Ngày
14 – 5 đến 20 – 5 Đinh Sửu (97)
Lời
khai thị:
Theo
thật tế mà nói, Phật Giáo là giáo dục truyền dạy tâm
pháp dẫn đến giác ngộ cuối cùng. Nhưng hiện nay nhiều
người hiểu lầm cho là một tôn giáo mê tín.
Nói
tôn giáo mê tín là do các chùa làm những việc mê tín, như
đốt vàng bạc,… đó là hại cho người chết.
Giáo
dục là bao gồm vũ trụ vạn vật, chẳng có vật nào thiếu
sót gọi là vạn pháp duy tâm. Vì nguồn gốc vạn sự vạn
vật là tâm.
Tại
sao? Tại xuất phát từ tâm, cho nên Phật Thích Ca nói “tất
cả do tâm tạo”. Nói tâm tạo cũng không có ai tin! Có người
nói tâm tạo thì ông tạo một cục vàng ra đi? Nếu người
đến sức độ cao hiện ra sức của tâm thì có thể tạo
ra có liền, muốn tạo ra cục vàng có liền được.
Nhưng
bây giờ mọi người có sức tâm rất yếu, nên kiếp trước
tạo cho kiếp này, kiếp này tạo cho kiếp sau, thành nhân quả
3 đời. Vì sức yếu thì tạo chậm, tâm lực yếu chừng nào
nên quả sẽ đến chậm chừng nấy. Nếu sức của tâm mạnh
kiếp này tạo thì kiếp này có, sức của tâm mạnh hơn tạo
ra có liền. Nói tóm lại đều là tâm tạo.
Vậy
tâm là thế nào? Tâm là một danh từ ai cũng nói được, nhưng
tâm là gì chẳng ai biết! Vì tâm không hình tướng số lượng.
Tổ
14 Thiền tông Ấn Độ dùng hư không vô sở hữu để thí
dụ tâm, hư không vô sở hữu là không có hư không tức trống
rỗng, nhưng nhờ trống rỗng dung nạp và ứng dụng tất cả.
Tại
sao không nói hư không quảng đại vô biên dung nạp tất cả
vật, mà nói hư không vô sở hữu dung nạp tất cả vật?
Hư không vô sở hữu dung nạp tất cả vật, đó là thật
tế. Bây giờ, mình thấy rõ ràng tất cả cây cối, nhà cửa,
núi sông, đất đai,… đều phải ở trong vô sở hữu này;
thật tế đang dung nạp và ứng dụng. Như tôi đang nói, các
vị đang nghe, nhìn với nhau,… đều nhờ cái trống rỗng
này.
Vô
sở hữu là trống rỗng khắp không gian thời gian, nhưng con
người ham sở hữu đều muốn sở hữu của mình, tiền là
sở hữu của tôi, nhà là sở hữu của tôi, đất là sở
hữu của tôi; nếu nhà chưa có quyền sở hữu thì đi làm
giấy để có quyền sở hữu. Nhưng thật tế, sở hữu là
chướng ngại dụng của tâm, vì ham sở hữu thành ra bị chướng
ngại.
Có
sở hữu thì phải kiến lập, nhưng Phật nói không thể kiến
lập, gọi là vô thỉ. Nếu kiến lập thì có bắt đầu, vô
thỉ là không có bắt đầu cũng là nghĩa vô sanh, không có
sự sanh khởi; tại có sanh khởi thì phải có bắt đầu, vì
thật tế không có sự sanh khởi.
Cho
nên, người chứng quả ngộ pháp vô sanh, Tịnh Độ cũng nói
“hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh”, Giáo môn gọi là “chứng
vô sanh pháp nhẫn”. Thật tế không có sự sanh khởi, không
có sự bắt đầu, tại trống rỗng vô sở hữu.
Vô
sở hữu khắp không gian thời gian chẳng có gì chướng ngại.
Nhưng thông minh của con người đem cái không chẳng chướng
ngại, hạn chế thành cái không có chướng ngại. Phật pháp
gọi là tánh không, tức cái không vô sở hữu.
Nếu
hạn chế cái không của tách, tách bị bít hết là không còn
trống rỗng thì tách này là tách chết không thể đựng nước.
Có trống rỗng nên đựng nước được, nhưng bị hạn chế
thì chỉ dùng trong tách.
Cái
không của bình thì hạn chế trong cái không của bình, cái
không của chuông thì hạn chế trong cái không của chuông,
cái không của nhà thì hạn chế trong cái không của nhà, giải
ra muôn ngàn nghĩa không khác biệt rất hay rất có lý.
Nhưng
cái không sẵn sàng vô sở hữu đang ứng dụng, cái nhà muốn
dựng lên phải nhờ cái không vô sở hữu. Chưa có tách mà
cái không cũng sẵn sàng. Sự thật cái không của tách, bình,
nhà đâu có khác! Có khác là do con người kiến lập rồi
thấy có khác, do có khác nên hạn chế làm chướng ngại dụng
cái không vô sở hữu.
Phật
Thích Ca, chư Bồ Tát chúng sanh đều có tâm bằng nhau, nhưng
cái dụng thì khác. Tại sao? Vì mình có sở hữu rất nhiều,
còn Phật không có sở hữu. Sức tâm mình tuy bằng Phật,
nhưng chưa dùng được hết, vì bị hạn chế. Hạn chế bằng
tách thì dụng bằng tách, hạn chế bằng bình thì dụng bằng
bình,… thành ra mỗi người có dụng khác nhau.
Nhưng
Phật tánh của chúng sanh đều bằng nhau, thần thông trí huệ
không kém hơn Phật Thích Ca. Tại sao? Vì Phật tánh không thể
giảm bớt. Nếu Phật tánh của mình kém hơn Phật Thích Ca
thì giảm bớt, giảm bớt là pháp sanh diệt luân hồi. Nếu
Phật tánh còn luân hồi thì thành Phật vô ích.
Ngài
Long Thọ dùng hư không vô sở hữu để ví dụ cho tâm, tâm
không hình thể số lượng. Do đó chẳng thể dùng bộ óc
suy nghĩ tiếp xúc, nên chẳng dùng lời nói, văn tự để diễn
tả. Phật pháp miễn cưỡng nói là tánh không.
Nhiều
người cho cái không là tiêu cực là không có, dù nói không
là để hiển bày dụng tâm; cho nên Phật pháp nói không là
dùng. Như tách chẳng có cái không thì tách chết chẳng dùng
được; bình, nhà cũng vậy.
Cái
không là thể cũng là dùng, cái thể gọi là vô sở hữu;
nhưng cái dùng cũng vô sở hữu thì mới dùng được, cho nên
mình đang dùng. Như hư không vô sở hữu dung nạp tất cả
vật. Tất cả vũ trụ vạn vật, mặt trăng, mặt trời, núi
sông, đất đai, nhà cửa, cây cối,… đều phải nhờ vô
sở hữu này dung nạp và ứng dụng. Cuộc sống hàng ngày,
như ăn cơm mặc áo, nói năng, làm việc đều phải nhờ cái
vô sở hữu này mới được hiển bày.
Chỉ
tiếc rằng chúng ta ứng dụng hàng ngày mà chẳng tự biết,
không có giờ nào phút nào mà không dùng. Dẫu cho mình đi
đến chân trời góc biển cũng đang dùng, bây giờ ngồi đây
cũng đang dùng, nhưng dùng mà chẳng tự biết. Nên Phật Thích
Ca dạy pháp Thiền trực tiếp để mọi người đều được
hiện toàn diện tâm mình.
Bây
giờ các vị tham thiền là từ Phật Thích Ca truyền xuống
cho Ma Ha Ca Diếp đến đời thứ 28 là Bồ Đề Đạt
Ma rồi truyền qua Trung Quốc, làm sơ Tổ Trung Quốc, truyền
cho Huệ Khả, Huệ Khả truyền cho Tăng Xán, Tăng Xán truyền
cho Đạo Tín, Đạo Tín truyền cho Hoằng Nhẫn, Hoằng Nhẫn
truyền cho Huệ Năng.
Huệ
Năng là người không biết chữ, nhưng Phật pháp của ngài
cao không ai bằng; dưới Huệ Năng chia làm 5 phái (Lâm Tế,
Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn, Quy Ngưỡng), từ Tổ từ Tổ
truyền đến ngày nay. Tôi cũng may mắn được truyền pháp
môn Tổ Sư thiền này, nhưng tôi chưa kiến tánh, chỉ là học
được đường lối thực hành. Tính từ sơ Tổ thì tôi là
đời 89.
Phật
Thích Ca dạy pháp thiền trực tiếp là Tổ Sư thiền. Tất
cả thiền khác là pháp thiền gián tiếp, vì dùng cái biết
để tu; tức là phải học rồi theo hiểu biết thực hành
từ cấp mà lên. Thường thường có 52 cấp (Thập Tín, Thập
Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa là 50 cấp,
Đẳng Giác Và Diệu Giác).
Phật
Thích Ca dạy pháp môn thiền gián tiếp hay trực tiếp gặp
nhau ở Đẳng Giác. Tổ Sư thiền từ địa vị phàm phu ngộ
là đến Đẳng Giác, khỏi cần phải qua mấy chục cấp kia,
cho nên gọi là pháp thiền trực tiếp.
Pháp
thiền trực tiếp để mọi người đều được hiện toàn
diện chính tâm mình. Tất cả thiền là hiện tâm mình, hiện
được tâm mình là kiến tánh thành Phật. Dù nói thành Phật
nhưng không có Phật để thành.
Chữ
“Phật” tiếng Ấn Độ nghĩa là giác ngộ, giác ngộ là
ở trong mở mắt chiêm bao tỉnh dậy; như mình ở trong nhắm
mắt chiêm bao tỉnh dậy tự chứng tỏ tất cả sự vật trong
chiêm bao, người và thế giới chiêm bao đều chẳng thật.
