Ngày
14 – 6 đến 20 – 6 Đinh Sửu (97).
Hỏi:
Thế
nào là pháp thế gian và xuất thế gian?
Đáp:
Pháp
thế gian và xuất thế gian không khác, vì có bệnh chấp những
sai lầm của thế gian, rồi muốn ra khỏi những sai lầm đó,
nên mới gọi là xuất thế gian. Tại sao không khác? Người
thế gian cũng là tâm này, người tu xuất thế gian cũng là
tâm này. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh sẵn sàng.
Nhưng
tâm có sự giác ngộ nên gọi là Phật tánh. Tâm là vô sở
hữu (trống rỗng), trống rỗng thì dung nạp và ứng dụng.
Như ông quỳ, nói chuyện với nhau, nhìn thấy nhau đều nhờ
trống rỗng,… Nếu không có chỗ trống rỗng, muốn nhìn
cũng chẳng được. Như có vách tường chắn ngang thì không
thể nhìn thấy bên kia.
Tương
lai, khoa học tiến bộ, từ không gian 3 chiều tiến lên 4 chiều.
Tây y khám bệnh thì đúng, nhưng trị bệnh không được; càng
trị thì bệnh càng nhiều, tức hết bệnh này tạm thời lại
sang bệnh khác. Y khoa tốt nghiệp trường đại học của Mỹ
có khán nghị chính phủ bãi công 1 tháng không trị bệnh,
mà tháng đó chết bớt lại 50%. Có chỗ bác sĩ làm việc
không sốt sắn thì bệnh nhân chết giảm 18% đến 38%.
Việt
Nam có chỗ không dùng thuốc sát trùng và phân hóa học, vì
phân bón hóa học rút hết dinh dưỡng của đất, làm hư đất.
Các côn trùng làm cho đất được tốt đều bị chết. Các
chất hóa học thấm vào đất làm cho nguồn nước bị ô nhiễm
là cho các loài động vật dưới nước phải chết. Hiện
nay là bị ô nhiễm môi trường, khắp thế giới không cách
nào giải quyết và cũng đang tìm cách để giải quyết.
Vì
chấp thế gian, ai cũng muốn tranh giành quyền lợi của mình,
chỉ cần cho mình phát tài, còn hại cho mọi người thì không
biết tới. Nhưng rốt cuộc cái hại cũng đến mình, vì mình
sống chung trong đó.
Hỏi:
Tham
thiền thấy như có vật nặng đè trên đầu, vậy tham thiền
tiếp tục hay ngưng?
Đáp:
Vật
nặng đè là nguyên do gì?
Không
có nguyên do, đang ngồi thiền được một lúc như có ai để
cái thúng nặng trên đầu.
Nếu
như vậy đừng nên ngồi.
Vậy
cần xả thiền không?
Khỏi
cần xả thiền, vì tham thiền đâu có nhập mà xả! Cứ hỏi
và nhìn, đi đứng nằm ngồi làm việc đều vậy. Do chấp
có nhập nên có xả. Thiền là trong cuộc sống hàng ngày của
mình, không phải chỉ ngồi mà có thiền. Như ăn cơm, uống
nước đều là thiền.
Tâm
trống rỗng vô sở hữu thì không có thiền, cho nên hành giả
tham thiền mà còn học thiền học đạo cũng không cho. Vậy
làm sao có thiền! Không có thể kiến lập. Không có kiến
lập nên mới trống rỗng vô sở hữu dung nạp và ứng dụng.
Hỏi:
Tham
thiền ngồi nửa tiếng và đi nửa tiếng; ngồi thấy những
cảnh vật hay nghe tiếng nói bên tai từ đâu không biết. Vậy
phải làm thế nào?
Đáp:
Hỏi
và nhìn giữ nghi tình là không hiểu không biết, nếu không
biết làm sao biết những cái ông vừa nói! Mấy cái đó là
biết, không có tham thiền mới có mấy cái đó. Tham thiền
giữ được nghi tình thì không có những cái đó.
Biết
không tác ý cũng là biết, tác ý và không tác ý đều không
biết. Vì tập thể nên quy định nửa tiếng ngồi nửa tiếng
đi. Nếu chỉ một mình tham thiền, ngồi tê chân thì đứng
dạy đi; đi đến mỏi chân thì ngồi, không nhất định thời
giờ.
Hỏi:
Trong
gia đình không được thông thả rộng rãi, ban đêm lúc thanh
tịnh, có thời giờ nhiều thì ngồi lâu hơn. Vậy như thế
nào?
Đáp:
Không
phân biệt đêm hay ngày để tham thiền. Vì người ta ham ngồi
nên muốn ngồi nhiều, nếu nằm không ngủ thì hỏi và nhìn
cũng được; hỏi đến chừng nào ngủ quên, không nhất định
phải ngồi.
Hỏi:
Trước
kia, con ngủ có chiêm bao thấy bay, thấy cảnh chùa rất thanh
tịnh, sau khi hết chiêm bao thấy thân tâm khỏe. Gần đây,
nằm mơ thấy cảnh đao binh giết chóc. Vậy những hiện tượng
đó là như thế nào?
Đáp:
Kinh
Lăng Nghiêm nói: “Tình nặng thì đọa xuống, tưởng nhiều
thì bay lên”. Tham thiền là siêu việt tình tưởng. Các thiền
dùng tưởng gọi là thiền quán tưởng, nhưng Tổ Sư thiền
không dùng thiền quán tưởng, chỉ giữ nghi tình là không
hiểu không biết. Quán tưởng là tập trung tinh thần, như
tưởng cái gì đó.
Hỏi:
Người
tham thiền không tránh khỏi chướng ngại: Bệnh thân, bệnh
tâm, bệnh Phật. Xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Do
có suy nghĩ biết, tìm hiểu biết, ghi nhớ biết thành chướng
ngại. Nếu giữ được nghi tình (không hiểu không biết) thì
tìm hiểu biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ biết đều chấm dứt
được hết chướng ngại. Cuối cùng luôn cả không hiểu
không biết cũng chấm dứt, gọi là kiến tánh thành Phật.
Hỏi:
Thế
nào lửa tam muội? Ấn tam muội và ngồi kiết già của Phật
Thích Ca hay do Thiền sư nào đặt ra?
Đáp:
Tất
cả đều do người ta đặt ra, còn Phật là vô thỉ vô sanh.
Vô thỉ thì không thể đặt ra, vì có đặt ra là bắt đầu.
Vô thỉ cũng là nghĩa vô sanh, tức không có sự sanh khởi,
do có sự sanh khởi nên có sự bắt đầu. Cho nên, người
chứng quả là ngộ pháp vô sanh, gọi là chứng vô sanh pháp
nhẫn. Nếu pháp đã vô sanh thì đâu có những thứ ông nói!
Đó là bày đặt.
Tam
muội là chánh định để phân biệt tà định, quán lửa gọi
là hỏa tam muội, quán thủy gọi là thủy tam muội. Đó là
thiền quán do người ta bày đặt. Tổ Sư thiền thì không
có gì hết, do Tổ sư từ đời truyền xuống, miễn cưỡng
gọi là Tổ Sư thiền, chứ không có tên gọi. Luôn cả thiền
cũng không có, vì trống rỗng vô sở hữu không thể kiến
lập.
Hỏi:
Bổn
lai vô nhất vật, sao thấy có nhiều vật?
Đáp:
Thấy
có vật là vọng tâm kiến lập, nếu không kiến lập thì
không có; chính kiến lập sở hữu là chướng ngại. Ngài
Long Thọ lấy hư không vô sở hữu để ví dụ cho tâm. Hư
không thì trống rỗng không có gì, cho nên gọi là vô sở
hữu.
Vì
trống rỗng nên dung nạp và ứng dụng, tất cả mặt trời,
mặt trăng, đất đai, nhà cửa,… đều từ cái trống rỗng
này dung nạp và ứng dụng. Cái trống rỗng là tâm của mọi
người. Vì vậy, Phật nói: “Tất cả do tâm tạo”.
