THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
 

 

c
KHAI THỊ THIỀN THẤT tại THIỀN ĐƯỜNG TAM BẢO 
Hoà Thượng Thích Duy Lực
Thích Đồng Thường Lập Thành Văn Tự
Mục Lục
Trang 01
Trang 02
Trang 03
Trang 04
Trang 05
Hỏi:
Chưa tham thiền thì ít bệnh, sau tham thiền thì bệnh nhiều; là nghiệp mình phải trả hay tu sai?

Đáp:
Có nghiệp nhân phải chịu nghiệp quả, ấy là nhân quả. Nếu quyết tử tham thiền thì tâm lực ngày càng mạnh thêm, có thể sửa lại nhân quả. Như trước kia làm ác, đáng lẽ khổ quả đến; làm thiện thì tâm lực mạnh, thiện quả đến trước khổ quả dời lại sau. Nếu cứ tăng làm thiện thì quả khổ ẩn sâu, mình làm ác nhiều hơn thiện thì khổ đến liền.
Ba đời nhân quả là nhân quả kiếp trước, kiếp này, kiếp sau; có thể đến 10 kiếp. Trước kia không tu nhưng quả khổ chưa đến, hay quả thiện đến trước. Không phải tu là bị quả ác?
Có phải tu là hết cái quả khổ không?
Không phải hết, mà cái quả khổ lui về sau; cái nhân không thể hết.

Hỏi:
Tham thiền hay nhức đầu phải máu lên không?

Đáp:
Tất cả bệnh là do nghiệp nhân, nếu sửa lại nghiệp nhân thì bệnh sẽ hết dần. Do tham thiền có nghi tình ảnh hưởng không sao, cơ thể bệnh phải đi thầy thuốc để chữa bệnh.
Hỏi:
Kiến tánh được thông kinh điển không?

Đáp:
Ông cần lo kiến tánh, chứ đừng lo sau khi kiến tánh mà không biết! Kiến tánh thì cái gì cũng biết, tức là đoạn dứt nghi căn. Bây giờ không biết nên có nghi. Như trên mặt trăng mặt trời có một chút không hiểu mới nghi. Khắp không gian chỗ nào cũng hiểu thì hết nghi.

Hỏi:
Tham Tổ Sư thiền sao biết mình hành đúng hay không và tiến bộ hoặc không tiến bộ?

Đáp:
Nghi tình là không hiểu không biết, nếu hỏi và nhìn song song để giữ nghi tình. Giữ được nghi tình thì không biết, làm sao biết đúng hay không đúng! Nếu biết đúng và không đúng là biết rồi. Không giữ nghi tình thì còn biết, không phải tham thiền.
Công phu miên mật là tiến bộ, như ngày đêm công phu 24/24 là đến thoại đầu; đến thoại đầu sắp kiến tánh. 
Tham thiền có nghi tình 1 phút, mỗi ngày nghi tình tăng 1 phút thì 4 năm đến thoại đầu sẽ kiến tánh, nếu mỗi ngày nghi tình tăng ½ phút thì 8 năm đến thoại đầu sẽ kiến tánh, nếu mỗi ngày nghi tình tăng ¼ phút thì 16 năm đến thoại đầu sẽ kiến tánh. Mỗi ngày nghi tình tăng ít thì lâu đến thoại đầu, mỗi ngày nghi tình tăng nhiều thì mau đến thoại đầu.

Hỏi:
Kính xin Sư Phụ khai thị bài kệ kinh Lăng Nghiêm Tông Thông:
Sơ ư văn trung
Nhập lưu vong sở
Sở nhập ký tịch
Động tịnh nhị tướng
Liễu nhiên bất sanh
Như thị tiệm tăng
Vô sở văn tận
Tận văn bất trụ
Giác sở giác không
Không giác cực viên
Không sở không diệt
Sanh diệt ký diệt
Tịch diệt hiện tiền.

Đáp:
Quan thế Âm diễn tả quá trình tu của mình là văn, tư, tu. Ban đầu ở nơi nghe, nhập thánh lưu quên sở nghe. Sở nghe đã hết, lúc đó 2 tướng động và tịnh đều không sanh khởi. Sự tu tiến tới thì năng nghe và sở nghe đều hết, chẳng trụ nơi hết. Mặc dầu, chẳng trụ nơi hết, nhưng có cảm giác thì có năng giác sở giác. 
Đến đây năng giác sở giác cũng không thì không giác cực viên, nhưng còn có cái không. Năng không sở không cũng diệt thì chẳng có cái gì để diệt. Cho nên, tất cả sanh và diệt đã diệt xong thì tịch diệt hiện tiền, tức là tự tánh hiện ra.

Hỏi:
Tánh nghe và tánh thấy có khác nhau không? Nên dùng chỗ nào để tu hành?

Đáp:
Tánh nghe và tánh thấy không khác; tánh nghe, tánh thấy, tánh ngửi, tánh nếm, tánh xúc, tánh biết đều là dụng của tâm. Do lục trần có khác, thành ra chia làm 6 thứ để đối với trần. 5 thứ trước là ở trước mắt là sắc, thinh, hương, vị, xúc. Cho nên gọi là tiền trần.
Pháp trần không phải ở trước mắt, mà ở xa, ở quá khứ, ở vị lai thì dùng ý căn (ý thức, tánh biết). Trong kinh Lăng Nghiêm giải thích rất kỹ. Đó là theo lục trần mà phân ra nhiệm vụ, chỉ là một thứ, chứ không có 6 thứ. Như mình thấy sắc đó có tiếng thì thấy nghe cùng một lượt, nếu có tỏa ra mùi hương cũng là một lượt, hay là lúc ấy tay mình đụng cái đó thì 4 tánh cùng một lượt.
Như tánh thấy, tánh nghe, tánh ngửi, tánh xúc cùng một lượt, như vậy đâu phải một thứ! Cùng một lượt thì không khác; tức là cái dụng của tâm. Vì tâm khắp không gian thời gian thì không sanh diệt, nên dụng cũng không sanh diệt. Cho nên, kinh Lăng Nghiêm giải thích những tánh ấy tồn tại vĩnh viễn. Xác thân này chết, tánh thấy, tánh nghe, tánh ngửi,… vẫn tồn tại vĩnh viễn không chết mất.

Hỏi:
Nhờ tâm sáng mà thấy tánh phải không?

Đáp:
Không phải, vì tâm không có sáng tối; bây giờ mình dùng được là do kiến lập sở hữu của mình, thành ra có chướng ngại. Tâm là vô sở hữu (trống rỗng), nếu có kiến lập thì không còn trống rỗng.

Hỏi:
Tại sao không gọi là kiến tâm, mà gọi là kiến tánh?

Đáp:
Vì ông chấp danh từ, cho tâm và tánh khác nhau; Phật tánh, Tự tánh, Bản tâm đều là bất nhị. Do cái dụng nên có nhiều danh từ. Như dụng khắp hư không chẳng có khứ lai nên gọi là Như Lai, để diễn tả không có khứ lai, chỉ là đúng như bản lai. Khắp thời gian không có gián đoạn, tức không có sanh diệt, nên gọi là Niết Bàn. Vì trống rỗng không dính mắc cái gì, nên gọi là vô trụ hay là tánh không. Tâm này có tánh giác ngộ nên gọi là Phật tánh.
Danh từ có thể đặt ra nhiều, nhưng bản thể không khác; luôn cả cái biết nhiều thứ, nhưng bản tri không thể hai được. Đừng đuổi theo danh từ, phải biết nguồn gốc là vô sở hữu. Hiện giờ ông quỳ, nếu không có chỗ trống rỗng thì ông quỳ ở đâu? Phải nhờ chỗ trống rỗng thì có chỗ để quỳ.
Tôi với ông nói chuyện phải nhờ trống rỗng, đang dùng tâm mình; nhưng mình không chịu nhìn nhận, lại đi tìm các danh từ. Danh từ ấy không có thật, mà trước mắt cái thật là ông đang dùng trống rỗng của tâm. Kỳ thật, ông không lúc nào mà không dùng, ăn cơm, mặc áo, tiếp khách, làm việc,… suốt ngày đêm, cho đến chân trời góc biển đang dùng; dẫu cho chết cũng đang dùng.
Nhưng đang dùng thì ông lại bỏ, lại tìm những danh từ mà không có gì. Tâm là một danh từ mà ai cũng nói được, tâm là thế nào đâu có biết! Bây giờ ông cứ hỏi và nhìn thì tự động quét sạch biết và không biết của bộ não, bản tâm toàn diện hiện ra, gọi là kiến tánh thành Phật. Ông nói kiến tâm cũng được, vì có danh từ là minh tâm kiến tánh, chứ không phải kiến tánh mà không được minh tâm!

Hỏi:
Nhục thể của con người thường gây trở ngại, tại sao con người cần có nhục thể mới tu hành được? Còn người quá vãng rồi thì không tu hành được?

Đáp:
Nhục thể không phải chướng ngại, do chấp nên mới có chướng ngại; như tâm ông chấp thật nên có chướng ngại, nếu không chấp thật thì không có chướng ngại, cái gì vẫn y như cũ. 
Kinh Pháp Hoa nói: “Pháp đó trụ nơi pháp, tướng thế gian thường trụ”, nghĩa là pháp nào trụ nơi pháp đó, như pháp nhục thân trụ theo pháp nhục thân; pháp sanh trụ nơi pháp sanh; pháp diệt trụ nơi diệt; pháp tách trụ nơi tách; pháp bình trụ nơi bình.
Cái gì vẫn y như cũ, đừng đem ý mình xen vô cho là vậy mới đúng, cho là vậy không đúng. Nếu không có ý mình xen vô thì nhục thân chẳng có chướng ngại. Ông cho chướng ngại nên mới có chướng ngại. Cho nên, tham thiền là hỏi và nhìn không cho ý niệm nổi lên thì không có chướng ngại.

Hỏi:
Tăng Chí Thường học đạo với Hòa Thượng Đại Thông nhưng chưa kiến tánh, rồi đến Lục Tổ khai thị bài kệ:
Không thấy pháp còn chấp thấy không,
Cũng như mây án mặt trời Đông.
Không hay một pháp không còn biết,
Chẳng khác nghĩa quang chớp nửa không.
Chỗ biết thế này còn tạm phải,
Nhận lầm phương tiện khác tình không.
Lỗi thay chỗ ấy ngươi liền biết,
Tự tánh linh quang hiện tỏ cùng.
Kính xin Sư Phụ nhận xét bài kệ trên?