(2
thứ chiêm bao…………….trang 80)
Bát
Nhã Tâm Kinh, các chùa đều tụng có 262 chữ, nói: “Vô vô
minh diệc vô vô minh tận, vô lão tử diệc vô lão tử tận”,
làm sao tin! Tôi cũng già rồi chết. Phật nói không có già
chết làm sao được? Tin không nổi là đang chiêm bao. Nếu
có Thiện Tri thức giải thích cũng không tin, đến lúc thức
tỉnh thì tự chứng tỏ, nên gọi là chứng ngộ.
Nay
nói sơ cách thực hành Tổ Sư thiền. Làm sao thực hành? Tham
thoại đầu và khán thoại đầu. Tham là hỏi câu thoại, mục
đích khởi một niệm không hiểu không biết, như hỏi “khi
chưa có trời đất ta là cái gì?” cảm thấy không biết.
Khán là nhìn chỗ không biết, muốn xem chỗ không biết là
gì; chỗ không biết thì không có chỗ, vì có chỗ là biết.
Không có chỗ là không có mục tiêu để nhìn, nhìn mãi không
thấy gì, vẫn còn không biết, Thiền tông gọi là nghi tình.
Người
tham Tổ Sư thiền cần giữ cái không biết đó, sẽ đưa hành
giả đến thoại đầu rồi kiến tánh thành Phật. Cho nên
hành giả vừa hỏi vừa nhìn, hỏi với nhìn đi song song; không
phải hỏi trước nhìn sau, không phải hỏi sau nhìn trước.
Hỏi không gián đoạn, nhìn cũng không gián đoạn; khi nào
gián đoạn thì vọng tưởng nổi lên.
Ban
đầu tập thì vọng tưởng xen lộn hoài, nhưng chỗ không
hiểu không biết thì không có chỗ, cho nên lúc mới tập rồi
nói “tôi nhìn không được”, nói nhìn không được là đã
nhìn được rồi. Tại sao? Nhìn rồi mới biết nhìn không
được, nhìn không thấy gì hết là đúng. Nếu nhìn thấy
cái gì thì không đúng, vì hư không trống rỗng vô sở hữu
lấy gì để thấy!
Cho
nên, Lục Tổ nói: “Xưa nay không một vật, nơi nào dính
bụi trần?” Trống rỗng vô sở hữu làm sao thấy cái gì?
Nếu thấy cái gì thì có sở hữu là sai. Tuy không thấy gì
cứ hỏi và nhìn, tại không thấy gì nên không biết, không
biết cũng nhìn, nhìn chỗ không biết đó, sẽ đưa hành giả
đến thoại đầu rồi kiến tánh.
Tất
cả thiền khác phải cố gắng tập trung tinh thần, Tổ Sư
thiền không cần tập trung tinh thần, cố gắng, chỉ cần
miên mật một chút nghi tình kéo dài. Cho nên, chư Tổ nói:
“Ít phí sức chừng nào tốt chừng nấy”, nếu cố gắng
tập trung tinh thần là phí sức. Mình khỏi cần phí sức,
chỉ là vừa hỏi vừa nhìn để giữ nghi tình.
Có
người hỏi tham đến lúc nào được kiến tánh? Đó là tùy
mình, bây giờ nói tham thoại đầu, nhưng chưa đến thoại
đầu. Thoại là lời nói, đầu là đầu tiên lời nói; tức
là chưa nổi niệm nào gọi là thoại đầu. Như muốn nói
một lời nói thì phải khởi niệm rồi nói ra miệng; khi chưa
khởi niệm muốn nói gọi là thoại đầu, có khởi niệm muốn
nói, tuy chưa nói ra gọi là thoại vỉ.
Nhưng
mình bắt đầu tham chưa đến thoại đầu, mục đích đến
thoại đầu nên nói tham thoại đầu hay khán thoại đầu.
Cách thoại đầu còn rất xa. Nếu công phu miên mật 24/24 thì
đến thoại đầu. Bắt đầu tham được 1 phút trong 24 giờ,
mỗi ngày nghi tình tăng 1 phút, một tháng tăng được 30 phút
thì 12 tháng tăng được 6 giờ, bốn năm đến thoại đầu
được kiến tánh.
Nếu
mỗi ngày, nghi tình tăng ½ phút thì 8 năm đến thoại đầu
được kiến tánh, mỗi ngày tăng nghi tình ¼ phút thì 16 năm
đến thoại đầu được kiến tánh. Kiến tánh là phải theo
công phu tiến triển của mình, nhưng công phu của mình là
giữ nghi tình là không hiểu không biết.
Tôi
thường thí dụ cây viết, đầu trên là thoại đầu, đầu
dưới là thoại vỉ, từ thoại vỉ đến thoại đầu là đường
đi ý thức. Bắt đầu tham là lìa thoại vỉ nhưng chưa đến
thoại đầu, đang đi ở giữa đường. Ý thức có 2 mặt,
mặt biết dùng để tu Như Lai thiền, mặt không biết tu Tổ
Sư thiền, cuối cùng đều đến thoại đầu.
Dùng
biết để tu là pháp thiền gián tiếp, dễ bị ngoại cảnh
lôi kéo, vì thấy cái nào tốt thì ham thích, thấy cái nào
xấu thì chê ghét; dùng không biết để tu thì tốt không biết
tốt làm sao ham thích? Xấu không biết là xấu làm sao chê
ghét? Cho nên không bị ngoại cảnh lôi kéo. Vì vậy pháp thiền
này dễ tu hơn nhiều, mau đến thoại đầu. Nhưng dễ quá
thành ra người ta không tin, lại tìm cái khó.
Hỏi:
Cái
này là cái gì?
Đáp:
Hãy
tự hỏi đi! Không những cái này không biết, mà tất cả
các thứ khác cũng không biết. Đừng nói cái ở ngoài, sợi
tóc của ông còn không biết, tế bào của ông cũng không biết;
trong cơ thể của ông không biết, chứ nói ngoài cơ thể!
Tại
sao không biết?
Vì
muốn có sở hữu, muốn có cái biết; cho cái biết là sở
hữu của mình, vì ông có tư tưởng chấp thật, cái biết
sai lầm cũng muốn biết. Chính thân thể của mình không biết,
ông là Tăng sinh biết được cái gì?
Con
cũng không biết.
Tự
mình học mà không biết, vậy còn hỏi ai? Nghi tình của Thiền
tông là muốn tự hỏi, nếu hỏi Phật Thích Ca nói được
đối với mình có ích gì! Huống là nói không được. Tại
sao? Vì Phật rất sợ những người như ông vậy. Có tư tưởng
chấp thật cứ đuổi theo lời nói, cho nên Phật nói: “49
năm thuyết pháp chưa từng nói một chữ”.
Kinh
Kim Cang nói: “Ai nói Phật có thuyết pháp thì người ấy
phỉ báng Phật”. Chính kinh Kim Cang của Phật thuyết, tại
sao Phật nói như vậy! Lại nói: “Không có pháp để thuyết
mới là thuyết pháp”. Những bổn phận học nhưng không chịu
học, nếu Giáo sư hỏi mà ông trả lời “không biết” thì
ông học cái gì?
Hỏi:
Có
nhân quả sao gọi là tánh không, tánh không thì sao có nhân
quả?
Đáp:
Tất
cả do tâm tạo, nguồn gốc là tâm, nhân quả cũng là tâm.
Tâm tạo không phải thật. Ý thức một mình tạo ra nhắm
mắt chiêm bao, ý thức cùng 5 thức trước (nhãn, nhĩ, tỷ,
thiệt, thân) tạo ra mở mắt chiêm bao. Nhắm mắt chiêm bao
và mở mắt chiêm bao đều chẳng thật, tất cả nhân quả
ở thế gian đều là mở mắt chiêm bao.
Nếu
kiến tánh là nhảy ra ngoài chiêm bao, không bị chiêm bao nữa;
tức ở trong mở mắt chiêm bao thức tỉnh là ở ngoài chiêm
bao thì không dính dáng nhân quả chiêm bao. Vì người hỏi
có tư tưởng chấp thật, nên có câu hỏi này. Tánh không
là vô sở hữu làm sao có cái này có cái kia?
Hỏi:
Người
ta sát sanh có nhân quả hay là tánh không?
Đáp:
Nhân
quả là ở trong chiêm bao, không nhảy ra ngoài chiêm bao thì
phải chịu nhân quả trong chiêm bao. Nhiều người chấp tri
của bộ óc, tánh không là vô duyên tri (không có nhân duyên
đối đãi), cũng là trí Bát Nhã, Phật tánh, Tự tánh, Như
Lai, Niết Bàn, vô trụ, vô thỉ, vô sanh,… đủ thứ danh từ
khác biệt, nhưng nghĩa không khác.
Những
danh từ tùy dụng lập danh, người có tư tưởng chấp thật
tranh cải những danh từ, vì không hiểu nguồn gốc. Danh từ
muôn ngàn sai biệt, nhưng muốn hiển bày thể dụng của tâm.
Bây giờ dùng cái tri của bộ não, chứ không phải vô duyên
tri.
(Giảng
4 bài kệ chữ tri…… trang 66).
Hỏi:
Những
cái biết không xử dụng được, thế nào biết không qua bộ
óc?
Đáp:
Không
phải là không qua bộ óc! Không cho bộ óc làm chủ. Bây giờ
là do bộ óc làm chủ, đến chừng kiến tánh cũng qua bộ
óc, không những qua bộ óc, qua nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân,
ý; nhưng các thứ này không làm chủ, chỉ làm nô lệ cho Phật
tánh, Phật tánh làm chủ. Theo danh từ khoa học gọi là chủ
quan.
Ở
Canada có giáo sư dạy tâm lý học, chuyên về tâm lý thầy
trò. Tôi hỏi Giáo sư giảng bài cho sinh viên nghe, phải dùng
thái độ nào mới đúng? Ông ấy trả lời nhiều chi tiết.