Tâm
tạo mới có sở hữu, nên có muôn ngàn thứ sai biệt; nhưng
tánh con người ham sở hữu ham tạo. Như cuộc sống hàng ngày
phải có tiền, thì cho tiền là sở hữu của tôi; phải có
nhà ở thì nhà là sở hữu của tôi, phải có đất đai, đất
đai là sở hữu của tôi. Tất cả đều là sở hữu, chính
sở hữu làm chướng ngại vô sở hữu.
Nghe
tôi nói vậy, đừng mặc quần áo và không ở nhà sao? Mình
cũng mặc quần áo, ở nhà, cầm tiền; nhưng mình không có
buồn, vui, yêu, ghét, đắc, thất, không có sự đối đãi,
tất cả đều tùy duyên. Như có tiền cũng được hay không
có tiền cũng được, ăn no cũng được hoặc ăn đói cũng
được.
Vì
kiến lập nên có sự chết, Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Vô vô
minh diệc vô vô minh tận, vô lão tử diệc vô lão tử tận”,
Phật nói không có già chết và không có sanh tử. Nhưng tại
sao mình thấy có sanh tử? Do tâm mình tạo, như thân mình xoay
nên thấy căn nhà xoay (sanh tử luân hồi), căn nhà ngưng xoay
(cứu kính Niết Bàn). Căn nhà đâu có xoay hồi nào? Tại thân
mình xoay, nên có cảm giác sai lầm thì thấy căn nhà xoay.
Tâm
tạo có sanh tử là do chấp thật, như căn nhà xoay không thật.
Tu là phá tư tưởng chấp thật, nhưng phá rất khó. Cho nên,
dùng nghi tình để chấm dứt tìm hiểu biết, suy nghĩ biết,
ghi nhớ biết. Kiến lập đều do biết, những cái biết chấm
dứt thì còn nghi tình; cuối cùng nghi tình chấm dứt là kiến
tánh thành Phật, chánh biến tri hiện lên khắp không gian thời
gian.
(4
bài kệ chữ tri……………… trang 66).
Tâm
của mình không biết ở ngoài và không tự biết, không phải
hoàn toàn không biết. Vì tất cả dụng tâm mình tự động,
khỏi cần nổi ý muốn biết thì mới biết.
Như
cảm giác lớp da của cơ thể, cảm giác tiếp xúc tách, bình
thì biết. Tiếp xúc nóng biết nóng, tiếp xúc lạnh biết
lạnh, đụng mạnh thì nó đau, đụng nhẹ thì ngứa. Người
ta cho rằng có tiếp xúc mới biết, còn không tiếp xúc thì
không biết. Đó là không đúng. Không tiếp xúc nó cũng biết,
tức cảm giác lớp da luôn luôn làm việc không ngưng nghĩ.
Lúc tiếp xúc thì biết có tiếp xúc, lúc không tiếp xúc thì
biết không tiếp xúc.
Cái
biết của mình cũng vậy, từ vô thỉ đến bây giờ không
ngưng; mình chết cái biết vẫn làm việc bình thường.
Có người hỏi: Nếu dùng nghi tình để quét sạch tất cả
biết, đến thoại đầu sẽ kiến tánh thì sắp biết phải
không?
Tôi
nói: Không có thể nói là sắp biết.
Người
ta ngạc nhiên hỏi: Như vậy, vĩnh viễn không biết sao?
Tôi
nói: Không phải không biết, mà đang biết. Như lớp da đang
biết, tiếp xúc nó cũng biết, không tiếp xúc nó vẫn biết.
Tâm mình cũng vậy.
Nhưng
người ta không hiểu, nên tôi phải dùng mặt trời để thí
dụ; mặt trời chiếu soi không bao giờ ngưng, mình không thấy
ánh sáng mặt trời là bị che khuất bởi mây đen và trái
đất; không phải ánh sáng mặt trời có ngưng chiếu soi, mà
nói trời gần sáng mặt trời sắp chiếu! Vậy không đúng.
Mặt
trời có ngưng chiếu rồi nói là sắp chiếu, như cái biết
của mình có ngưng biết thì mới nói sắp biết. Cái biết
của tâm mình từ hồi nào chưa ngưng, như mặt trời từ hồi
nào không ngưng chiếu.
Bây
giờ, muốn ngưng tìm hiểu biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ biết
là vọng biết, không đúng với thật tế đều do kiến lập
sở hữu rồi mới có. Kiến lập sở hữu thì hạn chế cái
dụng. Mặt trăng mặt trời đều ở trong hư không vô
sở hữu (cái không trống rỗng), Phật pháp gọi là tánh không.
Nhưng
thông minh con người muốn kiến lập, đem cái không chẳng
hạn chế, rồi hạn chế cái không của tách, bình, nhà,…
Nếu tách bít hết nên không thể dùng, tách trống rỗng thì
dùng được. Kiến lập nhiều cái không khác biệt, như cái
không của tách khác cái không của bình, khác cái không của
nhà. Muôn ngàn thứ khác biệt đều do kiến lập mới có.
Kỳ
thật, chưa dựng lên nhà thì cái không đã có sẵn, chưa có
cái không của tách thì đã có cái không đã có sẵn. Vì có
cái không sẵn sàng nên có cái không của tách, bình, nhà,…
cho đến quý vị ngồi đây đều nhờ cái không sẵn sàng
đó. Nhưng mình đang dùng mà chẳng tự biết, cứ đoán mò
mấy danh từ như Bồ Đề, Niết Bàn,…
Cái
thật tế mình đang dùng lại bỏ, mà tìm những cái không
thật tế! Phật Thích Ca muốn mình trở về thật tế, nhưng
con người không chịu. Vì muốn ham sở hữu, như nhà, tiền,…
cho là sở hữu của tôi. Như mình có căn nhà chưa có quyền
sở hữu, cũng phải lo giấy tờ để có quyền sở hữu. Nếu
sở hữu nhiều chừng nào thì chướng ngại nhiều chừng nấy.
(Trừ
nghiệp chướng phiền não....trang 128).
Hỏi:
Tham
thiền là giữ chỗ không biết cho liên tục, nhưng con tham
có lúc lại biết chuyện này chuyện kia, mình muốn không biết
cũng không được, nên sanh ra phiền não. Xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Vì
do kiến lập, như có vào thiền và xả thiền; thiền cũng
không kiến lập, không có vào thiền và không xả thiền. Chấp
thiền (trụ) là kiến lập thiền, Tổ Sư thiền chỉ là hỏi
và nhìn, hỏi là kích thích niệm không biết, nhìn là giữ
cái không biết được kéo dài, gọi là nghi tình.
Ban
đầu tập tham tự nhiên vọng tưởng (biết) nổi lên quên
tham, biết thì nghịch cái không biết. Nhưng phải tập tham
dần dần. Tâm mình trống rỗng, cho nên đừng kiến lập.
Vì vậy, hành giả tham thiền không cho hiểu thiền hiểu đạo.
Đang thực hành thiền còn hiểu thiền chi nữa! Nếu tìm hiểu
thiền là trên đầu mọc thêm đầu. Một cái đầu đã đủ
dùng, thêm cái đầu phải nhờ bác sĩ cắt bỏ thì khôi phục
cái đầu có sẵn.
Mục
đích là muốn đến thoại đầu, cho nên gọi là tham thoại
đầu, khán thoại đầu. Bây giờ thực hành nhưng chưa đến
thoại đầu, thoại đầu là một niệm chưa sanh khởi, nếu
sanh khởi một niệm không biết cũng là sanh khởi. Cuối cùng
đến thoại đầu thì tất cả tìm hiểu biết, suy nghĩ biết,
ghi nhớ biết đều chấm dứt. Đến thoại đầu là công phu
ngày đêm liên tiếp, vì không có niệm nào nổi lên.