Đáp:
Bài kệ này dịch chưa đúng, vì còn tư tưởng chấp thật. Theo bản hán văn:
Bất kiến nhất pháp tồn vô kiến,
(Chẳng thấy một pháp thành vô kiến), 
Đại tự phù vân giá nhật diện.
(Như mây đen che khuất mặt trời). Mặt trời luôn chiếu không bao giờ ngưng, vì mây đen che khuất mới không thấy mặt trời.
Bất tri nhất pháp thủ không tri, 
(Chẳng biết một pháp thành vô tri). Con người chết, tánh biết, tánh thấy, tánh nghe,… tồn tại vĩnh viễn. Vì người này chấp thật cho là bị mất.
Hườn như thái hư sanh thiểm diệm.
(Lại như hư không sanh ra điện chớp). 
Thử chi tri kiến miết nhiên hưng,
(Như thế vẫn còn chấp tri kiến), không phải không có tri kiến.
Thố nhận hà tằng giải phương tiện.
(Nhận lầm chưa hiểu thấu phương tiện). 
Nhữ đương nhất niệm tự tri phi,
(Ngươi phải trong niệm tự biết quấy),
Tự kỷ linh quang thường hiển hiện.
(Aùnh sáng tự tánh thường hiển hiện). Aùnh sáng tự tánh giống như mặt trời luôn luôn hiển hiện, ban đêm không thấy mặt trời, không phải do mặt trời không chiếu, vì bị trái đất che khuất. Do mình chấp sanh kiến giải, cho nên tự tánh bị che khuất, chứ không phải ánh sáng tự tánh có ngưng chiếu. Thân mình chết nhưng tự tánh vẫn còn chiếu.

Hỏi:
Duy Ma Cật là cư sĩ sao dám quở Xá Lợi Phất đang ngồi im lặng trong rừng và ông cho rằng: “Tâm trụ pháp ấy là mình trói lấy mình”. Xin Sư Phụ khai thị?

Đáp:
Duy Ma Cật không những quở Xá Lợi Phất đã chứng quả A La Hán của Tiểu thừa, mà các vị Bồ Tát của Đại thừa cũng bị quở. Phàm có chỗ trụ đều bị quở, vì bản thể trống rỗng vô sở hữu không có chỗ để trụ nên gọi là vô sở trụ. Lục Tổ nói: “Lấy vô trụ làm gốc”, Duy Ma Cật nói: “Từ gốc vô trụ lập tất cả pháp”. Tất cả pháp đều nhờ vô trụ sanh khởi cái dụng.
Ví dụ tay là bản thể vô trụ hoạt bát vạn năng, lấy mặt kiến, khăn, tách,… đều được. Hoạt bát vạn năng là không trụ chỗ nào, nếu trụ vào mặt kiến thì hoạt bát vạn năng bị đánh mất, lấy cái gì không được. Tham thiền là dùng nghi tình quét sở trụ ra thì khôi phục lại bản tánh vô trụ, nên dùng cái gì cũng được.
Cái này là pháp có, nếu trụ nơi không cũng làm mất hoạt bát vạn năng của bản tánh, thì lấy cái gì cũng không được. Cho nên, cái không này cũng phải quét. Kinh Kim Cang nói: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, sanh kỳ tâm là dùng, nhưng vô sở trụ mới dùng được. Có sở trụ là bị mắc kẹt.

Hỏi:
Người theo tôn giáo khác, thực hành Tổ Sư thiền thì tôn giáo mình có chướng ngại gì không?

Đáp:
Không có chướng ngại, tất cả chúng sanh động vật, con người của các tôn giáo đều cùng một tâm. Phật Giáo nói là tôn giáo thì không đúng. Tất cả kinh điển của Phật đều muốn hiển bày tâm, loài nào có tâm là ở trong Phật Giáo. Tất cả tôn giáo, nhà khoa học, triết học đều ở trong tâm này.
Cho nên, Phật Giáo không bài xích tôn giáo nào cả, vì tất cả đều có tâm. Tôn giáo có bài xích tôn giáo khác của mình. Tâm có tánh giác ngộ nên gọi là Phật tánh, chữ “Phật” nghĩa là giác ngộ, chứ không phải là cái gì! Người ta hiểu lầm cho Phật là một thần linh, giống như các tôn giáo khác có sức bảo vệ, ban phước người ta. 
Phật không phải như vậy. Phước hay họa là do tự mình làm ra, Phật không thể ban phước cho người, cũng không thể gán tội cho người. Không phải không tin tôi phạt xuống địa ngục, nếu tin tôi cho lên Thiên Đườøng. Người không tin Phật, nếu có xuống địa ngục, Phật còn xuống địa ngục đưa họ lên. Vậy đâu có phạt ai xuống địa ngục!
Nhưng Phật không ban phước cho người nào, phước đó là người ấy tự tạo, gọi là tất cả do tâm tạo. Người nào tạo nghiệp địa ngục thì phải xuống địa ngục.

Hỏi:
Được học pháp tham Tổ Sư thiền rồi, có được phép chỉ lại cho người khác biết không?

Đáp:
Chỉ được nhưng phải đúng, nếu không đúng có hại cho người thì có tội. Điều thứ nhất trong Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền là vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ. Bất cứ làm việc gì có hại đến người thì có tội.

Hỏi:
Tham thiền một thời gian, cơ bắp con bị co giựt và có lúc đi đường không biết đi đâu, một hồi lâu nhớ lại. Vậy làm con hoang mang không biết sức khỏe yếu hay do tham thiền có?

Đáp:
Tất cả thiền khác cũng có tình trạng như vậy, khi bớt vọng tưởng. Cảnh giới ấy như điện giựt, kiến bò, cứng mình, mình mềm, thân lạnh, thân nóng,… nhiều thứ cảm giác. Nhưng cảm giác đó là sai lầm, mặc kệ không để ý đến nó thì sẽ tự hết.
Đang lái xe ngoài đường, có nghi tình không thấy xe cộ, nhưng không bao giờ bị đụng xe. Nếu có sợ tức là biết thì có thể xảy ra tai nạn. Cho nên, tập tham thiền không nên tập trong lúc đang làm việc. Tập tham thiền lúc không làm việc.
Như mỗi ngày làm việc 8 giờ, còn lại 16 giờ để tập tham thiền; khi 16 giờ đã quen thuộc thì lúc làm việc tham thiền tự động. Đang đi mà nghi tình nổi lên làm cho mình không biết đi đâu, việc này không có sao. Pháp môn này là đưa mình đến tự do tự tại, công việc đó có chậm trễ cũng không hại gì!
Giới Bồ Tát xuất gia và giới Bồ Tát tại gia nói: “Nếu mình đã thọ giới Bồ Tát đang đi trên xe, thấy người bị tai nạn dưới đường không có người giúp đỡ; mình phải xuống xe để cứu người, cứu xong rồi tìm xe khác đi tiếp. Nếu không như vậy thì phạm giới Bồ tát”. Như vậy tự nhiên việc của mình bị chậm trễ, nhưng không sao.

Hỏi:
Không nghĩ thiện không nghĩ ác, lúc đó là cái gì bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?

Đáp:
Trên là câu thoại đầu để tham, hỏi câu đó là kích thích một niệm không biết, nhìn chỗ không biết; chứ không phải bảo người ta đừng nghĩ thiện đừng nghĩ ác. Bản tâm là không phải thiện, không phải ác. 
Cho nên, lúc đó không có thiện ác nổi lên, bản lai diện mục (tự tánh) là thế nào? Câu này là mình tự hỏi, không phải suy nghĩ thiện ác; suy nghĩ là sai lầm. Khỏi cần suy nghĩ, lại chấm dứt suy nghĩ. 
Vì vậy, nói “chẳng nghĩ thiện, chẳng nghỉ ác”, do Lục Tổ lập ra câu thoại đầu.  Chính nghi tình là chấm dứt suy nghĩ biết, tìm hiểu biết, ghi nhớ biết. Có người lấy câu này làm câu thoại đầu để tham, nhưng người ấy lấy tên mình thay thế cho Thượng tọa Minh.

Hỏi:
Thế gian có cái thấy biết chân thật không?

Đáp:
Biết thì không đúng, vì pháp môn này dùng cái không biết để tu; tức là giữ nghi tình không hiểu không biết. Nếu có khám xét là sai lầm, vì tìm hiểu để biết. Cứ hỏi và nhìn để giữ niệm không hiểu không biết, hỏi và nhìn song song.
Đến thoại đầu là Công phu 24/24 sắp kiến tánh. Tham thiền có nghi tình một ngày chỉ được 1 phút, mỗi ngày nghi tình tăng 1 phút thì 4 năm đến thoại đầu, mỗi ngày nghi tình tăng được ½ phút thì 8 năm đến thoại đầu, mỗi ngày nghi tình tăng ¼ phút thì 16 năm đến thoại đầu. Tùy theo công phu của mình tiến triển, chứ không thể hỏi chừng nào đến thoại đầu.

Hỏi:
Vậy có cần người chứng minh không?

Đáp:
Không cần ai chứng minh mà tự mình thực hành đúng, như mình muốn đi thành phố Hồ Chí Minh phải đi. Nếu không đi mà cứ nói làm sao đến được? Mình đi phương tiện nào cũng sẽ đến, không bao giờ có đi mà không đến; chỉ đi sai đường thì không thể đến.

Hỏi:
Tham thoại đầu và niệm thoại đầu khác nhau như thế nào?

Đáp:
Niệm thoại đầu là không có thắc mắc (nghi tình), tham thoại đầu có thắc mắc là không hiểu không biết.

Hỏi:
Lúc đi chợ con đề câu thoại đầu lên, vậy tham hay niệm?

Đáp:
Đề khởi câu thoại đầu là niệm, nhìn chỗ không biết là tham. Tham thiền phải có hỏi có nhìn.

Hỏi:
Tham thiền chưa kiến tánh, chết đi về đâu?

Đáp:
Chưa kiến tánh phải luân hồi theo nghiệp đi đầu thai. Kiến tánh thì sanh tử tự do, cũng không đi về đâu. Vì bản thể của tâm khắp không gian không có khứ lai, cho nên gọi là Như Lai. Nếu có đi về đâu chưa phải kiến tánh, vì còn có chỗ; tức là không cùng khắp không gian.

Hỏi:
Chúng sanh có hình tướng khác nhau, vì có tâm niệm khác nhau, cho nên hiện ra hình tướng như vậy, có đúng không?

Đáp:
Không phải! Hình tướng là do mình tạo, giàu sang hay nghèo khổ cũng do mình tạo,… Cho nên nói: “Tất cả do tâm tạo”.

Hỏi:
Thế nào nấu ăn cũng tham thiền?