Tất cả bây giờ theo hệ thống khoa học, tâm lý học thế
gian cũng có hệ thống khoa học. Khoa học là một bộ phận
trong Phật pháp, Phật pháp không thuộc về khoa học.
Tất
cả pháp thế gian đều phải theo hệ thống khoa học, để
người ta học cho dễ; mà cứ ghi nhớ nhiều quá sao làm được?
Tâm lý học chưa có danh từ đó, đã có nhưng chưa biết dùng.
Giáo sư giảng bài cho sinh viên nghe phải dùng thái độ khách
quan, không dùng thái độ chủ quan. Tại sao? Nếu dùng thái
độ chủ quan thì đem ý mình xen vô trong bài để giảng cho
sinh viên nghe thì có hại cho sinh viên, không phải nguyên ý
của tác giả.
Đó
là pháp thế gian, khách quan còn có chủ quan tương đối. Phật
pháp không tương đối, nếu đem pháp thế gian so với pháp
không tương đối của Phật pháp (vô trụ) thì còn rất xa.
Khách quan của thế gian thì cao đối với vô trụ của Phật
còn kém lắm. Như Lục Tổ nghe Ngũ Tổ giảng “ưng vô sở
trụ nhi sanh kỳ tâm” được ngộ. Dùng tay để ví dụ vô
sở trụ, nếu vô sở trụ là hoạt bát vạn năng, lấy cái
gì cũng được.
Có
sở trụ thì hoạt bát vạn năng bị đánh mất.
Như
trụ cây viết, mặt kiến,… đều không được. Cây viết,
mặt kiến là pháp có, nhưng lại trụ nơi pháp không, tức
trong tay không có gì cũng là chướng ngại, làm mất thể dụng
bản tánh. Cho nên cái không này phải quét, vì cái không này
do kiến lập, chứ chẳng phải cái không vô sở hữu.
Có
người hỏi: “Tại sao không nói hư không quảng vô biên dung
nạp tất cả vật, mà nói hư không vô sở hữu dung nạp tất
cả vật?” Người hỏi đã kiến lập sở hữu hư không,
có khái niệm hư không, nói hư không quảng đại thì không
đúng. Nếu hư không vô sở hữu là chẳng có hư không thì
lấy gì để quảng đại? Cái không có sở hữu và cái không
vô sở hữu khác nhau. Cho nên, có quảng đại thì có hạn
chế, không kiến lập nên không hạn chế.
Hỏi:
Cúng
tuần thất cho người thân xúc động khóc, vậy người chết
có siêu thoát không?
Đáp:
Siêu
thoát hay không siêu thoát là tùy theo tâm của người chết,
chứ không phải do con cháu cầu siêu. Nhưng sức cầu siêu
(Trai Tăng) là nhờ tâm lực của chư Tăng hợp lại có thể
ảnh hưởng đến tâm của người chết để sửa lại nghiệp.
Như
Mục Kiền Liên chứng quả A La Hán có thần thông thấy mẹ
đọa ngạ quỷ đang chịu khổ đói, ngài hóa ra bát cơm đem
cho mẹ ăn, nhưng cơm vừa tới miệng lại hóa thành than lửa.
Nên
ngài trở về hỏi Phật, Phật dạy sức của Mục Kiền Liên
chưa đủ làm ảnh hưởng tâm người mẹ (Thanh Đề), phải
nhờ 1250 vị Tỳ Kheo A La Hán có tâm lực mạnh ảnh hưởng,
sửa lại nghiệp bà Thanh Đề thoát khỏi đạo ngạ quỷ sanh
lên thiện đạo.
Thiện
mạnh hơn ác một chút thì sanh lên thiện đạo, ác mạnh hơn
thiện một chút thì sanh xuống ác đạo. Chỉ sửa lại một
chút, nhưng chính người đó sửa mới được, người khác
thay thế không được.
Người
nào ăn người ấy no, con cháu có hiếu không thể ăn giùm
cho cha mẹ; cha mẹ thương con cháu cũng không thể ăn giùm
cho con cháu, tâm mình giống như vậy.
Hỏi:
Cúng
cho người chết có về hưởng không?
Đáp:
Hưởng
được là người đó có tu chưa đi đầu thai, có người đầu
thai rồi cũng có thể về hưởng. Như Huỳnh Đình Kiên làm
chức Thượng Thư ở nhà Đường (Bộ Trưởng bây giờ). Lúc
ông 26 tuổi làm Huyện Trưởng, một hôm ăn sinh nhật rồi
nghỉ trưa thấy chiêm bao, thấy một mình đi không có vệ
binh theo, đến một làng nhỏ thôn quê gặp một bà già mời
vô nhà ăn cơm, rồi xong đi về.
Thức
dậy cảm thấy kỳ lạ giống như chuyện thật, rồi một
mình đi không cho vệ binh biết, theo con đường đã thấy chiêm
bao, đến nhà gặp bà già ấy, hỏi bà già hôm nay bà có làm
việc gì không?
Bà
già nói: Có, hôm nay là đám giổ con gái tôi đã chết 26 năm.
Con gái tôi tu tại nhà không lấy chồng, đến lúc chết không
có bệnh, nó có một cái rương tự mình khóa lại cất chìa
khóa, rồi nói với tôi “kiếp sau con lại mở cái rương
này”.
Huỳnh
Đình Kiên nghe đến chỗ này nhớ lại kiếp trước, biết
mình là con gái của bà già. Ông hỏi: Bà biết chìa khóa ở
đâu không?
Bà
già nói: Không biết.
Huỳnh
Đình Kiên nói: Tôi biết.
Ông
đi lấy chìa khóa mở cái rương, trong rương chỉ có văn chương,
không có gì khác; bài thi đậu tú tài, cử nhân thì giống
bài thi đậu tú tài và cử nhân của ông. Bà già chỉ có
một mình, nên ông đem bà già về nuôi đến chết.
Hỏi:
Biết
mình trong chiêm bao là như thế nào?
Đáp:
Chưa
kiến tánh còn ở trong chiêm bao, bị nhân quả chiêm bao trói
buộc.
Hỏi:
Người
đã kiến tánh rồi luân hồi để độ sanh phải không?
Đáp:
Không
phải, lúc đó là sanh tử tự do, muốn trở lại độ sanh
vẫn được, muốn không trở lại độ sanh cũng được, tự
do không phải nhất định; nếu nhất định không phải tự
do tự tại. Ngài Lai Quả kiến tánh rồi nói:
“Tôi
muốn lên Thiên đường hay xuống địa ngục đều được
và ngược lại ”, chứ không có nhất định.
Hỏi:
Chư
Phật chư Bồ Tát có mặt mọi nơi để độ sanh phải không?
Đáp:
Phải,
các vị ấy không bao giờ ngưng độ sanh. Tâm của mình hoạt
động cũng không bao giờ ngưng.
Hỏi:
Thọ
giới Bồ Tát xuất gia không giữ được thì thế nào?
Đáp:
Thọ
giới mà không giữ giới là phạm giới, nếu giữ không được
thì xả giới; như thọ Bát Quan Trai mà không giữ được thì
có thể xả. Truyền giới khó, xả giới dễ. Xả giới chỉ
nói với một người “tôi muốn xả giới, xin chứng minh
cho”, giống như sau này chưa thọ giới.
Người
thọ ngũ giới muốn xả giới nói với người thọ ngũ giới,
người thọ Bồ Tát giới muốn xả giới nói với người
thọ Bồ Tát giới. Cư sĩ không được truyền giới.
Sám
hối không phải đến trước bàn thờ Phật sám hối, vì trước
bàn thờ Phật không có ai chứng minh. Cho nên, sau này dễ phạm
như cũ. Sám hối nói với người thọ giới đó, như người
thọ ngũ giới sám hối với người có thọ ngũ giới, nói
rằng: “ Tôi có phạm giới đó, xin chứng minh, sau này tôi
không tái phạm”.
Nếu
sau này mình phạm giới thì người đó biết, có giới thể
mình không dám tái phạm. Cho nên, theo giới luật nhà Phật,
sám hối phải có người chứng minh. Chân sám hối là sám
hối tâm, vì tất cả do tâm tạo. Có
bài
kệ:
Tội
từ tâm khởi lấy tâm sám,
Tâm
nếu diệt rồi tội liền tiêu.
Tội
tiêu tâm diệt thảy đều không,
Ấy
mới thật là chân sám hối.
Tất
cả xuất phát từ tâm, nên sám hối nơi tâm; tâm diệt rồi
các tội nương tựa vào đâu?
Hỏi:
Thế
nào phướn động, gió động và tâm của các ông động?
Đáp:
Khi
Lục Tổ đến chùa Pháp Tánh thấy 2 vị Tăng tranh cải với
nhau, một người nói gió động, một người nói phướn động,
Lục Tổ nói “chẳng phải gió động, chẳng phải phướn
động, là tâm của các ông động”.
Tại
sao? Vì tất cả duy tâm tạo, nói theo khoa học là năng lượng
của tâm. Tâm động thì gió động, tâm động mới có phướn
động. Nếu không có tâm thì không có gió động, không có
phướn động.
Lúc
đó Lục Tổ đã kiến tánh chưa xuất gia, gặp Pháp sư Ấn
Tông giảng kinh Niết Bàn, nghe người ta kể lại Lục Tổ
không phải người thường, rồi hỏi Lục Tổ: Y bát của
Ngũ Tổ đã truyền cho người đắc pháp đi xuống miền nam,
có phải là hành giả không?
Lục
Tổ nói: Phải.
Ấn
Tông nói: Xin đem y bát cho đại chúng xem.
