THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
 

 

c
KHAI THỊ THIỀN THẤT tại THIỀN ĐƯỜNG TAM BẢO 
Hoà Thượng Thích Duy Lực
Thích Đồng Thường Lập Thành Văn Tự
Mục Lục
Trang 01
Trang 02
Trang 03
Trang 04
Trang 05
Hỏi:
Phật và Tổ khác nhau như thế nào?

Đáp:
Phật là chứng quả Phật, Tổ là ngộ bằng Phật nhưng chưa chứng quả Phật. Tại sao? Vì tập khí thế gian và xuất thế gian chưa dứt sạch, cũng có người tập khí thế gian sạch; tập khí xuất thế gian còn. Ngộ bằng Phật, dụng còn rất xa.

Lục Tổ đã ngộ triệt để, nhưng còn bảo nhậm 15 năm trong rừng, ở chung với các thợ săn, sau đó ra hoằng pháp. Quả Phật là tất cả tập khí không còn, tức là trống rỗng vô sở hữu. Như cô còn nghi tình thì không được trống rỗng.
Nghi tình là không hiểu không biết của Tổ Sư thiền dùng để tu, dùng cái biết để tu là Như Lai thiền. Nhà khoa học cũng có nghi tình (hồ nghi), như Newton thấy trái bôm trên cây rớt xuống, ông cũng phát nghi tình; nhưng ông không ngộ được bản tâm của mình.
Vì tâm trống rỗng vô sở hữu, nếu có kiến lập là chướng ngại; như kiến lập thiền, kiến lập đạo đều không được. Vì vậy, không cho hiểu thiền hiểu đạo. Do nghi tình là không biết, nếu còn biết thiền biết đạo cũng là biết.
Nhưng tư tưởng con người muốn có kiến lập, đó là tập khí từ lâu đời có sở hữu tự làm chướng ngại. Dù cho sở hữu đó là thắc mắc hay là nghi tình, khi kiến lập thì bị chướng ngại. Đã kiến lập không phải vô sở hữu.
Vô sở hữu gọi là tánh không, trống rỗng không có chỗ để trụ gọi là vô trụ; trống rỗng cùng khắp không gian, nên  chẳng có khứ lai gọi là Như Lai. Khắp thời gian không sanh diệt, nên không gián đoạn gọi là Niết Bàn. Có tánh giác ngộ gọi là Phật tánh, trống rỗng không có gì trói buộc gọi là giải thoát.
Tất cả danh từ muôn ngàn sai biệt, nhưng ý không khác; nếu đuổi danh từ để chấp thì đã khác biệt. Cho nên, Thiền tông quở chấp giải thoát là hầm sâu đáng sợ. Tại sao? Vì chấp giải thoát, thành ra có đối đãi là trói buộc.
Bởi vậy, muốn đạt đến thoại đầu còn khó, huống là kiến tánh. Chấp giải thoát, Niết Bàn, Phật cũng không được, mà lại chấp thắc mắc và nghi tình ư!

Hỏi:
Đề câu thoại đầu là biết rồi phải không?

Đáp: 
Phải! Cho nên gọi là nhất niệm vô minh, chưa đến vô thỉ vô minh (thoại đầu), khi đến thoại đầu thì tất cả nhất niệm vô minh đều sạch. Phật sợ người ta chấp lời của Phật, như bẩy chổ tìm tâm của A Nan trong kinh Lăng Nghiêm, A Nan nói tâm bên trong, ngoài, giữa đều chẳng phải. A Nan chấp chỗ nào thì Phật phá chỗ đó, nhưng cho sự phá của Phật là đúng thì bệnh chấp càng nặng thêm.
Nếu chẳng phải ở trong, ngoài, giữa cũng không cùng khắp. Có “chẳng phải” là không cùng khắp, tức là nhị; vì chẳng phải đối với phải. Phật nói “49 năm thuyết pháp, tôi chưa từng nói một chữ” và “ai nói Phật có thuyết Pháp thì người ấy phỉ báng Phật, chẳng có pháp để thuyết gọi là thuyết Pháp”. 
Lời nói rất mâu thuẫn! Những người trí thức cho Kinh Kim Cang là kinh giả. Theo bộ óc thì phải có lý, kiến lập lý là sai lầm.

Hỏi:
Tâm vô sở hữu, sao còn nói tâm là tánh giác ngộ?

Đáp:
Vì có tánh giác ngộ thì ngộ được vô sở hữu. Như Lai, giác ngộ, tâm, tánh đều là danh từ, danh từ không phải thực tế. Cho nên, Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải có bốn phần: Lời khai thị, nghĩa phải, tịch nghĩa giải, 4 câu kệ kết thúc. Phần nghĩa giải rất cao, nên người ta chỉ lấy phần này, mà bỏ ba phần kia.
Ngài Trung Phong dùng tịch nghĩa giải để phủ nhận, vì tất cả không phải thực tế. Để cho mọi người chú trọng thực tế, nên phải có công phu từ nghi đến ngộ. Cho nên, hai câu kệ phần đầu: 
Cần phải đâm mù mắt mẹ đẻ, 
Ban ngày đốt đèn đọc minh này.

Hỏi:
Tham thoại đầu thường có gián đoạn, vậy có đến thoại đầu không?

Đáp:
Công phu không liên tục thì chậm đến thoại đầu, có đi phải có đến. Đề khởi câu thoại liên tục, giữ nghi tình được miên mật. Ban đầu công phu có gián đoạn nhiều, từ từ mới bớt gián đoạn.

Hỏi:
Xin Sư Phụ chỉ cho phương pháp nào để tu giải thoát?

Đáp: 
Tôi hỏi bà: Khi chưa có trời đất, bà là gì?
Bà ấy đáp: Không biết.
Không biết là tham thiền được rồi, nhìn chỗ không biết thì không có chổ để nhìn, nên không có mục tiêu để nhìn, nhìn mãi không thấy gì cũng còn không biết, Thiền tông gọi là nghi tình, đưa bà đến chỗ kiến tánh thành Phật.
Con đối với chữ nghĩa không rành thì sao?
Không cần, như đứa bé ba tuổi còn tham thiền được, thường thường 6, 7 tuổi, nhưng tuổi nhỏ không biết gì. Không biết nhiều càng tốt, tham thiền là cần không biết. Các pháp môn khác cần biết, còn cái này không cần tìm hiểu, suy nghĩ, ghi nhớ, ngu chừng nào tốt chừng nấy.
Tham thiền không cần nghĩ cái gì, mà lại chấm dứt cái nghĩ; cứ hỏi và nhìn, hỏi thầm nhìn thầm trong bụng, không biết mình là cái gì,  không dùng miệng hỏi cũng không dùng mắt nhìn.
Vậy lấy cái gì để làm chuẩn? 
Không có cái gì để làm chuẩn, lấy cái không biết để làm chuẩn.

Hỏi: 
Biển tạng thức thường trụ,
Gió cảnh giới làm động.
Sóng vỗ nơi hang tối,
Không lúc nào đoạn dứt.
Kính xin sư phụ khai thị?

Đáp: 
Biển tạng thức thường trụ là bổn lai như vậy, đó là pháp bản trụ.
Gió cảnh giới làm động, nhưng chỉ là cảnh giới không thể động đến tạng thức.
Sóng vỗ nơi hang tối, tức là mình không tham thiền thì vọng tưởng nổi lên không hay biết. Đến khi tham thiền thì mới phát hiện mình có vọng tưởng nhiều.
Không lúc nào đoạn dứt, nhưng muốn đoạn dứt thì phải kiến tánh.

Hỏi: 
“Tánh tương cận, tập tương viễn là chỉ đường tắc tu hành từ ngàn xưa” là như thế nào?

Đáp: 
Câu trên là Tam Tự kinh của nhà Nho, tức là gần đen thì nhiễm đen; như người thường vào kho cá mặn thì lâu ngày bị nhiễm mùi cá. Nếu người gần hương thơm thì cũng ảnh hưởng mùi thơm. Người viết câu trên có tư tưởng chấp thật pháp thế gian.