Đáp:
Không những nấu ăn, mà giặt đồ cũng tham thiền, hay làm thợ hồ thợ mộc đều như vậy. Đến công phu tham thiền tự động thì lúc nào cũng tu, như cô Hằng Thiền đang làm thợ may đang tham thiền, các vị khác đang lái xe cũng đang tham thiền.

Hỏi:
Khi chưa ngộ thì người đuổi theo pháp, ngộ rồi thì pháp theo người. Xin Sư Phụ khai thị?

Đáp:
Đã ngộ rồi làm chủ cho mình thì pháp theo người, chưa ngộ nên mình chưa làm chủ được thì người đuổi theo pháp, tức bị cảnh chuyển.
Cho nên, có câu: “Nếu được chuyển vật tức đồng Như Lai”. Bị cảnh chuyển là mình thấy cái nào tốt ưa thích, cái nào xấu chê bai tức đuổi theo pháp.

Hỏi:
Đề câu thoại đầu lên rồi nhìn, vậy có phải nhìn câu thoại vỉ không?

Đáp:
Bắt đầu tham thiền là lìa thoại vỉ chưa đến thoại đầu, còn đang đi ở giữa đường. Ví dụ cây viết cho ý thức, đầu trên là thoại đầu, đầu dưới là thoại vỉ, từ thoại vỉ đến thoại đầu là đường đi ý thức. Ý thức có mặt biết và có mặt không biết. Dùng mặt biết tu gọi là Như Lai thiền, dùng mặt không biết tu gọi là Tổ Sư thiền. Hai cách tu này cuối cùng đều đến thoại đầu.
Nhưng bây giờ chưa đến thoại đầu thì vọng niệm thường khởi lên, vọng niệm xen lộn với nghi tình; đến thoại đầu là hoàn toàn không có vọng niệm, tức là không khởi niệm nào, cũng gọi là vô thỉ vô minh, đầu sào trăm thước, nguồn gốc ý thức. Đến chỗ này là đường đi ý thức đã hết, cho nên chỗ này tiến lên một bước là lìa khỏi ý thức. Sát na lìa khỏi ý thức gọi là kiến tánh thành Phật.

Hỏi:
Đề câu thoại đầu liên tục và nhìn liên lục hay có cách khác?

Đáp:
Đề câu thoại đầu liên tục và nhìn liên tục, hai thứ cùng một lượt.

Hỏi:
Mộng Du Tập của ngài Hám Sơn nói: “Cổ Đức nói, ngộ pháp vô sanh thì thấy sát na”. Xin Sư Phụ khai thị?

Đáp:
Sát na là thời gian ngắn, ngày đêm là 24 giờ; thời gian không phải 24 giờ, đó là do con người phân ra. 1 giờ phân thành 60 phút, 1 phút phân làm 60 giây, nhà Phật đem 1 giây chia thành 60 sát na. Thời gian sát na rất nhanh nên bộ óc khó tưởng tượng. Khi nói hiện tại 1 sát na thì sát na đó đã qua, tức hiện tại không thể thành lập. Hiện tại không thành lập làm sao thấy được?
Như toán học có chia hoài thì vẫn còn, ví dụ đem 1 sát na chia làm 60 A, 1 A chia làm 60 B, 1 B chia làm 60 C; tôi chỉ chia 3 lần, khi tôi nói hiện tại 1 C thời gian, nói chưa dứt thì đã qua mấy trăm mấy ngàn C rồi. Hiện tại không thể thành lập thì quá khứ, vị lai cũng không thành lập; thời gian đó chỉ con số, không biết thật tế.
Người đã kiến tánh thì sự hiểu biết khắp thời gian, cho nên chia nhỏ cách mấy vẫn ở trong đó rõ ràng. Bởi vì việc ấy tự động, không phải dùng bộ óc tìm hiểu; bây giờ dùng bộ óc tìm hiểu. Một sát na tìm hiểu không ra, nếu chia thêm nữa làm sao tìm ra được? Thời gian thật tế thì vô duyên tri rõ ràng, bất cứ chia đến mức nào cũng rõ ràng. Vì cái biết này tự động, không phải dùng cái biết bộ óc tìm hiểu. 
Cái biết này đã sẵn từ hồi nào rồi, cho nên không thể nói là sắp biết. Nếu sắp biết thì có gián đoạn, như mặt trời không thể nói là sắp chiếu. Nói trời gần sáng thì mặt trời sắp chiếu không đúng với thật tế. Vì mặt trời không có ngưng chiếu làm gì có sắp chiếu. Cái biết (bản tri) của chúng sanh cũng vậy, đâu có sắp biết mà nói ngưng biết!
Mặc dầu, có cái biết đó ứng dụng hàng ngày, nhưng chẳng tự biết. Người kiến tánh thì cái biết tự động luôn luôn khắp không gian khắp thời gian, chứ không phải dùng cái biết bộ óc mới biết được; khỏi cần dùng mà nó tự dùng.
Ví dụ cảm giác lớp da, nhà sinh lý học nói là xúc giác, nhà Phật nói là xúc trần, nhưng chỉ lấy cái xúc để diễn tả. Sự thật, có xúc hay không xúc nó đều biết. Cái xúc giác cùng khắp toàn thân của cơ thể, như tiếp xúc ngón tay nhưng cùng cơ thể đều biết. Không tiếp xúc nó cũng biết vậy.
Nếu không biết thì tại sao biết không tiếp xúc? Chứ không phải không tiếp xúc thì nó ngưng làm việc. Vì cái biết đó luôn luôn sẵn sàng. Như ban đêm ngủ mê, có muỗi cắn chỗ nào thì cũng tự động gãi ngay chỗ ấy. Cho nên, người kiến tánh thì cái biết tự động, từ sát na chia nhiều lần nhỏ nữa thì cũng tự động biết. Còn những người thường không biết.

Hỏi:
Sao trong này có ý ngược phần trước: Cổ Đức nói “Người ngộ vô sanh thấy sát na, nhưng đã ngộ vô sanh lại có sát na nào có thể thấy! Nếu có thấy sát na thì chẳng thể ngộ vô sanh. Nay sao lại nói người ngộ vô sanh thấy sát na? Thế thì, vô sanh và sát na là một hay khác? Phật y nơi bất sanh thuyết sát na thì chẳng phải khác”. Tổ sư nói: “Ngộ vô sanh mới thấy sát na thì vô sanh và sát na chẳng phải một, nếu lìa một và khác mà cầu thì ý vô sanh cũng là cột cột lừa”?

Đáp:
Phải rồi! Vì dùng phương tiện muốn cho người phàm phu hiểu được một phần nào, nên kiến lập sát na. Do thế gian đã biết danh từ sát na, sát na kiến lập rồi mới có. Phật pháp không thể kiến lập, luôn cả hư không còn không thể kiến lập, huống là sát na!
Một ngày có 24 giờ là do người kiến lập, 1 giờ có 60 phút, 1 phút có 60 giây, 1 giây có 60 sát na đều do kiến lập. Kiến lập là không thật tế, thật tế không có kiến lập. Chư Tổ kiến lập rồi sợ chúng sanh chấp, nên phải phủ nhận sự kiến lập. Cho nên, Phật pháp có lập và phá.
Đối với hạ căn chỉ có lập, nhưng không phá. Đối với trung căn lập rồi phá. Đối với thượng căn không lập không phá, vì không có gì để lập. Nếu chấp kinh của Phật là chơn lý thì nghịch với ý Phật. Phật rất sợ người ta chấp vào lời của Phật, cho nên Phật phủ nhận. 
Cuối cùng, Phật nói: “Thuyết pháp 49 năm, chưa từng nói một chữ”. Kinh Kim Cang nói: “Ai nói Như Lai thuyết pháp, người ấy phỉ báng Phật”. Tất cả nói được là phương tiện, không phải thật tế; thật tế không thể nói được. Cho nên, phải dạy chúng sanh cách tu tự chứng tự ngộ, chứ không phải Phật ngộ rồi nói cho chúng sanh biết. Vậy thì, chúng sanh khỏi tu! 

Hỏi:
Chỗ lọt vào hư không và chết cho tan nát, có phải là một không?

Đáp:
Phải! Đó là ngài Lai Quả thí dụ, ngộ gồm có: Đại tử đại hoạt và tiểu tử tiểu hoạt. Kỳ thật, đang ở trong hư không, chứ có lọt ra ngoài hư không đâu! Chết còn xác hay chết hết xác cũng là thí dụ, không phải thật tế, tức là không trụ chỗ nào, cảnh giới ngộ cũng không được trụ. Cho nên, nói là ngộ rồi đồng như chưa ngộ.

Hỏi:
Phật Thích Ca lúc gần đắc đạo cũng bị chết giấc, việc chết đó có giống không?

Đáp:
Chết là tất cả hiểu biết và không biết của bộ óc chết, không phải tắt hơi thở chết, hay là bất tỉnh mà chết. Sống lại là biết Phật tánh hiện lên, chứ không phải cái biết của bộ óc.

Hỏi:
Tại sao lúc Phật còn làm thái tử biết xuất gia, chúng con cũng là con người như ngài mà không biết xuất gia?

Đáp:
Phật Thích Ca đã thành Phật từ đời nào rồi (phẩm Như Lai Thọ Lượng trong kinh Pháp Hoa), ba ngàn mấy năm trước là thị hiện. Thị hiện đản sanh rồi tu thành Phật đến nhập Niết Bàn. Gồm có 8 giai đoạn thị hiện. Như Phật Thích Ca ở cõi Ta Bà thành Phật đang giảng kinh Pháp Hoa nói “vô trần thế giới cũng có hóa thân của Phật Thích Ca đang giảng kinh Pháp Hoa, đếm không hết mà đồng thời không phải có trước sau”. Đó là đều thị hiện.

Có người hỏi: Phật đản năm nay 2541 là đúng, hay kinh Pháp Hoa nói vô số kiếp là đúng?

Tôi nói, đúng thì cái nào cũng đúng, không đúng thì cái nào cũng không đúng. Phật Thích Ca đã tự nói là vô thỉ, tức là không có bắt đầu. Cho nên, Phật đản sanh cũng không có bắt đầu, tất cả không có bắt đầu, không có kiến lập được. Vì vậy, tất cả là phương tiện, nói đúng cũng được, nói không đúng cũng được, không có tiêu chuẩn gì hết.
Bởi thế, Phật sợ mình chấp thật.

Hỏi:
Lọt vào hư không mỗi lần dài hơn một chút có phải là tiểu tử không?

