Ngày
14 – 7 đến 20 – 7 – Đinh Sửu (97).
Hỏi:
Không
sanh tử sao lại có nhân quả?
Đáp:
Nhân
quả ở trong chiêm bao, nếu lìa khỏi chiêm bao thì nhân quả
trong chiêm bao cũng không còn.
Chiêm
bao không thật, sao lại có nhân quả?
Không
phải không có chiêm bao, nhưng việc chiêm bao không thật.
Bom
nguyên tử nổ tung trái đất. Vậy ai trả nhân quả?
Bom
nguyên tử nổ tung trái đất, vũ trụ sụp hết; nhưng tâm
mình vẫn y nguyên.
Hỏi:
Không
sanh khởi, sao lại có người?
Đáp:
Vì
có tâm chấp nên mới có, nếu không có tâm chấp thì trống
rỗng vô sở hữu. Tại mình kiến lập sở hữu như tiền,
nhà, đất,… đều của tôi. Nhà chưa có quyền sở hữu thì
phải lo giấy tờ để có quyền sở hữu.
Hỏi:
Ý
thức với tự tánh giống nhau hay khác?
Đáp:
Tự
tánh không phải tự tánh, tự tánh thì phải lìa ý thức.
Hỏi
câu thoại, sao ý thức không chết?
Kiến
tánh thì lìa ý thức là ý thức mới mất. Nếu không kiến
tánh thì ý thức hoạt động bình thường, rồi theo nghiệp
có thể đầu thai thành heo, chó,…
Vọng
tưởng không thật, sao có vọng tưởng?
Vì
kiến lập mới có.
Tánh
không, sao lại có chiêm bao?
Vô
sở hữu (trống rỗng) cũng là tánh không.
Mọi
người đều có thần thông trí huệ bằng chư Phật, vậy
lúc nào dùng ra được?
Khi
nào sở hữu không còn nữa thì thần thông trí huệ tự nhiên
hiện lên.
Sao
có vô thường?
Chấp
vô thường là thật thì bệnh nặng hơn chấp thường. Chấp
thường là thường kiến ngoại đạo, chấp vô thường là
đoạn kiến ngoại đạo.
Hỏi:
Tâm
niệm phát xuất từ đâu? Tâm này là cái gì?
Đáp:
Tâm
niệm phát xuất từ tâm, tâm là cái gì thì phải kiến tánh
mới biết được; nhưng mình đang dùng. Ngài Long Thọ ví dụ
hư không vô sở hữu cho tâm của ông, vô sở hữu là trống
rỗng dung nạp và ứng dụng. Tâm của ông trống rỗng, Phật
pháp gọi là tánh không; mặt trăng, mặt trời, đất đai,
nhà cửa,… đều ở trong vô sở hữu này.
Có
vô sở hữu nên có chỗ cho ông quỳ, ông hỏi tôi đáp cũng
phải nhờ vô sở hữu này; ông nhìn thấy tôi, tôi nhìn thấy
ông cũng phải nhờ vô sở hữu này; cuộc sống hàng ngày
nói năng tiếp khách đều nhờ vô sở hữu này, tức là ông
đang ứng dụng mà chẳng tự biết.
Sát
na lìa ý thức thì tâm toàn diện hiện lên khắp không gian
thời gian. Khắp không gian không có khứ lai, nên gọi là Như
Lai; khắp thời gian không gián đoạn, nên gọi là Niết Bàn;
tâm mình có tánh giác ngộ, nên gọi là Phật tánh.
Tất
cả danh từ đều diễn tả sức dụng của tâm, tuy nói muôn
ngàn danh từ sai biệt; nhưng bản thể của tâm trống rỗng
vô sở hữu không có khác biệt.
Hỏi:
Thế
nào cội nguồn chân thật của tự tánh?
Đáp:
Chỗ
trống rỗng vô sở hữu là tâm ông, cũng là nguồn gốc chân
thật, là tự tánh, Phật tánh, trí Bát Nhã, vô duyên tri, chánh
biến tri, Bồ Đề, Niết Bàn, giải thoát, vô trụ,… Vì trống
rỗng nên không có chỗ để trụ, gọi là vô trụ; vì trống
rỗng nên không có trói buộc, gọi là giải thoát.
Hỏi:
Không
biết luật, nhân duyên,… làm sao tu biết mình có tự tánh?
Đáp:
Thực
hành hỏi và nhìn song song thì sau này sẽ tự biết, không
thể nói cho biết được. Nếu nói được thì Phật Thích
Ca nói cho mình biết thì khỏi tu. Vì không nói được, nên
Phật Thích Ca nói “49 năm thuyết pháp, tôi chưa từng nói
một chữ” và “ai nói Phật có thuyết pháp, người ấy
phỉ báng Phật”.
Hỏi:
Cư
sĩ tham thiền có bị bùa yếm không?
Đáp:
Mình
có tạo nhân mới có quả, nếu không tạo nhân thì không có
quả. Tạo nhân ác nên có quả khổ, tạo nhân thiện thì có
quả phước. Vậy không có tạo nhân làm sao sợ trù yếm!
Hỏi:
Vô
sở trụ làm sao có thân này?
Đáp:
Thân
này có là do nghiệp của ông tạo ra, không những thân người,
mà sau này có thể tạo thân chó, thân heo,… Nếu còn ăn thịt
heo, gà thì sau này phải đầu thai heo gà để cho người ta
ăn lại. Đó là nhân quả.
Hỏi:
Hỏi
câu thoại là quyết tâm tìm ra đáp án. Vậy có đúng không?
Đáp:
Tìm
ra đáp án là sai lầm, vì tìm ra là dùng bộ óc tìm hiểu
thì nghịch với Tổ Sư thiền. Tham thiền là dùng nghi tình
chấm dứt tìm hiểu, cần giữ niệm không hiểu không biết
(nghi tình); hỏi câu thoại là kích thích niệm không hiểu
không biết, muôn ngàn câu thoại chỉ là đề khởi lên niệm
không hiểu không biết.
Hỏi:
Hỏi
câu thoại là để cho tâm mình không phóng bậy phải không?
Đáp:
Hỏi
câu thoại để kích thích lên niệm không hiểu không biết,
thì không biết phóng bậy hay không phóng bậy. Nếu giữ được
không biết thì tâm không phóng bậy. Dùng cái biết thì tâm
có thể phóng bậy.
Vậy
cần để tìm hiểu trả lời không?
Không
cho tìm hiểu, sao còn hiểu! Tham thiền là không biết để
chấm dứt tìm hiểu biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ biết. Hỏi
và nhìn để kéo dài nghi tình, đến thoại đầu thì hoàn
toàn không còn niệm nào; rồi tiến thêm một bước, biết
và không biết của bộ óc đều sạch; biết của Phật tánh
hiện lên khắp không gian thời gian, gọi là kiến tánh thành
Phật.
Biết
cùng khắp không gian không có khứ lai, nên gọi là Như Lai;
khắp thời gian không gián đoạn, nên gọi là Niết Bàn; vì
trống rỗng không có chỗ để trụ, nên gọi là vô trụ;
vì có tánh giác ngộ, nên gọi là Phật tánh.
Hỏi:
Thế
nào đi và ngồi trong Thiền đường?
Đáp:
Ngày
xưa chưa có đồng hồ, nên khi ngồi đốt cây hương; cháy
hết cây hương lại đốt cây hương khác để đi, cứ như
thế thay phiên ngồi và đi để tham thiền. Cho nên, ngồi gọi
là tọa hương, đi gọi là đi hương. Tọa hương và đi hương
là điều chỉnh sức khỏe thân thể. Vì ngồi đến tê chân
rồi phải đi, đi tới mỏi chân nên phải ngồi; chứ không
phải tham thiền cần ngồi cần đi! Điều kiện cần nhất
là giữ nghi tình được kéo dài.
Nếu
giữ được không hiểu không biết thì ngoại cảnh không lôi
kéo. Dùng cái biết để tu thì dễ bị ngoại cảnh lôi kéo,
vì biết tốt xấu nên có tâm khen chê. Cho nên, dùng cái không
biết để tu dễ đưa đến kiến tánh thành Phật. Vì vậy,
gọi là pháp thiền trực tiếp. Dùng cái biết để tu là pháp
thiền gián tiếp.
Hỏi:
Người
chưa biết tu còn mê chấp, người biết tu còn mê chấp không?
Đáp:
Mê
chấp là tập khí từ lâu đời, cũng gọi là thói quen; theo
Phật pháp gọi là tập khí phiền não, rất khó dứt. Có khi
người xuất gia làm tội địa ngục, mà tự mình không biết.
Vì ham tài lợi trước mắt để xây dựng bản ngã cho mình.
Như
kinh nói:
Một
hạt gạo của Thí chủ,
Lớn
bằng núi Tu Di.
Nếu
không tu giải thoát,
Mang
lông đội sừng trả.
Họ
biết nhưng không tin, chỉ biết đồng tiền; có nhiều chừng
nào tốt chừng nấy, lại không tu giải thoát.
Lục
Tổ nói có 4 loại người:
Thân
xuất gia mà tâm tại gia.
Tâm
xuất gia mà thân tại gia.
Thân
và tâm đều tại gia.
Thân
và tâm đều xuất gia.
Nếu
cư sĩ thân tại gia mà tâm xuất gia, thì tốt hơn những người
thân xuất gia mà tâm tại gia.
Hỏi:
Không
biết nhân duyên gì, từ khi con gặp Sư Phụ lại có lòng tin
và mọi người câu hội về Chùa Tam Bảo cùng thương nhau;
tất cả đều muốn thành Phật, nhưng sự tu của chúng con
không được bao nhiêu. Nếu chúng con giữ tâm đó mãi cho đến
ngày nào được giải thoát không?
Đáp:
Thầy
giúp cho mọi người được thành Phật thì sau này Thầy sẽ
thành Phật, vì đã tạo nhân thành Phật. Tuy mình tu Pháp xuất
thế gian, nhưng ở nhà chiêm bao thì ăn mặc, ở làm việc
đều trong chiêm bao. Nhưng làm việc cho đúng, như thu chi trong
Thiền đường phải rõ ràng mới duy trì lâu dài, người hộ
pháp được an tâm.
Con
nguyện theo lời Sư phụ dạy, từ đây trở về sau, con không
dám gì hết. Nếu có ai xin một cục đất, con cũng phải trình
hỏi Sư phụ.