Ngài
đem y bát ra cho đại chúng xem, biết ngài là Lục Tổ, mọi
người đều đảnh lễ. Ấn Tông xuống tóc cho Lục Tổ, rồi
xin Lục Tổ làm thầy, thỉnh Lục Tổ thăng tòa thuyết pháp.
Tâm
hoạt động từ vô thỉ cho đến nay, luôn luôn khắp không
gian thời gian. Tất cả vật chất do nguyên tử tổ chức thành,
ở giữa mỗi hạt nguyên tử có một trung tử, chu vi trung
tử có nhiều điện tử, ngày đêm xoay hoài không bao giờ
ngưng, không có sự bắt đầu và cuối cùng.
Như
cái bàn do nhiều nguyên tử tổ chức thành, điện tử xoay
tốc độ quá nhanh người ta khó tưởng tượng. Tốc độ
đó bằng 1/3 hay ½ tốc độ ánh sáng. Tốc độ ánh sáng 300.000
km/ giây, nếu ½ thì 150.000 km/ giây; bây giờ xe hơi chạy 100
km giờ thấy rất nhanh.
Chiếc
xe hơi chạy phải có xăng, hạt nguyên tử ngày đêm xoay hoài,
vậy năng lượng từ đâu? Nếu đem cái bàn chặt tan nát những
hạt nguyên tử vẫn xoay không ngưng. Đó là năng lượng từ
tâm, nhưng nhà khoa học không biết, không tin. Phật nói: “Tất
cả do tâm tạo”, Lục Tổ nói rõ hơn. Tâm động nên gió
động, tâm động phướn mới động, tâm động thì điện
tử xoay.
Hỏi:
Giảm
đi hương còn 20 phút được không?
Đáp:
Đi
và ngồi là để điều thân, tức là ngồi đến tê chân rồi
đi, đi tới mỏi chân lại ngồi; đi với ngồi bằng nhau bắt
đầu từ Phật Thích Ca đến bây giờ. Các phái thiền các
nước Tiểu thừa, như Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan,… hình
thức cũng y như vậy.
Thiền
Đường Trung Quốc khi tham thiền đốt một cây nhang để đi,
hết cây nhang đi rồi đốt cây khác để ngồi, vì thời xưa
không có đồng hồ. Đốt nhang nên gọi là tọa hương, đi
hương và các việc khác cũng dùng thêm chữ hương để gọi.
Năm
1974, tôi đi Thái Lan thấy trung tâm thiền cách Bangkok hơn 100
km, có Thiền sư Miến Điện dạy thiền Tiểu thừa, họ đi
và ngồi đều bằng nhau, giống như thời Phật Thích Ca, ở
trong đó có người Hoa, người Việt học thiền.
Ngồi
vẫn tham thiền, đi cũng tham thiền; pháp môn khác đều như
vậy. Theo người thường ham ngồi, không thích đi, ngồi lâu
lại chịu. Pháp thiền khác cho ngồi lâu chừng nào là cao
chừng nấy.
Nhiều
người chỉ ngồi không đi; ban đầu có đủ thứ bệnh cũng
hết, đến khi quá lâu thành bệnh không bao giờ trị được.
Đi đến Nhật Bản hay tới Mỹ, bác sĩ khám nói không có
bệnh, nhưng tự mình biết bệnh rất nặng.
Ngày
xưa người có bệnh lao rất khó trị, khi tôi qua Mỹ thấy
những người bệnh lao đi bộ nhiều, qua một thời gian hết
bệnh. Tôi không biết tại sao? Cho là đi bộ nhiều hết bệnh.
Bác
sĩ phát hiện dưới bàn chân có nhiều huyệt, có bệnh gì
xoa bóp dưới bàn chân thì mau hết bệnh. Người xưa không
có giày dép, đi chân không là tự nhiên xoa bóp nên ít bệnh
sống lâu.
Ban
đầu, đả Thiền thất tại chùa Từ Ân, tôi cho đi 20 phút
ngồi 40 phút. Vì tánh con người ham ngồi không thích đi, ban
đầu tôi phương tiện cho ngồi đi như vậy. Sau này, người
tham thiền có đủ lòng tin, nên tôi sửa lại ngồi 30 phút,
đi 30 phút.
Hiện
nay, Thiền Đường Từ Ân ở Mỹ, tôi tùy thuận người đến
tham thiền, nên cho đi 20 phút và ngồi 30 phút. Nhưng ở đây
thì khác, vì vậy tôi cho thực hành đi ngồi bằng nhau.
Hỏi:
Câu
thoại đầu: “Trước khi cha mẹ chưa sanh mặt mũi bổn lai
của ta ra sao?” Mặt mũi ở đây là gì? Người sanh ra đã
đầu thai nhiều kiếp, vì nghiệp lực có khi đầu thai heo,
khỉ, gà, vịt,… Vậy mặt mũi đầu thai rõ ràng làm sao tham
được?
Đáp:
Người
hỏi không biết tham thiền, hỏi câu thoại là kích thích lên
niệm không hiểu không biết. Chuyện này tôi đã nhắc đi
nhắc lại hơn 100 lần. Theo câu hỏi là muốn giải thích câu
thoại, ấy là sai lầm; tức là tham thiền không thể được.
Mục đích là muốn ngưng tìm hiểu biết, ghi nhớ biết và
suy nghĩ biết.
Khi
cha mẹ chưa sanh, mặt mũi bổn lai của ta ra sao? “Mặt mũi
bổn lai” là không phải cha mẹ sanh. Hỏi câu thoại là khởi
lên niệm không hiểu không biết, nhìn chỗ không biết, để
chấm dứt tìm hiểu, suy nghĩ, ghi nhớ chỉ còn nghi tình; giờ
phút cuối cùng nghi tình tan rã, biết và không biết của bộ
óc sạch hết thì biết tự tánh hiện lên khắp không gian
thời gian.
Khắp
không gian thì không có chỗ nào không biết, khắp thời gian
thì không có lúc nào không biết. Như nói về thời gian, ngủ
mê không biết, chết giấc không biết, thật chết không biết;
còn cái biết bản lai diện mục, ngủ mê, chết giấc, thật
chết đều biết, vì cùng khắp thời gian.
Hỏi:
Có
người quy y rồi, họ tham Tổ Sư thiền muốn quy y lại. Vậy
như thế nào?
Đáp:
Quy
y Tam Bảo là đệ tử của Tam Bảo, đâu cần quy y lại! Chưa
quy y thì cần quy y làm đệ tử Tam Bảo. Quy y là quy y Tam Bảo,
chứ không phải quy y riêng thầy nào; vị thầy ấy chỉ đại
diện Tam Bảo chứng minh người này quy Tam Bảo làm đệ tử
của Tam Bảo.
Tam
Bảo gồm có: Phật Bảo, Pháp Bảo, Tăng Bảo.
Tăng
Bảo là tiếng Ấn Độ, gọi là Tăng Già, dịch nghĩa là hòa
hợp chúng. Theo giới luật nhà Phật quy định 4 vị sắp lên
gọi là Tăng, 3 vị cũng chưa đủ thành Tăng. Nam nữ hòa hợp
lại cũng thành Tăng, Tỳ Kheo đứng đầu trong 7 chúng (Tỳ
Kheo, Tỳ Kheo Ni, Sa Di, Thức Xoa, Sa Di Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà
Di).
Hỏi:
Tại
sao ăn chay cử hành, hẹ, tỏi, nén, hưng cừ. Hiện nay tỏi
có nhiều đặc tính trị bệnh. Vậy nên cử hay không?
Đáp:
Phật
dạy người tu hành không được ăn ngũ tân (hành, hẹ, tỏi,
nén, hưng cừ). Kinh Lăng Nghiêm nói: “Ăn ngũ tân sống kích
thích dâm dục, ăn chín kích thích sân hận”, vậy không thích
hợp cho người tu.
Theo
giới sát sanh thì 5 thứ này không phạm, mà chướng ngại
việc tu. Người thế gian không tu nên không cấm.
Hỏi:
Tu
rồi kiến tánh, có chỗ nói kiến tánh rồi khởi tu. Vậy
như thế nào?
Đáp:
Nói
cho đúng là chưa phải tu, như người đời vẫn cho là tu,
bất cứ pháp môn nào cũng cho là tu. Nói kiến tánh rồi khởi
tu, nhưng bây giờ hiếm người kiến tánh làm gì có người
để tu? Vì người ta chưa hiểu được chữ “tu”, tu là
sửa; như ác sửa thành thiện, tật xấu sửa lại tốt. Không
phải ngộ rồi mới tu!
Ngộ
rồi tu là bảo nhậm để dứt tập khí, như chưa kiến tánh
là tu để dứt tập khí thế gian, kiến tánh là dứt tập
khí xuất thế gian. Sửa lại tập khí phiền não gọi là tu,
tâm linh mình có sửa đổi cũng gọi là tu.
Hỏi:
Kiến
tánh là do mình thấy hay do người nào chỉ cho mình thấy?
Đáp:
Nếu
nhờ người ta cho mình thấy thì Phật Thích Ca dạy mọi người
kiến tánh hết rồi, đâu còn chúng sanh nữa! Kinh A Di Đà
nói: “Hằng hà sa số chư Phật” thì bây giờ chúng sanh
kiến tánh hết. Vì người khác làm thế cho mình mà! Người
khác không thay thế được, nên chư Phật chư Tổ dạy mình
tu hành để kiến tánh.
Nói
cũng không được làm sao thay thế! Như cha mẹ thương con cháu
không ăn no giùm cho con cháu, con cháu hiếu thảo không thể
ăn no giùm cho cha mẹ. Người nào ăn người ấy no, chứ không
thể ăn thế được; kiến tánh cũng vậy.
Hỏi:
Tu
là diệt trừ tam độc, làm sao diệt trừ?
Đáp:
Kinh
Đại thừa liễu nghĩa nói “tham, sân, si là giải thoát”.