Hỏi: 
Tâm lý con người diễn tiến vô cùng phức tạp, khó điều khiển. Cho nên, theo tâm lý của con có lúc phấn khởi đề khởi, có lúc lại trì trệ làm biếng rất khó điều khiển. Nếu con dụng công thất bại, vậy có phương pháp nào để dụng công tốt hơn?

Đáp: 
Có công án của một Ni cô tham câu “chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật là cái gì?” tham nhiều năm không thấy gì, rồi Ni cô hỏi thầy: Có phương pháp nào để cho con mau kiến tánh?
Hỏi nhiều lần, nhưng thầy cũng lắc đầu. Một hôm, Ni cô vẫn hỏi câu ấy, thầy thấy công phu của cô ấy đã chín mùi.
Thầy nói: Có.
Ni cô nói: Sao thầy không nói cho con biết để mau kiến tánh?
Thầy nói: Cô hãy chú ý nghe “chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật là cái gì?”
Ni cô vừa nghe thầy nói dứt lời liền ngộ. Vậy đâu có gì khác! Vì tập khí lâu đời đã quen, còn tham thiền mới tu thì lạ. Đến khi công phu tham thiền nhiều hơn tập khí lâu đời thì công phu mới tiến bộ mau, không bị tập khí làm chướng ngại.
Vì có tâm muốn có phương pháp khác, nên chướng ngại sự kiến tánh. Phật Thích Ca chỉ truyền từ nghi đến ngộ, nên có nghi thì có ngộ, không nghi thì không ngộ, tiểu nghi thì tiểu ngộ, đại nghi thì đại ngộ.
Người niệm Phật được vãng sanh Cực Lạc, nhờ Phật A Di Đà dạy tham thiền phát nghi rồi được ngộ. Mình bây giờ rất may mắn còn sống đã phát nghi.

Hỏi:
Kinh dạy “tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”, con nghĩ rằng: Vạn pháp ở trong tam giới, duy tâm thì chỉ có tâm. Tại sao có duy thức?

Đáp:
Thức là tâm, tức là tâm sanh ra thức phân biệt, phân biệt là dụng của tâm.
Duy tâm tức là thức, tâm và thức không khác; tâm là thể, thức là dụng. Như ánh sáng của đèn tuy khác đèn, nhưng dụng của đèn.

Hỏi:
Hỏi câu thoại là kích thích niệm không biết, nhưng hỏi câu thoại thì đã biết niệm không biết. Vậy tại sao?

Đáp:
Ban đầu hỏi phải biết cái không biết, nhưng tham thiền công phu được thuần thục thì không còn biết cái không biết, nên gọi là chân tham. Vì vậy, ngài Lai Quả nói “Vô tham là chân tham”, không phải là không có tham, mà không biết mình đang tham. 
Ngày xưa, cơ xảo của chư Tổ dạy người tham thiền, mà tự mình không biết mình đang tham thiền. Cho nên, mau được kiến tánh, tức bắt đầu là chơn tham. Bây giờ, bắt buộc tham thoại đầu là đã biết, vì vậy chưa đến chơn tham. Muốn đạt đến chơn tham phải có thời gian dài.
Cơ xảo của Tổ là đánh đập chửi mắng, nhưng người tham học không biết. Như Lâm Tế hỏi pháp Hoàng Bá, bị đánh đập đuổi ra thì phát khởi nghi tình, nhưng tự mình không biết. Lâm Tế hỏi pháp lần thứ 3 cũng bị Hoàng Bá đánh đập nặng hơn đuổi ra, nên khởi nghi tình rất mạnh. Lúc Lâm Tế từ giả Hoàng Bá rồi đến Đại Ngu thì được ngộ triệt để.

Hỏi:
Trong quyển Cẩm Nang Tu Đạo, lúc nào cũng khuyến khích mọi người xuất gia; nếu người xuất gia có bị tội địa ngục, hết tội địa ngục thì tái sanh làm người xuất gia nữa. Những người không xuất gia, kiếp sau muốn xuất gia thì khó. Vậy như thế nào?

Đáp:
Không phải vậy! Xuất gia hay không xuất gia không có liên quan với kiến tánh hay không kiến tánh. Trong lịch sử Thiền tông có nhiều vị không xuất gia kiến tánh. Kinh Phật cũng vậy, như Duy Ma Cật là cư sĩ Tịnh Danh. Các vị Bồ Tát đến tham vấn Duy Ma Cật còn bị quở.
Gia đình của Bàn Uẩn gồm 4 người đều kiến tánh, không phải chỉ xuất gia mới được kiến tánh! Ông vua, Bộ trưởng, Thừa tướng đều được kiến tánh. Vua kiến tánh rồi cũng làm vua, Thừa tướng kiến tánh vẫn là Thừa tướng,…
Hòa thượng Quãng Khâm còn tư tưởng chấp thật, ông có thần thông nhưng chưa kiến tánh. Lúc còn ở Phúc Kiến, một mình ở trong hang núi nhập định 4 tháng; các chăn trâu thấy ông nhập định cho là chết, nhưng ngày nào cũng thấy ông ngồi đó.
Sau này, nhờ Thiền sư làm cho ông xuất định, rồi hỏi: Ngài nhập định bao lâu?
Ông nói: Chỉ có một chút.
Do ông có nhập định được 4 tháng, nên mọi người kính phục.
Huệ Trì là em của Huệ Viễn nhập định hơn 700 năm, nhưng cũng chưa kiến tánh. Các vị sanh cõi Trời phi tưởng phi phi tưởng nhập định 8 muôn đại kiếp.
1 đại kiếp = 4 trung kiếp, 1 trung kiếp = 20 tiểu kiếp, 1 tiểu kiếp = 16.000.000 năm. Vậy nhập định 80.000 đại kiếp vẫn còn bị luân hồi, vì họ chưa kiến tánh. Cho nên, nhập định lâu cũng không giải thoát sanh tử.
Kinh Lăng Nghiêm nói: “Ngoại đạo tà ma có thần thông rất cao”. Kỳ thật, thần thông của ai cũng có đầy đủ; do người thế gian không hiểu, thấy người có thần thông cho là kiến tánh. 50 thứ ma trong kinh Lăng Nghiêm có thần thông, nhưng không được kiến tánh, lại thông suốt giáo lý Phật pháp.
Tuy thông suốt giáo lý Phật pháp, đó là lời nói văn tự, không phải thật tế; kiến tánh là ngộ thật tế. Cho nên, ngài Trung Phong nói trong Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải: “Dù có kiến giải cao siêu, nhưng không phải thật tế, cần phải quét sạch nghĩa giải để được kiến tánh”.
Ngài Lai Quả quở đại chúng: “các ông chứa kinh Pháp Hoa, Lăng Nghiêm,… đầy bụng, nhưng đối với Thiền tông thì một chữ cũng dùng không được”.

Hỏi:
Lúc đầu hỏi câu thoại và nhìn thoại đầu có nghi tình, nhưng sao về sau không có nghi tình?