Không
phải vậy! Năm nay, tôi 75 tuổi rồi, nay mai tôi chết cũng
không biết; tôi muốn Chùa Tam Bảo là Đạo tràng Thiền tông,
dẫu cho ông chết hay tôi chết vẫn còn tiếp tục.
Hỏi:
Tự
tứ là gì?
Đáp:
Giải
tự tứ có kiến, văn, nghi. Sau kiết hạ 3 tháng, mỗi người
ra trước Đại chúng tự kiểm thảo, nếu tự mình không biết
phạm giới hay không phạm giới thì ra hỏi “3 tháng đây,
có ai thấy, nghe, nghi tôi phạm giới không? Nếu có thì xin
xử tội tôi” trong Đại chúng có người biết bạn mình
phạm giới mà không cử tội thì người ấy cũng đồng phạm
tội như người phạm giới:
Cho
nên, người ở trong Tăng đoàn khó phạm giới, nếu có phạm
cũng rất ít; vì thường coi với nhau.
Hỏi:
Di
Quang gặp Đại Huệ liền nghi, nhưng qua một thời gian không
ngộ. Di Quang hỏi Đại Huệ: Tại sao đến chỗ này con không
ngộ, vậy bệnh chỗ nào?
Đại
Huệ nói: Bệnh của ông thì thầy thuốc cũng bó tay, vì người
chết không thể sống lại, còn ông sống thì không thể chết.
Xin
Sư phụ khai thị chỗ này?
Đáp:
Muốn
chết phải dùng nghi tình chấm dứt tìm hiểu biết, suy nghĩ
biết, ghi nhớ biết; chỉ còn nghi tình mới ngộ được; tức
là không bị nhục thân này và ý thức của bộ óc hạn chế.
Sát na lìa khỏi ý thức thì luôn cả không biết cũng tan rã;
lúc đó biết và không biết sạch hết thì biết của tự
tánh hiện lên, gọi là kiến tánh thành Phật.
Đó
gọi là sống lại (tuyệt hậu tái tô), chết ý thức phân
biệt, sống lại bản thể. Bản tri là không có đối đãi
tri và bất tri, không thể kiến lập tri; vì cái tri đã sẵn,
như ánh sáng mặt trời có từ hồi nào.
Có
người hỏi tôi: Đến thoại đầu gần kiến tánh, có phải
sắp biết phải không?
Tôi
nói: Không phải! Vì cái biết của bản tâm đâu có ngưng
mà nói sắp biết! Như ánh sáng mặt trời: Trời gần sáng
mặt trời sắp chiếu phải không? Không phải! Ánh sáng mặt
trời không bao giờ ngưng chiếu, sao nói là sắp chiếu? Nếu
ánh sáng có ngưng chiếu thì nói sắp chiếu mới đúng. Không
thấy mặt trời chiếu là bị che khuất bởi mây đen hay quả
đất.
Cái
biết của mình bị che khuất là do kiến lập sở hữu, sở
hữu nhiều chừng nào thì bị che khuất nhiều chừng nấy;
tức là tự mình che khuất. Nếu có kiến lập thì có sanh
(bắt đầu). Cho nên, người chứng quả là ngộ pháp vô sanh,
cũng gọi là chứng vô sanh pháp nhẫn.
Hỏi:
Thời
gian sau, Đại Huệ nói với Di Quang: Ông ăn xong rồi rửa bát
hãy nói một câu?
Di
Quang nói: Nứt bể.
Đại
Huệ nạt Di Quang: Ông còn thiền sao!
Ngay
đó Di Quang ngộ.
Xin
Sư phụ khai thị?
Đáp:
Vì
có tâm kiến lập, nên có “nứt bể” và còn chấp có Thiền.
Vì vậy, Thiền Tông không cho hiểu thiền hiểu đạo.
Hỏi:
Đại
Huệ hỏi Di Quang: “Ông chết không biết sống lại”. Vậy
yếu chỉ chỗ đó như thế nào?
Đáp:
Chết
là chết của bộ óc, sống lại là hiện lên bản tri (vô
duyên tri, trí Bát Nhã). Di Quang còn dùng bộ óc tìm hiểu nên
chưa chết, chứ không chấm dứt tìm hiểu, suy nghĩ, ghi nhớ
của bộ óc.
Hỏi:
Chúng
con đến Thiền đường, ai cũng muốn kiến tánh; sao không
được có tâm chờ ngộ?
Đáp:
Có
đi thì có đến, không đi thì không đến; đi nhanh thì mau
đến, đi chậm thì lâu đến. Như muốn đi Thành phố Hồ
Chí Minh, có đi sẽ đến bằng phương tiện xe hơi, xe gắn
máy, xe đạp, đi bộ. Đã đi khỏi cần nói rồi sẽ đến,
khỏi cần chờ đợi cũng đến. Nếu không đi mà nói “tôi
muốn đi Thành phố Hồ Chí Minh”, làm sao đến được?
Tham
thiền có tâm chờ ngộ là kiến lập thành chướng ngại.
Vì bản tâm vốn vô sở hữu, tức là không có chỗ trụ thì
dụng của tâm hoạt bát vạn năng. Dẫu cho có ngộ cũng không
được cái ngộ, cho nên Thiền Tông nói “ngộ rồi đồng
như chưa ngộ”.
Nếu
còn ôm cái ngộ thì chưa phải là thật ngộ, vì có ngộ nên
có mê để đối đãi; người triệt ngộ thì hết mê nên
không còn ngộ. Có tin tự tâm thì mới hiện ra tự tâm, nhưng
phải có đi, đi là giữ nghi tình.
Hỏi:
Ngày
xưa, Tổ dùng chuyển ngữ hay hoạt cú. Vậy, ngày nay với
ngày xưa có khác không?
Đáp:
Ngày
xưa và ngày nay không khác, ngày nay không có người kiến tánh
nên không nói được chuyển ngữ. Người kiến tánh mới nói
được chuyển ngữ, tức là lời nói không có chỗ trụ, không
có gì làm chướng ngại. Có Thiền Sư nói: “chết rồi thiêu
xong có nhiều xá lợi không bằng nói ra một chuyển ngữ”.
Có nhiều xá lợi chưa phải là kiến tánh.
Hoạt
cú thì người kiến tánh mới sử dụng được, còn người
chưa kiến tánh thì nói tới đâu trụ tới đó, gọi là tử
ngữ, chứ không phải hoạt ngữ. Vì nói có chấp thật có,
nói không chấp thật không. Nhiều người lọt vào biên kiến
mà tự mình không biết, như cho tất cả là huyễn hóa thì
lọt vào biên kiến.
Kinh
Lăng Nghiêm nói: “phi huyễn còn không được, huống là pháp
huyễn”. Huyễn và phi huyễn là tương đối, tức là chẳng
có huyễn chân thật để kiến lập. Chấp chơn, chấp huyễn,
chấp vọng, chấp giả đều là biên kiến. Chấp thật chơn
thì bệnh dễ trị, chấp thật vọng là bệnh nặng khó trị.
Như chấp thật giả thì bệnh nặng khó trị, vì chấp thật
giả là chơn lý.
Không
thể kiến lập, nếu có kiến lập là có bắt đầu. Pháp
của Phật Thích Ca là Pháp bản trụ, vốn không có sự bắt
đầu và không có sự sanh khởi. Nếu có sự sanh khởi thì
phải có cuối cùng, có sanh phải có diệt là ở trong tương
đối. Người ngộ đạo là ngộ pháp vô sanh, chứng vô sanh
pháp nhẫn.
Vô
sở hữu thì trống rỗng không có bắt đầu, không có sanh
khởi. Bất cứ kiến lập cái gì hay kiến lập Phật cũng
lọt vào biên kiến. Phật là giác ngộ, nếu chấp vào Phật
thì còn mê, vì có mê nên mới có ngộ.
Cho
nên, kinh Viên Giác nói: “Nếu chấp ngộ chấp chứng thì
lọt vào ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả
tướng” là tứ tướng của bậc thánh còn chướng ngại
vi tế, gọi là mê trí tứ tướng. Tứ tướng của phàm phu
là mê thức.
Hỏi:
Người
tôn giáo khác đến gặp Tổ Sư Thiền rồi tu, có phải phản
bội tôn giáo mình không?
Đáp:
Không
phải! Thật tế, Phật giáo không phải một tôn giáo, là giáo
dục bao gồm tất cả; không những nhân loại mà luôn cả
chúng sanh đều bao gồm. Nhân loại chỉ một phần của chúng
sanh. Trong nhân loại có đủ thứ tôn giáo, tà ma ngoại đạo,
công thương kỹ nghệ, không thiếu sót một cái nào. Vì Phật
nói tất cả chúng sanh bình đẳng Phật tánh, Phật pháp muốn
hiển bày tâm của mọi chúng sanh.
Ngài
Long Thọ nói: “Tâm như hư không vô sở hữu dung nạp và
ứng dụng”. Tất cả tôn giáo cũng nhờ vô sở hữu dung
nạp và ứng dụng, cho đến tất cả chúng sanh không có cái
nào ở ngoài vô sở hữu này. Phật giáo không phân biệt tôn
giáo, vì Phật Thích Ca là giáo dục. Do người ta cho Phật
giáo là tôn giáo, bản chất không phải một tôn giáo.
Hỏi:
Việc
cầu siêu cầu đảo có thật không?
Đáp:
Đường
Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền nói: “Vô sở đắc, vô
sở cầu, vô sở sợ”. Phàm chánh pháp phải phá ngã chấp,
nếu cầu được thì phá hoại nhân quả; tức là không làm
nhân mà được quả. Nhân quả là tạo thiện nhân được
quả tốt, tạo ác nhân chịu quả khổ. Nếu cầu được thì
tạo ác cũng không sao! Cũng khỏi cần tu hành.
Hỏi:
Ngài
Lai Quả phạm qui củ bị đánh hương bảng. Việc ấy như
thế nào?
Đáp:
Cảnh
giới này là ngài đến chân tham.
Hỏi:
Đời
thượng ngươn có Phật Thích Ca chứng ngộ, sau này có ai giác
ngộ không?
Đáp:
Các
vị kiến tánh trong lịch sử Thiền tông Trung Hoa ghi 7.000 Tổ,
có tên họ đàng hoàng.