24
tiếng đồng hồ mình chỉ tham có 1 phút, nếu mỗi ngày nghi
tình tăng 1 phút thì 4 năm đến thoại đầu sẽ kiến tánh,
mỗi ngày nghi tình tăng ½ phút thì 8 năm đến thoại đầu
sẽ kiến tánh, mỗi ngày nghi tình tăng ¼ phút thì 16 năm đến
thoại đầu sẽ kiến tánh.
Chỉ
cần công phu miên mật một chút nghi tình cũng đủ, khỏi
cần tập trung tinh thần, khỏi cần phí sức, khỏi cần cố
gắng. Cho nên, chư Tổ nói: “Ít phí sức chừng nào tốt
chừng nấy”. Nếu cố gắng, tập trung tinh thần đều là
phí sức.
Hỏi:
Sư
Phụ giảng: “Hư không vô sở hữu dung nạp tất cả vật”,
có người nói: Biết trước là hư không, sau là hư không,
trên là hư không, dưới cũng là hư không. Nhưng sao không ngộ
được?
Đáp:
Chưa
đến thoại đầu làm sao ngộ được! Ngộ được phải lìa
ý thức, phải chấm dứt tất cả biết (tìm hiểu, suy nghĩ,
ghi nhớ), giờ phút cuối cùng lìa ý thức, luôn cái không
biết cũng tan rã mới hết nghi. Hết nghi tức là ngộ, bây
giờ còn đủ thứ biết, làm sao ngộ được!
Nói
trên dưới trước sau đều là kiến lập, không thật tế.
Có trước sau là tương đối, có trên dưới cũng là tương
đối. Mình nói ở trên đầu là trên, ở dưới chân là dưới;
như mình đứng đây cho là trên, còn đứng ở nước Mỹ thì
cho là dưới. Và ngược lại, vậy làm sao có trên dưới?
Cho
nên, ông Newton thấy trái bôm từ trên cây rớt xuống, nghi
tại sao không rơi lên? Vì không có trên dưới, do cái nghi
ấy, ngộ được hấp dẫn lực của quả đất. Do đó ông
ngộ được hấp dẫn lực của vạn hữu, nhà khoa học gọi
là từ trường (sức hút nam châm). Như cấm cây nêu, người
đứng bên đông cho bên cây nêu là hướng tây, và ngược
lại; người đứng bên nam cho bên cây nêu là bắc, và ngược
lại.
Hỏi:
Thế
nào chết là hết và chết còn sanh tử?
Đáp:
Bát
Nhã Tâm Kinh nói: “Không có già chết”, do kiến lập sanh
tử thì nói chết rồi hết hay chết rồi còn. Nếu vốn không
có sanh tử thì đâu nói hết với còn! Như căn nhà không xoay,
nhưng do thân mình xoay mới thấy căn nhà xoay, lại muốn căn
nhà ngưng xoay.
Sanh
tử là do tâm mình ngày đêm hoạt động không ngừng. Rồi
nói sanh tử là hết hay còn, nếu không có sanh tử thì đâu
thể hết với còn! Còn và hết thì không có xảy ra. Cho nên,
tu là liễu thoát sanh tử, không nói còn hay nói hết, vì không
thành vấn đề rồi. Thật tế là không có sanh tử, ngộ được
không có sanh tử thì tất cả đều giải quyết.
Hỏi:
Hỏi
“sanh từ đâu đến?”, không biết, “chết đi về đâu?”,
không biết. Vậy con chết ra sao?
Đáp:
Ngộ
không sanh tử thì không cần giải quyết vấn đề ấy nữa.
Vì chấp có sanh tử thì có bao nhiêu vấn đề nghiệp chướng
phiền não. Cho nên, nói sanh tử là việc lớn, nếu không có
sanh tử thì mấy cái kia đều không có, tại kiến lập sanh
tử nên sanh ra đủ thứ chuyện.
Hỏi:
Vô
sở hữu và vô sở bất tri, nghĩa có giống nhau không?
Đáp:
Vô
tri thì có vô sở bất tri, tức là có kiến lập tri và bất
tri để đối đãi. Không có năng tri và sở tri đối đãi,
gọi là vô duyên tri. Cuộc sống hàng ngày đều trong tương
đối (đối đãi). Như có không, giàu nghèo, sang hèn, trước
sau,…
Vậy
cuộc sống hàng ngày mình sống với tâm vô phân biệt phải
không?
Nếu
có ý vô phân biệt thì đã phân biệt rồi, vì kiến lập
vô thì đã thừa nhận hữu. Vô phân biệt và hữu phân biệt
cũng là đối đãi. Nếu không kiến lập thì tất cả đều
trống rỗng là bản tâm của mình. Chỗ này phải giữ nghi
tình mới được, hỏi để kích thích niệm không biết và
nhìn niệm không biết.
Cho
nên, thật tế không thể dùng lời nói để diễn đạt được.
Cuốn Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải lời nói rất cao siêu,
nhưng ngài Trung Phong cũng quét sạch lời nói, để cho mọi
người thực hành cái thật tế.
Cần
giữ nghi tình đưa đến thoại đầu sẽ ngộ thì tất cả
giải quyết triệt để. Chưa kiến tánh mà dùng ý thức truy
tìm thì vẫn là sản phẩm của bộ óc, cũng còn nằm trong
tương đối. Nếu muốn không phân biệt cũng không được,
vì thói quen của bộ óc có từ lâu đời gặp cái gì đều
cũng phân biệt.
Như
phân biệt có tiền và không có tiền, giàu nghèo, tốt xấu;
rồi sanh ra buồn vui, yêu ghét. Giữ được nghi tình thì không
thể phân biệt, phân biệt là biết. Hành giả tham thiền chỉ
cần hỏi và nhìn song song.
Hỏi:
Thế
nào là niệm thoại đầu, tham thoại đầu và khán thoại đầu?
Đáp:
Tham
là hỏi câu thoại, như hỏi “khi chưa có trời đất ta là
cái gì?” nổi lên một niệm không biết; khán là nhìn chỗ
không biết, muốn xem chỗ không biết là gì; nhưng chỗ không
biết thì không có chỗ, nên không có mục tiêu để nhìn vẫn
còn không biết; Thiền tông gọi là nghi tình. Cứ hỏi và
nhìn song song để giữ nghi tình, đưa hành giả đến thoại
đầu, sẽ kiến tánh thành Phật.
Niệm
không có nghi tình, tức là biết chứ không phải không biết.
Nghi tình thì phải không hiểu không biết.
Hỏi:
Con
tham câu “sanh từ đâu đến, chết đi về đâu?” nhưng con
không niệm sanh từ đâu đến, mà chỉ niệm chết đi về
đâu. Vậy có được không?
Đáp:
Niệm
thì không được, vì niệm là không có thắc mắc; hỏi chứ
không phải niệm, hỏi thì phải có đáp. Nhưng hỏi mà không
biết thì không thể đáp được nên mới có một niệm không
hiểu không biết để nhìn. Hỏi và nhìn song song, vừa hỏi
vừa nhìn; chứ không phải hỏi trước nhìn sau hay hỏi sau
nhìn trước. Hỏi và nhìn cùng một lượt để giữ nghi tình,
đưa hành giả đến thoại đầu, sẽ kiến tánh thành Phật.
Hỏi
không phải dùng miệng hỏi, mà dùng tâm hỏi thầm; nhìn không
phải dùng mắt nhìn, mà dùng tâm nhìn thầm. Chỉ cần giữ
một chút nghi tình, nghi tình ngày đêm 24 tiếng đồng không
gián đoạn là đến thoại đầu, sắp kiến tánh giải thoát
tất cả khổ được tự do tự tại.
