lại làm chúng sanh?
Đáp:
Phật
tánh thì khỏi cần tu, vì đã sẵn có; không phải tu mới
thành. Nếu có thành thì phải có hoại, như thân này có thành
phải có hoại; sau này chết rồi chôn thành đất, thiêu thành
tro. Phật tánh không thành không hoại, nên tồn tại vĩnh viễn.
Kinh
Viên Giác nói: “Tất cả chúng sanh đều đã thành Phật”,
để cho người ta tin, nên dùng quặng vàng thí dụ. Vàng trong
quặng đã thành sẵn, không thấy vàng là do lộn với đất
cát tạp chất. Luyện bỏ đất cát tạp chất thì vàng thật
hiện ra, nếu không có vàng dù luyện cách mấy cũng không
có vàng hiện ra.
Phật
tánh của mình đã thành sẵn, nhưng lộn với tạp chất tham
sân si, vọng tưởng, nên không thể hiện ra. Tu là luyện bỏ
các tạp chất tham sân si thì Phật tánh hiện ra. Nếu không
có Phật tánh thành sẵn thì tu cách mấy cũng không thể Phật
tánh hiện ra.
Phật
tánh mỗi chúng sanh đều bằng nhau, nhưng nghiệp của mỗi
chúng sanh tạo có khác. Như con người tạo nghiệp thiện được
phước báo, tạo nghiệp ác phải nghèo khổ.
Hỏi:
Khi
tham thiền công phu thành khối thì ăn không biết ăn, vậy
có nguy hiểm gì không?
Đáp:
Không
có nguy hiểm, đến cảnh giới đó là thoại đầu thì sắp
kiến tánh; có thể một phút sau, vài giờ sau hay vài ngày
sau kiến tánh. Đang tập tu, khỏi cần biết khối nghi gì.
Tham
thiền không cần tập trung tinh thần, cố gắng; chư Tổ nói
“ít phí sức chừng nào, tốt chừng nấy”. Cố gắng và
tập trung tinh thần là phí sức, chỉ cần một chút nghi tình
kéo dài là được.
Hỏi:
Nếu
nghi tình kết thành khối, hành giả qua đời. Theo nhà Phật
nói cận tử nghiệp rất quan trọng. Vậy như thế nào?
Đáp:
Đó
là giải theo Giáo môn, còn Thiền môn chỉ tu một chút rồi
chết thì kiếp sau vẫn tiếp tục tu; vì chánh nhân đã gieo
thì chánh quả sẽ đến. Việc gì cũng phải đúng theo nhân
quả, chứ không phải tạo nhân rồi bỏ qua. Không phải tạo
nhân rồi tự nhiên lại chấm dứt, người học Phật phải
tin nhân quả. Pháp thế gian và xuất thế gian đều có nhân
quả.
Có
nhân phải có quả, tà nhân thì bị tà quả, chánh nhân thì
được chánh quả. Nếu thật đến chỗ không biết gì, thì
cái dụng của tâm tự hiện ra thay thế bộ óc để làm việc.
Đó là chưa đến thoại đầu, nhưng vẫn có cái dụng. Như
có người bình thường may 1 bộ, đến chừng công phu được
tự động thì bộ óc không biết, mỗi ngày may được 2 bộ
lại tốt hơn.
Có
người tham thiền lái xe tốc độ hơn 100 km/giờ, họ không
thấy xe nhưng không bị dụng xe. Như vậy rất nguy hiểm, nhưng
không có nguy hiểm. Bộ óc mình không thể giải thích, vì
bộ óc nhận biết là không đúng với thật tế.
Thật
tế phải lìa lục căn, lục trần, lục thức. Cho nên, Bát
Nhã Tâm Kinh dùng 17 chữ “vô” để quét sạch hết tri kiến.
Chữ “vô” chẳng phải không có, có mà không thật. Như
chiêm bao có, mà không thật.
Cuối
cùng, dùng 2 chữ “viễn ly” (xa lìa), luôn cả cứu cánh
Niết Bàn cũng phải xa lìa. Vì những thứ ấy là hiểu biết
sai lầm, vừa rồi cô hỏi cũng là những hiểu biết sai lầm;
rồi chấp sai lầm cho là đúng, nên không bao giờ đạt đến
kiến tánh. Dùng cái không biết là dẹp hết tất cả sai lầm
do bộ óc nhận biết.
Trương
Quốc Anh là người Hoa ở Chợ Lớn, năm 1979 qua Pháp. Khi xuống
phi trường đi về nhà chị trên chiếc xe cùng mấy chục người.
Đi được nửa đường bị lật xe, mọi người đều bị
thương. Xe Hồng Thập Tự đến đưa mọi người lên xe, khi
kéo Trương Quốc Anh ra xe thì y hỏi “các vị làm gì vậy?”
không biết mình đang bị tai nạn. Đến nhà thương thì mọi
người đều khám, tới Trương Quốc Anh khám thì y nói “khỏi
rọi kiến, tôi không có bị thương”.
Nhân
viên y tế nói: Tuy bên ngoài không có gì, nhưng có thể bị
thương ở bên trong?
Rọi
kiến rồi, chứng tỏ không bị thương. Vì lúc ấy, y giữ
nghi tình nên không biết gì; những người biết đều bị
thương. Vậy có nghi tình là không biết thì không nguy hiểm.
Hỏi:
Thân
và tâm liên quan mật thiết thế nào, như thân làm thì tâm
chịu, tâm làm thì thân chịu?
Đáp:
Nếu
không có tâm mà có thân là thân chết thì không làm gì được,
phải có tâm nên mới hoạt động. Tất cả Phật pháp nguồn
gốc là tâm, nguồn gốc vũ trụ cũng là tâm. Tâm này không
phải tâm của ai, tâm của chính mình. Thân này chỉ là một
hạt bụi trong vũ trụ. Tất cả nguồn gốc gì đều là tâm
mình, không phải tâm của người khác. Tin tự tâm là phải
tin như vậy.
Tâm
chỉ huy thân làm, làm thiện thì được phước báo; làm ác
thì chịu khổ báo. Đó là nhân quả do tâm mình tạo. Người
ta không để ý tâm, cứ để ý thân; muốn thỏa mãn dục
vọng cho thân, không biết thân thay đổi từng sát na.
Như
mới sanh đứa bé, cho đứa bé là ta; lớn lên thành con nít,
cho con nít là ta; rồi thành người lớn, cho người lớn là
ta; biến thành người già, cho người già là ta; người già
chết thiêu thành tro chôn thành đất, cho đất tro là ta.
Nếu
đất tro là ta thì chẳng có giá trị gì! Đất tro không phải
là ta thì người già không phải là ta, người trẻ không phải
là ta, con nít không phải là ta, đứa bé cũng không phải là
ta. Nhưng ai cũng chấp thân này là ta, muốn thỏa mãn dục
vọng, tranh giành giết hại lẫn nhau, nên mới sanh ra đủ
thứ phiền não.
Nếu
biết nguồn gốc của ta là hư không vô sở hữu, trống rỗng
chẳng có gì. Vậy ai hưởng? Chẳng có ai hưởng. Nhưng bây
giờ cho thân này hưởng, đến chừng hơi thở hết; rồi muốn
cho con cháu của ta hưởng, tắt thở cũng còn chấp cái ta.
Cho nên, có sự luân hồi sanh tử.
Hỏi:
Muốn
khỏi sanh tử luân hồi phải làm sao?
Đáp:
Không
muốn sanh tử luân hồi thì phải tham thiền là hỏi câu thoại
và nhìn thoại đầu, đến chừng kiến tánh mới ra khỏi vòng
sanh tử luân hồi.
Tham
thiền không cần biết tới ái dục hay không ái dục, chỉ
là giữ nghi tình đến khi kiến tánh. Nếu giữ được nghi
tình thì ái dục làm sao nổi lên! Không những ái dục không
nổi lên, mà không ái dục cũng không nổi lên. Vì dục và
không dục là tương đối.
Hỏi:
Có
thể Thiền Giáo song hành được không?
Đáp:
Vậy
là không tin tự tâm và không tin pháp môn, làm sao thành tựu
được? Dẫu cho tin pháp môn Tổ Sư thiền 100% cũng còn chưa
được, huống là chưa tin! Việc gì tin mới thực hành được,
còn chưa tin thì không thể thực hành.
Hỏi:
Không
biết mà chụp được trái banh, vậy có phải là cái biết
của Phật tánh không?
Đáp:
Cái
biết của tâm mình không bao giờ ngưng, mà khắp không gian.
Tại chưa tin tự tâm nên tưởng là không biết, tin tự tâm
đầy đủ thì biết cái biết đã sẵn sàng từ hồi nào.
Pháp
môn Tổ Sư thiền là phương tiện để ngưng biết bộ óc
thì biết Phật tánh hiện ra phải không?
Ngưng
hết tất cả tìm hiểu biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ biết;
còn lại không biết là nghi tình. Ban đầu dùng nghi tình ngưng
3 cái biết trên, nếu công phu miên mật cũng hiện cái biết
sẵn để dùng.