Nói
có nói không là thế nào?
Nói
có là thường kiến ngoại đạo, nói không là đoạn kiến
ngoại đạo; tức là nói có và không đều không đúng. Phật
pháp không thiên về một bên có hoặc không, nên gọi là bất
nhị, nhị là tương đối.
Phim
Tây Du Ký là như thế nào?
Tác
giả của Tây Du Ký là Ngô Thừa Ân theo Đạo giáo phỉ báng
Phật giáo. Tác giả tiểu thuyết Phong Thần để công kích
Đạo giáo. Nếu mình tin vào Tây Du Ký thì cũng liên lụy đến
tội địa ngục.
Hỏi:
Tác
ý và tạo tác giống nhau không?
Đáp:
Tác
ý là ý thức khởi niệm lên, tạo tác là đã làm. Như tác
ý là nổi niệm lên muốn ăn cắp trái tắc, nhưng chưa ăn
cắp; tạo tác là lấy trái tắc rời chỗ.
Tác
ý có nhân quả không?
Nếu
thọ giới Bồ Tát tác ý thì phạm giới, giới Thinh văn làm
rồi mới phạm. Như theo giới Bồ Tát khởi ý niệm lấy thì
phạm giới, giới Thinh văn là lấy vật rời khỏi chỗ thì
phạm giới. Nhưng theo nhân quả có khởi tâm là phạm.
Hỏi:
Tại
sao Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả?
Đáp:
Vì
tạo nhân thì quả sẽ có. Chúng sanh tạo ác nhân để cho
mình được lợi ích phát tài, lúc quả đến thì sợ. Bồ
Tát sợ nhân nên không tạo nhân thì không có quả.
Hỏi:
Phật
tử theo những người tự xưng là đạo Phật, rồi cho các
vị ấy là Phật sống hay là Quan Thế Âm để dạy người
khác mê lầm. Như vậy chánh đạo hay là tà đạo?
Đáp:
Những
người gắn bảng hiệu Phật giáo, mà hành theo ngoại đạo
thì phải bị tội địa ngục. Như giới luật nhà Phật nói
“Chưa chứng mà nói chứng bị tội ba la di, nếu nói một
lần chịu chín triệu năm địa ngục”.
Các
vị đã chứng quả Bồ Tát cũng không xưng là Vô Thượng
Sư, vì trên Bồ Tát còn có quả vị cao hơn.
Hỏi:
Tham
thiền là chấm dứt tìm hiểu biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ
biết. Khi đề câu thoại khởi nghi tình, ngay lúc đó dù tác
ý hay không tác ý thì cũng lọt vào ghi nhớ biết nghi tình.
Xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Không
phải vậy ! Nếu giữ được nghi tình thì không hiểu không
biết. Nổi lên cái biết thì có thể tìm hiểu. Vì không biết
nên không nổi lên tìm hiểu, tự động chấm dứt cái biết.
Khởi
lên suy nghĩ là biết mình đang suy nghĩ thì không phải nghi
tình. Nổi lên nói mình có trí nhớ là biết, nên không phải
tham thiền. Tham thiền mình không có trí nhớ hay không có trí
nhớ đều không biết thì gọi là nghi tình.
Như
ông cho nhớ hay quên là sai lầm, nếu giữ được nghi tình
thì quên hết tất cả, chưa quên hết tất cả là công phu
còn cạn.
Hỏi:
Ngài
Lai Quả nói: “Tham thiền và vọng tưởng không phải là hai,
đề câu thoại đầu lên thì thấy không có vọng tưởng”.
Vậy nhớ câu thoại đầu để hỏi thì có phải ghi nhớ biết
không?
Đáp:
Phải
rồi ! Vì ngài Lai Quả muốn giải thích, mới dùng lời nói
của thế gian. Như tôi muốn giải thích, phải dùng chỗ không
biết. Vì không có mục tiêu để nhìn, nên tôi dùng phương
tiện là nhìn chỗ đen tối.
Nhưng
nhìn chỗ đen tối là không đúng, chỉ là phương tiện tạm
thời để cho họ được vào cửa, mới dùng đen tối để
thí dụ cho chỗ không biết. Tất cả lời của chư Phật chư
Tổ là phương tiện tạm thời.
Hỏi:
Khởi
câu thoại vỉ có thể lọt vào pháp tạo tác không? Và tin
tự tâm chưa đầy đủ làm sao dụng công?
Đáp:
Thoại
đầu là chưa khởi niệm muốn nói câu thoại, mục đích muốn
đến thoại đầu; tuy chưa đến thoại đầu, nhưng cũng gọi
là tham thoại đầu.
Tham
là hỏi, khán là nhìn; hỏi để kích thích lên một niệm
không hiểu không biết, hỏi không phải tạo tác. Đó là đường
lối thực hành để đến thoại đầu (chỗ hoàn toàn không
tạo tác). Vì mình hay tạo tác, nên Phật dạy đường lối
chấm dứt tạo tác. Do có tạo nên có thành, phải có hoại
là không phải pháp bản trụ (bản lai diện mục).
Nếu
nói tất cả mình đầy đủ, vậy mình khỏi ăn cơm. Đầy
đủ rồi cần ăn cơm mặc áo chi nữa! Vì mặc áo ăn cơm
là tạo tác.
Nếu
vậy thì Phật tánh lại có gián đoạn!
Phật
tánh không gián đoạn, tại mình hạn chế; tuy hạn chế làm
che khuất, nhưng Phật tánh không bao giờ gián đoạn.
Có
người hỏi: Nếu dùng không biết để tu đến thoại đầu
thì sắp kiến tánh là sắp biết phải không?
Tôi
nói: Không thể nói sắp biết, vì cái biết là pháp bản trụ
(vốn sẵn có), không có bắt đầu gọi là vô thỉ (vô sanh).
Do sanh nên có bắt đầu thì tạo tác, tạo tác phải có kiến
lập. Cái biết vốn sẵn có, làm sao nói là sắp biết? Nếu
sắp biết thì đã có ngưng, nên không cùng khắp thời gian
không gian.
Như
trời gần sáng, mặt trời sắp chiếu phải không? Không phải.
Vì mặt trời đâu có ngưng chiếu, sao nói là sắp chiếu!
Như cái biết của mình đâu có ngưng biết mà nói là sắp
biết? Vì không thấy mặt trời chiếu là do bị mây đen và
trái đất che khuất.
Hỏi:
Thế
nào dụng công ít phí sức?
Đáp:
Tham
Tổ Sư thiền ít phí sức chừng nào tốt chừng nấy, giữ
nghi tình như sợi chỉ được kéo dài; đừng tập trung tinh
thần, không cần cố gắng; tập trung tinh thần cố gắng là
phí sức.
Nếu
hỏi một lần, rồi cách một hồi hỏi nữa thì có kẽ hở
mà vọng tưởng nổi lên. Phải hỏi khít khít thì vọng tưởng
không thể nổi lên, gọi là miên mật. Chỉ cần nghi tình
miên mật một chút là đủ.
Hỏi:
“Ngoài
dứt các duyên, trong không nghĩ tưởng”, dụng công như vậy
có thể vào đạo không?
Đáp:
Đó
là lời chư Phật chư Tổ dạy làm phương tiện tạm thời,
không phải người nào cũng vậy; Tổ dạy mỗi người có
khác. Trong lịch sử Thiền tông có nhiều trường hợp này,
như có người hỏi thì Tổ trả lời thế này; người khác
hỏi thì Tổ trả lời thế kia. Vì không có pháp nhất định,
nên gọi là Phật pháp; tức là Phật pháp tùy duyên, Giáo
môn gọi là tùy duyên bất biến.
Nếu
dùng ngôn ngữ để diễn tả thì không phải thật tế. Như
câu trên diễn tả cho tâm là không đúng thật tế. Vì thật
tế tâm là vô sở hữu, do vô sở hữu nên gọi là tánh không.
Nhờ tánh không, nên nhà cửa, núi sông, đất đai,… đều
ở trong đó dung nạp và ứng dụng. Bản thể vô sở hữu
đâu thể nói là vách tường hay cái gì!
Có
người hỏi ngài Long Thọ: Tại sao không nói hư không quảng
đại vô biên dung nạp tất cả vật, mà nói hư không vô sở
hữu dung nạp tất cả vật?
Ngài
Long Thọ nói: Hư không vô sở hữu là không có hư không, nhưng
lại dung nạp và ứng dụng. Đã biết không có hư không sao
còn nói quảng đại? Vì có kiến lập khái niệm rồi nói
quảng đại. Tất cả không thể kiến lập, nên nói là vô
thỉ vô sanh. Nếu có kiến lập thì không phải thật tế,
không phải pháp bản trụ sẵn có.
Cho
nên, dùng ý thức phân biệt để tìm hiểu nhiều thì càng
xa cho sự kiến tánh. Vì vậy, cần phải chấm dứt tìm hiểu
biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ biết. Các nhà bác học có thực
nghiệm cũng biết được.
Tu
có định lực cao thì phân biệt bớt, định lực thấp thì
phân biệt nhiều. Các nhà bác học qua sự nghiên cứu phát
hiện người lâm chung, thấy hành vi cuộc đời của người
ấy hiện trong một sát na, mỗi chi tiết đều hiện ra một
lượt, tuy tiếp xúc một lần cũng hiện đầy đủ.
Hỏi:
Khi
niệm câu thoại vỉ và hỏi câu thoại cũng là thoại vỉ.
Vậy như thế nào?
Đáp:
Hỏi
và nhìn là lìa thoại vỉ, nhưng chưa đến thoại đầu, mà
đang đi ở giữa đường. Ví dụ cây viết cho ý thức, đầu
trên cây viết là thoại đầu, đầu dưới cây viết là thoại
vỉ. Ý thức gồm có 2 mặt: Dùng cái biết để tu, gọi là
tu Như Lai thiền; dùng không biết để tu, gọi là tu Tổ Sư
thiền. Cuối cùng hai pháp tu đều đến thoại đầu.
Đến
thoại đầu là đường đi ý thức hết thì tìm hiểu biết,
suy nghĩ biết, ghi nhớ biết đều chấm dứt; nhưng còn không
hiểu không biết (nghi tình), chỗ này gọi là vô thỉ vô minh
(đầu sào trăm thước, nguồn gốc ý thức). Nghi tình cũng
là một mặt của ý thức nên còn dính líu với ý thức. Sát
Na từ đầu sào trăm thước tiến lên một bước là lìa khỏi
ý thức thì được kiến tánh thành Phật.