Hỏi:
Vì
vọng tưởng quá nhiều, nên tham thiền không kiến tánh. Vậy
chết rồi tái sanh trở lại có tiếp tục tham thiền nữa
không?
Đáp:
Theo
nhân quả, chánh nhân đã gieo thì chánh quả sẽ đến;
kiếp này không kiến tánh thì kiếp sau tiếp tục tham thiền,
kiếp sau chưa kiến tánh thì kiếp sau nữa, tiếp tục hoài
khi nào kiến tánh mới thôi. Công phu mình tiến mau thì nhanh
đến, tiến chậm thì lâu đến.
Hỏi:
Thế
nào là Tam Bảo?
Đáp:
Tam
Bảo gồm có 2 thứ: Thường trụ Tam Bảo và Tự tánh Tam Bảo.
Thường
trụ Tam Bảo là dùng tượng Phật để thay thế cho Phật Bảo,
lấy kinh của Phật thay thế cho Pháp Bảo, Tăng Ni hiện tiền
thay thế cho Tăng Bảo, từ đời từ đời truyền xuống.
Mục
đích quy y Tam Bảo là muốn nhờ Thường trụ Tam Bảo giáo
hóa chúng sanh tu đúng lời Phật dạy, chứng nhập Tự tánh
Tam Bảo. Tâm của mình đầy đủ Tam Bảo, nhưng phải tu đúng
mới ngộ nhập được Tự tánh Tam Bảo.
Bảo
gọi là quý hiếm, Phật nghĩa là giác ngộ. Có người hỏi
Phật Thích Ca: Ngài là gì?
Phật
đáp: Tôi là người giác ngộ.
Nghĩa
chữ “Phật” là giác ngộ, chứ không phải là Thần linh,
ai giác ngộ thì người ấy là Phật. Tâm của con người có
tánh giác ngộ, nên gọi là Phật tánh; tâm trống rỗng như
hư không chẳng có khứ lai, nên gọi là Như Lai, đúng
như Bản Lai; tâm khắp không gian không có sanh diệt, nên gọi
là Niết Bàn.
Nếu
đạt đến giác ngộ thì mới được giải thoát, nên phải
có phương pháp, phương pháp đó là Pháp Bảo. Tất cả 84.000
pháp môn đều là Pháp Bảo có thể tu đến giải thoát.
Đã
có Phật Bảo, Pháp bảo; nhưng Phật đã nhập diệt, nên phải
nhờ Tăng từ đời trực tiếp truyền dạy chúng sanh. Nếu
chỉ có Phật Bảo và Pháp Bảo, mà không có người truyền
dạy thì không còn Phật pháp. Cho nên, phải nhờ Tăng Bảo.
Tăng
(Tăng Già) nghĩa là hòa hợp chúng. Theo quy định của giới
luật thì 4 người trở lên mới thành Tăng, Tăng là đoàn
thể, 3 người trở xuống cũng chưa thành Tăng.
Quy
y là quy y Tam Bảo, Tăng đại diện cho Tam Bảo để truyền
giới; người quy y là đệ tử của Tam Bảo, không phải đệ
tử riêng của thầy ấy.
Hỏi:
Vì
trình độ thầy bổn sư kém Phật pháp, nên các đệ tử đi
tìm thầy khác để học thêm. Vậy có coi là phản thầy không?
Đáp:
Sự
tu học tiến lên, cần phải tìm thầy học hỏi thêm, việc
này rất đúng. Nhưng vị ấy cho là phản thầy thì đối với
Phật pháp không đúng. Các thầy bên Thiền tông cho đệ tử
đi tham học các nơi, còn các thầy kém Phật pháp không cho
đệ tử đi tham học chỗ khác, giống như không cho đệ tử
lên lớp, cứ ở một lớp mà học mãi!
Hỏi:
Chết
rồi thiêu thì Phật tánh ở chỗ nào?
Đáp:
Phật
tánh là tâm, tâm có giác ngộ nên gọi là Phật tánh, cũng
là bản tâm của mình khắp không gian thời gian. Khắp thời
gian thì không có sanh diệt, vì người hỏi chấp có sanh tử
cho là thật nên có câu hỏi ấy.
Khắp
không gian thì không có khứ lai, nên gọi là Như Lai, tức đúng
như bản lai. Không có khứ lai làm sao chết rồi đi về đâu?
Phật tánh ở đâu? Nếu Phật tánh có chỗ thì không phải
Phật tánh! Vì có chỗ là không cùng khắp không gian. Phật
tánh cùng khắp không gian thì không khứ lai, nên không
có chỗ.
Hỏi:
Tổ
Đạt Ma có kinh Lăng Già để ấn chứng, Lục Tổ có Pháp
Bảo Đàn, Lai Quả có Thiền Thất Khai Thị Lục, Nguyệt Khê
có Đại Thừa Tuyệt Đối Luận. Vậy, sau này Sư Phụ tịch
thì chúng con căn cứ vào đâu?
Đáp:
Tôi
chưa kiến tánh, ngài Lai Quả, ngài Nguyệt Khê đều đã kiến
tánh. Ngày xưa có 7.000 Tổ kiến tánh, nhưng lưu lại ngữ
lục rất ít, không phải Tổ nào cũng lưu lại. Tôi chỉ có
nuốt nước miếng của chư Tổ truyền lại để dạy cho quý
vị, tự mình tôi chẳng có gì.
Nhưng
thật tế bản tâm của mỗi người trống rỗng vô sở hữu.
Lục Tổ nói: “Bổn lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai”,
nghĩa là xưa nay không một vật, chỗ nào dính bụi trần!
Không có một vật, tức là trống rỗng vô sở hữu, nên gọi
là tánh không. Tánh không có chỗ để trụ gọi là vô trụ.
Lục
Tổ nói: “Lấy vô trụ làm gốc”, bây giờ nói có lưu lại
thì đã trụ rồi. Lúc Phật Thích Ca còn tại thế chẳng có
kinh, sau này có kinh là do đệ tử của Phật kiết tập thành
kinh.
Hỏi:
Sư
Phụ nói: “Tham thiền giữ nghi tình đưa đến kiến tánh
thành Phật”, lại nói: “Không có Phật để thành”. Người
đời không tham thiền cũng không thành Phật. Vậy 2 việc này
có khác không?
Đáp:
Vì
chưa kiến tánh thành Phật thì nói là thành Phật, đến chừng
kiến tánh mới biết không có Phật để thành, vì Phật đã
thành sẵn. Kinh Viên Giác thí dụ: “Vàng ở trong quặng đã
thành sẵn”, nhưng không thấy vàng là do lộn đất cát tạp
chất. Muốn thấy vàng thì luyện đất cát tạp chất bỏ
ra. Nếu trong quặng không có vàng thành sẵn, dù luyện cách
mấy cũng không có vàng hiện ra.
Phật
tánh con người đã thành sẵn, nhưng không được hiện ra
là do kiến lập tri kiến làm che khuất. Cho nên, kinh Lăng Nghiêm
nói: “Tri kiến lập tri là căn bản vô minh, không lập tri
kiến là Niết Bàn”. Không kiến lập thì vô sanh vô thỉ.
Người chứng quả ngộ pháp vô sanh, chứng vô sanh pháp nhẫn.
Hỏi:
Con
tham “Nam mô A Di Đà Phật” có được kiến tánh không?
Đáp:
Đó
là niệm Phật, không phải tham Tổ Sư thiền; Tổ Sư thiền
là giữ nghi tình là không hiểu không biết, phải có nghi tình
mới gọi là tham thiền. Nghi là nhân, ngộ là quả; phải từ
nghi đến ngộ.
Người
tu Tịnh Độ chưa tin được tự tâm, nên chưa tin pháp môn
Tổ Sư thiền; khi họ vãng sanh Cực Lạc nhờ Phật A Di Đà
dạy tham thiền là từ nghi đến ngộ. Điều đó ghi trong kinh
Đại A Di Đà của Tịnh Độ.