Hỏi:
Người
xưa nói: “Tham thiền học đạo là lầm dụng tâm, thành Phật
làm Tổ là lầm dụng tâm; trừ ngoài cái này ra thì làm cái
gì, mới chẳng là lầm dụng tâm?” Xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Đây
là bản tâm vô sở hữu như hư không, đã vô sở hữu thì
lấy cái gì để làm? Nếu có làm là có kiến lập thì không
phải vô sở hữu. Nguồn gốc của Phật pháp như hư không
vô sở hữu, nguồn gốc của vũ trụ như hư không vô sở
hữu. Vô sở hữu là trống rỗng không có cái gì, gọi là
tánh không; vì tánh không nên dung nạp tất cả mặt trăng,
mặt trời, cây cối,… và ứng dụng.
Đã
vô sở hữu thì ai làm Phật? Ai làm Tổ? Kiến lập Phật,
kiến lập Tổ là lầm dụng tâm. Nghĩa chữ “Phật” là
ngộ, ngộ là tại mê; vô sở hữu thì không có mê ngộ. Nếu
kiến lập ngộ tức là mê, có mê để đối đãi.
Như
4 bài kệ nói về chữ “tri” của ngài Vĩnh Gia: Kiến lập
cái biết thì có không biết để đối đãi. Kiến lập sở
biết tịch lặng là thanh thanh tịnh tịnh cũng là kiến lập,
đều có năng sở để đối đãi.
Thấu
rõ được hư không vô sở hữu thì lấy cái gì gọi là thiền?
Lấy cái gì gọi là đạo? Lấy cái gì gọi là Phật? Cho nên,
người xưa nói là lầm dụng tâm. Nếu không có sai lầm thì
tâm trống rỗng vô sở hữu, tự nhiên dung nạp và ứng dụng.
Hỏi:
Thế
nào là chánh nghi?
Đáp:
Chánh
nghi là không dùng tâm đi tìm hiểu, không dùng tâm để suy
nghĩ, không dùng tâm ghi nhớ; chỉ có nghi tình là không hiểu
không biết.
Dùng
tâm đi nghiên cứu tìm hiểu gọi là hồ nghi. Nhà khoa có nghi,
nhưng dùng bộ óc đi nghiên cứu tìm hiểu; họ ngộ được
pháp thế gian, chỉ có giá trị thế gian; không ngộ được
bản tâm của chính mình, tức là không biết được chính
mình thì không làm chủ nên không được tự do.
Chánh
nghi là ngộ được bản tâm chính mình nên làm chủ thì được
tự do, giải thoát tất cả khổ. Trống rỗng vô sở hữu
không gì trói buộc gọi là giải thoát, trống rỗng vô sở
hữu không chỗ để trụ gọi là vô trụ, trống rỗng vô
sở hữu tự nhiên cùng khắp không gian thời gian, cùng khắp
không gian gọi là Như Lai, cùng khắp thời gian không sanh diệt
gọi là Niết Bàn, tâm có tánh giác ngộ gọi là Phật tánh.
Bồ
Đề, Niết Bàn, giác ngộ, giải thoát,… dù có nhiều danh
từ sai biệt, nhưng ý không khác; đều là diễn tả thể dụng
của bản tâm vô sở hữu. Kỳ thật là mình đang dùng, nên
Phật nói “tất cả do tâm tạo”. Tất cả bạn đồng tham
nhìn thấy nhau, nói chuyện, chỗ ngồi,… đều nhờ trống
rỗng vô sở hữu.
Nhưng
tiếc rằng mình ứng dụng hàng ngày mà chẳng tự biết, rồi
đuổi theo những danh từ đoán mò bậy bạ; không đúng với
thật tế, thật tế là mình đang dùng. Cho nên, muốn làm Phật
làm Tổ là lầm dụng tâm vậy.
Hỏi:
Tại
sao Lâm Tế là đệ tử lại đánh thầy là Hoàng Bá?
Đáp:
Đó
là biểu thị bất nhị (không có khác), Lâm Tế đánh bạt
tai Hoàng Bá thì không khác đánh bạt tai cho Đại Ngu; nếu
có khác là nhị, như Phật Thích Ca đản sanh nói “Trên trời
dưới đất chỉ có mình ta” là hiển bày nghĩa bất nhị.
Có người hỏi Vân Môn: Thế nào trên trời dưới đất chỉ
có mình ta?
Vân
Môn đáp: Lúc đó biết được, ta đánh chết cho chó ăn.
Tại
sao? Nếu đánh chết còn xác là nhị, đem xác cho chó ăn thì
xác không còn, chỉ có Vân Môn là bất nhị, tức là hiển
bày nghĩa bất nhị. Không phải Vân Môn muốn đánh chết Phật
Thích Ca.
“Gặp
Phật chém Phật, gặp ma chém ma”, là chém tâm chấp Phật
chấp ma của người đó. Chấp cái gì thì chém cái đó.
Hỏi:
Vừa
rồi, Hòa thượng khai thị là muốn tham thiền là lầm dụng
tâm, muốn thành Phật làm Tổ cũng là lầm dụng tâm. Vậy
Hòa thượng đang dạy chúng con là lầm dụng tâm sao?
Đáp:
Do
người ta hỏi nên tôi mới đáp, nếu không hỏi thì không
đáp. Vì hỏi là lầm dụng tâm mà người ta không biết, qua
sự giải đáp thì biết là lầm dụng tâm. Tâm vốn là vô
sở hữu thì không có lầm dụng hay không lầm dụng.
Nói
lầm dụng và không lầm dụng đều không đúng, vì là tương
đối. Bản tâm trống rỗng vô sở hữu không có tương đối.
Cho nên, ngài Vĩnh Gia nói là vô duyên tri (không có nhân duyên
đối đãi).
Người
hỏi có tư tưởng chấp thật là lầm dụng tâm, như chấp
Phật là thật, chấp đạo là thật. Vì vậy, Lục Tổ nói
“bổn lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai”, tức là xưa
nay vốn không có vật gì, thì ở chỗ nào để dính bụi trần?
Như thế chỗ nào để lầm dụng tâm!
Bây
giờ thầy hỏi cũng là lầm dụng tâm vậy, tôi giải thích
để khỏi lầm dụng tâm rồi chuyên hỏi và nhìn đến chỗ
kiến tánh. Lầm dụng tâm là chướng ngại sự kiến tánh.
Hỏi:
Gặp
Phật chém Phật, gặp Tổ chém Tổ, gặp cái biết cũng chém.
Vậy cái không biết làm sao chém?
Đáp:
Cái
không biết cũng phải chém, vì biết và không biết là đối
đãi cũng là biên kiến; biên kiến là một trong năm thứ ác
kiến. Có người hỏi tu đến thoại đầu thì sắp biết phải
không?
Tôi
nói: Không phải! Không thể nói là sắp biết, vì cái biết
đã sẵn có từ hồi nào là vô thỉ vô chung; không bao giờ
bị gián đoạn. Như mặt trời không bao giờ ngưng chiếu!
Nếu nói trời gần sáng, mặt trời sắp chiếu thì không đúng.
Không thấy mặt trời là bị mây đen và trái đất che khuất.
Cái
biết của mình bị che khuất là do có tư tưởng kiến lập
đạo, kiến lập Phật, kiến lập Bồ Tát,… Không có kiến
lập mới đúng như hư không vô sở hữu dung nạp và ứng
dụng. Cho nên, Phật Thích Ca nói là “vô thỉ”, không có
kiến lập thì không có bắt đầu; cũng là nghĩa vô sanh, không
có sự sanh khởi. Nếu có sanh khởi thì phải có bắt đầu.
Hỏi:
Hư
không vô sở hữu, sao người sở hữu?
Đáp:
Hư
không vô sở hữu là để thí dụ cho tâm mọi người, vì
tâm mọi người hay ham sở hữu rồi kiến lập sở hữu; nên
mới chướng ngại cái dụng của tâm. Nếu hoàn toàn vô sở
hữu thì thần thông trí huệ bằng như của Phật, dụng không
có gì hạn chế thì tất cả dung nạp và ứng dụng.
Bây
giờ, các vị ở đây cũng được ứng dụng, nhưng ứng dụng
còn ít. Do mình kiến lập nên bị chướng ngại, chứ không
phải hư không vô sở hữu rồi tại sao sở hữu! Nếu có
sở hữu thì lấy gì để thí dụ cho tâm.
Hỏi:
Bất
lập văn tự, sao lại có lập văn tự?
Đáp:
Hai
chữ “bất lập” cũng là văn tự, nên Lục Tổ nói “bất
lập văn tự không phải phế bỏ văn tự”. Tất cả kinh
Phật đều phải nhờ văn tự mới hoằng dương. Thiền tông
cũng nhờ văn tự, nhưng không chấp vào văn tự gọi là bất
lập văn tự. Nếu chấp vào văn tự thì 2 chữ “bất lập”
cũng là văn tự.
Hỏi:
Việc
trên đời là do người ta suy nghĩ mới có, nếu không suy nghĩ
thì không có phải không?
Đáp:
Có
và không có đều là sai lầm, vì kiến lập có nên có cái
không có để đối đãi; kiến lập không có thì đã nhìn
nhận có rồi. Chấp có và không có đều là biên kiến, biên
kiến là một trong năm thứ ác kiến.
Hỏi:
Biết
cũng chém và không biết cũng chém. Vậy lấy cái gì để chém?