Sát
na lìa ý thức thì biết và không biết của bộ óc, cái biết
chánh biến tri hiện lên khắp không gian thời gian; ngài Vĩnh
Gia gọi là vô duyên tri, Giáo môn gọi là trí Bát nhã, chánh
biến tri cũng là cái biết của bản thể. Cái biết này không
gián đoạn, như vừa rồi tôi nói là không thể sắp biết,
vì không có ngưng biết.
Người
ta cho rằng dùng cái biết mới tu được, nhưng dùng cái biết
để tu dễ bị ngoại cảnh lôi kéo. Tại sao? Vì gặp tốt
thì sanh lòng tham thích, thấy xấu thì chê bai. Nếu dùng không
biết để tu thì tốt đẹp cũng không biết nên không ham thích,
gặp xấu thì không biết nên không chê bai. Cho nên dễ đến
thoại đầu, vì vậy gọi là pháp thiền trực tiếp.
Nếu
tìm hiểu để đáp án câu thoại là sai lầm, hay dùng ý thức
phân biệt cho là trí khôn, vọng tưởng, nghi tình, đó là
dùng cái biết chứ không dùng cái không biết. Khi thực hành
tham thiền, nếu hiểu thiền hiểu đạo còn không cho, huống
chi hiểu cái khác! Vì hiểu là biết, tham thiền là cần cái
không hiểu không biết.
Hỏi:
Tu
thiền voga, khi ngồi họ bay lên, vậy có giống Tổ Sư Thiền
không?
Đáp:
Tổ
Sư Thiền không có những cái đó, những cái đó giống như
tà ma ngoại đạo.
Có
những câu chuyện như thần giao cách cảm!
Bài
hồi sáng là tôi chỉ để tăng cường lòng tin tự tâm cùng
khắp không gian thời gian. Nhưng người phát hiện cũng có
người cao người thấp, không phải bản thể của tâm. Vì
họ có thiền định nên sức tâm mạnh thì phân biệt ít,
được tầng số cao. Nếu họ có tầng số thấp thì phân
biệt nhiều. Phân biệt theo Phật pháp gọi là thức, còn trí
thì không phân biệt.
Hỏi:
Thế
nào căn bản của Tổ Sư Thiền?
Đáp:
Tham
thiền là mục đích giải thoát tất cả khổ, mọi người
đều được làm chủ cho mình; không bị người khác chi phối,
không bị ngoại cảnh chi phối; mới được tự do tự tại
thì không ỷ lại người khác, tự làm chủ cho mình thì phải
biết mình là cái gì.
Nếu
không biết mình là cái gì thì sao làm chủ mình được! Tham
thiền để biết chính mình là gì, giải thoát tất cả khổ
vĩnh viễn, muôn ngàn kiếp sau không trở lại nữa. Muốn giải
thoát tất cả khổ phải thực hành tham thiền, hỏi câu thoại
là kích thích niệm không hiểu không biết.
Tôi
hỏi ông: Khi chưa có trời đất ông là gì?
Ông
ấy đáp: Không biết.
Khán
là nhìn chỗ không biết, muốn xem chỗ không biết đó là
gì; chỗ không biết thì không có chỗ, nên không có mục tiêu
để nhìn; vẫn còn không biết, Thiền tông gọi là nghi tình.
Hành
giả tham thiền hỏi và nhìn đồng thời song song để giữ
nghi tình, đưa hành giả đến thoại đầu sẽ kiến tánh thành
Phật là giác ngộ chính mình, được làm chủ cho mình.
Hỏi:
Nhìn
chỗ không mục tiêu, vậy không biết nhìn chỗ nào?
Đáp:
Nếu
nhìn không thấy gì thì cứ nhìn mãi, nhìn không có mục tiêu
mới đúng; còn nhìn có mục tiêu là sai lầm, vì đường lối
của Phật Thích Ca là vậy. Ban đầu tôi dùng phương tiện
là nhìn chỗ đen tối, nhưng không phải chỗ đen tối. Nhìn
chỗ đen tối tạm thời, nhưng người ta chấp đen tối là
mục tiêu; như vậy đã kiến lập đen tối, tức là có sáng
rồi mới có tối.
Tự
tánh bất nhị không có tương đối luôn cả cái biết cũng
không thể kiến lập như có người hỏi tu đến thoại đầu
thì sắp biết phải không?
Tôi
nói: Đâu thể nói là sắp biết! Cái biết đó sẵn sàng thì
sao nói là sắp biết? Cái biết ấy đâu có ngưng biết mà
nói sắp biết. Như ánh sáng mặt trời đâu có ngưng chiếu
mà nói sắp chiếu!
(Trừ
nghiệp chướng phiền não…. trang 128).
Vì
vậy tôi nói chấm dứt tìm hiểu biết, suy nghĩ biết, ghi
nhớ biết. Mặc dầu, chưa đến thoại đầu, nhưng cũng có
ích lợi.
Hỏi:
Thoại
đầu là gì?
Đáp:
Thoại
là lời nói, đầu là đầu tiên lời nói; tức là khi chưa
khởi niệm muốn nói gọi là thoại đầu. Nếu khởi niệm
muốn nói, tuy chưa nói ra miệng là thoại vỉ (đuôi),
không hiểu không biết là nghi tình, chứ không phải thoại
đầu; nhưng nhờ nghi tình mới đưa đến thoại đầu.
Niệm
thoại đầu là không đúng, phải hỏi câu thoại. Nếu niệm
là pháp môn khác, không phải pháp môn Tổ Sư Thiền.
Vậy
lấy chi để nhớ?
Không
cho nhớ, quên là tiến bộ. Quên hết tất cả là tốt, mục
đích chấm dứt cái nhớ. Học để ứng dụng vô sở hữu,
vô sở hữu là không bị hạn chế.
Hỏi:
Thế
nào là công án?
Đáp:
Công
án là để cho người tham thiền thình lình được ngộ, nếu
không ngộ thì không hiểu phải phát nghi rồi đến ngộ. Vì
nghi là nhân, ngộ là quả; còn ngộ rồi thì hết nghi, tức
không còn gì để nghi nữa, là tất cả vũ trụ đều biết
hết.
Công
án và thoại đầu có khác không?
Không
khác, công án phức tạp hơn thoại đầu. Nhưng người ta thường
tham công án chữ “vô” của Triệu Châu.
Tăng
hỏi Triệu Châu: Con chó có Phật tánh không?
Triệu
Châu đáp: Có.
Tăng
khác hỏi: Con chó có Phật tánh không?
Triệu
Châu đáp: Không.
Theo
người ta biết tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tại
sao Triệu Châu nói không? Không lẻ Triệu Châu là một Thiền
sư danh tiếng mà lại nói sai!
Nếu
hiểu công án rồi thì sao?
Hiểu
rồi thì đã ngộ, ngộ là tất cả đều biết, khỏi cần
hỏi tôi nữa. Mặt trăng, mặt trời, … đều biết, không
chỗ nào không biết, không lúc nào không biết.
Con
hiểu theo ý con thì thế nào?
Hiểu
theo ý cô là ngu, tức chưa lìa ý thức. Ý thức cần phải
chấm dứt. Theo bộ óc của cô biết thì ngủ mê, chết giấc,
thật chết đều không biết; ngộ triệt để thì ngủ mê,
chết giấc, thật chết đều biết.
Có
người giải thích như thế này, có người hỏi Triệu Châu:
Con chó có Phật tánh không?
Triệu
Châu đáp: Có.
Đáp
có là phá chấp không của người hỏi.
Người
khác hỏi Triệu Châu: Con chó có Phật tánh không?
Triệu
Châu đáp: Không.
Đáp
không là phá chấp có của người hỏi. Như vậy có phải
không?
Nếu
kinh thì giải thích như vậy là đúng, công án không thể giải
thích; nếu giải thích công án là ngịch với ý Tổ cũng là
phỉ báng Tổ có tội địa ngục. Vì giải thích thì hết
nghi, không đúng với thực tế. Mục đích tham thiền là chấm
dứt hiểu biết, tại sao còn giải thích?
Hỏi:
Công
phu có cái biết không phải bộ não, đôi lúc không liên tục,
lời nói lập lại gián đoạn, vọng tưởng không thông suốt.
Xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Cái
biết sẵn sàng không thể kiến lập, có kiến lập là hai
rồi. Thiền Tông gọi là trên đầu mọc thêm đầu, vì có
một cái đầu đủ dùng, nên phải mời Bác sĩ cắt bỏ, mới
khôi phục lại cái đầu sẵn có. Như cái biết đã sẵn có,
không thể kiến lập cái biết khác; nếu kiến lập cái biết
thì phải có không biết để đối đãi, vì Phật tánh bất
nhị không có đối đãi.
Tại
sao dùng không hiểu không biết để chấm dứt tất cả biết
của bộ óc? Vì một người chỉ có một cái biết, không
thể có hai cái biết. Nếu cái biết của bộ óc hiện hành
thì cái biết Phật tánh không thể hiện lên. Cho nên, phải
dẹp hết cái biết của bộ óc thì cái biết Phật tánh mới
hiện lên.
Ví
dụ mặt mũi mình chỉ có một, khi bệnh thì hiện ra xanh vàng
ốm yếu; nên tướng mạnh không thể hiện ra, khi nào chữa
hết bệnh thì tướng mạnh hồng hào hiện ra. Như cái biết
Phật tánh hiện lên là tướng mạnh, bây giờ tướng mạnh
không hiện là do tướng bệnh bộ óc che khuất. Nếu dùng
tướng bệnh để tìm tướng mạnh thì không thể được.
Hỏi:
“Bên
ngoài lìa tướng là thiền.” Vậy lìa tướng là gì?
Đáp:
Đó
là phương tiện của Tổ, Phật Thích Ca có giải thích 4 tướng:
Ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Có chia ra làm 2 loại: Mê thức
tứ tướng của phàm phu và mê trí tứ tướng của bậc thánh.