Đáp:
Không phải! Lọt vào hư không chỉ là phương tiện để thí dụ cho người ta biết phần nào tiểu ngộ và đại ngộ, để tăng cường lòng tin của hành giả tham thiền, không phải có đạo lý cao siêu để hiểu biết. Bây giờ mình cũng đang ở trong hư không, đâu có còn lọt vào gì nữa! Hư không là tâm của mình đang dùng, đó là thật tế.

Hỏi:
An trụ tâm và hàng phục tâm, tâm là vô sở trụ, nhưng trụ chỗ không trụ gọi là chơn trụ. Xin Sư Phụ khai thị?

Đáp:
An trụ tâm và hàng phục tâm là ghi trong kinh Kim Cang. Những người có tư tưởng chấp thật thì giải thích theo chủ quan của mình, không biết ý của Phật trong kinh Kim Cang mà giải kinh là mâu thuẫn, nghịch với ý của Phật.

Ngũ Tổ  giảng kinh Kim Cang cho Lục Tổ nghe đến câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” liền được ngộ đạo. Tham Tổ Sư thiền là hỏi và nhìn song song thì hàng phục tâm. Vì vọng tưởng hay nổi lên lăng xăng tìm hiểu, nên dùng nghi tình chấm dứt. Không biết thì làm sao để tìm hiểu! Vậy đã hàng phục tâm rồi.
Giữ được nghi tình thì tâm được an trụ. Dùng cái biết để tu là Như Lai thiền, thấy cái nào tốt dễ bị lôi kéo thì ham thích, thấy cái nào xấu dễ bị lôi kéo thì chê bai. Dùng cái không biết nên tốt đẹp không biết thì không ham thích, thấy cái nào xấu không biết thì không chê bai. Nếu giữ được nghi tình thì hàng phục tâm và an trụ tâm. Đó là việc thật tế.
Còn dùng lời nói để giải thích theo chủ quan của mình đặt ra, ấy là bậy. Ngài Lai Quả nói: “Nếu giữ được nghi tình thì giới định huệ đầy đủ tất cả”, nếu giữ được nghi tình thì công thương, kỹ nghệ,… pháp thế gian hay pháp xuất thế gian và tụng kinh, niệm Phật, bái sám,… đều ở trong đó. Tại sao? Vì mục đích tham thiền là phát hiện bản tâm. Phật nói: “Tất cả do tâm tạo”, như vậy không có cái nào ở ngoài tâm.
Ngài Long Thọ nói: “Hư không vô sở hữu, nhưng dung nạp và ứng dụng tất cả vật” để thí dụ tâm mình. Nếu dùng tất cả thì đâu còn cái nào ở ngoài! Tâm vốn là vậy, nên Phật Thích Ca gọi là pháp bản trụ. Theo danh từ thấy như nghịch nhau, kỳ thật đã vốn như vậy thì cần gì trụ với vô trụ! Trụ và vô trụ là tương đối.
Phàm có kiến lập là tương đối thì chẳng phải vô duyên tri, vô duyên tri luôn luôn khắp không gian thời gian. Nếu có trụ và không trụ thì không cùng khắp. Tất cả lời nói là phương tiện tạm thời của chư Phật chư Tổ. Cho nên, Phật rất sợ người ta chấp vào lời của Phật. 

Như kinh Kim Cang ai cũng biết là Phật thuyết, nhưng Phật nói “ai nói Phật có thuyết pháp thì người ấy phỉ báng Phật”, phải mâu thuẫn không? Cũng như từ đêm Phật thành đạo đến Phật nhập Niết Bàn, Phật nói ta chưa từng thuyết một chữ. Vì thật tế không thể nói, phải ngộ mới được.

Có người cho kinh của Phật là chơn lý, Phật không kiến lập chơn lý. Không có vật gì kiến lập nên gọi là vô thỉ, cũng là nghĩa vô sanh tức không có sanh khởi. Nếu có sự sanh khởi thì có bắt đầu, tức là có kiến lập. Bất cứ cái gì không thể kiến lập, luôn chơn lý, luôn cả Phật cũng không kiến lập.

Không kiến lập chơn lý không phải không có chơn lý, pháp bản trụ là chơn lý rồi; nếu có kiến lập chơn lý là hai chơn lý, như Thiền tông nói là “trên đầu mọc thêm đầu” làm cho đầu bổn lai cực khổ, phải mời bác sĩ cắt bỏ. Tánh con người ham có sở hữu, nên phải kiến lập. 

Nhưng bản tâm vô sở hữu dung nạp và ứng dụng, còn cái sở hữu thì chướng ngại dung nạp và ứng dụng. Cho nên, cần phải tu để bớt kiến lập sở hữu, bớt đến chừng nào sạch hết bằng như Phật thì dụng khắp không gian thời gian.

Bây giờ, mình cũng có cái dụng đó từ hồi nào (bản trụ), do tánh mình ham sở hữu thành chướng ngại; sở hữu nhiều chừng nào thì chướng ngại nhiều chừng nấy. Cho nên, dùng nghi tình quét sạch những cái đó. Tuy nói quét sạch nhưng khỏi cần quét, chỉ giữ được nghi tình thì tự động quét.

Muốn giữ nghi tình phải hỏi và nhìn, hỏi câu thoại là kích thích một niệm không biết, rồi nhìn chỗ một niệm không biết để giữ nghi tình. Thực hành rất đơn giản, nhưng hiệu quả rất lớn, sẽ đưa hành giả đến chỗ kiến tánh thành Phật. Vì thực hành quá dễ nên nhiều người không tin, mà lại tin cái khó.

Phật pháp là thật tế thật dụng, ứng dụng hàng ngày, như mình cũng đang dùng cái trống rỗng nên các vị có chỗ ngồi. Trống rỗng là không gian này, nếu không có thì tôi không thể nói cho các vị nghe. Nếu không có trống rỗng thì không thể nhìn với nhau, mình có đi đến chỗ nào hay lúc nào cũng đang dùng tâm này. Cho nên, nói tất cả do tâm tạo.
Mình ứng dụng hàng ngày mà chẳng tự biết, lại đi đoán mò những cái không thật tế, Phật nói rất đáng thương xót!

Hỏi:
Thiền và Tịnh Độ khác nhau như thế nào?

Đáp:

Tịnh Độ dùng cái biết còn chấp thật, Tổ Sư thiền phá chấp thật, cần nghi tình (không hiểu không biết). Tịnh Độ đi xa rồi mới quay lại, không chịu đi thẳng; Tổ Sư thiền đi thẳng, gọi là pháp thiền trực tiếp. Nhiều người tự xưng Tịnh Độ nhưng không biết Tịnh Độ. Tịnh Độ của Phật dạy nhiều thứ, thường thường người ta hoằng dương 3 thứ Tịnh Độ:

1-Đâu Suất Tịnh Độ là người tu đến cõi trời Đâu Suất.

2-Dược Sư Tịnh Độ là người tu pháp này muốn cầu giàu sang.

3-Di Đà Tịnh Độ có 3 cấp tu: 

Thật Tướng Niệm Phật, giống như Tổ Sư thiền, tôi chưa gặp người nào tu.
Quán Tưởng Niệm Phật ghi trong kinh Quán Vô Lượng Thọ. 
Trì Danh Niệm Phật.

Tịnh Độ có 3 quyển kinh (A Di Đà, Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ), thường ngày người ta tụng kinh Tiểu A Di Đà, Đại A Di Đà thì ít người biết. 
Đại A Di Đà nói: “Người sanh qua Cực Lạc rồi nhờ Phật A Di Đà dạy tham thiền là từ nghi đến ngộ. Vì bất cứ cái gì cũng phải nghi, nghi là nhân ngộ là quả. Các pháp môn Phật dạy đều từ nghi đến ngộ. 
Nếu mình hiểu Tịnh Độ có thiền, đâu cần Thiền Tịnh song tu! Vì Thật Tướng Niệm Phật là thiền, Quán Tưởng Niệm Phật có 16 pháp thiền quán và Trì Danh Niệm Phật là niệm Phật đến nhất tâm bất loạn cũng là thiền.

Phàm pháp môn Phật dạy có thiền mới là tu, như Giáo môn tụng kinh cũng là tu, nhưng vừa tụng vừa quán tưởng. Ngoài Tổ Sư thiền, các thiền Đại thừa, Trung thừa, Tiểu thừa đều là thiền quán tưởng. Cho đến ngoại đạo cũng dùng thiền quán tưởng. Thiền quán tưởng dùng cái biết, có năng quán, sở quán.
Nhiều người tu Tịnh Độ, nhưng không biết cách thực hành Tịnh Độ, cứ tưởng ăn chay, niệm Phật, tụng kinh cho là tu Tịnh Độ; sự thật không phải. Tu Tịnh Độ phải đúng tông chỉ là Tín, Nguyện, Hạnh. Tổ Ấn Quang dạy pháp tu Tịnh Độ rất kỹ.

Tham Tổ Sư thiền là hỏi câu thoại để kích thích một niệm không hiểu không biết, gọi là tham thoại đầu. Thoại đầu là chưa nổi niệm nào hết. Dùng niệm không hiểu không biết là lìa khỏi thoại vỉ, nhưng chưa đến thoại đầu; đến thoại đầu sắp kiến tánh. Cho nên nói là tham thoại đầu.
Khán thoại đầu là nhìn chỗ không biết, muốn xem chỗ không biết là gì, nhưng chỗ không biết thì không có chỗ nên không có mục tiêu để nhìn; nhìn mãi không thấy gì vẫn còn không biết, Thiền tông gọi là nghi tình. Hành giả tham thiền chỉ cần hỏi và nhìn song song để giữ nghi tình, đưa hành giả đến thoại đầu sẽ kiến tánh thành Phật.

Hỏi và nhìn rất đơn giản, cho nên con nít 6, 7 tuổi hay người già 60, 70 tuổi đều tham thiền được. Mấy năm trước tôi đi Canada phát hiện đứa bé 3 tuổi biết tham thiền. 
(Bé bi tham thiền, đo bộ não…….trang 10).
Chuyện này là sự thật để chứng tỏ tham thiền dễ hơn tu Tịnh Độ trăm ngàn lần, nhưng người ta không biết; chỉ biết cho thiền là khó, Tịnh Độ là dễ. Dẫu cho vãng sanh Cực Lạc, như kinh Đại A Di Đà nói “nhờ Phật A Di Đà dạy tham thiền khởi nghi tình là từ nghi đến ngộ”. Tham Tổ Sư thiền là khởi nghi tình liền, khỏi cần đến vãng sanh.

Hỏi:
Ngày xưa con tụng kinh và niệm Phật, bây giờ con chuyển qua tu Tổ Sư thiền. Vậy sự tu tập ngày xưa có mất không?