Đáp:
Ngài
Lâm Tế nói: “Gặp Phật chém Phật, gặp ma chém ma”, chứ
không phải là chém cái biết. Cái biết của bản tâm đã
sẵn sàng từ hồi nào, không có thể chém được; không có
thể kiến lập. Nên Phật nói là vô thỉ, cũng là nghĩa vô
sanh. Người chứng quả gọi là ngộ pháp vô sanh, chứng vô
sanh pháp nhẫn.
Pháp
đã vô thỉ vô sanh thì lấy gì để chứng? Nếu có gì để
chứng thì có bắt đầu là có sanh, cũng là kiến lập rồi.
Tất cả pháp đều không thể kiến lập, có kiến lập là
có bắt đầu thì có sanh. Cái biết cũng vậy, không thể kiến
lập. 4 bài kệ của ngài Vĩnh Gia nói về chữ “tri”:
Kiến
lập sở tri tịch lặng, như người tu cho thanh thanh tịnh tịnh
là cao; nhưng vì kiến lập nên bị chướng ngại cái dụng
của tâm. Rồi tiến lên một bước nữa là không biết sở
tri, nhưng tự mình biết mình có cái tri; cũng là kiến lập,
không phải là vô duyên tri. Vì kiến lập cái tri nên có bất
tri để đối đãi.
Ngài
Vĩnh Gia dùng cái tay để thí dụ cho tâm. Nếu tay không cầm
đồ vật và cũng không tự làm nắm tay thì dụng của tay
hoạt bát vạn năng, nên lấy thứ gì cũng được. Tham thiền
dùng nghi tình tự động chấm dứt tất cả biết của bộ
óc, rồi sau cùng cái không biết của bộ óc cũng chấm dứt,
thì đến thoại đầu rồi kiến tánh.
Hỏi:
Thế
nào là kiến, văn, giác, tri?
Đáp:
Lục
căn chia làm 4 bộ phận:
Kiến
là nhãn căn thấy.
Giác
có 3 phần (xúc giác, khứu giác, vị giác).
Văn
là nhĩ căn nghe.
Tri
là ý căn.
Hỏi:
Cội
Nguồn Truyền Thừa của ngài Nguyệt Khê nói: “Lìa kiến
văn giác tri, nếu dính với kiến văn giác tri là kiến văn
giác tri, chứ không phải Phật tánh”. Xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Cuộc
sống hàng ngày đều dùng kiến văn giác tri để đối phó.
Vì chấp vào kiến văn giác tri, nên phải lìa kiến văn giác
tri. Nếu không chấp vào kiến văn giác tri thì khỏi cần lìa,
tức là không lấy cũng không bỏ.
Bộ
não làm chủ thì theo ngã chấp tạo ra đủ thứ nghiệp, vì
bộ não là chánh phủ trung ương điều khiển toàn thân. Thuận
theo ngã chấp nên tạo ra nhiều thứ tội lỗi, như ham ăn
thì giết hại chúng sanh. Vì vị giác cho ngon nên giết hại
không kể, chỉ là muốn thỏa mãn vị giác.
Người
kiến tánh cũng dùng bộ óc, lục căn, nhưng Phật tánh làm
chủ thì bộ óc, lục căn làm nô lệ của Phật tánh. Phật
tánh chỉ có thiện, chẳng có ác; chỉ giúp đỡ chúng sanh,
chứ không giết hại chúng sanh. Nhưng vẫn dùng lục căn, lục
căn không có chủ quyền.
Như
Tòng Lâm có nuôi trâu bò đề cày ruộng, nuôi ngựa để chở
đồ; nhưng phải qua sự tịnh thí (cho cư sĩ), tức là không
có quyền bán hay cho người khác. Tại sao? Vì bán cho người
khác thì người khác có thể giết nó, cho người ta cũng vậy.
Mặc dầu, đã thí cho cư sĩ, nhưng cư sĩ cũng không có quyền
bán hoặc cho. Tu sĩ phải nuôi con vật đó cho đến chết.
Giới luật gọi là tịnh thí.
Giới
giữ tiền của Sa Di, Tỳ Kheo là không được cầm tiền bạc
cũng phải sự tịnh thí, để cho cư sĩ giữ tiền bạc; nếu
có muốn dùng thì phải hỏi cư sĩ, nên không dám dùng bậy.
Vì dùng bậy thì cư sĩ biết. Cho nên, giới luật nhà Phật
kiềm chế rất tỉ mỉ.
Vì
ngã chấp nặng nên không làm chủ được, nên Phật dạy giữ
nghi tình là không hiểu không biết; không biết tốt đẹp
thì không ham thích, không biết xấu thì không chê bai. Tập
dần dần không ham chê, nên mới tránh được giết hại, tranh
chấp danh lợi.
Hỏi:
Pháp
môn thoại đầu có từ hồi nào? Tại sao không ai biết để
thực hành?
Đáp:
Không
phải là không ai biết! Như ở Việt Nam có phái Vô Ngôn Thông
và phái Liễu Quán, phái Trúc Lâm. Thiền sư Vô Ngôn Thông
là đệ tử của Thiền sư Ngưỡng Sơn thuộc phái Quy Ngưỡng.
Bây
giờ, mình khỏi cần truy cứu những thứ đó, chỉ cần lo
cho mình tu hỏi và nhìn được miên mật. Đừng có lo Duy Lực
kiến tánh hay chưa kiến tánh, có đủ tư cách dạy người
hay không có. Nếu thấy dạy đúng thì theo tu, thấy không đúng
thì đừng theo.
Hỏi:
Người
bạn nói với con: “Lấy trí tuệ làm sự nghiệp, nếu ông
tham thiền gieo nhân khờ ngốc thì ngày càng khờ ngốc thêm”.
Vậy như thế nào?
Đáp:
Vì
người bạn đó có kiến lập sở hữu, tưởng là trí huệ
do học mà được. Nhưng Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Vô trí diệc
vô đắc”, vậy là người bạn đó nghịch với ý của Phật
mà tự mình không biết. Bát Nhã Tâm Kinh có 262 chữ, mà dùng
17 chữ “vô” để quét sạch tất cả hiểu biết từ phàm
phu đến Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa và dùng 2 chữ
“viễn ly” để quét Phật thừa.
Thật
tế, nói xa lìa cũng không đúng, vì đâu có cái gì để xa
lìa! Cũng không có người để xa lìa. 4 bài kệ chữ “tri”
của ngài Vĩnh Gia dùng cái tay để thí dụ rất rõ. Nhưng
những người học Phật không biết nguồn gốc trống rỗng
vô sở hữu. Ngài Long Thọ nói “Tâm như hư không vô sở
hữu nên dung nạp và ứng dụng”.
Phật
pháp Đại thừa vẫn còn sở hữu, pháp tâm tâm số cũng còn
sở hữu. Tuy không có hình tướng, không có số lượng thấy
giống, nhưng có khác; không phải giống hết. Các vị Giáo
môn giải thích tuy tỉ mỉ, nhưng tỉ mỉ không bằng ngài
Long Thọ giải thích. Người giáo môn cũng không thể hiểu
được, vì có kiến lập của mình.
Vô
trí diệc vô đắc, vậy trí huệ làm sao học được? Rồi
dùng bộ óc để ghi nhớ cho là trí huệ, nhưng không biết
bộ óc sau khi chết, đi thiêu biến thành tro, chôn dưới đất
biến thành đất. Tất cả ghi nhớ đâu còn nữa, dẫu cho
còn cũng không dùng được. Phật pháp là thật tế thật dụng
là mình đang dùng, sao còn ghi nhớ những danh từ đoán mò
bậy bạ cho là cao!
Hỏi:
Phật
tánh của chúng sanh đầy đủ cùng khắp không gian thời gian,
tại sao chúng con không dùng ra được?
Đáp:
Như
ánh sáng mặt trời không nghiêng về người nào, chiếu cùng
khắp không gian thời gian; người không thấy ánh sáng mặt
trời là do lỗi người mù, chứ không phải do lỗi mặt trời.
Mình
là người mù không có Phật tánh sao?
Mình
tuy mù nhưng có Phật tánh, mà lại bị che khuất. Phật tánh
không thể nói có hay không có. Vì vốn vô thỉ vô sanh, nếu
nói có là biên kiến; nói không có cũng là biên kiến, tức
là nghiêng về một bên có tương đối. Biên kiến là một
trong năm thứ ác kiến.
Người
ham kiến giải cứ đuổi theo lời nói danh từ để chấp.
Nghe Phật nói có cho có là chơn lý, nghe Phật nói không có
thì cho không có là chơn lý. Kỳ thật, Phật Thích Ca không
lập chơn lý. Tất cả tôn giáo đều có kiến lập chơn lý
mà ngộ được, rồi đem chơn lý đó hoằng dương.
Phật
Thích Ca ngộ trống rỗng vô sở hữu, không có gì hết thì
lấy gì để làm chơn lý. Vì chơn lý thì có giả lý để
làm tương đối, cho nên kinh Lăng Nghiêm nói “chơn với vọng
là 2 thứ vọng”. Nếu nói tất cả là huyễn hóa đã lọt
vào biên kiến mà tự mình không biết. Kinh Lăng Nghiêm nói
“phi huyễn không thể kiến lập, huống là pháp huyễn!”
4
bài kệ nói về chữ “tri” của ngài Vĩnh Gia: Luôn cả chữ
“tri” cũng không thể kiến lập, nếu kiến lập thành 2
tri; tức là Thiền tông nói “trên đầu mọc thêm đầu”,
nên mời bác sĩ cắt bỏ. Vì đó là bệnh. Cũng không thể
kiến lập Phật, Phật là do mê mới có.