Đáp:
Nhìn chỗ không biết, không phải nhìn câu thoại; hỏi câu thoại là kích thích niệm không hiểu không biết. Vậy cô tham câu nào?
Sanh từ đâu đến, chết đi về đâu?
Tôi hỏi cô: Sanh từ đâu đến, chết đi về đâu?
Không biết.
Đã có nghi tình, sao lại nói không có!
Lúc đầu có nghi tình, nhưng về sau lại mất nghi tình.
Mất nghi tình là do nổi lên cái biết.
Con tham một lúc sau lại lọt vào tri vọng.
Vì tập tri vọng thành thói quen.
Con nhìn vào chỗ vọng đến thẳng tới coi nó là cái gì?
Do nhìn chỗ vọng, nên không có nghi.
Nhìn chỗ bức bách, sao lại có nghi?
Tại không nhìn chỗ không biết, vì lập ra sở nhìn là biết; chỗ không biết là không sở nhìn, nên mới giữ được không biết. Vậy nghi tình của cô là tự tạo ra, không phải bổn lai.
Nghi tình là không biết, nên không có chỗ thì không có nục tiêu để nhìn. Nếu lập ra mục tiêu hay có vọng để nhìn thì biết, làm sao có nghi tình!
Nhìn chỗ vọng coi đó là cái gì sao cứ tới với mình?
Đó là tri vọng, vọng cũng không biết, không vọng cũng không biết. Lập ra cái vọng làm sở nhìn sao được!
Con nhìn chỗ không biết, nhưng không có hỏi câu thoại.
Vậy không được! Phải  vừa hỏi vừa nhìn thì nghi tình không bị gián đoạn; khi nào đến thoại đầu thì câu thoại tự mất, nên không còn hỏi. Chưa đến thoại đầu phải hỏi liên tiếp và nhìn liên tiếp.
Sao nghi tình lại bị gián đoạn?
Nghi tình bị gián đoạn là do biết thói quen từ lâu đời, gián đoạn là tự nhiên, vì mới tập tham thiền phải vậy. Trước kia đã tập tri vọng nên tham thiền khó có nghi tình liên tục. Bởi do trước huân tập tri vọng làm chủ, sau này muốn bỏ cũng khó.

Hỏi:
Thế nào là tứ tướng: Nhân, ngã, chúng sanh, thọ giả?

Đáp:
Tứ tướng có 2 thứ: Tứ tướng phàm phu gọi là mê thức tứ tướng là hiển bày cái ngã thế gian và tứ tướng của bậc thánh là mê trí tứ tướng để hiển bày cái ngã xuất thế gian.
Phàm phu chấp thân này cho là ta, nên gọi là ngã tướng; tiến thêm một bước không chấp thân này tiểu ngã, rồi chấp nhân tướng là cả nhân loại làm đại ngã; bỏ đại ngã mà tiến lên chấp cả chúng sanh, gọi là chúng sanh tướng; chúng sanh tướng cũng phải qua thời gian, tức chấp thật thời gian đó gọi là thọ giả tướng (kinh Viên Giác gọi là thọ mạng tướng).
Kinh Viên Giác diễn tả tứ tướng của bậc thánh: Bậc thánh đã chứng quả, nhưng còn chấp sở chứng sở ngộ cho ta chứng là ngã tướng; rồi tiến lên một bước ngộ được sự chứng không phải là ta (không có năng ngộ sở ngộ), nên gọi là nhân tướng; tiến thêm một bước là liễu tri năng chứng năng ngộ đều không phải là ta, nhưng còn năng liễu và sở liễu tri gọi là chúng sanh tướng; diệt hết các ngã luôn cả liễu tri không còn, chứng Niết Bàn Tiểu thừa, mà ôm Niết bàn cho là ta chứng gọi là thọ mạng tướng (mạng căn chưa dứt).
Ngộ triệt để của Thiền tông thì mạng căn cắt dứt. Người ta nghe nói mạng căn cắt dứt thì sợ, vì còn muốn ôm cái ngã. Mạng căn chưa cắt dứt thì còn thọ mạng (thọ giả), nên gọi là thọ giả giả tướng; tức là bỏ ngũ uẩn ngã, lại ôm Niết Bàn ngã là ngã vi tế. 
Ngộ cuối cùng của Tổ Sư thiền là vô tu vô chứng, vì Phật đã thành sẵn, không phải tu mới thành,  không phải chứng mới đắc. Cho nên, ngộ triệt để là tâm vô sở hữu, Phật Thích Ca gọi là pháp bản trụ, là vô thỉ, không thể kiến lập cũng là nghĩa vô sanh. Người chứng ngộ là chứng pháp vô sanh, chứng vô sanh pháp nhẫn.
Pháp vốn vô sanh vô thỉ, làm sao có ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả!

Hỏi:
Thế nào là ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến?

Đáp:
Chấp tứ tướng nên có kiến giải, chấp ngã tướng có ngã kiến, chấp nhân tướng có nhân kiến, chấp chúng sanh tướng có chúng sanh kiến, chấp thọ giả tướng có thọ giả kiến. 
Đó là chấp hiểu biết của mình, Tổ Sư thiền không kiến lập cái gì, không hiểu biết cái gì, vì cái biết đã sẵn. Như ánh sáng mặt trời không bao giờ ngưng chiếu, không thấy được ánh sáng là do bị che khuất.
Cái biết của mình không có sự bắt đầu và cuối cùng, luôn luôn cùng khắp không gian thời gian. Khắp không gian thì không có chỗ để chỉ, khắp thời gian thì không có lúc để nói. Không phải mình sanh ra rồi mới có cái biết! Mình chết thì cái biết đó vẫn còn không mất. 
Nhưng không gọi là biết, nếu gọi là biết thì có cái không biết để đối đãi. Biết và không biết là sản phẩm của bộ óc, sau khi chết thì bộ óc biến thành tro đất; còn cái biết của tự tánh không thể biến thành tro đất, vì không có lay động biến đổi.

Hỏi:
Mở mắt chiêm bao thức tỉnh, có bị chiêm bao lại không?

Đáp:
Mở mắt chiêm bao được thức tỉnh thì không bao giờ chiêm bao lại, cho nên không tự thức tỉnh, vì vậy tu mới thức tỉnh. Nhắm mắt chiêm bao là khi ngủ thấy chiêm bao, rồi tự thức tỉnh thì khỏi cần tu.
Mở mắt chiêm bao thức tỉnh thì không bao giờ chiêm bao lại. Vậy làm sao Sư Phụ biết được?
Đây là Thánh Ngôn Luận, tức là lời Phật Thích Ca và chư Tổ nói ra.
Lý do gì tu nhiều kiếp không ngộ?
Cũng như Dũng nghe đến đâu chấp đến đó, tu phải phá chấp. Nếu không phá chấp mà tu thì nhiều kiếp không ngộ.
“Cửa biết là cửa tai họa”, nếu không biết làm sao dịch ra kinh điển hay làm Phật sự?
Biết của bộ óc là có không biết để đối đãi, cái biết của tự tánh không gọi là biết, vì không có đối đãi nên gọi là vô duyên tri.

Hỏi:
“Tâm, Phật, chúng sanh không sai biệt” là thế nào?

Đáp:
Tất cả do tâm tạo, Phật do tâm tạo, chúng sanh cũng do tâm tạo.

Hỏi:
Chúng con bận rộn việc gia đình, làm sao tu được kiến tánh?

Đáp:
Do có biết nên thấy bận rộn, giữ nghi tình là không hiểu không biết thì không biết bận rộn; suốt ngày làm việc như không thấy có làm việc. Như cô Hằng Thiền thợ may tham thiền cắt vải suốt ngày mà bộ óc không biết, thành ra không thấy mệt; cô làm việc suốt ngày, thấy như không có làm việc vậy.
Làm việc không có ngồi, vậy tham thiền được không?
Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền nói: “Tham thiền không cần ngồi, đi đứng nằm ngồi đều tham thiền được”. Đi với ngồi là để điều thân, đi mỏi chân thì ngồi, ngồi tê chân thì đi. Nếu không ngồi mà làm việc thì đã có vận động, tức là có điều thân.
Ngồi thấy có vọng tưởng, làm việc thì hết vọng tưởng. Vậy là sao?
Không biết có vọng tưởng là tốt, vì nghi tình là không hiểu không biết.

Hỏi:
Tham thiền cần tin tự tâm 100% và tin pháp môn 100%. Vậy công phu không tìm hiểu nữa, có đúng không?

Đáp:
Tin tự tâm đầy đủ thì không cần tìm hiểu gì nữa, do không tin tự tâm đầy đủ nên còn đi tìm hiểu. Vì tìm hiểu là tìm ở ngoài, tin tự tâm là biết trong tâm đầy đủ tất cả.

Hỏi:
Trống không là cái gì?