Đáp:
Tham thiền là bao gồm tất cả pháp xuất thế gian, niệm Phật, tụng kinh, quán tưởng, trì chú,… luôn cả pháp thế gian, công thương, kỹ nghệ,… không có cái nào ở ngoài. Vì bản tâm là vô sở hữu nên dung nạp và dùng tất cả. Như hư không vậy, ngài Long Thọ dùng hư không vô sở hữu ví dụ cho tâm rất đúng.

Hỏi:
Từ Tịnh Độ con chuyển tu Tổ Sư thiền, vậy con có phản Thầy Tổ không?

Đáp:
Như học hết lớp 1 rồi lên lớp 2, lớp 3,… nếu lên lớp mà sợ phản thầy lớp đã học thì đừng lên lớp, cứ ở lớp cũ mà học!

Hỏi:
Con nhờ thầy chỉ pháp Tịnh Độ để người nào cần hiểu Tịnh Độ thì hướng dẫn cho họ?

Đáp:
Pháp Tịnh Độ phức tạp và khó tu, phải có thời gian dài, tôi mới giảng kỹ được. Các vị muốn hiểu kỹ, hãy xem Tịnh Độ Tinh Hoa Lục của Ấn Quang đại sư, trong ấy nói rõ. Tôi cũng từ tài liệu đó mà giảng lại, ngày xưa tôi dạy Tịnh Độ mười mấy năm, nhưng chưa thấy người nào tu đúng theo tông chỉ Tịnh Độ.
Nên tôi mới hoằng dương Tổ Sư thiền, vì dễ tu. Như ông bán ngoài chợ, tu Tịnh Độ khó hơn, còn tu Tổ Sư thiền rất dễ là hỏi và nhìn, nếu có người đến mua thì ngưng tu, người về thì tu lại. Tập tham thiền lâu ngày công phu sẽ tự động, lúc đang bán cũng đang tham, chứ không có chướng ngại.
Ngày xưa có một người nói với tôi rằng: Con rất thích tham thiền, nhưng lu gạo con hết làm sao tham thiền được?
Tôi nói: Dạy ông tham thiền, không phải bảo ông ngưng kiếm gạo, ông có làm nghề gì thì cứ làm y cũ. Tham thiền không những chướng ngại cho ông kiếm gạo, còn giúp cho ông kiếm gạo.
Có người làm nghề bơm mực, trước kia chưa có tham thiền thì từ sáng đến chiều bơm được hơn 40 cây viết, sau này tham thiền công phu được tự động thì bơm được hơn 80 cây viết; tức là sản xuất hơn gấp bội, chất lượng cũng tăng thêm.

Hỏi:
Sư Phụ giảng câu: Hư không vô sở hữu thì con cũng hiểu được là hư không chẳng có sở hữu riêng ai, nếu ai biết hưởng thì hưởng được, nếu ai biết nhận thì nhận được. Vì vậy, thỉnh thoảng nhìn lên hư không, nhìn xuống dòng nước, con cảm thấy thoải mái an ổn. Vô sở hữu này còn có thể hiểu thêm nếu mình biết thì mình sẽ hưởng được, xin Sư Phụ khai thị?

Đáp:
Vô sở hữu là mình đang dùng, như ông đang quỳ nếu không có trống rỗng vô sở hữu thì ông quỳ đâu? Mình ứng dụng hàng ngày mà chẳng tự biết, nên Phật nói là đáng thương xót!

Hỏi:
Con tin tự tâm tuyệt đối, tin tam tạng giáo điển là đúng, không còn nghi ngờ gì nữa, tin pháp môn Tổ Sư thiền 100%. Nếu sau này không được gần Sư Phụ hay đại chúng, một mình con quyết sống chết với câu thoại đầu, chỉ còn hỏi và nhìn. Như vậy có được không?

Đáp:
Hỏi như vậy là chưa tin tự tâm chưa đầy đủ, nếu tin tự tâm đầy đủ thì không có câu hỏi này. Tại sao? Vì tự tâm là Phật thì đâu cần có tôi nữa! Tôi giải đáp không phải cho hiểu thêm giáo lý cao siêu, là chỉ để tăng cường lòng tin cho người hỏi. Vì người ta đề ra câu hỏi là do lòng tin chưa đủ. Nếu tự tâm đầy đủ thì tất cả là của mình, đâu có cái gì để hỏi!

Hỏi:
Học trước hay tu trước?

Đáp:
Vừa học vừa tu là của Giáo môn, Tổ Sư thiền đang tu cũng là học, gọi là tập tham. Tập là học, chứ khỏi cần học; tức là đang tham là thực tập.
Người hỏi là ham hiểu biết của bộ óc, tức còn trong tương đối; tự tánh là bất nhị không có tương đối. Cho nên, học cũng là tham, tham cũng là học, không phải là hai, không có trước sau, cho đến hỏi và nhìn cũng không có trước sau.

Hỏi:
Pháp môn nào tu hành nhanh nhất?

Đáp:
Không tin tự tâm, có tu pháp nào cũng chậm; nếu tin tự tâm 100% thì nhanh, muốn nhanh chậm là theo mình tu. Tham thiền mỗi ngày, nghi tình tăng 1 phút thì 4 năm đến thoại đầu, tăng được ½ phút thì 8 năm đến thoại đầu, tăng ¼ phút thì 16 năm đến thoại đầu. Pháp không có nhanh chậm, nhanh chậm là do người.
Như mình đi thành phố Hồ Chí Minh là tùy theo phương tiện có nhanh chậm, hễ có đi thì phải có đến; không đi thì không đến, chứ đi đó không có nhất định.

Hỏi:
Phật dạy Bàn Đặc Ca tu pháp môn nào?

Đáp:
Bàn Đặc Ca hay quên là nhớ trước quên sau, nhớ sau quên trước. Phật hỏi Bàn Đặc Ca: Hàng ngày ông làm gì?
Bàn Đặc Ca đáp: Quét nhà.
Phật hỏi: Ông có biết cây chổi không?
Bàn Đặc Ca đáp: Biết.
Phật bảo: Bây giờ ông niệm cây chổi đi.
Bàn Đặc Ca niệm cây chổi, sau này cũng chứng quả. Cho nên, người ta gọi ông là Tỳ Kheo cây chổi.

Hỏi:
Có phải Phật dạy Bàn Đặc Ca pháp Tổ Sư thiền hay không?

Đáp:
Các pháp tu nào cuối cùng khởi nghi rồi được ngộ, như Tiểu thừa chứng quả A La Hán không có nghi nên mới tới nửa đường. Trung thừa cũng vậy, Bích Chi Phật là do nhân duyên ngộ đạo gọi là Duyên Giác, cũng là Độc Giác, tức là không có Phật, tự mình quán Thập Nhị  Nhân Duyên mà ngộ đạo.
Bích Chi Phật không phải quả vị Phật (Diệu Quả), chữ “Phật” là nghĩa giác ngộ, nhưng người ta hiểu lầm Phật là một vị thần linh. Tu Tịnh Độ sanh cõi Cực Lạc, nhờ Phật A Di Đà dạy tham thiền khởi nghi tình, rồi sẽ ngộ. Tông Thiên Thai đến Thể Chơn Chỉ thì phát nghi đến ngộ. Tông Hiền Thủ đến Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới thì phát nghi đến ngộ, các tông các phái cuối cùng phát nghi đến ngộ.
Ở thế gian, nhà khoa học, nhà triết học cũng phải có nghi rồi mới có ngộ; nhưng nhà khoa học dùng bộ óc đi tìm hiểu, cho nên không ngộ được chính mình; ngộ được pháp thế gian, chỉ có giá trị ở thế gian, nên không làm chủ cho mình; thì không được tự do tự tại, giải thoát tất cả khổ. Tham thiền là ngộ bản tâm nên được làm chủ cho mình, tự do tự tại giải thoát tất cả khổ.

Hỏi:
Đạt Ma Tổ Sư quảy một chiếc giày, có phải muốn chúng ta chỉ tu một pháp môn?

Đáp:
Không phải! Đây là một chuyện tích: Tổ Đạt Ma thấy nước Trung Hoa có căn khí Đại thừa thích hợp Tổ Sư thiền, cho nên vượt biển sang Trung Hoa. Khi chưa có người kế thừa, ngài ở chùa Thiếu Lâm hướng vào vách tường ngồi im lặng. Mọi người tưởng ngài ngồi tu, nhưng không phải, vì ngài đã kiến tánh thì đâu cần tu nữa! Lúc đó ngài đã hơn 300 tuổi, người ta tính tuổi thọ ngài khoảng 360 tuổi.
Sau này, ngài ra hoằng pháp có các sư bên Giáo môn có kiến giải Phật pháp, nhưng sự tu không bằng. Cho nên có tâm đố kỵ, vì thấy môn đồ của mình theo Tổ Đạt Ma, vì vậy muốn hại. 5 lần bị đầu độc, nhưng ngài đều biết và uống vô không sao. Khi truyền pháp cho Huệ Khả rồi, định đi về Aán Độ, lại bị đầu độc lần thứ 6, ngài vẫn biết rồi đem thuốc độc thử trên đá, làm đá bể ra. 
Ngài uống thuốc độc rồi chết, theo tập quán Trung Hoa bỏ vô hòm chôn sau núi chùa Thiếu Lâm. Có một sứ thần đi Ấn Độ trở về tới biên giới gặp Tổ Đạt Ma quảy một chiếc giày đi rất nhanh.
Sứ thần hỏi: Đại sư đi đâu vậy?
Ngài đáp: Đi về phương Tây (Ấn Độ).
Sứ thần về triều đình tâu với vua như vậy, vua nói: Đạt Ma đã chết sao còn gặp nữa? Vua bảo mọi người đào mồ của ngài lên, thì thấy trong hòm chỉ còn một chiếc giày, không có xác thân. Người ta nói là ngài để lại một chiếc giày làm kỷ niệm. Chiếc giày được để chùa Thiếu Lâm, bây giờ chiếc giày lạc mất.

Hỏi:
Ai tu được kiến tánh thì có thần thông phải không?