Cho
nên, đã đoạn dứt nghi căn thì không có ngộ nữa. Lúc đó
cái mê hết. Nhưng người Tiểu thừa cho là có cái ngộ, tức
là chứng quả Niết Bàn thì còn mê. Vì vậy, Thiền tông nói
“ngộ rồi đồng như chưa ngộ”.
Vậy,
khỏi cần hỏi và nhìn phải không?
Nếu
ngộ rồi khỏi cần hỏi và nhìn, gọi là bảo tham (đã no
thì không muốn ăn); bây giờ còn đói thì phải ăn. Thiền
sư Nghĩa Thanh kiến tánh đến nhập chúng chùa của Đầu Tử
(kiến tánh), tối ngày ăn xong rồi ngủ, không theo chúng tham
thiền. Chúng Tăng bất mãn rồi phản ảnh lên trụ trì, trụ
trì đến nói với Nghĩa Thanh: Sao thầy không theo chúng tham
thiền?
Nghĩa
Thanh đáp: Đồ ăn ngon, nhưng no quá nên không thèm.
Trụ
trì nói: Nhiều người đối với ông thì bất mãn.
Nghĩa
Thanh đáp: Nếu có thỏa mãn thì đâu có ích lợi gì!
Trụ
trì mới biết ông đã kiến tánh. Sau này, Thiền sư Nghĩa
Thanh ở lại núi Đầu Tử thuộc tông Tào Động.
Hỏi:
Con
hỏi câu thoại, sao có lúc con muốn thức thì buồn ngủ, muốn
ngủ lại thức?
Đáp:
Thức
cũng hỏi và nhìn, ngủ cũng hỏi và nhìn, nhớ cũng hỏi và
nhìn, quên cũng hỏi và nhìn, đang ăn cơm cũng hỏi và nhìn,
đi cầu cũng hỏi và nhìn.
Dùng
cái không biết để tu, khi kiến tánh thì có biết không?
Kiến
tánh sẽ tự biết. Ngài Long Thọ nói: “Sao không nói hư không
quảng đại vô biên dung nạp tất cả vật, mà nói hư không
vô sở hữu dung nạp tất cả vật?” Theo hiểu biết người
thường là hư không quảng đại mới dung nạp tất cả vật,
nếu chẳng có hư không làm sao dung nạp tất cả vật? Trước
mắt mình thấy rõ, bất cứ cái gì, như mặt trời, mặt
trăng, đất đai, nhà cửa, cây cối,… đều ở trong hư không.
Cho nên, ngài nói “hư không vô sở hữu dung nạp và ứng
dụng”.
Pháp
tâm, tâm sở không có hình tướng số lượng, tại sao không
dung nạp? Tâm theo Duy Thức gọi là tâm vương, tức là 8 thức
(nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức;
5 thức này gọi là tiền ngủ thức. Thức thứ 6 là ý thức
mà hàng ngày mình thường dùng để đối phó với cuộc sống.
Thức thứ 7 là mạt na thức. Thứ thứ 8 là a lại da thức).
Tác dụng của tâm vương có 51 tâm sở (sở hữu của tâm),
như buồn, vui, yêu, ghét,… nói chung là pháp tâm tâm sở (tâm
số).
Ngài
nói: Pháp tâm, tâm sở là tướng giác tri, không phải tướng
dung nạp. Lại, pháp tâm, tâm sở còn có nghĩa là không dung
nạp. Tại sao? Vì tâm tà kiến không dung nạp tâm chánh kiến,
tâm chánh kiến không dung nạp tâm tà kiến; còn hư không đều
dung nạp tất cả. Tất cả pháp đều vô sở hữu, sao còn
dùng hư không để thí dụ?
Ngài
trả lời: Chúng sanh ở nơi các pháp hư vọng sanh tâm chấp
trước, nhưng hư không tuy là hư vọng mà không sanh tâm chấp
trước. Cho nên, mới dùng hư không để thí dụ. Vì hư không
chẳng có gì để chấp trước.
Phần
chữ nghiêng đậm trong ngoặc là Hòa thượng Duy Lực giảng
Trích Từ Đại Trí Độ Luận của Ngài Long Thọ Bồ Tát.
Hỏi:
Tại
sao chẳng nói hư không quảng đại vô biên dung nạp tất cả
vật, mà lại nói hư không vô sở hữu dung nạp tất cả vật?
Đại thừa cũng vô sở hữu sao không dung nạp tất cả vật?
Đáp:
Hiện
tiền thấy hư không vô sở hữu, tất cả vạn vật đều
ở trong đó, vì vô sở hữu nên mới dung nạp.
Hỏi:
Pháp
tâm, tâm sở cũng vô hình tướng, tại sao không dung nạp tất
cả vật?
Đáp:
Pháp
tâm, tâm sở là tướng giác tri, chẳng phải tướng dung nạp;
lại chẳng có trụ xứ trong ngoài, gần xa... chỉ do tướng
phân biệt mới biết có khái niệm của tâm.
Sắc
pháp có trụ xứ, do sắc mới biết có hư không, vì sắc chẳng
dung nạp nên mới biết hư không dung nạp; bởi do vô minh nên
biết có minh, do khổ nên biết có vui, do chỗ không có sắc
nên nói có hư không, chẳng có tướng khác.
Lại
nữa, pháp tâm, tâm sở còn có cái nghĩa không dung nạp: Cũng
như tâm tà kiến không dung nạp chánh kiến, tâm chánh kiến
không dung nạp tà kiến, còn hư không thì chẳng phải vậy,
tất cả đều dung nạp.
(Như
bây giờ để cái bình chỗ này thì muốn để thêm cái gì
cũng không được, vì chỗ này không thể dung nạp được
nữa. Bình thường người học giáo môn nói chúng sanh do vô
minh, kỳ thật vô minh là đối với minh; tại cái minh mới
biết vô minh).
Lại
pháp tâm, tâm sở là tướng sanh diệt, là pháp có thể đoạn
dứt, hư không thì chẳng thể đoạn dứt.
(Tu
có thể đoạn dứt tà kiến, nếu đoạn dứt không được
thì tu đâu có ích lợi gì! Còn hư không thì không thể đoạn
dứt).
Pháp
tâm, tâm sở với hư không chỉ giống ở chỗ vô hình vô
sắc, chứ không được nói là tất cả đều chẳng khác.
Do đó nên trong các pháp nói hư không dung nạp tất cả.
(8
thức, 51 tâm sở và hư không là giống chỗ không hình tướng).
Hỏi:
Ý
tôi hỏi là tại sao chẳng nói hư không quảng đại vô biên
dung nạp tất cả vật, mà lại nói vô sở hữu nên dung nạp
tất cả vật?
Đáp:
Tôi
nói hư không chẳng tự tướng, do sắc tướng nói có hư không.
Nếu chẳng có tự tướng thì chẳng có hư không, nếu chẳng
có hư không thì lấy gì nói quảng đại vô biên!
(Nếu
nói quảng đại vô biên là kiến lập hư không rồi, đã có
chứ không phải là không có).
Hỏi:
Ông
nói tướng dung nạp tức là hư không rồi, tại sao lại nói
chẳng có?
Đáp:
Tướng
dung nạp tức là chẳng có sắc tướng, là chỗ sắc chẳng
đến, gọi là hư không. Nếu hư không là thật thì lúc chưa
có sắc phải có hư không; nếu chưa có sắc mà có hư không
thì hư không vô tướng. Tại sao vậy? Vì chưa có sắc vậy.
Do có sắc nên biết có hư không, vì có sắc mới có vô sắc.
Nếu trước có sắc sau mới có hư không thì hư không lại
thành pháp tạo tác, pháp tạo tác chẳng gọi là thường.
(Vì
pháp tạo tác thì phải có hoại, còn hư không là thường,
không thể hoại, không có ai tạo tác được).
Nếu
có pháp vô tướng thì chẳng thể được, do đó nên chẳng
có hư không.
(Chẳng
có hư không, nhưng dung nạp và ứng dụng tất cả. Đó là
nghịch với hiểu biết của bộ não, là đúng với thật tế;
còn bộ não là không đúng với thật tế. Cái thật tế mà
người ta không chịu, không đúng thật tế thì người ta mới
chịu, gọi là tập khí phiền não. Cho nên, ngài Lai Quả nói
“tôi nói thật thì người ta không tin, tôi nói dối mà các
vị lại tin).
Hỏi:
Nếu
vậy hư không là thường có, bởi do sắc mà có tướng hư
không hiện rồi chứng tỏ có hư không ư?
Đáp:
Nếu
hư không trước đã vô tướng thì sau cũng là vô tướng.
Nếu hư không trước đã hữu tướng thì tại sao tướng ấy
không có sở tướng (chẳng có tướng sở hữu của hư không)?
(Mặc
dầu, trước mặt mình là hư không, mình cũng ngồi ở trong
hư không; nhưng không có tướng sở hữu của hư không, thật
tế là vậy).
Nếu
trước vô tướng thì sau cũng vô tướng (chẳng có tướng
mạo của hư không). Nếu lìa hữu tướng vô tướng thì chẳng
có trụ xứ của tướng. Nếu tướng chẳng trụ xứ thì sở
tướng cũng chẳng trụ xứ. Sở tướng chẳng có nên tướng
cũng chẳng có, lìa tướng và sở tướng đâu còn pháp nào
nữa!