Thiền
là một tổng danh từ, tất cả pháp môn Phật dạy đều lấy
thiền làm căn bản. Cho đến tà ma ngoại đạo đều cũng
có thiền mới được thành tựu.
Tịnh
Độ có 3 cấp:
Thật
Tướng Niệm Phật là thiền giống như Tổ Sư thiền, vì thật
tướng là vô tướng không cầu vãng sanh. Thật tướng thì
chỗ nào cũng Tịnh Độ, vì tâm tịnh là Phật độ tịnh.
Nhưng bây giờ không thấy ai thực hành.
Quán
Tưởng Niệm Phật có một số ít người thực hành, ghi trong
kinh Quán Vô Lượng Thọ, chính là thiền của Tịnh Độ có
16 pháp thiền quán. Có người tu Tịnh Độ không nhìn nhận,
cũng không biết; cứ tưởng mình không phải thiền, lại cho
thiền chỉ là Tổ Sư thiền.
Cấp
phổ thông là Trì Danh Niệm Phật, niệm “Nam mô A Di Đà Phật”.
Nếu không có thiền, làm sao niệm đến nhất tâm bất loạn!
Nhất tâm bất loạn là định (thiền định), nhưng họ không
thể kiến tánh.
Muốn
ngộ phải có nghi, như ông Newton thấy trái bôm trên cây rớt
xuống, ông nghi tại sao trái bôm không rơi lên? Cho nên, ông
dùng bộ óc tìm hiểu, rồi ngộ được hấp dẫn lực của
quả đất. Theo tư tưởng người thường thấy mọi vật chỉ
rớt xuống, không thể rơi lên. Nhà khoa học biết là không
có trên dưới, như mình hiện giờ đứng chỗ này cho
là trên, còn người Mỹ cho là dưới và ngược lại. Vậy
trên dưới không có nhất định.
Tư
tưởng người Tịnh Độ còn chấp thật, nên không tin tự
tâm. Do đó, họ vòng xa rồi mới đến đích, phải sanh Cực
Lạc rồi mới tham thiền. Nếu bây giờ mọi người có đủ
niềm tin tự tâm thì bắt đầu tham thiền. Như trong Đường
Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền có đề ra 3 đứa bé gái
kiến tánh: Long nữ 8 tuổi, họ Trịnh 13 tuổi và họ Tô 15
tuổi.
Người
Tiểu thừa cho rằng người nữ không thể thành Phật, nói
rằng người nữ có 5 thứ chướng. Thật tế không có chướng,
vì thế cũng được kiến tánh vậy. 3 người kể trên không
tu lâu mà được kiến tánh. Sự thật, kinh Viên Giác nói:
“Tất cả chúng sanh đều đã thành Phật”, Phật còn thí
dụ quặng vàng, vàng vốn đã thành sẵn. Nếu trong quặng
không có vàng, dù luyện cách mấy cũng không có vàng.
Phật
tánh con người cũng vậy, là đã thành sẵn từ hồi nào rồi;
vì lộn với vọng tưởng tham sân si, nên Phật tánh không
hiện lên. Tham thiền là dùng nghi tình dẹp các vọng tưởng
tìm hiểu biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ biết; cuối cùng hiện
lên là kiến tánh thành Phật. Nếu mình không có Phật tánh
thành sẵn thì tu bao lâu cũng không thể thành.
Hỏi:
5
câu thoại đầu của Sư Phụ đưa ra, rồi chọn 1 câu để
tham phải không?
Đáp:
Cái
gì mình nghi thì lấy cái đó để tham, còn không có nghi nên
chọn 1 trong 5 câu để tham; câu thoại đầu rất nhiều, tôi
không thể đưa ra hết, mà chỉ đưa ra 5 câu.
Không
nghi thì không ngộ, cho nên người tu Tịnh Độ được vãng
sanh Cực Lạc, nhờ Phật A Di Đà dạy tham thiền phát nghi
rồi đến ngộ. Tất cả thiền khác cuối cùng cũng phải
phát nghi rồi ngộ, nhưng Tổ Sư thiền là thiền trực tiếp,
các thiền khác là thiền gián tiếp.
Hỏi:
Không
hiểu chơn lý và đạo pháp, nhưng nghe Sư Phụ giảng Tổ Sư
thiền, tin vào đó tham thiền. Vậy có được kiến tánh không?
Đáp:
Có
tư tưởng chấp thật không được kiến tánh, tất cả tôn
giáo có kiến lập chơn lý, chỉ có Phật Giáo không kiến
lập chơn lý. Tại sao? Vì Phật Thích Ca ngộ được bản tâm,
không phải ngộ chơn lý. Các tôn giáo khác ngộ chơn lý, rồi
hoằng dương chơn lý của mình đã ngộ.
Bản
tâm hiện lên, gọi là kiến tánh thành Phật; nói chơn lý
thì bản tâm đã là chơn lý, có kiến lập chơn lý là 2 chơn
lý. Thiền tông gọi là: “Trên đầu mọc thêm đầu”, phải
mời bác sĩ cắt bỏ mới khôi phục đầu bổn lai; vì mỗi
người chỉ có một cái đầu để dùng, nếu thêm một cái
đầu nữa thì chướng ngại.
Người
ấy không biết, nếu nói chơn lý là thành ngoại đạo, không
phải Phật Giáo.
Hỏi:
Cần
hiểu kinh rồi để qua một bên, mới tham thiền phải không?
Đáp:
Nếu
có tư tuởng chấp thật thì coi kinh không thể hiểu, có hiểu
là hiểu kinh bất liễu nghĩa, kinh liễu nghĩa phá chấp thật
làm sao hiểu được!
Những
người chưa có đủ lòng tin, phải làm thế nào để có lòng
tin?
Thì
tự mình ra hỏi, tôi mới giải đáp cho họ được đủ lòng
tin.
Hỏi:
Cuộc
sống hàng ngày trong tương đối, làm sao không lọt vào tứ
cú?
Đáp:
Phật
pháp có danh từ “vô sở trụ” thì không lọt vào tứ cú,
nói dễ mà thực hành rất khó. Hỏi và nhìn không lọt vào
tứ cú. Tại sao? Vì nghi tình là không hiểu không biết. Như
gặp chuyện có thì không biết có, nên không lọt vào cú thứ
nhất; gặp không có cũng không biết không biết không có,
nên không lọt vào cú thứ nhì; cú thứ ba và cú thứ tư cũng
vậy, vì không biết nên không lọt vào tứ cú; tức là giữ
được nghi tình.
Hỏi:
Tham
thiền được ngưng vọng tưởng thường có kiến giải phải
không?
Đáp:
Đó
là tự nhiên rồi.
Làm
cách nào để hết kiến giải?
Hỏi
và nhìn mới hết, tức giữ nghi tình là không hiểu không
biết thì cái biết không thể nổi lên; biết là không phải
tham thiền.
Hỏi:
Ở
nhà tu không có thiền, sao định được?
Đáp:
Tham
thiền là hỏi và nhìn, ở nhà nấu ăn, giặt đồ,… đều
hỏi và nhìn được.
Nếu
mình không ngồi thì không thể định được phải không?
Đi
mỏi chân thì ngồi, ngồi tê chân đứng dậy đi; đi và ngồi
là để điều thân, tứ oai nghi là đi đứng nằm ngồi phải
thay phiên lẫn nhau; đâu thể đứng hoài, hay đi mãi, hoặc
ngồi luôn và nằm lâu!
Có
phải tại gia tu không tinh tấn bằng ở trong đại chúng?
Tôi
có đề ra 3 đứa bé gái đều ở tại gia tu được kiến
tánh, có những người xuất gia cũng không kiến tánh.
Hỏi:
Thế
nào Ngũ Tổ truyền tâm ấn cho Lục Tổ?