Đáp:
Tự tâm của mình thì tất cả năng lực thần thông trí huệ bằng Phật Thích Ca, thần thông đó trong tâm đã sẵn có, chứ không phải học mà có. Thần thông học được của tà ma ngoại đạo chỉ có ngũ thông, không có lục thông, chứng quả mới có lục thông. Được lậu tận thông thì dứt hết tập khí nên không có chướng ngại.
A La Hán có lậu tận thông nhưng cái thông đó còn hạn chế. Chứng quả A La Hán chỉ biết được 8 muôn kiếp trước và 8 muôn kiếp sau, quá 8 muôn kiếp thì không biết. Quả Bồ Tát đến Thập Địa biết vô trần kiếp, nhưng vẫn còn số lượng. Đến quả Phật thì không còn số lượng, nên không có gì hạn chế.
Bây giờ thần thông của mọi người đều bằng với chư Phật, chứ không phải học mới có! Vì tâm của ông tự hạn chế, nên kinh Lăng Nghiêm nói: “Tự tâm buộc tự tâm”. Tự kiến lập sở hữu, như kiến lập thần thông thì bị hạn chế. Tưởng thần thông đó có học mới có, không biết mình đã có sẵn thần thông vô lượng vô biên không có gì hạn chế, luôn luôn khắp không gian thời gian. Hiện nay vẫn có sẵn nhưng bị che khuất nên không dùng được.
Phật nói trong kinh Viên Giác: “Tất cả chúng sanh đều đã thành Phật”, sợ người ta không tin lại lấy quặng vàng để thí dụ: Vàng trong quặng đã thành sẵn, vàng không hiện ra là bị đất cát tạp chất che khuất. Nếu bỏ đất cát tạp chất thì vàng hiện ra. Trong quặng không có vàng thành sẵn thì luyện cách mấy cũng không có vàng. 
Phật tánh của mình đã thành sẵn (bản trụ), tức là hồi nào cũng như vậy; không phải tu mới thành, không phải chứng mà đắc; không phải học có được, do bị che khuất. Ngài Long Thọ nói: “Tâm như hư không vô sở hữu”. Vậy tâm của mình trống rỗng vô sở hữu, có kiến lập sở hữu nên chướng ngại vô sở hữu. Thành ra tự che khuất, không phải không có!

Hỏi:
Vì nghĩa vụ phải mang tội giết người, nếu tham Tổ Sư thiền có thể kiến tánh không?

Đáp:
Đại úy Vệ theo tôi học thiền, khi đi đánh giặc, y không cho thuộc hạ nổ súng, nếu có bắn thì bắn lên trời không được trúng người. Có lần phục kích thấy địch đi ngang, thuộc hạ định bắn nhưng y không cho. Kỳ đó nếu có bắn thì tất cả lính đều chết hết, vì số lính phục kích ít hơn quân địch rất nhiều. Y dẫn lính mấy năm mà không chết người nào, bạn của y dẫn lính đi đánh giặc, có người thì lính chết phân nửa hay hơn phân nửa.
Y bị cải tạo không cực khổ, vì y có nghề thầy thuốc nên được ưu đãi. Do y không tạo nhân khổ cho người ta nên không bị quả khổ.

Hỏi:
Con niệm thầm chậm “khi chưa có trời đất ta là cái gì?” thì bớt nhức đầu, nhưng khi niệm đến chữ “gì” thì suy nghĩ chữ “gì”, không biết thoại đầu là gì, rồi con niệm lại không nhanh không chậm. Xin Sư Phụ khai thị?

Đáp:
Hỏi câu thoại, chứ niệm không đúng, như hỏi “khi chưa có trời đất ta là cái gì”? là khởi lên một niệm không hiểu không biết, khán thoại đầu là nhìn chỗ một niệm không hiểu không biết, muốn xem chỗ không biết đó là gì, chỗ không biết thì không có chỗ nên không có mục tiêu để nhìn, nhìn mãi không thấy gì vẫn còn không biết, Thiền tông gọi là nghi tình. Cứ hỏi và nhìn song song để giữ nghi tình, sẽ đưa hành giả đến thoại đầu kiến tánh thành Phật.
Bây giờ nói tham thoại đầu, nhưng chưa đến thoại đầu; công án cũng là thoại đầu. Công án là để cho hành giả ngộ, nếu không ngộ thì không hiểu nên phải phát nghi sẽ ngộ, cũng là hỏi và nhìn. Hỏi thầm và nhìn thầm chấm dứt suy nghĩ biết, tìm hiểu biết, ghi nhớ biết. Tất cả cái biết của bộ óc đều chấm dứt chỉ còn nghi tình, giờ phút cuối cùng nghi tình tan rã, biết và không biết sạch thì biết Bát Nhã hiện lên khắp không gian thời gian.
Khắp không gian thì chỗ nào cũng biết, khắp thời gian thì lúc nào cũng biết. Như cái biết của óc là ngủ mê, chết giấc, thật chết, đều không biết; cái biết Bát Nhã thì ngủ mê, chết giấc, thật chết, đều biết. Nếu thật chết không biết thì có gián đoạn, không được gọi là khắp thời gian.
Bây giờ ông có cái biết đó, nhưng bị che khuất không hiện ra; khi nào những cái che khuất được quét sạch thì cái biết đó hiện lên khắp không gian thời gian.

Hỏi:
Khi hỏi và nhìn một lúc thấy mờ mờ, vậy như thế nào?

Đáp:
Có nhìn thấy là sai lầm, vì vô sở hữu thì lấy gì nhìn thấy? Lục Tổ nói: “Xưa nay không một vật”, sao nhìn thấy được! Không thấy gì mới đúng.
Một lúc lâu, con hỏi và nhìn dính lại với nhau?
Có dính với nhau thì tốt, nhưng hỏi và nhìn phải song song, không được bỏ cái nhìn hay bỏ cái hỏi.
Một hồi mệt có khi mất?
Ban đầu tập có khi mất, mất thì đề lại nữa.

Hỏi:
Tham thiền có nghe tụng giới không?

Đáp:
Tất cả pháp môn của Phật dạy đều phải có giới lấy giới làm căn bản, cư sĩ có ngũ giới và giới Bồ Tát tại gia. Phật còn cho Bát Quan Trai để tập hạnh xuất gia một ngày một đêm, có thể mỗi tháng tập 6 ngày đêm.
Thời gian đi thọ giới con tiếp tục công phu hay ngưng?
Lúc thọ giới không lìa hỏi và nhìn.
Lúc tụng kinh cho người ta thì như thế nào?
Ông làm nghề tụng kinh thì làm nghề tụng kinh, làm thợ hồ thì làm thợ hồ, làm nghề bếp thì làm nghề bếp. Nếu ông làm nghề tụng kinh để kiếm ăn không bằng làm nghề khác.

Hỏi:
Lúc không nghi tình thì con có thể nghiên cứu các kinh như Hoa Nghiêm, Bát Nhã,… được không?

Đáp:
Đó là thuộc về Giáo môn. Ông có coi Thiền Thất Khai Thị Lục không?
Có coi.
Ngài Lai Quả nói: “Các ông học chứa đầy bụng kinh Pháp Hoa, Hoa Nghiêm,… đối với Thiền tông một chữ cũng dùng không được”. Vậy ông có coi mà sao lại hỏi!
Con hỏi để cho người mới chưa biết.
Phải rồi! Tổ Sư Thiền là dùng cái không biết, còn biết những cái đó để làm gì? Luôn cả học thiền học đạo còn không cho.

Hỏi:
Người tham Tổ Sư thiền cúng ông bà như thế nào cho hợp với đạo?

Đáp:
Chẳng thế nào cả! Tùy thuận người nhà có cúng cũng được, tự mình không cúng cũng được. Mình chỉ cần hỏi và nhìn song song, ngoài ra không biết. Vì tâm mình là Phật, tham thiền phát hiện bản tâm, thì tất cả thứ kia đều được giải quyết.
Vậy cúng đó mục đích để làm gì? Nếu muốn người khác phù hộ thì không thể được. Cúng để kỷ niệm vẫn được, như không phải nhất định cúng hay không cúng! Tất cả đều tùy duyên, không phải cần hay không cần.

Hỏi:
Thế nào là chánh pháp nhãn tạng?

Đáp:
Tổ Sư thiền là chánh pháp nhãn tạng, khi Phật truyền cho Ma Ha Ca Diếp và nói: “Nay tôi đem chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm để truyền cho Ma Ha Ca Diếp”.

Hỏi:
“Thiền duyệt vi thực” nghĩa là gì?

Đáp:
Vui thiền để làm đồ ăn.

Hỏi:
Hành giả chơn chánh tham thoại đầu và thực hành chín chữ “vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ” phải không?

Đáp:
Phải! Tin tự tâm đầy đủ thì thực hành được 9 chữ “vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ”. Nếu tin tự tâm chưa đầy đủ, muốn thực hành được 9 chữ này thì khó.

Hỏi:
Hành giả mới tham thực hành được, nhưng khán chưa hiểu. Xin Sư Phụ khai thị?

Đáp:
Thực hành 9 chữ trên chưa được là tin tự tâm chưa đầy đủ. Bây giờ tất cả thần thông trí huệ của mình bằng như chư Phật, mình cũng đang làm Phật. Nhưng kiến lập sở hữu tự che khuất cái dụng thần thông trí huệ của mình. 
Tham Tổ Sư thiền là dùng nghi tình quét sạch những chướng ngại che khuất cái dụng Phật tánh. Những cái chướng ngại được quét sạch thì dụng tự tánh hiện lên bằng như chư Phật, gọi là kiến tánh thành Phật.
Hiểu được những lời Sư Phụ dạy, nhưng có điều con ngu muội…
Phật tánh không có thông minh và ngu muội, thành ra mới có thần thông trí huệ. Nếu có trí huệ nên không có ngu muội, tự mình cho là ngu muội nên chướng ngại. Thật ra, tất cả chúng sanh bình đẳng, không có ai thông minh hay ngu muội! Lại cái thông minh lanh lợi không bằng ngu muội.
Tham là hỏi thì con hiểu, còn khán con chưa hiểu?
Khán là nhìn, hỏi là hỏi thầm trong bụng, nhìn cũng nhìn thầm trong bụng, chứ không phải dùng mắt nhìn, cũng không phải dùng miệng hỏi.
Vậy đồng một nghĩa, tại sao gọi là nhìn?
Vì hỏi là hỏi qua sẽ hết, còn nhìn thì được kéo dài nghi tình. Nếu kéo dài được một chút gọi là miên mật, cũng như kéo dài như sợi chỉ cũng được; khỏi cần tập trung tinh thần, khỏi cần cố gắng, ít phí sức chừng nào tốt chừng nấy.

Hỏi:
Vừa hỏi “thấy mờ mờ” là thế nào?

Đáp:
Đó là sai lầm, không có nhìn thấy cái gì được; vì vô sở hữu là trống rỗng, như nhìn hư không thì chẳng thấy gì. Nếu thấy được cái gì đều là vọng tưởng, cái ảo tượng của mình kiến lập ra, không phải thật tế.