Cho
nên hư không chẳng gọi là tướng, chẳng gọi là sở tướng,
chẳng gọi là pháp, chẳng gọi là phi pháp; chẳng gọi là
hữu, chẳng gọi là vô, ngôn ngữ cách tuyệt, tịch diệt
như vô dư Niết Bàn, tất cả pháp khác cũng như thế.
(Tất
cả tương đối không thể kiến lập, vì vô sở hữu; nhưng
người ta lại chấp các pháp thật có, nên mới sanh ra đủ
thứ phiền não).
Hỏi:
Nếu
tất cả pháp đều như thế tức là hư không, tại sao còn
lấy hư không để thí dụ?
Đáp:
Nhân
quả của các pháp đều là hư vọng, bởi vô minh mới có.
(Như
con gà sanh ra trứng gà, trứng gà ấp ra con gà và cha mẹ sanh
ra con cái, con cái sanh ra con cái nữa; nhưng không có cha mẹ
đầu tiên, tức là không có bắt đầu. Cho nên nói đều là
hư vọng).
Cái
hư vọng đó lừa gạt chúng sanh, vì chúng sanh ở nơi các
pháp hư vọng sanh tâm chấp trước, mà chẳng phải ở nơi
hư không sanh tâm chấp trước, mặc dù hư không cũng là hư
vọng. Lục trần hư vọng lừa gạt tâm chúng sanh, hư không
dù hư vọng nhưng chẳng phải như thế, cho nên lấy hư không
để thí dụ.
(Lục
trần là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Tâm chúng sanh bị
lục trần lừa gạt, nên Bát Nhã Tâm Kinh dùng chữ “vô”
để quét sạch lục căn, lục trần, lục thức. Tuy hư không
hư vọng, nhưng không có lừa gạt chúng sanh).
Dùng
việc thô hiện tiền để phá việc vi tế, như hư không bởi
sắc mới có nên chỉ là giả danh, chẳng phải pháp nhất
định.
(Vì
chấp trước khó phá, việc thô dễ thấy, việc vi tế khó
thấy. Cho nên, dùng việc thô để chứng tỏ việc vi tế là
hư vọng. Hư không vốn là sở hữu, vì có sắc mới chứng
tỏ có hư không, sắc thì thấy được, còn hư không vi tế
nên không thấy được).
Chúng
sanh cũng thế, do ngũ uẩn hòa hợp mới có, cũng là giả danh,
chẳng phải pháp nhất định.
(Ngũ
uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức; sắc là nhục thân
này; thọ, tưởng, hành, thức là thể tinh thần; thọ là cảm
thọ, như biết buồn vui,…; tưởng là biết suy nghĩ; hành
là thay đổi biến hóa, như từ con nít biến thành người
lớn, biến thành người già hay là hành vi mỗi ngày; thức
là phân biệt, như phân biệt cái này đẹp thì thích, cái
kia xấu thì chê).
Đại
thừa Phật pháp cũng như thế, bởi do chúng sanh tánh không,
nên chẳng Phật chẳng Bồ Tát, bởi do chúng sanh chấp có,
nên có Phật có Bồ Tát.
(Tâm
của chúng sanh như hư không vô sở hữu là tánh không, nếu
hiểu được tánh không thì chẳng có Phật, cũng chẳng có
Bồ Tát, có Phật có bồ Tát thì chẳng phải là tánh không,
tức đã có kiến lập).
Nếu
chẳng Phật chẳng Bồ Tát thì chẳng có Phật pháp Đại thừa.
Do đó Đại thừa dung nạp vô lượng vô biên A Tăng Kỳ chúng
sanh.
(Chẳng
có Phật pháp Đại thừa, tức là vô sở hữu nên mới dung
nạp. Hư không vô sở hữu dung nạp vũ trụ, vạn vật, mặt
trời, mặt trăng, nhà cửa, cây cối,… Phật pháp Đại thừa
cũng vô sở hữu, nên dung nạp tất cả chúng sanh, gọi là
vô lượng vô biên a tăng kỳ chúng sanh, tức vô lượng số
chúng sanh).
Nếu
thật có pháp thì chẳng thể dung nạp vô lượng chư Phật
và đệ tử.
(Thật
tế, chẳng có pháp mới dung nạp; trái lại hiểu biết của
bộ óc phải có thì dung nạp, còn cái này phải không có nên
dung nạp. Như chẳng có nên dung nạp tất cả, nghịch với
bộ óc nên khó hiểu. Vì không có pháp mới dung nạp tất
cả chư Phật và đệ tử, nếu thật có thì không thể dung
nạp.
Có
chỗ trống rỗng nên các vị ngồi được, không có chỗ trống
rỗng thì các vị không có chỗ ngồi. Bình thường giáo dục
chấp có thành thói quen, nên cái gì cũng phải có của mình;
như nhà cửa, đất đai,… của ta, nếu căn nhà chưa có quyền
sở hữu phải làm quyền sở hữu cho được yên tâm).
Hỏi:
Nếu
thật chẳng có hư không, tại sao dung nạp vô lượng vô biên
A Tăng Kỳ chúng sanh?
Đáp:
Do
nghĩa này nên Phật thuyết pháp Đại thừa vốn chẳng có,
nên A Tăng Kỳ chẳng có. A Tăng Kỳ chẳng có nên vô lượng
chẳng có, vô lượng chẳng có nên vô biên chẳng có; vô biên
chẳng có nên tất cả pháp cũng chẳng có, như thế nên dung
nạp.
(Tiểu
thừa là Thanh Văn thừa, Đại thừa là Bồ Tát thừa; nói
có Đại thừa là tâm chúng sanh chấp có. Theo hiểu biết của
bộ não, chẳng có thì lấy cái gì để dung nạp? Ngài Long
Thọ nói: Chẳng có mới dung nạp).
Nói
tiếng A Tăng Kỳ, A tiếng Hán dịch là vô, Tăng Kỳ dịch
là số, chúng sanh các pháp mỗi mỗi đều chẳng bờ bến
nên gọi là vô số.
(Chúng
sanh không có bờ bến, chẳng có con số nhất định, hư không
chẳng bờ bến, cây cối cũng chẳng bờ bến).
Dùng
số để đếm mười phương xa gần của hư không đều chẳng
bờ bến, nên gọi là vô số. Đem tính số để đếm từng
cái một của sáu Ba La Mật, mỗi mỗi bố thí, mỗi mỗi trì
giới v.v... vốn chẳng có số, dùng số ấy để đếm bao
nhiêu chúng sanh cho đến Phật thừa, quá khứ, hiện tại,
vị lai đều chẳng thể đếm, ấy gọi là vô số.
Cũng
có người nói số ban sơ là 1, chỉ có số 1, 1 thêm 1 nên
nói là 2, thế thì tất cả chỉ là 1, chẳng có số khaùc.
Nếu tất cả đều là 1 tức là vô số vậy. Cũng có người
nói tất cả pháp hòa hợp nên có tên gọi. Cũng như chiếc
xe do trục, vành xe, vỏ xe.... hòa hợp thành tên gọi là chiếc
xe, thật thì chẳng có pháp nhất định.
Một
pháp chẳng có thì nhiều pháp cũng chẳng có, vì trước một
sau mới nhiều. Lại nữa, dùng số để đếm vật, vật chẳng
có thì số cũng chẳng có. Nói vô lượng (không thể đo lường)
cũng như dùng đấu để lường gạo, dùng trí huệ để đo
lường các pháp cũng như thế.
Các
pháp tánh không, nên vô số; vô số nên vô lượng, vô lượng
nên vô biên, chẳng có thật trí (Tâm Kinh nói Vô Trí Diệc
Vô Đắc), như thế làm sao có tướng nhất định của các
pháp để đo lường! Vì vô lượng nên vô biên, lượng gọi
là tổng tướng, biên gọi là biệt tướng; lượng là ban
sơ, biên là cuối cùng.
Lại
nữa, từ cái ta cho đến kẻ biết kẻ thấy vốn chẳng có
thì thực tế cũng chẳng có; thực tế chẳng có nên vô số
cũng chẳng có, vô số chẳng có nên vô lượng chẳng có,
vô lượng chẳng có nên vô biên chẳng có; vô biên chẳng
có nên tất cả pháp cũng chẳng có.
(Chánh
pháp phá ngã là bị lừa gạt do vô minh mới có, thật tế
không có ta thì những cái liên hệ với ta cũng không có. Cho
nên, ta còn chẳng có thì ta thấy làm sao có?)
Do
đó, nên nói tất cả pháp cứu cánh thanh tịnh, ấy là pháp
Đại thừa dung nạp tất cả vậy.
(Cũng
là hiển bày nghĩa chẳng có mới dung nạp, có thì không thể
dung nạp; như cái bàn này, chỗ có để đồ thì không thể
dung nạp).
Chúng
sanh và pháp hai thứ làm nhân với nhau, nếu chẳng có chúng
sanh thì chẳng có pháp; nếu chẳng có pháp thì chẳng có chúng
sanh.
(Như
con gà với trứng gà, nếu không có con gà thì chẳng có trứng
gà; nếu chẳng có trứng gà thì chẳng có con gà, vì 2 thứ
làm nhân với nhau).