Đáp:
Ấn
là con dấu, tâm là vô sở hữu (trống rỗng). Vì vô sở hữu,
nên Lục Tổ nói: “Bổn lai vô nhất vật”, tức là xưa
nay không có vật gì, vậy làm sao để truyền? Như đem hư
không làm sao truyền được? Các cơ quan hay các tiệm lớn
đều có con dấu và ký tên để cho người tin. Thầy ấn chứng
học trò đã ngộ gọi là truyền tâm ấn. Vì vậy, không có
tâm ấn gì để truyền.
Người
khác truyền tâm ấn thì thế nào?
Vì
họ không hiểu Phật pháp, phỉ báng Phật pháp là tạo tội
địa ngục, mà tự mình không hay biết.
Hỏi:
Ngày
xưa, thầy tìm đệ tử truyền pháp hay đệ tử tìm minh sư
rất khó, bây giờ nhiều đệ tử gặp Sư Phụ quá dễ. Vậy
việc ấy như thế nào?
Đáp:
Theo
Phật pháp gọi là nhân duyên, phải có nhân duyên mới được;
như nhân duyên đã gieo trồng nhiều kiếp. Kinh Kim Cang nói:
“Có một lòng tin chân thật thì đã gieo trồng thiện căn
vô lượng kiếp”, còn nói vô lượng Phật đã gieo trồng
thiện căn, nên kiếp này mới có lòng tin trong sạch tin pháp
môn này và tin tự tâm.
Cho
nên, đệ tử muốn gặp minh sư, hay minh sư muốn gặp đệ
tử rất khó. Như Tổ Đạt Ma từ Ấn Độ qua Trung Quốc,
đến 9 năm tìm được Huệ Khả để ấn chứng. Nếu không
có duyên gieo trồng thiện căn nhiều kiếp thì khó gặp nhau.
Hỏi:
Thế
nào là chấp thật?
Đáp:
Chấp
thật có là chấp thật, chấp thật không có là chấp thật,
chấp thật chơn là chấp thật, chấp thật vọng là chấp
thật. Nếu chấp thật thì lọt vào biên kiến (một bên).
Phật Giáo có 5 thứ ác kiến: Thân kiến, biên kiến, tà kiến,
kiến thủ kiến, giới thủ kiến.
Người
giảng kinh thuyết pháp cho tất cả là huyễn hóa, tức chấp
huyễn hóa là thật. Người ta tưởng chấp thật là chấp
có, nhưng họ lại chấp vọng. Nếu chấp có cho là thật thì
bệnh chấp nhẹ nên dễ trị, còn chấp không có là thật
thì bệnh chấp nặng nên khó trị. Tại sao? Vì chấp có thì
dùng không để phá dễ hơn, chấp không dùng có để phá khó
hơn.
Hỏi:
Hàng
mấy chục năm, con thắc mắc câu này: Thường nghe Sư Phụ
nói “Tổ Tổ tương truyền”, đọc sách cũng thấy là Tổ
Tổ tương truyền; khi nghiên cứu kinh thấy Phật Thích Ca sắp
nhập diệt có giao một bài kệ và dặn Ca Diếp giữ gìn pháp
này, rồi sau này giao lại cho A Nan.
Câu
“sau này giao lại cho A Nan”, con không đồng ý. Con trình
bày cho ông nội con biết, nhưng ông ấy nói “mày vô lễ”.
Đến bây giờ con vẫn còn có ý đó, nay đến trình Hòa thượng:
Phật Thích Ca nhập diệt là chuyện của Phật Thích Ca đã
xong rồi, còn chuyện chọn người kế thừa là của Ca Diếp
lo. Vậy Phật lo làm chi?
Nếu
Phật dặn như vậy thì không tin sự kiến tánh của Ca Diếp,
nhưng A Nan trở về sau thì các Tổ được quyền chọn lựa
người kế thừa. Do đó con có nghi vấn?
Đáp:
Ca
Diếp chọn A Nan kế thừa, không phải Phật Bảo Ca Diếp cho
A Nan kế thừa. Kinh Đại thừa liễu nghĩa, Phật rất sợ
người chấp lời của Phật. Ngài Duy Ma Cật quở các vị
Bồ Tát và A La Hán, trong đó có A Nan đi xin sữa cho Phật.
Duy
Ma Cật nói: Phật làm sao có bệnh mà xin sữa để uống?
A
Nan nói: Phật bảo đi xin sữa, tôi đâu có nghe lầm!
Người
nào cũng bị quở là do đuổi theo lời nói để chấp, khi
Phật nói xong liền phủ nhận. Cho nên, Phật nói: “49 năm
thuyết pháp, tôi chưa từng nói một chữ” và “ai nói Phật
có thuyết pháp là người ấy phỉ báng Phật”. Nếu theo
tư tưởng người thường thấy mâu thuẩn. Tại sao? Vì sợ
chấp lời của Phật.
Lời
của Phật là phương tiện để phá chấp chúng sanh. Như bệnh
của chúng sanh là bệnh giả, thuốc của Phật là thuốc giả;
dùng thuốc giả để trị bệnh giả, bệnh giả hết thì thuốc
giả phải bỏ. Kinh Kim Cang nói: “Lời thuyết pháp như chiếc
bè đưa người qua sông”, đưa người qua bờ thì phải bỏ
bè, làm sao còn vác chiếc bè đi chơi?
Cho
nên, kinh Đại thừa liễu nghĩa đều phá chấp thật, nhưng
người ta lại chấp lời kinh. Nếu chấp lời của Phật thì
cũng còn bệnh.
Hỏi:
Chúng
sanh ở đây hoàn toàn chấp thật, khi nào kiến tánh thì bệnh
chấp thật hết phải không?
Đáp:
Phải!
Hỏi:
Có
ý dùng tham thiền để trị bệnh mớ, nhưng lại càng mớ
nhiều. Xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Quên
bệnh thì mới hết bệnh, vì nhớ hoài thì bệnh càng nhiều.
Đó gọi là tâm tạo.
Hỏi:
Khi
đề khởi câu thoại đầu, dùng tâm biết để kích động
nghi tình, có lúc lạc vào bình yên. Vậy như thế nào?
Đáp:
Vậy
là biết, chứ chẳng phải không biết; nếu không biết làm
sao biết bình yên! Nói dùng tâm kích thích là biết, không
biết làm sao dùng tâm kích thích! Cứ hỏi và nhìn song song
giữ nghi tình (không hiểu không biết) là được, không cần
dùng tâm gì hết.
Hỏi:
Tâm
không thì chứa tất cả và hư không chứa tất cả vật. Vậy
có 2 tánh khác biệt, xin Sư Phụ từ bi khai thị?
Đáp:
Không
gian tức là tâm, vì tâm cùng khắp không gian thời gian. Cho
nên, nói: “Tất cả đều do tâm tạo”, không phải tâm và
không gian khác nhau; nếu có khác thì không gọi là bất nhị,
bất nhị là không có khác. Giáo Môn nói: “Tâm, Phật, chúng
sanh không khác biệt”, tất cả vũ trụ vạn vật đều không
khác biệt; mà phát xuất từ nguồn gốc là tâm, lại là vật
do tâm hiện ra.
Tâm
trống rỗng vô sở hữu, không gian thời gian cũng là trống
rỗng vô sở hữu. Cho nên, ngài Long thọ dùng hư không vô
sở hữu để diễn tả tâm. Hư không vô sở hữu là tâm,
nói hư không bao trùm là nhị; tức tâm là tâm, hư không là
hư không.
Hỏi:
Nói
“nhất thiết duy tâm tạo”, sao còn nói “Niết Bàn diệu
tâm”. Con không hiểu chỗ này?
Đáp:
“Diệu”
là bất khả tư nghì, kinh nói “diệu” là không dùng bộ
óc để biết được. Tâm trống rỗng vô sở hữu không thể
suy nghĩ đến. Cho nên, nói là diệu tâm.