Hỏi:
Thế nào sanh tử sự đại, vô thường tấn tốc?

Đáp:
Tại sao sanh tử là việc lớn? Vì tất cả việc gì đều do sanh tử mới có, nếu không có sanh tử thì việc gì cũng không có. Nguồn gốc là sanh tử, cho nên nói sanh tử là việc lớn. Tham thiền là muốn giải quyết vấn đề sanh tử của mình, tức là trước khi chết phải giải quyết vấn đề sanh tử. Phải biết sanh tử là thế nào? Tại sao mình lại có sanh tử? Lúc kiến tánh rõ hết.
Tất cả đều là vô thường, như thân của mình từ đứa bé sanh ra, các tế bào, lục phủ ngũ tạng từng sát na biến đổi. Nói sát na là còn lâu, nó biến đổi không ngưng. Biến đổi là vô thường, thường thì không biến đổi. Biến đổi nhanh nhưng tự mình không biết. Khoa học giải thích: Tất cả vật chất tiếp xúc không khí, ở trong không khí có oxy và hyro, oxy là giúp cho sự cháy, hyro là tự cháy. Tất cả vật đang tự cháy ngầm, như tách, bình, chậu,… Mình không thấy không biết, nhưng lâu ngày sẽ mục hư.
Tôi thường lấy móng tay thí dụ, bây giờ tôi nhìn móng tay của tôi, nhìn mãi không thấy dài; nhưng 3 ngày sau thấy dài một chút, rồi tôi nói móng tay tôi dài một lần. Vậy đúng không? Không đúng. Nó đâu có ngưng dài, vì mỗi sát na nó đang dài. Kỳ thật, cũng không phải là sát na, sát na là 1 phần 60 giây. 
Thí dụ 1 sát na chia làm 60 A, 1 A chia làm 60 B, 1 B chia làm 60 C; cũng như tôi nói hiện tại 1 C, tôi nói chưa dứt thì đã qua mấy trăm ngàn C, qua rất nhanh gọi là tấn tốc; biến đổi nhanh gọi là vô thường tấn tốc vậy.

Hỏi:
Qua gần hết thất con học sự hỏi đáp của đại chúng và Sư Phụ, tâm con hoan hỷ vô cùng; con tự nghĩ có lẽ đây là Bồ tát thị hiện lỗi lầm và giải đáp, trong đó có câu đúng cho để học và câu không đúng cũng đáng cho con ghi nhớ để học, tránh lỗi lầm mắc phải về sau.

Kính bạch Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, Tăng, Ni và toàn thể đại chúng pháp hội đồng tham Tổ Sư thiền. 

Sau đây, con có những ý nghĩ đúng hay sai, con xin thành tâm sám hối. Ngày xưa còn nhỏ theo mẹ đến chùa, thấy chư Tăng gõ mõ tụng kinh cúng lạy, mẹ đem lễ vật đến chùa cúng dường. Con nói với mẹ: Cúng làm gì cho những ông thầy chùa vô tích sự, không thấy gì làm lợi ích cho đời. 

Theo dòng thời gian lớn lên, thân cận với chư Tăng Ni tụng kinh Pháp Hoa, chưa biết thọ trì. Khi tụng kinh thì hiểu Phật dạy tu thiền, tụng kinh A Di Đà, niệm Phật không phải một ngày đến bẩy ngày đến nhất tâm bất loạn, mới  được phàm thánh đồng cư Tịnh Độ! Do đó niệm Phật không phải là dễ, chỉ có niệm để đè niệm kiểm soát trong thật tế, nhất là trong giấc ngủ hoặc khi quên niệm. Như thế đã chứng tỏ từng tư tưởng có luân hồi. 

Khi xem kinh Bát Nhã, Bồ Tát Quán Thế Âm nói với ngài Xá Lợi Phất về 5 uẩn vốn không, 6 thức vốn không, 12 nhân duyên cũng không, tứ đế cũng không. Lúc đó con tự nghĩ không này là gì? Không này đi về đâu? Tại sao không là cái khác? Mà sắc tức thị không, không tức thị sắc, diệt phục như thị. Như vậy tâm địa ngục, mà địa ngục có hay không, là có từ tâm?

Cũng như một lần thấy chiêm bao, thấy mình bị cắt lưỡi; lúc đó con tự nghĩ khi xưa, Phật bị vua Ca Lợi xẻo thân thể, Phật cũng không sân hận, vì Phật không có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả. Do đó, con không thấy đau bị cắt lưỡi, cũng không thấy người cắt.

Có lần đi chùa Tịnh Độ đông người và sung túc, mà những vị tu sĩ ở chùa này theo con biết là thầy đám vô tích sự với Phật với chúng sanh. Nhưng chùa này được sung túc là nhờ vẻ 10 cửa địa ngục, mà chúng sanh chiêu cảm nghiệp chịu đó. Con tự nghĩ à như vậy! Người ta đi chùa đông.

Ở Đồng Tiến cách đó quê còn cây số, ông thầy phó trụ trì cũng vẽ thập điện, nhưng mới vẽ vừa xong cửa ngục thứ nhất thì con đến. Con nói nhẹ với thầy “vì cái này không may chúng sanh rãi rác, mà hằng sâu mặc cảm tội lỗi”.

Cũng như ngày gần đây có hành giả muốn hỏi Sư Phụ, mà có huynh đệ đi chung ngăn cản nên không dám hỏi.

Đáp:
Ngài Lai Quả kiến tánh gần đây, tịch năm 1953. Ngài nói: “Nếu phỉ báng Tổ Sư thiền, làm cho tự mình không dám tu Tổ Sư thiền, phải bị đọa địa ngục 1 đại kiếp; làm chướng ngại cho người khác không dám tu, phải bị đọa địa ngục 4 đại kiếp”. 1 đại kiếp là 4 trung kiếp, 1 trung kiếp là 20 tiểu kiếp, 1 tiểu kiếp là 16 triệu năm. Mặc dầu, nói phỉ báng rất dễ, nhưng đã tạo địa ngục cho mình rồi.
Tại sao làm chướng ngại cho mình không dám tu mà đọa địa ngục? Vì một người thành Phật độ vô lượng vô biên chúng sanh. Nếu không thành Phật thì vô lượng vô biên chúng sanh không độ được, cho nên có tội địa ngục. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Phỉ báng Đại thừa bị tội địa ngục”. Đó đúng như lời Phật dạy.

Nếu nói “Tu sĩ không có ích cho xã hội”, theo chuyện này, lúc giải phóng tôi đi họp có người nói: Mọi người phải có lao động bằng sức lực hay trí óc. 
Tôi hỏi: Người phục vụ trong rạp hát để cho mọi người giải trí sau những ngày làm việc mệt, người đó có phải lao động giúp ích cho xã hội không?
Người ấy đáp: Phải.

Tôi nói: Vậy các Phật tử tin Phật vô chùa, không đem tiền mua vé hát, lấy tiền này cúng vào chùa và lạy Phật, họ cảm thấy an ổn tinh thần, so với giải trí hơn nhiều. Các vị Tăng Ni phục vụ trong chùa bằng người phục vụ trong rạp hát vậy. Đó là việc mà người ta thấy được, những việc người ta thấy không được có thể lớn hơn. 

Tại sao? Như vừa rồi, tôi truyền tam quy ngũ giới; ngũ giới là bao gồm thập ác, nếu mỗi công dân đều giữ giới này thì không tổn hại tài sản công cộng hay cá nhân. Cho nên bớt lại người giữ an ninh. Nhưng các vị giữ an ninh có lãnh lương của nhà nước, còn Tăng Ni dạy  cho người biết tu không lãnh lương của nhà nước, chỉ là nghĩa vụ. Như vậy có giúp ích cho xã hội, tại sao nói tu sĩ không có ích cho xã hội!
Các nước tiến bộ cũng biết tôn giáo giúp  cho xã hội được an ninh trật tự nhiều hơn người thường. Việc này người ta không thấy, nhưng sự thật là vậy. Người ấy cũng cho là đúng, chứ không phải như ông đã nói!

Hỏi:
Tham Tổ Sư thiền có phải pháp môn phương tiện, mà Phật Thích Ca ca ngợi trong phẩm Phương Tiện của kinh Diệu Pháp Liên Hoa không?

Đáp:
Tổ Sư thiền là giáo ngoại biệt truyền bất lập văn tự, kinh Pháp Hoa là thuộc về Giáo môn. Tổ Sư thiền ngoài kinh giáo, đặc biệt truyền pháp môn này. Giáo môn vừa tụng kinh vừa quán tưởng. 
Bất lập văn tự là không phế bỏ văn tự, nhưng không cần qua văn tự lời nói là pháp thiền trực tiếp; còn kinh điển phải qua văn tự lời nói, gọi là pháp thiền gián tiếp. Bất lập văn tự là chỉ thẳng tâm mọi người được kiến tánh thành Phật.

Hỏi:
Muốn cho tự tánh hiện phải có phương tiện, nếu lìa thế gian như cầu sừng thỏ phải không?

Đáp:
Pháp môn Tổ Sư thiền do Phật Thích Ca đích thân truyền cho sơ Tổ Ma Ha Ca Diếp, rồi từ Tổ từ Tổ truyền xuống. Tất cả truyền dạy của Phật Thích Ca là phương tiện. Tại sao? Tâm mình đầy đủ tất cả, gọi là pháp bản trụ từ xưa nay, hồi nào là vậy rồi; chứ không phải học hay tu mới có mới thành, cho nên Tổ Sư thiền cuối cùng là vô tu vô chứng. 
Vì không phải tu mới thành, không phải chứng mới đắc. Như kinh Viên Giác nói: “Tất cả chúng sanh đều đã thành Phật”. Do ông có tư tưởng chấp thật, nên có những câu hỏi như vầy. Nếu tin tự tâm đầy đủ 100% thì không có gì để hỏi, tại tất cả đều sẵn như vậy.
Phật đã dùng ra hết, mình chỉ dùng chút ít là do mình tự chướng ngại, tự kiến lập sở hữu làm chướng ngại vô sở hữu (tâm), nên dụng của tâm không hiện ra được. Tu là mình quét sạch những kiến lập sở hữu, quét sạch nhiều chừng nào thì cái dụng hiện ra lớn chừng nấy; nếu quét sạch không còn cái gì (trống rỗng), thì cái dụng không có giới hạn.
Nếu không trống rỗng thì ông không có chỗ để quỳ, không thể trình bày cho tôi nghe. Mình đang dùng nhưng rất ít cái mình sẵn có, không phải do học hay của ai cho. Phật Thích Ca và chư Tổ kiến tánh triệt để dùng không có gì chướng ngại, khắp không gian thời gian.