Tại
sao mê trí tứ tướng của bậc thánh? Vì ôm cái ngộ cho là
ta, tức là phá ngũ uẩn ngã là ta.; lại ôm sở ngộ sở chứng
là ta, cuối cùng ôm Niết Bàn là ta chứng. Cái ngã vi tế
vẫn còn thay thế cái ngã ngũ uẩn, nên còn có thọ giả tướng;
kinh Viên Giác gọi là thọ mạng tướng (mạng căn chưa cắt
dứt). Thiền Tông khi ngộ triệt để thì mạng căn cắt dứt,
không còn cái gì là ta.
Nhiều
người nghe nói mạng căn dứt thì sợ vì mất cái ta. Nhưng
nhà bác học Tây phương có định lực cao cũng phát hiện
điều đó, có thể chứng tỏ vạn pháp duy tâm. Mình chưa
kiến tánh thì thấy tướng và tánh khác nhau nhưng kiến tánh
thì không phân biệt tướng và tánh. Cho nên, Phật tánh hiện
lên gọi là thật tướng, thật tướng là vô tướng tức
không có 4 tướng này.
Hỏi:
Người
kiến tánh thì cái biết của bộ óc đều xóa hết, nếu chưa
kiến tánh thì những hiểu biết của bộ óc đều mang theo.
Vậy có đúng không?
Đáp:
Chưa
kiến tánh thì phải nói vậy, kiến tánh rồi không có chết
và sống. Như Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Vô lão tử”. Vì mình
chấp sanh tử, nên có diễn tả những việc trước khi chết.
Nếu không có sanh tử thì sao có chuyện trước khi chết hay
sau khi chết! Chấp có sanh tử nên bị hạn chế trong ngũ giác
quan, không gian và thời gian.
Thực
tế không có khái niệm không gian và thời gian. Do mình kiến
lập không gian thời gian nên bị không gian thời gian hạn chế.
Đến chừng kiến tánh triệt để thì không gian thời gian
đều tiêu diệt. Như nhà khoa học phát hiện tốc độ ánh
sáng cao nhất, nhưng tâm lực của mình sẵn có; nếu đem so
với tốc độ ánh sáng thì tốc độ ánh sáng là thấp nhất.
Tốc
độ ánh sáng đi 1 giây 300.000 km, nhà khoa học tính ánh sáng
mặt trời đi đến địa cầu mất 8 ngày. Tốc độ ánh sáng
đi một năm gọi là một quang niên. Ví dụ ánh sáng từ mặt
trời đến một hành tinh khác 1000 năm, thì sức của tâm mình
chỉ khởi lên một niệm là đến; hay ánh sáng đi 10.000 năm
đến thì tâm mình cũng khởi lên một niệm là đến.
Cho
nên, biết sức của tâm không bị không gian hạn chế. Nhà
bác học cũng phát hiện được điểm này, vì họ có tâm
niệm cao; còn mình cũng có tâm niệm, nhưng lại yếu hơn.
Hỏi:
Tự
tánh đã sẵn có cái biết, Hòa Thượng dạy cái không biết
chấm dứt cái biết là thế nào?
Đáp:
Vì
kiến lập biết thì có không biết để đối đãi, không thể
kiến lập cái biết; nhưng không phải là không biết. Do không
có đối đãi nên có vô duyên tri. Như bài kệ của ngài Vĩnh
Gia:
Tay
không cầm như ý,
Chẳng
tự làm nắm tay.
Không
phải là không tay,
Vì
tay vẫn an nhiên.
Không
đồng như sừng thỏ.
Tay
vẫn an nhiên thì hoạt bát vạn năng, muốn lấy cái gì cũng
được. Muốn hoạt bát vạn năng thì tay không cầm như ý.
Cho nên, ngài Vĩnh Gia dùng cái tay ví dụ rất dễ hiểu, nếu
chỉ dùng lời nói thì mọi người không thể hiểu. Hiểu
được ý này thì hiểu được câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh
kỳ tâm”.
Hỏi:
Chỗ
nhìn không có chỗ để nhìn, nên không đặt nặng chỗ nhìn;
vì vậy hỏi câu thoại cảm thấy không biết thì con đề
lên liên tục. Xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Không
được! Hỏi và nhìn đồng thời song song, có nhìn mới giữ
được không biết kéo dài thì được đến thoại đầu. Nếu
không có nhìn mà hỏi thì có thắc mắc, ngưng hỏi lại không
có thắc mắc; hay vừa hỏi thì không biết, rồi cái biết
nổi lên; lúc biết lúc không biết cứ nổi lên hoài, rồi
tự mình không hay. Vì tâm niệm mình thay đổi từng sát na.
Nhìn vào chỗ không thấy gì cứ nhìn mới đúng, nếu nhìn
thấy có gì thì không đúng.
Con
nhìn một thời gian thì câu thoại cũng mất, không biết mình
có tham thiền hay không?
Thì
cứ hỏi và nhìn tiếp tục nữa, nếu vậy sẽ mau đến chân
tham; chân tham là có tham, nhưng không biết mình đang tham thiền.
Chỗ
nhìn không biết thì con quên hỏi câu thoại đầu, nên có
vọng tưởng nổi lên.
Nếu
vậy, hãy đề lại nữa. Như ngài Lai Quả có lần ngưng tham
thiền 2 ngày rồi sau mới đề lại. Phải hỏi và nhìn song
song, đến thoại đầu thì câu thoại tự mất, muốn hỏi
câu thoại cũng không được.
Hỏi:
Câu
thoại đầu là một ý niệm, nhưng ý niệm này không thể
tìm; một thời gian có nghi tình và vở ra thì câu thoại đầu
tự mất, cho nên ý niệm tiêu. Vậy có phải không?
Đáp:
Không
phải! Câu thoại là kích thích niệm không biết. Nếu không
hỏi câu thoại thì niệm không biết chẳng thể nổi lên.
Cho nên phải hỏi và nhìn song song.
Thiền
Thất Khai Thị Lục nói “Không cho ông buông ý niệm” là
thế nào?
Chính
không biết là ý niệm, chư Phật chư Tổ sợ người ta chấp
theo lời nói. Như A Nan nói tâm ở trong thân thì Phật nói
chẳng phải, A Nan nói tâm ở ngoài thân thì Phật nói chẳng
phải, A Nan nói tâm ở giữa thì Phật nói cũng chẳng phải,
A Nan nói tâm đến 7 chỗ thì Phật nói chẳng phải. Nhưng
cái chẳng phải của Phật cũng không đúng, nếu y lời chẳng
phải của Phật là sai lầm.
Vì
tâm cùng khắp không gian, nếu không ở trong, ở ngoài, ở
giữa làm sao có cùng khắp? Phật rất sợ người ta chấp
lời nói của Phật, vì vậy Phật nói: “49 năm thuyết pháp,
tôi chưa từng nói một chữ” và “ai nói Phật có thuyết
pháp là người ấy phỉ báng Phật”.
Hỏi:
Trước
kia con đã tu thiền khác, bây giờ muốn tham Tổ Sư thiền.
Vậy phải làm thế nào?
Đáp:
Thiền
là tổng danh, Phật dạy các pháp môn đều lấy thiền làm
căn bản. Như người tu Tịnh Độ tưởng là không có thiền,
nhưng Tịnh Độ cũng có thiền. Các thiền kia đều khác Tổ
Sư thiền, Tổ Sư thiền là do Phật Thích Ca truyền cho Ma Ha
Ca Diếp, rồi truyền cho A Nan, A Nan truyền cho Thương Na Hòa
Tu, từ Tổ từ Tổ truyền xuống đến Tổ thứ 28 là Bồ
Đề Đạt Ma.
Tổ
Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Quốc làm Sơ Tổ, rồi truyền cho
Nhị Tổ là Huệ Khả, Tam Tổ là Tăng Xán, Tứ Tổ là Đạo
Tín, Ngũ Tổ là Hoằng Nhẫn, Lục Tổ là Huệ Năng.
Lục
Tổ là người không biết chữ, mà nổi tiếng khắp thế giới;
sức dụng của các Tổ biết chữ không bằng. Pháp Bảo Đàn
Kinh được dịch ra truyền khắp thế giới.
Các
chùa tu Tịnh Độ nhưng lại thờ Tổ Đạt Ma (Tổ Thiền tông).
Không những Phật pháp có thiền, tà ma ngoại đạo cũng đều
có thiền. Không biết bà nói tu thiền gì? Còn tôi hoằng dương
Tổ Sư thiền, do các Tổ sư từ đời từ đời truyền xuống.
Chỉ
có Tổ Sư thiền mới gọi là Thiền tông, còn các thiền khác
không gọi là Thiền tông. Tịnh Độ tông cũng có thiền, Thiên
Thai tông có chỉ quán thiền, Hiền Thủ tông có pháp giới
quán thiền, Duy Thức tông có duy thức quán thiền; mỗi tông
mỗi phái đều có thiền riêng biệt của tông phái đó.
Nhưng
các thiền kia đều dùng cái biết để tu, gọi là Như Lai
thiền; dùng không biết để tu, gọi là Tổ Sư thiền. Tổ
Sư thiền rất giản dị chỉ hỏi câu thoại và nhìn thoại
đầu.
Tôi
hỏi cô: Khi chưa có trời đất cô là cái gì?
Không
biết.
Không
biết là đúng rồi, hỏi câu thoại là kích thích niệm không
hiểu không biết; khán thoại đầu là nhìn chỗ niệm không
biết, muốn xem chỗ không biết là gì; tuy nói chỗ không biết
nhưng không có chỗ, nên không có mục tiêu để nhìn, nhìn
mãi không thấy gì vẫn còn không biết, Thiền tông gọi là
nghi tình.
Chỉ
cần hỏi và nhìn song song để giữ nghi tình được kéo dài,
đưa hành giả đến thoại đầu; sẽ được kiến tánh thành
Phật, khi ấy chỗ nào cũng biết và lúc nào cũng biết. Cái
biết bộ óc không cùng khắp thời gian thì ngủ mê, chết
giấc, thật chết đều không biết. Cái biết Phật tánh thì
ngủ mê, chết giấc, thật chết đều biết.
Chỗ
nào cũng biết gọi là cùng khắp không gian, lúc nào cũng biết
là cùng khắp thời gian. Đó là sức dụng của tâm và sức
dụng tâm cô cũng đầy đủ tất cả.
Tôi
hỏi cô: Tin có Phật tánh không?
Có.
Phật
tánh có thể giảm bớt không?