Trước
nói tổng tướng tất cả pháp không, sau nói biệt tướng
mỗi mỗi các pháp đều không, thực tế tức là diệu pháp
sau cùng.
(Thật
tế, mình đang dùng là trống rỗng vô sở hữu, cũng là diệu
pháp sau cùng. Diệu là bất khả tư nghì, tức là không có
gì để suy nghĩ được. Vì bộ óc suy nghĩ là muốn cái có,
còn cái này không có mà dung nạp).
Cái
này đã chẳng có thì cái kia làm sao có! Từ cái tánh bất
khả tư nghì cho đến tánh Niết Bàn cũng đều như thế.
(Thật
tánh chẳng có, nhưng dung nạp và ứng dụng. Theo bộ óc nhận
biết cho là vô lý. Thật tế là vậy, chẳng có nên mới dung
nạp, rõ ràng hư không trước mắt chẳng có gì nên mới dung
nạp tất cả. Như các vị được ngồi đây cũng nhờ trống
rỗng vô sở hữu. Có thì không thể dung nạp).
Ghi
chú:
Trong
bài nói “chẳng có” chẳng phải có ý nghĩa đoạn diệt,
vì người biết “chẳng có” ấy, chẳng thể đoạn diệt
vậy. Nếu đoạn diệt được thì ai biết chẳng có!
(Tuy
nhiên, trong bài nói chẳng có, nhưng chẳng có đó không có
ý đoạn diệt; đoạn diệt thì không có người biết, nhưng
có người biết chẳng có thì không thể đoạn diệt. Nếu
có đoạn diệt thì ai biết chẳng có?
Cho
nên, dùng bộ óc để hiểu thì thấy rất mâu thuẫn! Vì bộ
óc được giáo dục cho mọi thứ là thật đã thành thói quen.
Nếu đến thật tế là nghịch với hiểu biết của mình,
thành ra không thể chấp nhận. Vì vậy, khó lãnh hội được.
Do đó, ngài Long Thọ tỏ lòng từ bi giải thích kỹ càng
như thế!)
•Hỏi:
Con
không có niềm tin tự tâm, mà muốn tham thoại đầu. Vậy
con cần có kiến giải không?
Đáp:
Kinh
Lăng Nghiêm nói: “Tri kiến lập tri tức vô minh bổn, tri kiến
vô kiến tư tức Niết Bàn”, nghĩa là tri kiến lập tri tức
căn bản của vô minh, tri kiến vô kiến là Niết Bàn. Bất
cứ pháp môn nào, từ Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa đều
quét sạch tất cả tri kiến.
Bát
Nhã Tâm Kinh dùng 17 chữ “vô” để quét sạch tất cả tri
kiến Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa; cuối cùng dùng 2
chữ “viễn ly” để quét sạch tri kiến Phật thừa.
Hỏi:
Nếu
người tham thiền không có kiến giải, làm sao có chánh tín
đầy đủ để tham thiền?
Đáp:
Theo
Giáo môn cũng biết, hữu học là thấp, vô học là cao; Thiền
môn siêu việt hữu vô, tức là vô học không được, vì vô
học đối với hữu học là tương đối. Nếu chấp hữu học,
như ở lớp một không chịu lên lớp! Phải bỏ hữu học
tiến lên vô học. Còn chấp tri kiến thì ở hữu học hoài,
không thể đến vô học. Có đến vô học cũng còn phải bỏ.
Phật
tánh có tri kiến làm sao nói là hư không vô sở hữu? Ngài
Long Thọ dùng hư không vô sở hữu là giải theo Giáo môn,
không phải theo Thiền môn; vì Giáo môn ham thích tri kiến,
cho nên ngài giải thích rất tỉ mỉ là muốn giúp cho Giáo
môn. Thiền môn khỏi cần giải thích.
Cuối
cùng tôi còn ghi chú 2 chữ “chẳng có”, nếu chấp vào chẳng
có thì cũng không được, tức là lọt vào biên kiến. “Chẳng
có” không phải có ý nghĩa đoạn diệt, nếu đoạn diệt
được thì ai biết chẳng có!
Như
Giáo môn nói: “Chỉ cho ý hội, chẳng cho ngôn truyền”.
Thiền môn cũng không cho ý hội, phải tự ngộ mới được.
Vì vậy, hoằng dương Tổ Sư thiền rất khó.
Thiền
hội của ngài Triệu Châu có 20 người danh tiếng, Thiền hội
của phái Lâm tế đời thứ 9 có 6 người xuất sắc. Những
người tu theo Thiền tông đều là con cháu của 6 người này.
Có một tỷ người tu, chỉ một người kiến tánh là đủ
vốn.
Hỏi:
Nếu
Hòa thượng đi vắng thì chúng con căn cứ vào đâu để tham
thiền khỏi bị lạc?
Đáp:
Điều
kiện thứ nhất của Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền
là phá ngã chấp bằng chín chữ “vô sở đắc, vô sở cầu,
vô sở sợ”. Nếu thực hành được chín chữ này thì bảo
đảm không bị lạc, không thực hành chín chữ này thì không
thể bảo đảm.
Nếu
thực hành được chín chữ đó thì không tham thiền được!
Tự
mình kiến lập tri kiến là hạn chế, nhưng bản tâm của
sư thì không có hạn chế. Tại sao? Vì trống rỗng vô sở
hữu. Nhưng không thể kiến lập tất cả tri kiến, cho nên
Phật Giáo không kiến lập chơn lý. Có kiến lập chơn lý
là 2 chơn lý, Thiền tông gọi là “trên đầu mọc thêm đầu”.
Vì bản tâm là chơn lý rồiù.
Các
tôn giáo khác có kiến lập chơn lý, chỉ có Phật Giáo không
có kiến lập chơn lý. Nhưng không phải là không có chơn lý!
Vì bản tâm là chơn lý đã sẵn, không được gọi là chơn
lý. Tại sao? Do lập chơn nên có vọng. Cho nên, kinh Lăng Nghiêm
nói: “Chơn với vọng là 2 thứ vọng”, không vọng là vọng,
chơn cũng là vọng.
Phật
nói là không có bắt đầu, nếu kiến lập là có bắt đầu
thì không phải là vô sanh. Người chứng quả là ngộ pháp
vô sanh, chứng vô sanh pháp nhẫn. Có kiến lập thì sao ngộ
được pháp vô sanh! Vì vậy, phải trôi lăn trong lục đạo
mãi mãi. Phật Thích Ca cũng không cứu nỗi, Phật chỉ
đường cho mình đi.
Hỏi:
Tham
thiền và tham thoại đầu có khác không?
Đáp:
Tham
thoại đầu và khán thoại đầu không khác, còn ngồi thiền
thì khác. Cho nên, trong Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư
Thiền nói “ngồi thiền không phải tham thiền, tham thiền
khỏi cần ngồi cũng được”. Cho ngồi thiền là tham thiền
thì hiểu lầm. Lục Tổ nói “đạo do tâm ngộ bất tại
tọa”, ngộ là do tâm ngộ, chứ không không phải ngồi mà
ngộ.
Trong
phẩm Tọa Thiền, ngài nói: “Ngồi lâu trói thân có ích lợi
gì!”, rõ ràng không phải ngồi. Và ngài có bài kệ phá chấp
ngồi của Chí Thành:
Lúc
sống thì ngồi chẳng nằm,
Lúc
chết thì nằm chẳng ngồi.
Vốn
là đống xương hôi thúi,
Đâu
thể thành lập công phu?
Nhưng
bây giờ, các thiền khác đều chấp ngồi, cho ngồi là cao.
Theo tôi biết nghe lời thầy, ngồi đến 6 giờ bị ói máu,
phải chở đi bệnh viện cấp cứu. Tham thoại đầu rất giản
dị, đứa bé 3 tuổi cũng tham thiền được. Có dùng máy vi
tính đo bộ não của nó, đèn báo từ trên xuống dưới rồi
tắt; chứng tỏ nó có tham thiền.
Hỏi:
Khi
chưa tham thiền hay thấy chiêm bao, tham thiền rồi không còn
thấy chiêm bao. Nhưng mấy tháng gần đây con lại thấy chiêm
bao, vậy có phải con dãi đãi phải không?
Đáp:
Không
phải! Người kiến tánh rồi vẫn còn chiêm bao. Phá Sơ quan,
Trùng quan là ra khỏi sanh tử luân hồi vẫn còn chiêm bao,
nhưng chiêm bao làm chủ được. Chiêm bao gồm có mở mắt
chiêm bao và nhắm mắt chiêm bao.
(2
thứ chiêm bao…………..trang 80).
Hỏi:
Tham
thiền biết hỏi câu thoại thiếu chữ và lúc không biết
mình có tham hay không?
Đáp:
Tham
Tổ Sư thiền là dùng cái không biết để tu, chỉ cần giữ
không biết là đủ rồi; không cần biết, cho nên biết là
sai lầm.
Hỏi
câu thoại là kích thích niệm không biết, nhìn chỗ không
biết; xem chỗ không biết là gì, nói chỗ không biết nhưng
không có chỗ; nên không có mục tiêu để nhìn, nhìn mãi không
thấy gì vẫn còn không biết. Thiền tông gọi là nghi tình.
Chỉ cần hỏi và nhìn song song để giữ niệm không biết,
đưa hành giả đến thoại đầu sẽ kiến tánh thành Phật.