Niết
Bàn là cùng khắp thời gian, không sanh diệt thì diệu tâm
cũng không sanh diệt. Diệu tâm là bản tánh của tất cả
chúng sanh.
Hỏi:
Tham
thiền như thế nào cho đúng, để khỏi bị tẩu hỏa nhập
ma?
Đáp:
Vì
họ có ngã chấp, nên có sở cầu, sở đắc, sở sợ; vì
vậy họ bị nhập ma. Tổ Sư thiền phá ngã chấp là vô sở
đắc, vô sở cầu, vô sở sợ; cho nên không bao giờ bị tẩu
hỏa nhập ma.
Nếu
có cái ta mà cầu thì ma thừa dịp đó mới nhập, mình muốn
đắc thì ma liền hiện cái ấy để vào, cái sợ cũng vậy.
Hỏi:
Tại
sao hành giả tu Tịnh Độ hay lạc thiền?
Đáp:
Vì
họ không phải Tổ Sư thiền, ngã chấp của họ rất nặng.
Hỏi:
Tâm
trống rỗng vô sở hữu là mình không ham tài vật danh lợi
phải không?
Đáp:
Không
phải! Hư không trống rỗng nên cô mới quỳ được, nếu
không có chỗ trống làm sao để quỳ? Lo tài vật là tâm không
trống rỗng, nếu buông bỏ thì tâm cũng không trống rỗng.
Trống rỗng thì lấy cái gì để buông bỏ? Tâm trống rỗng
thì làm ăn cứ làm ăn. Như cái nhà có trống rỗng không?
Có
trống rỗng.
Vậy
là hiểu rồi. Nếu không ham danh lợi thì đã không trống
rỗng, vậy có ai để ham danh lợi! Có này có kia thì không
phải trống rỗng, trống rỗng chẳng có vật gì hết.
Hỏi:
Chơn
lý là do các tôn giáo bày đặt ra, vậy có phải là giả lý
không?
Đáp:
Không
phải! Chấp chơn là bệnh nhẹ, chấp giả thì bệnh nặng;
tức là cho giả là thật giả bệnh nặng hơn chấp chơn là
thật chơn.
Chơn
lý là người ta ngồi thiền ngộ được, rồi tự mình làm
giáo chủ cái gì mình đã ngộ, chứ không phải bày đặt
ra. Phật Thích Ca là ngộ bản tâm, không thể lập bản tâm
làm chơn lý. Vì bản tâm là chơn lý, nếu lập chơn lý là
2 chơn lý.
Ngoại
đạo kiến lập chơn lý ngoài bản tâm. Phật Thích Ca nói:
“Ngoài tâm chẳng có pháp, ngoài tâm chẳng có Phật”, cho
nên nói “vạn pháp duy tâm”.
Chơn
còn không kiến lập, làm sao kiến lập giả? Như cái bình
này người ta làm giả là có cái chơn. Chơn không thành lập
thì giả cũng không thể thành lập.
Hỏi:
Thế
nào tu đúng đường lối Tổ Sư thiền?
Đáp:
Thoại
là lời nói, đầu là đầu tiên lời nói; tức là chưa khởi
niệm muốn nói là thoại đầu. Nếu đã khởi niệm muốn
nói, tuy chưa nói ra miệng cũng là thoại vỉ (đuôi), không
phải thoại đầu.
Tham
là dùng một câu thoại để hỏi, như hỏi “khi chưa có trời
đất ta là cái gì?” thì nổi lên niệm không hiểu không
biết; khán là nhìn chỗ không biết, xem chỗ không biết là
gì; nhưng chỗ không biết thì không có chỗ, nên không có
mục tiêu để nhìn; nhìn mãi không thấy gì còn không biết,
Thiền tông gọi là nghi tình. Hỏi và nhìn song song, hỏi để
kích thích niệm không biết, nhìn là là kéo dài niệm không
biết.
Hỏi:
Đến
thoại đầu thì câu thoại ra sao?
Đáp:
Đến
thoại đầu thì câu thoại tự mất, còn cái nghi có thể vài
phút sau kiến tánh, hay vài ngày sau hoặc trong một tháng sẽ
kiến tánh.
Hỏi:
Linh
hồn có đồng với tâm tánh không?
Đáp:
Linh
hồn là người ta bày đặt ra, kỳ thật Phật Giáo không nhìn
nhận linh hồn, mà nói là thần thức, một tâm có 8 thức.
Các tôn giáo khác nhìn nhận linh hồn.
Nhãn,
nhĩ, tỷ, thiệt, thân là tiền ngũ thức; ý thức là thức
thứ 6, thức thứ 7 là mạt na thức, thức thứ thứ 8 là a
lại da thức. Mỗi thức đều có nhiệm vụ của thức đó.
Phật giáo có tông Duy Thức chuyên hoằng Duy Thức.
Tôi
nói nhắm mắt chiêm bao và mở mắt chiêm bao là giảng theo
Duy Thức. Nhắm mắt chiêm bao là độc đầu ý thức biến
hiện, mở mắt chiêm bao là đồng thời ý thức biến hiện.
Hỏi:
Tham
thiền còn biết cái không biết chăng?
Đáp:
Bây
giờ tham thiền còn biết cái không biết, đến thoại đầu
thì không còn biết cái không biết. Vì mình còn có suy nghĩ,
tánh lâu đời là tìm hiểu, ghi nhớ. Đến thoại đầu thì
3 cái biết này chấm dứt, còn có nghi tình là không hiểu
không biết. Cuối cùng sát na lìa ý thức thì cái không biết
cũng tan rã, lúc đó biết và không biết sạch hết; biết
của tự tánh hiện lên, gọi là kiến tánh thành Phật.
Hỏi:
Trạng
thái con hình như bặt hết ý thức, vậy hỏi câu thoại để
kích thích phải là vọng không?
Đáp:
Nói
kích thích là để diễn tả, hỏi câu thoại là tự nhiên
kích thích. Ngài Lai Quả nói: “Chơn tham gọi là vô tham”,
vô tham không phải là không có tham, luôn cả tham thiền không
biết mình đang tham thiền.
Bây
giờ, biết mình đang tham thiền, nên chưa đạt đến chỗ
chân tham. Vì vậy, hành giả muốn hiểu thiền hiểu đạo
cũng không cho.
Hỏi:
Lúc
đi hương và tọa hương, con không biết gì nữa. Vậy như
thế nào?
Đáp:
Nếu
biết không biết gì nữa thì lọt cái biết, lúc không biết
thì thời gian qua rất nhanh.
Như
ngài Hư Vân nhập định nửa tháng, có người hỏi: Ngài nhập
định bao lâu?
Ngài
đáp: Chỉ có chốc lát.
Ngài
Huệ Trì nhập định hơn 700 năm, ngài cũng nói chốc lát.
Lúc
không biết thì không biết có thời gian, còn bây giờ biết
thì không phải.
Lúc
đó con không biết, khi đánh chuông thì biết mình đang ngồi
thiền?
Không
còn biết đó gọi là định, nhưng tham Tổ Sư thiền luôn
luôn phải có hỏi và nhìn để giữ nghi tình, giữ được
nghi tình thì hoàn toàn không biết.
Hỏi:
Không
biết của người đề câu thoại đầu khởi nghi tình thì
đúng phương pháp tu. Nhưng cái không biết không nghe, một
lúc giựt mình biết là vô ký không chăng?
Đáp:
Không
phải nhất định là vô ký không, mới tập tham thiền giữ
được nghi tình thì tự nhiên không biết; nhưng cái không
biết này là do hỏi và nhìn.
Vô
ký không là không có vọng tưởng và không có nghi tình. Hỏi
và nhìn thoại đầu đang tiến hành mà không biết, tức là
giữ được nghi tình. Ánh sáng mặt trời không bao giờ ngưng
chiếu, cũng như cái biết của chúng sanh không bao giờ ngưng
biết.