Vì có nhân mới có quả, nhân quả là tương đối; tự tánh
bất nhị không tương đối, không đối đãi. Chưa đạt đến
bất nhị còn ở trong tương đối, phải có tham, sân, si đến
giải thoát. Vì tham, sân, si là nhân, nên Lục Tổ nói: “Thiền
định giải thoát chẳng phải Phật pháp, Phật pháp là pháp
bất nhị”.
Tại
sao? Nếu có thiền định phải có tán loạn, có tán loạn
phải có thiền định; có giải thoát phải có trói buộc,
có trói buộc rồi có giải thoát. Trói buộc là tham, sân,
si. Không có tham, sân, si thì không có giải thoát; tức là
không có nhân để giải thoát. Nên nói “tham, sân, si là giải
thoát”.
Có
cần trừ không?
Khỏi
cần trừ! Chỉ cần thấu được tham, sân, si vốn là giải
thoát.
Có
một Kỹ Sư đến nói với tôi: Sao Tôi có nghiệp chướng
nặng và phiền não nhiều, thầy có cách nào trừ nghiệp chướng
phiền não không?
Tôi
hỏi: Ông nói nghiệp chướng phiền não của ông phải không?
Kỹ
Sư đáp: Phải.
Tôi
hỏi: Tiền trong túi ông, vậy ông biết tiền từ đâu mà
có! Như nghiệp chướng phiền não của ông từ đâu có? Ông
suy nghĩ một hồi trả lời không được. Ông trả lời không
được, tôi trả lời cho ông: Nghiệp chướng phiền não của
ông là từ tâm suy nghĩ của ông mà ra, tâm của ông là năng
suy nghĩ, nghiệp chướng phiền não là sở suy nghĩ. Vì có
tâm năng suy nghĩ nên có nghiệp chướng phiền não.
Nếu
tâm không suy nghĩ thì nghiệp chướng làm sao có! Tâm là một
danh từ ai cũng nói được, nhưng tâm là cái gì chẳng ai biết.
Ông Kỹ Sư không biết tâm là cái gì, thành ra chưa rõ được.
vì tâm không hình tướng số lượng khó diễn tả, nên dùng
hình tướng để diễn tả.
Hai
chân là của ông năng đi, con đường có gai gốc cứt sình
là sở đi của 2 chân; con đường gai gốc cứt sình dụ cho
nghiệp chướng phiền não của ông, nhưng sự thật không phải.
Tại 2 chân của ông ham giẫm lên con đường đó mới bị
dính cứt sình, rồi hỏi tôi làm sao để rửa cứt sình? Đâu
cần, có thúi cách mấy mặc kệ nó! Chỉ cần giữ 2 chân
của ông đừng giẫm lên con đường đó, thì không bị dính
cứt sình, cũng không cần phải rửa sạch cứt sình.
Đó
là ở ngoài 2 chân của ông, không phải của ông. Tâm của
ông đừng suy nghĩ làm sao có nghiệp chướng phiền não? Tại
ông cứ suy nghĩ hoài thì có sanh ra nghiệp chướng phiền não,
giống như 2 chân giẫm lên gai gốc cứt sình mới bị dính.
Hỏi:
Con
mua cá thịt nấu cho gia đình ăn, vậy có nhân quả không?
Đáp:
Nếu
mình cấp dưới nghe lệnh cấp trên làm theo mà không có ý
đó thì không tội, tức là không có nhân nên không có quả.
Người ra lệnh mình làm phải chịu quả, nếu mình thích ăn
thứ đó là có nhân quả.
Hỏi:
Con
đi xuất gia nhưng gia đình con không cho, vậy con có lỗi không?
Đáp:
Phật
Thích Ca trước kia trốn hoàng cung đi xuất gia, sau này thành
Phật. Nếu xuất gia phải chân thật tu, nếu không chân thật
tu sẽ mang nợ Thí Chủ. Có bài kệ:
Hạt
gạo của Thí Chủ,
Lớn
bằng núi Tu Di.
Nếu
không tu giải thoát,
Mang
lông đội sừng trả.
Cho
nên, nhiều người muốn xuất gia, tôi khuyên đừng xuất gia,
tại gia cũng tu được vậy, nhất là người nữ.
Con
ở nhà khó tu lắm!
Nếu
tu Tổ Sư thiền không phải khó, chỗ nào cũng tu được. Cấp
trên ra lệnh mình làm, vừa làm vừa hỏi và nhìn song song.
Cách tu này dùng không biết để tu, rất dễ! Dùng cái biết
của Như Lai thiền để tu khó hơn. Tại biết tốt thì ham,
biết xấu thì chê. Không biết tốt làm sao ham? Không biết
xấu làm sao chê? Cho nên, khó bị ngoại cảnh lôi kéo.
Hỏi:
Xin
thỉnh khai thị: Chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm?
Đáp:
Tâm
của mình không có hình tướng số lượng, nên gọi là thật
tướng (diệu tâm). Diệu là bất khả tư nghì, tâm suy nghĩ
không thể đến được, cho nên nói là diệu tâm. Ngài Long
Thọ dùng hư không vô sở hữu thí dụ diệu tâm. Tánh con
người ham lập sở hữu, như nhà, tiền, đất,… là sở hữu
của tôi. Như mình có căn nhà chưa có quyền sở hữu, phải
lo giấy tờ để có quyền sở hữu.
Chính
sở hữu chướng ngại dụng của diệu tâm, diệu tâm là vô
sở hữu; vô sở hữu là trống rỗng tức tánh không thì dung
nạp và ứng dụng. Ngài Long Thọ nói: “Hư không vô sở hữu
dung nạp và ứng dụng tất cả vật”.
Tánh
con người ham sở hữu, nói vô sở hữu không chịu. Cho nên
có câu hỏi: Tại sao ngài không nói hư không quảng đại vô
biên dung nạp tất cả vật, mà nói hư không vô sở hữu dung
nạp tất cả vật?
Nếu
hư không vô sở hữu thì không có hư không lấy gì để dung
nạp? Ngài nói: “Vô sở hữu mới dung nạp”. Trước mắt
mình thấy rõ ràng, núi sông đất đai, cây cối nhà cửa,…
đều phải ở trong vô sở hữu. Nói hư không quảng đại
là kiến lập hư không, tức đã có hư không rồi nói hư không
quảng đại.
Nếu
không có hư không thì lấy cái gì quảng đại? Tánh con người
ham kiến lập, luôn hư không cũng kiến lập thành có khái
niệm của hư không. Kỳ thật, hư không là vô sở hữu, không
có cái gì để nói quảng đại! Vì vô tướng gọi là thật
tướng, còn có tướng không phải thật.
Hỏi:
Phản
văn văn tự tánh và tham thoại đầu như thế nào?
Đáp:
Tổ
Sư thiền là muốn hiện toàn diện tự tánh, tự tánh là bất
nhị không có nhân duyên đối đãi. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Phản
văn văn tự tánh”, tánh nghe là không nghe âm thanh (động),
cũng không nghe tịnh; động tịnh là pháp sanh diệt, tự tánh
là pháp bất sanh bất diệt. Có âm thanh gọi là động, không
có âm thanh gọi là tịnh; động tịnh đều không nghe, nên
trở về (phản) nghe tự tánh.
Chiếu
cố thoại đầu, chiếu là chiếu soi, cố là nhìn; tôi dạy
hỏi và nhìn, nhìn chỗ không biết, vì không có tướng nên
không có đối đãi là tự tánh bất nhị. Phản văn văn tự
tánh là nhìn chỗ không biết.
Chiếu
cố là dùng tánh thấy, phản văn là dùng tánh nghe cũng là
một thứ. Xác thân này chết, thiêu thành tro, chôn thành đất;
còn tánh thấy, tánh nghe, tánh ngửi, tánh biết,… tồn tại
vĩnh viễn, không chết mất; Phật có chứng tỏ trong kinh Lăng
Nghiêm.
Ai
cũng cho kẻ thấy là con mắt, nhưng Phật chứng tỏ không
phải sự thấy là con mắt. Vậy Phật làm sao chứng tỏ? Mỗi
cuốn kinh đều có vị đại diện đương cơ cả triệu người
nghe để hỏi Phật. A Nan là đại diện đương cơ.
Phật
dùng tay thí dụ: Ta có cái tay để làm nắm tay, ngươi có
con mắt thì thấy được Như lai, vậy hai việc này có giống
nhau không?
A Nan
đáp: Giống nhau.
Phật
nói: Không giống. Tại sao? Ta có cánh tay mới làm ra nắm tay
được. Nếu không có cánh tay thì nắm tay làm sao có? Người
không có con mắt vẫn còn thấy được.
A Nan
nói: Người không có con mắt làm sao thấy?
Phật
bảo: Ngươi đi hỏi người không có con mắt, trước mắt
có thấy gì không? Người ấy sẽ trả lời: Trước mắt sẽ
thấy đen tối.
A Nan
nói: Thấy trước mắt đen tối, sao gọi là thấy?
Phật
muốn giải thích “thấy đen tối vẫn là thấy” thì phải
thí dụ thêm. Một người không có con mắt ở trong phòng đen
tối không có ánh sáng gì cả, có phải thấy trước mắt
đen tối phải không?
A Nan
đáp: Phải, thấy đen tối.
Phật
nói: Vậy người có con mắt thấy trước mắt đen tối và
người không có con mắt thấy trước mắt đen tối, hai thứ
đen tối này có khác nhau không?
A Nan
đáp: Không khác.
Phật
hỏi tiếp: Vậy người không có con mắt, thình lình được
con mắt sáng thấy đồ vật sắc tướng trước mắt, phải
là con mắt thấy không?
A Nan
đáp: Phải, con mắt thấy.
Phật
hỏi tiếp: Người có con mắt ở trong phòng đen tối, thình
lình đối đèn lên thấy rõ đồ vật sắc tướng trước
mắt, có phải đèn thấy không?