Đáp:
Trống không là không có gì hết, cho nên không biết. Trống không là mình đang dùng, nhưng mình không chịu nhận; ứng dụng hàng ngày mà chẳng tự biết, còn đi tìm hiểu mò đoán bậy bạ. Như cô đang quỳ, nếu không có trống không thì sao cô quỳ được!

Hỏi:
Khán tức là có, vậy như thế nào?

Đáp:
Tại sao khán tức là có! Khán không thấy gì làm sao có được? Tại thấy cái gì nên mới có. Vì cô có thói quen là chấp có hay chấp không có. Phật pháp gọi là biên kiến, tức là một trong năm thứ ác kiến.
Chấp thật có là biên kiến, chấp thật không có là biên kiến; biên kiến không phải thật tế, thật tế không dính dáng có và không có. Nếu chấp có thì lọt vào cú thứ nhất, chấp không có thì lọt vào cú thứ nhì, chấp chẳng có chẳng không thì lọt vào cú thứ ba, chấp cũng có cũng không thì lọt vào cú thứ tư. Kinh Lăng Già dạy mình đừng lọt vào tứ cú.

Hỏi:
Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh bằng như Phật, mà Phật dùng ra được; còn chúng sanh không dùng ra được, vì sao?

Đáp:
Chúng sanh không dùng ra được là do có kiến lập sở hữu nên bị chướng ngại. Phật tánh là vô sở hữu trống rỗng không có gì, nếu kiến lập có cái này cái kia thì bị chướng ngại. Khi nào những kiến lập xóa bỏ thì cái dụng hiện ra khắp không gian thời gian bằng dụng của Phật Thích Ca.
Bây giờ, chúng sanh cũng có cái dụng như Phật, nhưng không dùng ra được vì bị chướng ngại biết và không biết của bộ óc. Như ánh sáng mặt trời đang chiếu soi, nhưng bị che khuất bởi trái đất và mây.
Thật tế phải tự tu tự chứng, tôi nói ra đều trong tương đối; nếu thật tế nói được thì Phật Thích Ca đã nói cho mình biết thì đâu cần tu nữa!

Hỏi:
Tại sao có tẩu hỏa nhập ma?

Đáp:
Tẩu hỏa nhập ma là do kiến lập có sở đắc, có sở cầu, nên ma nhân cơ hội đó nhập vào. Kinh Lăng Nghiêm nói rõ 50 thứ ma ngũ ấm, tham thiền có điều kiện thứ nhất là vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ. Nếu thực hành được 9 chữ này thì ma không bao giờ nhập được. Người bị nhập ma là do người ấy, chứ không phải tại pháp.
Pháp Tổ Sư thiền là trống rỗng vô sở hữu, không có cái gì nên không bị ma nhập. Lục Tổ nói: “xưa nay không một vật, lấy gì dính bụi trần”. Vì có kiến lập cái gì nên có dính bụi trần, nếu không có vật gì làm sao dính bụi trần! Vậy ma không có chỗ để nhập.
Những người nói như vậy còn có chấp thật quá nặng, chánh pháp là phá ngã chấp thì được ra khỏi sanh tử luân hồi. Người có tư tưởng chấp thật, có tu muôn ngàn kiếp không thể giải thoát, vì họ còn có sở đắc sở cầu.

Hỏi:
Trong lúc tham thiền có kết hợp với niệm Phật được không?

Đáp:
Niệm Phật là không tin tự tâm, luôn cả lời dạy của Phật Thích Ca cũng không tin. Phật Thích Ca có 3 cuốn kinh nói về Tịnh Độ là: Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ và A Di Đà (gồm có Tiểu A Di Đà và Đại A Di Đà).
Tiểu A Di Đà là chùa thường tụng, phần nhiều người tu Tịnh Độ không biết Đại A Di Đà. Nhưng người sanh Cực Lạc nhờ Phật A Di Đà dạy tham thiền khởi nghi tình rồi đến ngộ (ghi trong kinh Đại A Di Đà). Một số người tu Tịnh Độ không nhìn nhận mình có thiền. Có 3 cấp tu Tịnh Độ:
Thật Tướng Niệm Phật là thiền.
Quán Tưởng Niệm Phật là thiền, ghi trong kinh Quán Vô Lượng Thọ có 16 pháp thiền quán.
Trì Danh Niệm Phật cũng là thiền. Nếu không có thiền làm sao được nhất tâm bất loạn, nhất tâm bất loạn là thiền định.
Tu Tịnh Độ đã có thiền, sao còn nói là Thiền Tịnh song tu! Tất cả pháp môn của Phật đều lấy thiền làm căn bản, không có thiền thì không có tu.
Giáo Môn tụng kinh cũng là thiền, cho nên trong chùa có bao nhiêu người tu thì bao nhiêu người đó tụng kinh; thiếu một người cũng không được, vì tụng kinh là tu tức vừa tụng vừa quán tưởng. Vì vậy, gọi là tùy duyên quán tưởng, duyên theo kinh đến đâu thì quán tưởng đến đó.
Quán Tông Tự của ngài Đế Nhàn thấy chúng Tăng tụng không đủ 2 giờ mỗi lần thì ngài quở làm biếng. Bây giờ người ta thường tụng cho qua nhanh, không quán tưởng nên không có tu.
Ngày xưa, tôi hoằng Tịnh Độ mười mấy năm, nhưng chưa thấy người nào tu đúng tông chỉ Tịnh Độ. Chỉ thấy một người tu đúng nhưng chưa đúng hết. Người đó thông suốt giáo lý, cũng biết tín nguyện hạnh; nhưng không thực hành đại nguyện của mình phát, nên nguyện giả thì không được vãng sanh. Ông ấy là tiệm vàng ở Thị Nghè.
Kết hợp Thiền và Tịnh Độ là mâu thuẩn, như Tứ Liệu Giảng cho là của ngài Vĩnh Minh, nhưng sự thật không phải. Bài kệ ấy là:
Có Thiền không Tịnh Độ,
Mười người chín người sai.
Có Tịnh Độ không Thiền,
Trăm người trăm người được.
Tịnh Độ mà thêm Thiền,
Như con cọp thêm sừng.
Câu này mâu thuẩn mà không biết. Tại sao? Vì có Tịnh Độ không Thiền thì được 100% là tốt nhất. Tại sao thêm thiền vô làm mất hết 90 chỉ còn lại 10? Vì 10 người Thiền hết 9 người sai, vậy lại nói là cọp thêm sừng, ấy là mâu thuẩn!

Hỏi:
Người cư sĩ ăn chay hay không để thích hợp tu Tịnh Độ?

Đáp: 
Ông hỏi vậy là không biết Tịnh Độ, Tịnh Độ có 2 thứ nguyện: Đại nguyện và tiểu nguyện.
Tiểu nguyện là một mình cầu được vãng sanh, không hợp với nhân quả, cho nên không được vãng sanh.
Đại nguyện hợp với nhân quả thì được đới nghiệp vãng sanh. Tại sao? Vì thiếu nợ khỏi trả tiền mặt, ký ngân phiếu để sau này trả, hoặc 10, 20 năm; cho nên mỗi ngày phải bỏ tiền vô ngân hàng, để sau này người ta đến ngân hàng lãnh mới có. Nếu có ngân phiếu mà trong ngân hàng không có tiền là ngân phiếu giả thì phải bị ở tù.
Vì vậy, mỗi ngày làm phước thiện,… tức là thực hành đại nguyện của mình phát, đại nguyện là độ tất cả chúng sanh; sanh lên cõi  Cực Lạc nghe gió thổi chim kêu thì ham tu, như người thế gian thích tiền vậy. Cho nên, các vị ấy nhờ Phật A Di Đà dạy tham thiền phát nghi rồi ngộ (thành Phật). Thành Phật trở lại độ những chúng sanh có nhân duyên trước thì cái nợ mới hết.
Tu Tịnh Độ thì phải thực hành đúng tông chỉ Tịnh Độ của Tổ thứ 13 Tịnh Độ là Ấn Quang Pháp sư.

Hỏi:
Sao gọi là người trí, người ngu, người mê, người ngộ?