Nếu
cái không biết đó khi mình sựt tỉnh, thấy còn đang đề
câu thoại có nghi tình thì thật sự không biết của nghi tình
phải không?
Phải
rồi!
Hỏi:
Phật
tánh chúng sanh sẵn sàng cùng khắp hư không, sao kinh Kim Cang
nói “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”?
Đáp:
Tâm
trống rỗng vô sở hữu thì không có chỗ để trụ; cho nên
nói “lấy vô trụ làm gốc”, vì trống rỗng nên dung nạp
và ứng dụng. Sanh kỳ tâm là dụng, trống rỗng là vô sở
hữu; tức là tánh không, không là hiển bày cái dụng. Muốn
dùng thì phải có cái không, như tách này bít hết là tách
chết nên không dùng được, vì có cái không (trống rỗng)
mới dùng được.
Các
vị đang ngồi, nếu không có khoảng trống thì không thể
ngồi. Cho nên cái dụng của tâm hiện ra là vô sở trụ. Vô
sở trụ không có kiến lập nên gọi là vô thỉ vô sanh, kiến
lập thì có sở hữu nên dụng bị chướng ngại.
Ví
dụ cái tay là tự tánh hoạt bát vạn năng, muốn lấy cái
gì cũng được. Nếu có sở trụ như tay cầm nón thì hoạt
bát vạn năng của tay bị mất, nên lấy cái gì nữa không
được.
Tham
Tổ Sư thiền dùng nghi tình là cây chổi automatic quét sạch
cái biết của bộ óc được trống rỗng, nên dụng tự tánh
hiện ra.
Tay
cầm vật là pháp có, nếu không cầm vật và tự làm nắm
tay là pháp không thì mất hết dụng hoạt bát vạn năng của
tay, muốn lấy vật gì cũng không được. Cho nên, cần phải
buông nắm tay khôi phục lại cái dụng hoạt bát vạn năng
của tay.
Vì
vậy, nói “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, sanh kỳ tâm
là cái dụng của tâm hiện ra, nhưng hiện ra là từ chỗ vô
trụ. Lục Tổ nói: “Lấy vô trụ làm gốc”, Duy Ma Cật
nói: “Từ gốc vô trụ lập tất cả pháp”, tức là từ
gốc vô trụ dung nạp và ứng dụng.
Hỏi:
Khi
ngồi có một khoảng không hiểu không biết, có 2 trường
hợp: Lọt vào vô ký không và định. Làm sao biết được
định hay vô ký không?
Đáp:
Khi
giữ được nghi tình thì không biết, nếu muốn biết vô ký
không là biết, biết định cũng là biết. Cho nên, không được
móng tâm biết định hay vô ký không, giữ được nghi tình
là định.
Các
vị nhập định một thời gian dài là các vị muốn như vậy
phải không?
Không
phải! Vọng tưởng hết không còn nổi lên thì được vào
định, đó là tự nhiên.
Chừng
nào hết định thì tự nhiên hết, vị ấy cũng không biết
phải không?
Xuất
định là có xuất nhập, đại định không có xuất nhập,
như đang nói chuyện cũng định. Lục Tổ nói: “Cầm đao
kiếm ra trận cũng định”, định này không xuất nhập gọi
là Na Già định.
Hỏi:
Hành
như phong, tọa như chung, lập như tùng, ngọa như cung. Vậy
ngọa như cung là như thế nào?
Đáp:
Theo
sinh lý của mình phải nằm nghiêng qua bên mặt, đầu đến
chân co lại giống như cái cung, tay mặt lót dưới đầu làm
gối, tay trái để xuôi trên hông trái. Ngọa (nằm) như cung
là giống tượng Phật nhập Niết bàn. Theo nằm như vậy thì
phổi không bị đè, có ích cho sức khỏe hơn nằm ngửa hay
nằm bên trái.
Các
vị ở rừng núi, nếu nằm nghiêng bên mặt thì cọp
sư tử không thể làm hại, vậy đúng không?
Không
phải vậy! Cọp sư tử không làm hại là người ấy không
có nhân đó thì không bị cái quả. Những người có thiền
định nên sức của tâm mạnh, tự nhiên sức tâm yếu của
sư tử cọp không dám lại gần.
Hỏi:
Dạy
cho con giảm được nghiệp khổ?
Đáp:
Tham
Tổ Sư thiền là dùng không hiểu không biết (nghi tình) để
tu, thì dễ định không bị ngoại cảnh quấy phá, như thấy
đẹp không biết đẹp nên không ham thích, thấy xấu không
biết xấu nên không chê bai. Vì vậy, buồn vui yêu ghét tự
nhiên chấm dứt. Được định thì sức tâm mạnh nên cọp
beo đều phải sợ.
Tâm
lực mình mạnh đối diện người tâm lực yếu, ý niệm yếu
chìu theo ý niệm mạnh. Cho nên, người tham thiền có sức
của tâm tăng thì sửa được nghiệp.
Những
người có tiền vượt biên trên biển bị chết đói, có tiền
do có thiện nghiệp, chết là do có ác nghiệp. Hai nghiệp không
thể trừ với nhau, cho nên họ có tiền cũng bị chết đói.
Theo có tiền thì không thể chết đói, nhưng có chỗ, tiền
cũng không dùng được. Vì vậy, cũng phải bị chết đói.
Ví
dụ tạo nghiệp chết đói là 1 độ, tham thiền có tâm lực
từ 1 độ lên đến 10 độ; nên nghiệp chết đói lui lại
sau, cái quả của nghiệp 10 độ đến trước. Nếu không tham
thiền thì tâm lực 10 độ hết dần còn 1 độ, nghiệp chết
đói cũng phải hiện ra.
Từ
10 độ mà tham thiền có sức tâm 1.000 độ thành Phật thì
nghiệp chết đói 1 độ không có cơ hội đến, nhưng thành
Phật là cứu độ chúng sanh, tức trước kia làm cho họ bị
chết đói thì họ được ưu tiên độ trước, nên nghiệp
mới tiêu (tự mình sửa lại nghiệp mình). Cho nên, tham Tổ
Sư thiền mới sửa được nghiệp.
Như
hỏi “khi chưa có trời đất ta là cái gì?”, cảm thấy
không biết, rồi nhìn chỗ không biết thì không có chỗ nhìn,
nên thấy trống rỗng không có gì, vẫn còn không biết. Nếu
giữ không biết miên mật thì đến thoại đầu sẽ kiến
tánh thành Phật.
Hỏi:
Nhiều
năm niệm lục tự Di Đà được không?
Đáp:
Được,
vì dùng tâm biết thì dễ bị ngoại cảnh lôi kéo, thế nào
cũng có chuyện buồn vui yêu ghét, nên sức của tâm không
được mạnh. Cho nên, mấy chục năm không thấy gì là vậy.
Hỏi:
Con
chỉ hỏi “về đâu” và nhìn ngay đó, mà không hỏi nguyên
câu được không?
Đáp:
Không
được! Phải hỏi nguyên câu, nếu bỏ đoạn trên thì dễ
ra đáp án. Như chỉ hỏi “Ta là gì?”, bỏ “khi chưa có
trời đất” cũng có nghi tình, nhưng dễ có đáp án. Ta là
đàn ông, ta là đàn bà, ta là người,… Khi chưa có trời
đất thì khó biết được, cho nên không được bỏ đoạn
trên.
Hỏi:
Tham
thiền lúc nào cũng phải giữ nghi tình cho miên mật và nhờ
có tánh không nên mình ngồi đây, mà tánh không là tâm; nhưng
trong đầu mang nghi tình, làm sao có tánh không được?
Đáp:
Nghi
tình là không biết tức trống rỗng, chính người hỏi câu
đó lấy nghi tình làm một vật gì, thành ra không có trống
rỗng.
Xem
Tiếp Phần 2 Của Trang Này