A Nan
đáp: Không được. Cây đèn là hiển hiện sắc tướng để
chiếu soi như lục căn vậy. Năm thức trước (nhãn, nhĩ, tỷ,
thiệt, thân) chỉ tác dụng như cây đèn, chứ không phải
kẻ thấy, kẻ thấy là tánh thấy.
Thấy
là nhãn thức mà không phải nhãn căn, nhãn căn chỉ là chiếu
soi như cây đèn.
Sáng
với tối là hai pháp sanh diệt, lúc sáng thì không thấy tối,
lúc tối thì không thấy sáng. Nếu thấy tối là không thấy
thì thấy sáng cũng là không thấy. Vì lúc sáng thì không thấy
tối cho là không thấy, lúc tối thì không thấy sáng cũng
cho là không thấy. Nói thấy thì hai cái đều thấy, thấy
sáng cũng là thấy, thấy tối cũng là thấy. Tại sao thấy
tối mà nói là không thấy? Còn thấy sáng cho là thấy! Đó
là mâu thuẩn.
Do
thí dụ của Phật nên mình biết: Cái thấy không phải con
mắt, mà cái thấy là tánh thấy. Con mắt là tác dụng như
cây đèn để chiếu soi. Căn là vật chất thì chết mất,
thức là thể tinh thần không chết mất. Tại sao? Vì nó không
lay động nên không biến đổi.
Tiếp
theo vua Ba Tư Nặc hỏi Phật: “Ngoại đạo nói khi thân này
chết thì tất cả đều biến mất” phải không?
Phật
nói: Không phải, cái nào có lay động thì biến đổi chết
mất. Cái nào không lay động không biến đổi không chết
mất, tồn tại vĩnh viễn.
Phật
hỏi vua Ba Tư Nặc: Vua biết mình có cái không chết mất không?
Vua
đáp: Không biết.
Phật
nói: Để cho ta nói cho vua biết.
Phật
dùng tay để đối đáp với A Nan, Tay Phật nắm buông rồi
hỏi A Nan: Ngươi có thấy tay ta nắm buông không?
A Nan
đáp: Thấy tay Phật nắm buông.
Phật
nói: Thấy tay ta nắm buông hay tánh thấy của ngươi nắm buông?
A Nan
nói: Tay của Phật nắm buông, còn tánh thấy của con đâu
có lay động mà nói nắm buông!
Tay
của Phật nắm buông, sau khi chết thiêu thành tro, chôn thành
đất. Tánh thấy không lay động làm sao chết mất được?
Vì không lay động thì không biến đổi, không biến đổi
thì không chết mất. Tại vì con mắt lay động thì chết mất.
Tánh thấy không lay động thì không chết mất, tồn tại vĩnh
viễn.
Như
vậy, Phật còn chưa thỏa mãn, cái lay động là thân của
Phật, còn tánh thấy không lay động là thân của A Nan, hai
thân khác nhau. Phật muốn trong một thân có cái lay động
và có cái không lay động.
Phật
mới phóng hào quang bên vai mặt của A Nan, A Nan ngó qua vai
mặt. Phật phóng hào quang vai trái của A Nan, A Nan ngó qua vai
trái.
Phật
hỏi A Nan: Tại sao cái đầu ngươi ngó qua ngó lại làm cho
đầu ngươi lay động vậy?
A Nan
đáp: Đầu của con lay động, còn tánh thấy của con tịnh
còn không có làm sao có động?
Cho
nên, cái đầu lay động thì sau này sẽ chết mất, thiêu thành
tro, chôn thành đất. Còn tánh thấy không lay động, không
biến đổi thì làm sao chết mất được? Không những tánh
thấy không chết mất, mà tánh nghe, tánh ngửi, tánh nếm,
tánh xúc và tánh biết đều tồn tại vĩnh viễn, không chết
mất.
Hỏi:
Con
xem sách thấy Thiền sư thường đánh thức tánh thấy tánh
nghe, để người nhận rồi tu; không biết các vị dụng công
thế nào để kiến tánh, Tổ không dạy tham thoại đầu?
Đáp:
Ông
thấy Tổ nào?
Một
người hỏi Tổ Vân Môn: Bạch Hòa thượng! Mười phương
chư Phật chỉ một con đường vào cửa Niết Bàn, vậy đầu
đường chỗ nào? Tổ Vân Môn cầm cây quạt phất lên. Có
phải đánh thức tánh thấy của người đó không?
Không
phải! Lời nói hay cử chỉ của chư Tổ là muốn hành giả
ngộ liền; nếu không ngộ thì không hiểu nên phát nghi, giữ
nghi tình sau này sẽ ngộ. Không phải như ông tìm hiểu giải
thích!
Dùng
nghi tình automatic chấm dứt tìm hiểu biết, suy nghĩ biết,
ghi nhớ biết. Tất cả biết chấm dứt còn lại không hiểu
không biết, sát na cuối cùng lìa khỏi ý thức thì không biết
cũng tan rã; biết và không biết sạch hết, biết của Bát
Nhã toàn diện hiện lên khắp không gian thời gian.
Hỏi:
Pháp
môn Tịnh Độ là gì?
Đáp:
Tịnh
độ có 3 cuốn kinh: Kinh A Di Đà (tiểu và đại), Vô Lượng
Thọ Phật Và Quán Vô Lượng Thọ.
Kinh
đại A Di Đà nói: “Vãng sanh Cực Lạc nhờ Phật A Di Đà
dạy tham thiền là từ nghi đến ngộ”. Bất cứ pháp môn
nào của Phật dạy cũng từ nghi đến ngộ, không phải chỉ
pháp môn Tổ Sư thiền. Các pháp môn của Phật đều lấy
thiền làm căn bản, nhưng có một số người tu Tịnh Độ
không nhìn nhận mình là thiền, lại bài xích thiền.
Tịnh
Độ có 3 thứ:
Thật
tướng niệm Phật là thiền, giống như Tổ Sư thiền.
Quán
tưởng niệm Phật là trong kinh Quán Vô Lượng Thọ có 16 pháp
thiền quán là thiền đặc biệt của Tịnh Độ.
Trì
danh niệm Phật, niệm Phật đến nhất tâm bất loạn cũng
là thiền.
Hỏi:
Người
tu theo đạo Thiên Chúa, chết về bên Chúa; người tu Tịnh
Độ, chết vãng sinh Tây Phương; hành giả tham thiền,
chết đi về đâu?
Đáp:
Vì
ông chưa tin tự tâm, nên không biết tự tâm không sanh không
diệt; kiến tánh rồi biết không sanh tử, làm sao có đi về
đâu? Bản tâm khắp không gian không có khứ lai nên gọi là
Như Lai, vậy không có đi về đâu! Nếu có đi về đâu thì
không cùng khắp không gian, không được gọi là Như Lai. Cùng
khắp không gian nên trên mặt trăng mặt trời đều biết,
không có chỗ nào không biết. Có một chỗ đi về đâu thì
biết, còn mấy chỗ kia không biết.
Khắp
thời gian là không gián đoạn, gọi là Niết Bàn. Người tu
theo đạo Thiên Chúa tuy sanh lên cõi trời, nhưng ngủ mê, chết
giấc, thật chết họ không biết. Kiến tánh ngủ mê, chết
giấc, thật chết đều biết; tại kiến tánh biết không có
sự chết, sự chết là cảm giác sai lầm. Như thân mình xoay
thấy căn nhà xoay là do cảm giác sai lầm.
Hỏi:
Khi
ngồi tham thiền thấy cảnh trước mắt chuyển động, vậy
tâm xoay hay cảnh xoay?
Đáp:
Do
tâm xoay, vì tất cả đều tâm tạo; năng lượng xuất phát
từ tâm. Tất cả vật chất là do các hạt nguyên tử tổ
chức thành, như cái bàn được tổ chức nhiều hạt nguyên
tử mà thành; mỗi hạt nguyên tử ở chính có trung tử, chu
vi có nhiều điện tử đang xoay ngày đêm không bao giờ ngưng.
Nhà khoa học biết tốc độ xoay bằng ½ cho đến 1/3 tốc
độ ánh sáng, tốc độ ánh mỗi giây 300.000 km; nếu ½ thì
150.000 km.
Chiếc
xe hơi chạy 100 km giờ thấy rất nhanh, nhưng phải dùng xăng
đốt cho nóng có năng lượng rồi chạy. Điện tử xoay
ngày đêm nhanh, vậy năng lượng từ đâu có? Phật đã nói
năng lượng phát xuất từ tâm. Cho nên nói: “Vạn pháp duy
tâm”.
Hỏi:
Phật
nói nhổ gốc rễ là sao?
Đáp:
Phật
nói nhổ gốc rễ là gốc rễ sanh tử, tức đoạn dứt gốc
nghi là đoạn dứt gốc sanh tử. Người ta nghe tôi nói đoạn
dứt mạng căn lấy làm sợ, vì họ ham thích sanh mạng. Gốc
rễ là gốc sanh mạng, nhỗ được gốc sanh mạng thì thoát
khỏi sanh tử luân hồi; tức ra ngoài chiêm bao mở mắt.
Hỏi:
Tham
Tổ Sư thiền đến giai đoạn quên hết tất cả cảnh vật
bên ngoài, vậy làm sao hòa hợp với chúng và biết đường
về?
Đáp:
Bản
tâm khắp không gian thời gian, khắp thời gian thì làm việc
không ngưng. Lúc hoàn toàn không biết là không biết bộ óc,
chứ không phải là không biết của Phật tánh (bản tâm).
Cho nên bản tâm làm việc bình thường, không có nguy hiểm.
Như
đang tham thiền chạy xe máy, lúc ấy không biết nhưng giữa
đường có cục đá, vẫn tránh được mà người ấy không
biết.
Hỏi:
Thế
nào là công án?