Con
không biết được.
Nếu
Phật tánh giảm bớt thì không được gọi là Phật tánh,
vì Phật tánh vĩnh viễn không sanh diệt; nếu Phật tánh giảm
bớt thì có ngày phải hết nên bị sanh diệt, nên thành
Phật cũng vô dụng. Tin mình có Phật tánh thì phải biết
Phật tánh không thể giảm bớt. Phật tánh không gián đoạn,
nếu gián đoạn cũng bị sanh diệt.
Cho
nên, kiến tánh là lìa khỏi luân hồi, Phật tánh không thể
giảm bớt thì năng lực mọi người bằng Phật Thích Ca. Nếu
năng lực kém hơn Phật một chút thì có giảm bớt.
Muốn
ngộ chỉ có hỏi và nhìn, hỏi câu thoại để kích thích
một niệm không biết; nhìn chỗ không biết là để kéo dài
niệm không biết, rồi sẽ đưa đến thoại đầu; từ thoại
đầu tiến thêm một bước là lìa khỏi ý thức, luôn cả
không biết cũng tan rã. Lúc ấy, biết và không biết của
bộ óc đều sạch hết, thì biết Phật tánh hiện lên khắp
không gian thời gian.
Thực
hành như hỏi câu thoại “khi chưa có trời đất ta là cái
gì?” Cảm thấy không biết, rồi nhìn chỗ không biết; hỏi
và nhìn song song, không có trước sau; hỏi không gián đoạn,
nhìn cũng không gián đoạn; hỏi không phải dùng miệng hỏi,
dùng tâm hỏi thầm; nhìn không phải dùng mắt nhìn, mà dùng
tâm nhìn thầm.
Hỏi:
Có
phải giới luật đều trong công phu?
Đáp:
Khi
thọ giới phải giữ giới của mình thọ. Giữ giới có 3
cấp:
Giới
phổ thông là mỗi nửa tháng bố tát có tụng giới, trước
khi tụng giới có kiểm thảo. Tăng chúng họp mặt lại
cử một người làm chủ tịch hỏi: “Nửa tháng nay có ai
phạm giới không? Nếu có thì ra trước đại chúng phát lồ
sám hối”.
Vì
sám hối là diệt tội, hỏi 3 lần chẳng ai lên tiếng thì
biết mọi người đều giữ giới thanh tịnh, nên bắt đầu
tụng giới. Nếu mình biết người bạn phạm giới không ra
chúng sám hối, phải ra chúng cử tội người đó. Mình không
cử tội người đó, sau này người khác phát giác thì mình
và bạn mình đều cùng một tội.
Như
phạm ba la di là bị địa ngục 9 triệu năm, người che
dấu cũng phải bị địa ngục 9 triệu năm. Ngày xưa truyền
giới của các giới đều trong ngày bố tát. Ngày tự tứ
là mỗi Tăng chúng ra trước đại chúng tự kiểm thảo và
hỏi “ai có thấy, nghe, nghi tôi phạm giới không? Nếu các
vị biết thì xin ra chúng cử tội tôi”.
Thiền
giới là mình ở trong thiền định thì không phạm giới. Trong
ngày đêm 24 giờ nếu có giây phút không thiền định thì
có thể giây phút đó phạm giới.
Đạo
cộng giới là đã đắc đạo thì tự nhiên không phạm giới.
Bất
cứ pháp môn nào cũng lấy giới làm căn bản, tu thiền cũng
phải giữ giới, vì mình không thể thiền định luôn 24/24.
Hỏi:
Tại
sao Sư Phụ chỉ đưa ra 5 câu thoại đầu để tham?
Đáp:
5
câu thoại đầu này là của chư Tổ, tôi chỉ chọn 5 câu
để tham; nhưng câu thoại đầu rất nhiều, nếu tự mình
có cái nghi thì tốt hơn.
Có
thắc mắc, tại sao con có mặt ở cõi Ta Bà và chết đi về
đâu?
Nếu
tự mình thắc mắc như vậy thì tự nghi việc ấy tốt hơn.
Vậy
ông trời ở đâu sanh?
Phật
đã nói tất cả là vô thỉ, tức là không có bắt đầu làm
sao có tạo thiên lập địa? Cho nên, người chứng quả ngộ
pháp vô sanh. Các nhà khoa học có đề ra 2 câu hỏi: Vũ trụ
có bắt đầu chăng? Và con gà có trước hay trứng gà có trước?
Đều
không giải quyết được. Tại sao? Vì con gà có trước không
được, vì không có trứng gà thì không thể ấp ra con gà.
Trứng gà có trước cũng không được, tại không có con gà
thì không đẻ ra trứng gà. Cho nên, Phật nói không có bắt
đầu.
Nhà
khoa học tìm bắt đầu của vũ trụ, theo Phật gọi là si
mê; vì không có bắt đầu, mà tìm sự bắt đầu. Như bây
giờ cô có cái nghi đó là kiếp trước đã tham thiền, cũng
là con cháu của Thiền tông, nếu tham thiền mau kết quả.
Kinh
Pháp Hoa nói: “Người nữ có 5 thứ chướng ngại”, nhưng
sự thật không phải vậy. Chính kinh Pháp hoa nói: “Long nữ
8 tuổi thành Phật” và tôi có đề ra cô họ Trịnh 13 tuổi,
cô họ Tô 15 tuổi đều kiến tánh.
Hỏi:
Thế
nào là tà ma ngoại đạo thiền?
Đáp:
Thiền
tà ma ngoại đạo là còn chấp ta, nên họ không bao giờ giải
thoát được. Có nghi về cái ta thì dễ phá chấp cái ta, như
nghi: Tại sao thành lập cái ta?
Tham
Tổ Sư thiền có còn thiền Tịnh Độ nữa không?
Thiền
Tịnh Độ là không tin tự tâm, Tịnh độ có 16 pháp thiền
quán trong kinh Quán Vô Lượng Thọ là còn chấp thật. Tham
Tổ Sư thiền là phá chấp thật.
Đã
biết thân cô là cha mẹ sanh, nhưng không thành lập cái ta
được. Cho nên, mới nghi làm sao có ta? Tịnh Độ đã chấp
cái ta thì không thể tham Tổ Sư thiền. Đến khi họ vãng
sanh Tây Phương nhờ Phật A Di Đà dạy tham thiền, vì bây
giờ không tin Tổ Sư thiền.
Hỏi:
Nếu
tu chưa đến kiến tánh, gặp nhiều chướng ngại bị sanh
tử thì như thế nào?
Đáp:
Cô
đã có cái nghi về ta, nhưng qua 30 năm gặp những người chấp
thật nói phải nhờ tha lực; nhưng đến nay gặp tôi mới
biết cô có căn cơ tham thiền. Khi chánh nhân đã gieo thì chánh
quả sẽ đến. Cho nên, kiếp này tham thiền chưa kiến tánh
rồi chết thì kiếp sau tiếp tục tham.
Hỏi:
Vọng
tưởng nổi lên liền buông, có phải không còn vọng chăng?
Đáp:
Vọng
tưởng nổi lên mặc kệ, đừng biết tới; không có vọng
tưởng cũng không biết, vì nghi tình là không biết. Biết
có nghi tình không phải tham thiền, có vọng tưởng cứ hỏi
và nhìn (giữ cái không biết được kéo dài) thì vọng tưởng
tự mất. Đừng có tâm buông vọng tưởng hay dẹp vọng tưởng.
Hỏi:
Người
tu đã đạt đạo, khi bỏ xác thì thần thức đi về đâu?
Đáp:
Không
có đi về đâu, nếu có về đâu thì không cùng khắp không
gian. Vì khắp không gian chỉ khởi lên một niệm là đến,
mà ánh sáng đi có thể 1.000 năm mới đến. Còn chấp tâm
nên không cùng khắp, chánh pháp là phá ngã chấp. Đường
Lối Tực Hành Tham Tổ Sư Thiền có điều thứ nhất là “vô
sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ” để phá ngã chấp.
Hỏi:
Người
tu Tịnh Độ, nếu chưa được nhất tâm, khi bỏ xác có được
hạ phẩm hạ sanh và đới nghiệp vãng sanh không?
Đáp:
Tu
Tịnh Độ phải đúng tông chỉ Tịnh Độ thì mới được
vãng sanh. Nếu không đúng tông chỉ Tịnh Độ có xê xích
một sợi tóc cũng không được vãng sanh. Ví dụ tổng đài
là cái nguyện của Phật A Di Đà, radio nhỏ là cái nguyện
của mình. Nếu mình vặn đúng tần số của tổng đài thì
máy radio sẽ nhận được tổng đài phát ra, nếu vặn xê
xích một chút thì không tương ưng với tổng đài.
Cái
nguyện mình cũng vậy, khế hợp với nguyện Phật A Di Đà
thì mới tương ưng được vãng sanh. Nếu xê xích một chút
thì không được tương ưng nên không được vãng sanh.
Hỏi:
Yếu
chỉ của Giáo môn như thế nào?
Đáp:
Yếu
chỉ của Giáo môn có ghi trong kinh chia ra làm tam thừa (Thanh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát). Cách tu của Giáo môn là tụng kinh
và quán tưởng (tùy duyên quán tưởng). Lúc tụng kinh là tu,
chứ không tụng suông; tụng đến đâu quán tưởng đến đó.
Ngài
Đế Nhàn của tông Thiên Thai (Pháp Hoa tông). Quán Tông tự
của tông Thiên Thai ở tỉnh Triết Giang, Trung Quốc. Tăng chúng
ở chùa đều phải có ba thời kinh, mỗi thời 2 giờ. Nếu
chúng tăng tụng không đủ 2 giờ thì ngài quở làm biếng.
Theo
kinh giáo thực hành thì chứng quả từng cấp bậc như: Thập
Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng (50 cấp), đếûn
Đẳng Giác và Diệu Giác (tổng cộng là 52 cấp).
Hỏi:
Các
việc ác đừng làm,
Các
điều thiện nên làm,
Để
ý mình trong sạch,
Ấy
là lời Phật dạy.
Có
phải tu theo Giáo môn không?
Đáp:
Không
những Giáo môn mà Thiền môn cũng vậy. Phật gần nhập Niết
Bàn, A Nan hỏi Phật: Sau khi Phật nhập Niết Bàn, chúng con
biết y chỉ với ai để làm thầy?