Đáp:
Chấp thật là ngu là mê, phá chấp thật là trí là ngộ. Bất cứ chấp cái gì thật, chấp thật Phật cũng là mê là ngu.

Hỏi:
Thế nào thường chẳng rời Phật?

Đáp:
Khỏi cần! Vì tất cả chúng sanh có tâm tánh giác ngộ gọi là Phật tánh, từ vô thỉ đến nay không bao giờ mình lìa được. Nếu muốn lìa cũng không thể lìa, cho đến núi sông, đất đai, nhà cửa, mặt trời, mặt trăng, bất cứ cái gì đều cũng không lìa được. Vì tất cả đều ở trong đó dung nạp và ứng dụng.

Hỏi:
Sao gọi là pháp của mình?

Đáp:
Phật pháp không có của mình và không có của ai. Tất cả pháp đều nói về tâm, tâm thì trống rỗng vô sở hữu. Nếu nói của ai thì ai cũng có đầy đủ.

Hỏi:
Lục Tổ nói: “Nếu ta có pháp dạy người thì ta đã gạt người, ta chỉ tùy theo chỗ buộc của người mà mở trói”. Vậy như thế nào?

Đáp:
Bản tâm là vô sở hữu, nên Lục Tổ nói “bổn lai vô nhất vật”, vốn không có một vật gì, do người kiến lập thì bị trói buộc làm chướng ngại. Vì vậy phải phá kiến lập, kiến lập Bồ Tát thì phá Bồ Tát, kiến lập Phật thì phá Phật. 
Cho nên, Lâm Tế nói: “Gặp Phật chém Phật, gặp ma chém ma”. Đó là phương tiện phá sự kiến lập của người.

Hỏi:
Bây giờ, Sư Phụ được rỗng không thì thuyết pháp, đến chừng nào chúng con được rỗng không cũng thuyết pháp phải không?

Đáp:
Cái rỗng không của mọi người đều bằng nhau, tâm vô sở hữu cùng khắp không gian thời gian, đối với Phật Thích Ca không có hơn kém.

Hỏi:
Làm sao gọi là hiếu thuận?

Đáp:
Người đời nuôi dưỡng cha mẹ gọi là hiếu, cái hiếu của người thế gian tuy nuôi cha mẹ đến chết; nhưng cha mẹ không giải thoát, kiếp sau vẫn còn khổ. Người xuất gia bỏ cha mẹ không nuôi lại tu đến kiến tánh, rồi giúp cho cha mẹ được giải thoát khổ vĩnh viễn gọi là đại hiếu.

Hỏi:
Sao gọi là phương tiện?

Đáp:
Phương tiện là tùy nghi. Tứ Nhiếp Pháp là bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự là phương tiện độ chúng sanh. Bố thí, ái ngữ, lợi hành thì các tôn giáo khác làm được; còn đồng sự chỉ có Phật Giáo mới làm được, như muốn độ heo thì thị hiện heo, muốn độ người ăn mày thì thị hiện người ăn mày.

Hỏi:
Sao gọi là hảo tâm?

Đáp:
Hảo tâm là tâm tốt, tâm tốt của người thế gian không có tiêu chuẩn. Nếu người ta đói cho ăn hay lạnh cho mặc, có giúp họ đến chết nhưng cũng không giải thoát. Thật tế thì hại họ, làm cho họ ỷ lại nên kiếp sau phải trả.
Hảo tâm của Phật Giáo là giúp họ tu hành giải thoát vĩnh viễn tất cả khổ. Giúp họ đến chỗ cứu cánh của Phật Giáo mới là tốt thật.

Hỏi:
Phân biệt nhất thiết pháp,
Bất khởi phân biệt tưởng.
Kinh xin Sư Phụ khai thị?

Đáp:
Thường ứng chư căn dùng,
Mà chẳng khởi dụng tưởng.
Phân biệt tất cả pháp,
Chẳng khởi phân biệt tưởng.
Chư căn (lục căn) sẵn sàng ứng dụng, mà không khởi lên dụng tưởng. Như dùng cơm, ta là năng dùng, cơm là sở dùng; chẳng khởi lên dùng tưởng không cho là ta ăn, cơm là sở ăn của ta; ăn cơm thì cứ ăn, vì có ta là ngã chấp thì phiền não sanh khởi.
Phân biệt tất cả pháp, như chén này cơm chén kia nước; không phải không biết cơm hay nước! Phân biệt rõ ràng, nhưng chẳng khởi phân biệt tưởng; cơm thơm cơm thúi không có phân biệt. Nước chỉ biết là nước, không phân biệt nước trong nước đục; phân biệt được nhưng chẳng khởi phân biệt tưởng.

Hỏi:
Huyền Giác đáp với Lục Tổ: “Phân biệt chẳng phải ý”. Vậy có giống “phân biệt tất cả pháp, mà chẳng khởi phân biệt” không?

Đáp:
Ý như vậy, phân biệt tất cả pháp, nơi đệ nhất nghĩa mà chẳng động.
Theo thế lưu bố tưởng không sanh ra trước tưởng, vậy có phải trùng ý đó không?
Phải! Chỉ có thế lưu bố tưởng, không có trước tưởng.
Theo lý này thì con hiểu được, sự thì con chưa thâm nhập, vì còn đang ở trong mở mắt chiêm bao phải không?
Phải! Khi nào ở trong mở mắt chiêm bao thức tỉnh thì sự được thâm nhập.

Hỏi:
Bản thể tự tâm rỗng không mà dung chứa mọi thứ. Vậy mình có thể dùng đầu óc bình thường hay tu chứng có được không?

Đáp:
Tu tập là hỏi và nhìn để giữ nghi tình (không hiểu không biết) thì dần dần tìm hiểu biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ biết đều chấm dứt. Không hiểu không biết là nhất niệm vô minh cũng tan rã, thì biết và không biết của bộ óc sạch hết. Cái biết Phật tánh toàn diện hiện lên, gọi là chánh biến tri, vô duyên tri hay trí Bát Nhã,… cùng khắp không gian thời gian.
Vậy nhìn chỗ không nhìn thấy, biết không thể biết, hiểu không thể hiểu, có phải không?
Dùng bộ óc để hiểu là chướng ngại, không phải tham thiền. Tôi giảng là để tăng cường niềm tin tự tâm, cần phải tự mình hỏi và nhìn mới được kiến tánh, không thể dùng lời nói diễn tả. Cho nên, Phật nói: “49 năm thuyết pháp, tôi chưa từng nói một chữ”. Đường lối thực hành thì nói được, chỗ đến không thể nói.
Sư Phụ dạy hỏi, nhưng không biết lấy gì để hỏi?
Như  2 chân đi  không được phải nhờ cầm gậy chống đi. Cây gậy ví cho câu thoại để kích thích lên niệm không hiểu không biết, có nghi tình là đi. Đến chỗ kiến tánh tự biết, chưa kiến tánh mà mò đoán thì không được.

Hỏi:
Chỗ có thể nắm được, thì sao?

Đáp:
Tất cả lời dạy của Phật không có chỗ nắm bắt, nên không có chỗ cho người vấn nạn hay bắt lỗi. Vì Phật nói xong liền phủ nhận.

Hỏi:
Tham thoại đầu và tham thoại vỉ khác nhau như thế nào? Và tham thoại đầu có ích lợi gì?

Đáp:
Ví dụ cây viết là đường đi của ý thức, đầu trên là thoại đầu, đầu dưới là thoại vỉ. Từ thoại vỉ đến thoại đầu là đường đi của ý thức. Ý thức gồm có 2 mặt: Mặt biết là tu Như Lai thiền, cuối cùng cũng đến thoại đầu; dùng mặt không biết là tu Tổ Sư thiền, cuối cùng cũng đến thoại đầu.
Bắt đầu hỏi và nhìn là rời khỏi thoại vỉ, nhưng chưa đến thoại đầu là đang đi ở giữa đường; mục đích muốn đến thoại đầu, nên gọi là tham thoại đầu. Đi mau thì nhanh đến, đi chậm thì lâu đến. 
Đó là tùy theo công phu của mình, không phải vĩnh viễn ở thoại vỉ. Nếu không có nghi tình thì không lìa thoại vỉ. Cho nên tham thoại vỉ không thể kiến tánh.