Đáp:
Mục
đích công án kích thích một niệm không hiểu không biết,
giống như thoại đầu. Công án phức tạp hơn thoại đầu
là dài hơn câu thoại, câu thoại thì đơn giản.
Như
công án chữ “vô” của Triệu Châu:
Tăng
hỏi Triệu Châu: Con chó có Phật tánh không?
Triệu
Châu đáp: Có.
Tăng
khác hỏi: Con chó có Phật tánh không?
Triệu
Châu đáp: Không.
Tại
sao Triệu Châu đáp vậy, có người đáp có, có người đáp
không? Chúng sanh đều có Phật tánh, con chó là chúng sanh sao
không có Phật tánh? Công án đó là tham ý của Triệu Châu,
vì Triệu Châu là Tổ kiến tánh danh tiếng, sao Tổ trả lời
cho người ta như vậy? Không hiểu ý Triệu Châu thế nào?
Không hiểu ấy là nghi tình.
Hỏi:
Tham
thiền có chọn giờ, ngồi hướng đông hay hướng tây phải
không?
Đáp:
Đó
là không phải Tổ Sư thiền, mà thiền khác. Tổ Sư thiền
luôn cả ngồi cũng không cần, như ngồi trên ghế hoặc đi
kinh hành; nấu cơm giặt đồ đều tham được, chứ không
cần phải ngồi; ngồi đã không cần, vậy sao có hướng nào!
Hỏi:
Lúc
trước, con chưa tin tự tâm 100%, nhận được vô duyên tri
tự nhiên tâm mãnh liệt, không biết sợ, sẵn sàng vào chỗ
không biết để hành thâm. Phát hiện chỗ chết rồi sống
lại, nếu không chết thì không thể sống; con nhảy vào chỗ
chết hành ngay, không phải không tham, nhưng không có câu thoại,
rất miên mật. Vậy chỗ ấy là chân tham phải không?
Đáp:
Theo
ông kể thì chưa phải, chết đi sống lại là giờ phút cuối
cùng lìa ý thức thì kiến tánh. Thiền tông gọi là “tuyệt
hậu tái tô”. Biết và không biết của bộ óc sạch hết
gọi là chết, khi sống lại không phải cái biết đó, là
cái biết vô duyên tri.
Vừa
trình ra là qua ngôn ngữ khó diễn tả, lúc hành thâm không
phải như trình ra; tức là không có biết bộ não, còn cái
không biết?
Nếu
đi tới cảnh giới đó sẽ kiến tánh.
Được
như vậy không có kéo dài?
Nếu
không kéo dài thì không phải thoại đầu, đến thoại đầu
rồi muốn nổi lên một niệm khác cũng không được.
Con
trình chỗ đó để nổ lực công phu kéo dài tới thành công!
Đến
chỗ đó không cần cố gắng, kéo dài; vì chỗ này tự động.
Nếu chưa đến chỗ đó cũng không cần cố gắng, tập trung
tinh thần; tức ít phí sức chừng nào tốt chừng nấy.
Ví
dụ cây viết là ý thức, đầu trên là thoại đầu, đầu
dưới là thoại vỉ. Bắt đầu tham là lìa khỏi thoại vỉ,
nhưng chưa đến thoại đầu; từ thoại vỉ đến thoại đầu
là đường đi ý thức, ý thức là nhất niệm vô minh từ
niệm này qua niệm kia. Dùng ý thức để tham đến thoại đầu
gọi là vô thỉ vô minh.
Ý
thức gồm có 2 mặt: Dùng mặt biết để tu là Như Lai thiền,
dùng không biết để tu là Tổ Sư thiền. Khi tham đến thoại
đầu thì câu thoại tự mất, chỉ còn nghi tình, cái biết
không thể nổi lên. Gần tới thoại đầu thì cái biết cũng
có thể nổi lên. Vô thỉ vô minh là hang ổ của nhất niệm
vô minh, nhất niệm vô minh từ chỗ đó nổi lên.
Vô
thỉ vô minh (thoại đầu, nguồn gốc ý thức, đầu sào trăm
thước) chưa lìa ý thức. Ngài Lai Quả diễn tả chỗ này
sát na lìa ý thức là lọt vào hư không té xuống chết, chết
rồi sống lại có 2 thứ: Tiểu tử tiểu hoạt và đại tử
đại hoạt.
Tiểu
tử tiểu hoạt là té chết nhưng còn xác, rồi sống lại.
Đại tử đại hoạt là té chết không còn xác, rồi sống
lại. Cái xác là thí dụ cảnh giới ngộ.
Người
Tiểu thừa tuy ngộ nhưng lại ôm cảnh giới ngộ, như Niết
Bàn Tiểu thừa chứng quả A La Hán cho là ta chứng, tức là
ngã vi tế cho nên thí dụ còn cái xác.
Đại
tử đại hoạt là không còn ngã, tức vô tu vô chứng, ngộ
rồi đồng như chưa ngộ. Vì còn ôm cái ngã là còn mê, nên
chưa ngộ triệt để, còn có mê để đối đãi, do mê mới
có ngộ. Hết mê thì ngộ không còn, nếu còn ngộ thì có
mê để đối đãi. Cho nên đại tử đại hoạt thì xác tan
rã hết.
Con
biết chưa đến thoại đầu, do trình bày không khéo. Con phát
hiện một lối công phu để chết hết tâm ý thức nhanh hơn!
Đừng
tính như vậy, cứ hỏi và nhìn, giữ nghi tình là đủ rồi.
Đừng tính toán, sắp đặt và không có cho là. Thật không
biết thì không có gì để nói, bây giờ nói và diễn tả
được là đã biết; chứ không biết làm sao diễn tả?
Có
lúc không biết rồi một lúc biết, nhưng mình nắm chỗ không
biết xâm nhập vào chỗ đó!
Ngài
Đại Huệ kiến tánh rồi chưa làm trụ trì, ngài làm Thủ
Tọa của một Thiền Hội khác. Ngài Đức Sơn đã kiến tánh
làm trụ trì, có một Sa Di tìm Thủ Tọa nói: Tôi đọc ngữ
lục của Thủ Tọa, đem ra trình Thủ Tọa coi đúng không?
Vừa
nói xong, Đại Huệ nói: Đi đi không phải!
Sa
Di nói: Tôi chưa trình, sao nói không phải?
Đại
Huệ nói: Đi đi không phải!
Làm
cho Sa Di ngơ ngác, nếu đã ngộ thì lấy gì trình ra? Vì chưa
ngộ nên dùng cái biết của bộ óc, mới có cái gì để trình.
Biết của vô duyên tri không có kiến lập. Như 4 bài kệ của
ngài Vĩnh Gia là tự mình biết cái tri cũng không được, huống
là còn biết cái cảnh. Ông có công phu như vậy có thể đúng
năm sáu phần, cứ tiếp tục hỏi và nhìn là được.
Hỏi:
Tham
thiền bị vọng tưởng xen vào nên công phu gián đoạn, ngài
Lai Quả nói: “Lúc tham mà vọng tưởng ví như người không
mắc nợ, tự nhiên đi dánh bạc bị thua lại vay nợ thêm”.
Vậy như thế nào?
Đáp:
Chưa
đến thoại đầu thì vọng tưởng tự nhiên nổi lên. Chưa
tham thiền, mình không biết có vọng tưởng; bắt đầu tham
thiền phát hiện nhiều vọng tưởng, một thời sau vọng tưởng
bớt dần, nhưng cứ xen lộn hoài. Ban đầu xen lộn chỉ thấy
vọng tưởng, không thấy nghi tình. Cho nên nói là không có
nghi tình.
Sau
này, vọng tưởng bớt, nghi tình nhiều hơn, rồi bớt dần
dần đến thoại đầu. Chưa đến thoại đầu phải có vọng
tưởng, nếu không có vọng tưởng thì đến thoại đầu.
Phương tiện của chư Phật chư Tổ tùy theo trình trạng, đừng
chấp vào việc ấy; tức là tùy người có khác, tùy thời
gian có khác.
Hỏi:
Thế
nào là tin tự tâm 100% và tin pháp môn 100%?
Đáp:
Tin
pháp Tổ Sư thiền 100% là đến chết không đổi pháp môn
khác. Tin tự tâm là tin tâm mình bằng như chư Phật, thần
thông trí huệ bằng như chư Phật không kém một chút.
Tôi
hỏi: Phật tánh có giảm bớt không?
Không.
Phật
tánh có thể gián đoạn không?
Không.
Phật
tánh không gián đoạn là cái tri có sẵn (vô duyên tri, trí
Bát Nhã). Dùng không được là do biết của bộ óc che khuất,
chứ không phải tri có sẵn gián đoạn.
Hỏi:
Hành
giả tham thiền 24/24 mới miên mật, khi ngủ không tham thiền
được là gián đoạn. Sư Phụ khai thị cho con ngủ vẫn tham
thiền?
Đáp:
Tập
dần dần, cứ hỏi và nhìn song song sẽ có một ngày đến
thoại đầu. Thí dụ tham thiền có nghi tình, mỗi ngày tăng
1 phút thì 4 năm đến thoại đầu, mỗi ngày nghi tình tăng
½ phút thì 8 năm đến thoại đầu, mỗi ngày nghi tình tăng
¼ phút thì 16 năm đến thoại đầu. Tùy theo công phu của
mình.
Hỏi:
Tại
sao xuất gia rồi mà tánh hay sân?
Đáp:
Vì
không tin pháp môn và cũng không tin tự tâm, không thực hành
đúng làm sao sửa được tập khí phiền não!
Hỏi:
Thế
nào là chánh tín và mê tín?
Đáp:
Chánh
tín theo nghĩa rộng phải đúng nhân quả. Trong Phật pháp có
5 thứ ác kiến: Thân kiến, tà kiến, biên kiến, kiến thủ
kiến, giới thủ kiến. Có 5 thứ ác kiến đều thuộc về
mê tín, không có 5 thứ này gọi là chánh tín.