Hỏi:
Trước khi ngồi thiền, có câu niệm nào khác hay chỉ niệm danh hiệu bổn sư 3 lần?

Đáp:
Vì trong tập thể để biểu hiện nhớ ơn Phật Thích Ca, nên có niệm danh hiệu Phật 3 lần. Nếu không phải tập thể thì ngày đêm hỏi và nhìn, không cần niệm Phật 3 lần.

Hỏi:
Tại sao gọi đời này là mạt pháp? Có phải chánh pháp nhãn tạng bị chìm mất không?

Đáp:
Theo Giáo môn thì Phật Thích Ca thành đạo về sau 1000 năm là chánh pháp, kế tiếp 1000 năm là tượng pháp, rồi sau này 10.000 năm là mạt pháp. Khi hết mạt pháp thì giáo pháp của Phật Thích Ca diệt, rồi Phật Di Lặc ra đời hoằng dương lại Phật pháp. Người nói như vậy, không phải nhất định. 
Ngài Bác Sơn là Tổ kiến tánh của tông Tào Động nói: “Có thể mạt pháp chuyển thành chánh pháp, có thể hạ căn thành thượng căn, chứ không có nhất định”. Chuyển mạt pháp thành chánh pháp, tôi chưa chứng tỏ; còn chuyển hạ căn thành thượng căn, tôi được chứng tỏ. 
Bắt đầu tôi hoằng dương Tổ Sư thiền, lúc ấy Phật tử phần nhiều mê tín là muốn cầu Phật gia hộ được bình an hay được phát tài. Họ coi kinh không hiểu, sau tham thiền một thời gian nửa năm, 1 năm thì coi kinh hiểu hết. 
Các Phật tử này nói chuyện với những học Tăng cao đẳng, các học Tăng hỏi thì các Phật tử đều trả lời được, vì có tham thiền không cần tác ý nên dụng tự tánh hiện ra. Phật tử hỏi học Tăng thì các vị ấy nhớ những gì đã học trả lời được, cái gì không nhớ nên trả lời không được.

Hỏi:
Con tham thiền có cầu cho cửu huyền được siêu thoát không?

Đáp:
Không được! Vì vô sở cầu, vô sở đắc, vô sở sợ. Nếu cầu được thì không có nhân quả, cầu được là phá hoại nhân quả nên không có Phật pháp. Do có nhân quả mới cần tu, nếu không có nhân quả thì khỏi cần tu. 

Nhân quả không đúng cũng không được, như tạo thiện nhân không thể chịu quả xấu, tạo ác nhân không thể nào được quả tốt. Cho nên, tạo thiện nhân thì được quả tốt, tạo ác nhân thì chịu quả xấu.
Như trồng bí được bí, trồng đậu được đậu; trồng đậu muốn được bí không được, trồng bí muốn được đậu cũng không được. Không trồng bí mà muốn có bí không được. Cầu là nghịch với nhân quả, vì vậy chánh pháp là không thể cầu.

Hỏi:
Tu đâu không bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ mới là chân tu. Xin Sư Phụ khai thị?

Đáp:
Truyền thống hiếu thảo đối với cha mẹ là từ xưa nay, các tôn giáo nào cũng tôn trọng hiếu thảo. Nhưng hiếu thảo của Phật giáo siêu việt thế tục. Theo thế tục nuôi dưỡng cha mẹ gọi là hiếu thảo, người xuất gia không nuôi dưỡng cha mẹ mà gọi là đại hiếu. Tại sao? Vì nuôi dưỡng cha mẹ đến chết, nhưng không giải thoát cái khổ, kiếp sau cha mẹ phải chịu khổ nữa.
Nếu người con tu được đắc đạo trở về độ cha mẹ, như Phật Thích Ca thành đạo về hoàng cung độ cha mẹ và người thân. Vậy mới là đại hiếu, tức làm cho cha mẹ giải thoát tất cả khổ vĩnh viễn, chứ không phải chỉ nuôi sống trong một kiếp này.

Hỏi:
Thế nào là nhìn thoại đầu?

Đáp:
Tham là hỏi câu thoại để kích thích một niệm không hiểu không biết, nhìn là nhìn chỗ không biết; nhưng chỗ không biết thì không có chỗ nên không có mục tiêu để nhìn, nhìn mãi không thấy gì vẫn còn không biết; Thiền tông gọi là nghi tình, đưa hành giả đến thoại đầu sẽ kiến tánh.
Nhưng không phải dùng miệng hỏi là dùng tâm hỏi, tức hỏi thầm trong bụng; nhìn không phải dùng con mắt, mà nhìn thầm trong bụng. Hỏi và nhìn song song, nhìn chỗ mênh mông không có gì, nên không thấy gì mới đúng. Nếu nhìn thấy gì là không đúng. 
Có người nói “tôi nhìn không được”, nói nhìn không được là đã nhìn được rồi. Tại sao? Vì có nhìn nên biết nhìn không được. Nhìn không thấy gì tức là chỗ không biết. Đến khi kiến tánh thì tất cả đều biết (chánh biến tri).

Hỏi:
Tham có giống cái niệm không?

Đáp:
Không phải! Niệm không có nghi, tham là có không hiểu không biết (nghi). Vì niệm đã biết sẵn, như niệm Phật là đã biết mình niệm Phật.
Hỏi hoài mà không giải quyết thì biến thành niệm phải không?
Nếu chỉ có hỏi thì có thể biến thành niệm, còn hỏi thêm cái nhìn thì không biến thành niệm.
An trú trong câu hỏi, đó là tham thoại đầu phải không?
Không phải an trú và không an trú, luôn cả an trú và không an trú cũng không biết; đó là sản phẩm của bộ óc, chỉ hỏi và nhìn song song để giữ thắc mắc không hiểu gọi là nghi tình. Mục đích tham thiền là dẹp hết tất cả những sản phẩm của bộ óc, không cho bộ óc hoạt động, tất cả đều mặc kệ.

Hỏi:
Tại sao nghi tình được rốt ráo hơn niệm?

Đáp:
Vì nghi là nhân, có nghi có ngộ, không nghi không ngộ; tức là không có nhân thì không có quả. Pháp thế gian và xuất thế gian đều vậy. Nghi của pháp thế gian là bộ óc tìm hiểu, suy nghĩ, ghi nhớ. Nghi của pháp xuất thế gian là không cho bộ óc tìm hiểu, muốn dẹp tìm hiểu biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ biết. Tất cả cái biết của bộ óc đều phải chấm dứt.
Nghi của thế gian ngộ được pháp thế gian, như nhà khoa học Newton phát minh hấp dẫn lực của vạn hữu. Theo truyền thống biết thì trái bôm từ trên cây rớt xuống, đâu có rơi lên! Vì tư tưởng của mình cứ cho ở trên đầu là hướng trên, dưới chân là hướng dưới. Thật tế, không có trên dưới.
Quả đất tròn, ban ngày cho là trên ban đêm là dưới; nhưng không phải vậy, không có trên dưới. Nói bốn phương (đông, tây, nam, bắc), nhưng thật tế không có. Tại sao? Cấm cây nêu giữa chậu, người đứng bên đông cây nêu nói bên kia là bên tây, người đứng bên tây nói bên kia là bên đông,…
Nếu cứ tranh cải có nhất định đông, tây, nam, bắc thì không có ích lợi. Vì vốn không có đông, tây, nam, bắc. Trên dưới nghĩa cũng vậy, thói quen của bộ óc phải có đông, tây, nam, bắc, trên, dưới. Nhưng đông, tây, nam, bắc, trên, dưới không có vị trí nhất định, tùy theo vị trí của mình thay đổi.
Cho nên, Newton thấy trái bôm rớt xuống, ông thắc mắc tại sao trái bôm không rơi lên? Vì không có trên dưới, nên ông phát minh sức hấp dẫn lực của trái đất. Rồi từ đây ông ngộ được hấp dẫn lực vạn hữu. Nhà khoa học gọi là từ trường.

Hỏi:
Người tham Tổ Sư thiền làm sao biết mình có tiểu ngộ, đại ngộ?

Đáp:
Nếu ngộ rồi còn ôm cảnh giới ngộ, tức là cho mình đã ngộ thì còn mê, gọi là tiểu ngộ. Như A La Hán và Bích Chi Phật thuộc về tiểu ngộ.
Ngộ rồi, luôn cảnh giới ngộ không còn gọi là đại ngộ. Đại ngộ đồng như chưa ngộ, vì ngộ là đối với mê; nếu ngộ triệt để thì hết mê, hết mê không còn ngộ. Cho nên, mê ngộ đều sạch.

Hỏi:
Lúc ngủ thì tâm ở đâu?

Đáp:
Nếu có ở đâu thì không cùng khắp không gian thời gian, tức có gián đoạn. Vì cùng khắp không gian nên gọi là Như Lai (không có khứ lai), đúng như bản lai. Khắp thời gian không gián đoạn nên gọi là Niết Bàn (không sanh không diệt). 
Nếu có chỗ thì không cùng khắp không gian, có lúc thì không cùng khắp thời gian. Cho nên, đã cùng khắp không gian thì không có chỗ để chỉ, đã cùng khắp thời gian thì không có lúc để chỉ. Vì vậy không thể nói là ở đâu!
Nhớ và quên đều là sản phẩm của bộ óc, vì có nhớ mới có quên. Nhớ không thể thành lập, quên làm sao thành lập? Nhớ với quên là tương đối, kiến tánh thì sản phẩm của bộ óc đều sạch, không có sự nhớ và quên.

Hỏi:
Trong tham Tổ Sư thiền nói “hành khởi giải tuyệt”, vậy không còn nghiên cứu nữa sao?

Đáp:
Giải là kiến giải, như ông hỏi là kiến giải phải cắt tuyệt. Vì tin tự tâm chưa đầy đủ, nên còn tìm hiểu. Tìm hiểu là còn kiến giải, chứ chưa có tuyệt. Thực hành đúng thì phải “hành khởi giải tuyệt”.
Nghiên cứu là muốn biết muốn giải, làm sao tuyệt được? Còn xem kinh là chưa tin tự tâm đầy đủ. Tôi giải đáp là để tăng niềm tin tự tâm, không phải cho hiểu giáo lý cao siêu. Tôi giải đáp là tùy bệnh cho thuốc, nhưng bệnh là bệnh giả; thuốc cũng là thuốc giả, bệnh hết thuốc bỏ luôn.
 

 
c
Links Phật Giáo Thế Giới