Hỏi:
Trong khi ngồi thiền có hành giả dựa tường hay cuối đầu xuống. Vậy có ảnh hưởng đến tâm sinh lý gì không?

Đáp:
Phần nhiều ngồi như vậy là hôn trầm, buồn ngủ, ngủ quên không hay biết. Cho nên, có tuần hương đánh nhẹ trên vai để phá tan buồn ngủ. Phải ngồi ngay thẳng hơi nghiêng phía trước, nếu ngồi quá thẳng có thể bị tức ngực.

Hỏi:
Thế nào là giới thể, giới pháp, giới tánh, giới tướng?

Đáp:
Giới căn bản gọi là tánh giới (sát, đạo, dâm, vọng). Bất cứ giới nào cũng phải có 4 giới căn bản này. Tuy không thọ giới, nhưng phạm đều có tội nhân quả.
Tỳ Kheo có 4 giới ba la di là tội nặng nhất, giống như tội tử hình của thế gian; giới oai nghi gọi là giá giới, chỉ có tội phạm giới nhưng không có tội nhân quả. Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni đều có 100 giới oai nghi. Giá giới là để thuận tiện cho sự hoằng pháp, cho nên giới đó tùy theo truyền thống phong tục của địa phương.
Như Tu sĩ ở Ấn Độ đi làm ruộng là phạm giới, vì phong tục xứ này thì Tu sĩ phải đi khất thực, không thể đi trồng trọt để ăn. Tu sĩ ở Trung Quốc đi khất thực thì người ta cho là con sâu ăn gạo, nếu tự mình trồng trọt ăn thì người ta khen ngợi.
Giới luật có khai, giá, trì, phạm. Thế nào là khai? Như uống rượu cũng có thể khai là trường hợp mình có bệnh, công khai với mọi người “vì bệnh, thầy thuốc bảo cần phải dùng rượu để trị”, như vậy dùng thì không phạm giới.

Hỏi:
Tác trì chỉ phạm là thế nào?

Đáp:
Tác trì là giới Bồ Tát (làm là trì giới), chỉ trì là giới Thanh Văn (không làm là trì giới). Như người thọ giới Bồ Tát đi ngoài đường gặp người tai nạn, không cứu giúp thì phạm giới.
Giới Bồ Tát có chỉ trì và tác trì, giới Thanh Văn có chỉ trì mà không có tác trì.

Hỏi:
Tại sao chúng con có Phật tánh, mà không luôn sống với Phật tánh của mình?

Đáp:
Vì có kiến lập sở hữu, Phật tánh là trống rỗng vô sỡ hữu. Nếu có sở hữu nhiều chừng nào thì chướng ngại nhiều chừng nấy. Nhưng tánh con người ham sở hữu, như tiền của, đất đai, nhà cửa,… tất cả muốn sở hữu về mình. Cho nên, dụng Phật tánh của chúng sanh không phát huy được; Phật không sở hữu, nên dụng tự động khắp không gian thời gian.

Hỏi:
Chúng con có Phật tánh không sanh không diệt. Vậy, nguyên nhân nào khởi lên tâm ý thức?

Đáp:
Do mình ham muốn có sở hữu, cho nên có điều kiện tham thiền là “vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ” để phá ngã chấp. Chánh pháp luôn luôn phá ngã chấp mới được giải thoát, chướng ngại là do có kiến lập cái ngã.
Có phải tham thiền phá vô thỉ vô minh thì ngộ được Phật tánh bằng như chư Phật không?
Phải rồi!

Hỏi:
Lục Tổ nói: “Thuyết pháp chẳng lìa tự tánh”. Xin Sư Phụ khai thị?

Đáp:
Nói và không cũng không lìa được, vì tự tánh trống rỗng vô sở hữu; mặt trăng, mặt trời, nhà cửa, đất đai, bất cứ cái gì đều ở trong đó. Nói hay không nói cũng ở trong đó, hay ở chân trời góc biển đều ở trong đó; chứ không phải nói và không nói mà lìa được.
Lời của Lục Tổ là phương tiện để cho người tin được tự tánh, cho nên nói “thuyết pháp chẳng lìa tự tánh”. Nếu lìa tự tánh mà thuyết, gọi là tướng thuyết (chấp tướng).

Hỏi:
Pháp Hải hỏi Lục Tổ: Sau khi Hòa thượng nhập diệt rồi, có pháp gì cho chúng sanh mê muội ở đời sau để thấy được Phật tánh?
Lục Tổ nói: Nếu chúng sanh biết tâm mình là chúng sanh thì thấy được Phật tánh, còn không biết mình là chúng sanh thì dầu muôn kiếp cũng không thấy Phật tánh.
Xin Sư Phụ khai thị?

Đáp:
Phật nói: “Chúng sanh, tức phi chúng sanh, thị danh chúng sanh” là nghĩa 3 câu. Câu thứ nhất “chúng sanh” là chấp chúng sanh thật, câu thứ nhì “phi chúng sanh” là chấp chúng sanh giả (chẳng phải thật), câu thứ ba “thị danh chúng sanh” là giả danh chúng sanh. 3 câu đều giả danh, phá hết 3 câu. Cho nên, không trụ câu nào (vô sở trụ), cũng là nghĩa tánh không.
Vì tánh không thì cùng khắp không gian, nên gọi là Như Lai; khắp thời gian không sanh diệt, nên gọi là Niết Bàn. Nếu hiểu được chúng sanh thì tất cả đều hiểu. Như thế giới, tức phi thế giới, thị danh thế giới và đệ nhất ba la mật, tức phi đệ nhất ba la mật, thị danh đệ nhất ba la mật, tất cả đều nghĩa 3 câu. Hiểu được nghĩa 3 câu thì hiểu được chúng sanh.
Vậy tất cả là phương tiện, chỉ là giả danh, chứ không thể kiến lập phải không?
Phải rồi! Không có cái nào thật, cho nên nói “tất cả đều do tâm tạo”.

Hỏi:
Kính xin Sư Phụ khai thị công án: Bà già đốt am?

Đáp:
Bà già có lòng tốt muốn giúp người tu, nên vị Tăng xin nhập thất 3 năm để tu. Bà già đồng ý cho ở một cái am, mỗi ngày sai con gái đem cơm cho vị Tăng. Đem cơm được 3 năm thì con gái cũng được 18 tuổi.
Bà già dặn con gái: Sau khi đem cơm cho vị Tăng ăn xong, con ôm chặt vị Tăng và nói “nói đi, nói đi”, coi vị Tăng nói sao, rồi nói lại cho tôi biết. Con gái làm theo lời dặn bà già.
Vị Tăng nói: 
Khô mộc ỷ hàn nham,
Tam đông vô noản khí.
Nghĩa là:
Cây khô dựa đá lạnh,
Tháng chạp không hơi ấm.
Tức là con gái ôm vị Tăng, nhưng vị Tăng không có cảm xúc gì cả. Con gái về báo lại cho bà già biết, bà già nói: Uổng công nuôi ông 3 năm, rồi đuổi đi và đốt am.
Vì vị Tăng chưa kiến tánh, nhưng người thế gian thấy sự tu của vị Tăng như vậy có thiền định cao, nên con gái ôm không có cảm giác.
Vị Tăng đi khỏi chỗ đó một thời gian, trở lại xin bà già nhập thất 3 năm nữa, bà già đồng ý và sau 3 năm cũng sai con gái: Khi vị Tăng ăn cơm xong rồi ôm chặt và nói “nói đi, nói đi”.
Vị Tăng trả lời: Trời biết, đất biết, ta biết, ngươi biết, đừng cho bà già biết.
Con gái về kể cho bà già nghe, bà già nói: Ông ấy đã kiến tánh.
Vì kiến tánh rồi, nên không có phân biệt.