1.Chấp
thân này rồi yêu quý gọi là thân kiến.
2.Biên
kiến là chấp vào một bên, như chấp thật có hay chấp thật
không, chấp thật thường hoặc chấp thật đoạn,… nhiều
người giảng kinh thuyết pháp vẫn chấp một bên tự mình
không biết. Phật dạy không chấp thật, mà lại chấp huyễn,
chấp giả; cho tất cả đều là giả, tất cả đều là huyễn!
Lấy cái này để dạy người, mọi người cho là một cao
Tăng, đã lọt vào biên kiến không hay.
Kinh
Lăng Nghiêm nói: “Phi huyễn không thể kiến lập, huống là
pháp huyễn”, pháp chẳng phải huyễn không thể thành lập
được, huống là thành lập cái huyễn.
3.Tà
kiến là không tin nhân quả, như người ta cầu cái này cầu
cái kia. Nếu cầu được là không tin nhân quả, tin nhân quả
thì khỏi cần cầu. Gieo thiện nhân được thiện quả, gieo
ác nhân thì chịu khổ quả. Vậy cầu không thể được, cầu
được là mê tín.
4.Kiến
thủ kiến là chấp lấy kiến giải cho là cao nhất, như các
tôn giáo kiến lập một chơn lý cho là cao nhất. Phật Giáo
không kiến lập chơn lý, tất cả đều không kiến lập. Nếu
nói chơn lý thì bản tâm là chơn lý, còn kiến lập thì phải
2 chơn lý; tức trên đầu mọc thêm đầu, làm cho cực khổ,
phải mời bác sĩ cắt bỏ.
5.Kiến
thủ kiến là chỉ chấp một giới cấm cho là đúng nhất,
như ở Ấn Độ coi bò là thánh, phá hư đồ người ta không
ai dám can thiệp, vì tôn trọng bò. Có người không ăn thịt
heo, nhưng các thịt khác lại ăn. Kỳ thật, đó là nhân quả
“ăn cục thịt trả một cục thịt”; đâu phải ăn thịt
bò mới trả, ăn thịt kia không trả!
Hỏi:
Vừa
qua hành giả hỏi, Sư Phụ giải thích tin 100%, con thấy điểm
này chưa rõ. Khi tin 100% là đạt đến đó, như Sư Phụ trình
bày tin Phật tánh rõ ràng không sanh diệt, không thêm bớt.
Chúng con chưa đạt đến chỗ đó, vậy có tin 100% được
không, hay tham thiền đến kiến tánh mới tin 100%?
Đáp:
Tin
nhưng làm chưa được, như tin 100% nhưng chỉ làm 60%; tin 100%
thì sau này sẽ đến chỗ 100%, nếu tin 90% thì đến 90% là
ngưng. Tin và thực hiện là hai thứ khác nhau, mình chưa thực
hiện nhưng đã tin rồi theo lòng tin mà thực hiện.
Tin
pháp môn 100% là ai có nói pháp gì hay hơn cũng không thể lay
chuyển được, nếu tin 99% thì có thể lay chuyển, vì suy nghĩ
pháp môn kia 100%.
Hỏi:
Quy
y với thầy, phải theo pháp của thầy không? Như thầy không
thích chỗ nào thì đệ tử không được đến chỗ đó, để
cho đúng câu “thầy đâu trò đó”. Xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Không
phải vậy! Theo giới luật nhà Phật, thầy bổn sư xuống
tóc cho đệ tử, đệ tử Tăng ở với bổn sư trong 10 năm,
rồi lìa bổn sư thu đệ tử xuất gia; đệ tử Ni phải 12
năm được lìa bổn sư.
Thầy
quy y cho đệ tử là thay mặt cho Tam Bảo, để chứng minh Phật
tử này đã quy y Tam Bảo; chứ không phải là tài sản của
thầy đó! Nếu cho là đệ tử riêng của mình thì không đúng
với nhà Phật.
Hỏi:
Không
gần với ngoại đạo, có đúng không?
Đáp:
Không
phải vậy! Mình có thể làm bạn với nhau, nhưng mình không
theo đạo đó, không phải cần xa người ngoại đạo. Tất
cả Phật tánh chúng sanh đều bằng nhau.
Hỏi:
Có
người đang mắc nợ đem tiền cúng chùa, khuyên họ không
nên đem tiền cúng chùa. Vậy có được không?
Đáp:
Được!
Theo giới luật nhà Phật, hỏi những giá nạn với người
muốn xuất gia: “Hiện nay có thiếu nợ ai không?”, nếu
có thiếu nợ thì không cho xuất gia.
Hỏi:
Thế
nào là nhiễm và không nhiễm?
Đáp:
Có
sở trụ là nhiễm, vô sở trụ là không nhiễm. 6 căn là nhãn,
nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; như nhãn căn thấy cái tách cho là
đẹp, hay thấy người ta mặc đồ cho là đẹp, như vậy là
nhiễm.
Hỏi:
Trước
kia con niệm Phật đến chỗ lặng lẽ từ sáng tới chiều,
lúc nhớ lại thắc mắc tại sao không nhớ chuyện gì. Từ
đó hỏi nhưng các thầy không biết, rồi con theo Lục Diệu
Pháp Môn thực hiện một thời gian cũng đến đó. Trong Lục
Diệu Pháp Môn có chỗ tùy tức, có lúc khởi thưa, trong lúc
ấy thấy khó, nên con tìm Pháp Tổ Sư thiền để tu.
Con
tham thiền đến chỗ tịch lặng, có khi đề khởi câu thoại
đầu lúc được lúc không. Trong lúc lặng lẽ con đã hội
và nhìn được hết tâm con. Công phu của con là khán thoại
đầu hay hỏi câu thoại?
Đáp:
Lục
Diệu Môn là pháp tu của Tiểu thừa, bây giờ mình tu là Đại
thừa, như Tịnh Độ là Đại thừa,… Theo giới luật nhà
Phật, nếu Đại thừa dạy người ta tu Tiểu thừa là có
tội. Như giới Bồ Tát nói: “Đại thừa dạy người tu Tiểu
thừa là phạm giới Bồ Tát”.
Pháp
Bảo Đàn nói: “Tổ Sư thiền là Tối Thượng thừa”, siêu
việt tam thừa (Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa). Trong Đại
Thừa Tuyệt Đối Luận nói rõ biểu đồ 4 thừa.
(4
thừa Phật Giáo……………….trang 10).
Hỏi:
Hồi
sáng có một vị lên trình công phu, Sư Phụ nói công phu ông
ấy chỉ đúng năm sáu phần. Vậy chỗ đúng đó là do từ
cạn vào sâu năm sáu phần hay ông ta hành sai chỉ đúng năm
sáu phần?
Đáp:
Đường
lối thực hành đúng, nhưng cách trình không đúng. Có cảnh
giới gì đều là vọng, cho đến chứng Thánh chấp vào Niết
Bàn Tiểu thừa cũng là vọng. Cho nên, Phật quở A La Hán không
chịu bỏ A La Hán để tiến lên Đại thừa.
Hỏi:
Con
đề câu thoại đầu lên, thấy hình tướng như thác đổ,
nên không biết giăng mùng trải chiếu. Vậy hiện tượng ấy
là gì?
Đáp:
Đó
là một cảnh giới, bất cứ hiện cảnh giới gì đều là
vọng; mặc kệ đừng để ý tới, cứ hỏi và nhìn tiếp
tục.
Hỏi:
Ban
đầu con niệm Phật, thời gian sau tham thiền, nhưng lại có
hồng danh Phật nổi lên. Vậy đó như thế nào?
Đáp:
Vì
theo thói quen niệm Phật mạnh hơn tham thiền, nên hiện lên
câu danh hiệu Phật. Ngài Lai Quả nói: “Tham thiền là việc
mới, niệm Phật là việc cũ; nếu việc mới mạnh một ngày,
thì việc cũ yếu đi một ngày”. Cho nên, tham thiền từ từ
sẽ quen. Cần phải hỏi và nhìn tăng thêm thì niệm Phật
sẽ bớt.
Hỏi:
Tin
tự tâm, nên con chú tâm vào; vậy ý chí và nguyện lực có
phải tâm của mình không?
Đáp:
Cô
tin có Phật tánh không?
Có.
Phật
tánh có thể giảm bớt không?
Không.
Phật
tánh có gián đoạn không?
Không.
Vậy
cô đã tin tự tâm đầy đủ, tại sao nói không tin? Phật
tánh của cô với Phật tánh của Phật Thích Ca bằng nhau,
nếu có kém một chút thì có thể giảm bớt. Cho nên tất
cả năng lực thần thông bằng nhau. Phật tánh không gián đoạn
thì bây giờ cô cũng đang là Phật, nếu không phải thì bị
gián đoạn.
Phật
Thích Ca dùng ra hết năng lực thần thông, cô dùng ra không
được hay dùng ra rất ít, vì bệnh chấp thật của cô còn
nặng. Tham thiền sẽ dần dần dùng ra, do cái biết bộ óc
làm chướng ngại cái biết của Phật tánh. Giữ được nghi
tình (không hiểu không biết) chấm dứt tìm hiểu biết, suy
nghĩ biết, ghi nhớ biết. Cuối cùng hiện lên cái biết Phật
tánh.
Cái
biết Phật tánh có phải là tâm không?
Chính
tâm có tánh giác ngộ nên gọi là Phật tánh, tâm khắp hư
không chẳng có khứ lai nên gọi là Như Lai, tâm trống rỗng
vô sở hữu nên gọi là Tánh không, tâm khắp thời gian không
gián đoạn nên gọi là Niết Bàn. Bất cứ danh từ nào đều
diễn tả thể dụng của tâm.
Xem
Tiếp Phần 2 Của Trang Này