Vậy
câu thoại phải rõ ràng, nếu không rõ ràng thì bị hôn trầm
phải không?
Không
cần biết rõ ràng hay không rõ ràng! Không biết thì rõ ràng
và không rõ ràng cũng không biết. Không phải như niệm Phật
biết rõ ràng, còn tham thiền thì khỏi.
Không
cần tập trung tinh thần, cố gắng; chư Tổ nói “ít phí
sức chừng nào tốt chừng nấy”, nếu cố gắng, tập trung
tinh thần là phí sức. Chỉ cần kéo dài nghi tình một chút
là được, nghi tình không có gián đoạn là công phu miên mật.
Hỏi:
Cư
sĩ sở hữu nhiều quá thì thế nào?
Đáp:
Sở
hữu mới chướng ngại cái dụng của tâm. Cho nên, tham thiền
tẩy sạch hết sở hữu thì bằng như Phật, có thần thông
trí huệ khắp không gian thời gian. Ông đang quỳ là có chỗ
trống nên mới quỳ được. Cuộc sống hàng ngày, nói năng
tiếp khách, ăn uống làm việc,… đều nhờ trống rỗng vô
sở hữu.
Bất
cứ giờ phút nào, mình ngủ mê cũng nhờ vô sở hữu; không
có giây phút nào mình không nhờ vô sở hữu này mà có sự
sống. Đó là ứng dụng thật tế, chứ không phải nói suông,
mò đoán bậy bạ.
Hỏi:
Con
là cư sĩ ở nhà, xin Sư Phụ dạy cho con cách nào để mau
kiến tánh?
Đáp:
Tôi
hỏi cô: Khi chưa có trời đất cô là cái gì?
Không
biết.
Không
biết là tham thiền đúng rồi! Hỏi là kích thích niệm không
biết, nhìn chỗ không biết; xem chỗ không biết là gì, chỗ
không biết thì không có chỗ; nên không có mục tiêu để
nhìn, nhìn mãi không thấy gì vẫn còn không biết; không biết
đó rất cần, Thiền tông gọi là nghi tình.
Phải
hỏi và nhìn song song để giữ kéo dài nghi tình. Hỏi là tham
thoại đầu, nhìn là khán thoại đầu. Nếu còn biết cái
gì là không đúng, nhìn không thấy gì cũng vẫn nhìn; hỏi
và nhìn tiếp tục không gián đoạn, gọi là công phu miên
mật.
Mỗi
ngày con đi bán mấy giờ thì phải tu như thế nào?
Lúc
đang bán thì ngưng tham, khi nghĩ bán thì tập tham cho đến
quen thuộc thì lúc đang bán tự khởi lên nghi tình.
Con
muốn xuất gia để tham, vậy thế nào?
Vua
kiến tánh vẫn làm vua, Thừa tướng kiến tánh vẫn làm Thừa
tướng, bộ trưởng kiến tánh vẫn làm bộ trưởng, bà già
mua bán cũng kiến tánh; chứ khỏi cần phải bỏ! Làm nghề
gì cứ tiếp tục làm cũng có thể kiến tánh. Kiến tánh là
biết được chính mình và làm chủ thì được tự do, giải
thoát tất cả khổ.
Huệ
Năng kiến tánh khi còn làm cư sĩ được kế vị Lục Tổ,
đến 15 năm sau vì muốn hoằng pháp mới xuống tóc xuất gia.
Cho nên, bây giờ chỉ cần tu, chứ khỏi cần xuất gia.
Hỏi:
Tâm
và vô sở hữu có khác nhau không?
Đáp:
Tâm
tức là vô sở hữu, vô sở hữu tức là tâm; luôn cả vạn
vật cũng không có khác.
Có
tâm chánh, tâm tà vậy là thế nào?
Tâm
chánh, tâm tà là do chấp tâm; vì chấp sở hữu nên có tâm
vương tâm sở. Tâm sở là sở hữu của tâm, Duy Thức có
51 thứ. Những cái đó đã kiến lập thành sở hữu, nên gọi
là tâm sở có chướng ngại. Có sở hữu mới có chánh tà,
nếu vô sở hữu thì không kiến lập nên không có chánh tà.
Hỏi:
Làm
việc không dùng bộ óc, vậy phải là trí huệ Bát Nhã không?
Đáp:
Khỏi
cần biết cái gì! Nhưng công việc làm được, nếu dùng cái
biết để giải thích là sai lầm. Trống rỗng vô sở hữu
thì không có nghĩa lý. Cho nên, Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải
của ngài Trung Phong trước tác, tuy nghĩa giải cao siêu cũng
phải quét sạch. Thiền tông cần cái thật tế, chứ theo bộ
óc để giải thích là không đúng. Vì kiến lập nên mới
có nghĩa lý.
Hư
không vốn vô sở hữu trống rỗng nên gọi là tánh không.
Trống rỗng chẳng có gì nên dung nạp và ứng dụng. Do thông
minh của con người, cái không chẳng hạn chế thì họ không
chịu; lại đem hạn chế như cái không của tách, nếu tách
bít thì chẳng có cái không là tách chết. Tách chẳng bít
thì có cái không nên dùng được. Nhưng dùng hạn chế trong
phạm vi, như tách, bình, dĩa, bàn,…
Có
sự hạn chế, rồi đem giải thích cái không của tách, khác
với cái không của bình, khác với cái không của nhà,… có
muôn ngàn thứ sai biệt. Như chưa dựng cái nhà thì cái không
đã sẵn, chưa có cái không của tách cũng có cái không đã
sẵn. Cái không của ngoài tách và cái không của trong tách
thì chẳng khác, với cái không của bình, nhà,… đều cùng
một cái không.
Vì
có kiến lập cái không của tách, bình, nhà,… nên thấy có
nghĩa lý khác biệt. Nếu không có nghĩa lý thì lấy gì để
khác biệt! Theo bộ óc để giải thích là sai lầm. Thật tế
không có đúng sai, vì không có tương đối. Có đúng sai là
tương đối thì có sai lầm.
Hỏi:
Trong
công phu không thấy sự an lạc, sau khi công phu mới thấy sự
lặng lẽ của tâm. Như vậy có đúng không?
Đáp:
Không
đúng! 4 bài kệ của ngài Vĩnh Gia nói “biết tịch lặng
là chướng ngại, vì có kiến lập sở tri”. Như tay cầm
như ý thì dụng của tay bị mất, tay không cầm như ý thì
dụng của tay hoạt bát vạn năng. Tham thiền khởi nghi tình
quét tịch lặng thì khôi phục dụng hoạt bát vạn năng của
tự tánh.
Tay
không cầm đồ vật, mà tự làm nắm tay (tự mình biết có
cái biết) thì dụng của tay cũng chướng ngại. Cho nên, cái
biết không được kiến lập. Vì kiến lập sở tri tịch lặng
thì có năng sở đối đãi. Nếu không kiến lập sở tri, nhưng
có năng tri; có tri phải có bất tri để đối đãi.
Vì
vậy, chấp tri lọt vào biên kiến, mà tự mình không biết.
Biên kiến là một trong năm thứ ác kiến. Như chấp huyễn
hay chấp giả đều rơi vào biên kiến, vì huyễn đối với
phi huyễn và giả đối với chơn đều tương đối; không
phải vô duyên tri.
Vô
duyên tri gọi là chánh biến tri, còn gọi là trí Bát Nhã tự
động không bao giờ ngưng biết. Như ánh sáng mặt trời lúc
nào cũng chiếu soi. Nói trời gần sáng thì mặt trời sắp
chiếu, vậy đúng không? Không đúng. Vì mặt trời đâu có
ngưng chiếu hồi nào, mà nói sắp chiếu!
Như
cái tri của mình không bao giờ ngưng biết, mà nói là sắp
biết! Nếu kiến lập thêm cái tri, như thêm cái đầu làm
khổ cái đầu sẵn có; nên cần mời bác sĩ cắt bỏ. Do tánh
con người ham kiến lập, nên chướng ngại cái dụng của
tâm.
Vì
tâm là vô sở hữu, kiến lập là có sở hữu che khuất bản
tâm nên dụng bị hạn chế. Như đem cái không sẵn sàng hạn
chế thành cái không của nhà, tách, bình,… dù nhà rất lớn
nhưng dụng trong cái không phạm vi nhà. Tất cả núi sông,
đất đai, nhà cửa,… đều ở trong cái không sẵn sàng, dụng
không hạn chế.
Hỏi:
Tham
câu “khi chưa có trời đất ta là cái gì?” con thắc mắc
muốn biết trời, đất, con người do đâu mà có. Vậy 3 thắc
mắc đó có thể giúp cho tham câu thoại không?
Đáp:
Không
được! Nếu vậy thì lọt vào biên kiến chấp vào không có.
Nghi tình là không biết, có và không đều không biết. Tham
là hỏi câu thoại kích thích không biết, khán là nhìn không
biết để giữ kéo dài đến kiến tánh; hỏi và nhìn song
song để giữ nghi tình, chứ không phải để biết hay muốn
tìm hiểu đáp án câu thoại.
Câu
thoại là công cụ để kích thích lên niệm không hiểu không
biết, không có ý nghĩa khác. Tất cả muôn ngàn câu thoại
là mục đích để khởi lên niệm không biết. Không phải
để cho hành giả đáp án câu thoại. Nếu đáp án câu thoại
là hồ nghi, chẳng phải chánh nghi. Thiền Nhật Bản, thiền
Đại Hàn lọt vào hồ nghi. Vì dùng bộ óc tìm hiểu.
Hỏi:
Làm
việc thì không tham thiền, muốn cầu công việc thành công,
rồi sợ thất bại. Vậy bỏ muốn cầu phải thế nào?
Đáp:
Phải
hỏi và nhìn! Ngày đêm có 24 giờ, giữ nghi tình được 1
phút. Nếu mỗi ngày, nghi tình tăng được 1 phút thì 4 năm
đến thoại đầu sẽ kiến tánh; mỗi ngày, nghi tình
tăng ½ phút thì 8 năm đến thoại đầu sẽ kiến tánh; mỗi
ngày, nghi tình tăng ¼ phút thì 16 năm đến thoại đầu sẽ
kiến tánh.
Kiến
tánh thì tất cả đều được giải quyết, nếu chưa kiến
tánh thì không dùng cái biết nữa. Giữ được nghi tình thì
vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ tự nhiên giữ được.
Như chuyện Trương Quốc Anh làm việc gì đều được, nhưng
lúc ấy không biết gì nên mới làm được. Những người
biết sợ nên có bị thương, còn y không biết sợ nên không
bị thương. Y giữ được nghi tình nên làm việc gì cũng nhanh
hơn người ta.
Nếu
không biết làm sao biết đắc biết sợ? Vì không giữ được
nghi tình nên có sở đắc, sở cầu, sở sợ.
Hỏi:
Khi
ở thiền thất tham thiền, hết thiền thất về nhà, con trì
kinh Pháp Hoa được không?
Đáp:
Tham
thiền khởi nghi tình là trì kinh Pháp Hoa, kinh Lăng Nghiêm,
kinh Hoa Nghiêm,… tất cả kinh và giới luật tuy chưa thọ
đều cũng trì hết. Giữ được nghi tình là không hiểu không
biết thì không phạm giới, gọi là thiền giới. Nếu không
có nghi tình là biết thì có thể phạm giới. Tất cả công
thương kỹ nghệ đều ở trong nghi tình.
Hỏi:
Trước
kia, cầu siêu cho người thân thì mời quý thầy tụng kinh.
Bây giờ, con tham thiền muốn cầu siêu phải làm sao?
Đáp:
Cầu
siêu người thân thì nhờ tâm lực đại chúng tham thiền;
do có nghi tình nên được tâm lực trong sạch rất mạnh, có
thể ảnh hưởng đến tâm của người thân mà sửa đổi
nghiệp, rồi tái sanh đến cõi tốt hơn.
Như
Mục Kiền Liên cứu mẹ (Thanh Đề) ở cõi ngạ quỷ, nhưng
không cứu được. Rồi nhờ Phật dạy pháp cúng dường trai
tăng cho 1250 Tỳ Kheo A La Hán, nhờ tâm lực trong sạch nhiều
người ảnh hưởng tâm bà Thanh Đề được sửa đổi nên
bà thoát khỏi cõi ngạ quỷ.
Không
phải do tụng kinh mà siêu được, nếu tâm người chết không
sửa đổi nghiệp. Người nào tạo nghiệp thì người đó
phải chịu quả báo, chứ không ai thay thế được. Như ai
ăn cơm thì người ấy no. Cho nên, mình cần thật tế, không
cần hình thức bên ngoài.
Hỏi:
Người
già yếu tinh thần không minh mẩn tu Tổ Sư thiền cần điều
kiện gì khác để cho họ khỏi lạc lối tẻ?
Đáp:
Không
có gì khác! Con nít 6, 7 tuổi đều tham thiền được, bà già
90 tuổi cũng tham thiền được là hỏi và nhìn. Mấy năm trước
có đứa bé 3 tuổi tham thiền, các người Canada thấy vậy
phục nó. Ngày xưa, có vua, thừa tướng, bộ trưởng đều
kiến tánh.
Hỏi:
Tâm
ở ngoài thân hay ở trong thân?
Đáp:
Nếu
tâm ở ngoài thân hay ở trong thân thì không phải. Tâm như
hư không vô sở hữu dung nạp và ứng dụng tất cả. Như
chỗ quỳ của ông, nếu không trống rỗng vô sở hữu thì
ông không thể quỳ được. Bây giờ, mình nói chuyện hay nhìn
thấy với nhau đều cũng nhờ vô sở hữu.
Hỏi:
Bất
cấu bất tịnh là gì?
Đáp:
Bất
cấu bất tịnh thì tương đối là bề trái. Bề mặt là hư
không vô sở hữu không thể dùng lời nói văn tự để diễn
tả, cho nên phải tự ngộ. Vì lục căn không thể tiếp xúc,
diễn tả được là bề trái. Tương đối như: Bất cấu bất
tịnh, bất tăng bất giảm, hữu vô,…
Hỏi:
Trong
chiêm bao, con thấy Phật bà Quan Âm dùng nước cam lồ rưới
đầu chúng sanh. Việc ấy như thế nào?
Đáp:
Nói
Phật bà Quan Âm là sai lầm, Quan Thế Âm Bồ Tát không phải
là người nữ, Phật cũng không có người nữ. Người nói
như vậy là không biết Phật pháp.
Có
một người Quãng bị bệnh, chiêm bao thấy Quan thế Âm Bồ
Tát cho thuốc uống, rồi kể lại tôi nghe. Tôi nói: Mỗi người
đều có Phật tánh, cũng là tự tánh Quan Âm. Nếu mình trông
đợi Quan Âm Bồ Tát cứu mình, không bằng mình làm Quan Âm
Bồ tát cứu người. Rồi người ấy cũng hiểu.
Vì
Quan Âm Bồ Tát với cõi Ta Bà có nhân duyên, nên chùa nào
cũng có tượng Quan Âm. Người nằm chiêm bao thấy Quan Âm
Bồ Tát thì cũng có duyên. Phật và Bồ Tát thì không có nam
nữ, đừng theo thế tục mà nói Phật và Bồ Tát là ông bà.
Có
chiêm bao là do tâm mình tạo, ban đêm tâm tạo là nhắm mắt
chiêm bao, ban ngày tâm tạo là mở mắt chiêm bao. Hiện giờ,
mình đang ở trong mở mắt chiêm bao. Đến chừng kiến tánh
thì trong mở mắt chiêm bao thức tỉnh, rời khỏi chiêm bao
được sanh tử tự do.
Mở
mắt chiêm bao không có thật, huống là nhắm mắt chiêm bao!
Nhắm mắt chiêm bao và mở mắt chiêm bao đều do tâm tạo.
Cho nên, Phật nói: “Tất cả đều do tâm tạo”, cũng gọi
là “Vạn Pháp do tâm biến hiện”. Thân mình gọi là chánh
báo, hoàn cảnh giàu nghèo mình sanh sống gọi là y báo. Y báo
là kiếp trước tạo nên bây giờ có nghiệp quả.
Hỏi:
Người
ta nhờ đem bia cho họ, vậy có phạm giới không?
Đáp:
Nếu
thọ giới Bồ Tát thì phạm, không thọ giới Bồ Tát thì
không phạm; vì giới Bồ Tát cấm bán rượu. Thọ ngũ giới,
nếu uống rượu thì phạm; bán rượu không phạm. Giới Bồ
Tát bán rượu là tội nặng, uống rượu là tội nhẹ. Các
vị thọ ngũ giới không thọ giới Bồ Tát thì cấm uống,
không có cấm bán.
Hỏi:
Tham
thiền chưa thuần thục, tự động bỏ câu thoại, lại chỉ
nhìn. Vậy có được không?
Đáp:
Không
được! Đến thoại đầu thì câu thoại tự mất, nếu chưa
đến thoại đầu thì phải hỏi và nhìn song song; chứ không
được ngưng hỏi, vì người đó tự làm tày khôn. Đó là
tập khí phiền não của con người từ lâu đời. Như có người
hy sinh thân mạng, chứ không chịu bỏ kiến giải của mình.
Kiến
giải tuy cao nhưng vẫn là kiến giải, không phải thật tế;
thật tế là phải quét sạch kiến giải. Nếu chấp kiến
giải càng cao thì cách thật tế càng xa. Nói ra giống thì
giống, phải thì chẳng phải. Vì bậc trí thức thích kiến
giải, như thiền Nhật Bản hay thiền Đại Hàn đều là kiến
giải. Cho nên, họ không bao giờ kiến tánh.
Hỏi:
“Không
được kiến lập vô sở hữu”. Vậy trả lời thế nào không
kiến lập?
Đáp:
Bất
cứ cái gì đều không được kiến lập, vì đã có sẵn.
Phật nói là “vô thỉ”. Chư Phật chư Tổ chỉ kiến lập
tạm thời, nếu không kiến lập thì không có pháp gì để
nói. Như không có tam thừa mà nói có tam thừa, không có Phật
mà kiến lập Phật; đến chừng kiến tánh thì biết là không
có Phật để thành. Phật nghĩa là giác ngộ, giác ngộ là
do mê mới có. Nếu đã giác ngộ thì hết mê nên không còn
ngộ. Cho nên, Thiền tông nói “ngộ rồi đồng như chưa ngộ”.
Vì không có mê để đối đãi.
Kinh
Kim Cang ví dụ: “Như chiếc bè qua