Hỏi:
Con dạy học thường soạn giáo án, nên tham thiền hay gián đoạn. Vậy tham thiền có kết quả không?

Đáp:
Lúc làm việc thì ngưng tham thiền, không làm việc mới tập tham. Như một ngày đêm có 24 giờ, làm việc 8 giờ, còn lại 16 giờ tập tham thiền. Khi 16 giờ tập tham thiền quen thuộc thì 8 giờ làm việc tự động tham thiền được, cái dụng của tự tánh thay cho bộ óc làm việc; công việc tốt hơn và nhanh hơn, cũng có nhiều Phật tử làm được như vậy.

Hỏi:
Làm thế nào khởi nghi tình được miên mật, vì mới hỏi thì có nghi tình, hỏi một thời gian thấy giống như niệm Phật?

Đáp:
Cô tham câu nào?
Sanh từ đâu đến, chết đi về đâu?
Vì có thói quen cho kiếp trước kiếp sau là cái gì, suy nghĩ ra đáp án. Tham thoại đầu là không cho đáp án. Như câu “khi chưa có trời đất ta là cái gì?”, không thể có đáp án. Nếu chỉ hỏi “ta là cái gì?” thì dễ có đáp án.
Mục đích tham thiền là không hiểu không biết để chấm dứt tìm hiểu biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ biết; rồi cuối cùng luôn cả không biết cũng chấm dứt. Biết và không biết của ý thức chấm dứt thì chánh biến tri hiện lên khắp không gian thời gian, không chỗ nào không biết và không lúc nào không biết.
Nếu biết mình có nghi tình hay không có nghi tình cũng không được, cứ hỏi và nhìn để giữ nghi tình.
Tôi hỏi cô: Khi chưa có trời đất cô là cái gì?
Không biết.
Không biết là đúng rồi, chỉ cần nổi lên một niệm không biết là cơ bản của nghi tình; rồi nhìn chỗ không biết, nhưng chỗ không biết thì không có chỗ; nên không có mục tiêu để nhìn, nhìn mãi không thấy gì vẫn còn không biết, Thiền tông gọi là nghi tình. Nếu không biết làm sao biết nghi tình! Biết là nghịch với tham thiền.
Đến chân tham thì luôn cả tham thiền cũng không biết. Ngài Lai Quả nói: “Vô tham tức là chân tham”, không phải vô tham không có tham, mình đang tham thiền mà tự mình không biết. Cho nên, trong Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền nói “tham thiền còn muốn hiểu thiền hiểu đạo cũng không cho”. Vì hiểu là biết.

Hỏi:
Tất cả chúng sanh đều đã thành Phật từ vô thỉ, tại sao chúng con còn hỏi pháp?

Đáp:
Phàm dùng lời nói là đã mâu thuẩn, thường thường nói là vô thỉ (không bắt đầu). Vậy vô thỉ làm sao đến nay! Phải hữu thỉ mới đến nay. Dùng lời nói thì đã có ngữ bệnh, đúng là phải hữu thỉ đến nay. Hữu thỉ thì không đúng, vì thật tế là vô thỉ. 
Nếu tất cả không có bắt đầu, sao chúng sanh lại có?
Không có dính líu có, vì mình chấp thật có thì lọt vào biên kiến, biên kiến là một trong năm thứ ác kiến. Chấp thật có, thật không đều là biên kiến. Nhiều người giảng kinh thuyết pháp lọt vào biên kiến, mà tự mình không biết. Rồi đuổi theo những danh từ như “từ vô thỉ đến nay”. Vô thỉ làm sao đến nay được!
Nói kiến tánh cũng là mâu thuẩn, tánh là tự tánh bất nhị, không có năng kiến sở kiến. Cho tự tánh là sở kiến, có năng kiến để kiến tự tánh, như vậy là nhị.
Như vậy tâm và thân không dính dáng với nhau phải không?
Không phải không dính dáng! Dính dáng và không dính dáng đều không đúng, vì tương đối là nhị, không phải kiến tánh. Nếu dùng bộ óc tìm hiểu là tương đối. Cho nên, tham Tổ Sư thiền là dùng không biết của bộ óc, để dẹp tất cả cái biết của bộ óc và sau không biết của bộ óc cũng không biết thì tương đối chẳng còn.
Cuối cùng, tham thiền lìa ý thức thì cái biết Phật tánh hiện lên, cái biết của Phật cũng gọi là biết; nhưng không phải cái biết của bộ óc, muốn nói cho người thế gian biết nên gọi là biết. Nếu nói biết thì có không biết để đối đãi. Vì vậy, cái biết không thể bắt đầu, không thể kiến lập cái biết. Nếu kiến lập là tương đối, không phải vô duyên tri.
4 bài kệ của ngài Vĩnh Gia giải thích, mặc dầu biết sở biết là tịch lặng; nhưng vẫn còn chướng ngại, không phải vô duyên tri. Như tay cầm như ý thì dụng của tay mất, nếu tay không cầm vật gì thì dụng của tay sẵn sàng.
Từ vô thỉ con đã thành Phật. Vậy sao còn nói là thành Phật?
Nếu thật có giác ngộ thành Phật thì mới biết không có Phật để thành. Vì có năng thành sở thành, Phật không phải sở thành. Kinh Viên Giác nói: “Tất cả chúng sanh đều đã thành Phật”, nhưng người ta không tin; vì còn ở trong chiêm bao chưa được thức tỉnh, chưa được tự chứng phần.
Nhắm mắt chiêm bao tự thức tỉnh, nên người ta tin được nhắm mắt chiêm bao là không thật. Nếu dùng bộ óc đi tìm hiểu hoài thì không hy vọng được kiến tánh.

Hỏi:
Loài người có lúc nào?

Đáp:
Nếu có lúc nào thì có bắt đầu. Vậy chưa có loài người thì có thời gian và có bắt đầu không?
Không.
Thời gian không bắt đầu thì tất cả cái gì cũng không có bắt đầu. Nếu có lúc bắt đầu thì không cùng khắp thời gian. Cái biết của Phật tánh là cùng khắp thời gian, nên không có sự bắt đầu.
Tại sao con có quỳ đây để hỏi pháp?
Đó là bệnh chấp sai lầm. Tâm hoạt động thì có sanh tử, như thân xoay thấy căn nhà xoay. Căn nhà xoay dụ cho sanh tử luân hồi, căn nhà ngưng xoay dụ cho cứu kính Niết Bàn. Nhưng căn nhà đâu có xoay, mà nói căn nhà ngưng xoay! Nếu thân ngưng xoay thì căn nhà ngưng xoay. Dùng tâm hoạt động để hỏi thì sanh tử làm sao lìa được? Dùng cái không biết để ngưng tìm hiểu biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ biết của bộ óc. Đó là phương tiện của Phật Thích Ca. 
Con thắc mắc, Sư Phụ dạy lấy không biết để tu, sao ngày nào Sư Phụ cũng nói “ai có thắc mắc ra hỏi”, thành ra con theo lời nói đó mà ra hỏi?
Phải rồi! Có thắc mắc là lòng tin chưa đầy đủ thì tôi phải giải đáp để tăng cường lòng tin. Nếu có lòng tin 100% thì không cần hỏi, nên tôi không có giải đáp.

Hỏi:
Thức tỉnh mở mắt chiêm bao có bị buồn vui yêu ghét,.. nữa không?

Đáp:
Nếu tập khí của người đó sạch như Phật thì không bị buồn vui yêu ghét,… làm ảnh hưởng; tập khí còn vẫn bị ảnh hưởng. Lục Tổ đã kiến tánh triệt để vẫn còn bảo nhậm tập khí 15 năm.
Giáo Môn giải thích: Từ Sơ Địa đến Thập Địa, Đẳng Giác còn tập khí xuất thế gian vi tế; nếu chưa hết tập khí thì không được Diệu Giác. Tập khí vi tế là có sở ngộ, sở chứng, Niết Bàn, giải thoát. Cho nên, Thiền tông nói: “Tập khí xuất thế gian là hầm sâu giải thoát đáng kinh sợ”. Ai cũng muốn tu giải thoát, tại sao kinh sợ? Vì chấp giải thoát.
Lục Tổ nói: “Thiền định giải thoát chẳng phải Phật pháp, vì Phật pháp là pháp bất nhị”. Tại sao? Vì thiền định thì phải có tán loạn để làm tương đối. Nếu không trói buộc thì đâu cần giải thoát! Do chấp giải thoát thành trói buộc.
Tiểu thừa còn ôm Niết Bàn cho là ta chứng, nếu chấp ngộ thì còn mê. 