Phật
trả lời: Phải lấy giới luật làm thầy.
Tổng
quát của giới luật là “các việc ác đừng làm, các điều
thiện nên làm”. Các việc ác đừng làm là chỉ trì, các
điều thiện nên làm tác trì. Nếu chia ra giới luật gồm
có: Tỳ kheo là 250 giới, Tỳ Kheo Ni là 348 giới, Sa Di và Sa
Di Ni là 10 giới, giới Bồ Tát xuất gia có 10 giới trọng
và 48 giới khinh, Bồ Tát tại gia có 6 giới trọng và 28 giới
khinh.
Tăng
đoàn
có nhiều Pháp, Phật đối với giới luật rất tỉ mỉ. Bây
giờ thọ giới ở Việt Nam chỉ có 3 ngày, ở Trung Quốc 53
ngày rồi học giới Đường 3 năm (học giới luật).
Hỏi:
Thế
nào là tự tâm được trong sạch?
Đáp:
Không
có thiện ác là trong sạch, như Lục Tổ nói: “Có niệm,
niệm là tà; không niệm, niệm là chánh. Tà chánh đều quét
sạch, trong sạch đến cùng tột”. Nếu còn chánh niệm thì
đối với tà niệm, tức là còn ôm cái niệm cũng chưa sạch
đến cùng tột. Cho nên tà chánh đều quét sạch.
Ngoài
Giáo môn còn có con đường nào khác không?
Ngoài
Giáo môn còn có Tối thượng thừa là bất lập văn tự. Tất
cả các ngữ lục như: Bá Trượng Ngữ Lục, Đại Huệ Ngữ
Lục, Truyền Tâm Pháp Yếu, Pháp Bảo Đàn, Công Án Phật Thích
Ca và Tổ Đạt Ma,…
Người
ta chỉ biết “niêm hoa thị chúng” của Phật Thích Ca, còn
các công án khác không biết, tôi soạn ra từ trong kinh điển.
Các Tổ sau này đều y theo niêm hoa thị chúng, mỗi mỗi có
kiến lập; nhưng không trái với niêm hoa thị chúng.
Con
thấy mấy cái ấy chưa ra khỏi văn tự phải không?
Lục
Tổ nói: “Bất lập văn tự, chứ không phải phế bỏ văn
tự”, tức là không chấp vào văn tự. Hai chữ “Bất lập”
cũng là văn tự vậy!
Hỏi:
Xin
sư phụ khai thị công án: Ăn một chén cháo cũng kiến tánh?
Đáp:
Không
phải ăn một chén cháo mà được kiến tánh. Theo giới luật
thì Sa Di trở lên phải trì ngọ. Ngài Lai Quả thấy cái nào
có chướng ngại tham thiền thì ngài bỏ, cái nào có giúp
ích cho tham thiền tuy không đúng giới luật nhưng ngài vẫn
thực hành. Vì tọa hương và bào hương (chạy nhanh) thêm thời
tiết lạnh nên buổi chiều ngài cho chúng Tăng ăn cháo để
có sức tham thiền.
Trì
ngọ giúp cho tu, nhưng ngài lai Quả không trì ngọ cũng giúp
cho tu; mục đích cho tu để thành tựu, chứ không mỗi ngày
ăn một chén cháo là tu! Phật pháp không có việc cố định
(bất định pháp). Nếu ở miền nhiệt đới tu hành trì ngọ
là tốt.
Hỏi:
Chỉ
là việc hôm nay che khuất mặt bổn lai là như thế nào?
Đáp:
Việc
ngày nay là hỏi và nhìn, sẽ đưa đến mặt bổn lai.
Hỏi:
Xin
sư phụ khai thị công án của Hương Nghiêm?
Đáp:
Ngài
Hương Nghiêm thông minh lanh lợi hiểu rất nhiều kinh sách.
Nhưng ỷ lại thông minh của mình nên không được kiến tánh,
bạn đồng tham nhiều người kiến tánh. Ngài Bá Trượng là
thầy của Hương Nghiêm đã tịch, Quy Sơn là sư huynh đệ
kiến tánh hỏi Hương Nghiêm: Tất cả trong kinh sách ông đều
biết, vậy có biết mặt mũi bổn lai của ông như thế nào
không?
Hương
Nghiêm xem lại kinh sách, nhưng khôg thấy để trả lời; tự
thấy hổ thẹn, đem kinh sách đốt hết. Rồi hỏi Quy Sơn:
Xin trả lời cho tôi?
Quy
Sơn nói: Nếu tôi nói trắng ra sau này ông sẽ chửi mắng
tôi.
Hương
Nghiêm hỏi nhiều lần nhưng Quy Sơn không nói, rồi Hương
Nghiêm từ giã mọi người đến quốc sư Huệ Trung cuốc đất
trồng trọt sống qua ngày. Một hôm lượm miểng ngói liệng
ra trúng cây tre phát ra tiếng “cốc” thì ông liền ngộ,
mới biết lòng từ bi của Quy Sơn không nói trắng ra để
cho ông được ngộ. Nếu Quy Sơn nói thì ông không được
ngộ.
Cho
nên, Hương Nghiêm hướng về Quy Sơn đảnh lễ và nói: Ân
của thầy rất lớn.
Hỏi:
Con
thấy Sư Phụ có tình cảm riêng với thầy vừa rồi, thấy
không công bằng; ông ấy chỉ hỏi câu “chỉ việc hôm nay
che khuất mặt bổn lai”, nhưng Sư Phụ lại nói “hỏi và
nhìn”. Nên con thấy có cái gì đó?
Đáp:
Bây
giờ, dẫu cho ngươi muốn ăn gậy cũng chưa đủ tư cách.
Vì ông cứ dùng ý thức để phân biệt nên chưa hiểu được.
Như Hương Nghiêm nói: Nhờ thầy không nói, nên con có việc
ngày hôm nay.
Hỏi:
Làm
sao để phát khởi nghi tình mạnh?
Đáp:
Hỏi
là kích thích một niệm không hiểu không biết, như hỏi “khi
chưa có trời đất ta là cái gì?” Cảm thấy không hiểu
không biết; khán thoại đầu là nhìn chỗ không biết, muốn
xem chỗ không biết đó là gì; chỗ không biết là không có
chỗ, nên không có mục tiêu để nhìn; nhìn mãi không thấy
gì vẫn còn không biết, Thiền tông gọi là nghi tình. Hỏi
và nhìn song song đưa hành giả đến thoại đầu, sẽ kiến
tánh thành Phật.
Những
người có nhìn thấy cái gì là sai lầm, không bao giờ kiến
tánh. Cho nên, phải tự tham tự ngộ mới được, chứ dùng
bộ óc để tìm hiểu là không đúng.
Hỏi:
Thế
nào đại nghi là đại ngộ?
Đáp:
Không
có tư tưởng chấp thật là đại nghi, còn có chút chấp thật
là tiểu nghi.
Hỏi:
Sau
khi Hương Nghiêm ngộ thì trình kệ như thế nào?
Đáp:
Khi
Hương Nghiêm ngộ rồi, truyền đến Qui Sơn biết; Qui Sơn
nói với Ngưỡng Sơn: Hương Nghiêm đã ngộ.
Ngưỡng
Sơn nói: Chưa chắc!
Hương
Nghiêm có làm bài kệ:
Năm
xưa nghèo chưa phải là nghèo,
Năm
nay nghèo mới thật là nghèo.
Năm
xưa nghèo còn đất cắm dùi,
Năm
nay nghèo, dùi, đất chẳng có.
Ngưỡng
Sơn nói: Theo bài kệ này thì cho Hương Nghiêm ngộ Như Lai
thiền, chứ Tổ Sư thiền thì chưa phải.
Rồi
Ngưỡng Sơn hỏi Hương Nghiêm: Nghe nói sư đệ ngộ rồi,
có gì để chứng tỏ?
Hương
nghiêm làm bài kệ khác:
Ta
có một cơ nháy mắt nhìn y,
Nếu
mà chưa ngộ đừng gọi Sa Di.
Ngưỡng
Sơn nói: Cung hỷ! Mừng cho sư đệ ngộ Tổ Sư thiền.
Bài
kệ trước có thể dùng cho ý thức để giải thích, bài kệ
sau không thể dùng ý thức để giải, tức là không có nghĩa
lý.
Hỏi:
Tại
sao con mới ban đầu gặp Sư Phụ khai thị biết tu, nhưng về
sau nghe Sư Phụ khai thị nhiều lại không biết tu?
Đáp:
Vì
cứ muốn biết muốn hiểu thì trái với Tổ Sư thiền là
chấm dứt tìm hiểu biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ biết. Tất
cả hoạt động phân biệt của ý thức đều chấm dứt, cuối
cùng chỉ còn nghi tình là không hiểu không biết.
Sát
na lìa khỏi ý thức thì không hiểu không biết cũng tan rã,
lúc đó biết và không biết đều sạch hết thì biết của
trí Bát Nhã hiện lên khắp không gian thời gian; tức là không
chỗ nào không biết và không lúc nào không biết.
Bây
giờ, muốn dùng ý thức để lãnh hội thì đối với sự
kiến tánh càng xa.
Hỏi:
Tâm
niệm lực là gì?
Đáp:
Tâm
mà cô tin có sức mạnh gọi là tâm niệm lực. Nếu phát huy
được tâm niệm lực, có thể một niệm thì quả đất này
biến thành bụi; có sức mạnh nữa thì luôn cả mặt trăng
mặt trời cũng biến thành bụi, có sức mạnh luôn cả vũ
trụ cũng biến thành bụi. Đó là tâm niệm lực phát huy đến
cùng tột.
Hỏi:
Những
người phát huy được tâm niệm lực, vậy có tu Tổ Sư thiền
không?
Đáp:
Hàm
linh sâu bọ đều có tâm niệm lực, chó, mèo, chuột,… đều
có tâm niệm lực, nhưng của nó yếu. Cây cỏ cũng có tâm
niệm lực, bất quá sức yếu; không phải tu Tổ Sư thiền
mới có!
Những
người ở phương Tây có tu không mà có sức đó?
Những
người đó có thiền định, nhưng không phải tu Tổ Sư thiền.
Như
vậy có kiến tánh chưa?
Tu
Tổ Sư thiền mới được kiến tánh, những người đó chưa
kiến tánh; họ có thể có thần thông, cho đến con chồn cũng
có thần thông.
Vậy
Sư Phụ cho tài liệu Tâm Niệm Lực để làm gì?
Để
tăng cường niềm tin tự tâm cho những người còn mê tín,
giảm bớt tư tưởng mê tín. Những người tin tự tâm rồi
không cần tài liệu ấy.
Hỏi:
Tâm
con được lắng động, vậy có coi là được tự do tự tại
không?
Đáp:
Tâm
được thanh thanh tịnh tịnh, theo Tổ Sư thiền là chướng
ngại. Nếu dùng cái biết để biết thanh tịnh là chướng
ngại, tức là dùng tịch lặng làm sở tri; không có sở tri
cũng bị chướng ngại, vì còn tương đối là tri và bất
tri để đối đãi. Không phải là vô duyên tri không có đối
đãi.
Nếu
tham thiền không dùng nghi tình, mà dùng cái biết để biết
tịch lặng thì không phải tham thiền, tức nghịch tham thiền.
Hỏi:
Làm
thế nào hành giả tham thiền không lọt vào chỗ thanh thanh
tịnh tịnh?
Đáp:
Người
chấp vào thanh tịnh thì lọt vào, nếu không chấp làm sao
lọt vào! Chưa đến thanh tịnh thì không thể lọt vào. Chấp
Phật thì lọt vào Phật, chấp Bồ Tát thì lọt vào Bồ Tát;
chấp cái gì thì lọt vào cái đó.
Hỏi:
Tham
thiền thì thích, nhưng pháp lý không thích. Vậy có được
không?
Đáp:
Tu
Tổ Sư thiền không có pháp lý, quét sạch tất cả pháp lý;
không còn pháp lý thì đúng với bản tâm trống rỗng vô sở
hữu.
Có
vị nói cần phải học Phật pháp mới tu được, vậy thế
nào?
Đó
là Giáo môn, còn đây là Thiền môn; Thiền môn ở ngoài Giáo
môn, Giáo môn phải có văn tự, Thiền môn bất lập văn tự.
Khi
con hỏi “khi chưa có trời đất ta là cái gì?” vừa dứt
câu, nhưng không biết câu sau là gì, đang thiền thỉnh thoảng
lại có đếm một, hai, ba, bốn. Tại sao như vậy?
Vì
thói quen nhiều đời.
Hỏi:
Con
có ý niệm để thành Phật, rồi hỏi “khi chưa có trời
đất ta là cái gì?” hỏi liên tiếp. Vậy như thế nào?
Đáp:
Như
vậy, không có miên mật, cách một hồi rồi lại hỏi thì
có kẽ hở và trước tiên có ý niệm thành Phật là không
đúng. Thoại đầu là không có ý niệm nào hết, nếu khởi
lên ý niệm thì không phải thoại đầu.
Ngoài
nghi tình là không hiểu không biết thì không được khởi
một ý niệm nào khác. Tuy nghi tình cũng là một ý niệm, nhưng
ý niệm không biết của bộ óc để tự động quét sạch
những ý niệm khác; không để ý niệm khác nổi lên, như
chấm dứt tìm hiểu biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ biết.
Hỏi
phải khít khít mới miên mật, hỏi và nhìn không gián đoạn.
Dẫu cho nhìn miên mật mà cách hỏi không miên mật cũng không
được.
Hỏi:
Nhớ
lại từ ngày con xuất gia có phát nhiều tâm: Phát tâm xuất
gia, phát tâm học thiền gặp được Sư Phụ. Sau này, có những
tâm ô nhiễm, bây giờ học được những gì Sư Phụ dạy
và được thọ dụng. Con thấy có cái gì khởi ra, xin Sư Phụ
khai thị?
Đáp:
Đó
là tập khí lâu đời thành thói quen bám chặt trong tâm, nếu
muốn gở ra cũng rất khó; chỉ một cách là công phu
miên mật, thì tập khí ấy tẩy sạch dần dần; nhưng tẩy
sạch là tự động tẩy, không có ý muốn tẩy.
Một
sát na có thể có muôn ngàn ý niệm. Các nhà bác học dùng
tâm niệm lực phát hiện được cuộc đời mấy mươi năm
hiện trong một sát na, rất nhanh cũng là rất chậm; rất nhanh
chỉ có một sát na.
Như
cuộc đời từ nhỏ đến lớn có những buồn vui yêu ghét,
tiếp xúc muôn triệu ngàn người đều trong một sát na; mỗi
mỗi phát hiện rõ ràng, nên nói rất chậm. Chứng tỏ sức
của tâm khắp không gian thời gian, tức là siêu việt không
gian thời gian.
Hỏi:
Thích
bình thường xấu xa, sao chỉ một thứ?
Đáp:
Vì
tâm trống rỗng vô sở hữu thì không có nhiều thứ, nếu
có một thứ cũng không được; vì có kiến lập sở hữu.
Một thứ tức là đồng (nhị), nhị mới có khác. Cái này
đồng với cái kia, gọi là một thứ. Hương bảng này dài
và hương bảng kia ngắn là khác. Phải có 2 cái trở lên mới
có đồng có khác. Bản tâm bất nhị nên không có đồng có
khác.
Biết
lời sư Phụ dạy là do một tâm và con thích bậy cũng từ
tâm đó ra, không biết tại sao?
Nếu
thí dụ cái này với cái kia là nhị.
Hỏi:
Thế
nào là nhìn thoại đầu?
Đáp:
Tham
thoại đầu là hỏi câu thoại để kích thích một niệm không
hiểu không biết, nhìn chỗ không biết; nhưng chỗ không biết
thì không có chỗ, nên không có mục tiêu để nhìn, cũng nhìn
không thấy gì vẫn còn không biết; Thiền tông gọi là nghi
tình, đưa hành giả đến thoại đầu sẽ kiến tánh.
Nhưng
hỏi không phải dùng miệng hỏi, dùng tâm hỏi thầm; nhìn
không phải dùng mắt nhìn, mà dùng tâm nhìn thầm. Hỏi và
nhìn song song, nhìn chỗ mênh mông chẳng có gì mới đúng.
Nếu nhìn thấy cái gì là không đúng. Cho nên, người ta nói
“tôi nhìn không được”, vậy thì đã nhìn được rồi.
Tại
sao? Vì có nhìn nên thấy nhìn không được, cứ tưởng có
cái gì để nhìn! Nhìn không thấy gì vẫn nhìn, tức là chỗ
không biết thì nhìn mãi cũng không biết. Cho đến kiến tánh
thì tất cả đều biết.
Hỏi:
Hành
giả luôn luôn an trú trong cái nghi, đến kiến tánh thì nghi
mới giải quyết. Do đó, tham dường như niệm phải không?
Đáp:
Không
phải! Niệm Phật không có nghi, vì đã biết sẵn. Tham thiền
có cái không hiểu tức là có nghi. Nếu chỉ hỏi thì có thể
biến thành niệm, hỏi và nhìn thì không thể biến thành niệm.
An trú và không an trú đều không biết, vì đó là sản phẩm
của bộ óc. Hỏi và nhìn song song để giữ thắc mắc không
hiểu. Mục đích tham thiền là dẹp hết sản phẩm của bộ
óc, không cho bộ óc hoạt động.
Tại
sao nghi tình được rốt ráo hơn niệm?
Vì
nghi là nhân, có nghi mới có ngộ; không nghi thì không ngộ,
tức là không nhân thì không quả. Pháp thế gian và pháp xuất
thế gian đều như vậy. Pháp thế gian nghi là dùng bộ óc
tìm hiểu, cuối cùng ngộ được giá trị việc thế gian;
xuất thế gian nghi là không cho bộ óc tìm hiểu, muốn dẹp
tìm hiểu của bộ óc.
Theo
sự hiểu biết bình thường thấy trái bôm trên cây rớt xuống,
đâu thể rơi lên! Do tư tưởng của mình cho trên đầu là
phía trên, dưới chân là phía dưới. Thật tế không phải
trên cũng không phải dưới, vì quả đất tròn. Như mình ở
đây cho là trên, bên Mỹ cho là dưới; nếu cho bên Mỹ là
trên, bên này là dưới.
Nói
có 4 phương là đông, tây, nam, bắc; nhưng thật tế không
có 4 phương. Tại sao? Như cắm cây nêu, người đứng bên
đông cho bên kia cây nêu là hướng tây và ngược lại; nam
bắc, trên dưới cũng vậy. Nếu đem 4 phương có nhất định
để tranh cải thì không đúng. Nhưng theo thói quen của bộ
óc phải có đông, tây, nam, bắc, trên, dưới.
Cho
nên, Newton nghi trái bôm rớt xuống, mà không rơi lên? Vì không
có trên dưới, nên ông phát minh được hấp dẫn lực của
trái đất; từ đó ông phát minh được hấp dẫn lực vạn
hữu. Tất cả vật chất đều có hấp dẫn lực, nhà khoa
học gọi là từ trường (sức hút nam châm).
Hỏi:
Có
phải tu niệm không tích cực bằng tham thoại đầu?
Đáp:
Đừng
biết tới mấy cái đó! Cứ hỏi và nhìn, không được giải
thích so sánh. Nếu vậy thành chướng ngại, vì nghi tình là
không hiểu không biết. Không được dùng 2 chữ “cho là”,
cho là có lý hay cho là vô lý thì không đúng; có cho là tức
biết, chứ không phải không biết.
Đáp:
Tham
thiền là gì?
Đáp:
Tham
Tổ Sư thiền là dùng cái không biết để tu, Như Lai thiền
là dùng cái biết để tu. Ví dụ cây viết là ý thức, 5 thức
trước là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân. Hàng ngày mình đang
dùng ý thức là tìm hiểu biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ biết
để ứng phó cuộc sống.
Tham
thiền cũng dùng ý thức, trên đầu cây viết là thoại đầu;
dưới đầu cây viết là thoại vỉ. Ý thức gồm có 2 mặt:
Biết và không biết. Mặt biết là tu Như Lai thiền, như Tiểu
thừa, Trung thừa, Đại thừa. Dùng mặt không biết là tu Tổ
Sư thiền, chỉ có Tổ Sư thiền mới gọi là Thiền tông.
Các pháp môn khác đều có thiền, nhưng không gọi là Thiền
tông.