Hỏi:
Thế nào là rùa giếng và rùa biển?

Đáp:
Có con rùa giếng ở dưới giếng từ lúc còn nhỏ, nó nhìn lên miệng giếng thấy bầu trời lớn hơn cái giếng một chút. Một ngày kia, có con rùa ở biển bò ngang miệng giếng bị lọt xuống.
Rùa giếng hỏi: Anh ở đâu đến?
Rùa biển nói: Ở biển.
Rùa giếng hỏi: Biển của anh lớn bao nhiêu? Có bằng 1/3 cái giếng này không?
Rùa biển nói: Lớn hơn nhiều.
Rùa giếng hỏi: Biển có bằng 2/3 cái giếng này không?
Rùa biển nói: Lớn hơn nhiều.
Rùa giếng hỏi: Vậy cái biển lớn hơn cái giếng này sao?
Rùa biển nói: Lớn hơn nhiều.
Rùa giếng nói: Vậy là ông nói bậy, làm sao lớn hơn nhiều được? Có phải biển ở dưới bầu trời này không?
Rùa nói: Phải!
Rùa giếng hỏi: Bầu trời chỉ có lớn hơn cái giếng một chút, làm sao dung nạp cái biển được! Vậy cái biển lớn bao nhiêu?
Rùa biển không nói được.
Rùa giếng nói: Những gì tôi nói đều chứng minh được, còn anh nói không có gì để chứng minh. Vậy rõ ràng anh nói bậy.
Các vị làm sao cho rùa giếng tin được biển lớn hơn giếng? Kiến thức rùa giếng có giới hạn bao nhiêu đó thì có thể chứng minh được. Rùa biển không có gì để chứng minh, rùa giếng hỏi giếng lớn bao nhiêu thì rùa biển chỉ nói: Lớn hơn nhiều.
Theo việc thông thường cái gì có chứng minh được là đúng, nhưng mình biết việc này không đúng.
Nếu dùng ý thức phân biệt chấp thật là con rùa giếng, dùng ý thức vô phân biệt để phá chấp thật là rùa biển. Vậy có đúng không?
Ví dụ như vậy cũng được.

Hỏi:
Con đến Thiền Đường tham thiền, ông Xả của con không cho, con vẫn đi. Con có tội không?

Đáp:
Không có, như Phật Thích Ca trốn hoàng cung bỏ cha mẹ và gia đình đi xuất gia, vậy Phật có tội không!

Hỏi:
Không có cách nào con rùa biển nói cho con rùa giếng biết được chăng?

Đáp:
Không có cách nào rùa biển nói cho rùa giếng biết được. Vì rùa giếng có cái để chứng tỏ, còn rùa biển không có cái gì để chứng tỏ. Rùa giếng muốn biết cái biển lớn hơn cái giếng thì rùa giếng phải ra khỏi cái giếng đến gần biển mới thấy. Nếu rùa giếng ở trong giếng tranh cải với rùa biển thì rùa biển đành chịu thua.

Hỏi:
Khi tham cứu một lúc sau lọt vào vọng tưởng, bị tức ngực khó thở thì biết câu thoại đã mất và chậm chậm câu thoại nổi lên. Vậy con có hành sai không?

Đáp:
Nếu còn giữ cái biết là hành sai, phải giữ cái không biết nên cần nhìn để kéo dài.

Hỏi:
Con hỏi và nhìn thoại đầu, trong khoảng thời gian ngưng hỏi câu thoại nhưng vẫn có nghi tình. Vậy câu thoại không có kẽ hở hay nghi tình không có kẽ hở?

Đáp:
Nếu ngưng hỏi thì câu thoại có kẽ hở, tuy có nghi tình nhưng dễ bị gián đoạn, khó miên mật. Muốn nghi tình miên mật phải hỏi câu thoại và nhìn thoại đầu song song. Hỏi không gián đoạn và nhìn cũng không gián đoạn. Nếu chỉ giữ một cái thì nghi tình không miên mật, có khi nghi tình bị gián đoạn một thời gian lâu mà tự mình không biết.

Hỏi:
Hỏi “sanh từ đâu đến, chết đi về đâu?” Vậy nhìn vào hầm sâu vô minh được không?

Đáp:
Hầm sâu vô minh là chỗ không hiểu không biết, phải nhờ một câu thoại để kích thích niệm không hiểu không biết. Đến chừng phá tan hầm sâu vô minh thì trí Bát Nhã hiện ra.
Nếu chỉ nhìn mà không hỏi thì bị gián đoạn một thời gian dài không biết. Cho nên, vừa hỏi vừa nhìn song song, hỏi không gián đoạn và nhìn cũng không gián đoạn.

Hỏi:
“Cần phải đoạn vi tế sở tri ngu và cực vi tế sở tri ngu”. Xin Sư Phụ khai thị?

Đáp:
Đó là tập khí xuất thế gian.

Hỏi:
Tại sao vô minh là chỗ đắc đạo của chư Phật?

Đáp:
Vì có vô minh nên có chỗ đắc đạo. Vô minh là mê làm sao đắc đạo? Cho nên mê là nhân, tham sân si tức là giải thoát.

Hỏi:
Các Phật tử hỏi về Tổ Sư thiền, các vị Tu sĩ thường nói: “Thời mạt pháp không nên tu pháp môn này”. Vậy như thế nào?

Đáp:
Các vị Tu sĩ ấy tự làm tày khôn nói vậy, là tự làm chướng ngại mình không dám tu Tổ Sư thiền thì đoạ địa ngục 1 đại kiếp, và làm chướng ngại người khác không dám tu Tổ Sư thiền thì bị đọa địa ngục 4 đại kiếp. Đó là lời của ngài Lai Quả.
Vị ấy không biết tất cả chúng sanh đều có Phật tánh bình đẳng. Nhưng họ theo Phật mà lời nói của Phật không tin, lại có ý nghịch với Phật và chư Tổ. Các vị ấy tu Tịnh Độ mà tông chỉ Tịnh Độ cũng không biết! Phật Thích Ca dạy 84.000 pháp môn, pháp môn nào cũng lấy thiền làm căn bản, không có thiền thì không có tu. Ba cách tu của Tịnh Độ đều là thiền:
Thật Tướng Niệm Phật giống như Tổ Sư thiền, thật tướng là vô tướng cũng là Phật tánh.
Quán Tưởng Niệm Phật là có 16 pháp thiền quán trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, có người tu Tịnh Độ không nhìn nhận mình là thiền, lại bài xích thiền!
Trì Danh Niệm Phật là phải nhất tâm bất loạn, nếu không có thiền làm sao được nhất tâm bất loạn! Người tu Tịnh Độ phải học tông chỉ Tịnh Độ, Tổ gần nhất đây là Ấn Quang Pháp sư giải thích tông chỉ Tịnh Độ có tín, hạnh, nguyện rất rõ ràng. 
Nhưng số người tu Tịnh Độ làm tày khôn, không y theo lời dạy của Tổ mà phỉ báng thiền. Tự mình là thiền mà lại  phỉ báng thiền, rất mâu thuẩn!
Hiện nay có 80% người tu Tịnh Độ, nhưng phần nhiều không biết tông chỉ Tịnh Độ. Nếu vậy làm sao biết Tổ Sư thiền? Nếu Tu sĩ trả lời như vậy, tạo tội địa ngục mà tự mình không hay, Phật nói hạng người này rất đáng thương xót!
 

 
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap